KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Hán dịch :
Ngài Cưu Ma La Thập
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP 02
Quyển thứ
Hai
Phẩm thí dụ Thứ ba
Bấy giờ, Ngài Xá
Lợi Phất hớn hở vui mừng, bèn đứng dậy chắp
tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mà bạch Phật
rằng : Hôm nay nghe đức Thế Tôn nói pháp
nầy, tâm con rất hớn hở được chưa từng có.
Tại sao ? Vì xưa kia con theo Phật nghe pháp
như vầy : Thấy các vị Bồ Tát được thọ ký sẽ
thành Phật, mà chúng con chẳng được dự vào
việc đó, rất tự cảm thương, mất đi vô lượng
tri kiến của Như Lai.
Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc
cây nơi rừng núi, hoặc ngồi hoặc đi kinh
hành, bèn nghĩ thế nầy : Chúng con đồng vào
pháp tánh, tại sao đức Như Lai dùng pháp
tiểu thừa mà tế độ ? Ðó là lỗi của chúng
con, chứ chẳng phải đức Thế Tôn vậy.
Ðây là phẩm thứ ba, Phẩm Thí Dụ. Thí dụ tức
trong kinh thi nói là thể so sánh. Trong
kinh thi có thể phú (giải bày), thể so sánh
và thể hứng (thấy cảnh nảy ra lời thơ). Thí
dụ tức thể so sánh. Vì đạo lý thâm áo, người
khó hiểu, cho nên đưa ra một ví dụ khiến cho
người hiểu dễ dàng.
Lúc bấy giờ, tất cả
đại chúng đều trông mong đức Phật thọ ký.
Ngài Xá Lợi Phất thân miệng ý ba nghiệp đều
thanh tịnh, sinh tâm vui mừng lớn, mới đứng
dậy chắp tay chiêm ngưỡng tôn nhan của đức
Phật, mà nói với Phật rằng: "Con ở trước đức
Thế Tôn, thân miệng ý đều thanh tịnh. Trước
kia con ở trong hội Phương Ðẳng và hội Bát
Nhã, cũng chưa từng nghe qua diệu pháp như
vầy. Bây giờ, con nghe đức Phật nói diệu
pháp nầy, thấy tất cả đại Bồ Tát được Phật
thọ ký sẽ thành Phật, bèn có cảm xúc, tâm
rất bi thương chưa được Như Lai thọ ký, mất
đi vô lượng từ bi trí huệ tri kiến của Phật.
Ðức Thế Tôn ! Con thường một mình ở dưới gốc
cây nơi núi rừng, dụng công tham thiền. Vì
núi rừng vắng lặng, cho nên một lần ngồi
xuống thì cả mấy ngày, ngồi đến mỏi mệt thì
đứng dậy đi kinh hành. Mỗi lần tự nhủ: Chúng
con Thanh Văn Bồ Tát đều được pháp tính, vì
sao đức Như Lai chẳng dạy chúng con pháp đại
thừa, mà dùng pháp tiểu thừa để giáo hóa ?
Phải chăng đức Như Lai đối với chúng con
người tiểu thừa chẳng từ bi ? Chúng con
thường khởi vọng tưởng như thế. Song, hồi
quang phản chiếu rồi mới biết, đây là lỗi
của chúng con. Chúng con người tiểu thừa căn
mỏng huệ cạn, khó phát tâm nguyện độ sinh,
cho nên Phật nói pháp đại thừa mà chúng con
không thể tiếp thọ. Ðây là lỗi căn cơ hạn
hẹp của chính chúng con."
Vì sao ? nếu chúng con chờ Phật nói nhân duyên
thành tựu Vô thượng chánh đẳng chánh giác,
tất dùng pháp đại thừa mà được độ thoát.
Nhưng chúng con chẳng hiểu Phật dùng phương
tiện tùy nghi nói pháp. Mới nghe Phật pháp,
gặp được liền tin nhận, suy gẫm chứng lấy.
Ðức Thế Tôn ! Con từ xưa đến nay, suốt ngày
trọn đêm tự khắc chế trách mình, mà nay được
nghe Phật nói pháp chưa từng có, dứt các
nghi hoặc, thân tâm thơ thới, rất an vui tự
tại. Hôm nay mới biết thật là Phật tử, từ
miệng Phật sinh ra, từ pháp hóa sinh, được
pháp tính của Phật.
Sở dĩ chúng con là hàng Thanh Văn, nghe Phật
nói nhân duyên thành tựu Vô thượng chánh
đẳng chánh giác, tất dùng pháp đại thừa tu
hành, mới được độ thoát. Vô thượng chánh
đẳng chánh giác tức là Phật vị. Chánh giác,
chẳng giống phàm phu, những gì phàm phu làm,
đều là hồ đồ chẳng tự giác. Chánh giác chưa
đến được trình độ giác tha. Giác tha khác
với nhị thừa. Người nhị thừa chỉ đắc được
Chánh giác mà chưa đắc được Chánh đẳng.
Chánh đẳng là bậc đại Bồ Tát, bậc Ðẳng giác
Bồ Tát. Diệu giác là Phật. Ðẳng giác Bồ Tát
còn một phần sinh tướng vô minh chưa phá,
cho nên chưa đắc được Diệu giác vị. Nếu phá
sạch một phần sinh tướng vô minh, thì sẽ đắc
được Diệu giác. Ðẳng giác là hữu tình Thượng
sĩ, Phật là Vô Thượng Sĩ.
"Muốn chứng Vô
thượng chánh đẳng chánh giác", quả vị Phật,
phải dùng pháp Bồ Tát đại thừa mới được độ
thoát. Chúng con hàng Thanh Văn, chẳng biết
Phật dùng pháp phương tiện giáo hóa chúng
sinh, quán căn cơ thí giáo, vì người thuyết
pháp, theo bệnh cho thuốc. Chúng con vừa
nghe Phật nói pháp bốn Diệu Ðế và mười hai
Nhân Duyên bèn tin nhận, dụng công tu hành
được chứng quả. Ðức Thế Tôn ! Con từ khi ở
trong pháp hội Phương Ðẳng cho đến hiện tại,
từ sáng đến tối, tự khắc chế trách mình.
Ngày đêm là gì ? Ðêm tức là lúc trước chưa
khai ngộ, giống như ban đêm; khai ngội rồi
thì như ánh sáng mặt trời chiếu ban ngày.
Nếu so sánh tiểu thừa với đại thừa Bồ Tát,
thì tiểu thừa như ban đêm, đại thừa Bồ Tát
như ban ngày, cho nên nói "suốt ngày trọn
đêm".
"Ðều khắc chế trách
mình" : Khắc chế là chính mình đối trị với
chính mình, tức là trong Nho giáo có nói về
công phu "khắc kỷ". Nhan Hồi hỏi Ðức Khổng
Tử làm thể nào đắc được "nhân". Khổng Tử đáp
: "Khắc kỷ phục lễ là nhân". Nghĩa là khắc
chế chính mình, khôi phục thiên lý là nhân.
Nhan Hồi lại hỏi làm thế nào khắc kỷ phục lễ
? Khổng Tử đáp :
"Phi lễ vật thị,
Phi lễ vật thính,
Phi lễ vật ngôn,
Phi lễ vật động."
Nghĩa là : Việc gì chẳng hợp với lý đạo thì
đừng xem, chẳng những không xem mà cũng đừng
nghe, như có ai nói thị phi thì đừng nghe.
Lời chẳng hợp với đạo lý thì đứng nói, việc
chẳng hợp với đạo lý thì đừng làm. Xem,
nghe, nói, làm, đều hợp lễ, thì tức là khắc
kỷ phục lễ. Ngài Xá Lợi Phất thường khắc chế
mình mà không phóng dật. Muốn học Phật pháp
phải phát tâm dũng mãnh, không sợ gian lao
khốn khổ, phàm ai thành công cũng đều có sự
khắc chế công phu. Tại Hương Cảng có vị pháp
sư Thọ Dã (bây giờ trụ trì chùa Quang Minh ở
Nữu Ước), lúc trước ông ta bế quan trên núi
Ngũ Ðài, dùng máu để biên Kinh
Hoa Nghiêm. Kinh
Hoa Nghiêm có tám mươi quyển,
có hơn mấy chục vạn chữ. Thầy đó dùng máu
biên bộ Kinh nầy, đủ thấy Thầy đó có công
phu "khắc kỷ".
Tôn giả Xá Lợi Phất tiếp tục nói : Nay học tập
Phật pháp, nghe diệu pháp của Kinh Pháp Hoa,
dứt tất cả nghi hoặc, thân tâm đều thơ thới
rất an vui tự tại. Hôm nay mới biết con thật
là Phật tử (con của Phật), từ miệng Phật
sinh ra, từ Phật pháp hóa sinh, đắc được
Phật pháp tính.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất muốn thuật lại
nghĩa trên, bèn nói bài kệ rằng:
Con nghe tiếng pháp nầy
Ðắc được chưa từng có
Tâm sinh vui mừng lớn
Lưới nghi đều đã trừ.
Xưa nay nhờ Phật dạy
Chẳng mất nơi đại thừa
Tiếng Phật rất ít có
Hay trừ khổ chúng sinh.
Con đã được sạch lậu
Nghe cũng trừ khổ não.
Lúc đó, tôn giả Xá Lợi Phất muốn tường thuật
lại ý nghĩa Kinh văn vừa nói ở trên, bèn
dùng kệ để nói: Con nay nghe được tiếng diệu
pháp nầy, đắc được diệu pháp chưa từng có,
tâm sinh vui mừng lớn, lưới hoài nghi đã trừ
sạch. Thuở xưa, đời đời kiếp kiếp nhờ Phật
giáo hóa, tài bồi hạt giống đại thừa, đời
nầy đã chín mùi. Tiếng của Phật vi diệu
thanh tịnh sâu xa, rất ít có trong đời, hay
dứt trừ phiền não của chúng sinh. Con đã
chứng tứ quả A
La Hán, đắc được lậu tận
thông. Con vốn căn tính tiểu thừa, chưa thật
sự minh bạch đạo lý Bồ Tát. Hiện tại con
nghe Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, khiến cho khổ
não của con đều trừ sạch.
Con ở nơi hang núi
Hoặc dưới cây trong rừng.
Hoặc ngồi hoặc kinh hành
Thường suy gẫm như vầy:
Than ôi ! Tự trách mình
Sao lại khi dối mình.
Chúng ta cũng Phật tử
Ðồng vào pháp vô lậu
Ðời vị lai chẳng được
Diễn nói đạo vô thượng.
Con ở nơi hang núi, hoặc trong rừng cây, hoặc
ngồi hoặc đi, thường nghĩ việc nầy, mà than
thở sao lại tự trách mình ? Chúng con đều là
Phật tử, đồng vào pháp vô lậu, nhưng ở đời
vị lai chẳng được diễn nói diệu pháp vô lậu.
Sắc vàng ba mươi hai
Mười lực các giải thoát
Ðồng trong một pháp tánh
Mà chẳng được việc nầy.
Tám mươi tướng tốt đẹp
Mười tám pháp bất cộng
Những công đức như thế
Mà con đều đã mất.
Lúc con kinh hành riêng
Thấy Phật trong đại chúng
Danh đồn khắp mười phương
Rộng lớn ích chúng sinh.
Nghĩ mình mất lợi nầy
Vì con tự khi dối
Con thường nơi ngày đêm
Ðều suy nghĩ việc nầy.
Muốn hỏi đức Thế
Tôn
Là mất hay chẳng mất ?
Con thường thấy Thế
Tôn
Khen ngợi các Bồ Tát.
Vì thế nên ngày đêm
Con nghĩ về việc nầy
Nay nghe tiếng Phật nói
Tùy nghi mà nói pháp.
Vô lậu khó nghĩ bàn
Khiến chúng đến đạo tràng
Con vốn chấp tà kiến
Làm thầy các Phạm chí.
Thế Tôn biết tâm con
Trừ tà nói Niết Bàn
Khiến con dứt tà kiến
Chứng đắc được pháp không.
Bấy giờ tâm tự bảo :
Ðến được nơi diệt độ.
Thân Phật là thân sắc vàng, có ba mươi hai
tướng. Mười lực tức là mười thứ trí huệ lực
của Phật. Ba mươi hai tướng là :
1. Dưới chân bằng
như đáy hộp.
2. Dưới chân có tướng bánh xe ngàn căm.
3. Gót chân như đảnh Phạm vương.
4. Ngón tay nhỏ dài.
5. Thân vuông thẳng.
6. Tay chân có màng lưới.
7. Tay chân mềm mại.
8. Mắt cá mập đầy.
9. Lông mình mượt.
10. Cánh tay như nai chúa.
11. Thân tròn đầy.
12. Tay thòng quá gối.
13. Ðảnh có nhục kế.
14. Vô kiến đảnh.
15. Mã âm tàng.
16. Da mịn trơn.
17. Lông mình vòng bên phải.
18. Thân tía màu hoàng kim.
19. Bảy chỗ bằng đầy.
20. Tiếng Phạm âm.
21. Xương vai sung mãn.
22. Thân trên như sư tử.
23. Khuỷu tay mập nhỏ.
24. Răng trắng đều nhau.
25. Bốn mươi cái răng.
26. Răng trắng như ngà.
27. Má như sư tử.
28. Trong miệng có thượng vị.
29. Lưỡi rộng dài.
30. Tướng bậc trượng phu.
31. Lông mi xanh biếc.
32. Tướng hào quang trắng giữa mày.
Mười lực :
1. Trí lực biết xứ
phi xứ.
2. Trí lực biết nghiệp báo ba đời.
3. Trí lực biết các thiền giải thoát tam muội.
4. Trí lực biết các căn thắng liệt.
5. Trí lực biết chủng chủng giải.
6. Trí lực biết chủng chủng giới.
7. Trí lực biết nhất thiết chí xứ đạo.
8. Trí lực biết thiên nhãn vô ngại.
9. Trí lực biết túc mạng vô lậu.
10. Trí lực biết vĩnh đoạn tập khí.
Các giải thoát bao quát tám giải thoát :
1. Nội hữu sắc tướng quán ngoại sắc giải
thoát.
2. Nội vô sắc tướng quán ngoại sắc giải thoát.
3. Tịnh giải thoát thân tác chứng cụ túc trụ.
4. Không vô biên xứ giải thoát.
5. Thức vô biên xứ giải thoát.
6. Vô sở hữu xứ giải thoát.
7. Phi tưởng phi phi tưởng xứ giải thoát.
8. Diệt thọ tưởng định thân tác chứng cụ túc
trụ.
Ðó là tám giải thoát, người tu thiền tông phải
biết.
Ðồng trong một pháp tính, mà hàng tiểu thừa
chưa được thọ ký thành Phật. Thân của Phật
có tám mươi vẻ đẹp, mười tám pháp bất cộng.
Pháp bất cộng là chẳng chung với ba thừa
Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát, chỉ có Phật
mới đầy đủ pháp nầy.
Mười tám pháp bất cộng :
1. Thân vô thất.
2. Khẩu vô thất.
3. Niệm vô thất.
4. Vô dị tưởng.
5. Vô bất định tâm.
6. Vô bất tri kỷ xả.
7. Dục vô diệt.
8. Tinh tấn vô diệt.
9. Niệm vô diệt.
10. Huệ vô diệt.
11. Giải thoát vô diệt.
12. Giải thoát tri kiến vô diệt.
13. Nhất thiết thân nghiệp tùy trí huệ hành.
14. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí huệ hành.
15. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí huệ hành.
16. Trí huệ tri quá khứ thế vô ngại.
17. Trí huệ tri vị lai thế vô ngại.
18. Trí huệ tri hiện tại thế vô ngại.
"Những công đức như thế" : Như vừa nói ở trên
ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, mười
lực, các giải thoát, mười tám pháp bất cộng,
đủ thứ công đức, mà con Xá Lợi Phất hành
tiểu thừa đã mất các công đức. Xá Lợi Phất
khi một mình tham thiền hoặc đi kinh hành,
thì thấy Ðức Phật ở trong đại chúng, danh
đồn khắp mười phương. Phật vì lợi ích tất cả
chúng sinh mà chẳng xa lìa. Xá Lợi Phất nói
: Con cảm thấy mình đã mất đi tất cả những
lợi ích mà mình tự khi dối mình, cho rằng
mình đã mất đi lợi ích nầy. Con thường ngày
đêm sáu thời, suy gẫm về việc nầy của con
cứu kính mất đi hay chẳng mất ? Con thường
thấy đức Thế Tôn tán thán ngợi khen các đại
Bồ Tát. Do đó, nên ngày đêm con đều nghĩ về
việc nầy. Bây giờ, con nghe tiếng của Phật
nói, tùy cơ nghi của chúng sinh mà nói diệu
pháp. Pháp nầy là vô lậu, không thể nghĩ
bàn, khiến cho chúng sinh đắc đạo bồ đề.
Tôn giả Xá Lợi
Phất, trước kia từng có sự chấp trước, có tà
tri tà kiến, muốn làm thầy của tất cả Bà
La Môn (Phạm chí) ngoại đạo.
Ðức Thế Tôn hiểu rõ căn cơ của con, mới trừ
dứt tà kiến của con, còn vì con nói pháp
Niết Bàn quả Thánh. Cho nên, tất cả tà tri
tà kiến của con đều đã dứt sạch, chứng được
pháp chân không. Lúc đó, tâm con cho rằng,
chứng quá A
La Hán, tức là đã đạt được
cứu kính tịch diệt.
Nay mới thật biết rõ
Chẳng phải thật diệt độ.
Nếu sẽ được thành Phật
Ðủ ba mươi hai tướng
Chúng trời người Dạ Xoa
Rồng Thần đều cung kính.
Lúc đó mới bảo rằng :
Vĩnh viễn vào Vô
Dư
Phật ở trong đại chúng
Nói con sẽ thành Phật.
Nghe tiếng pháp như thế
Nghi hoặc đều đã trừ
Vừa nghe Phật nói ra
Trong tâm rất sợ nghi.
Phải chăng ma giả Phật
Nhiễu loạn tâm con chăng !
Tôn giả Xá Lợi Phất lại nói : Con lúc trước
cho rằng mình đã được diệt độ, té ra chưa
đến được chốn Bảo sở, nay đã giác ngộ, trước
kia con chỉ chứng được lý không, chứ chẳng
phải Niết Bàn chân chánh. Nếu như tương lai
được thành Phật, đủ ba mươi hai tướng, được
chư Thiên, nhân loại, Dạ xoa, Thiên long bát
bộ, rồng và thần .v.v., đều đến cung kính,
lúc đó mới có thể cho rằng: Chân chánh diệt
độ, được Vô
Dư Niết Bàn. Phật ở trước đại
chúng nói, con tương lai sẽ thành Phật, con
nghe được pháp âm như thế, thì tất cả tâm
nghi hoặc đều dứt sạch. Nhưng ban đầu vừa
nghe Phật nói pháp, thì trong tâm con sinh
tâm rất sợ nghi, hoài nghi đây có phải là ma
biến làm Phật chăng ? Sao lại nói được diệu
pháp nầy ? Có phải nó đến để nhiễu loạn tâm
tu định của con ?
Phật dùng đủ thứ duyên
Thí dụ khéo nói pháp.
Tâm Phật an như biển
Con nghe lưới nghi dứt
Phật nói đời quá khứ
Vô lượng Phật diệt độ.
An trụ trong phương tiện
Cũng đều nói pháp nầy
Phật hiện tại vị lai
Số đông không thể lường.
Cũng dùng các phương tiện
Diễn nói pháp như thế
Như Thế Tôn hôm nay
Từ sinh đến xuất gia.
Ðắc đạo chuyển pháp luân
Cũng dùng phương tiện nói
Thế Tôn nói thật đạo
Ba Tuần làm chẳng được.
Thế nên con biết chắc
Chẳng phải ma giả Phật
Vì con sa lưới nghi
Bảo là ma vương nói.
Nghe tiếng Phật êm diệu
Xâu xa rất vi diệu
Diễn xướng pháp thanh tịnh
Tâm con rất vui mừng.
Nghi hoặc đã dứt hẳn
An trụ trong thật trí
Con chắc sẽ thành Phật
Ðược trời người cung kính.
Chuyển pháp luân vô thượng
Giáo hóa các Bồ Tát.
Phật lại dùng đủ thứ phương tiện nhân duyên,
thí dụ, dùng biện tài khéo léo, vì con nói
pháp nầy, tâm của Phật an định như biển cả,
khiến cho tâm của con cũng an định như biển.
Phật nói đủ thứ pháp môn thiện xảo phương
tiện, cho nên đoạn trừ được tất cả nghi hoặc
của con. Phật nói tất cả vô lượng chư Phật
diệt độ đời quá khứ, đều chiếu theo pháp môn
phương tiện nầy, vì tất cả Chúng sinh nói,
tức là diệu pháp Kinh Pháp Hoa. Tất cả chư
Phật hiện tại và vị lai nhiều vô cùng vô
tận, cũng dùng đủ thứ phương tiện nói diệu
pháp nầy. Hiện tại, Thích Ca Mâu Ni Phật Thế
Tôn, từ cung trời Ðâu Suất hạ sinh nhân
gian, hiện tám tướng thành đạo.
Tám tướng :
1. Từ nội viện cung
trời Ðâu Suất hạ sinh vào vương cung Vua
Tịnh Phạn, tại nước Ca Tì
La
Vệ xứ Ấn Ðộ.
2. Nhập thai : Phật ở trong thai mẹ ngày đêm
đều vì trời người quỷ thần thuyết pháp.
3. Trụ thai mười tháng.
4. Ra khỏi thai thì Phật dùng một tay chỉ trời
một tay chỉ đất nói : "Thiên thượng thiên hạ
duy ngã độc tôn."
5. Xuất gia tu khổ hạnh sáu năm.
6. Dưới cội Bồ Ðề thấy sao mai mọc mà ngộ đạo.
7. Thành đạo rồi chuyển bánh xe pháp, vì tất
cả chúng sinh thuyết pháp.
8. Cuối cùng vào Niết Bàn.
Ðó là tám tướng thành đạo, nhưng Tông Thiên
Thai sửa tướng thứ ba trụ thai làm tướng thứ
năm là hàng ma tức là :
1. Ðâu Suất hạ
sinh.
2. Nhập thai.
3. Xuất thai.
4. Xuất gia.
5. Hàng ma.
6. Thành đạo.
7. Chuyển pháp luân.
8. Vào Niết Bàn.
Tám tướng nầy Tông Thiên Thai nói.
Trong đại thừa, tướng hàng ma bao quát ở trong
tướng thành đạo. Mà nay đức Phật, từ lúc
hàng sinh nhân gian đến xuất gia, thành đạo
rồi chuyển pháp luân, tức cũng là dùng
phương tiện pháp môn thuyết pháp. Hiện tại
đức Thế Tôn nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, là
trí huệ chân thật, cũng là đạo lý thật
tướng. "Ba Tuần" tức là ma vương, y không
thể nào nói được chân lý nầy. Do đó, con
biết chắc chắn chẳng phải ma giả Phật. Vì
con sa vào lưới nghi, cho rằng Phật nói pháp
là ma vương nói. Bây giờ, nghe được tiếng êm
diệu từ bi hỷ xả của Phật. Tiếng của Phật
sâu xa vi diệu (một trong tám mươi vẻ đẹp),
diễn xướng diệu pháp thanh tịnh. Tâm con rất
vui mừng nghi hoặc vĩnh viễn đoạn tuyệt, an
trụ vào trong thật trí huệ. Trong tương lai
con nhất định sẽ thành Phật, được trời người
rồng thần tôn kính, chuyển đại pháp luân vô
thượng, giáo hóa tất cả đại Bồ Tát.
Bấy giờ, đức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất :
Nay ta ở trong đại chúng trời người Sa môn,
Bà la môn mà nói, xưa kia ta đã từng ở chỗ
hai vạn ức vị Phật, vì đạo vô thượng, nên
thường giáo hóa ông. Ông cũng theo ta tu học
lâu dài, ta dùng phương tiện dẫn dắt ông,
khiến cho sinh vào trong pháp của ta.
Lúc đó, Phật nói với Ngài Xá Lợi Phất: Nay ta
vì trời, người, Sa môn, Bà
La Môn, đại chúng mà nói, ta
đã từng ở chỗ hai vạn ức vị Phật, ta vì cầu
đạo vô thượng (có bảy vô thượng đạo : Thân
vô thượng, thọ trì vô thượng, cụ túc vô
thượng, trí huệ vô thượng, bố thí vô thượng,
giải thoát vô thượng, hành vô thượng). Ta
thường giáo hóa ông. Ông trước kia chưa khai
ngộ, luôn luôn theo ta tu học Phật pháp. Ta
dùng đủ thứ phương tiện pháp môn dẫn dắt
ông, mới khiến cho sinh vào trong Phật pháp
của ta Phật Thích Ca Mâu Ni.
Xá Lợi Phất ! Xưa ta dạy ông chí nguyện
Phật đạo, nay ông đã quên, mà bèn tự bảo đã
được diệt độ. Nay ta muốn khiến cho ông nhớ
lại nguyện xưa đã hành đạo, vì các Thanh Văn
nói Kinh đại thừa nầy, tên là Diệu Pháp Liên
Hoa, pháp giáo hóa Bồ Tát, được Phật hộ
niệm.
Xá Lợi Phất !
Ông ở đời vị lai, trải qua vô lượng vô biên
số kiếp không thể nghĩ bàn, cúng dường hàng
ngàn vạn ức vị Phật, phụng trì chánh pháp,
đầy đủ đạo tu hành của Bồ Tát, sẽ được thành
Phật, hiệu là
Hoa Quang Như Lai, ứng Cúng,
Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Nước đó
tên là Ly Cấu, cõi đó bằng phẳng thanh tịnh
trang nghiêm, an ổn, giàu có, sung sướng,
trời người đông đảo. Dùng lưu ly làm đất, có
tám đường giao thông, dây bằng vàng dùng
giăng bên đường, cạnh lề đường đều có hàng
cây bằng bảy báu, thường có hoa quả. Ðức
Hoa Quang Như Lai cũng dùng
ba thừa giáo hóa chúng sinh.
Xá Lợi Phất !
Ðức Phật đó ra đời, tuy chẳng phải đời ác,
nhưng vì nguyện xưa cho nên nói pháp ba
thừa.
Ðức Phật bảo Xá Lợi Phất: Thuở xưa, ta giáo
hóa ông chí nguyện thành Phật đạo, mà nay
ông đã quên mất, tự nói đã được diệt độ. Ta
muốn ông nhớ lại nguyện lực đã phát ra xưa
kia, nay vì hàng Thanh Văn nói Kinh điển đại
thừa tên là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, dạy
ông pháp Bồ Tát. Học pháp
nầy, thì được mười phương chư Phật hộ niệm.
Xá Lợi Phất, ta vì ông thọ ký, ông ở trong
vô lượng kiếp vị lai cúng dường vô số chư
Phật, phụng trì chánh pháp, đầy đủ lục độ
vạn hạnh, sẽ được thành Phật, hiệu là
Hoa Quang Như Lai, ứng Cúng,
Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Nước của
ông tên là Ly Cấu. Ở trên là mười danh hiệu
chung của mỗi vị Phật. Cõi nước của ông
thanh tịnh bằng phẳng, an ổn giàu có sung
sướng, trời người đông đảo. Dùng lưu ly làm
đất, có tám đường giao thông, dùng vàng làm
dây giăng bên đường, lề đường có những hàng
cây bằng bảy báu, luôn luôn có hoa quả. Ðức
Hoa Quang Như Lai dùng Thanh
Văn, Duyên Giác và Bồ Tát ba thừa giáo hoá
chúng sinh. Khi Xá Lợi Phất thành Phật, tuy
chẳng phải đời ác, nhưng bởi vì nguyện lực
xưa cho nên nói pháp ba thừa.
Kiếp đó tên là Ðại Bảo
Trang Nghiêm. Vì sao tên là
Ðại Bảo
Trang Nghiêm ? Vì trong nước
đó dùng Bồ Tát làm đại bảo. Các Bồ Tát nhiều
vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn. Toán số
ví dụ cũng không thể tính được, ngoài trí
lực của Phật ra, không ai biết được. Nếu
muốn đi thì có hoa báu đỡ chân. Các vị Bồ
Tát đó, chẳng phải mới phát tâm, các Ngài
đều đã trồng gốc công đức lâu xa, tu phạm
hạnh thanh tịnh, nơi vô lượng trăm ngàn vạn
ức chỗ các đức Phật. Thường được chư Phật
khen ngợi, thường tu trí huệ của Phật, đủ
đại thần thông, khéo biết tất cả các pháp
môn, chân thật không hư dối, chí niệm kiên
cố, các Bồ Tát như thế đầy khắp nước đó.
Ðức
Hoa Quang Như Lai thành đạo,
vào kiếp đó tên là Ðại Bảo
Trang Nghiêm. Vì sao gọi là
Ðại Bảo
Trang Nghiêm ? Vì trong cõi
nước đó, dùng Bồ Tát làm đại bảo. Có nhiều
Bồ Tát số đông không thể nghĩ bàn, đếm chẳng
hết được. Chỉ có Phật đầy đủ mười trí lực
mới biết được số lượng. Phật đi thì có hoa
sen báu đỡ dưới chân. Các Bồ Tát cõi đó,
chẳng phải mới phát tâm tu hành, đều đã
trồng căn lành lâu xa, nơi chỗ của vô lượng
các đức Phật, từng tu phạm hạnh thanh tịnh,
thường được chư Phật tán thán. Các Ngài
thường tu trí huệ chân thật của Phật, đầy đủ
đại thần thồng, thông đạt các pháp thật
tướng, tất cả hành vi đều chân thật chẳng hư
dối, chí niệm kiên cố chẳng thối lui, các
đại Bồ Tát như thế đầy khắp nước đó.
Xá Lợi Phất !
Ðức Phật
Hoa Quang thọ mười hai tiểu
kiếp, trừ làm vương tử chưa thành Phật, thì
nhân dân nước đó thọ tám tiểu kiếp. Ðức
Hoa Quang Như Lai, trải qua
mười hai tiểu kiếp, thì thọ ký cho Bồ Tát
Kiên Mãn, sẽ thành Vô thượng chánh đẳng
chánh giác, bảo các Tỳ Kheo rằng : Bồ Tát
Kiên Mãn kế đây sẽ thành Phật, hiệu là
Hoa Túc An Hành Như Lai, ứng
cúng, Chánh biến tri. Cõi nước của Ðức Phật
đó cũng lại như thế.
Xá Lợi Phất !
Phật
Hoa Quang đó diệt độ rồi,
chánh pháp trụ thế ba mươi hai tiểu kiếp,
tượng pháp trụ thế cũng ba mươi hai tiểu
kiếp.
Phật bảo Xá Lợi Phất ! Ðức
Hoa Quang Như Lai thọ mạng
mười hai tiểu kiếp. Thọ mạng của con người
bắt đầu từ tám vạn bốn ngàn tuổi, mỗi một
trăm năm thì giảm xuống một tuổi, thân cao
mỗi một trăm năm cũng giảm xuống một tất,
giảm đến thọ mạng của con người chỉ còn mười
tuổi, đây gọi là kiếp giảm. Tuổi thọ của con
người lại từ từ tăng lên, đến tám vạn bốn
ngàn tuổi, mỗi một trăm năm cũng tăng một
tuổi, thân cao tăng thêm một tất, một tăng
một giảm như thế gọi là một kiếp. Một ngàn
kiếp làm một tiểu kiếp, hai mươi tiểu kiếp
làm một trung kiếp, bốn trung kiếp làm một
đại kiếp. Trừ lúc Ngài làm vương tử chưa
thành Phật, thì nhân dân nước đó thọ tám
tiểu kiếp. Ðức
Hoa Quang Như Lai trải qua
mười hai tiểu kiếp, thì sẽ thọ ký cho Bồ Tát
Kiên Mãn, sẽ thành Vô thượng chánh đẳng
chánh giác, hiệu là
Hoa Túc An Hành Như Lai, ứng
Cúng, Chánh Biến Tri, cõi nước đó cũng lại
như thế. Phật
Hoa Quang diệt độ rồi, chánh
pháp trụ ở đời trải qua ba mươi hai tiểu
kiếp (thời đại chánh pháp thì thiền định
kiên cố), tượng pháp cũng trải qua ba mươi
hai tiểu kiếp (thời đại tượng pháp thì chùa
chiền kiên cố).
Bấy giờ, Ðức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
trên, bèn nói bài kệ rằng :
Xá Lợi Phất tương lai
Thành Phật đấng đại trí
Hiệu là Phật
Hoa Quang
Sẽ độ vô lượng chúng.
Cúng dường vô số Phật
Ðầy đủ hạnh Bồ Tát
Mười lực các công đức
Chứng được vô thượng đạo.
Qua vô lượng kiếp sau
Kiếp tên Ðại Bảo
Nghiêm
Thế giới tên Ly Cấu
Thanh tịnh chẳng dơ bẩn.
Dùng lưu ly làm đất
Dây vàng giăng bên đường
Hàng cây xen bảy báu
Thường có hoa quả thật.
Lúc đó, Phật dùng kệ để tường thuật lại ý
nghĩa trường hàng vừa nói ở trên.
Xá Lợi Phất ! Trong tương lai ông sẽ thành
Phật đấng đại trí, phổ độ chúng sinh, hiệu
là
Hoa Quang Như Lai, độ vô
lượng chúng sinh. Bởi ông từng cúng dường vô
số chư Phật, đầy đủ lục độ vạn hạnh Bồ Tát
đạo, có mười lực của Như Lai, tám giải
thoát, thiền định công đức .v.v...
Ðức Phật đó chứng
được quả vị đạo vô thượng, trải qua vô lượng
kiếp sau, kiếp tên Ðại Bảo
Trang Nghiêm, thế giới tên Ly
Cấu, thanh tịnh chẳng dơ bẩn, dùng lưu ly
làm đất, dây vàng giăng bên đường, hàng cây
xen tạp bảy báu, thường có hoa quả thật đầy
khắp, khiến cho ngưới thấy mà phát bồ đề
tâm.
Các Bồ Tát nước đó
Chí niệm thường kiên cố
Thần thông Ba la mật
Thảy đều đã đầy đủ.
Nơi vô số chư Phật
Khéo học Bồ Tát đạo
Các Ðại Sĩ như thế
Do Phật
Hoa Quang độ.
Khi Phật làm vương tử
Bỏ nước xả vinh hoa
Ở nơi thân cuối cùng
Xuất gia thành Phật đạo.
Phật
Hoa Quang trụ thế
Thọ mười hai tiểu kiếp
Chúng nhân dân nước đó
Thọ mạng tám tiểu kiếp.
Sau khi Phật diệt độ
Chánh pháp trụ ở đời
Ba mươi hai tiểu kiếp
Rộng độ các chúng sinh.
Chánh pháp diệt hết rồi
Tượng pháp ba mươi hai
Xá lợi rộng truyền khắp
Trời người đều cúng dường.
Sự việc Phật Hoa Quang
Ðại khái là như thế
Ðấng Lưỡng Túc Tôn kia
Tối thắng chẳng ai bằng.
Phật đó tức thân ông
Nên phải tự vui mừng.
Các đại Bồ Tát trong nước Ðại Bảo
Trang Nghiêm nầy, chí niệm đã
được ba bất thối (vị bất thối, niệm bất
thối, hạnh bất thối) và được đại thần thông,
sáu Ba la mật, thảy đều đầy đủ. Ở chỗ vô số
chư Phật thường hành Bồ Tát đạo, lục độ vạn
hạnh. Tất cả các đại Bồ Tát đều do Phật
Hoa Quang giáo hóa. Ðức
Hoa Quang Như Lai làm vương
tử, thì xả bỏ tất cả vinh hoa phú quý, một
đời cuối cùng xuất gia làm Tỳ Kheo, tu hành
mà thành Phật đạo. Ðức
Hoa Quang Như Lai trụ thế
sống lâu đến mười hai tiểu kiếp, nhân dân
nước đó sống lâu đến tám tiểu kiếp. Sau khi
Phật diệt độ, chánh pháp trụ ở đời đến ba
mươi hai tiểu kiếp, rộng độ vô lượng chúng
sinh. Sau khi thời đại chánh pháp diệt, thì
đến thời đại tượng pháp cũng ba mươi hai
tiểu kiếp. Xá lợi rộng truyền cho đời, trời
người đều cúng dường bảo tháp xá lợi. Sự
việc của Phật
Hoa Quang đại khái là như
thế. Ðức Phật đầy đủ phước huệ chẳng ai sánh
bằng, là Ðức
Hoa Quang Như Lai thân ông
trong tương lai, nên mừng được thành Phật
rộng độ chúng sinh.
Bấy giờ, bốn chúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư
sĩ nam, cư sĩ nữ, trời, rồng, Dạ xoa, Càn
thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma
hầu la già, đại chúng, thấy Ðức Phật thọ ký
cho Ngài Xá Lợi Phất, sẽ thành Phật Vô
thượng chánh đẳng chánh giác, tâm rất vui
mừng hớn hở vô cùng, ai nấy đều cởi y trên
thân, để cúng dường Ðức Phật. Thích Ðề Hoàn
Nhân, Phạm Thiên Vương, và vô số Thiên tử
cũng đem y trời đẹp, hoa trời mạn đà la, hoa
ma ha mạn đà la, cúng dường đức Phật, y trời
tung lên bèn trụ ở trong hư không mà tự xoay
vòng. Âm nhạc của chư thiên trăm ngàn vạn
thứ, cùng một lúc đều tấu lên ở trong hư
không, mưa xuống các hoa trời mà nói như vầy
: Xưa kia đức Phật ban đầu chuyển pháp luân
ở thành Ba
La
Nại, cho đến hôm nay mới
chuyển pháp luân lớn nhất vô thượng.
Khi Ðức Phật thọ ký cho tôn giả Xá Lợi Phất
rồi, thì bốn chúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư
sĩ nam, cư sĩ nữ, A Tu La (vô đoan chánh),
Ca Lâu La (đại bành kim sí điểu), Khẩn Na La
(thần nhạc), Ma Hầu
La Gìa (đại mãng xà), tám bộ
quỷ thần đều tụ tập nghe Phật thuyết pháp.
Thấy Xá Lợi Phất ở trước Phật, được thọ ký
vô thượng chánh đẳng chánh giác, tương lai
sẽ thành Phật
Hoa Quang, mọi người đều sinh
tâm vui mừng. Ai nấy đều cởi y trên thân của
mình đem cúng dường cho Ðức Phật. Người xuất
gia thì đem tổ y cúng dường (người xuất gia
có ba y : Ðại y còn gọi là tổ y, là y hai
mươi lăm điều có 108 ô; thất y là y bảy
điều; ngũ y là y năm điều; người xuất gia
phải có ba vật thường bên mình tức là y,
bình bát, tọa cụ).
Người tại gia cư sĩ
thì cởi y phục tốt đẹp nhất trên thân đem
cúng dường. Thích Ðề Hoàn Nhân, Phạm Thiên
Vương và vô số Thiên tử cũng đem y phục trời
tốt đẹp, hoa trời mạn đà la (hoa nhỏ màu
trắng), hoa ma ha mạn đà la (hoa lớn màu
trắng) để cúng dường. Y của chư thiên cúng
dường cho đức Phật, lơ lửng xoay vòng ở
trong hư không, và có trăm ngàn vạn thứ nhạc
trời đồng tấu lên ở trong hư không, đều cùng
nhau nói: Xưa kia đức Phật ở thành Ba
La
Nại, ban đầu chuyển bánh xe
pháp, cho đến hôm nay, mới diễn nói diệu
pháp lớn nhất vô thượng Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa, khai quyền hiển thật.
Lúc đó, các Thiên tử muốn thuật lại nghĩa
trên, bèn nói bài kệ rằng :
Xưa tại Ba La Nại
Chuyển pháp luân bốn đế
Phân biệt nói các pháp
Sinh diệt của năm uẩn.
Nay lại chuyển pháp luân
Vô thượng diệu bậc nhất
Pháp đó rất thâm áo
Ít có người tin được.
Chúng con từ xưa nay
Thường nghe Thế Tôn nói
Chưa từng nghe diệu pháp
Thâm diệu như thế nầy.
Thế Tôn nói pháp nầy
Chúng con đều tùy hỉ
Ðại trí Xá Lợi Phất
Nay được Phật thọ ký.
Chúng con cũng như thế
Tất sẽ được thành Phật
Trong tất cả thế gian
Tôn quý vô thượng nhất.
Phật đạo không nghĩ bàn
Phương tiện tùy nghi nói
Những phước đức con có
Ðời nầy hoặc quá khứ.
Và công đức gặp Phật
Hồi hướng đến Phật đạo.
Các vị thiên tử vì muốn làm rõ nghĩa ở trên,
nên dùng kệ để tường thuật lại.
Lúc trước, đức Phật ở tại vườn Lộc Uyển ba lần
chuyển bánh xe pháp bốn Diệu Ðế, độ năm vị
Tỳ Kheo mà phân biệt nói pháp: Khổ, tập,
diệt, đạo, mười hai Nhân Duyên và sinh diệt
của năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức).
Năm uẩn là: Khổ đế, khổ đế thì có sinh, có
sinh thì có diệt, diệt được khổ đế, tập đế,
thì đến đạo đế. Cho nên, pháp bốn Diệu Ðế
khổ tập diệt đạo, và năm uẩn có quan hệ mật
thiết. Nay lại nói diệu pháp tối thượng Kinh
Pháp Hoa, là vua của tất cả các pháp, Phật
nói Kinh nầy, là bỏ quyền trí mà nói thật
trí. Pháp thâm áo nầy, nếu căn tính của một
số người có hạn, thì chẳng đạt được cảnh
giới của nó, cho nên chẳng tin. Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa nói, ai ai cũng đều có thể
thành Phật, nhưng vẫn có người chẳng tin đạo
lý nầy ! Ðức Phật và chúng ta đều là người.
Ngài khuyên tu thiện đạo thì thành Phật,
song, một số người chấp trước tướng ta, đầy
dẫy tham sân si, chẳng tu hành, cho nên chưa
thành Phật.
Chúng con các vị
Thiên tử, từ vô lượng kiếp đến nay, tuy
nhiều lần nghe Ðức Phật thuyết pháp, nhưng
chưa từng nghe qua diệu pháp chí cao vô
thượng nầy. Bây giờ Phật nói diệu pháp nầy,
các chư Thiên nghe nói đều vui mừng. Nhất là
Ngài Xá Lợi Phất là người có trí huệ bậc
nhất trong hàng Thanh Văn. Tôn giả được thọ
ký sẽ thành Phật, mà chúng con các Thiên tử,
cũng có hy vọng tương lai sẽ thành Phật.
Trong tất cả thế gian, Phật là tôn quý bậc
nhất. Phật đạo thật là không thể nghĩ bàn.
Phật vì phương tiện mà quán cơ thí giáo,
theo căn cơ của chúng sinh mà nói pháp. Chư
Thiên chúng con, có những phước đức nghiệp
lành gì, trong đời hiện tại hoặc đời vị lai,
công đức gặp được Phật nầy, thảy đều hồi
hướng hết Phật đạo trong tương lai của chúng
con.
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất bạch Phật rằng :
Ðức Thế Tôn ! Nay con chẳng còn nghi hoặc, ở
trước Ðức Phật được thọ ký Vô thượng chánh
đẳng chánh giác. Một ngàn hai trăm vị tâm
được tự tại nầy, lúc xưa ở bậc hữu học, Phật
thường giáo hóa rằng : Pháp của ta hay khỏi
sinh già bệnh chết, được cứu kính Niết Bàn.
Các vị hữu học vô học nầy, ai nấy cũng đã
lìa ngã kiến, thường kiến và đoạn kiến, cho
rằng được Niết Bàn, mà nay ở trước Ðức Thế
Tôn, nghe những điều chưa nghe, đều sa vào
nghi hoặc. Lành thay Ðức Thế Tôn ! Xin vì
bốn chúng mà nói nhân duyên đó, khiến cho họ
lìa nghi hoặc.
Lúc đó, tôn giả Xá Lợi Phất nói với Ðức Phật :
Con nghe Phật nói diệu pháp, chẳng còn sinh
nghi hoặc nữa, con ở trước Ðức Phật được thọ
ký Vô thượng chánh đẳng chánh giác, hiệu
Phật của con là
Hoa Quang Như Lai. Nhưng một
ngàn hai trăm vị đệ tử tâm được tự tại nầy,
lúc trước đầy đủ hữu học vị (trước chưa
chứng được tứ quả A
La Hán gọi là hữu học vị).
Phật thường giáo hoá họ, ở trong Phật pháp
hay thoát khỏi khổ sinh gìa bệnh chết, được
cứu kính Niết Bàn khoái lạc. Những vị hữu
học vô học nầy, tự cho rằng đã lìa ngã kiến,
thường kiến (hữu kiến) và đoạn kiến (vô
kiến), tự nói rằng đã được Niết Bàn. Mà nay
ở trước Phật nghe diệu pháp chưa từng nghe,
tức là họ nghi hoặc chẳng hiểu, mong cầu
Phật từ bi vì Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, cư sĩ
nam, cư sĩ nữ, bốn chúng nói tất cả nhân
duyên, khiến cho họ được lìa nghi hoặc.
Bấy giờ, Phật bảo Xá Lợi Phất, trước kia ta
đâu chẳng nói, chư Phật Thế Tôn dùng đủ thứ
nhân duyên, lời lẽ ví dụ, phương tiện nói
pháp, đều vì Vô thượng chánh đẳng chánh giác
ư ? Nói những điều đó, đều vì giáo hóa các
Bồ Tát. Nhưng Xá Lợi Phất, nay ta sẽ dùng
thí dụ để làm rõ nghĩa nầy, những người có
trí do thí dụ mà được hiểu.
Phật nghe Ngài Xá Lợi Phất, vì bốn chúng mà
thỉnh pháp, khiến cho họ lìa tất cả nghi
hoặc, mới vì Xá Lợi Phất nói : Trước kia,
chẳng phải ta đã nói rõ, mười phương chư
Phật dùng đủ thứ nhân duyên, lời lẽ thí dụ
phương tiện pháp môn, đâu chẳng vì Vô thượng
chánh đẳng chánh giác mà nói pháp chăng ?
Chỉ vì giáo hoá chúng Bồ Tát, mà nói nhân
duyên của các pháp. Bây giờ ta dùng ví dụ để
giải thích đạo lý nầy, người có trí huệ thì
nhờ ví dụ mà lãnh hội được.
Xá Lợi Phất ! Như quốc ấp tụ lạc, có vị đại
trưởng giả tuổi đã già nua, của cải giàu có
vô lượng, có nhiều ruộng vườn nhà cửa và các
tôi tớ.
Phật bảo Xá Lợi Phất, bây giờ ta đưa ra một ví
dụ. "Quốc gia" dụ cho cõi Thật báo trang
nghiêm. "Ấp" dụ cho cõi Phương tiện hữu dư,
là nơi ở của hàng nhị thừa. "Tụ lạc" dụ cho
cõi phàm Thánh đồng ở. Cõi Thường Tịch Quang
tịnh độ là gốc, còn ba cõi kia là tích, cuối
cùng đều quy về gốc, cõi Thường Tịch Quang
tịnh độ.
"Có vị đại trưởng
giả" là dụ cho đức Phật, dùng pháp thế gian
mà nói vị đại trưởng giả. Trưởng giả đầy đủ
có mười đức hạnh:
1. Dòng dõi tôn quý.
2. Ðịa vị cao.
3. Giàu có.
4. Uy đức.
5. Trí sâu rộng.
6. Tuổi cao.
7. Hạnh thanh tịnh.
8. Ðầy đủ oai nghi.
9. Ðược khen ngợi.
10. Tất cả đều nương tựa.
Nay ví dụ Phật là vị trưởng giả xuất thế, cũng
đầy đủ mười đức.
1. Phật ba đời đều
sinh vào trong chân như thật tế, cho nên gọi
là dòng dõi tôn quý.
2. Phật chứng được mười danh hiệu, đây mới là
địa vị cao.
3. Phật pháp tài vạn đức viên dung, có thể nói
rằng là giàu có.
4. Phật đủ mười trí lực, hàng phục được thiên
ma ngoại đạo, cho nên gọi là uy đức.
5. Phật có một tâm ba trí (tu quán không đắc
Nhất thiết trí, tu quán giả đắc Ðạo chủng
trí, tu quán trung đạo đắc Nhất thiết chủng
trí) hổ tương thông đạt, đây gọi là trí sâu
rộng.
6. Phật trong vô lượng kiếp về trước, sớm đã
thành chánh giác, đây là lớn tuổi.
7. Phật ba nghiệp (thân, khẩu, ý) tùy trí huệ
hành, đây là hạnh thanh tịnh.
8. Phật đầy đủ ba ngàn oai nghi, tám vạn tế
hạnh, tức là đầy đủ oai nghi.
9. Mười phương chư Phật đều khen ngợi Phật.
10. Bảy phương tiện (chiếu theo Tông Thiên
Thai):
a. Nhân thừa.
b. Thiên thừa.
c. Thanh Văn thừa.
d. Duyên Giác thừa.
e. Tạng giáo Bồ Tát thừa.
f. Thông giáo Bồ Tát thừa.
g. Biệt giáo Bồ Tát thừa.
Chúng sinh đều đến quy y với Phật, đó là tất
cả đều nương tựa.
Mười đức của Phật chẳng ra ngoài một niệm tâm,
trí nương quán tâm từ thật tướng mà ra:
1. Sinh vào chủng tính chân chánh nhà Phật,
tức là dòng dõi tôn quý.
2. Phật chẳng khởi hoặc (kiến tư hoặc, trần sa
hoặc, vô minh hoặc), đã mặc y Như Lai, xưng
tịch diệt nhẫn, tức địa vị cao.
3. Ba đế (không đế, giả đế, trung đế) đầy đủ
pháp tài, tức là giàu có.
4. Dùng trí huệ hàng phục ái kiến, tức uy đức.
5. Hợp với trung đạo, thấy suốt hai pháp quyền
và thật, tức là trí huệ sâu rộng.
6. Hay tu quán nầy thì vượt lên trên bảy
phương tiện, tức là lớn tuổi.
7. Quán tâm tính gọi là thượng định, hay khiến
thân khẩu ý ba nghiệp đều thanh tịnh, tức là
hạnh tịnh.
8. Gặp duyên đối cảnh, hợp với pháp chẳng mất
oai nghi, tức là đầy đủ oai nghi.
9. Tu quán nầy hay tin hiểu sâu các pháp thật
tướng, được mười phương chư Phật khen ngợi.
10. Tuy có trời rồng tám bộ chúng và bốn
chúng, đều đến cúng dường cũng chẳng lay
động, tức là tất cả nương tựa.
Lại dùng "vị trưởng giả" lớn tuổi, tức là bác
đạt cổ kim, ví dụ trí huệ của Phật.
1. Phật có trí đức mà hay đương cơ lập đoạn.
2. "Già nua" tức là căn chí thuần thục, dụ cho
đoạn đức của Phật, lại dùng "của cải giàu
có" dụ cho Phật vạn đức trang nghiêm. "Có
nhiều ruộng vườn nhà cửa": Ruộng tốt nuôi
dưỡng pháp thân huệ mạng, người tu hành tham
thiền, phải nhờ sức trí huệ làm tăng trưởng
pháp thân huệ mạng. Nhà cửa dụ cho cảnh thật
trí chân. Nếu luận về phước đức, thì Phật
rộng tu sáu độ vạn hạnh, nếu luận về trí
huệ, thì Phật chẳng có cảnh nào mà không
chiếu đến. Cho nên nói rằng Phật "có nhiều
ruộng vườn nhà cửa". "Tôi tớ" là ví dụ nhiều
môn phương tiện tri kiến viên mãn, chúng
sinh trong sáu nẻo hòa quang đồng trần, là
tứ thuận quần cơ mà thật trí như tôi tớ vậy.
Nhà đó rộng lớn, chỉ có một cửa, có rất
nhiều người, một trăm, hai trăm, cho đến năm
trăm người, đều ở trong đó.
Nhà mà trưởng giả dùng nầy, là dụ cho tam giới
(dục giới, sắc giới và vô sắc giới) luân hồi
rộng lớn. "Một cửa" là dụ cho một thừa Phật
đạo, chỉ một thừa Phật đạo lìa khỏi tam
giới.
Bao quát năm nẻo chúng sinh đều ở trong đó,
dùng "một trăm" là dụ cho nẻo cõi trời, dùng
"hai trăm" là dụ cho nẻo nhân loại, dùng "ba
trăm" là dụ cho đường súc sinh, dùng "bốn
trăm" là dụ cho đường ngạ quỷ, dùng "năm
trăm" là dụ cho đường địa ngục. Trong đường
cõi trời đều có A Tu La, có phước trời mà
chẳng có đức trời, rất thích đấu tranh.
Ðoạn Kinh văn nầy nói, tam giới năm đường
chúng sinh, cùng ở trong một nhà.
Vì sao trên thế gian có người thông minh, có
người ngu si ? Những người thông minh có trí
huệ vì thích tụng Kinh, học Phật và ấn tống
Kinh điển, còn những người ngu si vì ganh
ghét tài giỏi của người.
Lầu gác hư mục, tường vách sụp đổ, cột kèo
xiêu vẹo, nóc mái nghiêng ngã.
"Lầu" dụ cho dục giới, "gác" dụ cho sắc giới,
vô sắc giới, "hư mục" dụ cho tam giới vô
thường, chúng sinh luân hồi ở trong tam giới
không ngừng. "Tường vách" dụ cho bốn đại
(đất, nước, gió, lửa), tửu, sắc, tài, khí,
như gông cùm con người, do đó có bài kệ :
"Tửu sắc tài khí bốn vách tường,
Rất nhiều chúng sinh ẩn trong đó,
Có người vượt ra khỏi ngoài tường,
Tức là trường sinh bất lão ông."
Tường dụ cho thân thể của con người, tam giới
dễ hư mục. "Cột kèo xiêu vẹo" dụ cho mạng
người chẳng lâu dài. "Nóc mái" dụ cho ý
thức. "Nóc mái nghiêng ngã", dụ cho ý thức
thay đổi không ngừng, con người sắp mạng
chung.
Nên biết mạng người vô thường, người trên thế
gian chuyên tranh danh đoạt lợi, tất cả
tướng hữu vi đều có sinh diệt, Chúng ta hãy
trở về nguồn cội, minh tâm kiến tánh. Tính
của con người vốn không dơ không sạch, không
sinh không diệt, không tăng không giảm. Kinh
Lăng Nghiêm nói rằng :
"Thường trụ chân tâm,
Tính tịnh minh thể."
Nếu nhận thức được bổn lai diện mục (bộ mặt
thật), thì phiền não sẽ biến thành bồ đề,
nếu không thì bồ đề cũng biến thành phiền
não, do đó :
"Thiên hạ vốn vô sự,
Kẻ ngu tự quấy nhiễu."
Người thế tục phần nhiều làm việc hồ đồ, nhưng
lại chấp trước là chánh đạo, họ cho trái là
phải. Người tu đạo nên :
"Mắt thấy hình sắc chẳng dính mắc,
Tai nghe âm thanh tâm chẳng hay".
Thông thường người thấy sắc là sắc, thấy hình
là hình; nhưng nếu ngộ triệt bổn thể, thì
thấy sắc vô sắc, thấy hình vô hình, liền trở
về bổn lai Phật tánh. Ðạo lý ở trên, có thể
bạn đã từng nghe nhiều lần, nhưng biết mà
chẳng thực hành cũng như không. Các bạn nên
áp dụng thực hành, cung hành thực tiễn, hành
Bồ Tát đạo, lợi mình lợi người, tự giác giác
tha, tự độ độ tha, làm trách nhiệm của mình,
lấy Bồ Tát Ðịa Tạng làm mô phạm, nguyện độ
tất cả chúng sinh tội khổ, do đó :
"Ðịa ngục chưa trống,
Thề không thành Phật".
Chúng sinh có: Tửu, sắc, tài, khí. Bồ Tát cũng
có. Bồ Tát lấy sự độ sinh làm tửu, lấy Tam
Tạng mười hai bộ Kinh điển làm sắc, lấy diệu
pháp làm tài, lấy sáu độ vạn hạnh làm khí.
Tuy sở hữu của Bồ Tát và chúng sinh giống
nhau, song nghĩa thì khác biệt một trời một
vực.
Chung quanh cùng một lúc, lửa bỗng nổi lên
thiêu đốt nhà cửa.
"Chung quanh cùng một lúc lửa bỗng nổi lên" :
Tám khổ (sinh, già, bệnh, chết, cầu chẳng
được, thương mà xa lìa, ghét mà gặp nhau,
năm uẩn thiêu đốt) khắp cùng nơi bốn đại
(đất, nước, gió, lửa), bốn sự sinh (sinh
bằng thai, bằng trứng, ẩm thấp và biến hóa),
cho nên nói "chunh quanh". Bốn sự sinh, bốn
đại, tám khổ, đều vô thường, cho nên nói
"cùng một lúc". Dùng "thiêu đốt nhà cửa", dụ
cho bốn đại của thân con người, bị đủ thứ sự
khổ ràng buộc vây hãm khắp chung quanh, vì
có lửa phiền não, tùy thời tùy lúc sẽ nổi
lên thiêu đốt, mà sinh ra vô tận thống khổ,
vì do năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức)
sinh ra lửa thiêu đốt rừng công đức trong
tâm con người.
Các người con của ông trưởng giả, hoặc
mười, hai mươi, cho đến ba mươi người, đều ở
trong nhà đó.
"Các người con của ông trưởng giả" dụ cho Bồ
Tát thừa, Duyên Giác thừa, Thanh Văn thừa,
ba thừa đệ tử ở trong tam giới. Nếu chẳng có
người ba thừa nầy, tức là "năm trăm người".
Người ba thừa nầy xưa kia đã nghe Phật pháp,
có mật cảm thân thiết với Phật, cho nên làm
bậc pháp vương tử (con của đấng Pháp Vương).
Pháp vương tử gồm có đại, trung và tiểu
thừa. Ðại thừa là Bồ Tát, trung thừa là
Duyên Giác, Bích Chi Phật, tiểu thừa là
Thanh Văn. Con của ba thừa nầy là quyến
thuộc của Phật, đều cùng ở trong nhà lửa.
Ông trưởng giả thấy lửa lớn từ bốn phía nổi
lên, bèn rất sợ hãi, mà nghĩ như vầy : Tuy
ta ở nơi cửa nhà cháy ra ngoài được an ổn,
mà các người con của ta đang ở trong nhà
lửa, đùa giỡn chẳng hay biết gì, chẳng kinh
sợ lửa sẽ đốt thân, rất đau khổ lắm, mà
chúng chẳng lo lắng, chẳng có ý cầu ra
ngoài.
Dùng Phật nhãn xem, thì thấy sáu nẻo chúng
sinh, bị lửa năm uẩn vây hãm, từ bốn phía
nổi lên (tức bốn sự thấy điên đảo : Chẳng
phải thường cho là thường, chẳng vui cho là
vui, chẳng phải ngã cho là ngã, chẳng phải
tịnh cho là tịnh).
Trong bài Quy Khứ Lai của người xưa có nói
rằng :
"Quy khứ lai hề !
Ðiền viên tương vu, hồ tất quy ?
Tức tự dĩ tâm vi hình dịch,
Hền chù trướng nhi độc bi.
Ngộ dĩ vãng chi bất luyện,
Tri lai giả chi khả truy,
Thật mê đồ kỳ vị viễn,
Giác kim thị nhi tạc phi."
Nghĩa là : Con người thường vì thân giả chẳng
sạch sẽ nầy, mà làm tôi tớ cho nó, tức biết
ruộng vườn tự tánh của chúng ta bỏ hoang vu,
mà nay bừng dậy tỉnh ngộ, trở về nẻo chánh
Phật đạo, mới biết hôm nay đúng mà hôm qua
sai lầm vậy !
Trong Kinh dùng "mười, hai mươi, hoặc ba mươi
người" dụ cho ba thừa, mười, hai mươi và ba
mươi, cộng thành sáu mươi, sáu mươi dụ cho
sáu đường. Từ bậc Bồ Tát, Duyên Giác và
Thanh Văn thừa đều có mười trí :
1. Trí thế gian
(cũng bao quát trí xuất thế gian, giác ngộ
tất cả pháp thế gian, sau cầu pháp xuất thế
gian).
2. Tha tâm trí (từ trong định sinh, trong định
của Thanh Văn thừa có tha tâm trí, Duyên
Giác thừa chỉ cần nghĩ đến thì có tha tâm
trí, còn Bồ Tát thì lúc nào cũng có tha tâm
trí).
3. Khổ trí (biết khổ dứt khổ).
4. Tập trí.
5. Diệt trí (diệt phiền não được bồ đề, chứng
được thường lạc ngã tịnh).
6. Ðạo trí.
7. Pháp trí (có mắt chọn pháp, trừ khử mười
điều ác).
8. Tỉ trí (lựa thiện mà theo).
9. Tận trí.
10. Vô sinh trí (đắc vô sinh pháp nhẫn).
Bốn niệm xứ :
1. Quán thân bất
tịnh : Thân thể của chúng ta có chín lỗ
thường chảy ra vật bất tịnh, hai con mắt
chảy ra nước mắt, hai lỗ tai có cức ráy, hai
lỗ mũi chảy mũi, miệng chảy nước dãi, đàm,
nơi đại tiểu tiện bài tiết nước tiểu và
phân, máu thịt cũng bất tịnh.
2. Quán thọ là khổ : Tất cả mọi sự hưởng thọ
đều vô nghĩa, cho nên không nên chấp trước.
3. Quán tâm vô thường : Ý niệm của con người
thay đổi luôn luôn. Trong Kinh Kim Cang có
nói:
"Tâm quá khứ không thể được,
Tâm hiện tại không thể được,
Tâm vị lai không thể được."
4. Quán pháp vô ngã : Cho đến người và pháp
đều không. Phật có tâm đại từ bi, sợ chúng
sinh thối thất bồ đề tâm mà nghĩ như vầy :
Ta ở trong nhà lửa, tu trung đạo được thành
Phật, được lìa khỏi nhà lửa nầy. "An" dụ cho
Phật chẳng bị năm uẩn, tám sự khổ bức bách.
"Ổn" dụ cho Phật chẳng bị bốn điên đảo
(chẳng thường cho là thường, chẳng vui cho
là vui, chẳng phải ngã cho là ngã, chẳng
tịnh cho là tịnh) làm điên đảo, ra khỏi tam
giới. Các người con của ta (ba thừa và năm
trăm chúng sinh) đang ở trong nhà lửa, bị ái
kiến vây khốn, trong đại bi sám nói rằng :
"Ái kiến là gốc, thân miệng là duyên." Do có
bốn điên đảo, tham trước năm trần (sắc,
thinh, hương, vị, xúc) hoặc năm độc (tài,
sắc, danh, ăn, ngủ), kiến (thấy) làm vui
chơi, chấp trước ái làm đùa giỡn. Bị kiến ái
chuyển, phải lìa khỏi sinh tử mà "chẳng hay
biết gì". Tuy lửa sẽ hại thân mà chẳng biết
"sợ hãi". Người chẳng biết tập, chẳng sợ hãi
đạo, chẳng sợ mất diệt. Dùng không nghe pháp
bốn đế, tức chẳng nghe (văn), suy nghĩ (tư)
hai huệ làm chẳng hay. Chẳng tu huệ là chẳng
biết. Không kiến giải là chẳng sợ, không tư
duy giải là chẳng hãi. Nhưng chúng sinh
chẳng biết khổ hiện tại, cũng chẳng biết khổ
trong tương lai. Các người con bị lửa thiêu
đốt thân, thì đức Phật cảm thấy như chính
mình chịu đựng rất là thống khổ. Chúng sinh
thì mê chẳng giác, mê nơi tham sân si chẳng
biết lìa khỏi.
"Vui chơi đùa giỡn" dụ cho kiến trược và phiền
não trược. "Chẳng hay biết, chẳng sợ hãi" dụ
cho chúng sinh trược. "Lửa đến thiêu đốt
thân, rất là thống khổ" dụ cho mạng trược.
"Chúng chẳng lo lắng, chẳng có ý cầu ra ngoài"
dụ cho kiếp trược. Chúng sinh trôi nổi ở
trong năm trược quên về, suốt ngày bồi hồi
mà chẳng tỉnh giác, mới lầm nhận thế giới
nầy là cõi an vui. Con người thường tạo
nghiệp mà đọa địa ngục, nếu tỉnh giác thì sẽ
dứt sinh tử.
Gần đây ở San Francisco chẳng phát sinh động
đất, đó là do tâm lành của chúng ta tụng Chú
Lăng Nghiêm, chế phục được thiên ma, cho nên
San Francisco mới được bình an vô sự, khỏi
tai ương động đất.
Xá Lợi Phất ! Ông trưởng giả đó, bèn nghĩ
như vầy : Thân và tay của ta, có sức sẽ dùng
vạt áo, hoặc bàn ghế từ trong nhà mà ra
ngoài. Ông lại nghĩ : Nhà đó chỉ có một cửa
mà lại hẹp nhỏ, các người con còn thơ ấu,
chưa có hiểu biết, ham mê chơi đùa, sẽ bị
đọa lạc, hoặc bị lửa thiêu đốt.
Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất ! Ông trưởng giả đó,
tức Ðức Phật ở trong hai mươi mốt ngày, suy
gẫm như vầy: Ban đầu ta dùng pháp gì để hợp
cơ với chúng sinh, để khiến cho chúng sinh
giác ngộ ? "Thân" dụ cho thần thông, "tay"
dụ cho trí huệ cất nhắc. Phật y vào tam muội
đoạn đức, phân biệt thật tướng của tất cả
các pháp, có trí đức thì hay thuyết pháp. Có
đoạn, trí hai đức mà thành pháp thân, do
khuyên, dạy bảo hai cửa mà vào. Khuyên tức
là vị nhân tất đàn, là cửa từ bi, dạy bảo
tức là đối trị tất đàn, là cửa chế phục.
Tất đàn có bốn :
1. Vị nhân tất đàn.
2. Ðối trị tất đàn.
3. Thế gian tất đàn.
4. Ðệ nhất nghĩa tất đàn.
Cho nên nói rằng :
"Bất nhị pháp môn hưu khai khẩu,
Ðệ nhất nghĩa đế bổn vô ngôn."
Nghĩa là:
Pháp môn không hai
chẳng mở miệng,
Pháp đệ nhất nghĩa vốn không lời.
Phật cứ vào bốn tất đàn để thuyết pháp, bố thí
khắp hết thảy. Vị nhân tất đàn và đối trị
tất đàn, cùng thế gian tất đàn, đều vì đệ
nhất nghĩa tất đàn mà nói. Phật dùng pháp
phương tiện, trước nói cửa khuyên (khuyên
môn), khiến cho tất cả chúng sinh, làm các
việc thiện, sẽ thành tựu mười lực của Như
Lai.
Phật có bốn vô sở úy :
1. Nhất thiết trí
vô sở úy.
2. Thuyết pháp vô sở úy.
3. Thuyết chướng đạo vô sở úy.
4. Thuyết tận khổ đạo pháp vô sở úy.
Vì khai mở nhất thiết chủng trí, mà nói cửa
khuyên, tiếp đó dùng cửa dạy bảo (giới môn),
khiến cho chúng sinh đừng làm các điều ác,
có thể chứng đại Niết Bàn, được thường lạc
ngã tịnh bốn đức. Chúng sinh chẳng giác ngộ
sự giáo hoá, Phật biết không nên dùng pháp
đại thừa, bèn dùng thần thông trí huệ, sức
định huệ trang nghiêm để độ chúng sinh.
"Thân và tay của ta
có sức" dụ cho trí, đoạn hai đức tác dụng.
"Vạt áo" dụ cho tri kiến của Phật, bao hàm
hết tất cả tri kiến của chúng sinh. Phật
chẳng có gì mà không biết, chẳng có gì mà
không thấy. Dùng "bàn" dụ cho mười trí của
Phật, giáo hóa sáu nẻo chúng sinh, lìa khổ
được vui. Dùng "ghế" dụ cho bốn vô sở úy.
Phật dùng bốn vô sở úy giáo hóa chúng sinh,
khiến cho họ thoát khỏi khổ trong tam giới,
chấm dứt luân hồi trong sáu đường.
Chúng ta học Phật pháp, không nên có tâm phân
biệt, bất cứ thầy nào nói pháp đều nên lắng
nghe. Phật pháp, nên nghe rồi, lại nghe nữa,
thì tự nhiên sẽ có sự bổ ích. Nghe pháp là
gieo xuống hạt giống kim cang, ở trong thức
thứ tám của chúng ta. Các bạn nên rộng trồng
hạt giống nầy, khiến cho tăng trưởng, lấy
việc ủng hộ đạo tràng làm trách nhiệm của
mình.
Phật trong hai mươi mốt ngày suy nghĩ, nên
dùng pháp gì để giáo hóa chúng sinh. Cửa
"khuyên" thuộc về nhiếp thọ, vị nhân tất đàn
là cửa từ bi. "Dạy bảo" là cửa triết phục,
dùng phương thứ rất nghiêm để khiến cho họ
triết phục, là cửa oai phục. Phật dùng
khuyên dạy hai cửa, bốn vô sở úy, mười lực
và Như Lai trí, khiến cho chúng sinh lìa
khỏi nhà lửa nầy. Sau đó, Phật lại nghĩ, nhà
nầy chỉ có một cửa, là xe trâu trắng lớn,
pháp đại thừa mà lại hẹp nhỏ. Pháp đại thừa
là viên dung vô ngại, nghĩa tuy rộng lớn, mà
chỉ có đại thừa viên giác Bồ Tát mới có thể
vào, ngoài ra ngoại đạo và người bảy phương
tiện thừa kia chẳng thể vào được. Người tu
Bồ Tát đạo, cửa cõi Phật, diệu hạnh nầy,
pháp đại thừa khó hành, song mới bỏ tất cả
pháp phương tiện, do đó gọi là hẹp nhỏ. Diệu
lý của một Phật thừa là thuần nhất không
tạp. Ðạo lý nầy thật là vi diệu không thể
nghĩ bàn, chẳng dễ gì minh bạch, do đó gọi
là "hẹp nhỏ". Giáo nầy thuộc về viên giáo,
giáo lý quyền thật không hai, phàm phu chẳng
biết cửa ra, là vì chẳng biết quyền, lại
chẳng biết vào cửa nầy, là vì chẳng biết
thật. Hàng nhị thừa tuy biết ra, nhưng chẳng
biết vào, cũng chẳng rõ giáo lý nầy. Hàng Bồ
Tát tuy tự biết ra, cũng chẳng biết vào, Bồ
Tát nầy tức là biệt giáo Bồ Tát, tức cũng là
bảy phương tiện Bồ Tát. Bảy phương tiện
người chẳng rõ giáo lý nầy, do nơi người
tiểu thừa không thể vào đại thừa, cho nên
giáo nghĩa tuy rộng mà nói là "hẹp nhỏ".
Người tu hành lấy viên giáo tu hành, tu Bồ
Tát đạo, đi thẳng đến quả vị Phật, thông
suốt vô ngại, cho nên gọi là "một cửa". Diệu
hạnh khó hành, bỏ pháp phương tiện, cho nên
gọi là "nhỏ hẹp".
"Các người con thơ
ấu, chưa có hiểu biết": Nói hàng Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát, người ba thừa chẳng
hiểu, chẳng biết, chẳng sợ, chẳng hãi, tuy ở
nơi hai vạn vị Phật, được giáo hoá tu vô
thượng đạo, nhưng căn lành của họ mỏng manh,
nghe pháp đại thừa thì tâm chẳng tin nhận,
càng sinh tâm thối lùi. "Ham mê chơi đùa":
Người tiểu thừa chấp trước nơi kiến ái, thối
thất bồ đề, chịu tám thứ khổ hoành hành.
Chấp trước nơi y, chánh hai báo : Y báo tức
là báo thân của chúng ta, đây là hữu tình
thế giới. Trong tam giới, chúng sinh dục
giới chấp trước nơi năm dục (tài, sắc, danh,
ăn, ngủ), hoặc chấp trước vào năm trần (sắc,
thanh, hương, vị, súc). Chúng sinh sắc giới
thì chấp trước vào vị thiền. Chúng sinh trời
Tứ Thiền thì chấp trước vào thiền duyệt vi
thực, pháp hỉ sung mãn, cho nên trời Sơ
Thiền gọi là ly sinh hỷ lạc địa, trời Nhị
Thiền gọi là định sinh hỷ lạc địa, trời Tam
Thiền gọi là ly hỷ diệu lạc địa, trời Tứ
Thiền gọi là xả niệm thanh tịnh địa. Hỉ lạc,
diệu lạc, thanh tịnh, đều là một thứ từ vị
trong sự ngồi thiền, họ tham luyến thứ từ vị
nầy. Cõi vô sắc thì chấp trước nơi định, tuy
rằng nói : "Siêng tu giới định huệ", cũng
đừng chấp trước nơi định. Con người do có
các thứ chấp trước, có sự tham luyến, cho
nên không thể thoát khỏi tam giới, buông
chẳng đặng, bỏ chẳng được tri kiến ngu si,
cho nên ở trong nhà nầy, mà quên mất đường
về.
"Hoặc sẽ bị đọa
lạc": Nói chúng sinh hoặc sẽ bị đọa lạc,
nghĩa là có thể cải lỗi làm mới, biết được
giác ngộ, thì sẽ chấm dứt luân hồi. Nhưng vì
ngu si, chấp trước nơi năm dục, mà bị đọa
lạc trong ba đường ác. Hơn nữa, vì chúng
sinh chẳng biết, nhiễm khổ cho là vui, bỏ
giác hợp trần, cho nên đọa lạc vào ba đường
ác. Ðọa lạc thì bị tám khổ, năm uẩn thiêu
đốt, vì chẳng giác ngộ, chẳng biết lửa dữ sẽ
thiêu hủy pháp thân, căn lành.
Ta sẽ vì chúng nói việc đáng sợ. Nhà nầy đã
cháy, phải đi ra mau, đừng để bị lửa thiêu
hại. Nghĩ như thế rồi, bèn y theo sự suy
nghĩ đó, mà bảo các con : Các con hãy mau ra
! Người cha tuy thương xót, khéo nói lời dẫn
dụ, mà các người con ham vui chơi đùa chẳng
chịu tin nhận, chẳng sợ hãi, chẳng có tâm
muốn ra, cũng chẳng biết gì là lửa, gì là
nhà, thế nào là mất, cứ chạy đông chạy tây,
đùa giỡn nhìn cha mà thôi.
Chúng sinh chẳng biết bị tám khổ, năm uẩn
thiêu đốt, mười tám giới là khí huyết mang
đầy dẫy các sự khổ, chẳng biết tìm đường
thoát ly, chẳng biết đây là nguyên nhân tán
mất pháp thân. "Cứ chạy đông chạy tây đùa
giỡn" : Chạy khắp bốn phương chẳng có mục
đích, bỏ sáng về tối, trôi nổi trong sinh
tử, lúc lên trời, lúc ở dưới đất, đều thoát
chẳng khỏi ba cõi. "Nhìn cha mà thôi" là dụ
cho chẳng tôn theo Phật pháp đại thừa, như
trẻ con chẳng biết trời cao đất rộng, chẳng
cứ tới lời của người cha dạy bảo. Tuy nhiên
chúng sinh chẳng nghe lời dạy bảo, chẳng thọ
sự giáo hóa, vì Phật vốn có tâm đại từ bi,
cho nên không nỡ bỏ chúng sinh, xem chúng
sinh như chính con của mình, tâm rất thương
xót vô cùng.
Bấy giờ, ông trưởng giả bèn nghĩ : Nhà nầy
lửa đã cháy lớn, nếu ta và các con không ra,
thì sẽ bị lửa thiêu. Nay ta phải bày phương
tiện, khiến cho các con khỏi bị lửa hại.
Lúc đó, ông trưởng giả tức là Phật, nghĩ như
vầy: Nhà lớn nầy đã bị lửa tám khổ, năm uẩn
thiêu đốt, nếu ta với người ba thừa (Thanh
Văn, Duyên Giác và Bồ Tát) và năm trăm người
(năm đường chúng sinh) không ra khỏi nhà lửa
nầy, thì sẽ bị lửa lớn thiêu đốt. Ở trước
từng nói, Phật đã ra khỏi nhà lửa, sao bây
giờ lại nói ở nhà lửa bị lửa thiêu ? Kì
thật, pháp thân của Phật đã được an ổn lìa
khỏi ba cõi, bây giờ bị lửa thiêu, là ứng
thân của Phật. Nay ta phải bày pháp quyền
xảo phương tiện, khiến cho tất cả chúng sinh
không bị lửa nghiệp tám khổ, năm uẩn thiêu
hại.
Cha biết các con, trước kia tâm đều thích
đủ thứ đồ chơi quý giá kỳ lạ, ai nấy đều ưa
thích, mà bảo rằng : Ở đây có những đồ chơi,
ít có khó được, nếu các con không mau ra
lấy, chắc sau nầy sẽ buồn ăn năn. Nào là xe
dê, xe hươu, xe trâu, đủ thứ, nay đều ở
ngoài cửa, có thể dùng đi dạo chơi. Các con
đang ở trong nhà lửa, hãy mau ra đây, tùy ý
muốn của các con, cha đều cho các con.
"Cha" tức là Phật, tức cũng là ông trưởng giả,
do đó "biết con chẳng ai bằng cha", bậc làm
cha biết ý của con cái nhất. Biết chúng sinh
chẳng ai bằng Phật, Phật thấy suốt căn tính
của tất cả chúng sinh. "Trước kia tâm đều
thích": Trước kia chúng sinh thích tu học
pháp tiểu thừa. "Ðủ thứ đồ chơi quý giá kì
lạ, ai nấy đều ưa thích." Pháp tu của mỗi
người chẳng giống nhau, có người tu bố thí,
pháp bốn đế, pháp mười hai nhân duyên, đều
là sở thích của mỗi người.
Phật lại bảo chúng
rằng: Ðồ mà các con thích chơi chẳng đặc
biệt quý giá, mà hiện nay ta có đồ chơi quý
giá mới lạ ít có, nều các con không mau ra
lấy, thì sau nầy chắt sẽ buồn ăn năn. Có đủ
thứ nào là: "Xe dê, xe hươu, xe trâu". Xe dê
dụ cho Thanh Văn, là vì tiểu thừa. Xe hươu
dụ cho Duyên Giác, sức hươu lớn hơn sức dê,
là trung thừa. Xe trâu dụ cho Bồ Tát, sức
trâu càng mạnh hơn, có thể chuyên chở nhiều
đồ, cho nên dụ cho đại thừa. Những thứ xe
nầy, đều để ở ngoài cửa, các con hãy mau ra
đây lấy ! Các con thích gì, thì cha đều
thưởng cho các con.
Khi đó, các người con nghe cha nói đồ chơi
quý giá, vừa hợp ý mình, nên tâm ai nấy đều
dũng mãnh, xô đẩy lẫn nhau, cùng đua đuổi
chạy tranh nhau ra khỏi nhà lửa.
Lúc đó, người ba thừa (Thanh Văn, Duyên Giác
và Bồ Tát thừa) và năm đường chúng sinh,
nghe Phật nói pháp ba thừa vi diệu như thế,
thì khiến cho họ khởi dậy tâm háo kì, vừa
hợp ý của họ. Phật nói pháp ba thừa quyền
xảo phương tiện nầy, dùng để độ năm đường
chúng sinh. Cuối cùng Phật mới nói một Phật
thừa nầy. Cho nên những gì nói ở trong Kinh
Pháp Hoa, là thật trí diệu pháp, chẳng phải
pháp quyền xảo, do đó đại sư Trí Giả nói
Kinh Pháp Hoa là ‘’Thuần viên độc diệu‘’
(chỉ có Kinh Pháp Hoa là viên mãn diệu
nhất).
‘’Nên tâm ai nấy
đều dũng mãnh‘’. Trong tâm của mỗi người đều
có sở thích đồ chơi của họ. Tâm của chúng
sinh dũng mãnh là biểu thị tư huệ. Tư huệ
nầy dùng Bát Nhã để quán chiếu, cũng là tĩnh
lự tư huệ tham thiền, tức phải dùng trí huệ
lanh lợi mà tu hành, thì sẽ thấy rõ thị phi,
chẳng rơi vào đường tà, không thể biết rõ mà
cố phạm. Những người chưa vào cửa Phật pháp,
thì chẳng hiểu chân lý, do đó mà lầm vào
đường tà. Quy y Tam Bảo rồi, thì phải y theo
giáo pháp mà tu hành, bằng không, biết rõ mà
cố phạm thì sẽ đọa địa ngục.
‘’Xô đẩy lẫn
nhau‘’: Truy cầu khổ, tập, diệt, đạo bốn
chân lý, chế phục kiến hoặc và tư hoặc, nên
gọi là xô đẩy lẫn nhau. Ở trong pháp khổ, tu
khổ pháp trí, khổ pháp nhẫn; ở trong pháp
tập, tu tập pháp trí, tập pháp nhẫn; ở trong
pháp diệt, tu diệt pháp trí, diệt pháp nhẫn;
ở trong pháp đạo, tu đạo pháp trí, đạo pháp
nhẫn. Dùng bốn đế quán sát lẫn nhau, xô đẩy
lẫn nhau, tức là hàng phục được kiến hoặc.
Ðoạn Kinh văn nầy, cũng dụ cho bốn gia hạnh
(Noãn, đỉnh, nhẫn, thế đệ nhất), là noãn và
đỉnh vị. ‘’Ruổi chạy‘’ là nhẫn vị, chữ
‘’cùng‘’ là dụ cho thế đệ nhất. Trong Kinh
Lăng Nghiêm có nói về bốn gia hạnh.
‘’Cùng đua ruổi chạy‘’: ‘’Cùng đua‘’ là tranh
thủ vô sinh pháp nhẫn, diệu lý thù thắng,
thuộc về nhẫn huệ. ‘’Cùng‘’, tức thế đệ
nhất, ‘’ruổi chạy‘’ thuộc kiến đạo vị, chứng
sơ quả A
La Hán. Kiến hoặc là đối cảnh
khởi tham ái, hiện tại đoạn tuyệt niệm nầy,
thì chẳng mê hoặc kiến ái, mà chứng sơ quả A
La Hán, nhưng chưa dứt được
phân đoạn sinh tử. Phân đoạn sinh tử là, từ
khi sinh ra cho đến chết, gọi là một đoạn.
Chúng sinh từ khi sinh ra đến chết, tạo ra
tất cả những gì, đều do nghiệp lực chiêu
cảm.
‘’Tranh nhau ra
khỏi nhà lửa‘’: Là thuộc về tư hoặc. Ðoạn
được tư hoặc, thì chứng bậc vô học, tức
chứng tứ quả A
La Hán, dứt hẳn kiến hoặc, tư
hoặc mà ra khỏi được tam giới. Lúc nầy
‘’Vượt ra ngoài ba cõi, chẳng còn trong ngũ
hành.’’ Chẳng bị tập khí che đậy, chẳng vì
vật dục che lấp. Con người bị tập khí trói
buộc, tùy ý phóng dật, tham cầu vật dục,
khiến cho che lấp trí huệ vốn có, do đó
không thể vượt ra khỏi ba cõi, hãy mau ra
khỏi nhà lửa nầy; dụ cho người học Phật
pháp, phải có chánh tri chánh kiến, cầu mong
ra khỏi ba cõi.
Mấy ngày trước, có người nói với tôi, y tỉnh
ngộ trước kia y dùng tâm phan duyên là không
dúng, y biết được sai lầm, thì có thể thấy y
dụng công đã có tiến bộ, nên tiếp tục nỗ lực
đừng giải đãi.
Người tây phương tu đạo thì ít, người hỗn đạo
thì nhiều, bây giờ hằng ngày biết ngồi thiền
dụng công tu hành, tức có sự tiến triển.
Người đồng môn tu hành, nên cố gắng khuyên
bảo với nhau, chẳng những người xuất gia
phải dụng công, mà đệ tử tại gia cũng phải
dụng công, thường tùy hỉ nghe Kinh niệm
Phật.
Khi đó, ông trưởng giả thấy các con ra
ngoài được an ổn, đều ở nơi ngã tư đường,
ngồi ở nơi đất trống, chẳng còn gì chướng
ngại, tâm ông rất thơ thới vui mừng hớn hở.
Lúc đó, đức Phật thấy chúng sinh ra khỏi nhà
lửa, ngồi ở nơi đất trống. ‘’Ngả tư đường‘’
dụ cho quán pháp bốn đế (khổ, tập, diệt,
đạo), đắc được trí huệ khổ, tập, diệt, đạo,
vượt ra khỏi năm đường luân hồi, ở trong ngã
tư đường tu hành, tức tu quán pháp bốn đế,
mà được chứng quả, dứt sạch tư kiến hoặc ba
cõi. ‘’Ngồi ở nơi đất trống‘’, ‘’ngồi‘’ là
dụ cho chứng được quả vị, thì chẳng cầu tiến
bộ, ngừng lại ở hóa thành.
Người ở trong ba cõi, nếu bị vây hãm ở trong
sáu nẻo luân hồi, thì chẳng được giải thoát.
Vượt ra khỏi sáu nẻo luân hồi, thì chẳng còn
gì chướng ngại, thân được yên ổn, mà tâm
cũng an lạc, chẳng còn gì lo lắng. Chúng
sinh đều ‘’vui mừng hớn hở‘’, vì đều ra khỏi
được nhà lửa.
Bấy giờ, các người con đều thưa với cha
rằng : Lúc nãy, cha có hứa cho chúng con các
đồ chơi quý giá, nào là xe dê, xe hươu, xe
trâu, xin cha hãy ban cho.
‘’Xe dê, xe hươu, xe trâu‘’, dụ cho quả vị ba
thừa. Muốn được quả vị ba thừa, thì trước
hết phải vượt ra ba cõi. Quả vị ba thừa
thuộc về pháp quyền xảo, do đó, vượt ra ba
cõi rồi, thì quả vị ba thừa nầy bất khả đắc.
Tại thời Phương Ðẳng, có đàm luận về ba
thừa, bốn giáo (Tạng giáo, Thông giáo, Biệt
giáo, Viên giáo); Phật trách người Tạng giáo
độc thiện kỳ thân, người Thông giáo thì chưa
nghe sự dạy bảo của Phật; đồng thời khen
ngợi người Biệt giáo, người Viên giáo, hành
đúng ý chỉ của Phật, hồi tiểu hướng đại. Tại
thời Bát Nhã, thì lại chỉnh đốn đãi gạn (đãi
bỏ cặn bã). Trong Kinh Pháp Hoa ở trước đã
nói rõ, bởi vì căn cơ khác nhau, cho nên nói
pháp quyền xảo, pháp nói ở trong hội Pháp
Hoa, mới là thật pháp đại thừa. Các người
con ba thừa nầy, bạch Phật xin đòi, xe dê,
xe hươu, xe trâu, bây giờ hãy cho chúng con.
Xá Lợi Phất ! Lúc đó, ông trưởng giả đều
cho các con đồng một thứ xe lớn.
‘’Các con‘’ dụ cho tất cả chúng sinh, Phật xem
tất cả chúng sinh đều bình đẳng như một,
chẳng khác biệt. Pháp ba thừa tuy là quyền
pháp, nhưng tính của nó đồng nhau, chẳng mất
đi pháp vi diệu. Xưa kia tập khí của chúng
sinh khác nhau, như tu pháp bốn đế, pháp
mười hai nhân duyên, đều là pháp tu tập
trước kia. Và còn tu sáu độ Ba la mật. Ngoài
ra còn tu từ bi hỉ xả, sắc pháp, tâm pháp,
nghịch pháp, thuận pháp, y báo pháp, chánh
báo pháp, thật pháp, lý pháp, nhân quả pháp,
tự pháp, tha pháp, minh bạch pháp, và bồ đề
pháp. Minh tức là giác, bất minh tức là mê.
Và cón tu phước huệ pháp, thường lấy lợi
người làm gốc, chẳng những trợ giúp người,
mà còn không làm hại, chướng ngại người khác
làm nguyên tắc.
Phận làm đệ tử, thì phải hộ trì pháp của thầy
nói, ủng hộ đạo tràng tức là tu phước lập
đức. Thâm nhập Kinh điển, cung kính lễ bái
Kinh điển, y theo trong Kinh mà thiết thật
tu hành. Nếu chỉ biết mà không thực hành,
biết rõ mà cố phạm, thì chưa đi sâu vào Kinh
điển. Ngài đại sư Trí Giả tông Thiên Thai,
do đọc tụng Kinh Pháp Hoa mà khai ngộ, Ngài
nghe Kinh Lăng Nghiêm mà khởi tâm cung kính,
hướng về phương tây lễ lạy mười tám năm, vẫn
chưa được đọc qua Kinh nầy. Tại
Trung Quốc có rất nhiều vị
xuất gia lạy từng chữ trong Kinh điển, như
lạy Kinh Pháp Hoa, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh
Hoa Nghiêm .v.v. Cho nên nói
:
‘’Thâm nhập kinh tạng,
Trí huệ như hải‘’.
Người tu đạo, phải thường tự mình hạn chế, trừ
khử tất cả tập khí mao bệnh, do đó :
‘’Có lỗi chớ nãn sửa đổi‘’.
Ta đối đãi với mỗi đệ tử đều bình đẳng như
nhau, hy vọng các vị mỗi người đều sẽ giỏi
hơn thầy. Tất cả các pháp đều là Phật pháp,
các vị minh bạch Phật pháp chân nghĩa, thì
phải thiết thật tu hành. Những vị Thanh Văn
nầy, ai nấy đều có pháp môn tu hành của
mình, nhưng tất cả đều là quyền giáo, mà
chẳng phải thật giáo.
Như những gì nay
khai thị đều là pháp chân thật. Vì xưa kia
tu tập pháp chẳng giống nhau, nên trong Kinh
nói ‘’mỗi người‘’. Tuy mỗi người tu tập pháp
khác nhau, nhưng bây giờ Phật đều ban cho
pháp đại thừa, nhiếp thọ tất cả các pháp,
tất cả chúng sinh đều vào được, nên gọi là
‘’xe lớn‘’.
Xe đó cao rộng, trang trí các thứ báu đẹp,
lan can bao quanh, bốn phía treo linh, lại
dùng màn lọng giăng che phía trên, cũng dùng
các trân báu tốt đẹp để nghiêm sức. Dây báu
kết thắt các dải hoa rũ xuống. Nệm chiếu mềm
mại trải chồng chất, gối đỏ để trên, dùng
trâu trắng kéo, màu da rất sạch, thân hình
rất đẹp, có sức lực rất mạnh, bước đi ngay
thẳng, mau lẹ như gió, lại có nhiều tôi tớ
để hầu hạ.
‘’Xe đó cao rộng‘’: Dụ cho Phật chẳng có gì mà
không biết, chẳng có gì mà không thấy, thấy
biết xâu xa chẳng có bờ bến, chẳng cách chi
lường được. Pháp giới tam đế (không đế, giả
đế, trung đế) bao quát tất cả các pháp. Cho
nên nói tri kiến của Như Lai đầy đủ tất cả
Phật pháp.
‘’Trang trí các thứ báu đẹp‘’: Dụ cho dùng lục
độ vạn hạnh để trang nghiêm pháp thân, chúng
ta phải cung hành thực tiễn lục độ vạn hạnh,
mới có thể trang nghiêm pháp thân.
Phẩm Ví Dụ nầy, là
phẩm tinh yếu nhất trong Kinh Pháp Hoa, thật
khó mà minh bạch. Nhưng nếu muốn vào sâu
nghĩa lý của Kinh Pháp Hoa, thì trước hết
phải nghiên cứu tường tận phẩm nầy. Liễu
giải được diệu lý của nó, thì sẽ khế hợp với
Kinh nầy, còn các phẩm kia cũng chẳng có gì
khó minh bạch.
‘’Lan can bao quanh‘’: Dụ cho Ðà
La Ni,dịch là "tổng trì".
Tổng tất cả pháp, trì vô lượng nghĩa. Tổng
thân khẩu ý ba nghiệp thanh tịnh, trì giới
định huệ ba học viên minh. Ðà
La Ni hay trì vạn điều thiện,
che đậy các điều ác, khiến cho tiêu diệt ở
trong vô hình, tức là :
‘’Không làm các điều ác,
Siêng làm các điều lành ‘’.
‘’Bốn bên treo linh‘’: Dụ cho bốn biện vô ngại
tức là : Từ vô ngại biện, pháp vô ngại biện,
nghĩa vô ngại biện và lạc thuyết vô ngại
biện.
1. Từ vô ngại biện : Lời lẽ sinh động, khiến
cho chúng sinh do lời lẽ mà sinh tín tâm.
2. Pháp vô ngại biện : Dùng một pháp, mà phát
huy thành vạn pháp, dùng vạn pháp mà quy về
một pháp. Do đó :
‘’Một gốc tán làm vạn thù,
Vạn thù quy về một gốc‘’.
Cho nên nói : Một tức tất cả, tất cả tức một,
pháp chẳng có cố định.
3. Nghĩa vô ngại biện: Tuyên dương nghĩa lý
pháp thế gian, viên dung vô ngại, sự lý
chẳng trở ngại.
4. Lạc thuyết vô ngại biện: Người thuyết pháp,
thì vui về thuyết pháp, khi thuyết pháp thì
thao thao bất tuyệt, diễn xướng đạo lý vô
cùng vô tận.
‘’Lại dùng màn lọng che giăng phía trên‘’: Tức
dùng màn lọng dệt bằng tơ lụa, che ở trên
mui xe. Dụ cho Phật có từ, bi, hỉ, xả, bốn
tâm vô lượng. Từ là ban vui cho chúng sinh,
bi là cứu khổ chúng sinh, xả là xả bỏ tất cả
cho chúng sinh, hỷ là hoan hỉ giáo hóa tất
cả chúng sinh. Ðức hạnh lớn nhất của Phật,
là từ bi vô lượng, hỉ xả vô lượng, trong tất
cả các đức hạnh, từ bi cao nhất, do đó hay
che khắp hết tất cả chúng sinh. Cho nên kinh
có nói : ‘’Nếu từ bi đầy đủ bốn vô sở úy,
gọi là Như Lai từ‘’. Phật tu bốn tâm vô
lượng, thành tựu phạm hạnh tanh tịnh, cho
nên nói là ‘’màn lọng giăng che‘’.
‘’Cũng dùng các trân báu tốt đẹp để nghiêm
sức‘’: Dụ cho bốn tâm vô lượng, phải dùng
vạn hạnh trang nghiêm, tức là pháp đại thừa
đầy đủ lục độ vạn hạnh. Tất cả các môn trang
nghiêm pháp đại thừa.
‘’Dây báu kết thắt‘’: Dụ cho bốn hoằng thệ
nguyện. Bốn hoằng thệ nguyện này, phải thân
thể lực hành, hồi quang phản chiếu, phản
cùng tự tỉnh.
- Nguyện thứ nhất: Chúng sinh vô biên thệ
nguyện độ : Ta có độ chúng sinh chăng ? Ðộ
chúng sinh tức hành Bồ Tát đạo, nhưng độ
chúng sinh cũng đừng chấp tướng chúng sinh,
do đó :
‘’Lìa tất cả tướng, quét tất cả pháp‘’.
- Nguyện thứ hai: Phiền não vô tận thệ nguyện
đoạn: Ðã đoạn phiền não chưa ? Phiền não tức
bồ đề, băng tức nước, nước tức băng, biến
phiền não thành nước trí huệ, tức là bồ đề.
Vì sao nói chúng sinh tức là Phật; Phật tức
chúng sinh ? Bạn độ tận chúng sinh tức thành
Phật, nếu chưa độ chúng sinh thì bạn vẫn là
chúng sinh. Giác ngộ tức Phật, mê muội là
chúng sinh. Do đó, đừng truy cầu bên ngoài.
Trong Kinh Bảo Ðàn nói rằng: ‘’Tự tính chúng
sinh thệ nguyện độ‘’. Tất cả chúng sinh như
một, chẳng phân biệt ta người, trước phải độ
tự tính chúng sinh. Giác là Phật vậy, mê là
chúng sinh vậy. Giác và mê không khác, không
mê tức là giác, không giác tức là mê, như
băng và nước chẳng khác biệt. Cho nên nói
phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
- Nguyện thứ ba:
Pháp môn vô lượng thệ nguyện¡
học: Pháp môn vô lượng vô biên, ta đã học chưa
?
- Nguyện thứ tư:
Phật đạo¡
vô thượng thệ nguyện thành : Ðừng do dự không
quyết định, nên thệ nguyện tu hành cho đến
khi thành Phật, nếu không thì chẳng đạt được
quả vị Phật.
‘’Dải hoa rũ xuống‘’: Trên xe có hoa thòng rũ
xuống, dụ cho bốn pháp nhiếp thọ chúng sinh,
tức là bốn pháp nhiếp: Bố thí, ái ngữ, lợi
hành, đồng sự.
1. Bố thí: ‘’Trước
dùng câu dục móc, sau khiến vào Phật đạo.’’
Nếu muốn chúng sinh vào trí huệ của Phật,
thì trước hết dùng pháp phương tiện dẫn dắt.
Chúng sinh thích tiền tài, thì bố thí tiền
tài, khiến cho họ vui mừng, sau đó dạy Phật
pháp cho họ, thì họ vui vẻ tiếp thọ. Bố thí
thì đầu tiên nên bố thí pháp, tiếp đó bố thí
tiền tài. Nhưng dùng pháp phương tiện, khiến
cho họ tiếp thọ, cho nên trước phải bố thí
tiền tài, sau đó bố thí pháp, và bố thí vô
úy, khiến cho chúng sinh nghe Phật pháp, thì
lìa tất cả sợ hãi.
2. Ái ngữ : Dùng
lời lẽ ôn hòa khéo léo để hóa đạo, như lòng
cha mẹ thương con cái, thì chẳng gì mà không
thành, dùng từ ái đối đãi với chúng sinh.
3. Lợi hành :
Chuyên làm việc thiện để lợi ích chúng sinh.
4. Ðồng sự : Làm
cùng việc cùng nghề với chúng sinh, thì có
thể giáo hóa họ tin Phật, khiến cho họ bỏ mê
về giác. Cho nên, Bồ Tát hành Bồ Tát đạo,
dùng bốn pháp nhiếp nầy để độ chúng sinh, từ
chúng sinh có tội lỗi cũng sẽ từ từ cải ác
hướng thiện. Bồ Tát đối với những chúng sinh
cang cường không biết hối cải, vẫn luôn luôn
hy vọng, có ngày họ sẽ cải ác hướng thiện.
Cho nên bốn pháp nhiếp nầy diệu không thể
tả.
‘’Nệm chiếu mềm mại
trải chồng chất‘’: Dụ cho tu tất cả thiền
định, y quán chiếu Bát Nhã để huân tu, lâu
ngày sẽ thành tựu. ‘’Chồng chất‘’ dụ cho khi
ngồi thiền thì được cảm giác khinh an, cảm
giác nầy liên tục không ngừng, cho đến đi
chẳng biết đi, đứng chẳng biết đứng, ngồi
chẳng biết ngồi, nằm chẳng biết nằm, đạt đến
cảnh giới không có tướng ta, tướng người.
Cảnh giới nầy, phải dụng công tu hành, thì
mới có thể đạt được, từ vị của nó cũng phải
chính quý vị thể hội thì mới biết được, do
đó :
‘’Như người uống nước, nóng lạnh tự biết.’’
‘’Gối đỏ để trên‘’: Cái gối màu đỏ để ở trong
xe, dùng quang màu đỏ, dụ cho vô phân biệt
pháp. Gối gồm có gối ở trong và ở ngoài, gối
ở ngoài dùng để dựa khi xe chạy, dụ cho dụng
công tu đạo, động chẳng ngại tĩnh, tĩnh
chẳng ngại động, động tức tĩnh, tĩnh tức
động, động tĩnh nhất như. Xe chạy tức động,
xe ngừng tức tĩnh, động tĩnh đều là xe nầy.
Chúng ta tu đạo cũng như thế, động tĩnh đều
ở tại thân của chúng ta. Trong xe cũng có
gối, dùng để gối đầu nghỉ ngơi, dụ cho nhất
hạnh tam muội, hay sinh Bát Nhã trí huệ chân
chánh.
‘’Dùng trâu trắng
kéo‘’: Dụ cho Bát Nhã vô lậu. Tất cả tập khí
mao bệnh của chúng ta đều là lậu, tất cả dục
niệm đều là lậu. Tại sao chúng ta không
thành Phật, không khai ngộ ? Là vì có lậu,
nếu chẳng có lậu thì được giải thoát. Muốn
được trí huệ vô lậu, thì tu bốn đế sẽ thành
tựu. Bảo trì trí huệ vô lậu, thì tu mười hai
nhân duyên, sẽ thành tựu mà được khai ngộ.
Tu sáu độ cũng được đến bờ kia. Tục ngữ có
câu :
‘’Ban ngày ngừa lửa,
Ban đêm ngừa trộm‘’.
Hằng ngày, chúng ta phải phòng ngừa lửa vô
minh nổi dậy, tháng nầy tháng khác phải
phòng ngừa sáu tên tặc (mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý) phá rối. Sáu tên tặc nầy thường chi
phối bạn, khiến cho bạn điên đảo sẽ trộm đi
pháp bảo tự tính của bạn. Nếu ai bảo trì
được vô lậu, thì chắc chắn sẽ thành Phật. Vô
lậu tức là trâu trắng kéo xe.
‘’Dùng trâu trắng kéo‘’: Trắng là màu bổn thể
thanh tịnh không nhiễm. Nghĩa là bổn thể của
pháp thanh tịnh không nhiễm, tương ứng với
trí vô lậu. Xe trâu trắng lớn, biểu thị bốn
Niệm Xứ viên mãn thành tựu, sẽ được khai
ngộ. Lại biểu thị cho bốn Chánh Cần.
‘’Màu da rất
sạch‘’: Dụ cho nhị thế thiện viên mãn, nhị
thế ác tiêu diệt. Bốn Như Ý Túc (dục như ý
túc, tinh tấn như ý túc, niệm như ý túc, tư
duy như ý túc). Nếu các bạn chẳng có tâm dâm
dục, thì đó là gốc trí huệ vô lậu, bạn muốn
tu đạo thì sẽ đầy thiện dục tu đạo, bạn muốn
tinh tấn, thì có thể phát đạt khai quật Phật
giáo ở phương tây. Niệm như ý túc tức là
toại tâm viên mãn nguyện. Tư duy như ý túc
là những gì suy nghĩ sẽ đạt được lý tưởng.
Cho nên muốn được trí huệ vô lậu, thì trước
hết trừ khử đi tất cả nhiễm ô, lấy sự trong
sạch làm gốc.
‘’Thân hình rất đẹp‘’: Tức là xe trâu trắng
lớn thân hình rất đẹp, dụ cho phát tâm đại
thừa, như thân hình tốt đẹp, chỉ một tâm nầy
mà bao quát tất cả các pháp.
‘’Có sức lực rất mạnh‘’: Tức là trâu trắng lớn
có sức lực khỏe mạnh, ‘’sức‘’ dụ cho năm căn
(tín, tấn, niệm, định, huệ). Năm căn lành
nầy sao gọi là ‘’căn‘’ ?
Bởi do rễ (căn) mà sinh trưởng, do đó có câu :
‘’Rễ sâu thì gốc vững,
Gốc vững thì cành lá xum xê‘’.
Tôi từng nói, Phật pháp như biển cả, chỉ có
niềm tin thì mới vào được, do đó học Phật
pháp, trước hết phải có tín tâm, sau đó tiếp
tục tinh tấn tiến về trước, dần dần sẽ không
bao giờ mất đi. Có niệm căn rồi, thì không
bị người làm giao động, còn phải có định
căn, để giữ vững lập trường, mới đủ để độ
người, mà không bị người làm lay chuyển. Có
định căn thì sẽ sinh huệ căn. ‘’Lực‘’ dụ cho
năm lực (tín lực, tấn lực, niệm lực, định
lực, huệ lực). Do năm căn mà sinh ra năm
lực, có năm lực thì có thể chứng trí huệ vô
lậu, thành tựu tất cả hạt giống bồ đề.
‘’Bước đi ngay thẳng‘’: Tức là con trâu nầy,
có sức lực rất mạnh, cho nên đi rất mau. Dụ
cho định huệ quân bình, phải định huệ đều
tiến. Nếu chỉ có định, mà thiếu huệ, thì
thành người tu hành ngu si, còn nếu chỉ có
huệ mà chẳng có định, thì thành người tu
hành chạy nhảy lăn xăn. Cho nên, phải đầy đủ
định huệ để trợ giúp lẫn nhau. Lại dụ cho
bảy Giác Chi, còn gọi là bảy Giác Phần, tức
cũng là bảy Bồ Ðề Phần, là bảy pháp môn giác
đạo. Phật vì người nhị thừa nói ba mươi bảy
Ðạo Phẩm (năm căn, năm lực, bốn niệm xứ, bốn
chánh cần, bốn như ý túc, bảy bồ đề phần,
tám thánh đạo phần). Trong Phật pháp đại
thừa, cũng bao quát ba mươi bảy Ðạo Phẩm
nầy.
Bảy bồ đề phần :
1. Trạch pháp giác
phần : Còn gọi là trạch pháp giác tri, dùng
mắt chọn pháp trí huệ vô lậu, để lựa chọn
pháp đúng pháp sai, pháp chánh pháp tà, pháp
thật pháp giả, pháp chân pháp hư, để theo
chánh bỏ tà.
2. Tinh tấn giác phần : Y theo pháp môn chân
chánh, tu hành tiến về trước.
3. Hỉ giác phần : Có chánh và tà, có người y
theo chánh đạo tu hành mà hoan hỉ, cũng có
người y theo tà đạo tu hành, rơi vào cuồn hỉ
điên đảo. Phàm là y theo dục niệm mà hành là
điên đảo, nên dùng thiền định Phật pháp làm
hỉ, do đó có câu :
‘’Thiền duyệt vi thực,
Pháp hỉ sung mãn’’.
Nghe được Phật pháp, biết ý nghĩa cao sâu áo
diệu, nên sinh tâm hoan hỉ.
4. Trừ giác phần : Biện rõ phải trái, lấy
chánh trừ tà.
5. Xả giác phần : Xả bỏ tất cả những gì không
đáng, như ngồi thiền không nên chấp vào chỗ
tốt, không nên tham luyến cảnh giới, hãy xả
bỏ.
6. Ðịnh giác phần : Ðừng chấp trước bất cứ
những gì, có trí huệ thì sinh định. Nếu bạn
hôn trầm, thì hãy dùng trạch pháp giác phần,
tinh tấn giác phần, hỷ giác phần để đối trị.
Nếu có tâm nóng nảy, thì dùng trừ giác phần,
xả giác phần, định giác phần để đối trị.
7. Niệm giác phần : Tâm có hôn trầm hoặc nóng
nảy đều là niệm. Người phát bồ đề tâm, thì
phải y chiếu bảy bồ đề phần mà tu hành. Nếu
y theo bảy bồ đề phần mà hành, thì thân tâm
an ổn, do đó gọi là ‘’Bước đi ngay thẳng‘’,
là biểu hiện dụng công đắc lực.
‘’Mau lẹ như gió‘’,
xe nầy được con trâu trắng lớn kéo, nghĩa là
biểu thị tiến về trước không lùi. ‘’Gió‘’ có
gió mát và gió bão, gió nầy có thể là gió
mát, cũng có thể là gió bão. Tại sao ? Bạn
được gió nầy thổi, cảm thấy mát mẻ dễ chịu,
thì gọi là gió mát. Song, cũng có thể gọi là
gió bão, vì gió nầy hay thổi tan tất cả
thiên ma ngoại đạo, trừ tất cả tà kiến.
‘’Mau lẹ như gió‘’ dụ cho tám Chánh Ðạo,
người tu đạo nên y theo tám Chánh Ðạo mà tu
hành.
1. Chánh kiến : Phải đầy đủ chánh tri chánh
kiến, dùng trí huệ vô lậu, phá trừ tất cả tà
tri tà kiến. Phi lễ vật thị (không hợp lễ
giáo thì đừng xem) là chánh kiến.
2. Chánh tư duy : Phi lễ vật thính (không hợp
lễ giáo thì đừng nghe), do sự nghe mà khởi
suy nghĩ.
3. Chánh ngữ : Phi lễ vật ngôn (không hợp lễ
giáo thì đừng nói) tức chánh ngữ. Người chưa
phải là bậc Thánh hiền, tránh sao khỏi có
lỗi của người, nên rộng lượng bao dung. Mọi
người có duyên nên mới tụ lại một chỗ tu
đạo, cho nên hãy giấu kín việc ác, biểu
dương việc thiện, đừng bươi móc lỗi lầm,
khiến cho người sinh thối tâm.
4. Chánh nghiệp : Phi lễ vật động (không hợp
lễ giáo thì đừng làm) tức là chánh nghiệp.
Ðừng kinh doanh tà nghiệp, như mở sòng bạc,
mua bán á phiện, mua bán súc sinh, gái mãi
dâm .v.v., chánh nghiệp tức là tham thiền,
tu học Phật pháp.
5. Chánh mạng : Làm tất cả những gì, đều phải
quang minh lỗi lạc, gọi là chánh mạng. Có
năm tà mạng:
a. Phô trương lạ lùng.
b. Nói đức của mình.
c. Bói tướng tốt xấu.
d. Lớn tiếng hiện oai.
e. Kêu người cúng dường.
6. Chánh tinh tấn : Có kẻ tu tà tinh tấn, ngày
đêm sáu thời tu tập bàng môn tả đạo, cũng có
kẻ hành khổ hạnh vô ích, đều là tà tinh tấn.
Chánh tinh tấn là y theo pháp môn bốn Niệm
Xứ, bốn Chánh Cần, bốn Như Ý Túc, năm Căn,
năm Lực, bảy Bồ Ðề Phần, tám Ðường Chân
Chánh, bốn Ðế, mười hai Nhân Duyên, sáu Ðộ
Ba la mật .v.v., đều là chánh tinh tấn, y
theo sự chỉ bảo của Phật mà tu hành, y giáo
phụng hành, tức là chánh tinh tấn. Chánh
tinh tấn gồm thân tinh tấn, và tâm tinh tấn;
tâm tinh tấn là siêng niệm Tam Bảo, niệm
niệm không quên, suy gẫm chánh pháp; thân
tinh tấn là thân thể lực hành như lạy Kinh,
niệm Phật, lễ sám, niệm danh hiệu Phật
.v.v., đều thuộc về thân tinh tấn.
7. Chánh niệm : Niệm Phật, niệm Pháp, niệm
Tăng, tức là chánh niệm. Tà niệm tức là niệm
kiến, niệm ái, niệm tư, niệm biên kiến, niệm
niệm không ngừng đối với ái tình, mỗi ý niệm
đều ích kỷ lợi mình, tức là tà tâm. Niệm
Phật : Niệm ‘’Nam mô A Di Ðà Phật‘’, ‘’Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật‘’, đều là
niệm Phật. Niệm Chú Ðại Bi, Chú Lăng Nghiêm
đều là niệm pháp; đọc Kinh Kim Cang, Kinh
Pháp Hoa .v.v., đều là niệm Pháp. Niệm Tăng
: Niệm mười phương hiền Thánh Tăng. Bạn muốn
niệm Tăng thì cúng dường Tăng, niệm Pháp thì
cúng dường Pháp, niệm Phật thì cúng dường
Phật. Nếu bạn muốn tu phước báu thì phải
cúng dường Tam Bảo, do đó có câu :
"Phàm Tăng tuy bất năng chủng phước,
Kì phước tất giả phàm Tăng.
Ni long tuy bất năng hàng vũ,
Kì vũ tất giả ni long".
Nghĩa là : Phàm Tăng là Tăng chưa chứng quả,
tuy không thể trồng phước cho bạn, nhưng nếu
bạn thành tâm cầu phước nơi vị phàm Tăng,
thì mười phương hiền Thánh Tăng sẽ ban phước
cho bạn.
Ở
Trung Quốc, mỗi khi trời hạn
hán thì một số người đến miếu Long Vương để
cầu mưa, trong miếu có tạo tượng rồng bằng
bùn, cho nên nói muốn cầu mưa thì phải cầu
trước tượng rồng bằng bùn. Long thần trên
trời trông coi việc mưa, chẳng phải nhục
nhãn của phàm phu mà thấy được.
Trước kia, khi tôi còn ở Ðông Bắc bên
Trung Quốc, có vị đệ tử pháp
danh Quả Thuấn, có làm một cái lều tranh,
mời tôi đến làm lễ khai quang. Vào ngày lễ
khai quang, thì có mười con rồng đến xin quy
y Tam Bảo. Lúc đó, có bốn vị đệ tử ở đó,
trong số đó có hai vị có thiên nhãn thông,
ngồi thiền thì có thể quán sát được mọi
việc. Tôi bảo mười con rồng đó, tâu với Ngọc
Hoàng, ngày mai vì tôi mà mưa xuống, thì
ngày mốt tôi sẽ làm lễ quy y cho các vị. Quả
nhiên, ngày mai trời mưa xuống chung quanh
chỗ tôi khoảng bốn mươi dặm, tôi bèn làm lễ
quy y cho họ. Chuyện này tuy là khó tin
nhưng là sự thật.
Lại nữa, lúc tôi ở
Hương Cảng, một năm nọ trời hạn hán, Ðạo
Tràng Phật giáo các nơi đều cầu mưa, nhưng
chẳng có hiệu quả gì. Sau đó, tôi kêu một vị
đệ tử niệm ‘’Nam Mô A Di Ðà Phật‘’ trong ba
ngày, phải cầu cho được mưa xuống. Y chí
thành niệm Phật, quả nhiên hai ngày sau trời
mưa xuống. Mười con rồng đã quy y biết tâm
của tôi, tất tôn kính thầy mà ra lệnh mưa
xuống, những việc nầy thường ứng nghiệm
chẳng sai trật, thật là diệu không thể tả,
người đã trải qua những cảnh giới nầy, thì
tin sâu chẳng nghi ngờ.
8. Chánh Ðịnh : Tà
định thì chấp trước cảnh giới, còn chánh
định thì tu Tứ Thiền (trời sơ thiền, trời
nhị thiền, trời tam thiền, trời tứ thiền),
bát định (trời Tứ Thiền thêm vào Trời Không
Vô Biên Xứ, Trời Thức Vô Biên Xứ, Trời Vô Sở
Hữu Xứ, Trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ). Tu
pháp nầy, trước hết phải trừ khử ngã tướng,
chẳng chấp trước bất cứ những gì tức là
chánh định.
‘’Lại có nhiều tôi tớ để hầu hạ‘’: Tức là có
nhiều tùy tùng đi theo để hộ vệ. ‘’Tôi tớ‘’
dụ cho pháp môn phương tiện. Người tu hành
dùng pháp phương tiện để đạt đến bờ kia.
Thiên ma ngoại đạo và hàng nhị thừa đều tùy
trí tu đạo.
Trong kinh Duy Ma Cật có nói :
‘’Giai ngã thị giả‘’.
Nghĩa là :
Những gì có ngã đều
là giả.
Quả địa Bồ Tát đều có thần thông, đều toại tâm
như ý, như có rất nhiều tùy tùng để bảo vệ
họ. Cho nên nói : ‘’Lại có nhiều tôi tớ để
hầu hạ bảo vệ‘’, pháp đại thừa phải cần
nhiều pháp phương tiện, để trợ giúp cho
thành tựu.
Niệm niệm quán tâm, một niệm tâm hiện tiền,
chẳng trước chẳng sau, chẳng đầu chẳng cúi,
chẳng bờ chẳng bến, tâm nầy đầy đủ không,
giả, trung, ba đế, cho nên dùng ‘’cao‘’ dụ
cho ‘’xe đó cao lớn‘’. Một niệm tâm hiện
tiền đầy đủ mười pháp giới. Cho nên nói là
‘’rộng‘’. Dùng ‘’các thứ báu đẹp trang
trí‘’, dụ cho tính đức của tất cả chúng sinh
vượt qua Hằng hà sa số.
‘’Phật nói tất cả các pháp,
Vì độ tất cả tâm,
Nếu chẳng có tất cả tâm,
Đâu có dùng tất cả các pháp ‘’.
Cho nên ngoài tâm chẳng có pháp, pháp tức là
tâm. Tâm bao quát pháp thế gian và pháp xuất
thế gian, tức là ‘’lan can bao quanh‘’.
‘’Bốn phía treo linh’’: Vì tâm hay thọ ứng
khắp hết thảy, diễn các âm thanh giáo lý,
đều không ngoài một tâm niệm, cho nên nói
‘’bốn phía treo linh‘’.
‘’Lại dùng màn lọng
che giăng phía trên‘’ : Dụ cho tâm thượng
diệu ở trong tất cả các pháp, chẳng có pháp
nào mà chẳng bao dung. ‘’Cũng dùng các trân
báu tốt đẹp để nghiên sức‘’: Dụ cho tâm có
tâm vương, tức là tám thức tâm vương, còn
lại là tâm sở. Tâm vương thường hay quán
tưởng, quán tưởng này khởi nơi tất cả tâm
sở, hổ tương chiếu ứng. Tâm sở với tâm thiện
tâm sở, hổ tương trói buộc với nhau, tức tức
tương quan, cho nên nói : ‘’Dây báu kết
thắt‘’. Tâm sở của tâm thiện hay sinh vô
lượng trí huệ, cũng hay thành tựu vô lượng
phước đức, cho nên nói ‘’các dãi hoa rũ
xuống’’. Một tâm niệm đầy đủ pháp mềm diệu
khinh an, càng đầy đủ tất cả các pháp, trùng
trùng vô tận, cho nên gọi là ‘’Nệm chiếu mềm
mại trải chồng chất‘’.
Tâm tính hay động
cũng hay tĩnh, động chẳng ngại tĩnh, tĩnh
chẳng ngại động, động tĩnh nhất như, đó là
‘’gối đỏ để ở trên’’.
‘’Dùng trâu trắng kéo‘’: Lý của tâm tính là do
Diệu quán sát trí hiển hiện ra. ‘’Màu da rất
sạch‘’: Tức là công đức của sự thành tâm vi
diệu không thể nghĩ bàn, nếu không xen tạp
vô minh phiền não tức là ‘’rất sạch‘’. Tâm
viên dung vô ngại, cho nên nói ‘’Thân hình
rất đẹp‘’. Trí huệ quán sát viên dung vô
ngại, hay sinh trưởng tất cả căn lành, viên
quán lại hay phá tan được kiến ái trong ba
cõi, lại hay phá tan điên đảo tưởng ở ngoài
ba cõi, do đó nói: ‘’Có sức lực rất mạnh‘’.
Viên quán và định huệ không hai, tức định
tức huệ, định huệ viên dung, cho nên nói:
‘’Bước đi ngay thẳng‘’. Viên quán hay khiến
cho hành giả đạt đến bờ kia, cho nên nói
‘’mau lẹ như gió‘’. Viên quán hay chi phối
tất cả tâm sở, cho nên nói ‘’lại có nhiều
tôi tớ để hầu hạ bảo vệ‘’.
Tại sao ? Vì ông trưởng giả đó, của cải
giàu có vô lượng, đủ thứ kho tàng thảy đều
tràn đầy.
‘’Tại sao‘’? ‘’Ðây là nguyên nhân gì‘’? Ông
trưởng giả đó của cải giàu có vô lượng‘’:
Tức là Phật nói đủ thứ các tạng pháp, bao
quát tất cả các pháp. Tóm lại, tức lục độ
vạn hạnh. Lục độ tức:
1. Bố thí
2. Trì giới
3. Tinh tấn
4. Nhẫn nhục
5. Thiền định
6. Trí huệ.
Nếu biết lục độ mà không hành, thì không thể
đến được bờ kia. Phải thiết thật tu hành,
mới có thể đến được Niết Bàn bờ bên kia. Bố
thí gồm :
a. Tài thí
b. Pháp thí
c. Vô úy thí.
Trì giới tức là:
"Đừng làm các điều ác,
Hãy làm các điều lành".
Nhẫn nhục thì nghịch cảnh đến đều thọ nhận,
chẳng có tướng ta, chấp ta, thấy ta, thường
quán tưởng: ‘’Khi chưa sinh ra ai là ta ?
Khi sinh rồi ta là ai ? Lớn lên thành người
giả danh là ta, chuyển nháy mắt ta lại là
ai‘’? Trừ được ‘’tướng ta‘’ thì nghịch cảnh
đến đều tiếp nhận. Học Phật pháp, thì phải
cung hành thật tiễn, nếu gặp nghịch cảnh mà
như như chẳng động, thì mới thật sự lãnh ngộ
được chỗ diệu của Kinh Pháp Hoa. Không nên
chấp vào ‘’tướng ta‘’, ‘’cái ta‘’ nầy, cuối
cùng cũng sẽ chết đi, hà tất vì ‘’cái ta‘’
nầy mà tranh đua danh lợi ? Nếu có người
đánh bạn, đó là quả báo bạn đã tạo ở kiếp
trước. Ðời này bạn mắng chưởi người, thì
kiếp sau sẽ bị người mắng chưởi lại; đời này
bạn cho họ phiền não, thì kiếp sau người
cũng sẽ cho bạn phiền não, cho nên nhân quả
tơ hào không sai. Nếu có người đánh bạn thì
hãy quán tưởng ‘’chẳng có cái ta‘’, nếu bạn
khó lòng buông xả được ‘’tướng ta‘’, thì có
một diệu pháp có thể giúp bạn buông xả được
‘’tướng ta‘’. Có người đánh bạn thì bạn hãy
bỏ chạy đừng để ý tới; nếu có người mắng
bạn, thì bạn hãy xem như họ đang ca hát,
hoặc họ nói tiếng ngoại quốc mà bạn chẳng
hiểu.
Nếu bạn áp dụng
những phương pháp nầy để đối trị, thì phiền
não sẽ tự tiêu trừ. Người có nghiệp chướng,
mới có phiền não, tức có nghiệp chướng thì
hãy tiêu trừ nghiệp chướng bằng cách tu hạnh
nhẫn nhục. Như bài kệ của Bồ Tát Di Lạc:
‘’Lão quê mặc áo vá
Cơm hẩm no đầy bụng
Áo vá che rét lạnh
Vạn sự hãy tùy duyên.
Có người mắng lão quê
Lão quê chỉ nói tốt
Có người đánh lão quê
Lão quê nằm lăn ra.
Khạc nhổ vào mặt lão
Ðể nó tự nhiên khô
Ta cũng chẳng nhọc sức
Họ cũng không phiền não.
Ðó là Ba
La
Mật,
Cũng là báu vô giá,
Nếu hành được như thế,
Lo gì đạo chẳng thành.’’
Cho nên trừ khử đi ‘’tướng ta‘’ tu nhẫn nhục
Ba
La
Mật, mới thật sự minh bạch
Phật pháp. Do đó có câu:
‘’ Ngàn ngày nhặc củi,
Chỉ một đốm lửa thì cháy sạch‘’.
Một khi lửa vô minh nổi dậy, thì thiêu sạch
công đức đã dày công tích lũy. Do đó, người
học tập Phật pháp, thì phải tu nhẫn nhục Ba
La
Mật, đừng vì ngoại cảnh mà
sinh phiền não.
Tinh tấn thì ngày đêm sáu thời đều tinh tấn.
Thiền định là tĩnh lự. Bố thí, trì giới,
nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, năm độ nầy
là phước đức tạng, độ thứ sáu là Bát Nhã
(trí huệ) Ba
La
Mật, là Bát Nhã tạng, cũng
gọi là trí huệ tạng, cho nên nói là ‘’Ðủ thứ
kho tàng‘’. ‘’Thảy đều tràn đầy‘’: Dụ cho
quyền, thật hai trí. Quyền trí sung mãn là
‘’tràn‘’, thật trí hoàn mãn là ‘’đầy‘’.
Quyền, thật hai trí đều viên mãn, cho nên
nói ‘’thảy đều tràn đầy‘’.
Mà nghĩ rằng : Của cải của ta nhiều vô số,
không nên dùng xe nhỏ xấu xí, mà cho các
con. Nay những đứa trẻ nầy, đều là con của
ta, ta thương chúng nó chẳng có thiên lệch.
Ta có xe lớn bằng bảy báu như thế, số nhiều
vô lượng, nên dùng tâm bình đẳng mà cho
chúng nó, không nên có sự phân biệt. Tại sao
? Vì ta dùng của cải nầy, cho khắp tất cả
mọi người trong nước, hãy còn không hết,
huống gì các người con.
‘’Mà nghĩ rằng: Của cải của ta vô số, không
nên dùng xe nhỏ xấu xí mà cho các con‘’: Ông
trưởng giả nghĩ như vầy : Pháp tài của ta
chí cao vô thượng, không nên dùng pháp tiểu
thừa giáo hóa tất cả chúng sinh. ‘’Các
con‘’: Tức là hàng Thanh Văn, Duyên Giác và
Bồ Tát.
‘’Nay những đứa trẻ nầy‘’: Dụ cho các con ba
thừa ở trên mới phát tâm, đều không hay biết
gì như trẻ con. ‘’Ðều là con của ta, ta
thương chúng chẳng có thiên lệch‘’: Chúng nó
đều là con của ta, ta đối với chúng đều bình
đẳng, chẳng khinh người nầy, trọng người
kia. ‘’Ta có xe lớn bằng bảy báu như thế, số
nhiều vô lượng‘’: Dụ cho bảy Bồ đề phần, bát
Chánh đạo, năm Căn, năm Lực, bốn Niệm xứ,
bốn Chánh cần, bốn Như ý túc, tổng cộng là
ba mươi bảy Ðạo phẩm, dùng để trang nghiêm
chiếc xe lớn nầy, số nhiều vô lượng. ‘’Nên
dùng tâm bình đẳng mà cho chúng nó, không
nên có sự khác biệt‘’. Ta nên đối đãi bình
đẳng, đều cho xe lớn, không nên có tâm thiên
lệch sai khác. ‘’Vì sao? : Bởi nguyên nhân
gì ? ‘’Ta dùng của cải nầy, cho khắp tất cả
mọi người trong nước, hãy còn không hết‘’:
‘’Trong nước‘’: Dụ cho cõi Thường Tịch Quang
Tịnh Ðộ, ‘’không hết‘’ : Dụ cho Phật pháp
vĩnh viễn không thiếu. ‘’Huống gì các con‘’,
Pháp bảo của ta bố thí cho tất cả nhân dân
trong nước còn không thiếu, huống gì các con
của ta ?
Chúng ta phải nhận chân hồi quang phản chiếu,
phản tỉnh chính mình có phiền não chăng ?
Nếu không có phiền não, tức đã được chỗ tốt
của Phật pháp, nếu không thì thiết thực tu
hành, đến được cảnh giới tám gió thổi không
lay, thì mới thật sự được chỗ diệu của Phật
pháp.
Lúc đó, các người con ai nấy đều ngồi xe
lớn, được chưa từng có, chẳng phải chỗ trước
kia mong đợi.
Xá Lợi Phất ! Ý của ông thế nào ? Ông trưởng
giả đó, đồng cho các người con xe trâu báu
lớn, có hư vọng chăng ?
‘’Lúc đó, các người con ai nấy đều ngồi xe
lớn‘’: Lúc đó, ông trưởng giả ban tặng cho
các người con xe lớn, trưởng giả tức là
người có của cải giàu vô lượng. Nếu các
người con chẳng phải con của ông trưởng giả,
thì không thể cho xe lớn. Nếu là con của
trưởng giả, mà trưởng giả chẳng có của cải,
thì cũng chẳng có gì để cho. Ông trưởng giả
đó, có đủ thứ kho tàng, các người con cũng
thật là Phật tử, cho nên Phật đồng cho xe
lớn. Các người con vốn chỉ cầu được xe dê,
hoặc xe hươu, thì tâm đã mãn nguyện, vì ông
trưởng giả của cải giàu vô lượng, mới ban
tặng xe lớn cho các con, tức là Phật dùng
pháp đại thừa cứu độ chúng sinh. ‘’Ðược chưa
từng có, chẳng phải chỗ trước kia mong
đợi‘’: Các người con đó, chưa từng thấy qua
pháp thượng thừa như thế, chẳng phải ý của
họ nghĩ dến. Ví như người tiểu thừa, vốn tu
pháp tiểu thừa, đã dứt phần đoạn sinh tử,
nay họ mượn nhờ pháp môn tiểu thừa, mà họ
vốn tu tập, để hồi tiểu hướng đại, thành tựu
pháp đại thừa, dứt biến dịch sinh tử, đó mới
là vượt ngoài hy vọng của họ vốn có.’’ Xá
Lợi Phất ! Ý của ông như thế nào ? Ông
trưởng giả đó, đồng cho các con xe trâu báu
lớn, có hư vọng chăng ?’’ Xá Lợi Phất ! Ý
ông thế nào ? Ông trưởng giả đó, bình đẳng
ban tặng cho các người con, xe trâu báu lớn
có thích đáng chăng ?
Xá Lợi Phất nói : Không vậy ! Ðức Thế Tôn !
Ông trưởng giả đó, chỉ khiến cho các con
khỏi nạn lửa, an toàn tính mạng, chẳng phải
là hư vọng. Tại sao ? Vì nếu được an toàn
tính mạng, thì đã được đồ chơi tốt đẹp,
huống chi dùng phương tiện cứu vớt ra khỏi
nhà lửa.
Ðức Thế Tôn !
Cho dù ông trưởng giả đó, không cho một thứ
xe nhỏ nhất nào, cũng chẳng hư vọng. Tại sao
? Vì ông trưởng giả đó, trước hết nghĩ rằng
: Ta dùng phương tiện, khiến cho các con
được ra khỏi, vì nhân duyên đó, mà chẳng hư
vọng vậy. Hà huống ông trưởng giả biết mình
của giàu vô lượng, muốn lợi ích cho các con,
mà đồng cho xe lớn.
Tôn giả Xá Lợi Phật trả lời Ðức Phật: ‘’Không
vậy, Ðức Thế Tôn ! Ông trưởng giả đó chẳng
nói dối, Ngài muốn khiến cho các con khỏi bị
nạn lửa thiêu đốt, được an toàn tánh mạng,
cho nên chẳng nói dối vậy. Vì sao ? Mạng
người quý giá, nếu đã giữ được tính mạng,
thì đã coi như được đồ chơi tốt đẹp, hà
huống ông trưởng giả rộng bày phương tiện,
cứu vớt tất cả chúng sinh ra khỏi nhà lửa
tam giới.
Ðức Thế Tôn ! Cho
dù ông trưởng giả chẳng cho các con một thứ
xe nhỏ nào, cũng chẳng hư vọng. Vì sao ? Vì
ông trưởng giả đó, trước khi cứu vớt các
người con ra, đã nghĩ như vầy : Ta phải dùng
pháp phương tiện khéo léo, khiến cho các con
chạy ra khỏi nhà lửa. Vì nhân duyên đó, nên
chẳng có lỗi nói dối. Huống gì ông trưởng
giả đó, biết mình có của cải giàu vô lượng,
khiến cho các người con được lợi ích, đều
được xe lớn.’’ Kinh văn ở trên, là đức Phật
dùng pháp đại thừa, cứu độ tất cả chúng
sinh, cho nên chẳng vọng ngữ.
Ðức Phật bảo Xá Lợi Phất ! Lành thay, lành
thay ! Như lời ông nói, Xá Lợi Phất ! Như
Lai cũng lại như thế, là cha lành của tất cả
thế gian, ở nơi sợ hãi suy não lo buồn, vô
minh đen tối che đậy, vĩnh viễn hết sạch
chẳng còn sót, thảy đều thành tựu vô lượng
tri kiến, lực vô sở úy, có sức đại thần
thông, và sức trí huệ, đầy đủ phương tiện
trí huệ Ba la mật, đại từ bi, thường chẳng
lười mỏi, luôn luôn cầu việc thiện, lợi ích
tất cả chúng sinh, mà sinh vào nhà lửa tam
giới hư mục nầy.
Phật bảo Xá Lợi Phất: Lành thay, lành thay,
như lời ông nói, Phật cứu chúng sinh như ông
trưởng giả cứu các con. Như Lai là cha lành
của tất cả chúng sinh thế gian. Chúng sinh
bị tất cả sự sợ hãi, suy não, lo buồn, vô
minh che đậy, như nay quét một cái, thì sạch
tất cả phiền não, thành tựu tất cả tri kiến
của Phật. Như tôn giả Xá Lợi Phất, từ cửa
trí huệ của Phật, mà khai mở tri kiến của
Phật, đắc được trí huệ bậc nhất. Tôn giả Mục
Kiền Liên, từ cửa thần thông mà khai mở tri
kiến của Phật, đắc được thần thông đệ nhất,
thành tựu mười lực, bốn vô sở úy. Phật có
sức đại thần thông, cứu vớt tất cả chúng
sinh lìa khổ được vui. Phật có bốn trí:
Thành sở tác trí, Diệu quán sát trí, Bình
đẳng tánh trí, Ðại viên cảnh trí, đầy đủ
pháp môn phương tiện khéo léo, trí huệ Ba
La
Mật, ngồi thuyền Bát Nhã
đến bờ kia. Ðại từ là ban vui cho chúng
sinh, đại bi là cứu khổ chúng sinh, vĩnh
viễn chẳng lười mỏi. Phật lấy sự giáo hóa
chúng sinh làm bổn hoài, cũng như tôn giả A
Nan phát nguyện: ‘’Nếu còn một chúng sinh
chưa thành Phật, thì quyết không thủ ngôi
Chánh giác.’’ Phật thương xót chúng sinh ở
trong sự điên đảo, suốt ngày chạy đông chạy
tây, nhận giả làm thật, chẳng biết ra khỏi
nhà lửa tam giới, cho nên Phật dùng sức đại
thần thông, sức đại trí huệ, để lợi ích tất
cả chúng sinh, mà sinh vào nhà lửa tam giới,
vì cứu vớt chúng sinh khiến cho họ tỉnh ngộ,
để họ sớm ra khỏi nhà lửa.
Vì độ chúng sinh ra khỏi nạn lửa sinh già
bệnh chết, lo buồn khổ não, ngu si tối tăm
ba độc, mà giáo hóa, khiến cho chúng sinh
được Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Phật sinh vào nhà lửa vì cứu độ chúng sinh,
chúng sinh chẳng sợ hãi, chịu đủ thứ khổ
hành hạ mà chẳng biết. Sinh thì như rùa lột
mai, già thì các căn suy yếu, bịnh hoạn nằm
trên giường, khổ không thể tả, muốn chết
cũng chẳng được, đi cũng chẳng được, chết
thì như bò sống lột da. Ðầy dẫy lo buồn khổ
não, ngu si, tối tăm, và lửa tham sân si ba
độc. Phật giáo hóa chúng sinh, khiến cho
được vô thượng chánh đẳng chánh giác, được
quả vị Phật. Phật luôn luôn đều đợi chúng
sinh thành Phật, chúng ta nên sớm lìa khỏi
tam giới nầy, đừng để Phật đợi lâu.
Thấy các chúng sinh vì sinh già bệnh chết, lo
buồn khổ não thiêu đốt, cũng vì năm dục tài
lợi, mà chịu đủ thứ khổ, lại vì tham trước
truy cầu, hiện phải chịu đựng các sự khổ,
sau đó thì chịu khổ ở trong địa ngục, ngạ
quỷ, súc sinh. Nếu sinh về cõi trời, hoặc ở
nhân gian, thì bần cùng khốn khổ, khổ về
thương yêu phải xa lìa, khổ về oán ghét mà
gặp nhau, đủ thứ các sự khổ như thế. Chúng
sinh đắm chìm ở trong đó, vui mừng dạo chơi
chẳng hay chẳng biết, chẳng sợ hãi, cũng
chẳng nhàm chán, chẳng cầu giải thoát. Ở
trong nhà lửa tam giới nầy, chạy đông chạy
tây, dầu gặp khổ lớn mà chẳng lo lắng.
Xá Lợi Phất ! Ðức Phật thấy vậy rồi, bèn nghĩ
rằng : Ta là cha lành của chúng sinh, nên
cứu họ khỏi khổ nạn, ban cho họ vô lượng vô
biên trí huệ an vui của Phật, để họ dạo
chơi.
Ðức Phật thấy các chúng sinh, vì sinh già bệnh
chết, lo buồn khổ não, các thứ khổ hành hạ,
đều vì tham cầu năm dục. Năm dục là: Tài,
sắc, danh, ăn và ngủ, hoặc là: Sắc, thanh,
hương, vị, xúc. Con người thường bị năm dục
lay chuyển, mà điên đảo thị phi, nhưng nếu
nhìn thấu năm dục, thì sẽ buông bỏ tham
trước, làm các thứ công đức. Nếu con người
minh bạch: Tài, sắc, danh, ăn và ngủ, đều là
vật ngoài thân, đại hạn lai thời thì sẽ
buông bỏ tất cả, chẳng còn tham trước năm
dục.
Trong Kinh Lăng
Nghiêm có nói: Sáu căn khiến cho con người
tạo tội, cũng khiến cho con người thành
Phật. Năm dục cũng như thế, mê luyến thì
tham trước, nhìn thấu thì buông bỏ. Con
người vì do tham cầu, cầu chẳng được thì
sinh ra đủ thứ khổ nảo, trên thế gian do
tham cầu mà tạo nghiệp, sau khi chết rồi thì
đọa vào địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ để chịu
khổ. Nếu sinh về cõi trời, hoặc sinh vào
nhân gian, thì sẽ chịu khốn khổ bần cùng.
Hoàn toàn bần cùng khốn khổ, dù muốn làm
công đức, cũng chẳng cách chi bố thí, còn có
khổ về thương yêu mà phải xa lìa, với sự
thương yêu người mà phải chia ly, khó bỏ khó
lìa, và khổ về oán ghét mà gặp nhau, đủ thứ
các sự khổ như thế.
Ðắm chìm ở trong tam giới mà vui mừng dạo
chơi, chẳng biết phiền não tập, cho nên
chẳng sợ chẳng hãi, chẳng sinh nhàm chán,
chẳng cầu giải thoát, chạy đông chạy tây ở
trong tam giới, gặp đủ thứ việc khổ não mà
chẳng lấy làm lo lắng. Phật bảo Xá Lợi Phất
! Phật thấy tình hình như vậy bèn bảo rằng:
Tức cũng như ông trưởng giả ở trong thí dụ,
nghĩ rằng: Ta là cha của chúng sinh, nên cứu
vớt họ khỏi khổ nạn và ban cho họ vô lượng
vô biên trí huệ vui của Phật, khiến cho họ
vui vẻ dạo chơi ở trong Phật pháp đại thừa.
Người bần cùng đương nhiên là khốn khổ, nhưng
giàu có cũng có vui có khổ, vui đến cực điểm
thì sinh buồn, cho nên nói:
‘’Bần cùng bố thí là khó,
Giàu sang học đạo là khó.’’
Ðức Phật là thái tử cũng học đạo được.
Xá Lợi Phất ! Như Lai lại nghĩ rằng : Nếu
ta chỉ dùng sức thần thông, và sức trí huệ,
bỏ đi phương tiện, vì chúng sinh khen ngợi
tri kiến, lực, vô sở úy của Như Lai, thì
chúng sinh không thể do đó mà được độ. Tại
sao ? Vì các chúng sinh đó, chưa khỏi sinh
già bệnh chết lo buồn khổ não, mà bị thiêu
đốt ở trong nhà lửa tam giới, làm sao hiểu
được trí huệ của Phật.
Xá Lợi Phất ! Ðức Phật lại nghĩ : Nếu ta chỉ
dùng sức thần thông và hết thảy Nhất thiết
trí, Ðạo chủng trí, Nhất thiết chủng trí, mà
bỏ đi pháp môn phương tiện, vì chúng sinh
khen ngợi tất cả tri kiến, mười lực và bốn
vô sở úy của Phật, thì chúng sinh không thể
nhờ nhân duyên nầy, mà được giải thoát. Vì
sao ? Vì tất cả chúng sinh chưa khỏi khổ
sinh già bệnh chết và ưu sầu khổ não, giống
như trẻ con vô tri, bị thiêu đốt ở trong nhà
lửa tam giới, làm sao biết được trí huệ của
Như Lai.
Nếu người chưa gặp
được Phật pháp, thì làm sao hiểu được Phật
pháp ? Như người Tây phương chưa nghe qua
Phật pháp, một khi nghe được Phật pháp, thì
sinh tâm sợ hãi, ai cũng đều có tâm lý bịt
tai ăn cắp chuông, biết rõ mình phạm lỗi, mà
chẳng muốn đối diện với hiện thật, cải lỗi
hướng thiện. Chưa gặp Phật pháp mà phạm lỗi,
còn có thể tha thứ, chứ gặp Phật pháp rồi,
biết rõ mà cố phạm thì tội tăng gấp ba.
Người có lỗi hãy nên sửa đổi, người không
lỗi thì nên tránh. Người có tội mà phạm
nhiều lần không thay đổi, thì sẽ đọa lạc.
Biển khổ mênh mông quay đầu là bờ, nên biết
sửa đổi lỗi lầm trước kia. Khổng Tử có nói :
‘’Có lỗi thì chớ nãn sửa đổi.’’ Biết lỗi mà
sửa đổi, thật là việc lành rất lớn vậy !
Xá Lợi Phất ! Như ông trưởng giả kia, tuy
thân và tay có sức mạnh, mà chẳng dùng đến,
chỉ ân cần dùng phương tiện, cố gắng cứu các
con ra khỏi nhà lửa, sau đó đều cho xe trân
báu lớn. Như Lai cũng lại như thế, tuy có
trí lực vô sở úy, mà chẳng dùng đến.
Tôn giả Xá Lợi Phất trí huệ cao siêu, làm
thượng thủ hàng Thanh Văn, còn Bồ Tát Văn
Thù làm thượng thủ hàng Bồ Tát. Phật bảo Xá
Lợi Phất ! Như ở trước có đề cập đến ông
trưởng giả, tuy thân và tay có sức, dụ cho
Phật có đại thần thông và chân thật trí, mà
chẳng dùng đến, chỉ dùng pháp phương tiện
khéo léo, nói pháp ba thừa để cứu độ các
con, tức ba mươi đứa con (Thanh Văn, Duyên
Giác, Bồ Tát, người ba thừa là chân tử của
Phật) và năm trăm người (năm đường chúng
sinh), khỏi bị ba độc (tham sân si) thiêu
đốt ở trong nhà lửa. Ông trưởng giả dùng xe
dê, xe hươu, xe trâu, để ở ngoài cửa, dụ con
trẻ ra ngoài cửa, cuối cùng đều tặng cho xe
trâu trắng lớn. Xe lớn có lục độ vạn hạnh
nghiêm sức, tức chỉ có một Phật thừa. Phật
quán căn cơ mà thí giáo, thấy con trẻ căn cơ
có hạn, cho nên trước hết cho xe dê, xe
hươu, xe trâu, tức pháp tiểu thừa. Phật
trước hết nói pháp tiểu thừa, cho đến hội
Pháp Hoa mới khai quyền hiển thuật, mở bày
cho chúng sinh pháp đại thừa, tất cả chúng
sinh đều có Phật tánh, đều sẽ thành Phật.
Như Lai cũng như thế, tuy có mười trí lực và
bốn vô sở úy mà chẳng dùng đến.
Chỉ dùng trí huệ phương tiện, nơi nhà lửa
tam giới cứu vớt chúng sinh, vì chúng sinh
mà nói ba thừa : Thanh Văn, Bích Chi Phật,
Phật thừa.
Sở dĩ Ðức Phật dùng trí huệ chi phối pháp
phương tiện, quán căn cơ thí giáo, vì người
nói pháp, theo bệnh cho thuốc. Chúng sinh
bị: Tham, sân, si, che đậy, pháp thân huệ
mạng đều bị che lấp. Kẻ tham thì tham chẳng
biết chán, chẳng biết đủ. Kẻ sân gặp nghịch
cảnh, thì nổi trận lôi định, lửa vô minh nổi
dậy, hiện tướng A Tu La. Tâm si che lấp
lương tri lương năng của chúng sinh, khiến
cho họ mê muội nhân quả, làm việc điên đảo.
Con người thường bị lửa tham sân si thiêu
đốt. Phật dùng một âm thanh diễn nói pháp,
chúng sinh theo loại đều hiểu được, khiến
cho Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, cho đến
chín pháp giới chúng sinh, nghe pháp của
Phật nói, đều phát bồ đề tâm. Phật ở trong
tam giới cứu vớt tất cả chúng sinh.
Phật chẳng sợ bị
lửa thiêu đốt, mà phát tâm đại bi vào nhà
lửa, cứu vớt tất cả chúng sinh. Từ hay ban
vui, bi hay cứu khổ, Phật cứu chúng sinh từ
trong nhà lửa ra ngoài, chúng ta nên phát
tâm bồ đề, sinh tâm sám hối đừng nóng giận
nữa, phải biết Phật đang đợi chúng ta ! Tuy
nhiên Phật đã dứt sinh tử, sao lại nói:
‘’Chẳng sợ chết‘’? Phật thật sự đã dứt sinh
tử, Phật cảm thấy đau đớn như chính mình
chịu. Chúng ta phải mau tỉnh giác, sửa đổi
lỗi lầm quá khứ, tinh tấn tu hành, đừng để
Phật phải đợi lâu ! Phật vì cứu vớt chúng
sinh mà phân biệt nói ba thừa : Thanh Văn
thừa, Duyên Giác thừa, Phật thừa. Phật ban
cho xe hươu, xe dê, xe trâu trắng lớn, để
chúng ta tùy ý lựa chọn.
Mà nói rằng : Các ông không nên ưa thích ở
trong nhà lửa tam giới, chớ tham sắc thanh
hương vị xúc thô hèn. Nếu tham trước, thì
sinh luyến ái sẽ bị thiêu đốt, các ông hãy
mau ra khỏi tam giới, sẽ chứng được ba thừa:
Thanh Văn, Bích Chi Phật và Phật thừa.
Phật bảo rằng: ‘’Các ông‘’, tức ba mươi người
con và năm trăm người, cũng bao quát bạn,
tôi và tất cả chúng sinh. Phật bảo tất cả
chúng sinh, chớ nhận lầm ở trong tam giới
nầy là vui sướng. Tam giới nầy là khổ. Chúng
sinh điên đảo thị phi, lấy khổ làm vui, mê
chẳng biết về. ‘’Chớ tham sắc thinh hương vị
xúc thô hèn‘’: Phật bảo chớ tham năm trần,
cũng gọi là năm dục. Mọi vật có hình tướng
đều là sắc trần, sắc thanh hương vị xúc
trần. Chúng sinh bị năm trần thô hèn mê hoặc
che đậy nhiễu loạn tâm tính. Nhưng người tu
hành phải đối cảnh vô tâm. Do đó, có câu :
‘’Thấy việc tỉnh việc lìa thế gian,
Thấy việc mê việc đọa trầm luân‘’.
Thấy cảnh giới mà giác ngộ được, thì vượt ra
được tam giới, nếu bị cảnh giới mê hoặc, thì
sẽ đọa lạc. Do đó, có câu :
‘’ Mắt thấy hình sắc chẳng dính mắc,
Tai nghe chuyện đời tâm chẳng hay ‘’.
Mắt đối với cảnh mà chẳng bị cảnh chuyển, phải
tự mình giữ vững tông chỉ, đừng để bị: Sắc
thinh hương vị xúc năm trần, làm giao động
tâm chí. ‘’Nếu tham trước thì sinh ái‘’: Ða
số mọi người không dứt được sinh tử, nguyên
nhân chính là có ‘’ái‘’, do ái mà sinh dục,
ái dục là gốc rễ của sinh tử. ‘’Sẽ bị thiêu
đốt‘’: Tức là bị lửa ái thiêu đốt, đây là
‘’tập‘’ đế, có tình ái thì sinh phiền não.
Vì sao có tình ái ? Vì quá coi trọng thân
thể nầy, muốn khiến cho thân thể được hưởng
thụ. Hãy nghĩ xem tại sao Ðức Phật vào núi
Tuyết tu hành ? Tại sao thành đạo dưới cội
bồ đề ? Tức là Ngài trừ khử tình ái, đoạn
phiền não mà chứng quả thành Phật. Ban đầu
chuyển bánh xe pháp bốn Diệu Ðế nói :
‘’Ðây là khổ, tính bức bách
Ðây là tập, tính chiêu cảm
Ðây là diệt, tính có thể chứng
Ðây là đạo, tính có thể tu‘’.
Phiền não là do bên trong có phiền não, mới
chiêu đến phiền não bên ngoài.
‘’Các ông hãy mau ra khỏi tam giới, sẽ chứng
được ba thừa Thanh Văn, Bích Chi Phật và
Phật Thừa‘’: Phật bảo các ông hãy mau mau ra
khỏi nhà lửa tam giới, không nên trôi nổi ở
trong đó mà quên về. Thanh Văn thừa do nghe
âm thanh mà ngộ đạo, Bích Chi Phật tức là
Duyên Giác :
‘’Mùa xuân quán trăm hoa nở,
Mùa thu ngắm lá vàng rơi‘’.
Quán vạn vật trời đất thịnh suy, tu pháp mười
hai Nhân Duyên, mà chứng quả Bích Chi Phật.
Sinh vào thời có Phật tại thế, thì gọi là
Duyên Giác, sinh vào thời chẳng có Phật, thì
gọi là Ðộc Giác. Phần nhiều Bích Chi Phật ở
trong thâm sơn cùng cốc, chẳng tiếp xúc với
bên ngoài, tu hành chứng quả thành Bích Chi
Phật. Phật thừa, Phật là tiếng Phạn, dịch là
"giác". Giác gồm có:
- Tự giác,
- Giác tha,
- Giác hạnh viên mãn.
Phật khác với phàm phu, phàm phu thì chẳng
giác, còn Phật thì tự giác và còn giác tha
tức là vừa lợi mình lợi người. Hạnh tự giác
giác tha đều viên mãn, do đó gọi là: ‘’Ba
giác tròn vạn đức đầy‘’, gọi là Phật. Phật
thừa khác với Bồ Tát thừa, Duyên Giác Thừa
và Thanh Văn thừa. Kinh Pháp Hoa nói: ‘’Chỉ
một Phật thừa, chẳng có thừa nào khác‘’.
Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, đều là pháp
phương tiện khéo léo, khai quyền hiển thật.
Lần thứ hai chuyển bánh xe pháp bốn Diệu Ðế,
Phật nói :
‘’Ðây là khổ, ông nên biết
Ðây là tập, ông nên đoạn
Ðây là diệt, ông nên chứng
Ðây là đạo, ông nên tu‘’.
Lần thứ ba chuyển bánh xe pháp bốn Diệu Ðế,
Phật lại nói :
‘’Ðây là khổ, ta đã biết
Ðây là tập, ta đã đoạn
Ðây là diệt, ta đã chứng
Ðây là đạo, ta đã tu‘’.
Ban đầu Phật chuyển bánh xe pháp bốn Diệu Ðế
với năm vị Tỳ kheo Kiều Trần Như, Kinh văn
Pháp Hoa nầy cũng mở bày đạo lý: Khổ tập
diệt đạo.
Nay ta bảo nhiệm việc nầy, tuyệt đối chẳng
hư vọng. Các ông hãy siêng tu tinh tấn, Như
Lai dùng phương tiện đó, để dẫn dụ chúng
sinh ra khỏi nhà lửa.
Phật bảo chứng: Nếu các ông y theo pháp đại
thừa mà tu hành, thì chắc chắn sẽ thành
Phật, tuyệt đối chẳng hư vọng, các ông tất
cả chúng sinh hãy siêng tu tinh tấn, nếu
không siêng tu tinh tấn, thì cũng như nói
ăn, đếm tiền, do đó có câu :
‘’ Suốt ngày đếm tiền mướn,
Mình chẳng có xu nào,
Nơi pháp chẳng tu hành,
Tội lỗi cũng như thế. ‘’
Trong Kinh Lăng Nghiêm cũng nói : Ví như nói
ăn, tuyệt đối không thể no. Phải siêng tu
tinh tấn, tinh tấn gồm có: Thân tinh tấn và
tâm tinh tấn. Lạy Kinh, niệm Phật, tham
thiền, trì Chú, đều là thân tinh tấn, nếu
không thì tâm như con ngựa con khỉ, vọng
tưởng lung tung, cho nên phải tinh tấn. Phật
pháp thì phải thân thể lực hành, ‘’Nói hay,
nói giỏi, mà chẳng thực hành, thì chẳng phải
đạo‘’. Chỉ biết mà không hành, thì chẳng đắc
được chỗ diệu, phải tinh tấn tu hành mới có
lợi ích.
‘’Như Lai dùng phương tiện đó, để dẫn dụ chúng
sinh ra khỏi nhà lửa‘’: Phật nói pháp phương
tiện, để dẫn dụ chúng sinh ra khỏi nhà lửa,
bảo rằng có xe hươu, xe dê, xe trâu, ở ngoài
cửa, đợi họ ra khỏi nhà lửa rồi thì cho xe
lớn.
‘’Dẫn dụ‘’ chúng sinh, như Phật tay không dụ
em bé. Phật thấy em bé bò gần
đến miệng giếng, tình thế cấp bách, mới bảo
với em bé trong tay của Ngài có kẹo, em bé
nghe nói đến kẹo thì quay đầu lại, bò qua
chỗ Ðức Phật. Em bé khỏi bị rớt xuống giếng,
mà trong tay của Phật thật chẳng có kẹo.
Chúng sinh muốn ra khỏi tam giới, thì nhờ
Phật dụ mà ra khỏi nhà lửa vậy !
Lại bảo : Các ông nên biết ! Pháp ba thừa
nầy, đều được các bậc Thánh khen ngợi, tự
tại chẳng ràng buộc, chẳng còn nương tựa tìm
cầu, ngồi ba thừa đó, dùng vô lậu căn lực
giác đạo, thiền định giải thoát tam muội
.v.v... mà tự vui sướng, bèn được vô lượng
an ổn khoái lạc.
Phật lại bảo, các ông chúng sinh nên biết pháp
ba thừa: Thanh Văn thừa, Bích Chi Phật thừa
và Phật thừa, ba thừa pháp nầy đều được chư
Phật quá khứ, hiện tại và vị lai khen ngợi.
Pháp ba thừa nầy, là pháp môn tiếp dẫn chúng
sinh, của tất cả chư Phật ba đời trong mười
phương. ‘’Tự tại chẳng ràng buộc, chẳng
nương tựa tìm cầu‘’: Ðắc được tự nhiên trí
tức tự tại, tức được tha tâm trí, minh bạch
tất cả tâm ý của chúng sinh. ‘’Chẳng ràng
buộc‘’, tức được giải thoát, chẳng quái
ngại, xa lìa điên đảo mộng tưởng, được trí
huệ tối cao, buông bỏ hết tất cả. ‘’Chẳng
còn nương tựa tìm cầu‘’: Những gì cần làm đã
làm xong, chẳng còn thọ thân sau nữa, tức đã
dứt sinh tử. Tự tánh của chúng ta là ‘’năng
y‘’, sinh tử là ‘’sở y‘’, đã dứt sinh tử tức
vô sở y (chẳng còn nương tựa). Sao gọi là vô
sở cầu ? Các lậu đã sạch, phạm hạnh đã vững,
tức vô sở cầu (chẳng còn gì mong cầu). Nếu
được vô sở y, vô sở cầu, thì chứng quả liễu
sinh thoát tử.
‘’Ngồi ba thừa đó‘’: Ngồi ở trong xe ba thừa,
dùng năm căn vô lậu: Tín, tấn, niệm, định,
huệ, siêng năng tinh tấn, thì năm căn sẽ
tăng thêm căn lành, mà sinh ra năm lực (Tín,
tấn, niệm, định, huệ lực). ‘’Giác‘’ là bảy
giác chi :
1. Trạch pháp giác
chi, chọn thiện mà theo.
2. Tinh tấn giác chi.
3. Hỉ giác chi.
4. Khinh an giác chi.
5. Xả giác chi.
6. Ðịnh giác chi.
7. Niệm giác chi, lại gọi là bảy bồ đề phần.
‘’ Ðạo‘’ là bát Chánh đạo :
1. Chánh kiến.
2. Chánh ngữ.
3. Chánh tư duy.
4. Cháng nghiệp.
5. Chánh mạng.
6. Chánh niệm.
7. Chánh tinh tấn.
8. Chánh định.
‘’Thiền‘’ là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền,
tứ thiền. Sơ thiền có ba cõi trời, nhị thiền
có ba cõi trời, tam thiền có ba cõi trời, tứ
thiền có ba cõi trời. Ðó là cảnh giới thiền
định của phàm phu. Trời Vô Tưởng là cảnh
giới thiền định của ngoại đạo, Trời Ngũ Bất
Hoàn là cảnh giới thiền định của bậc Thánh
nhân. Người nhân gian tham thiền đả tọa,
cũng có thể đạt đến cảnh giới của chư Thiên
cõi Tứ Thiền tu thiền định. Người tu thiền
định, nhập định được cảnh giới sơ thiền, gọi
là Ly Sinh Hỷ Lạc Ðịa, được sự khoái lạc
thiền duyệt vi thực, chỉ cảm thấy thân tâm
thơ thới khoái lạc, mà chẳng biết ngày giờ
đã qua, giống như hòa thượng Hư Vân tại núi
Chung Nam, nhập định mười tám ngày, cũng là
đắc được cảnh giới nầy. Thành tâm dụng công
tu hành, tham thiền đả tọa, thì sẽ được cảnh
giới nầy. Cảnh giới sơ thiền nầy, chẳng phải
chỉ riêng cảnh giới của chư Thiên, mà là
người tu đạo dùng thân phàm phu tu hành, thì
có thể chứng nhập, đây chỉ là giai đoạn ban
đầu nhập môn của sự tu hành. Mấy ngày trước
có người chứng được cảnh nầy, chứng được bậc
nầy, bất quá chỉ là bước thứ nhất của sự tu
hành mà thôi ! Muốn chứng Thánh quả, cần
phải tiếp tục nỗ lực không ngừng tinh tấn
tiến về trước.
Nhị Thiền là Ðịnh
sinh hỷ lạc địa, đừng tham trước khoái lạc,
phải tu định, do đó có câu : ‘’Na già thường
tại định, vô hữu bất định thời.’’ Ði đứng
nằm ngồi đều như nhập định, chẳng vướng
duyên bên ngoài, tâm như nước chảy, trong
suốt thấu triệt, ngồi thiền thì chẳng những
mạch máu ngừng lại, mà hô hấp hơi thở cũng
ngừng lại, chỉ có niệm chưa ngừng lại, còn
khởi vọng tưởng, một niệm sinh ra thì sẽ
xuất định.
Tam Thiền là Ly hỷ
diệu lạc địa, lìa tất cả sự vui sướng, chẳng
còn tham trước ‘’thiền duyệt vi thực, pháp
hỉ sung mãn‘’, được sự khoái lạc ở cõi trời.
Nếu các bạn muốn thưởng thức từ vị đó, thì
phải dụng công tham thiền đả tọa.
Tứ Thiền là Xả niệm thanh tịnh địa, cho dù một
niệm cũng xả bỏ, vô sinh vô niệm, lúc nầy đã
trừ tất cả khách trần phiền não, chỉ chưa
chứng quả. Ở trên là cảnh giới khinh an đắc
được cửa sự tu đạo.
‘’Ðịnh‘’ là bốn vô sắc định :
1. Không vô biên xứ định,
2. Thức vô biên xứ định.
3. Vô sở hữu xứ định.
4. Phi tưởng phi phi tưởng xứ định.
Bốn trời định gọi là Trời Vô Sắc Giới,
‘’định‘’ tức gọi là vô sắc định. Chư Thiên
bốn cõi trời nầy, chỉ có thức mà chẳng có
hình sắc, cho nên gọi là Vô sắc định, còn
Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu
Xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, cũng gọi là
bốn Không Xứ.
‘’Thiền định‘’ là bốn thiền tám định, bốn
thiền thêm bốn vô sắc định, hợp lại thành
tám định.
‘’Giải thoát‘’: Có tám thứ giải thoát :
1. Nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc giải
thoát.
2. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát.
3. Tịnh giải thoát thân tác chứng cụ túc trụ.
4. Không vô biên xứ giải thoát.
5. Thức vô biên xứ giải thoát.
6. Vô sở hữu xứ giải thoát.
7. Phi tưởng phi phi tưởng xứ giải thoát.
8. Diệt thọ tưởng thân tác chứng cụ túc trụ.
Ðó là tám giải thoát. Người mới tu đạo, thì
trong tâm vẫn tồn tại dục niệm, nên dùng
chín pháp quán tưởng (quán bất tịnh) để đối
trị sắc bên ngoài, biết được nó bất tịnh thì
sẽ không chấp trước vào ‘’sắc‘’, tức được
giải thoát, buông xả đặng thì tự tại, nhìn
thấu thì buông đặng. Cho nên trước hết phải
tu được quán nầy.
Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát, tu
hành dụng công thì lâu dần trong sự bất tri
bất giác, lìa được niệm sắc dục, bên trong
chẳng có niệm sắc dục, vẫn phải quán sắc bên
ngoài, quán tưởng gái đẹp tương lai cũng khó
tránh cái chết, già chết thì thân của họ
cũng biến hoại, quán thây sình thối có ấu
trùng rúc rỉa, còn lại xương trắng, xương
biến thành đất, bốn đại trả về cho bốn đại,
gió trả về cho gió, đất trả về cho đất, nước
trả về cho nước, lửa trả về cho lửa, cứu
kính chẳng còn gì hết. Thường hay quán tưởng
như thế, thì chẳng sinh tâm tham ái, trừ khử
được tâm ái dục thì được giải thoát.
Ðược tịnh giải
thoát thân tác chứng cụ túc trụ, cụ túc trụ,
tức là trụ ở trong bổn thể thanh tịnh,
không, thức, hữu, tưởng, đều giải thoát,
được diệt, thọ, tưởng, thân tu diệt, thọ,
tưởng định, thức cũng sẽ diệt. Nhưng thức
vẫn chưa diệt, thì tám vạn bốn ngàn kiếp sau
cũng sẽ tái sinh, cho nên tuy nhiên có cảnh
giới bốn Không Xứ mà sinh tử vẫn chưa dứt.
Tứ thiền thêm bốn Không Xứ và thêm thọ diệt
tưởng định, gọi là chín thứ đệ định. ‘’Tam
muội‘’ là không tam muội, vô tướng tam muội,
vô nguyện tam muội. Thành tựu ba thứ tam
muội nầy, thì thành không vô tướng nguyện.
‘’Mà tự vui sướng‘’: Tu hành được thiền duyệt
vi thực, pháp hỉ sung mãn. ‘’Bèn được vô
lượng an ổn khoái lạc‘’: Nhất là trong thiền
định được vô lượng an ổn khoái lạc, được
chân không Niết Bàn, vĩnh viễn lìa tất cả
tai nạn lo âu.
Xá Lợi Phất ! Nếu có chúng sinh bên trong
có trí tánh, theo Phật Thế Tôn nghe pháp,
tin nhận thọ trì, ân cần tinh tấn, muốn mau
ra khỏi tam giới, tự cầu chứng Niết Bàn, đó
gọi là Thanh Văn thừa. Như các người con đó,
vì cầu xe dê mà ra khỏi nhà lửa.
Phật bảo Xá Lợi Phất: ‘’Nếu có chúng sinh, bên
trong có trí tánh, theo Phật Thế Tôn nghe
pháp tin nhận‘’: Chúng sinh kiếp trước từng
theo Phật nghe pháp và hay tin nhận, chẳng
sinh nghi hoặc; tin nhận là văn huệ. ‘’Ân
cần‘’ là tư huệ, thường suy gẫm. ‘’Tinh
tấn‘’ là tu huệ. ‘’Muốn mau ra khỏi tam
giới, tự cầu chứng Niết Bàn, đó gọi là Thanh
Văn thừa, như các người con đó, vì cầu xe dê
mà ra khỏi nhà lửa.’’
Nếu có chúng sinh theo Phật Thế Tôn, nghe
pháp tin nhận thọ trì, ân cần tinh tấn, cầu
tự nhiên huệ, thích sống một mình ở chỗ vắng
vẻ, biết rõ nhân duyên của các pháp, đó gọi
là Bích Chi Phật thừa, như các người con
kia, vì cầu xe hươu mà ra khỏi nhà lửa.
Nếu có chúng sinh nghe pháp tin nhận thọ trì
chẳng nghi, tín tâm phát xuất từ nội tâm, do
đó:
‘’Mình ăn thì mình no,
Sinh tử của mình tự mình dứt‘’.
Người khác không thể thay thế bạn sinh tín
tâm, phải tự mình sinh tín tâm. ‘’Ân cần
tinh tấn, cầu tự nhiên huệ, thích sống một
mình chỗ vắng vẻ‘’: Thích tu hành một mình.
‘’Biết rõ nhân duyên của pháp‘’: Biết rõ
mười hai nhân duyên thành Bích Chi Phật
thừa. ‘’Như các người con kia, vì cầu xe
hươu mà ra khỏi nhà lửa‘’: Dùng xe hươu dụ
cho Bích Chi Phật thừa, có Phật ra đời thì
gọi là Duyên Giác, chẳng có Phật ra đời thì
gọi là Ðộc Giác. Bích Chi Phật là tự chứng
tự liễu.
Nếu có chúng sinh, theo Phật Thế Tôn nghe
pháp, tin nhận thọ trì, ân cần tinh tấn, cầu
Nhất thiết trí, Phật trí, tự nhiên trí, vô
sư trí, tri kiến lực, vô sở úy của Như Lai,
thương xót vì sự an vui của vô lượng chúng
sinh, làm lợi ích cho trời người, độ thoát
tất cả chúng sinh, đó gọi là đại thừa. Bồ
Tát cầu thừa nầy, nên gọi là Ma ha tát, như
các người con kia, vì cầu xe trâu mà ra khỏi
nhà lửa.
Nếu có chúng sinh theo Phật nghe pháp, tâm
sinh niềm tin thọ trì, ân cần tinh tấn, cầu
‘’nhất thiết trí‘’: Cầu trí biết tất cả pháp
thế gian và xuất thế gian, ‘’Phật trí‘’ là
trí huệ mà một số chúng sinh không thể có,
‘’tự nhiên trí‘’, ‘’vô sư trí‘’ đều là trí
huệ đại viên mãn giác của Phật, ‘’tri kiến
lực, vô vô sở úy của Như Lai‘’: Sự biết của
Như Lai là Nhất thiết chủng trí, sự thấy của
Như Lai là mắt Phật, ‘’lực‘’ là mười lực,
‘’vô sở úy‘’ là bốn vô sở úy, Phật phát tâm
đại từ bi, thương sót sự an vui của chúng
sinh, lợi ích trời người, độ thoát tất cả
chúng sinh, đó gọi là Bồ Tát đại thừa, nên
gọi là Ma Ha Tát (đại). Như các người con
kia vì cầu xe trâu mà ra khỏi nhà lửa.
Xá Lợi Phất ! Như ông trưởng giả kia, thấy
các người con ra khỏi nhà lửa được an ổn,
đến nơi chẳng sợ hãi, tự nghĩ của cải giàu
vô lượng, đều đem xe lớn mà cho các con. Như
Lai cũng như thế, là cha của tất cả chúng
sinh. Nếu thấy vô lượng ức ngàn chúng sinh,
do cửa Phật giáo mà ra khỏi đường hiểm khổ
sợ hãi của tam giới, thì Phật khiến cho họ
được sự an vui của Niết Bàn.
Ðức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất, đức Như Lai
như ông trưởng giả giàu có, thấy các người
con ra khỏi nhà lửa được yên ổn, ông trưởng
giả tức nhiên có của cải vô lượng, bèn bình
đẳng ban tặng cho các con xe trâu trắng lớn.
Giống như Phật thấy vô lượng chúng sinh, vì
nghe Phật pháp mà tin nhận hộ trì, được lìa
khỏi khổ, đường hiểm trong tam giới, thì
Phật khiến cho chúng sinh đắc được sự vui
của thường lạc ngã tịnh.
Bấy giờ, đức Như Lai bèn nghĩ : Ta có vô
lượng vô biên trí huệ lực vô sở úy .v.v...
các kho tàng Phật pháp. Các chúng sinh đó
đều là con của ta, đều bình đẳng ban cho đại
thừa, chẳng khiến có người được diệt độ
riêng, mà đều dùng sự diệt độ của Như Lai để
diệt độ. Những chúng sinh đó thoát khỏi tam
giới, Phật đều ban cho sự vui sướng thiền
định giải thoát của chư Phật.
Ðức Thích Ca Như Lai lúc đó nghĩ như vầy : Ta
có vô lượng vô biên trí huệ, mười lực, bốn
vô sở úy, mười tám pháp bất cộng. ‘’Các kho
tàng Phật pháp‘’: Như bốn đế, sáu độ, mười
hai nhân duyên, ba mươi bảy đạo phẩm. .v.v.
Các chúng sinh đó đều là con của ta, đều
bình đẳng ban cho xe lớn. ‘’Dùng sự diệt độ
của Như Lai, mà diệt độ‘’: Chẳng thiên lệch
về lý không, khiến cho các chúng sinh thoát
khỏi tam giới, Phật đều ban cho thiền định
giải thoát tam muội Phật thừa, dùng giải
thoát thiền định khoái lạc làm vui sướng, ở
trong đó có thể được lạc thú vô cùng.
Ðều là một tướng một thứ mà các bậc Thánh
khen ngợi, hay sinh vui tịnh diệu bậc nhất.
‘’Một tướng‘’ là thật tướng. Thật tướng đại
biểu pháp thân đức, một trong ba đức. Ở trên
đã nói rõ ba mươi bảy đạo phẩm, sáu độ, bốn
đế, mười hai nhân duyên, bây giờ dùng ba đức
để kết thúc phẩm ví dụ, cho nên nói đều là
một tướng, tức cũng là thật tướng. Thật
tướng là vô tướng, vô sở bất tướng, tất cả
vạn vật có hình tướng, đều từ thật tướng mà
ra, chân không tức diệu hữu, diệu hữu tức
chân không, thật tướng là pháp thân đức của
Phật. ‘’Một thứ‘’ (nhất chủng) tức là Nhất
thiết chủng trí, là Bát Nhã đức. ‘’Mà các
bậc Thánh khen ngợi, hay sinh vui tịnh diệu
bậc nhất‘’: Là giải thoát đức, pháp nầy mới
được chư Phật khen ngợi, hay sinh vui thanh
tịnh vi diệu, lìa cả khổ tức được giải
thoát.
Xá Lợi Phất ! Như ông trưởng giả kia, ban
đầu dùng ba xe, để dẫn dụ các người con, sau
đó chỉ cho một thứ xe lớn, có các báu vật
trang nghiêm, an ổn bật nhất, nhưng ông
trưởng giả đó chẳng có lỗi hư dối.
Phật bảo
Tôn Giả Xá Lợi Phất ! Phật
giống như ông trưởng giả kia, ban đầu dùng
pháp môn phương tiện, nói ngoài cửa có xe
dê, xe hươu, xe trâu, để ở ngoài cửa, gạt dụ
các con ra khỏi nhà lửa, đến được nơi yên
ổn, thì ông trưởng giả giàu có của cải vô
lượng, mới ban cho các con mỗi người một
chiếc xe trâu trắng lớn, xe có báu vật trang
trí nghiêm sức, an ổn bậc nhất, ai nấy đều
được xe lớn, do đó ông trưởng giả chẳng có
lỗi nói dối.
Như Lai cũng như thế, chẳng có nói dối, ban
đầu nói ba thừa dẫn dắt chúng sinh, sau đó
chỉ dùng đại thừa mà độ thoát. Tại sao ? Vì
Như Lai có vô lượng trí huệ lực vô sở úy,
các kho tàng Phật pháp, hay ban cho tất cả
chúng sinh pháp đại thừa, nhưng thọ dụng
chẳng hết được.
Xá Lợi Phất ! Do nhân duyên đó, nên biết chư
Phật vì sức phương tiện, nơi một Phật thừa,
mà phân biệt nói ba thừa.
Như Lai Thế Tôn cũng như ông trưởng giả kia,
dùng pháp quyền xảo phương tiện dẫn dắt
chúng sinh, ban đầu nói Thanh Văn thừa, kế
nói Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa, ba thừa,
để dẫn dắt chúng sinh. Ba tạng giáo thuộc
Thanh Văn thừa, biệt giáo thuộc Duyên Giác
thừa, Viên Giáo thuộc Bồ Tát thừa. Cuối cùng
mới nói thật tướng diệu lý Kinh Pháp Hoa,
pháp môn viên đốn là diệu pháp đại thừa, độ
thoát chúng sinh. Vì sao ? Ðức Phật vốn có
vô lượng vô biên trí huệ, có Nhất thiết trí,
Đạo chủng trí, Nhất thiết chủng trí, lại có
mười lực, bốn vô sở úy, tất cả pháp môn, ban
đầu đã có thể ban cho chúng sinh pháp môn
đại thừa, song chẳng phải tất cả chúng sinh
đều tiếp thọ được. Như ban đầu nói Kinh
Hoa Nghiêm, mà người nhị thừa
có mắt chẳng thấy Lô Xá Na, có tai chẳng
nghe giáo lý viên đốn, thấy mà chẳng thấy,
nghe mà chẳng nghe, như điết như mù, chẳng
những không tiếp thọ được, mà đối với đạo lý
bên trong họ cũng chẳng thông đạt được.
Có một số người
nghĩ, người nhị thừa còn chẳng hiểu Kinh
Hoa Nghiêm, huống gì chúng ta
căn tánh đâu có bằng người nhị thừa, làm sao
mà lãnh hội được Kinh
Hoa Nghiêm ? Ban đầu đức Phật
thành Phật, thì trên thế gian vốn chẳng có
Phật, cho nên con người không thể tiếp thọ
đạo lý quá thâm áo. Bây giờ ai cũng biết có
Phật pháp, biết rõ có đại thừa tiểu thừa, tự
tính của chúng ta vốn đã trồng xuống hạt
giống đại thừa, cho nên bây giờ nghe được
Phật pháp đại thừa.
Phật lại bảo Xá Lợi Phất, vì chúng sinh không
thể hoàn toàn tiếp thọ diệu lý đại thừa, ông
nên biết, mười phương chư Phật và Phật Thích
Ca đều dùng pháp môn quyền xảo phương tiện
nầy, chỉ một Phật thừa nầy mà nói thành ba
thừa. Kỳ thật, chẳng có ba thừa, vì căn tánh
chúng sinh mà nói ba thừa, mục đích cuối
cùng là : Hy vọng chúng sinh sớm thành Phật
đạo.
Ðức Phật muốn thuật lại nghĩa nầy, bèn nói
bài kệ rằng :
Ví như ông
trưởng giả
Có một ngôi nhà lớn
Nhà đó đã lâu đời
Mà lại cũ hư nát.
Phòng nhà cao nguy hiểm
Trụ cột lại gãy mục
Nóc nhà đều nghiêng ngã
Nền móng đã hư nát.
Tường vách đều sụp đổ
Bùn đất rơi rớt xuống
Tranh lợp rơi tả tơi
Kèo đòn tay trật khớp.
Bốn phía đều cong vạy
Ðầy dẫy những dơ uế
Có đến năm trăm người
Thảy đều ở trong đó.
Chim si, hưu, điêu, thứu
Quạ, chim thước, cưu, cáp
Ngô công và du diên
Loài thủ cung, bá túc.
Dứu ly cùng hề thử
Các loài độc trùng dữ
Ðuổi nhau chạy ngang dọc
Ðại tiểu tiện hôi thối.
Chảy đầy đồ bất tịnh
Các độc trùng bọ hung
Bu đậu ở trên đó
Cáo sói và dã can.
Liếm nhai dày đạp lên
Cắn xé những thây chết
Xương thịt bừa bãi ra
Do đó các bầy chó.
Tranh nhau đến giành ăn
Ốm đói rất sợ sệt
Khắp nơi tìm món ăn
Giành giựt cấu xé nhau.
Gầm gừ gào sủa rên
Nhà đó rất đáng sợ
Những cảnh trạng như thế
Khắp nơi thảy đều có.
Quỷ lị mị, vọng lượng
Dạ Xoa các ác quỷ
Ăn nuốt cả thịt người
Các loài trùng dữ độc.
Những cầm thú hung ác
Ấp cho bú sản sinh
Ðều tự giấu gìn giữ.
Phật từ bi thương xót, sợ chúng sinh chẳng
minh bạch đạo lý bên trong, cho nên dùng kệ
để thuật lại nghĩa trường hàng ở trên.
Kệ có bốn chữ, sáu chữ, hoặc bảy chữ, đủ loại.
Dùng kệ để thuật lại đạo lý ở trên, hoặc
chưa nói rõ, lại phải dùng kệ để nói: ‘’Ví
như ông trưởng giả, có một ngôi nhà lớn‘’:
Bao quát dục giới, sắc giới, và vô sắc giới
ba cõi, là một ngôi nhà lớn. Ba cõi không
yên, giống như nhà lửa. Như thân thể của
chúng ta có bài kệ rằng :
‘’Thân người như một căn nhà,
Miệng làm cửa lớn mắt làm cửa sổ,
Tứ chi như bốn cột trụ,
Ðầu tóc ví như tranh lợp nhà,
Tùy thời siêng tu bổ,
Ðừng để ngã sập nguy nan.’’
Thân con người như một căn nhà, phải thừa lúc
thân thể còn khoẻ mạnh, thì nên siêng năng
tham thiền đả tọa, lạy Phật, tụng Kinh, trì
Chú. Một đời chỉ được lúc siêng năng, một
năm chỉ được vào mùa xuân, một ngày chỉ được
vào lúc sáng sớm. Sáng sớm nên thức dậy vào
khoảng bốn giờ, rửa mặt rồi thì nên ngồi
thiền, vì sáng sớm trời đất vạn vật đều yên
tĩnh, lúc nầy ngồi thiền rất dễ tương ưng
với đạo.
Ngồi thiền xong
rồi, lễ Phật là vận động tốt nhất, khiến cho
máu huyết lưu thông, lạy Phật rồi thì tụng
Kinh, khiến cho hô hấp hơi thở điều hòa, sau
đó thì trì Chú, trong tâm tĩnh lặng là kim
cang trì Chú, làm hết tất cả rồi, thì bắt
đầu làm việc.
‘’Nhà đó đã lâu đời‘’: Tam giới từ vô thủy đến
nay, vẫn tồn tại nên gọi là lâu đời. ‘’Mà
lại cũ hư nát‘’: Dụ cho thân người sẽ suy
già, các bộ phận làm việc cũng suy yếu.
‘’Phòng nhà cao nguy hiểm‘’: ‘’Phòng‘’ dụ cho
sắc giới, ‘’nhà‘’ dụ cho dục giới, ở trong
tam giới dễ mất đi thân người. Trong tam
giới sẽ đọa lạc vào địa ngục, ngạ quỷ, súc
sinh, bất cứ lúc nào nên gọi là ‘’nguy
hiểm‘’. ‘’Trụ cột lại gãy mục‘’: ‘’Trụ cột‘’
dụ cho hai chân người, như trụ cột chống đỡ
thân thể. ‘’Gãy mục‘’ tức sinh già bệnh chết
bốn tướng biến đổi, từ nhỏ đến lớn, lớn rồi
thành già, già rồi chết. ‘’Nóc nhà đều
nghiêng ngã‘’: Dụ cho lưng của chúng ta đã
cong. ‘’Nền móng đã hư nát‘’ ý nói thân thể
này tạo nghiệp cuối cùng sẽ tan rã. ‘’Tường
vách đều sụp đổ, bùn đất rơi rớt xuống‘’: Dụ
cho da của con người đã nhăn nheo, da như
bùn đất biến hoại. ‘’Tranh lợp rơi tả tơi‘’:
‘’Tranh lợp‘’ là cỏ tranh dùng để lợp mái
nhà, dụ cho tóc, tóc đều đã rụng tả tơi.
‘’Kèo đòn tay trật khớp‘’: ‘’Kèo đòn tay‘’
dụ cho gân cốt, gân cốt đã trật khớp. ‘’Bốn
phía đều cong vạy, đầy dẫy những nhơ uế‘’:
Tức ruột non ruột già trong thân thể cong
vạy, đầy dẫy phân đồ vật phế thải nhơ uế.
Thân thể con người do bốn đại hòa hợp mà
thành, thân thể tan rã thì bốn đại phân tán,
đất, nước, gió, lửa đều trả về. Mỗi người
nên nhận rõ đời người, đừng vì thân nầy mà
làm nô lệ, chẳng biết giác ngộ. Tôi từng
nói:
‘’Người thọ bảy mươi xưa nay hiếm,
Trước trừ thiếu niên sau trừ già,
Thời gian khoảng giữa chẳng là bao,
Lại có một nửa thời gian ngủ‘’.
Con người mới sinh ra, đến mười tuổi thì quá
nhỏ, chẳng làm được gì, quá sáu mươi tuổi
thì đã già, cũng chẳng còn hữu dụng, thời
gian khoảng giữa còn có một nửa ngủ nghỉ,
thật tế đời người thời gian làm chẳng bao
nhiêu, ở trên là chân lý đời người, thấy
được chân lý đời người, thì thân tâm có chỗ
ký thác.
‘’Có đến năm trăm người, thảy đều trong đó‘’:
Tức là năm đường chúng sinh (cõi trời, cõi
người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh), ở trong
nhà lửa tam giới nầy.
‘’Chim si hưu, điêu, thứu‘’: Chim si hưu là
chim bất hiếu, mới sinh ra thì ăn thịt mẹ
của chúng. Chim mẹ bị con ăn, đó là vì quả
báo, vì nó đời trước bất hiếu với cha mẹ,
cho nên đời nầy bị con ăn thịt. ‘’Chim si‘’
dùng chuộc làm thức ăn. Người Tàu cho rằng
thấy được loài chim nầy, là điềm chẳng cát
tường, chim nầy cũng gọi là mèo đầu ưng, do
đó có câu: ‘’Mèo hoang vào nhà, thì chẳng
việc gì mà không xảy đến‘’. Cho nên ai ai
cũng đều ghét loài chim nầy. Con người nếu
tự tôn tự đại, ở nhà bất hiếu với cha mẹ,
thì quả báu sẽ đầu thai làm chim si hưu.
‘’Ðiêu thứu‘’ : Ðều dùng động vật chết làm
thức ăn, những loài chim nầy lúc sinh tiền
làm người, thì háo cao vụ viễn, chẳng có
việc gì thành tựu, chẳng cống hiến gì cho
đời, vì họ háo cao vụ viễn nên đầu thai làm
phi cầm.
‘’Chim si, hưu, điêu, thứu, quạ, thước, cưu,
cáp’’: Hết thảy tám loài chim nầy, dụ cho
mạn trong năm độn sử : Tham, sân, si, mạn,
nghi, những loài chim nầy, kiếp trước làm
người thì cậy thế hiếp người, hoặc cậy tiền
của, hoặc cậy tài cán, hoặc cậy trí huệ, coi
mình cao siêu mà khinh khi người khác.
‘’Ðiêu‘’ là một thứ chim thân hình to, hay
bay rất cao, mỏ màu đỏ, dùng động vật nhỏ
như thỏ, gà, làm thức ăn. ‘’Thứu‘’ thân màu
vàng, thường ăn vật hũ nát như động vật đã
chết sình. ‘’Quạ‘’ là quạ đen là chim hiếu
nhưng tính kiêu ngạo. ‘’Thước‘’ là chim
khách, thân nửa trắng nửa đen. Người Tàu cho
rằng chim khách là chim cát tường, gặp chim
khách bay đến, tức là có điềm cát tường, có
tin vui, cho nên ai ai cũng đều thích chim
nầy. ‘’Cưu‘’ loài chim nầy chẳng ăn trùng mà
ăn lương thực. ‘’Cáp‘’ tự cho mình là đẹp
nhất, tính đa tình. Tám loài chim ở trên là
dụ cho cống cao ngã mạn. Có tám thứ kiêu
ngạo :
1. ‘’Si‘’ dụ cho ỷ
mạnh kiêu ngạo.
2. ‘’Hưu‘’ dụ cho tính kiêu ngạo, lúc làm
người thì cậy mình sinh vào gia đình sang
trọng.
3. ‘’Ðiêu‘’ dụ cho giàu kiêu ngạo, tự cho rằng
mình giàu hơn người khác.
4. ‘’Thướu’’ dụ cho tự tại kiêu ngạo, cảm thấy
mình vô câu vô thúc, vô quái vô ngại, cứ ăn
vật hư hoại, mà tự cho rằng đó là tu khổ
hạnh, cảm thấy rất tự tại, kì thật chỉ là
khổ hạnh vô ích mà thôi.
5. ‘’Quạ‘’ dụ cho thọ mạng kiêu ngạo, tuy thọ
mạng chẳng dài lắm, song tự cảm thấy thọ lâu
dài, cho nên có thọ mạng kiêu ngạo.
6. ‘’Thước‘’ dụ cho thông minh kiêu ngạo.
7. ‘’Cưu‘’ dụ cho làm thiện kiêu ngạo, lấy sự
ăn chay mà tự kiêu ngạo.
8. ‘’Cáp‘’ dụ cho sắc đẹp kiêu ngạo.
Tám thứ kiêu ngạo ở trên, dụ cho mạn sử trong
năm độn sử, tức là thường có tâm ngã mạn, tự
cho mình hơn bất cứ ai.
‘’Ngoan, xà, phúc, hiết, ngô công, du diên‘’:
‘’Ngoan’’ là rắn đen rất độc. ‘’Xà‘’ độc khí
rất lợi hại. ‘’Phúc‘’ thân rộng ba tấc, dài
từ ba đến bốn tất, hình như con nhện, đầu
như ngón tay cái của người, cũng là một thứ
rắn độc. ‘’Hiết‘’ cũng là một loài trùng có
nọc độc. ‘’Ngô công‘’ đầu màu đỏ, đầu chẳng
phải màu đỏ tức là ‘’du diên ‘’ là loài
trùng rất độc. ‘’Ngoan, xà, phúc, hiết, ngô
công, du diên‘’ đều dụ cho ‘’sân‘’ ở trong
năm độn sử, sân rất độc, cho nên không nên
có tâm sân hận.
‘’Thủ cung, bá túc‘’: ‘’Thủ cung’’ tức là ‘’hà
diên’’, ở trong tường vách gọi là ‘’thủ
cung’’, ở dưới biển gọi là ‘’hà diên’’.
Truyền thuyết thời xưa của Tàu, hoàng đế
nhốt phi tần vì bất trung với vua, có hành
vi chẳng tốt, thì dùng máu của loài ‘’thủ
cung’’ bôi lên cánh tay của phi tần, nếu phi
tần hạnh trong sạch, thì máu chẳng mất đi,
cho nên thứ trùng nầy gọi là ‘’thủ cung’’.
‘’Bá túc’’ là loài rếp, có rất nhiều chân
dài đến ba bốn tất, màu đen rất độc.
‘’Dứu, ly, hề thử‘’: ‘’Dứu’’ là một thứ động
vật thân dài ba thước, nếu gặp chó hoang tập
kích, thì thân phóng ra mùi thối để thoát
thân, khỏi bị chó cắn. Thứ động vật nầy có
cái đuôi lớn, người thường dùng lông đuôi
của nó để làm bút lông.
Trung Quốc có hồ tiên và
huỳnh tiên, ‘’dứu’’ là huỳnh tiên, thân màu
vàng, sống lâu khoảng một ngàn năm, thân
biến thành màu đen là đã sống đến một vạn
năm, thân mà biến thành màu trắng thì thành
tiên. Sống khoảng một trăm năm thì sẽ có
thần thông. ‘’Ly’’ là một thứ mèo hoang,
chuyên bắt gà vịt để ăn. ‘’Hề thử’’ còn gọi
là cam khẩu hề, là một loài chuột. Mấy loài
động vật ở trên là dụ cho ‘’si‘’ ở trong năm
độn sử. ‘’Thủ cung, bá túc’’ là loài chẳng
có trí tuệ, dụ cho độc đầu vô minh. ‘’Dứu,
ly, hề thử‘’ dụ cho tương ưng vô minh.
‘’Các loài độc trùng dữ, đuổi nhau chạy ngang
dọc‘’: Mấy loài độc trùng vừa nói ở trên, là
dụ cho độc đầu vô minh và tương ưng vô minh,
là ác tướng ở trong tam giới, đó đây đuổi
nhau chạy ngang chạy dọc.
‘’Ðại tiểu tiện hôi thối, chảy đầy đồ bất
tịnh‘’: Dụ cho con người bề ngoài trang điểm
đẹp đẽ, nhưng thân thể bên trong rất bẩn
thỉu hôi thối, nhưng con người vẫn ngu si
chấp trước túi da hôi thối nầy, xem là của
báu. Ðộc trùng ở trên là dụ cho sự ngu si
của con người. Con người ở chỗ bất tịnh,
tham trước đồ bất tịnh mà chẳng biết, mà
những vật bất tịnh nầy chảy đầy dẫy khắp
nơi.
‘’Các độc trùng khương lương, bu đậu ở trên
đó‘’: ‘’Khương lương’’ là loại bọ hung sống
ở trong phân bò, nó vẫn vui vẻ tự đắc, thậm
chí dùng phân để cúng Phật, nhưng vì thành
tâm, nên Phật cũng từ bi nạp thọ. Vì nó hay
cúng Phật, nên đời sau được chuyển làm thân
người, nhưng đời trước nghiệp chướng quá
nặng, dù được sinh làm người, nhưng bị điết,
câm, ngu si, hạ liệt. Loài bọ hung sống ở
trong đống phân, nếu bạn muốn nó di chuyển
đến hũ dầu thơm, thì nó chẳng thể thích ứng
mà chết. Chúng ta là người học Phật pháp,
phải học đạo lý chân chánh, đừng giống như
loài bọ hung, sống ở trong đống phân, vẫn
chẳng biết tỉnh giác.
‘’Cáo sói và dã can‘’: ‘’Cáo’’ tức là hồ ly,
hồ ly tinh khiến cho con người ý loạn tình
mê. Người Tàu thường dùng hồ ly tinh, dụ cho
phụ nữ bại hoại, thường dụ hoặc đàn ông.
Thiên tính của hồ ly đa nghi. Trời mùa đông
nước đóng thành băng, hồ ly đi trên băng,
mỗi bước đều lóng nghe, nếu chẳng có tiếng
động gì, thì băng đóng dày chắt, có thể đi
được, cho nên nói hồ ly đa nghi. ‘’Sói’’
tính hung ác, tướng mạo như chó. Khi tôi ở
núi Không Thanh tại Nam Kinh, thì một đêm
nọ, từ Long đầm trên đường về gặp một bầy
sói, chúng đi cạnh bên tôi, nhưng chẳng tập
kích tôi, tôi bèn vì chúng mà thọ quy y, cho
nên trong số đệ tử của tôi, cũng có hơn hai
mươi con sói làm đệ tử. ‘’Dã can’’ là tạp
giống của hồ ly, hồ ly đã thông minh, mà dã
can còn thông minh hơn hồ ly, chúng ở vùng
ven núi, hoặc khu rừng cây cao, chúng thường
phát ra tiếng rất đặc biệt quái lạ, khiến
cho người nghe phải khiếp vía, và những thú
khác chẳng dám đến gần.
‘’Liếm nhai dày đạp lên‘’: Có thức ăn ít, thì
từ từ liếm nhai, còn nếu có thức ăn nhiều,
thì chẳng biết tiếc mà dày đạp lên.
‘’Cắn xé những thây chết, xương thịt bừa bãi
ra‘’: Dùng tay xé xác chết ra ăn, vứt bỏ bừa
bãi. ‘’Do đó các bầy chó, tranh nhau đến
giành ăn‘’: Bầy chó cũng đến tranh ăn xương
thịt, chẳng nhường nhịn nhau.
‘’Ốm đói rất sợ sệt‘’: Chẳng hiểu Phật pháp là
đói, pháp thân chẳng viên mãn là ốm, một số
người chưa nghe Phật pháp, đều có thể gọi là
ốm đói.
‘’Khắp nơi tìm thức ăn‘’: Bầy chó cùng nhau
tranh giành xương thịt, dụ cho tham trong
năm độn sử.
‘’Giành giựt cấu sé nhau’’: Phát ra lời lẽ
tranh cãi thị phi.
‘’Gầm gừ gào sủa rên‘’: Trợn mắt mà nhìn là
gừ, há mồm nhe răng ra để thị uy là gầm, kêu
lớn tiếng là gào sủa, những thứ nầy dụ cho
nghi trong năm độn sử .
‘’Nhà đó rất đáng sợ, những cảnh trạng như
thế‘’: Trong nhà năm uẩn cảnh trạng rất đáng
sợ.
Từ khi bắt đầu bài kệ đến đây, là nói về năm
độn sử : Tham, sân, si, mạn, nghi, những thứ
nầy chi phối, khiến cho con người điên đảo
thị phi, khó mà tự cứu. Cho nên tu đạo phải
trừ khử năm độn sử nầy.
‘’Khắp nơi thảy đều có, quỷ lị mị vọng lượng,
Dạ xoa các ác quỷ, ăn nuốt cả thịt người‘’:
‘’Khắp nơi’’ là nói tam giới : Dục giới, sắc
giới và vô sắc giới, cũng có thể nói là thân
của con người. Ba cõi đều đầy dẫy Dạ xoa, ác
quỷ, lị, mị, vọng lượng, hoặc trong năm dục
đầy dẫy sắc thọ tưởng hành thức, hoặc bốn đế
đều đầy dẫy lị mị vọng lượng. ‘’Lị’’ là sơn
tinh, là quỷ quái ở trong núi. ‘’Mị’’ là yêu
quái cứ làm việc quái đảng ở trong nhà, tức
quỷ mị. ‘’Vọng lượng’’ là tinh quái do cây,
hoặc đá hóa thành, ngón tay của con người
chảy máu nhỏ lên đá, thì đá mượn tinh khí
của con người mà biến thành tinh quái.
‘’Vọng lượng’’ là to lớn như núi cao, ban
đêm mới xuất hiện, đến khi gà gáy quấy nhiễu
mới ẩn mất. Lị mị là quỷ nhỏ bé cao khoảng
ba thước, rất nhỏ so với vọng lượng, quỷ
Vọng lượng cao ba bốn trượng cho đến ba bốn
mươi trượng. ‘’Lị, Mị, Vọng lượng, Dạ xoa,
ác quỷ‘’ đều dụ cho năm lợi sử, năm lợi sử
khiến cho con người điên đảo, chấp trước làm
việc hồ đồ :
1. Thân kiến: Chấp
trước thân thể của mình, chú trọng trang
điểm túi da hôi thúi nầy, nhận lầm thân giả
nầy làm ‘’chân ngã’’. Kì thật, thường trụ
chân tâm, tính tịnh minh thể mới là ‘’chân
ngã‘’, tức tánh Như Lai tạng, cũng đều là
chân ngã. Chân ngã thì chẳng sinh chẳng
diệt, chẳng sạch chẳng dơ, chẳng tăng chẳng
giảm. Người tu hành nên nhớ đừng nhận giả
làm chân, phải trừ khử ‘’thân kiến’’, nhìn
thấu buông xả.
2. Biên kiến : Chấp
đoạn, chấp thường, đây là tri kiến của ngoại
đạo, hoặc cho rằng người chết như đèn tắt,
bác vô nhân quả, hoặc cho rằng người như cây
cỏ, sinh thì tự sinh, chết thì tự chết, tức
là đoạn kiến. Thường kiến là sinh thì làm
người, đời đời kiếp kiếp đều làm người, sinh
rồi chết, chết rồi lại sinh làm người.
‘’Biên’’ tức chẳng hợp với trung đạo, cường
từ đoạt lý.
3. Giới cấm thủ
kiến : Là một thứ giới luật của ngoại đạo
tu, chẳng phải nhân cho là nhân, chẳng phải
quả cho là quả, họ dối gạt tu khổ hạnh vô
ích, thì có thể được Niết Bàn. Kì thật, là
có những bàng môn tả đạo, vì khổ hạnh mà
được thiên nhãn thông, thấy súc sinh được
sinh về cõi trời, bèn học theo sinh sống tập
quán của loài súc sinh, tu hành những pháp
môn, ví như : Giới bò, họ cho rằng : Sở dĩ
bò được sinh về cõi trời, đều vì dùng cỏ làm
thức ăn, cho rằng ăn cỏ là trai giới trong
sạch nhất, cho nên giữ giới bò, cũng dùng cỏ
làm thức ăn. Kẻ giữ giới chó, thì cho rằng
chó vì người trông giữ cửa, thì có công lao,
cho nên hành động và làm theo như chó. Ðó là
những giới bò, giới chó, của ngoại đạo. Vì
tu những khổ hạnh vô ích như vậy, cũng có
thể sinh về cõi trời, tức trong Kinh Pháp
Hoa có nói : ‘’Ly địa nhất xích nhị xích’’.
Ly địa nhất xích, tức sinh về cõi dục giới,
ly địa nhị xích, thì sinh về cõi sắc giới.
Ðó là giới tu của ngoại đạo, song có sự chấp
trước, chẳng phải tịnh giới vô lậu của nhà
Phật. Còn có một thứ ngoại đạo, lấy heo làm
mô phạm, nằm trên đất, dùng tro bôi khắp
thân thể, dạy người chẳng nhận ra mặt mũi
của họ. Còn có một thứ ngoại đạo, ngủ ở trên
giường đinh, cho rằng bị đinh đâm lủng da
cũng chẳng sợ, là sự khổ hành khó hành. Còn
có một thứ khổ hạnh, dùng dây thừng treo
ngược thân thể mà ngủ. Còn có một thứ khổ
hạnh, dùng bùn đất làm thức ăn, cho rằng đó
mới là sinh sống thiên nhiên. Ðó đều là giới
cấm thủ, thực hành những khổ hạnh vô ích.
4. Tà kiến : Là tri
kiến ngược lại với chánh đạo. Ví như người
tu đạo, nên hiếu thuận với cha mẹ, nhưng
người tà kiến cho rằng : Sinh dưỡng con cái
là bổn phận của cha mẹ, cho nên chẳng hiếu
thuận với cha mẹ. Chánh đạo chủ trương chẳng
sát sinh, còn họ thì cổ lệ sát sinh. Trộm
cắp thì chẳng hợp pháp, nhưng họ dạy người
đi trộm cắp. Tà dâm là hành vi bất chánh,
nhưng họ dạy người tà dâm. Người không nên
nói láo, nhưng họ dạy người nói dối. Người
tà kiến thì phản đối việc ăn chay, cho rằng
ngựa, bò, dê, các loài súc sinh là trời sinh
ra cho con người ăn thịt, hà tất làm hại vật
của trời ! Nói tóm lại, kẻ tà kiến thì tất
cả tri kiến đều ngược lại với chánh đạo.
5. Kiến thủ kiến :
Thấy vật bên ngoài thì sinh tâm ích kỉ, muốn
chiếm làm của riêng mình. Năm lợi sử ở trên
che lấp trí huệ chân chánh của con người.
Cho nên người học Phật, phải dùng kiếm trí huệ
chặt đứt năm lợi sử, mới có thể vượt ra ba
cõi. Ðó là nói sơ lược về năm lợi sử, nếu
nói tỉ mỉ thì nói chẳng hết được.
Vì sao bò, chó, heo, gà, các loài súc sinh có
thể sinh về cõi trời ? Vì bò cày ruộng, làm
việc cho chủ, nên có công, cho nên có thể
sinh về cõi trời. Chó trung thành với chủ,
cứu chủ lập công, cho nên có thể sinh về cõi
trời, mà chẳng biết rõ nhân duyên chúng được
sinh về trời, hiểu lầm sự sinh về trời, nên
học hành vi tập quán hằng ngày của chúng.
Người tu đạo phải có mắt chọn pháp, biết rõ
thị phi, lựa thiện mà theo.
‘’Dạ xoa các ác quỷ’’: Dụ cho tà kiến của năm
lợi sử, như Dạ xoa ác quỷ hành sự ở trong
bóng tối. ‘’Thịt người’’ dụ cho thiện báo,
người làm lành thì được thiện báo.
‘’Nuốt cả thịt người’’ dụ cho kẻ tà kiến bác
nhân quả, dẫn dắt kẻ khác làm những việc bại
hoại.
‘’Các loài trùng dữ độc, các cầm thú hung
ác’’. Tức ở trên đã nói những loài trùng độc
và cầm thú.
‘’Ấp cho bú sản sinh’’: ‘’Ấp’’ trứng do ấp mà
sinh, ‘’bú’’ là thai sinh, ‘’đều tự giấu gìn
giữ‘’: Dụ cho nhân quả thế gian chẳng mất
đi.
Quỷ Dạ xoa đua đến
Tranh giành lấy món ăn
Ăn xong no nê rồi
Tâm ác nổi hăng lên.
Tiếng chúng đánh cãi nhau
Thật rất là hãi hùng
Loài quỷ Cưu bàn trà
Ngồi xổm trên đống đất.
Hoặc có lúc hỏng đất
Một thước hoặc hai thước
Dạo đi qua đi lại
Buông lung chơi đùa giỡn.
Cầm nắm hai chân chó
Ðánh cho la thất thanh
Lấy chân đạp trên cổ
Khủng bố chó để vui.
‘’Quỷ Dạ xoa đua đến, tranh giành lấy món
ăn‘’: Dạ xoa là một loài quỷ hành động rất
nhanh nhẹn, cùng nhau tranh giành lấy thức
ăn, vì thức ăn thì ít, mà quỷ Dạ xoa thì
nhiều, chẳng đủ phân chia, cho nên chúng
tranh giành lấy thức ăn. Dụ cho bác vô nhân
quả.
‘’Ăn xong no nê rồi‘’: Dụ cho tà kiến thành
tựu.
‘’Tâm ác nổi hăng lên‘’: Dụ cho tà kiến tăng
trưởng.
‘’Tiếng chúng đánh cãi nhau, thật rất là hãi
hùng‘’: Do đó có câu :
‘’Tranh là tâm hơn thua,
Trái ngược lại với đạo,
Tâm sinh ra bốn tướng,
Sao đắc được tam muội‘’.
Tranh là tâm hơn thua, trái ngược với đạo,
khởi tâm tranh thì sinh ra : Tướng người,
tướng ta, tướng chúng sinh và tướng thọ
mạng. Sinh ra bốn tướng nầy, làm sao được
tam muội ? Dụ cho tà luận bác vô nhân quả,
thật là đáng sợ. Lại dụ cho một số người
nghe tà luận, bị mê hoặc mà tạo nghiệp, đọa
vào ba đường ác, rất khó ra được.
‘’Loài quỷ Cưu bàn trà‘’: Hình như quả dưa,
chẳng có tay, chẳng có chân, gọi là quỷ yểm
mị, thường đè trên người khi họ ngủ, khiến
cho họ nghẹt thở, thậm chí có thể làm cho
người chết. Dụ cho giới cấm thủ kiến trong
năm lợi sử.
‘’Ngồi xổm trên đống đất‘’: Dụ cho sáu cõi
trời dục giới. Ngoại đạo giữ giới bò, chó,
gà, heo, y theo giới tu mười điều thiện, thì
được sinh về sáu cõi trời dục giới (Tứ Thiên
Vương, Trời Ðao Lợi, Trời Dạ Ma, Trời Ðâu
Xuất, Trời Hóa Lạc, Trời Tha Hóa Tự Tại).
‘’Hoặc có lúc hỏng đất, một thước hoặc hai
thước‘’: ‘’Hoặc’’ nghĩa là chẳng quyết định.
Ngoại đạo y theo giới tu hành đắc được tứ
thiền, sinh về cõi trời sắc giới tức ‘’hỏng
đất một thước’’, y theo giới tu tứ không
định, được sinh về cõi trời vô sắc giới, tức
‘’hỏng đất hai thước’’.
‘’Dạo đi qua đi lại‘’: ‘’Ði’’ dụ cho sinh về
cõi sắc giới, vô sắc giới. ‘’Qua lại’’ dụ
cho sinh về cõi dục giới. Dụ cho con người
như hạt bụi, lúc cao lúc thấp, lúc lên lúc
xuống, ở trong nhà lửa tam giới, tạo nghiệp
thiện thì được sinh về cõi trời; tạo nghiệp
ác thì đọa địa ngục, làm ngạ quỷ, hoặc súc
sinh. Con người do nghiệp dẫn dắt.
‘’Buông lung chơi đùa giỡn‘’: Dụ cho người
chẳng minh bạch chân lý, thì chẳng đắc được
sự vui cứu kính, những gì có được, đều là
khoái lạc giả, chẳng thật.
‘’Cầm nắm hai chân chó, đánh cho la thất
thanh‘’: Quỷ Dạ xoa cầm hai chân chó, đánh
và ném đi nơi xa. Dụ cho ngoại đạo vọng
tưởng, tu khổ hạnh để mong thành tựu đạo
nghiệp. Thật ra, giữ giới bò, giới chó, giới
heo, đều là khổ hạnh vô ích, khổ hạnh ngoại
đạo chẳng phải nhân cho là nhân.
‘’Lấy chân đạp trên cổ‘’: Dụ cho ngoại đạo
chẳng phải quả cho là quả. Cho rằng hành khổ
hạnh, thì có thể được khoái lạc Niết Bàn.
‘’Khủng bố chó để vui‘’: Quỷ Dạ xoa làm cho
chó kinh hãi sủa bậy để làm vui thích. Dụ
cho được vị thiền, chứng đắc Ly hỉ diệu lạc
địa (sơ thiền).
Lại có các loài quỷ
Thân chúng dài to lớn
Trần truồng rất xấu đen
Thường ở luôn trong đó.
Phát ra tiếng hung ác
Kêu la tìm thức ăn
Lại có các loài quỷ
Cổ chúng nhỏ như kim.
Lại có các loài quỷ
Ðầu chúng như đầu trâu
Hoặc là ăn thịt người
Hoặc lại ăn thịt chó.
Ðầu tóc rối tung lên
Tàn ác rất hung hiểm
Bị đói khát bức bách
Kêu la chạy đuổi theo.
‘’Lại có các loài quỷ‘’: Ngoại trừ quỷ Dạ xoa
ra, còn có các loài quỷ khác. ‘’Thân chúng
dài to lớn, trần truồng rất đen xấu, thường
ở luôn trong đó’’: Dụ cho thân kiến trong
năm lợi sử. Thân của chúng đầy dẫy trong tam
giới, cho nên nói là ‘’dài’’, khắp đầy năm
ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) cho nên nói
là ‘’to lớn’’.
Tự giác mãn túc, chẳng hổ thẹn, chẳng tu pháp
lành, cho nên gọi là ‘’trần truồng’’. Vì tội
ác khắp mình, cho nên gọi là ‘’đen’’. Chẳng
có đức hạnh nên gọi là ‘’xấu’’. ‘’Thường ở
luôn trong đó’’: Thường ở trong ba cõi chẳng
cầu thoát ra. ‘’Phát ra tiếng hung ác’’: Dụ
cho kẻ ngoại đạo tu chấp nặng tướng ta, tu
đủ thứ khổ hạnh. ‘’Kêu la tìm thức ăn’’: Dụ
cho ngoại đạo vọng tưởng chấp trước cái ta
mà được Niết Bàn.
‘’Lại có các loài quỷ, cổ chúng nhỏ như kim’’:
Có loài quỷ bụng to như trống, cổ nhỏ như
kim, dụ cho ‘’kiến thủ ’’ trong năm lợi sử,
nhận lầm rằng cảnh giới Trời Phi Phi Tưởng
Xứ là Niết Bàn. Trời Phi Phi Tưởng Xứ sống
lâu đến tám vạn đại kiếp, hết tuổi thọ thì
sẽ đọa lạc.
‘’Lại có các loài quỷ, đầu chúng như đầu
trâu’’: Dụ cho biên kiến.
‘’Hoặc là ăn thịt người’’: ‘’Thịt người’’ dụ
cho căn lành, dụ cho đoạn kiến, thường kiến,
dứt căn lành xuất thế.
‘’Hoặc lại ăn thịt chó’’: Dụ cho dứt căn lành
thế gian.
Căn lành xuất thế là gì ? Là siêng tu giới
định huệ, tức diệt tham sân si, đầy đủ bốn
đế, mười hai nhân duyên, lục độ vạn hạnh,
hết thảy các công đức, đó là căn lành xuất
thế. Căn lành thế gian là giữ năm giới. Thực
hành mười điều lành : Không giết hại, không
trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không
uống rượu, đó là năm giới; chẳng sát sinh,
chẳng trộm cắp, chẳng tà dâm, không tham,
không sân, không si, không nói lời thêu dệt,
không nói dối, không chưởi mắng, không nói
hai chiều, đó là mười điều lành. Người có
đoạn kiến, thường kiến, thì sẽ dứt mất căn
lành thế gian và xuất thế gian.
‘’Ðầu tóc rối tung lên’’: Dụ cho ngoại đạo.
‘’Chẳng thường mà nói thường’’ : Cho rằng
sinh làm thần thì vĩnh viễn là thần; sinh
làm người thì vĩnh viễn là người; sinh làm
súc sinh thì vĩnh viễn chẳng thay đổi. Ngoại
đạo cũng có lý luận sai lầm, một khi chết
thì vĩnh viễn diệt hẳn. Những lý luận nầy
hoàn toàn sai lầm, chẳng hợp với trung đạo,
mâu thuẫn lẫn nhau cho nên nói ‘’đầu tóc rối
tung lên’’.
‘’Tàn ác rất hung hiểm‘’: Dụ cho thường kiến,
phá chân lý vô thường, còn đoạn kiến thì phá
chân lý nhân duyên.
‘’Bị đói khác bức bách, kêu la chạy đuổi
theo‘’: ‘’Đói khác’’ là đói khác trí huệ,
người tu đạo phải có thức ăn trí huệ và uống
thiền định; chẳng nghe Kinh thì chẳng có
thức ăn trí huệ; chẳng ngồi thiền thì chẳng
uống thiền định, cho nên nói ‘’bị đói khác
bức bách’’. ‘’Kêu la’’ dụ cho diễn xướng tà
luận đoạn kiến, ‘’chạy đuổi theo’’ dụ cho
sinh tử không ngừng, ở trong sáu nẻo luân
hồi.
Dạ xoa cùng quỷ đói
Các chim muôn ác độc
Ðói quá chạy bốn bề
Rình xem các cửa sổ.
Các nạn như vậy đó !
Vô lượng việc ghê sợ
Vì nhà hư mục đó
Thuộc về nơi một người.
Người đó vừa ra khỏi
Thời gian chưa bao lâu
Về sau ngôi nhà đó
Lửa bổng nhiên nổi lên.
‘’Dạ xoa cùng quỷ đói, các chim muôn ác độc‘’:
Dụ cho phiền não năm lợi sử và năm độc sử
trong dục giới. Chúng sanh dục giới đều là
hữu lậu, nên chẳng biết tu đạo, càng không
thể được từ vị thiền duyệt.
‘’Ðói quá chạy bốn bề‘’: Dụ cho ngoại đạo tu
tà quán, chẳng biết lĩnh ngộ được chân lý,
mà họ ngưỡng mộ đạo quả và thiền vị.
‘’Rình xem các cửa sổ, các nạn như vậy đó, vô
lượng việc ghê sợ’’: Các nạn như thế, thật
là đáng hãi hùng.
‘’Vì nhà hư mục đó‘’: Dụ cho ba cõi vô thủy cố
hữu chẳng an ổn.
‘’Thuộc về nơi một người’’: Phật dùng ứng thân
vào ba cõi giáo hóa chúng sinh. Từ khi Phật
phát tâm cho đến khi thành Phật, trải qua ba
đại A Tăng kỳ kiếp, Ngài phát vô lượng vô
biên thệ nguyện: Nguyện độ tất cả chúng sinh
liễu sinh thoát tử. Cho nên, chúng ta là
Phật giáo đồ, nên phát vô lượng vô biên đại
thệ nguyện, độ tất cả chúng sinh. Phật giáo
đồ nên độ cha mẹ tin Phật, nếu độ được cha
mẹ tin chân lý, thì mới là hiếu thuận chân
chánh, sau đó độ anh chị em hiểu rõ chân lý,
xa lìa tà tri kiến. Ðức Phật thành Phật rồi,
còn phải đến cung trời Ðao Lợi vì mẹ mà nói
Kinh Ðịa Tạng, đủ thấy đức Phật thành Phật
rồi, vẫn không quên độ mẹ của Ngài.
‘’Người đó vừa ra khỏi, thời gian chưa bao
lâu, sau đó ngôi nhà đó, lửa bỗng nhiên nổi
lên’’: Ðức Phật giáo hóa tất cả chúng sinh,
khiến cho tất cả chúng sinh hàng phục được
năm trược, hoàn thành tất cả nghiệp hoặc,
Phật mới vào Niết Bàn. Phật vào Niết Bàn
rồi, thì tất cả chúng sinh năm trược lại
hiện. Cũng có thể dụ cho chúng sinh được
Phật giáo hóa, đã được vô minh pháp nhẫn, do
đó có câu:
‘’Các lậu đã sạch,
Phạm hạnh đã vững,
Việc làm đã xong,
Chẳng còn sinh tử ‘’.
Chẳng còn sinh vào ba cõi nữa, nên nói là ‘’ra
khỏi’’. Tuy Phật đã thành Phật, ra khỏi ba
cõi nhưng Phật vẫn nương thuyền từ bi trở
lại thế giới nầy, để giáo hóa chúng sinh.
‘’Về sau ngôi nhà đó, lửa bỗng nhiên nổi
lên‘’: ‘’Nhà’’ dụ cho năm uẩn: Sắc, thọ,
tưởng, hành, thức, lửa năm uẩn thiêu hủy ba
cõi.
Bốn phía cùng một lúc
Lửa ngọn cháy hừng hực
Mái nóc và cột kèo
Tiếng nổ vang lách tách.
Ðổ gãy rơi rớt xuống
Tường vách đều sụp đổ.
‘’Bốn phía’’ dụ cho bốn niệm xứ. Sau khi Phật
vào Niết Bàn, thì tất cả người tu đạo, Tỳ
Kheo Tỳ Kheo Ni, đều y theo bốn niệm xứ mà
trụ. Bốn niệm xứ: Thân niệm xứ, thọ niệm xứ,
tâm niệm xứ, và pháp niệm xứ.
1. Quán thân bất tịnh : Quán thân, thọ, tâm,
pháp, đều bất tịnh.
2. Quán thọ là khổ : Quán thân, thọ, tâm,
pháp, đều khổ.
3. Quán tâm vô thường : Tâm niệm luôn thay
đổi, nên gọi là vô thường, quán thân, thọ,
tâm, pháp, đều vô thường.
4. Quán pháp vô ngã : Quán thân, thọ, tâm,
pháp, đều chẳng có cái ta. Tu bốn niệm xứ
trước hết tu :
1. Quán bất tịnh, để phá trừ chấp cái ta, mượn
cái giả tu cái thật.
2. Quán thọ là khổ, có ba sự khổ, tám sự khổ
và vô lượng sự khổ.
3. Quán tâm vô thường.
4. Quán pháp chẳng có ngã. ‘’Cùng một lúc’’ dụ
cho năm trược, tám sự khổ, bốn điên đảo,
cùng một lúc sinh ra. Bốn điên đảo là bốn sự
thấy điên đảo của ngoại đạo : Chẳng thường
nói là thường, chẳng vui nói là vui, chẳng
phải ngã nói là ngã (cái ta), chẳng tịnh nói
là tịnh (thường, lạc, ngã, tịnh bốn đức Niết
Bàn).
‘’Lửa ngọn cháy hừng hực‘’: Bốn điên đảo, năm
trược, tám khổ cùng nhau tương trợ, cho nên
nói là lửa ngọn cháy hừng hực.
‘’Nóc mài và cột kèo‘’: Dụ cho xương cốt chi
trì thân thể.
‘’Tiếng nổ vang lách tách‘’: Mạng sống mà hết
là ‘’nổ’’, dụ cho mạng sống chấm dứt.
‘’Ðổ gãy rơi rớt xuống, tường vách đều sụp
đổ‘’: Hơi thở chấm dứt là ‘’đổ gãy’’, dụ cho
lúc lâm chung thì bốn đại giải tán, đất,
nước, gió, lửa đều trở về bổn thể của nó.
Các loài quỷ thần thảy
Ðều lớn tiếng kêu to.
Các loài chim điêu thứu
Cùng quỷ Cưu bàn trà
Hoảng sợ chạy tán loạn
Vẫn chẳng chạy ra được.
Thú dữ và trùng độc
Ẩn núp trong hang lỗ
Loài quỷ Tỳ xá xà
Cũng đều ở trong đó.
Vì phước mỏng đức ít
Nên bị lửa bức bách
Lại tàn hại lẫn nhau
Uống máu và ăn thịt.
‘’Các loài quỷ thần thảy‘’: Dụ cho năm độn sử
và năm lợi sử.
‘’Ðều lớn tiếng kêu to‘’: Các loài quỷ thần
thấy căn nhà bỗng nhiên nổi lửa, tường ngã
nhà sập, nên hoảng hốt kêu to.
‘’Các loài chim điêu, thứu, cùng quỷ Cưu bàn
trà, hoảng sợ chạy tán loạn, vẫn chẳng tự ra
được‘’: Dụ cho ba cõi chẳng dễ gì thoát ra,
phải nhờ sự giúp đỡ của Phật Pháp Tăng mới
ra được.
‘’Thú dữ và trùng độc, ẩn núp trong hang lỗ‘’:
‘’Hang lỗ’’ dụ cho sắc giới.
‘’Loài quỷ Tỳ Xá Xà, cũng đều ở trong đó‘’:
Quỷ ăn tinh khí cũng ở trong cõi sắc giới.
‘’Vì phước mỏng đức ít, nên bị lửa bức bách‘’:
Vì phước đức mỏng cạn, cho nên thường nóng
giận. Người thường nóng giận là do đức hạnh
chẳng đủ, nóng giận như bị lửa thiêu. Dụ cho
ba cõi chẳng yên, bị bốn điên đảo, tám sự
khổ bức bách.
‘’Lại tàn hại lẫn nhau‘’: Trong cõi sắc giới
nhàm chán cõi thấp, thích cõi cao hơn, ví
như ở cõi sắc giới thì nhàm chán cõi dục
giới, thích sinh về cõi vô sắc; người ở cõi
trên thì chẳng thích cõi dưới, cho nên ‘’Lại
tàn hại lẫn nhau’’.
‘’Uống máu và ăn thịt‘’: ‘’Uống máu’’ dụ cho
chúng sinh cõi sắc, và cõi vô sắc mặc nhiên
chấp trước, chẳng nói năng với nhau. ‘’Ăn
thịt’’ dụ cho chúng sinh cõi sắc, và cõi vô
sắc chấp trước công đức.
Những loài thú dã can
Thảy đều đã chết trước
Các loài thú dữ lớn
Giành nhau đến ăn nuốt.
Mùi tanh loan khắp nơi
Ðầy dẫy cả bốn bề
Loài ngô công do diên
Cùng với loài rắn độc.
Ðều bị lửa thiêu đốt
Tranh nhau ra khỏi hang
Loài quỷ Cưu bàn trà
Bèn bắt lấy mà ăn.
‘’Những loài thú dã can, thảy đều đã chết
trước‘’: ‘’Dã can’’ dụ cho lòng tham của dục
giới. Ðã sinh về cõi sắc giới, nên đã lìa
khỏi lòng tham của dục giới.
‘’Các loài thú dữ lớn, tranh nhau đến ăn nuốt,
mùi tanh loan khắp nơi, đầy dẫy cả bốn bề’’:
Các loài thú dữ lớn’’ dụ cho lòng tham ở cõi
sắc giới, có thể nuốt trựng sự tham ở cõi
dục giới, có cảnh giới thiền vị, nên dụ cho
mùi tanh. Cũng cùng chung: Thân, thọ, tâm,
pháp, và bốn đại, nên nói ‘’đầy cả bốn bề’’.
‘’Loài ngô công, do diên, cùng với loài rắn
độc, đều bị lửa thiêu đốt, tranh nhau ra
khỏi hang‘’: Dụ cho cõi vô sác. Cõi vô sắc
cao hơn cõi sắc một tầng, người tu đạo sinh
về cõi vô sắc, thì nhàm chán cõi sắc, vì cõi
sắc còn có hình tướng có thể thấy, chúng
sinh cõi sắc bị hình tướng giới hạn, vẫn còn
tướng thô về sự khổ, ở cõi sắc bị tám sự
khổ, năm uẩn thiêu đốt, cho nên muốn thoát
khỏi cõi sắc, để sinh về cõi vô sắc.
‘’Ðều bị lửa thiêu đốt, tranh nhau ra khỏi
hang‘’: ‘’Hang’’ dụ cho trời sắc giới, ‘’ra
khỏi hang’’ dụ cho trời cõi vô sắc, đến cõi
vô sắc, thì định lực càng tiến thêm một
bước. Ðến cõi trời vô sắc, thì trời cõi sắc
diệt, cho nên dùng ‘’loài quỷ Cưu Bàn Trà,
bèn bắt lấy mà ăn’’ làm dụ.
‘’Loài quỷ Cưu bàn trà‘’ dụ cho gốc năm độn
sử, và năm lợi sử, đều có thể được vô sắc
định, nhưng trong văn nói chấp trước năm độn
sử, nhàm chán trời cõi sắc, mà muốn lên cõi
vô sắc, năm lợi sử đã chứng được vô sắc
giới, cho nên nhàm chán trời cõi sắc, cho
nên nói rằng : ‘’Loài quỷ Cưu Bàn Trà, bèn
bắt lấy mà ăn’’.
Lại có các ngạ quỷ
Trên đầu bị lửa thiêu
Ðói khát nhiệt não hành
Hoảng hốt chạy tán loạn.
Ngạ quỷ bụng to như trống, cổ nhỏ như kim, cho
nên khó mà no nê được. Trên đầu bị lửa thiêu
đốt, đói khát nóng bức hành hạ, nên chạy tán
loạn khắp nơi chẳng có mục đích. ‘’Ngạ quỷ’’
dụ cho Trời Tứ Không Xứ (Trời Không Vô Biên
Xứ, trời Thức Vô Biên Xứ, trời Vô Sở Hữu Xứ,
trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ ).
Trời Tứ
Không tuy đã không, nhưng vẫn có thức, chưa
dứt sinh tử, chưa được vô lậu ẩm thực, như
là loại ngạ quỷ chưa được vô lậu ẩm thực,
tuy ở trên đỉnh ba cõi (cõi dục, cõi sắc,
cõi vô sắc), nhưng vẫn chưa dứt sinh tử, bị
vô thường thiêu đốt, cho nên nói ‘’trên đầu
bị lửa thiêu’’. Trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
sống lâu đến tám vạn đại kiếp, hưởng hết
phước trời thì vẫn phải đọa lạc, bị lửa vô
thường thiêu đốt, chẳng ăn được thức ăn
chánh đạo, nên nói là ‘’đói’’, chẳng uống
được nước từ nhuận trợ đạo, nên nói là
‘’khát’’. Chúng sinh ở cõi trời Tứ Không Xứ,
tuy là cao nhất trong ba cõi, vẫn có tám sự
khổ vi tế bức bách, tám sự khổ vẫn tồn tại ở
trong ruộng bát thức, cho nên nói là
‘’nhiệt’’, vẫn có các hoặc vi tế : Kiến
hoặc, tư hoặc, trần sa hoặc, vô minh hoặc.
Kiến hoặc là thấy cảnh sinh tham ái. Tư hoặc
là mê lý khởi phân biệt. Trần sa hoặc là Bồ
Tát giáo hóa chúng sinh, phải thông đạt các
pháp môn nhiều như hạt cát, hạt bụi, bằng
không tự tại giáo hóa tức là trần sa hoặc.
Vô minh hoặc là chẳng rõ thị phi, nhận giả
làm thật, vì có các hoặc nên nói là ‘’não’’.
Chúng sinh ở cõi Tứ Không Xứ vẫn còn sinh
tử, chẳng muốn thoát ra, nên nói là ‘’Hoảng
hốt chạy tán loạn’’.
Nhà đó là như thế
Thật là rất hãi hùng
Ðộc hại và nạn lửa
Nhiều nạn chẳng phải một.
Lúc đó ông chủ nhà
Ðang đứng ở ngoài cửa
Nghe có người nói rằng :
Các người con của ông.
Trước kia vì dạo chơi
Ðến vào trong nhà nầy
Thơ bé chẳng biết gì
Ham chơi vui đùa giỡn.
Ông trưởng giả nghe rồi
Hoảng sợ vào nhà lửa.
‘’Chủ nhà’’ tức là đức Phật, Phật đang đứng ở
ngoài cửa, nghe có người nói, các người con
của ông, trước kia vì dạo chơi, đến vào
trong nhà đó, thơ bé chẳng biết gì, ham vui
chơi đùa giỡn. Ông trưởng giả nghe rồi,
hoảng sợ vào nhà lửa. Phật đã chứng được
pháp thân, cho nên nói ‘’đang ở ngoài cửa’’.
‘’Ðứng’’ tức là Phật thường tồn tâm đại bi,
muốn cứu chúng sinh, cho nên chẳng trụ tòa
đệ nhất nghĩa không.
‘’Nghe có người nói rằng‘’: Dụ cho tam muội,
Phật được pháp tam muội, quán căn cơ mà bố
thí pháp.
‘’Các người con của ông‘’: Tất cả chúng sinh
trong năm đường. ‘’Trước kia vì dạo chơi,
đến vào trong nhà đó‘’: Tất cả những chúng
sinh nầy, mới phát tâm thì cầu ra khỏi nhà
lửa, nhưng chưa được ba bất thối chuyển (vị,
niệm và hạnh bất thối), vẫn còn kiến hoặc và
tư hoặc. Tất cả chúng sinh tánh vốn thanh
tịnh, vì vô minh vọng tưởng chấp trước mà
tiếp nối sinh tử, cho nên dụ cho ‘’trước kia
vì dạo chơi’’.
‘’Thơ bé chẳng biết gì‘’: Tức tu hành chưa
viên mãn, bị kiến hoặc, tư hoặc, vô minh
hoặc ràng buộc.
‘’Ham vui chơi đùa giỡn‘’: Sinh vào trong ba
cõi chẳng biết ra khỏi, lầm cho rằng thế
giới nầy vui vẻ khoái lạc.
‘’Ông trưởng giả nghe rồi, hoảng sợ vào nhà
lửa‘’: Dụ cho Phật thương xót chúng sinh,
phải vào trong nhà lửa để độ, giáo hoá chúng
sinh.
Dùng phương tiện cứu tế
Khiến con khỏi thiêu hại.
Mà dụ bảo các con
Nói các thứ hoạn nạn
Các quỷ và độc trùng
Nạn lửa cháy lan tràn.
Các sự khổ thứ lớp
Liên tục mãi không dứt
Loài rắn độc ngoan phúc
Và các quỷ Dạ xoa.
Cùng quỷ Cưu bàn trà
Loài dã can, chồn chó
Chim điêu, thứu, xi, hưu
Và loài bá túc thảy.
Ðều đói khát khổ sở
Thật rất là đáng sợ
Ðây là chỗ khổ nạn
Lại còn có lửa lớn
Các người con chẳng biết
Tuy nghe cha dạy bảo.
Vì còn ham vui chơi
Ðùa giỡn mãi không thôi.
‘’Dùng phương tiện cứu tế’’: Lúc bấy giờ, đức
Phật muốn dùng pháp đại thừa cứu độ hết thảy
chúng sinh.
‘’Khiến con khỏi thiêu hại‘’: Muốn cho chúng
sinh khỏi bị lửa năm uẩn thiêu đốt.
‘’Mà dụ bảo các con, nói các thứ hoạn nạn‘’:
Trong nhà lửa đầy dẫy hoạn nạn, cho nên
trong Kinh có nói: ‘’Ba cõi không an, giống
như nhà lửa‘’. ‘’Ác quỷ, độc trùng’’ dụ cho
năm độn sử.
‘’Nạn lửa cháy lan tràn‘’: Lửa năm uẩn cháy
lan tràn khắp nơi, thiêu hủy ba cõi.
‘’Các sự khổ thứ lớp‘’: Các sự khổ liên tục
không dứt.
‘’Loài rắn độc ngoan phúc, và các quỷ dạ xoa,
cùng quỷ cưu bàn trà, loài dã can chồn chó,
chim điêu, si, hưu, và loài bá túc thảy‘’:
Dụ cho năm độn sử và năm lợi sử.
‘’Ðều đói khát khổ sở, thật rất là đáng sợ,
đây là chỗ khổ nạn, lại còn có lửa lớn‘’: Vì
chẳng ăn được thức ăn chánh đạo, chẳng uống
được nước trợ đạo, cho nên bị đói khát,
hoành hành khổ sở, thật rất là đáng sợ. Ba
cõi có đủ thứ quái vật, và còn có lửa lớn
thiêu đốt.
‘’Các người con chẳng biết‘’: Tất cả chúng
sinh chẳng có căn tính đại thừa.
‘’Tuy nghe cha dạy bảo‘’: Tuy thường nghe lời
ông trưởng giả dạy bảo.
‘’Vì còn ham vui chơi, đùa giỡn mãi không
thôi‘’: Vẫn lưu lại ở trong đó đùa giỡn vui
chơi.
Khi đó ông
trưởng giả
Bèn nghĩ như thế nầy:
Các con ta như thế
Làm ta thêm sầu não
Nay trong nhà lửa nầy
Chẳng có điều gì vui.
Mà tất cả các con
Vẫn đam mê chơi đùa
Chẳng nghe lời ta dạy
Sắp bị lửa thiêu hại.
Ông trưởng giả lại nghĩ
Bày ra các phương tiện.
Lúc đó, Phật lại nghĩ thế nầy, các con ta như
thế, càng làm cho ta thêm phiền não. Nguyện
lực của Phật là độ chúng sinh, mà chúng sinh
chẳng biết tỉnh ngộ, nên làm cho Phật thêm
sầu não. Trong ba cõi, Phật chẳng có gì đáng
lưu luyến, mà tất cả các người con say đắm
lưu luyến ba cõi nầy.
Người đó ở trong ba cõi bị vô minh trói buộc,
chẳng phát bồ đề tâm, chẳng tu bồ đề đạo,
thậm chí cũng chẳng tin Phật. Tôi có một đệ
tử, cha mẹ của y gần đây đến San Francisco,
thấy con của họ từng đốt hương trên cánh
tay, thì bất mãn. Hiện nay nhiều người điên
đảo thị phi, vốn đốt hương cúng Phật, là một
sự cúng dường đối với Phật, mà họ thấy con
của họ đốt hương cúng Phật mà bất mãn. Người
làm việc điên đảo, thì một số người hoan
nghênh, song người muốn tu đạo học cho tốt
thì thân thuộc phản đối, đó chẳng phải là
điên đảo chăng. Gần đây có một đệ tử, y thấy
tất cả sự vật đều đang di động. Khi ánh sáng
mặt trời chiếu xuống, thì có thể thấy hạt
bụi chuyển động, y khai mở ngũ nhãn trước
cảnh giới hiện tượng nầy, có lúc lại như mù,
thậm chí cũng nhìn chẳng thấy, đó là hiện
tượng ngũ nhãn muốn khai mở mà chưa khai mở.
Nếu ai chấp trước về cảnh giới nầy, hoặc
muốn được ngũ nhãn, hoặc chẳng muốn có cảnh
giới nầy, nếu có phạm lỗi sai lầm, hoặc lo
về việc vô ích, thì ngũ nhãn sẽ khép kín.
Cho nên khai mỡ ngũ nhãn rồi, phải đầy đủ
định lực, có định lực thì mới sinh trí huệ
chân chánh.
‘’Chẳng nghe lời ta dạy, sắp bị lửa thiêu hại,
ông trưởng giả lại nghĩ, bày ra các phương
tiện‘’: Chúng sinh chẳng nghe lời Phật dạy
bảo, e rằng sắp bị lửa thiêu đốt, thì Phật
bèn suy nghĩ, tức chúng sinh chẳng thọ pháp
đại thừa giáo hóa, thì cũng dùng pháp phương
tiện quyền xảo để giáo hóa chúng sinh.
Mà bảo các con thảy
Ta có đủ các thứ.
Ðồ chơi rất quý giá
Xe báu rất tốt đẹp
Nào xe dê xe hươu
Và xe trâu to lớn.
Nay để ở ngoài cửa
Các con mau ra đây
Ta chính vì các con
Tạo ra những xe nầy.
Tùy ý các con thích
Có thể đi dạo chơi
Các người con nghe nói
Các loại xe như thế.
Bèn lập tức dành nhau
Ðua chạy ra khỏi nhà
Ðến nơi chỗ đất không
Lìa khỏi các khổ nạn.
‘’Mà bảo các con thảy, ta có đủ các thứ, đồ
chơi rất quý giá, xe báu rất tốt đẹp‘’: Bốn
câu ở trên là khuyến chuyển.
‘’Nào xe dê xe hươu, và xe trâu to lớn, nay để
ở ngoài cửa‘’: Là thị chuyển.
‘’Các con mau ra đây‘’: Là thị chuyển.
‘’Ta chính vì các con, tạo ra những xe nầy‘’:
Tức là Phật đã chứng được Phật quả.
‘’Tùy ý các con thích, có thể đi dạo chơi‘’:
Là chứng chuyển. Khuyến chuyển, thị chuyển
và chứng chuyển, là ba lần chuyển bánh xe
pháp bốn Diệu đế. Phật bảo các người con
rằng : Ta có những đồ chơi thú vị, hơn những
đồ các con đang chơi, nào là xe thượng thừa,
xe dê, xe hươu, xe trâu trắng lớn, đang để ở
ngoài cửa, các con hãy mau ra ngoài cửa, ta
vì các con mà dự bị những xe nầy, các con có
thể tùy ý ngồi để đi dạo chơi khắp nơi.
‘’Các người con nghe nói‘’: Dụ cho văn huệ
(huệ do nghe).
‘’Các loại xe như thế‘’: Dụ cho diệu pháp
thượng thừa.
‘’Bèn lập tức giành nhau‘’: Dụ cho tư huệ và
tu huệ (huệ do suy gẫm và huệ do sự tu
hành).
‘’Ðua chạy ra khỏi nhà‘’: Dụ cho kiến địa (đã
chứng quả).
‘’Ðến nơi chỗ đất trống‘’: Dụ cho đã chứng
được tứ quả A
La Hán, tức bậc vô học.
‘’Lìa khỏi các khổ nạn‘’: Ðến bậc vô học thì
đã dứt được phần đoạn sinh tử, nhưng biến
dịch sinh tử chưa dứt được.
Ông trưởng giả thấy con
Ðược ra khỏi nhà lửa
Ở nơi ngã tư đường
Ngồi trên tòa sư tử.
Mà tự mừng nói rằng :
Nay ta rất vui mừng
Những người con nầy đây
Ðẻ nuôi dưỡng rất khó.
Chúng nhỏ dại chẳng biết
Mà đi vào nhà hiểm
Nhiều các thứ độc trùng
Quỷ lị mị đáng sợ.
Lửa lớn cháy mãnh liệt
Bốn phía đều nổi dậy
Mà các người con nầy
Tham trước chơi đùa giỡn.
Ta đã cứu chúng nó
Khiến cho được thoát khỏi
Vì thế các người ơi !
Ta nay rất vui mừng.
‘’Ông trưởng giả thấy con, được thoát khỏi nhà
lửa’’: Dụ cho Phật thấy các con được ra khỏi
nhà lửa tam giới.
‘’Ở nơi ngã tư đường‘’: Dụ cho bốn Diệu đế.
‘’Ngồi trên tòa sư tử‘’ Lúc đức Phật ngồi trên
tòa sư tử.
‘’Mà tự mừng nói rằng, ta nay rất vui mừng‘’:
Phật thấy các con thoát nạn nên rất vui
mừng.
‘’Những người con nầy đây, đẻ nuôi dưỡng rất
khó‘’: Dưỡng nuôi những đứa con nầy chẳng
phải dễ.
‘’Chúng nhỏ dại chẳng biết, mà đi vào nhà
hiểm‘’: Chúng nhỏ bé vô tri, nên đi vào nhà
lửa.
‘’Nhiều các thứ độc trùng, quỷ lị mị đáng sợ,
lửa lớn cháy mãnh liệt, bốn phía đều nổi
lên‘’. Trong nhà lửa có trùng độc, quỷ lị
mị, và bốn phía đều nổi lửa lên.
‘’Mà các người con nầy, tham trước chơi đùa
giỡn, ta đã cứu chúng nó, khiến cho được
thoát khỏi‘’: Các con tham luyến chơi đùa,
mà ta đã cứu vớt chúng ra khỏi nhà lửa.
‘’Vì thế các người ơi, nay ta rất vui mừng‘’:
Cho nên ta ở trong tất cả mọi người, ta là
người khoái lạc nhất.
Nói tỉ mỉ về đoạn kinh văn ở trên: Ông trưởng
giả tức là Ðức Phật, trưởng giả có mười đức.
‘’Ngã tư’’ dụ cho bốn Diệu đế. Ba mươi người
con, và năm trăm người, tức đã ra khỏi nhà
lửa, đạt được bậc vô học, đã thấy rõ pháp
bốn đế : Khổ, tập, diệt, đạo. Chúng sinh
chưa được độ, thì Phật đứng ở ngoài cửa mà
lo lắng cho chúng sinh đang ở trong nhà lửa.
Vì Phật đủ tâm đại bi, nên chẳng nỡ bỏ chúng
sinh, chỉ sợ chúng sinh đọa lạc ở trong tam
giới. Nay chúng sinh đã thoát khỏi tai nạn,
nên Phật chẳng còn gì lo lắng, mà yên tâm
ngồi trên tòa sư tử. Lúc đó, đức Phật rất
đỗi vui mừng. Trước kia Phật chưa gặp chúng
sinh có đủ căn tính đại thừa, bây giờ giáo
hóa chúng sinh tiểu thừa đã viên mãn, sẽ
phải độ chúng sinh đại thừa, cho nên ngồi
trên tòa sư tử. Chúng sinh đáng được độ, hết
thảy chúng sinh nầy đều đã được độ, chúng
sinh đại thừa đã thành Phật, cho nên :‘’Mà
tự mừng nói rằng, ta nay rất vui mừng‘’.
‘’Những đứa con nầy đây, đẻ nuôi dưỡng rất
khó’’ : Dụ cho Phật giáo hóa chúng sinh
chẳng dễ dàng. Chúng ta hằng ngày giảng Kinh
thuyết pháp, hoằng
dương Phật pháp, cũng chẳng
dễ dàng. Các bạn ban đầu gặp Phật pháp, thì
chẳng biết gì về Phật, bây giờ đã học Phật
pháp được một năm, thì nửa tin nửa ngờ đối
với Phật pháp, có thể thấy giáo hóa chúng
sinh thật chẳng dễ dàng. Ðức Phật ở chỗ ba
vạn ức vị Phật, dùng pháp đại thừa giáo hóa
chúng sinh, cho nên gọi là ‘’đẻ’’, căn bồ đề
của những chúng sinh nầy, ở nơi hai vạn ức
vị Phật đã sinh trưởng lớn lên.
Giảng Kinh thuyết pháp là trách nhiệm trọng
đại, chẳng thể khinh xuất giảng bậy, nếu nói
sai nghĩa Kinh, thì khiến cho người nghe lạc
vào đường tà, quả báo của bạn sẽ đọa vào địa
ngục. Thuở xưa, Ðức Phật ở nơi ba vạn ức vị
Phật, đã dùng pháp đại thừa giáo hóa chúng
sinh, trong đó có số ít chúng sinh thành
thục, cho nên nói là ‘’nuôi dưỡng’’. Ðức
Phật trải qua hết mọi sự gian khổ, trải qua
kiếp số lâu xa, mới được tài bồi hạt giống
đại thừa, căn cơ đại thừa, cho nên nói là
‘’rất khó’’. ‘’Chúng nhỏ dại vô tri’’ : Dụ
cho căn lành của chúng sinh cạn mỏng, thường
bị vọng tưởng che đậy.
Người thiếu trí huệ, mới sinh vào đời năm
trược thọ quả báo, nên nói ‘’mà đi vào nhà
hiểm’’.
‘’Nhiều các thứ độc trùng, quỷ lị mị đáng
sợ’’: Dụ cho lợi sử và độn sử ở trong ba
cõi.
‘’Lửa lớn cháy mãnh liệt, bốn phía đều nổi
lên’’: Dụ cho trong nhà lửa tam giới có tám
sự khổ, bốn điên đảo (chẳng thường cho là
thường, chẳng vui cho là vui, chẳng phải ngã
cho là ngã, chẳng tịnh cho là tịnh.)
‘’Mà các người con nầy, tham trước chơi đùa
giỡn’’: Chúng sinh khởi kiến ái hoặc, chấp
trước kiến ái, chẳng thể buông xả.
‘’Ta đã cứu chúng nó, khiến cho được thoát
khỏi’’: Phật đã cứu vớt chúng sinh lìa khỏi
các khổ nạn.
‘’Vì thế các người ơi, nay ta rất vui mừng’’:
Cho nên ở trong tất cả mọi người, ta là
người vui mừng nhất.
Khi đó các người con
Biết cha đã an tòa
Ðều đến bên chỗ cha
Mà thưa với cha nói :
Xin ban cho chúng con
Ba thứ xe báu tốt
Như trước cha đã hứa
Các con mau ra đây.
Sẽ cho ba xe báu
Tùy ý muốn các con
Nay chính là phải thời
Xin cha hãy ba cho.
‘’Khi đó các người con, biết cha đã an tòa’’:
Lúc đó, các người con đã ra khỏi nhà lửa,
thấy người cha đoan nhiên an tọa trên tòa sư
tử, thừa lúc đó, đòi cha ban cho ba thứ xe
báu, dụ cho Phật đang diễn nói đại thừa diệu
pháp Kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì:
‘’Ðều đến bên chỗ cha, mà thưa với cha nói’’:
Các người con cung kính, đến trước chỗ người
cha mà thưa rằng: ‘’Xin cha cho chúng con,
ba thứ xe báu tốt, như trước cha đã hứa’’:
Dụ cho các người con còn chấp trước nơi pháp
tiểu thừa, pháp trung thừa, là tâm còn hoài
nghi đối với pháp đại thừa.
Với oai đức của Phật trụ thế thuyết pháp lâu
như vậy, mà một số chúng sinh vẫn còn nghi
hoặc, e rằng người thời nay, đối với đạo lý
Kinh Pháp Hoa nửa tin nửa ngờ, chẳng đắc
được tương ưng với lý của Phật, đều vì chẳng
thâm nhập thấu hiểu chân chính, chẳng sinh
niềm tin chân chính.
Hãy trừ khử tất cả tà tri tà kiến xưa kia, thì
sẽ sinh niềm tin chân chánh.
‘’Các con mau ra đây, sẽ cho ba xe báu’’: Các
người con từ nhà lửa đi ra, sẽ dùng pháp ba
thừa độ chúng sinh.
‘’Tùy ý các con muốn’’: Phật từng nói pháp ba
thừa, tùy sở thích của mỗi người mà được
chứng quả.
Trong Kinh Pháp Hoa nói pháp ba thừa, là
phương tiện pháp môn, tất định có pháp đại
thừa để giáo hóa chúng sinh, cho nên nói:
‘’Nay chính là phải thời, xin cha hãy ban
cho‘’.
Ông trưởng giả giàu có
Có rất nhiều kho tàng
Nào vàng bạc lưu ly
Xa cừ và mã não.
Dùng các thứ báu vật
Tạo các cỗ xe lớn
Tu sửa nghiêm sức đẹp
Chung quanh có lan can.
Bốn phía đều treo linh
Dây vàng thắt với nhau.
‘’Ông trưởng giả giàu có’’: Dụ cho Phật là ông
trưởng giả giàu có, chí tôn chí quý trong ba
cõi, Phật là vị thái tử tại xứ Ấn Ðộ, có đức
làm Chuyển Luân Thánh Vương mà xuất gia tu
hành, đã tự giác, giác tha và giác hạnh viên
mãn, do đó có câu :‘’Tam giác viên, vạn đức
bị‘’.
‘’Có rất nhiều kho tàng’’: ‘’Kho’’ là nơi dùng
để chứa lương thực. ‘’Tàng’’ là bảo tàng, ẩn
tàng ở dưới đất. Dùng ‘’kho’’ dụ cho sáu căn
của con người, bên trong chứa tánh Như Lai
tạng, cửa sáu căn hiển hiện tánh giác quý
báu. ‘’Tàng’’ dụ cho tất cả vạn hạnh.
Dùng pháp lục độ trang nghiêm vạn hạnh, trong
mỗi độ đều đầy đủ vạn hạnh, trong một hạnh
cũng đầy đủ lục độ, cho nên lục độ vạn hạnh
tức tương quan. Tất cả pháp đầy đủ tất cả
hạnh, trong tất cả hạnh cũng đầy đủ tất cả
pháp. Dùng vô lượng hạnh tu vô lượng pháp,
dùng vô lượng pháp thành tựu vô lượng hạnh,
cho nên nói: ‘’Có rất nhiều kho tàng‘’.
‘’Nào vàng, bạc, lưu ly, xa cừ và mã não’’: Dụ
cho bốn trí của Phật, như trân bảo vô giá.
Bốn trí tức là:
- Đại viên cảnh trí
- Bình đẳng tánh trí
- Diệu quán sát trí
- Thành sở tác trí.
‘’Dùng các thứ báu vật, tạo các cỗ xe lớn’’:
Trên thế gian có các báu vật màu sắc khác
nhau, pháp của Phật cũng chẳng giới bạn nơi
bốn trí, cũng có các thứ pháp khác nhau, như
bảy Bồ đề phần, tám Chánh đạo, bốn Niệm xứ,
bốn Chánh cần, bốn Như ý túc .v.v. Dùng đủ
loại pháp môn thành đại thừa Phật pháp; pháp
đại thừa là do tất cả các pháp thành tựu.
‘’Tu sửa nghiêm sức đẹp, chung quanh có lan
can’’: Dụ cho Ðà
La Ni. Ðà la ni là tiếng
Phạn, nghĩa là "tổng trì", tổng tất cả pháp,
trì vô lượng nghĩa. Tổng quát pháp đại thừa
tiểu thừa, vô lượng nghĩa trong tất cả các
pháp đều ở hết trong đó. Ðà la ni hay trừ
khử tất cả các việc ác, làm tất cả việc
lành.
‘’Bốn phía đều treo linh’’: Dụ cho bốn vô ngại
biện.
‘’Dây vàng thắt với nhau’’: Dụ cho bốn hoằng
thệ nguyện. Chúng sinh vô biên thệ nguyện
độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp
môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô
thượng thệ nguyện thành. Bốn hoằng thệ
nguyện đều bao quát tất cả chư Phật, Bồ tát,
Thanh Văn, Duyên Giác ở trong đó.
Hoằng thệ nguyện
thứ nhất là: ‘’Chúng sinh vô biên thệ nguyện
độ’’: Phải thường suy nghĩ đã độ tất cả
chúng sinh chưa ? Còn phải đạt tới cảnh giới
độ như không độ. Ðức Như Lai độ tất cả chúng
sinh, mà chẳng có một chúng sinh diệt độ,
nghĩa là đã độ chúng sinh như chưa độ, tức
là độ chúng sinh mà chẳng chấp trước tướng
độ chúng sinh; nhưng nếu chưa độ chúng sinh
thì không thể tự nói đã độ.
Chúng sinh nhờ
chúng duyên hòa hợp mà sinh, từ mười hai
nhân duyên diễn biến mà thành người, con
kiến cho đến vi khuẩn đều là chúng sinh.
Chúng ta không nên tìm chúng sinh bên ngoài,
trong tự tánh của con người đã có vô lượng
chúng sinh. Hiện nay khoa học đã tiến bộ, có
thể chứng minh trong thân thể con người có
rất nhiều vi khuẩn và vi sinh vật, trong ngũ
tạng lục phủ có vô lượng chúng sinh. Người
ăn động vật cũng là chúng sinh, như : Thịt
heo, thịt bò, thịt dê, thịt cá .v.v., trong
những loại thịt đó, có rất nhiều vi khuẩn.
Con người ăn những thứ thịt đó vào trong
bụng, thì sẽ có những chủng tử vi khuẩn đó.
Ăn loại chúng sinh nào nhiều, thì thành
quyến thuộc của loài đó, nhân duyên càng sâu
dày, trói buộc chẳng thể phân ly. Người ăn
thịt heo nhiều, thì có cơ hội sinh làm heo,
người ăn thịt bò nhiều, thì có cơ hội sinh
làm bò. Vậy ăn nhiều gạo có phải cũng biến
thành gạo ? Gạo là vô tình, mà chúng sinh là
hữu tình. Nếu ăn nuốt hữu tình chúng sinh,
thì sẽ sinh làm hữu tình chúng sinh. Ăn vô
tình chúng sinh, thì sẽ trợ giúp tăng trưởng
pháp thân huệ mạng. Nếu ai chẳng ăn loài
chúng sinh nào, tức là độ loài chúng sinh
đó. ‘’Ðộ’’ tức là độ qua biển khổ, lên bờ
Niết Bàn bên kia. Nếu chúng ta minh bạch đạo
lý bên trong của nó, thì không nên ăn thịt
chúng sinh.
Trước kia có người ăn thịt, sau khi chết đến
chỗ vua Diêm Vương, tất cả loại thịt chúng
sinh mà anh ta đã ăn qua trước kia, đều đến
đòi nợ với anh ta, Song, anh ta còn tự biện
hộ cho mình nói: ‘’Tuy nhiên tôi ăn thịt,
nhưng tội chẳng riêng mình tôi, tội do người
bán thịt’’. Do đó, vua Diêm Vương truyền kêu
người bán thịt đến, thì người bán thịt cũng
tự biện hộ: ‘’Sở dĩ tôi bán thịt là có người
mua, nếu chẳng có người mua, thì tôi đâu có
bán thịt ?’’ Người bán thịt với người ăn
thịt tranh luận với nhau, sau đó hai người
đổ hết trách nhiệm lên ông đồ tể. Vua Diêm
Vương lại kêu ông đồ tể đến, thì ông đồ tể
cũng biện hộ nói: ‘’Tôi là đồ tể nhưng có
người mua thịt, có người ăn thịt, nên tôi
mới sát sinh. Nếu chẳng có ai mua, chẳng có
người ăn, thì tôi đâu có sát sinh’’. Do đó,
ai cũng nói lý của mình. Kết quả vua Diêm
Vương mới phán quyết, người ăn thịt phải trả
nợ máu. Có thể thấy ăn loài chúng sinh nào,
thì kết duyên với loài chúng sinh đó, do đó
có câu :
‘’Trong chữ thịt có hai người,
Người ở trong che đậy người ở ngoài,
Chúng sinh vẫn ăn thịt chúng sinh,
Suy gẫm kỹ thì người ăn người.’’
Trong Kinh Lăng Nghiêm nói: Dê chết làm người,
dê có thể làm người, thì heo bò cũng có thể
làm người. Nếu chưa khai mở thiên nhãn
thông, thì không thể quán sát được nhân
duyên của nó, tức cho rằng heo là heo, dê là
dê. Con người mà ăn thịt chúng sinh nhiều
rồi, thì tánh giác vốn có sẽ mai một đi,
biến thành ngu si.
Cho nên chúng ta
muốn độ chúng sinh, trước hết phải giữ giới
sát sinh, không ăn thịt chúng sinh. Nếu muốn
độ chúng sinh, thì trước hết độ tự tánh
chúng sinh. Ðộ sinh còn phải lìa tướng,
chẳng chấp trước những gì có hình tướng.
Hoằng nguyện thứ
hai là: ‘’Phiền não vô tận thệ nguyện
đoạn’’: Phiền não của con người trong sự bất
tri bất giác, sinh ra thì vô minh hiện tiền.
Sinh phiền não thì sẽ thiêu sạch công đức
pháp tài.
Hoằng nguyện thứ ba
là: ‘’Pháp môn vô lượng thệ nguyện học’’.
Kinh Phật nhiều vô lượng, năm qua bạn học
Kinh Lăng Nghiêm, năm nay học Kinh Pháp Hoa,
Tâm Kinh, Kinh Kim Cang, Kinh Ðiạ Tạng, mỗi
bộ Kinh đều có đạo lý khác nhau, nhiều như
số cát sông Hằng, vô cùng vô tận. Trong Phật
giáo có pháp đại thừa, pháp tiểu thừa, pháp
bốn Diệu đế, mười hai nhân duyên, ba mươi
bảy đạo phẩm, có tám vạn bốn ngàn pháp môn,
học một pháp môn, thì cần đến tám vạn bốn
ngàn kiếp, hà huống tuổi thọ của một số
người chỉ có ba vạn sáu ngàn ngày. Pháp môn
chưa học hết thì đã chết mất. Song, tuy là
học không hết cũng phải học. Trên thế gian
có nhiều ngôn ngữ khác nhau, chẳng có ai
biết hết các ngôn ngữ. Ngôn ngữ còn phức tạp
nhiều như thế, huống chi là văn tự ? Văn tự
thiên biến vạn hóa, thật chẳng dễ gì học.
Trang tử có nói :
‘’Ðời tôi thì có hạn, mà sự biết thì vô hạn’’.
Dùng năm tuổi có hạn, học sự hiểu biết vô cùng
tận, học chẳng hết được.
Học Phật pháp sao lại phải ngồi thiền ? Tức là
học vô lượng Kinh điển trong tự tánh của
chúng ta. Trong tự tánh của con người vốn có
vô lượng pháp môn, mà con người bỏ gốc tìm
ngọn, truy cầu bên ngoài, chẳng biết hồi
quang phản chiếu. Trong Tâm Kinh có nói rằng
: Hồi quang phản chiếu quán tự tại, tự tại
tức sinh Bát Nhã, chiếu thấy năm uẩn đều
không. Năm uẩn đều không, thì các pháp khác
cũng không. Hằng ngày tĩnh tọa tức là hồi
quang phản chiếu, phải siêng tu các pháp
môn, không thể một ngày nóng mười ngày lạnh.
Hoằng thệ nguyện
thứ tư là : ‘’Phật đạo vô thượng thệ nguyện
thành’’: Phật đạo cao quý nhất trên thế
gian. Thế Tôn là bậc chí tôn của thế gian và
xuất thế gian. Thành Phật mới là chỗ về cứu
kính của hết thảy chúng sinh, cho nên phải
phát thệ nguyện thành Phật, cũng phải độ
chúng sinh cùng thành Phật đạo. Tự tính
chúng sinh thệ nguyện độ, tự tính phiền não
thệ nguyện đoạn, tự tính pháp môn thệ nguyện
học, tự tính Phật đạo thệ nguyện thành. Ðừng
cứ lo chuyện của thiên hạ, nào là: ‘’Họ
không tốt, họ chẳng đúng’’, đừng xem lỗi lầm
của người khác, nên trừ khử sạch vọng tưởng
ở trong tâm của chính mình, nên nhìn thấu
buông xả đặng, chứng được trung đạo liễu
nghĩa. Mỗi ngày đều bình thường yên ổn giữ
trung đạo, thì sẽ có ngày khai ngộ, khai ngộ
tức thành Phật. Bốn hoàng thệ nguyện rất
quan trọng, cho nên trong kinh văn nói:
‘’Dây vàng kết thắt nhau’’.
Mành lưới bằng chân châu
Giăng bày ở phía trên
Hoa vàng các chuỗi ngọc
Khắp nơi thòng rũ xuống.
Xen tạp lụa nhiều màu
Giăng khắp chung quanh xe
Dùng bông tơ mềm mại
Ðể làm nệm nằm ngồi.
Vải mịn tốt thượng hạng
Giá trị đến nghìn muôn
Tốt đẹp trắng sạch sẽ
Dùng trải ở trên nệm.
Có trâu trắng to lớn
Mập khỏe nhiều sức mạnh
Thân hình rất đẹp đẽ
Dùng để kéo xe báu.
Rất nhiều kẻ tôi tớ
Ði theo hầu bảo vệ
Ðem xe báu đẹp đó
Ðồng ban cho các con.
‘’Mành lưới bằng chân châu’’: Dụ cho từ bi của
Phật.
‘’Giăng bày ở phía trên’’: Dụ cho Phật có đại
từ bi, phổ độ tất cả chúng sinh.
‘’Hoa vàng các anh lạc’’: Dụ cho bốn pháp
nhiếp:
1. Bố thí, nên thành tâm bố thí, chẳng phải bố
thí một cách miễn cưỡng. Vì tất cả chúng
sinh đều có tham cầu, do đó:
‘’Muốn khiến vào Phật trí,
Trước dùng câu dục móc’’.
Hành Bồ Tát đạo phải bố thí.
2. Ái ngữ, bất cứ nói lời gì, cũng đều khiến
cho người vui vẻ, khiến cho ai ai cũng đều
thích nghe.
3. Lợi hành, làm tất cả những gì, cũng đều có
lợi cho người khác.
4. Ðồng sự, muốn độ người nào đó, thì trước
hết phải kết giao với họ.
‘’Khắp nơi thòng rũ xuống’’: Biểu thị chẳng có
nơi nào mà chẳng độ, khắp nơi đều hành bốn
pháp nhiếp.
‘’Xen tạp lụa nhiều màu’’: Lụa nhiều màu dùng
để trang sức xe báu nầy.
‘’Giăng khắp chung quanh xe’’: Trên xe trang
nghiêm rất tốt đẹp.
‘’Dùng bông tơ mềm mại, để làm nệm nằm ngồi.
Vải mịn tốt thượng hạng, giá trị đến ngàn
muôn’’: Dụ cho quán chiếu trí huệ.
‘’Tốt đẹp trắng sạch sẽ, dùng trải ở trên
nệm’’: Chẳng làm tất cả điều ác tức là ‘’tốt
đẹp trắng’’, nghĩa là tu thân thì trước hết
phải giữ gìn giới luật.
‘’Có trâu trắng to lớn’’: Dụ cho trí huệ vô
lậu.
‘’Mập khỏe nhiều sức lực, thân hình rất tốt
đẹp’’: Dụ cho đầy đủ tất cả vạn pháp.
‘’Dùng để kéo xe báu’’: Tức là dùng trí huệ vô
lậu tu Phật pháp đại thừa.
‘’Rất nhiều kẻ tôi tớ, theo đi hầu bảo vệ’’:
Dụ cho phương tiện Ba la mật. Pháp phương
tiện chính là trợ giúp pháp đại thừa; tu
hành trí huệ vô lậu phải cần có các pháp môn
khác trợ giúp. Tu trí huệ vô lậu, mà có tâm
niệm tham, tức là hữu lậu, có tâm sân tức
hữu lậu, có tâm si tức hữu lậu, có tâm kiêu
mạn, tâm nghi ngờ, tà kiến cũng đều là hữu
lậu. Trước hết phải trừ khử tham, sân, si,
mạn nghi, lìa tất cả tập khí mao bệnh, mới
có thể được trí huệ vô lậu. Ngoại đạo và
hàng nhị thừa, đều dùng pháp phương tiện
nầy. ‘’Tôi tớ’’ cũng có thể dụ cho thần
thông, có thể tùy ý mà dùng.
‘’Ðem xe báu đẹp đó’’: Y theo pháp đại thừa tu
hành, thì tương lai sẽ chứng quả vị Phật.
Các người con lúc đó
Rất vui mừng hớn hở
Ngồi lên xe báu đó
Vui chơi rất khoái lạc
Rất tự tại vô ngại.
Chúng sinh nghe pháp đại thừa, đắc được cảnh
giới đại thừa, diệu pháp không thể nghĩ bàn,
diệu không thể tả, mà vui mừng hớn hở. Y
chiếu theo pháp đại thừa tu hành, thì sẽ
thông đạt tất cả Phật pháp, như pháp: Bốn
Diệu đế, pháp Lục độ, mười hai Nhân duyên,
bốn Vô lượng tâm, bốn Vô ngại biện, bốn Niệm
xứ, bốn Chánh cần, đầy đủ các pháp, lấy pháp
làm món ăn tinh thần, rất tự tại vô ngại.
Phật bảo Xá Lợi Phất !
Ta cũng lại như thế
Chí tôn trong bậc Thánh
Là cha của thế gian.
Tất cả các chúng sinh
Ðều là con của ta
Say đắm vui thế gian
Chẳng có tâm trí huệ.
Ba cõi chẳng yên ổn
Giống như là nhà lửa
Ðầy dẫy sự thống khổ
Thật là đáng sợ hãi.
Thường có khổ sinh già
Bệnh chết và sầu lo
Các thứ lửa như thế
Cháy hừng hực chẳng tắt.
Ðức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất ! Ta cũng giống
như ông trưởng giả, là bậc chí tôn trong
hàng Thánh, là cha của tất cả chúng sinh thế
gian. Tất cả chúng sinh đều là con của ta.
Song, chúng sinh đều chấp trước vào sự vui
của thế gian, lấy khổ làm vui, mất đi trí
huệ. Thật ra, ba cõi không an như nhà lửa
cháy, ba sự khổ, tám sự khổ, các thứ khổ đầy
dẫy, rất dễ đọa lạc vào ba đường ác, cho nên
rất là đáng sợ.
Trẻ con mới sinh ra
thì khóc oa oa, trẻ con vừa chào đời như rùa
sống lột mai, khi chết đi thì như bò sống
lột da, về già thì tất cả cơ năng trong thân
thể đều suy yếu, đến khi chết thì bác sĩ
cũng bó tay. Khổ sinh, già, bệnh, chết, ái
biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm
xí thạnh, các thứ khổ thiêu đốt. Nghiệp lực
của chúng sinh ngày càng sâu nặng, cho nên
lửa càng cháy mạnh, chẳng ngừng nghỉ.
Như Lai đã lìa khỏi
Ngôi nhà lửa ba cõi
Ở chỗ yên vắng vẻ
Nơi núi rừng hoang dã.
Hiện nay ba cõi nầy
Ðều là của ta cả
Chúng sinh ở trong đó
Thảy đều là con ta.
Mà nay chơi chỗ nầy
Rất nhiều các hoạn nạn
Chỉ có một mình ta
Có thể cứu hộ được.
Phật đã lìa khỏi nhà lửa ba cõi, tiêu dao tự
tại, ở nơi chỗ vắng vẻ yên ổn, nơi rừng núi
hoang dã. Song, ba cõi nầy đều là sở hữu của
Phật, tất cả chúng sinh đều là con của Phật,
mà trong ba cõi nầy, rất nhiều các thứ hoạn
nạn, đầy dẫy độc trùng mãnh thú, chỉ có mình
đức Phật mới cứu hộ được. Cha của người thế
gian là do tạo nghiệp mà sinh, còn Phật là
cha xuất thế gian, là cha pháp thân huệ mạng
của chúng ta, là cha thanh tịnh chẳng nhiễm.
Nếu nhận Phật làm cha, thì tương lai có thể
được thanh tịnh chẳng nhiễm.
Tuy Phật đã dạy bảo
Mà cũng chẳng tin nhận
Vì nơi các dục nhiễm
Tâm tham trước sâu dày.
Do đó dùng phương tiện
Vì chúng nói ba thừa
Khiến cho các chúng sinh
Biết ba cõi là khổ.
Bèn khai thị diễn nói
Ðạo ra khỏi thế gian
Các người con đó thảy
Nếu tâm mà quyết định.
Thì đầy đủ ba minh
Và sáu thứ thần thông
Hoặc chứng được Duyên Giác
Và Bồ Tát bất thối.
Tuy Phật dùng đủ thứ phương pháp giáo hóa tất
cả chúng sinh, song, chúng sinh chẳng sinh
tín tâm. Vì tất cả chúng sinh do dục niệm
làm ô nhiễm, tham trước tài, sắc, danh, ăn
và ngủ, nên che lấp trí huệ.
Vì chúng sinh chấp trước dục nhiễm quá sâu,
cho nên Phật chỉ tạm thời dùng pháp phương
tiện khéo léo để giáo hóa. Dùng Thanh Văn
thừa, Duyên Giác thừa và Bồ Tát thừa, để
giáo hóa chúng sinh, đó là xả thật dụng
quyền.
Thời nay, có những thanh niên tự cho rằng uống
thuốc mê huyễn, thì có thể đi ở trong hư
không, mà còn có thầy làm chứng, thật là bậy
truyền bậy, do đó có câu:
‘’U mê truyền cho kẻ u mê,
Một truyền hai chẳng hiểu,
Ông thầy đọa địa ngục,
Ðồ đệ cũng theo vào’’.
Ði ở trong hư không, vốn chẳng cần dùng thuốc
mê huyễn, đó là tự dối gạt người, mất đi
chân chánh trí huệ, Phật chỉ dùng quyền xảo
để độ. Phật biết ba cõi đầy dẫy thống khổ,
cho nên khai thị chúng sinh, vì họ nói pháp
xuất thế gian.
Thế gian gồm có xuất thế gian, hữu tình thế
gian, và chánh giác thế gian. Khí thế gian
còn gọi là y báo thế gian; hữu tình thế gian
là thế giới của tất cả chúng sinh, tức là
chánh báo thế gian. Chánh giác thế gian là
thế giới của Phật. ‘’Ba minh’’ tức là quá
khứ minh, hiện tại minh và vị lai minh.
Quá khứ minh tức túc thế minh, biết nhân duyên
đời quá khứ. Hiện tại minh tức lậu tận minh,
bỏ mê về giác đã được vô lậu. Nếu bỏ đặng
tất cả lòng tham lam chấp trước, tu hành thì
sẽ chứng được vô lậu. Vị lai minh tứ thiên
nhãn minh, bất cứ là chướng ngại vật bên
trong, hoặc chướng ngại vật bên ngoài, nhìn
xem đều thấu suốt.
‘’Và sáu thứ thần thông’’: Tức là:
1. Thiên nhãn thông,
2. Thiên nhĩ thông,
3. Tha tâm thông,
4. Túc mạng thông,
5. Thần túc thông và
6. Lậu tận thông.
- Thiên nhãn thông, nhìn xuyên qua trong thân
thể của mình, nhìn thấu được trong thân thể
của chúng sinh.
- Thiên nhĩ thông, chẳng những nghe được âm
thanh trên trời, mà còn nghe được tiếng côn
trùng trong thân thể của mình kêu, thậm chí
còn nghe được tiếng của hoa cỏ cây cối.
- Tha tâm thông, biết được tất cả tư tưởng ở
trong tâm của người khác, niệm niệm khởi lên
cũng có thể biết rõ. Trước kia có vị A
La Hán có lục thông, Ngài
mang theo vị đệ tử đi du hành. Vị đệ tử đi
sau quảy hành lý, giữa đường bèn khởi lên
một tâm niệm: "Tương lai mình phải hành pháp
đại thừa, phổ độ tất cả chúng sinh". Vị
La Hán có tha tâm thông, nên
biết được vị đệ tử có nguyện lực đại thừa,
còn mình bất quá là A
La Hán, nguyện lực của đồ đệ
cao siêu hơn. Ngài bèn quảy hành lý thế cho
đệ tử. Ði được một đoạn đường khá dài, thì
vị đệ tử sinh tâm thối lùi, nghĩ: "Bồ Tát
đạo chẳng dễ gì thực hành", vị thầy biết đệ
tử sinh tâm thối chuyển, bèn đưa hành lý lại
cho đệ tử quảy, cứ như thế xảy ra mấy lần,
vị đệ tử chẳng rõ nguyên nhân, bèn hỏi vị
thầy. Vị thầy đáp: ‘’Vì con phát tâm hành Bồ
Tát đạo, tu lục độ vạn hạnh, ta chỉ là bậc
tiểu thừa, còn nguyện lực của con cao hơn
ta, cho nên ta thế con quảy hành lý. Song,
con lại nghĩ Ngài Xá Lợi Phất còn không thể
hành Bồ Tát đạo, hà huống mình : Bèn sinh
tâm thối chuyển. Lúc đó, con lại trở về địa
vị đệ tử, cho nên con phải mang hành lý‘’.
Xá Lợi Phất cũng là hàng Thanh Văn, phát tâm
muốn hành Bồ Tát đạo. Nếu ai chân chánh phát
bồ đề tâm, thì Thiên Long bát bộ sẽ đến khảo
nghiệm họ. Phát bồ đề tâm muốn hành Bồ Tát
đạo, phải ưa thích bố thí. Người khác mong
cầu gì, thì Bồ Tát sẵn sàng bố thí chẳng có
tơ hào bỏn xẻn. Ngài Xá Lợi Phất tức đã phát
tâm hành Bồ Tát đạo, một ngày nọ, trên đường
đi, Ngài thấy một người khác khóc lóc rơi
lệ, Ngài Xá Lợi Phất thấy vậy, bèn phát bồ
đề tâm muốn giúp họ, mới hỏi người đó vì sao
mà khóc. Người đó nói: ‘’Mẹ của tôi bị bệnh,
chỉ có con mắt của người sống mới có thể trị
được, nhưng đi khắp nơi mua mà chẳng có, cho
nên tôi buồn quá mà khóc‘’. Ngài Xá Lợi Phất
nghe rồi, rất cảm động người con có hiếu,
bèn suy nghĩ: ‘’Mình có một cặp mắt, thôi
thì bố thí một con cho anh ta, mình chừa lại
một con‘’. Do đó, chịu đau đớn, móc ra một
con mắt để bố thí, người đó cầm lấy rồi bỏ
xuống đất ! Ngài Xá Lợi Phất chẳng hiểu vì
sao ? Người đó nói: ‘’Chẳng phải con mắt
nầy, tôi muốn con mắt trái mà ông chưa nghe
rõ, thì đã móc con mắt phải ra. Nếu ông thật
muốn bố thí, thì xin ông cho tôi con mắt
trái kia đi vậy‘’. Ngài Xá Lợi Phất đã móc
con mắt phải ra, đau đớn vô cùng, nếu mà móc
mắt trái nữa, thì chẳng phải trở thành mù
chăng ? Lúc đó, Ngài Xá Lợi Phất thối lùi
tâm bố thí. Người đó nghe rồi đằng vân mà
đi, nguyên lai đó là người trời đến thử
thách Ngài Xá Lợi Phất.
- Túc mạng thông,
biết được nhân duyên quá khứ, biết rõ kiếp
trước của mình là người thiện hoặc người ác
? Người Tàu hoặc người ngoại quốc ? Hoặc
kiếp trước là người Tàu, kiếp nầy sinh ra
tại nước Mỹ, phát nguyện đến nước Mỹ hoằng
dương Phật pháp. Có những
người học Phật pháp tiến bộ rất mau, có
những người tiến bộ rất chậm. Có những người
học Phật pháp, biết mà chẳng hành, chưa cung
hành thực tiễn, chưa hợp với Phật pháp làm
một thể. Có những người học Phật pháp thân
thể lực hành, có tinh thần bất khuất, đều do
nhân duyên kiếp trước đã tích lũy. Hoặc có
những người trước kia là người Ấn Ðộ, nguyện
đến tây phương hoằng
dương Phật pháp, do đó đời
nầy đầu thai vào nước Mỹ. Nếu có túc mạng
thông thì sẽ biết được việc quá khứ.
- Thần túc thông,
còn gọi là thần cảnh thông, hoặc là như ý
thông, được toại ý tự tại. Thần túc thông
diệu không thể tả, chẳng thể nào dùng lời
nói để hình dung được, có thể biến hóa trên
thân ra lửa, dưới thân ra nước; hoặc trên
thân ra nước, dưới thân ra lửa, lại có thể
đằng vân ở trong hư không hiện mười tám
biến.
- Lậu tận thông, là
chẳng rơi rớt vào ba cõi. Quỷ thần đều có
ngũ thông, chỉ thiếu lậu tận thông. Chứng
quả A
La Hán mới có lậu tận thông.
Nếu người có ngũ nhãn lục thong, cũng không
thể tùy ý loạn dụng. Ví như, dùng thần thông
để quán sát thế giới có tai nạn gì, hoặc
dùng thần thông cứu người mới có ý nghĩa,
nếu giúp đỡ người khác cũng không thể để cho
người biết.
‘’Thiện dục nhân tri,
Bất thị chân thiện,
Ác khủng nhân tri,
Tiện thị đại ác‘’.
Nghĩa là:
‘’Làm thiện muốn
người biết,
Chẳng phải là thật thiện,
Làm ác sợ người biết,
Đó mới là đại ác.’’
Ðắc được ngũ nhãn lục thông phải trân tiết,
không nên lo việc vô ích, đừng tùy ý loạn
dụng, bằng không tiết lậu thiên cơ, cũng sẽ
mất đi thần thông.
‘’Duyên Giác’’: Là bậc tu mười hai Nhân duyên
mà ngộ đạo; do : Vô minh duyên hành, hành
duyên thức, thức duyên danh sắc, cho đến lão
tử. Chúng sinh do vô minh mà phát sinh hành
vi, từ hành vi sinh ra ý thức, từ ý thức
sinh ra danh sắc, từ danh sắc mà sinh ra lục
nhập (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), có lục
nhập tức có sự tiếp xúc, có xúc thì có thọ,
có thọ thì sinh ái, có ái thì sinh tâm ích
kỷ muốn chiếm hữu, tức có đời sau, có đời
sau thì có lão tử. Ðó là mười hai Nhân duyên
của bậc Duyên Giác tu.
Vô minh thường chi phối con người, khiến cho
điên đảo, cho nên phá được vô minh thì sẽ
hiển hiện pháp tính, sẽ được khai ngộ.
‘’Bồ Tát bất thối‘’: ‘’Bất thối’’có ba:
- Hạnh bất thối,
- Vị bất thối,
- Niệm bất thối.
- Hạnh bất thối, là tu Phật pháp phải có tâm
nhẫn nhục, tâm kiên cố, tâm thường hằng, tâm
thành, để tiến bước về trước mà chẳng thối
chuyển.
- Vị bất thối, là Bồ Tát phát tâm nguyện lớn,
muốn bố thí đầu mắt tủy não cho chúng sinh,
mà chẳng sinh tâm thối lùi về hàng nhị thừa.
- Niệm bất thối, là Bồ Tát lợi ích tất cả
chúng sinh, hay xả mình vì người, trợ giúp
người khác mà chẳng chấp trước tướng bố thí.
Hành Bồ Tát đạo đừng làm cho chúng sinh sinh
phiền não, luôn luôn hồi quang phản chiếu,
trở về cầu nơi chính mình.
Này
ông Xá Lợi Phất !
Ta vì các chúng sinh
Mà dùng ví dụ nầy
Nói một thừa Phật đạo.
Nếu các ông có thể
Tin nhận lời nói đây
Thì tất cả đều sẽ
Ðược thành tựu Phật đạo.
Thừa nầy tối vi diệu
Rất thanh tịnh bậc nhất
Ở trong các thế gian
Chẳng có pháp nào hơn.
Chỗ chư Phật hoan hỉ
Tất cả các chúng sinh
Nên tán thán khen ngợi
Cúng dường và lễ bái.
Vô lượng trăm ngàn muôn
Các lực và giải thoát
Thiền định cùng trí huệ
Các pháp khác của Phật.
Chứng được thừa như thế.
Ðức Phật nói với tôn giả Xá Lợi Phất: Trước
kia, ta vì chúng sinh nói đủ thứ ví dụ, để
xiển minh sở tu trước kia là quyền pháp, nay
khiến cho họ biết đại thừa Phật pháp, nên
tin rằng tất cả mọi người đều có thể sẽ
thành Phật. Ðây là sự vi diệu của Phật pháp,
phải có tín tâm thì mới có thể thành tựu,
chỉ có một Phật thừa là pháp môn vô lượng
trong thế gian, đây là pháp môn Phật hoan hỉ
nhất, nên tán thán pháp môn nầy, cúng dường
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, lễ lạy đại thừa
Phật pháp. Có lượng công đức, mười trí lực
của Phật, tám giải thoát, các thiền định và
trí huệ và các pháp môn khác của Phật, quá
khứ chắc chắn đã tu vô lượng công đức, mới
đắc được nhân duyên thù thắng nầy, gặp được
đại thừa Phật pháp.
Khiến cho các người con
Ngày đêm cùng số kiếp
Thường được đi dạo chơi.
Với các vị Bồ Tát
Cùng với chúng Thanh Văn
Ngồi nơi thừa báu nầy
Mà thẳng đến đạo tràng.
Nhân duyên như vậy đó.
Tìm cầu khắp mười phương
Chẳng có thừa nào khác
Trừ Phật dùng phương tiện.
Dùng ‘’ngày’’ ví dụ khiến cho tất cả chúng
sinh đắc được trí huệ chân thật của Phật,
‘’đêm’’ dụ cho chúng sinh vẫn còn phiền não
chưa trừ vô minh. Tất cả chúng sinh tại chỗ
Phật Ðại Thông Trí Thắng, đã được Ðức Phật
giáo hóa, thường tu tập pháp đại thừa.
Với tất cả Bồ Tát,
Thanh Văn, Duyên Giác, đều y chiếu Phật pháp
đại thừa tu hành. Thừa nầy là thừa báu, đạt
đến bồ đề giác đạo mà thành Phật. Nhân duyên
như vậy đó, tìm cầu khắp mười phương chẳng
có một pháp nào cao hơn so với pháp nầy,
ngoại trừ Phật dùng pháp phương tiện.
Phật bảo Xá Lợi Phất !
Hết thảy lũ các ông
Ðều là con của ta
Còn ta tức là cha.
Các ông trong nhiều kiếp
Bị các khổ thiêu đốt
Ta đều đã cứu vớt
Khiến ra khỏi ba cõi.
Tuy trước kia ta nói
Các ông được diệt độ
Chỉ dứt hết sinh tử
Mà thật chẳng diệt độ.
Nay việc cần phải làm
Chỉ có trí huệ Phật
Nếu có Bồ Tát nào
Ở trong chúng hội nầy.
Mà một lòng lắng nghe
Thật pháp của chư Phật
Các đức Phật Thế
Tôn
Tuy dùng các phương tiện.
Giáo hóa các chúng sinh
Ðó đều là Bồ Tát.
Ðức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất : Các ông tất
cả chúng sinh, tất cả Bồ Tát, Thanh Văn,
Duyên Giác, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, phát tâm bồ
đề, đều là con của ta, ta là cha của các
ông. Các ông đã đời đời kiếp kiếp, vô lượng
vô biên đại kiếp vì ba thứ khổ, tám thứ khổ,
vô lượng thứ khổ thiêu đốt. Ta đều luôn luôn
cứu vớt, khiến cho chúng sinh vượt ra khỏi
cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc.
Tuy ta trước kia,
dùng quyền xảo phương tiện, nói các ông đều
đã được diệt độ, song chỉ dứt được phần đoạn
sinh tử, chưa dứt được biến dịch sinh tử.
Theo thật pháp mà nói, các ông vẫn chưa chân
chánh đắc được diệt độ. Như nay các ông nên
học trí huệ của Phật, tu pháp chân thật. Nếu
có Bồ Tát nào ở trong đại chúng chuyên tâm
nhất chí, nghe pháp môn chân thật của ta
nói, đó mới là pháp do thật trí của chư Phật
nói. Kì thật, pháp môn phương tiện vì pháp
môn chân thật mà nói, cho nên các ông nên
hồi tiểu hướng đại, tu hành hạnh Bồ Tát.
Nếu có người trí nhỏ
Chấp sâu nơi ái dục
Thì vì những người đó
Nói đạo lý khổ đế.
Chúng sinh tâm vui mừng
Ðắc được chưa từng có
Chân thật chẳng sai khác
Nếu có chúng sinh nào.
Chẳng biết gốc các khổ
Chấp sâu vào nhân khổ
Chẳng tạm rời bỏ được
Bèn vì chúng sinh đó.
Dùng phương tiện dạy bảo
Nguyên nhân mọi sự khổ
Tham dục là gốc rễ
Nếu diệt được tham dục.
Chẳng còn chỗ nương tựa
Dứt sạch hết các khổ
Gọi là đế thứ ba
Vì chứng được diệt đế.
Mà tu hành đạo đế
Lìa các khổ ràng buộc
Gọi là được giải thoát
Người đó nơi pháp gì.
Mà đắc được giải thoát
Chỉ xa lìa hư vọng
Gọi đó là giải thoát
Kỳ thật chưa đắc được.
Tất cả các giải thoát
Phật nói rằng người đó
Chưa thật được diệt độ
Vì người đó chưa được.
Ðạo quả vô thượng vậy
Ý của ta không muốn
Khiến cho được diệt độ
Ta là đấng Pháp vương.
Tự tại nơi các pháp
An ổn các chúng sinh
Cho nên hiện ra đời.
Nếu người thiếu trí huệ, chấp sâu nơi ái dục.
Có kiến hoặc và tư hoặc, thấy cảnh bèn chấp
trước mê hoặc tức là kiến hoặc. Tâm chẳng
biện rõ thị phi, còn phản phú tư lường tức
là tư hoặc.
Phật vì những chúng sinh nầy, nói pháp sinh
diệt bốn Diệu đế.
1. Khổ đế : Chúng
sinh lấy khổ làm vui, nghe được Phật nói khổ
đế, thì tâm sinh vui mừng, cảm thấy diệu
pháp nầy chưa từng có, là diệu pháp ngàn
chân vạn thật.
2. Tập đế : Nếu có
chúng sinh chẳng biết gốc khổ, tức tập đế.
Tập là nhân của khổ, khổ là quả của tập. Tập
tức là hai mươi sáu thứ phiền não. Gốc rễ
phiền não có sáu thứ, tùy phiền não có mười
thứ, trung phiền não có hai thứ, đại phiền
não có tám thứ, cộng thành hai mươi sáu thứ
phiền não. Hai mươi sáu thứ phiền não nầy là
nhân của khổ, vì chúng sinh không thể tạm xả
bỏ những phiền não nầy, cho nên Phật vì họ
trước hết nói pháp môn phương tiện. Chủ nhân
của tập là tham dục, chẳng biết đủ, luôn
luôn tham mà chẳng biết chán. Ví như người
chẳng có đồng xu nào, thì mong có được một
trăm đồng, được một trăm đồng rồi, lại mong
có một ngàn đồng, một vạn đồng, cho rằng
được một vạn đồng thì có thể ngừng lại.
Song, đến lúc ấy cảm thấy một vạn đồng vẫn
còn ít, lại muốn mười vạn đồng. Song, chưa
được một vạn đồng thì than ôi mạng sống
chẳng còn bao lâu ! Ðến chết thì vẫn chưa
đạt được lý tưởng. Cho nên, con người có
tham dục thì sinh phiền não.
3. Diệt đế : Muốn
diệt khổ, thì trước hết phải trừ tham dục.
Chẳng còn tham dục, thì trừ khử được gốc của
khổ, khổ cũng chẳng còn chỗ nương tựa, các
khổ diệt sạch thì gọi là đế thứ ba.
4. Ðạo đế : Muốn
được diệt đế, thì trước phải tu đạo, tức là
đế thứ tư. Giải trừ tất cả sự trói buộc của
khổ, tức được thế gian giải thoát. Ai nhìn
thấu buông xả đặng, thì mới được giải thoát.
Tuy nhiên vẫn còn sống, nếu thấy được tất cả
đều đã chết, chẳng vì túi da hôi thúi nầy mà
làm nô lệ, thấy tất cả đều hư vọng, chẳng
chấp trước bất cứ những gì, thì đắc được sự
giải thoát.
Tôi thường nói "Everything’s OK" ! Tức tất cả
đều được, tức nhiên tất cả chẳng có vấn đề
gì, vậy phải chăng đã được giải thoát ?
Chẳng còn chấp trước, giống như hư không,
chẳng bị gì ràng buộc, chẳng tham danh, tức
là giải thoát danh, chẳng cầu lợi tức là
giải thoát lợi. Danh lợi đều giải thoát, còn
có gì ràng buộc nữa ?
Tuy nói pháp: Khổ,
tập, diệt, đạo, có thể được giải thoát, kì
thật, giống như chưa được chân chánh giải
thoát, vì mới được phần đoạn sinh tử, chứ
chưa được biến dịch sinh tử. Còn biến dịch
sinh tử vẫn chưa được giải thoát. Cho nên,
Phật nói những hạng người nầy, chưa thật sự
diệt độ. Phật nói rõ, vì chẳng muốn họ chưa
được thọ dụng chân thật mới khiến cho họ
được diệt độ.
Phật lại nói: Ta là vua của các pháp, toại ý
tự tại ở trong các pháp, muốn khiến cho
chúng sinh được an ổn, được giải thoát cứu
kính, cho nên mới xuất hiện ra đời.
Này
ông Xá Lợi Phất !
Pháp ấn của ta đây
Vì muốn làm lợi ích
Cho thế gian nên nói.
Nơi chỗ ông đi qua
Chớ có vọng tuyên truyền.
Ðức Phật nói với tôn giả Xá Lợi Phất, đồng
thời nói với tất cả chúng sinh đương thời,
cũng bao quát chúng ta tất cả chúng sinh
hiện tại, và tất cả pháp sư hoằng
dương Phật pháp : Ta dùng
pháp ấn thật tướng tôn quý nầy, chứng minh
tất cả chúng sinh đều có thể thành Phật đạo,
vì lợi ích tất cả chúng sinh, lợi ích thế
gian, cho nên nói Kinh Pháp Hoa. Kinh Pháp
Hoa là pháp chí tôn chí quý, cho nên không
thể tùy tiện nói, phải đối cơ mới nói pháp
nầy. Một số người căn tánh thiển cạn, không
thể tiếp thọ diệu pháp thượng thừa.
Nếu đối với họ nói
Kinh Pháp Hoa, chẳng những không thể tiếp
thọ, mà còn sinh hủy báng. Ðể tránh khỏi sự
hủy báng diệu pháp thượng thừa mà đọa địa
ngục, cho nên chỉ đối với người có căn tánh
đại thừa, mới có thể nói diệu pháp thượng
thừa Kinh Pháp Hoa.
Nếu có ai nghe được
Tùy hỷ kính thọ trì
Nên biết rằng người đó.
Là bậc bất thối chuyển
Nếu có người tin nhận
Kinh pháp vô thượng nầy
Thì người đó đã từng.
Gặp chư Phật quá khứ
Cung kính và cúng dường
Cũng nghe được pháp nầy
Nếu người nào có thể.
Tin nhận lời
ông nói
Tức như là thấy ta
Và cũng như thấy ông
Cùng các Tỳ Kheo Tăng.
Và các bậc Bồ Tát
Phật vì người trí sâu
Nói Kinh Pháp Hoa nầy
Người thức cạn nghe được.
Mê hoặc chẳng hiểu đặng
Tất cả hàng Thanh Văn
Cùng với Bích Chi Phật
Ở trong Kinh pháp nầy.
Sức họ chẳng hiểu đặng
Như
ông Xá Lợi Phất
Còn ở nơi Kinh nầy
Dùng lòng tin vào được.
Huống là Thanh Văn khác
Bao nhiêu Thanh Văn khác
Vì tin lời Phật nói
Mà tùy thuận Kinh nầy.
Chẳng phải trí của mình.
Ðức Phật nói: ‘’Nếu có người nghe được Kinh
Pháp Hoa, mà tùy hỉ cung kính thọ trì, nên
biết người đó là bậc bất thối chuyển, phải
biết người đó đã phát tâm Bồ Tát, đã được ba
bất thối chuyển. Nếu có ai tin nhận thọ trì
Kinh Pháp Hoa đại thừa nầy, thì người đó
trong quá khứ đã từng thấy vô lượng chư
Phật, và hay cung kính cúng dường, trồng
xuống hạt giống căn lành. Nếu có người tin
đạo lý Kinh Pháp Hoa, thì giống như thấy
Phật.’’ Vào đời Ðường, đại sư Trí Giả tông
Thiên Thai đọc tụng Kinh Pháp Hoa ‘’Phẩm
Dược
Vương Bồ Tát Bổn Sự‘’ đến chỗ
Bồ Tát Dược Vương đốt thân cúng Phật, ‘’Là
chân tinh tấn, gọi là chân pháp cúng dường
Như Lai.’’ Lúc đó, đại sư Trí Giả bèn nhập
định, nhìn thấy hội Pháp Hoa ở núi Linh Thứu
vẫn chưa tan, từ đó đắc được Ðà
La Ni Pháp Hoa tam muội, khai
mở vô lượng vô biên trí huệ, cho nên Phật
nói tin nhận thọ trì được Kinh Pháp Hoa, tức
là thấy được Phật, cũng thấy được tôn giả Xá
Lợi Phất, và tất cả Tỳ Kheo Tăng, và còn
thấy tất cả các đại Bồ Tát trong hội Pháp
Hoa.
Do đó, Kinh nầy chỉ
có thể nói với những người có trí huệ Bát
Nhã. Nếu những người kiến thức nông cạn,
người ngu si, người tánh tình nóng nảy, mà
nghe được Kinh Pháp Hoa, thì sẽ nổi trận lôi
đình, mê hoặc chẳng hiểu. Tất cả hàng Thanh
Văn nghe bốn Diệu đế mà khai ngộ, và Bích
Chi Phật, tu mười hai nhân duyên mà khai
ngộ, chẳng đủ sức hoằng
dương Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa. Ông là đại trí Xá Lợi Phất, mà đối với
Kinh Pháp Hoa còn phải suy gẫm mới tin nhận,
huống gì những vị Thanh Văn khác ? Bao nhiêu
vị Thanh Văn khác, do nghe Phật nói Kinh
Pháp Hoa, chẳng minh bạch đạo lý bên trong,
cũng tin nhận. Tuy họ tin nhận, nhưng chẳng
phải trí huệ vốn có của họ sinh ra, mà vì
tùy thuận Phật nói, cho nên tin nhận diệu lý
Kinh nầy, từ từ trí huệ tự nhiên cũng sẽ
sinh ra.
Lại nữa Xá Lợi Phất !
Kẻ kiêu mạn giải đãi
Chấp trước vào bản ngã
Chớ nên nói Kinh nầy.
Kẻ phàm phu thức cạn
Chấp sâu nơi năm dục
Nghe chẳng thể hiểu đặng
Cũng chớ vì họ nói.
Nếu người chẳng tin nhận
Mà hủy báng Kinh nầy
Tức là dứt tất cả
Hạt giống Phật thế gian.
Phật lại bảo Ngài Xá Lợi Phất ! "Kiêu" là kiêu
ngạo, "mạn" là khinh mạn, tự cho mình cao
hơn, giỏi hơn bất cứ ai. "Giải đãi" là lười
biếng, chẳng có tâm dũng mãnh tinh tấn. Nếu
ai chấp trứơc vào tướng "ta" thì mới "kiêu
mạn giãi đãi", đối với những người nầy, chớ
nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Vì những người
nầy, nghe được đạo lý Kinh Pháp Hoa, cũng
chẳng cung hành thực tiễn, cho nên đừng
giảng nói Kinh nầy cho họ nghe. Kẻ phàm phu
kiến thức nông cạn, thiếu trí huệ, tham
trước: Tài, sắc, danh, ăn, và ngủ, năm dục,
năm dục nầy thông đạt đường vào địa ngục năm
căn. Sắc, thanh, hương, vị, xúc, cũng là năm
dục, cũng không thể tham trước năm dục nầy,
vì tham trước vào năm dục, cho nên nghe Kinh
Pháp Hoa cũng chẳng minh bạch.
Người thế gian đều thích nghe âm thanh hay, ăn
đồ ngon, ngủ nhiều. Trong Kinh Pháp Hoa nói:
"Chớ tham năm dục nầy", chắc chắn họ sẽ
không tin. Nếu người không tin thì sẽ hủy
báng Kinh nầy, dứt mất tất cả hạt giống Phật
thế gian. Dứt hạt giống Phật tức là sinh hạt
giống địa ngục, tương lai sẽ đọa vào địa
ngục. Cho nên chúng ta trước hết giảng Kinh
Lăng Nghiêm, sau giảng Kinh Pháp Hoa. Vì
người chẳng có căn tánh đại thừa, thì chẳng
tin diệu lý thượng thừa trong Kinh Pháp Hoa.
Hoặc có người nhăn nhó
Mà ôm lòng nghi hoặc
Ông nên lóng nghe nói
Tội báo của người nầy.
Nếu Phật còn tại thế
Hoặc sau khi diệt độ
Nếu có người phỉ báng
Kinh điển như thế nầy.
Thấy có người đọc tụng
Biên chép và thọ trì
Bèn khinh khi ghét ghen
Mà ôm lòng kết hận.
Tội báo của người nầy
Nay ông nên lóng nghe
Khi người đó mạng chung
Đọa vào ngục A-tỳ.
Đầy đủ chẵn một kiếp
Hết kiếp rồi lại sinh
Cứ chuyển sinh như thế
Cho đến vô số kiếp.
"Hoặc có người nhăn nhó, mà ôm lòng nghi
hoặc": Người tham trước năm dục, mà Kinh
Pháp Hoa khuyên phải lìa năm dục, cho nên họ
nghe pháp nầy mà chẳng vui, càng sinh nghi
hoặc. Phật nói họ tương lai phải đọa vào địa
ngục, thọ khổ vô lượng vô biên. Bất cứ Phật
tại thế, hoặc sau khi diệt độ, nếu có kẻ phỉ
báng Kinh Pháp Hoa, thấy người đọc tụng hoặc
biên chép Kinh Pháp Hoa, bèn sinh tâm khinh
khi ghen ghét đố kị, ôm ấp oán hận trong
tâm. Tội báo của người nầy, nay ông hãy lóng
nghe: Sau khi người đó mạng chung, phải đọa
vào điạ ngục vô gián một đại kiếp, trải qua
vô số kiếp mới ra khỏi địa ngục.
Từ trong địa ngục ra
Sẽ đọa làm súc sinh
Hoặc làm chó, dã can
Thân hình chúng gầy ốm.
Đen thui lại ghẻ lát
Bị người thường chọc ghẹo
Lại còn phải bị người
Nhờm gớm và khinh khi.
Thường bị khổ đói khát
Xương thịt đều khô héo
Lúc sống chịu khốn khổ
Chết bị ném ngói đá.
Vì dứt mất giống Phật
Nên chịu tội báo đó
Hoặc sinh làm lạc đà
Hoặc sinh vào loài lừa.
Thân thường mang chở nặng
Còn thêm bị đánh đập
Chỉ nhớ nước và cỏ
Ngoài ra chẳng biết gì.
Vì phỉ báng Kinh điển
Mà mắc tội như thế.
Từ địa ngục ra, lại chuyển làm súc sinh, làm
thân chó hoặc dã can. Dã can thuộc về loài
chồn, ở nơi ven núi hoặc ở trên cây cao, ban
ngày thì ẩn núp, ban đêm thì đi, đi thì kết
thành bầy mà đi, dã can chỉ có một con mắt
để nhìn, còn con mắt kia thì chẳng thấy, vì
khinh miệt người khác đọc tụng hoặc biên
chép Kinh Pháp Hoa, cho nên chỉ có một con
mắt để nhìn. Thân hình ốm gầy như cây củi,
thân lại mang bệnh ghẻ lát, phát ra mùi hôi
thối, người mà thấy thì phải lánh xa. Dã can
vì phỉ báng Phật, Pháp, Tăng, Kinh Pháp Hoa,
cho nên trên thân có mùi thôi thối, trải qua
nhiều đời mới sinh làm người, làm người cũng
bị người chán nghét, thường bị đói khác,
xương thịt khô héo, lúc sống thì chịu khổ
như thế, khi chết đi thì bị người ném gạch
ngói đá, vì họ phỉ báng Kinh Pháp Hoa, dứt
mất hạt giống Phật mà sinh hạt giống địa
ngục, cho nên chịu quả báo nầy. Hoặc sinh
làm lạc đà hoặc lừa, thân thường mang chở
nặng, bị người đánh đập, suốt ngày chỉ nhớ
tưởng uống nước hoặc ăn cỏ, ngoài ra chẳng
biết gì nữa, đều do phỉ báng Kinh, cho nên
mắc tội như thế.
Có khi làm dã can
Đi vào trong xóm làng.
Thân thể bị ghẻ lát
Lại thiếu mất một mắt
Bị những đứa trẻ con
Đánh đập và liệng ném.
Chịu các sự thống khổ
Hoặc có khi phải chết
Sau khi bỏ thân nầy
Bèn thọ làm thân rắn.
Thân hình dài to lớn
Đến năm trăm do tuần
Ngây điếc chẳng có chân
Lăn lóc đi bằng bụng.
Bị các loài trùng nhỏ
Rúc rỉa ăn máu thịt
Ngày đêm chịu khổ sở
Chẳng có khi nào ngừng.
Bởi phỉ báng Kinh nầy
Mắc tội như vậy đó.
Dã can thuôc loài chồn, nhưng đa nghi hơn
chồn, vì kiếp trước miệt thị người tụng đọc,
lễ lạy và giảng giải Kinh Pháp Hoa, cho nên
sinh làm dã can. Dã can bị nghiệp chướng che
đậy, nên thân thể nhiều bệnh tật và ghẻ lát,
vào trong xóm làng tìm vật ăn, vì thiếu một
mắt, nên bị trẻ con trong xóm liệng, ném đá.
Hơn nữa, vì thân thể có ghẻ lát bị đánh thì
càng đau đớn, thậm chí bị ném đá đến chết.
Chết rồi lại đầu thai làm mãng xà, thân dài
năm trăm do tuần. Mãng xà tuy có tai nhưng
chẳng nghe được, lại còn ngu si, chẳng có
chân, lăn lóc đi bằng bụng, có côn trùng nhỏ
rúc rỉa bên trong, ăn uống máu thịt, ngày
đêm chịu khổ, bởi vì phỉ báng Kinh nầy, nên
mắc tội báo đó.
Nếu được sinh làm người
Các căn đều ám độn.
Lùn xấu lại lệch què
Đui điết thêm lưng gù
Có nói ra lời gì
Chẳng có ai tin nhận.
Hơi miệng thường hôi thối
Bị quỷ mị dựa nhập
Bần cùng rất hạ tiện
Thường bị người sai khiến.
Nhiều bệnh thân ốm gầy
Chẳng có chỗ nương nhờ.
Nếu thoát khỏi thân mãng xà, sinh làm thân
người thì: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sáu
căn của họ đều ám độn. Khả năng nhìn chẳng
tốt, thính giác chẳng linh mẫn, lỗ mũi chẳng
biết thơm thối, vị giác chẳng linh, thân thể
xúc giác chẳng rõ ràng, ý niệm thì ngu si,
thiếu trí huệ, hoặc tay chân thiếu khuyết,
đó gọi là các căn ám độn. "Lùn" là thân thể
thấp nhỏ, như quỷ Cưu bàn trà, bề dọc cũng
bằng bề ngang, thân thể tướng mạo xấu xí,
chân bị lệch què, chẳng duỗi ra đặng, hoặc
là lưng khòm, hoặc mắt mù, tai điết, lưng
cong. Loại người nầy, nếu nói ra điều gì đều
chẳng ai tin, hơi miệng hôi thối, vì quá khứ
phỉ báng Kinh Pháp Hoa, hoặc dạ dày có bệnh,
nên miệng hôi thối. Có những người có luồng
cương khí, hàng phục được thiên ma ngoại
đạo, cũng có mùi vị nầy. Nếu thường tụng
Kinh Pháp Hoa, thì trong miệng thường toả ra
mùi thơm của hoa sen. Ai phỉ báng Kinh Pháp
Hoa, thì bị quỷ mị dựa nhập, bần cùng hạ
tiện, bị người sai khiến, nhiều bệnh tật gầy
ốm, chẳng có chỗ để nương tựa.
Dù nương tựa gần người
Mà người chẳng để ý
Nếu học được điều gì
Thì bèn quên mất hết.
Nếu học làm nghề thuốc
Theo đúng pháp trị bệnh
Mà bệnh người nặng thêm
Hoặc có khi mất mạng.
Nếu mình có bệnh gì
Chẳng ai cứu chữa khỏi
Dù có uống thuốc hay
Mà bệnh lại thêm nặng.
Hoặc có người phản nghịch
Cướp giật trộm lấy của
Các tội lỗi như thế
Hoặc tự mang vạ lây.
Những người tội như thế
Vĩnh viễn chẳng thấy Phật
Là vua trong hàng Thánh
Thường nói pháp giáo hoá.
Những người tội như vậy
Thường sinh chỗ hoạn nạn
Tâm cuồng loạn tai điết
Vĩnh viễn chẳng nghe pháp.
Mặc dù xiểm nịnh đối với người, người cũng
chẳng để ý đến. Nếu học Phật pháp, hoặc học
thuộc lòng Kinh, thì hay quên mất. Nếu học
về nghề thuốc, ngành y
Trung Quốc có phân ra : Hàn,
nhiệt, ôn, bình, và dùng : Vọng, văn, vấn,
thiết, bốn thứ phương pháp để đoạn chứng.
Vọng nhìn mà biết gọi là "thần", văn (nghe)
mà biết gọi là "thánh", vấn (hỏi) mà biết
gọi là "công", thiết (bắt) mạch mà biết gọi
là "khéo". Mạch phân ra gồm có : Phù, trầm,
thỉ, tốc, hoạt, tức, hư.
Có một câu chuyện, một ngày nọ, vua Diêm Vương
bị bệnh, mới sai quỷ đi mời thầy thuốc đến
để chữa bệnh. Quỷ hỏi : Mời thầy thuốc nào ?
Vua Diêm Vương nói : Mời thầy thuốc mà ở
trước cửa bệnh viện ít quỷ nhất. Quỷ đi tìm,
thấy rất nhiều oan hồn quỷ ở trước cửa bệnh
viện, nhưng có một bệnh viện trước cửa chỉ
có hai con quỷ, bèn mời thầy thuốc ở trong
bệnh viện đó, đến để trị bệnh cho vua Diêm
Vương. Vua Diêm Vương hỏi ông ta làm thầy
thuốc đã được bao lâu ? Ông ta đáp: Vừa mới
bắt đầu làm nghề thầy thuốc. Bệnh viện nầy
vừa bắt đầu chữa bệnh, thì đã chết hai người
! Vua Diêm Vương bèn từ chối, chẳng cho ông
thầy thuốc nầy chữa bệnh, không cần ông ta
khám bệnh, có thể thấy, nếu thầy thuốc dùng
lầm thuốc, thì người sẽ mất mạng.
"Theo đúng pháp trị bệnh, mà bệnh càng thêm
nặng, hoặc có khi mất mạng, nếu mình có bệnh
gì, chẳng có ai chữa khỏi, dù có uống thuốc
hay, mà bệnh lại càng thêm nặng". Hoặc gặp
thời buổi nhiễu loạn. "Cướp giật trộm lấy
của". Hoặc bị chính phủ tịch thu cướp giật
hoặc bị trộm cướp, những tội lỗi như thế,
hoặc bị mang vạ lây. Những người tội như
thế, vĩnh viễn chẳng thấy được Phật. Phật là
vua trong hàng Thánh, thường nói pháp giáo
hóa, những người tội như vậy, thường sinh
nơi hoạn nạn, tâm cuồng loạn tai điết, vĩnh
viễn chẳng nghe pháp.
Ở trong vô số kiếp
Nhiều như cát sông Hằng
Sinh ra luôn câm điết
Các căn chẳng đầy đủ.
Thường ở nơi địa ngục
Như dạo xem công viên
Ở trong các đường ác
Như nhà cửa của mình.
Lạc đà, lừa, heo, chó
Thường đến những chỗ đó
Vì khinh chê kinh nầy
Mắc tội nặng như thế.
Nếu được sinh làm người
Thường đui điết câm ngọng
Bần cùng các tướng suy
Dùng để tự trang nghiêm.
Bệnh phù thủng khô khát
Ghẻ lát và ung thư
Các chứng bệnh như thế
Dùng làm y phục mặc.
Thân thể thường hôi thối
Dơ bẩn chẳng sạch sẽ
Chấp sâu nơi tướng ta
Tăng thêm tánh nóng giận.
Và dâm dục hẫy hừng
Chẳng chừa loài cầm thú
Vì khinh chê kinh nầy
Mà mắc tội như thế.
Có những người căn lành chẳng đủ, bị nghiệp
chướng làm chướng ngại, nghe Kinh giây lát
thì bỏ đi. Tôi thường nói:
"Khuyên bạn làm điều lành,
Bạn bảo chẳng có tiền, có cũng không.
Hoạn nạn xảy đến dùng ngàn vạn, không cũng có.
Nếu nghe Kinh nghe pháp, đi cũng bận,
Khi hơi thở chấm dứt xuống âm ti, bận cũng
đi".
Nếu ai trong vô lượng kiếp đến nay, trồng
xuống căn lành sâu dày, mới có thể nghe được
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Ngài đại sư Huệ Tư
với đại sư Trí Giả, từng cùng nghe Kinh Pháp
Hoa ở tại núi Linh Sơn, cho nên có duyên gặp
nhau ở tại
Trung Quốc. Các vị đang ngồi
nghe Kinh, đều đã từng nghe Kinh Pháp Hoa ở
trên hội Linh Sơn, chỉ vì lâu quá rồi quên
đi, mà nay tôi vì các vị nói lại Kinh Pháp
Hoa mà thôi.
Ở trong vô số kiếp,
nhiều như số cát sông Hằng, sinh ra luôn câm
điết, các căn chẳng đầy đủ, thường ở nơi địa
ngục, như ở trong nhà cửa của mình, hoặc
sinh làm : Lạc đà, lừa, heo, chó, tất cả cử
chỉ hành động đều như các loài đó. Cho nên,
ở Ấn Ðộ có những ngoại đạo giữ giới chó,
giới bò, tức là kiếp trước đã từng khinh chê
Kinh Pháp Hoa, cho nên dù sinh làm người, mà
tựa như súc sinh. Ra khỏi địa ngục, súc
sinh, mà được sinh làm người thì: Đui, điết,
câm, ngọng, hoặc bị bần cùng, vì kiếp trước
giàu có mà chẳng cúng dường Tam Bảo, cho nên
đời nầy nghèo khổ, hoặc thường gặp nghịch
cảnh.
Như có câu chuyện Khương Thái Công bán bột:
Khương Thái Công là thừa tướng của
Chu Văn Vương, là sư phụ của
Chu Võ Vương. Khương Thái
Công tức là Khương Tử Nha, vận khí chẳng
tốt, vào triều đại nhà Ân thì làm quan, sau
từ quan trở về làm thường dân bán bột và
muối. Bán muối cũng chẳng có người mua, về
sau bán bột, suốt ngày cũng chẳng có ai mua
bột, đến tối mới có người đến mua, vừa lúc
ông ta đang đong bột, thì tướng quân Hoàng
Phi Hổ cởi ngựa đi qua đá đổ cái thúng bột,
bột đổ xuống đường lộn lạo với cát bùn, bột
càng bán chẳng được, bèn đi về nhà. Về đến
nhà gõ cửa, chẳng ai đáp bèn dùng tay đập
cửa thì bị ong chích. Thời vận của ông ta
xui xẻo như thế ! Kiếp trước ông ta vốn là
một con gấu, thấy một vị tu đạo tên là Ngọc
Hư Công, vì biết vị nầy là bậc
cao Tăng, cho nên quỳ ở trước
cửa động suốt năm trăm năm để cầu đạo, xương
cốt cũng thành cát bụi, chỉ vì cầu đạo, cho
nên sau được sinh làm người, ông ta cũng
từng hủy báng Tam Bảo.
Ông Khương Thái Công có người
thiếp chẳng hiền, nên thời vận chẳng tốt,
vận mạng Khương Thái Công có thể nói là "các
tướng đều suy".
"Dùng để tự trang nghiêm". Những chúng sinh
nầy dùng bần cùng và các tướng suy để trang
nghiêm chính mình. Thân thể bệnh phù thủng,
khô mòn hoặc có ghẻ lát rất khó chịu vô
cùng. "Ung thư" là chứng bệnh thuộc về ngoại
chứng. Các chứng bệnh như thế, như y phục
thường mặc trên thân. Thân thường tỏa ra mùi
hôi thối, dơ bẩn chẳng sạch sẽ, chấp sâu nơi
tướng ta, tánh nóng giận càng bạo phát, dâm
dục hẫy hừng. Như danh tướng Niên Canh Nhiêu
đời nhà Thanh, mỗi đêm phải có mười hai cô
gái ngủ với ông ta, thậm chí cũng làm hạnh
bất tịnh với ngựa, bò. Vì phỉ báng Kinh nầy,
nên thọ quả báo như vậy.
Phật bảo Xá Lợi Phất
Người phỉ báng Kinh nầy
Nếu nói tội lỗi họ
Cùng kiếp chẳng hết được.
Do bởi nhân duyên dó
Ta thường bảo các ông
Đối với người vô trí
Đừng nên nói Kinh nầy.
Ðức Phật bảo tôn giả Xá Lợi Phất! Người phỉ
báng Kinh Pháp Hoa, nếu muốn nói tỉ mỉ tội
lỗi của họ, thì cùng kiếp nói chẳng hết
được. Do bởi nhân duyên đó, cho nên bảo các
ông, trước mặt những người chẳng có trí huệ,
thì chớ nói Kinh nầy. Vì sao ? Nếu những
người chẳng có trí huệ, nghe Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, thì sẽ sinh tâm phỉ báng mà tạo
tội, vì muốn cho họ tránh khỏi tạo tội thọ
quả báo, cho nên đối với người chẳng có trí
huệ đừng nói Kinh Pháp Hoa.
Tôi giảng Kinh Pháp Hoa tại Phật Giáo Giảng
Đường, vì các vị có trí huệ. Nếu các vị
chẳng có trí huệ, mà tôi giảng Kinh nầy cho
quỶ vị, thì các vị sẽ chạy mất, đâu có ở lại
chỗ nầy nghe Kinh. Thiện tri thức giảng Kinh
thuyết pháp đối với bạn, trước hết nhận thức
am tường về Kinh điển, kế tiếp tham thiền đả
toạ. Tham thiền đả toạ cần phải có các sự
trợ duyên, nếu không thì gặp cảnh giới mà
chẳng nhận thức được, dễ sa vào cảnh giới
ma, chưa đắc nói đã đắc, chưa chứng nói đã
chứng, đó là nói dối, quả báu phải đọa địa
ngục. Có người oán trách Phật nói Kinh Pháp
Hoa, cho rằng nếu Phật không nói Kinh nầy,
thì chẳng có ai vì phỉ báng Kinh nầy, mà đoạ
điạ ngục. Cho nên đổ lỗi vì Phật nói Kinh
nầy, nên người mới vì Kinh nầy phỉ báng mà
đoạ điạ ngục. Song, đức Phật chẳng nói Kinh
Pháp Hoa, thì cũng chẳng có ai thành Phật.
Phật đã nói rất rõ ràng, ai phỉ báng Kinh
nầy thì có tội, biết rõ có tội thì đừng phỉ
báng Kinh nầy, đừng biết rõ mà cố phạm,
không phỉ báng Kinh nầy, thì sẽ không đoạ
điạ ngục. Những người phỉ báng Kinh đoạ vào
ba đường ác, may có Bồ Tát Ðiạ Tạng vì họ
thuyết pháp, cứu vớt ra khỏi đường ác, được
sinh về cõi trời, hoặc cõi người, còn người
căn lành sâu dày, do nghe Kinh Pháp Hoa mà
sớm thành Phật.
Nếu có người lợi căn
Có trí huệ sáng suốt
Học rộng trí nhớ tốt
Tâm mong cầu Phật đạo.
Những hạng người như thế
Mới nên vì họ nói
Nếu người đã từng thấy
Trăm nghìn ức vị Phật.
Trồng các gốc căn lành
Thâm tâm rất bền vững
Những hạng người như thế
Mới nên vì họ nói.
Nếu có người tinh tấn
Thường tu tâm từ bi
Chẳng hề tiếc thân mạng
Mới nên vì họ nói.
Phật nói những người phỉ báng Kinh Pháp Hoa,
sẽ bị quả báo đọa địa ngục, là một cửa đại
bi. Cho nên, không những không nên mở miệng
phỉ báng Kinh Pháp Hoa, mà trong tâm dù một
ý niệm phỉ báng Kinh cũng không thể sinh ra.
Nếu có người lợi căn, tức là tin sâu sắc chẳng
nghi, những người đó đều là những người học
rộng trí nhớ tốt, có tâm cầu Phật đạo, những
hạng người như thế, mới nên vì họ nói Kinh
Pháp Hoa, nếu có người ở trong quá khứ, đã
từng gặp trăm ngàn ức vị Phật, trồng các căn
lành, những người đó trong quá khứ, đã từng
cúng dường Tam Bảo.
Người cúng dường Tam Bảo, nên một lòng cúng
dường Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo, đừng sinh
tâm phân biệt. Trồng căn lành sẽ phát sinh
trí huệ Bát Nhã, có tâm kiên cố, những hạng
người như thế, mới nên vì họ nói, nếu có
người tinh tấn, thường tu tâm từ bi. Tâm từ
bi mới không thấy lỗi chúng sinh, dù thấy họ
có lỗi, cũng dùng từ bi đối đãi, chẳng tiếc
thân mạng, mới nên vì họ nói.
Nếu có người cung kính
Chẳng sinh lòng khác biệt
Lìa xa các phàm ngu
Ở riêng trong núi đầm.
Những hạng người như thế
Mới nên vì họ nói
Lại nữa, Xá Lợi Phất !
Nếu thấy có người nào.
Rời bỏ ác tri thức
Gần gũi những bạn hiền
Những hạng người như thế
Mới nên vì họ nói.
Nếu thấy có Phật tử
Giữ gìn giới trong sạch
Như hạt châu sáng sạch
Ham cầu Kinh đại thừa.
Những hạng người như thế
Mới nên vì họ nói
Nếu người chẳng nóng giận
Chất trực và diệu hòa.
Thường thương xót hết thảy
Cung kính các đức Phật
Những hạng người như thế
Mới nên vì họ nói.
"Nếu có người cung kính, chẳng sinh lòng khác
biệt": Có những người nghe Kinh rồi, bên
ngoài biểu hiện cung kính tiếp thọ, nhưng
bên trong khởi tâm nghi ngờ đối với vị pháp
sư, nghĩ: "Những gì pháp sư này nói có đáng
tin chăng ? Ta có bị lừa chăng" ? Người có
trí huệ chân chánh, sẽ không bị lừa gạt, còn
người chẳng có trí huệ, thì thường sợ người
lừa gạt họ, song cuối cùng cũng vẫn bị lừa.
Nếu gặp người cung kính mà chẳng sinh lòng
khác biệt, xa lìa các phàm ngu, ở riêng
trong núi đầm, những hạng người như thế, mới
nên vì họ nói Kinh nầy.
Ðức Phật lại bảo tôn giả Xá Lợi Phất ! Nếu
thấy có người lìa bỏ ác tri thức, mà gần gũi
bạn hiền, những hạng người như thế, mới nên
vì họ nói Kinh nầy. Nếu thấy có người giữ
gìn giới thanh tịnh trong sáng như hạt châu,
ham cầu Kinh đại thừa, những người như thế,
nên vì họ nói Kinh nầy. Những hạng người ở
trên biết hối cải, cho nên có thể vì họ mà
nói Kinh nầy.
Nếu gặp người chẳng có tâm sân hận, ai hay lìa
bỏ tâm nóng giận, cũng sẽ lìa được tâm tham
và tâm si, những người nầy bản tánh chất
trực dịu hòa, thường có lòng thương tất cả,
cung kính các Ðức Phật, những hạng người như
thế, mới nên vì họ nói Kinh nầy. Có những
người chẳng biết cung kính lễ bái đối với
Phật, Phật là cha lành của tất cả chúng
sinh, cho nên chúng ta nên cung kính, không
những lễ lạy đối với Phật, mà cũng phải đảnh
lễ đối vớ các vị Tăng tu trì Phật pháp, cung
kính Tam Bảo, cho nên nói "Cung kính các đức
Phật".
Lại có các Phật tử
Ở trong các đại chúng
Thuần dùng tâm thanh tịnh
Đủ thứ các nhân duyên.
Ví dụ và lời lẽ
Nói pháp không chướng ngại
Những hạng người như thế
Mới nên vì họ nói.
Năm giới là: Không sát sanh, không trộm cắp,
không tà dâm, không nói dối, không uống
rượu, nếu giữ được năm giới nầy, thì sẽ được
sinh làm người. Nếu tu mười điều lành, thì
được sinh về cõi trời. Trồng nhân lành thì
được quả lành, trồng nhân ác thì được quả
ác. Trồng nhân thế nào, thì được qủa thế ấy,
cho nên phải cẩn thận nhân quả.
Nếu có vị Tỳ Kheo
Vì cầu Nhất thiết trí
Cầu pháp khắp bốn phương
Chắp tay đảnh lễ thọ.
Chỉ vui thích thọ trì
Các Kinh điển đại thừa
Cho đến chẳng thọ trì
Một bài kệ Kinh khác.
Những hạng người như thế
Mới nên vì họ nói
Như có người chí tâm
Cầu xá lợi của Phật.
Cầu Kinh cũng như thế
Được rồi đảnh lễ thọ
Người đó lại chẳng có
Chí cầu các Kinh khác.
Cũng chưa từng nghĩ nhớ
Kinh điển của ngoại đạo
Những hạng người như thế
Nên vì họ mà nói.
Tỳ kheo là tiếng Phạn, có ba ý nghĩa:
1. Khất sĩ.
2. Bố ma.
3. Sát tặc.
Tỳ kheo đi cầu pháp khắp bốn phương, được Kinh
Pháp Hoa, Kinh
Hoa Nghiêm, Kinh Lăng Nghiêm,
Kinh Kim Cang, các Kinh điển đại thừa,
chuyên tu những Kinh nầy, chí tâm đảnh lễ
thọ trì, mà bỏ những Kinh khác, những hạng
người như thế, mới có thể vì họ nói Kinh
nầy.
Phật bảo Xá Lợi Phất !
Ta nói các sự tướng
Của người cầu Phật đạo
Cùng kiếp chẳng hết được.
Hết thảy những người đó
Tức có thể tin hiểu
Ông nên vì họ nói
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Phật bảo
Tôn Giả Xá Lợi Phất! Mười
hạng người cầu Phật đạo ở trên, cùng kiếp
nói cũng chẳng hết được, cho nên phải vì
những người đó, nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Có những người lại sinh ra nghi hoặc: Trong
Kinh
Hoa Nghiêm có nói: Chấp vào
một Kinh cho là chánh quyết, mà chỉ các Kinh
khác là hư cấu, đó là lối đi của ma, mà nay
Kinh Pháp Hoa khiến cho người thọ trì một
Kinh, đó chẳng phải là mâu thuẫn chăng ? Ý
của Kinh Pháp Hoa nói là : Nếu sức của bạn
thọ trì được một Kinh, thì thọ trì một Kinh,
còn nếu có thể thọ trì được nhiều Kinh điển
thì càng tốt, cho nên đừng chấp trước, nên
linh hoạt biến thông.