PHẨM PHƯƠNG TIỆN THỨ HAI
Bấy giờ, Ðức Thế
Tôn từ tam muội an tường mà dậy, nói với
Ngài Xá Lợi Phất : Trí huệ của chư Phật thâm
sâu vô lượng, môn trí huệ đó khó hiểu khó
vào. Tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật không
thể biết được. Vì sao ? Phật đã từng gần gũi
trăm ngàn vạn ức vô số chư Phật, thực hành
hết vô lượng đạo pháp của chư Phật, dũng
mãnh tinh tấn, danh xưng đồn khắp, thành tựu
pháp thâm sâu chưa từng có, tùy nghi mà nói,
ý nghĩa khó hiểu.
Kinh trường hàng và kệ ở trên là phẩm tự của
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Tự tức là tự thuật
nhân duyên của bộ Kinh nầy. Nhân duyên của
bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nầy đã tự thuật
rõ ràng, tiếp theo dưới đây giảng về phẩm
thứ hai, phẩm Phương Tiện. Phương tức là
phương pháp, tiện tức là tiện lợi. Ðây là
quyền pháp chẳng phải là thật pháp, cho nên
gọi là phương tiện, do đó quyền xảo phương
tiện. Quyền, chẳng phải pháp của Kinh bình
thường, chỉ là tạm thời chọn dùng mà thôi.
Thật, là vĩnh viễn không biến đỗi, vĩnh viễn
tồn tại. Song, một số người mới bắt đầu học
Phật, chẳng dễ gì hiểu rõ thật pháp, vì quán
cơ thí giáo, mười phương chư Phật khéo bày
pháp môn quyền xảo phương tiện, sau đó mới
khai quyền hiển thật, vì thật thí quyền. Cho
nên tuyên nói thứ lớp nào là Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát thừa, mà cứu kính chỉ quy
về Phật thừa. Phật thừa tức là thật, Thanh
Văn, Duyên Giác là quyền, trước hết nói pháp
tiểu thừa, sau đó mới dẫn đường chúng sinh
quy vào đại thừa Phật quả, đây gọi là vì
thật thí quyền, khai quyền hiển thật. Khai
tức là khai mở. Ðức Phật ban đầu nói tam
tạng giáo lý, là vì khích lệ tâm tu đạo của
người tiểu thừa, cho nên nói đây là pháp tối
thắng. Song, người tiểu thừa được ít cho là
đủ, cho rằng chứng được : sơ, nhị, tam, tứ
quả tức là cứu kính mà chẳng cầu tiến thêm
nữa, do đó mà dừng lại ở hóa thành.Vì độ bậc
Thanh Văn, Duyên Giác căn cơ thiển cạn, cho
nên đùc Phật dẫn dụ hóa thành ở phẩm thứ
bảy, lại vì năm trăm đệ tử thọ ký.
Người nhị thừa tuy nhiên phí hết công
phu khổ hạnh và tu trì đủ thứ khổ hạnh để
đạt đến quả vị A La Hán, nhưng chưa "trên
cầu Phật đạo, dưới độ chúng sinh," chỉ làm
tự liễu hán, chỉ lợi mình mà chẳng lợi
người. Do đó, Ðức Phật mới khai quyền pháp,
nói rõ đạo lý nói : trước kia chẳng phải là
pháp môn triệt để nhất, chứng đắc những quả
Thánh, càng chẳng phải là cứu kính viên mãn
nhất. Nên hồi tiểu hướng đại, từ tiểu thừa
vào đại thừa, tức là phải hành Bồ Tát đạo,
tu lục độ vạn hạnh, pháp môn đại thừa độ
người của Bồ Tát. Trước hết phá phương tiện
quyền pháp nầy, mới hiển ra được đạo lý chân
thật, đây gọi là phẩm Phương Tiện.
"Lúc bấy giờ, Ðức
Thế Tôn từ tam muội an tường mà dậy." Ðương
lúc đó, bậc tôn kính của trời người từ tam
muội vô lượng nghĩa xứ, an tường tự tại mà
dậy. Nghĩa là Ðức Phật tự tại xuất định,
ngược lại quán sát chúng sinh mới ngồi chẳng
bao lâu, thì cảm thấy lưng ê chân đau, do đó
dũi chân ra, thẳng lưng lên, đó đều là biểu
hiện chẳng tự tại.
Con người tất phải
tu đạo, không tu thì chẳng có đạo, phải tu
mới có đạo. Song, bạn không tu đạo thì vấn
đề gì cũng chẳng có. Một khi bạn bắt đầu tu
đạo, thì vấn đề sẽ xảy đến. Tại sao có vấn
đề ? Ðó đều do tiền kiếp đã tạo ra, có đủ
thứ nhân duyên khác nhau, trong đó những nợ
nần đầy dẫy hỗn tạp chẳng rõ ràng. Vì những
nhân duyên ràng buộc, cho nên đời nay mới
phát tâm tu đạo, thì ma vương đến đòi nợ,
tạo các nghịch cảnh khiến cho bạn sinh phiền
não mà thối bồ đề tâm. Người vào thời đại
mạt pháp, tâm sân rất nặng cho nên thường
sinh tâm phiền não đối với người chẳng có
phiền não, đối với vật dễ khởi phiền não,
không những đối với súc sinh, quỷ thần sinh
phiền não, mà thậm chí đối với Bồ Tát với
Phật cũng nóng giận, cuối cùng đối với chính
mình cũng nóng giận ! Ðó là vì quá khứ tại
nhân địa vô minh quá nhiều, phiền não quá
nặng, tạo những nghiệp chướng hồ đồ, đời nay
mới có đủ thứ phiền não chướng ngại hiện
tiền.
Có những người lúc
tu hành thì phát nguyện nói chẳng sinh tâm
phiền não, không ngờ không nói nguyện nầy
thì còn tốt, một khi phát nguyện rồi thì
phiền não lập tức xảy đến. Tại sao ? Ví như
ở trường học thì học sinh phải trải qua kỳ
thi mới được lên lớp. Tu đạo cũng như thế,
phải trải qua sự thử thách mới làm được, khó
nhẫn mà nhẫn được, khó thọ mà thọ được, khó
hành mà hành được, ăn được những gì người
không thể ăn, cho đến làm được những gì
người không làm được, đó mới là bổn phận của
người tu đạo.
Nói với Ngài Xá Lợi
Phất. Xá Lợi Phất là bậc trí huệ đệ nhất
trong hàng Thanh Văn. Chỉ trong tám ngày
Ngài thông đạt hết tất cả pháp tạng. Ngài Xá
Lợi Phất khi còn ở trong bụng mẹ, đã là biện
tài vô ngại, luận bại cậu của Ngài, vì Ngài
có đại trí huệ, hay tin sâu tất cả các pháp,
cho nên trong phẩm nầy đức Phật dùng Ngài
làm người đương cơ. Bồ Tát Văn Thù là trí
huệ đệ nhất trong chúng Bồ Tát. Ngài Xá Lợi
Phất chỉ là trí huệ đệ nhất về quyền giáo,
tóm lại là người trí huệ đệ nhất ở trong
hàng tiểu thừa.
"Trí huệ của chư
Phật thâm sâu vô lượng". Trí huệ của Phật
cao sâu không thể dò được, thâm áo khó hiểu,
cho nên nói môn trí huệ đó, người nhị thừa
khó hiểu khó vào, không dễ thấy được. Người
nhị thừa tức là Thanh Văn, Duyên Giác. Bậc
Duyên Giác khi sinh vào lúc Phật ra đời, thì
tu mười hai nhân duyên mà ngộ đạo, cho nên
gọi là Duyên Giác. Nếu sinh vào thời chẳng
có Phật ra đời thì tự mình tu hành, mùa xuân
quán hoa nở, mùa thu quán lá vàng rơi, hiểu
rõ đạo lý sinh diệt vô thường của vạn vật mà
ngộ đạo, cho nên gọi là Ðộc Giác, chứng quả
rồi còn gọi là Bích Chi Phật.
Thanh Văn thì tu pháp bốn Diệu Ðế mà
chứng quả. Bốn Diệu Ðế là : Khổ đế, tập đế,
diệt đế và đạo đế. Tu bốn Diệu Ðế mà chứng
quả thì gọi là Thanh Văn. Tu mười hai Nhân
Duyên mà chứng quả thì gọi là Duyên Giác.
Các Ngài tuy là Thánh nhân ở trong pháp tiểu
thừa, song đối với đại trí huệ của Phật, các
Ngài chưa thâm nhập được. Tại sao ? Tại sao
các Ngài chẳng biết ?
Sở dĩ mà đức Phật
thành Phật, là vì Phật đã từng gần gũi trăm
ngàn vạn ức vô số chư Phật, cung kíng cúng
dường, khéo gặp trăm ngàn vạn ức các Ðức
Phật, là một pháp môn vô lượng công đức, mà
ở trong Phật giáo có vô lượng vô biên pháp
môn. Ðáng cười cho chúng ta, học được một
chút công phu ngoài da, thì tự cho rằng đã
được hết toàn bộ Phật pháp, đó chẳng khác
nào ngồi đáy giếng mà nhìn trời ! Hoặc chỉ
xem mấy quyển sách Phật giáo thì nói : Tôi
đã hiểu Phật pháp. Ðó thật là chẳng tự lượng
sức mình ! Xem thường Phật giáo quá đơn
giản, quá bình thường. Nhất là những người
nầy vốn chẳng cung hành thực tiễn, mà dám
lên đài giảng Kinh, đó chẳng khác nào chưởi
người, tức chẳng lợi mình cũng chẳng lợi
người, cứ nói đạo lý hồ đồ, chỉ nai là ngựa,
lấy quỷ làm người, người làm quỷ, lấy đen
làm trắng, chẳng biết thị phi. Nếu có người
hoài nghi hỏi thì họ tránh né nói : Tôi cũng
chưa xem qua sách nầy, cũng chẳng hiểu đạo
lý của nó, bạn hãy tự khảo lấy !
"Thực hành hết vô
lượng đạo pháp của chư Phật, dũng mãnh tinh
tấn". Dũng, tức là chẳng sợ sinh tử, chẳng
sợ bất cứ mọi sự gian khổ. Mãnh, là mãnh
lợi. Tinh tấn nghĩa là chẳng giải đãi. "Danh
xưng đồn khắp". Khi chư Phật tu đạo, thì
dũng mãnh tinh tấn, vang danh khắp hết thảy,
cho nên không cầu danh mà danh tự đến. Thành
tựu pháp thâm sâu chưa từng có. Pháp vi diệu
thâm sâu nầy trước kia chưa từng có. "Tùy
nghi mà nói, ý nghĩa khó hiểu". Tuy Ðức Phật
khéo về pháp quyền xảo phương tiện, vì người
mà thí giáo, theo bệnh cho thuốc, song người
căn cơ quá ám độn vẫn chẳng hiểu được nghĩa
lý.
Xá Lợi Phất ! Từ khi ta thành Phật đến nay,
dùng đủ thứ nhân duyên, đủ thứ thí dụ để
rộng nói, dùng vô số phương tiện để dìu dắt
giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh
lìa các sự chấp trước. Vì sao ? Vì phương
tiện tri kiến Ba la mật của Như Lai đều đã
đầy đủ.
Xá Lợi Phất !
Tri kiến của Như Lai rộng lớn sâu xa, vô
lượng vô ngại, lực vô sở úy, thiền định giải
thoát tam muội vào sâu chẳng có bờ mé, thành
tựu tất cả các pháp chưa từng có.
Ðoạn Kinh văn ở trước : Ý nghĩa khó hiểu, pháp
của Phật nói thì : Người trí thì thấy trí,
người nhân thì thấy nhân, người trí sâu thì
thấy sâu, người trí cạn thì thấy cạn, do đó
:
"Một âm diễn nói pháp,
Theo loài đều hiểu được".
Tuy đức Phật chỉ dùng một âm thanh diễn nói
pháp, mà khiến cho hết thảy chúng sinh đều
hiểu được. Bất cứ quỷ, thần, người, Bồ Tát,
Duyên Giác .v.v., đều tùy theo căn cơ mà đẳc
được pháp ích. Song, vẫn chưa hoàn toàn hiểu
hết ý nghĩa của Phật, vì cảnh giới của Phật
quá thâm áo vi diệu khó tin khó thấy được.
Mỗi đạo lý của Phật nói đều hàm chứa bao la
vạn hữu, nhưng căn tính của chúng sinh rất
cạn, không thể nghe một biết mười, không thể
thấy biết triệt để.
"Xá Lợi Phất ! Từ
khi ta thành Phật đến nay, dùng đủ thứ nhân
duyên, vì người độn căn nói đủ thứ nhân
duyên thiện ác trong quá khứ hiện tại và vị
lai. Lại dùng đủ thứ ví dụ, vì người trung
căn rộng nói diễn bày, dùng vô số phương
pháp xảo diệu dạy bảo, dẫn dắt giáo hóa
chúng sinh, khiến cho chúng sinh xa lìa mọi
sự chấp trước". Do đó : Thiện xảo phương
tiện độ chúng sinh, ở nơi trần lao làm Phật
sự. Tất cả pháp thế gian đều là trần lao.
Bởi vậy, dùng đại nguyện lực của Phật, khiến
cho chúng sinh sinh nơi trần lao mà xuất
trần, tại thế gian mà ra khỏi thế gian. Ðó
tức là Phật lực tiếp dẫn.
Ðức Phật dùng pháp quyền xảo phương
tiện, trước hết dạy người tu bốn Diệu Ðế mà
chứng đắc quả Thánh, sơ quả Tu Ðà Hoàn, nhị
quả Tư Ðà Hàm, tam quả A Na Hàm, tứ quả A La
Hán. Người tu mười hai Nhân Duyên thì chứng
đắc quả vị Duyên Giác, sau đó đức Phật từ bi
diễn nói đủ thứ ví dụ nhân duyên, dùng nghĩa
phương tiện, khiến cho họ hồi tiểu hướng
đại, thực hành lục độ hạnh môn của Bồ Tát.
Ðức Phật biết rõ tâm lý của một số chúng
sinh, cho nên trước hết dạy họ tu pháp tiểu
thừa, đợi khi các vị ấy chứng được quả A La
Hán, thì mới khai quyền hiển thật, mà tiến
thêm một bước dạy các vị ấy tu pháp của Bồ
Tát : Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định và Bát nhã, từ tiểu hướng đại, từ
nhỏ lên lớn.
"Phương tiện, tri kiến Ba la mật của
Như Lai đều đã đầy đủ". Như Lai nghĩa là
thật trí. Từ trong chân như thật tướng mà
được thành Phật, cho nên gọi là Như Lai.
Phương tiện là quyền trí vậy. Từ phương tiện
thiện xảo, mà dùng đủ thứ nhân duyên ví dụ
rộng nói ngôn giáo. Tri kiến Ba la mật tức
hay dùng quyền thật, sự lý viên dung, thấu
triệt đáy nguồn của pháp, rõ pháp vốn không,
gọi là Phật tri kiến, đến được bờ kia gọi là
Ba la mật. Ðều đã đầy đủ. Tất cả tri giải
hạnh môn đều đã đầy đủ, quyền thật đều cứu
kính.
"Xá Lợi Phất ! Tri kiến của Như Lai rộng lớn
sâu xa, chẳng có số lượng, tánh vốn không
tịch, cho nên vô quái ngại". Do đó, lớn mà
chẳng ở ngoài, nhỏ mà chẳng ở trong. "Lực vô
sở úy", tức là mười lực và bốn vô sở úy của
Như Lai. Ðịnh tức là tam muội. Thiền là
tiếng Phạn, nói đủ là thiền na, dịch là "tư
duy tu", hoặc là "tĩnh lự". Nếu vọng niệm mà
ngưng bặc tức có định lực. Tu định chẳng
phải chỉ có ngồi kiết già, mà bất cứ nhặt
củi gánh nước tiếp khách, những việc tầm
thường hằng ngày đều tu định lực được.
Vị thiền sư Nhất Như Vĩnh Minh Thọ, mỗi ngày
niệm mười vạn hồng danh Nam Mô A Di Ðà Phật.
Phải chăng ngoài sự niệm Phật Ngài chẳng làm
gì hết ? Chẳng phải. Ngài vừa làm vừa niệm,
trong sự sinh hoạt hằng ngày đều ở trong
niệm Phật tam muội, cho nên mỗi một câu niệm
danh hiệu Phật của Ngài, thì có một vị Phật
từ trong miệng của Ngài hiện ra. Song, tướng
điềm lành nầy chỉ có người khai ngũ nhãn mới
thấy được, chẳng phải mắt thịt của phàm phu
thấy được. Do đó, thiền sư Vĩnh Minh Thọ
được mọi người coi như là hóa thân của Phật
A Di Ðà. Cho nên bất cứ chúng ta làm gì, nếu
giữ gìn tâm : kiên, thành, hằng thì sẽ đắc
được định lực.
Xá Lợi Phất ! Như Lai dùng đủ thứ sự khác
biệt, khéo léo nói các pháp, lời lẽ êm diệu,
khiến cho vừa lòng đại chúng. Xá Lợi Phất !
Nói tóm lại những pháp chính yếu có vô lượng
vô biên chưa từng có, Phật đều đã thành tựu.
Xá Lợi Phất ! Phật dùng đủ thứ trí, rộng phân
biệt diễn nói, những gì nói ra hợp cơ gọi là
khéo, pháp nghĩa chẳng phải một nên gọi là
khác, lời lẽ êm diệu cho nên lợi lạc tất cả
các chúng sinh. Khéo nói các pháp đối với
các pháp, khéo phân biệt, khéo nói thật
tướng của các pháp. Pháp là phương pháp, nếu
khéo léo nói pháp, thì khiến cho mọi người
hoan hỉ tin thọ, đó là khéo nói các pháp.
Lục Tổ Huệ Năng tuy chẳng biết chữ, nhưng khéo
nói các pháp. Một lần nọ, có hai vị Tăng
tranh chấp về việc gió thổi lá phướng động.
Một ông nói : "Tôi nói đó là gió động." Ông
kia nói : "Chẳng phải, đó là phướng động."
Hai người tranh luận không ngừng, đều chẳng
chịu thua, lúc đó Ngài Huệ Năng vừa đến đó,
bèn giải thích cho họ nghe :"Chẳng phải gió
động, cũng chẳng phải phướng động, chính là
tâm của hai vị động !" Trong tâm của bạn cảm
thấy động thì nó động, nếu tâm không động
thì tất cả chẳng động. Ðó cũng là khéo nói
các pháp. Nếu ai hiểu được sự tu đạo, thì
làm gì cũng đều là tu đạo, đều ở trong định.
Lục Tổ Huệ Năng khai ngộ như thế nào ? Khi
Ngài chưa xuất gia làm nghề đốn củi, tuy
nhiên đời sống vất vả nhưng Ngài không quên
việc hiếu thảo với mẹ già. Sau đó, Ngài đến
chỗ Ngũ Tổ, Ngũ Tổ bảo làm công việc giã
gạo. Ngài sớm tối giã gạo chẳng ngừng nghỉ,
tức chẳng có dịp ngồi thiền, cũng chẳng có
thời giờ nghiên cứu Kinh điển, càng chẳng
niệm câu Chú nào. Song, Ngài cánh nhiên khai
ngộ ! Ðó là nguyên nhân gì ? Vì bất cứ Ngài
làm gì, cũng chuyên tâm nhất chí, thanh tịnh
vọng niệm. Trong Kinh Lăng Nghiêm nói rằng :
"Cuồng tâm hết sạch, tức là bồ đề."
Tức cũng là thiền định giải thoát tam muội. Do
đó, nếu ngộ được ý bên trong, thì suốt ngày
làm việc bình thường sẽ có thể lãnh hội.
"Khéo nói các pháp, lời lẽ êm diệu". Pháp của
Phật nói, đều khiến cho tâm của chúng sinh
an lạc vui vẻ.
Ðức Phật lại nói : Xá Lợi Phất ! Nói tóm lại
những pháp vi diệu chính yếu có vô lượng vô
biên chưa từng có, ta đã hoàn toàn thành tựu
chứng hết.
Thôi, Xá Lợi Phất ! Ðừng nói nữa. Vì sao ?
Vì pháp của Phật thành tựu ít có, khó hiểu
bậc nhất. Chỉ có Phật với Phật, mới thấu
triệt được thật tướng của các pháp. Ðó là :
tướng của các pháp như vậy, tánh như vậy,
thể như vậy, lực như vậy, làm như vậy, nhân
như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như
vậy, gốc ngọn cứu kính như vậy .v.v.
Lúc đó, Ðức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa nầy,
mà nói ra bài kệ.
Thôi là ngừng lại chẳng nói nữa. Tại sao Ðức
Phật không muốn nói nữa ? Vì Kinh nầy vi
diệu thâm áo, chẳng phải một số người hiểu
được, nói ra sợ làm cho chúng sinh sinh ra
tâm nghi ngờ phỉ báng mà tạo các nghiệp ác.
Cho nên đức Phật yên lặng lâu, chẳng nói
pháp ít có, khó tin bậc nhất nầy.
Pháp đệ nhất nghĩa, tức là pháp môn không hai,
cho nên gọi là đệ nhất. Pháp môn không hai,
tức là không có hai không có ba, là tuyệt
đối đãi, độc nhất vô nhị. Ít có là chưa từng
nghe. Khó hiểu tức là lý sâu pháp diệu, ý
nghĩa thâm sâu, cho nên khó hiểu. Pháp ít có
nầy, khó thấy khó tin, chỉ có Phật với chư
Phật, mới thấu triệt được thật tướng của các
pháp là vô tướng mà vô sở bất tướng.
Các pháp tức là tất cả pháp, quy nạp
lại không ra ngoài mười như vậy. Tóm lại,
tức là mười pháp giới :
1. Pháp giới của Phật.
2. Pháp giới của Bồ Tát.
3. Pháp giới của Duyên Giác.
4. Pháp giới của Thanh Văn.
5. Pháp giới của chư Thiên.
6. Pháp giới của loài người.
7. Pháp giới của A Tu La.
8. Pháp giới của súc sinh.
9. Pháp giới của ngạ quỷ.
10. Pháp giới của địa ngục.
Bốn pháp giới trước là pháp giới của bậc
Thánh, sáu pháp giới sau là pháp giới của
phàm phu, cộng lại là mười pháp giới. Trong
mười pháp giới, mỗi một giới lại có mười như
vậy, cộng lại thành trăm giới. Mà trong trăm
giới, mỗi một giới lại có mười như vậy, do
đó gọi là ngàn như vậy.
Bây giờ, lược giảng về mười như vậy.
1. Tướng như vậy : Tướng tức là tướng
mạo. Tướng mạo nầy có chân có vọng. Chân,
thì thường trụ chẳng biến đổi, không sinh
không diệt, chân như thật tướng. Do đó, diện
mạo chân thật, bổn địa phong quang, là chỉ
thường trụ chân tâm, tính tịnh minh thể của
chúng ta. Thường trụ nầy chẳng biến đổi mà
tùy duyên, tùy duyên mà chẳng biến đổi, như
như bất động. Thường trụ là không sinh không
diệt, không dơ không sạch, không tăng không
giảm. Nói tóm lại, thường trụ tức là chân
như thật tướng. Song, chân như thật tướng
nầy, chẳng phải ai ai cũng thấu rõ, cho nên
nói chỉ có Phật với Phật mới thấu triệt được
thật tướng của các pháp. Như Lai thấy rõ,
chẳng có lầm lẫn, như lý chân thật gọi là
tướng như vậy.
Tướng hư vọng ra sao ? Tức là tướng chẳng chân
thật, tức là vô minh, có sinh diệt, có tăng
giảm, có dơ sạch. Vô minh nầy chẳng có thật
thể, chỉ là một giả danh mà thôi. Như trong
Kinh nầy có nói : Thấy các chúng sinh vì
sinh, già, bệnh, chết ưu bi khổ não, giống
như ở trong nước sâu lửa nóng, chịu đựng mọi
sự thiêu đốt bức bách khó chịu.
2. Tánh như vậy : Nghiệp chẳng tự sinh,
thật là do tánh khởi. Tâm vốn có đủ tánh
thiện và ác, tùy theo nhân duyên mà có đủ
thứ khác nhau. Trung Quốc có bộ Tam Tự Kinh,
mỗi em bé đầu tiên vào nhập học thì phải học
qua. Sách nầy trước hết nói : "Nhân chi sơ
tánh bổn thiện." Nghĩa là : Tánh của con
người từ lúc sơ khai vốn là thiện. Thiện tức
là Phật tánh. Song, tánh tương cận tập tương
viễn, tâm vốn gần gủi với Phật, nhưng từ vô
thủy đến nay đã nhiễm các tập ác, do đó từ
từ xa lìa Phật tánh, chẳng biết bổn lai diện
mục (mặt mũi thật của mình), cho nên có phân
ra tánh thiện và tánh ác. Tánh thiện và tánh
ác biểu hiện ra như thế nào ?
Tánh như vậy, ở đây có một ví dụ, giống như
gỗ, bên trong đều có tánh lửa, nhưng nếu bỏ
tánh lửa nầy không dùng, thì vĩnh viễn không
thể sinh ra lửa, phải mượn một nhân duyên
khác thì nó mới sinh ra lửa. Ví như xưa kia
loài người chưa phát hiện được lửa, thì vật
gì cũng đều ăn sống, khi phát hiện lấy lửa
được ở cây, thì sau nầy mới dùng lửa để nấu
chín đồ ăn. Từ đó về sau con người mới hiểu
cách thức dùng gỗ để dẫn ra tánh lửa.
Ðây cũng giống như chúng ta tạo ra
nghiệp thiện ác, phải mượi cái tánh nầy hiển
ra. Tánh nầy nếu làm thiện mà phát thì gọi
là trí huệ quang ; nếu làm ác mà phát lửa vô
minh thì biến thành lửa độc. Thứ lửa độc nầy
hay thành tựu vọng duyên, mà tánh của chúng
ta giống như đạo lý gỗ vừa nói ở trên, bổn
tánh là không. Bên trong tuy có thiện có ác,
nhưng phải mượn nhân duyên mới hiển ra được.
Trong Kinh Lăng Nghiêm có nói về bốn đại :
đất, nước, gió, lửa, khi tả về hỏa đại thì
nói : Hoả đại không tánh, gởi nơi các duyên.
Hỏa tánh chẳng có ngã, đủ nhân duyên hòa hợp
mới sinh ra lửa, đó là đạo lý tánh như vậy.
3. Thể như vậy : Thể nầy tức là thân
thể của chúng ta, cũng là hình thể của tất
cả. Thể nầy phân tích ra thì có ba. Thứ nhất
: Là phàm phu và Thánh nhân vốn bình đẳng,
thể nầy vốn chẳng có phàm cũng chẳng có
Thánh, là một dạng, đây gọi là dùng lý làm
thể. Thể nầy là Phật tánh vốn có, lại gọi là
lý (đạo lý). Thứ hai : Nếu có người từ phàm
phu tu thành đạo nghiệp, đây gọi là thể vô
lậu, là chứng quả Thánh nhân. Thứ ba : Một
số phàm phu có đủ thân huyễn năm uẩn, tức là
năm ấm : sắc, thọ, tưởng, hành, thức, tứ đại
đất, nước, gió, lửa hòa hợp mà thành thân
thể nầy, tức là thể hữu lậu.
4. Lực như vậy : Lực nầy tức là xuất
lực. Lúc trước tôi đã từng nói với các vị,
tôi có vị sư huynh xuất gia. Ông ta vốn học
qua đạo lý giảng Kinh thuyết pháp. Ông ta
thường thường giảng Kinh, nhất là thích
giảng về tám thức, tức là : Nhãn, nhĩ, tĩ,
thiệt, thân, ý, và thức Mạt na thứ bảy, thức
A lại da thứ tám. Người Trung Quốc gần đến
Tết thì thích biên câu đối, dùng giấy đỏ
biên dán lên tường, cho rằng là cát tường,
cũng có ý nghĩa là tị tà, ở trong chùa cũng
có phong khí nầy.
Vào năm đó, tôi biên mấy chữ như thế
nầy. "Tự quy y pháp, đương nguyện chúng sinh
thâm nhập Kinh tạng, trí huệ như hải." Vị sư
huynh của tôi thấy mấy chữ nầy rất lấy làm
hoan hỉ, do đó đọc không ngừng "Trí huệ như
hải, trí huệ như hải..." Tôi thấy ông ta đọc
chẳng biết bao nhiêu lần, mới cười ông ta và
nói :"Tôi thấy sư huynh là nghiệp lực như
hải !" Ông ta vừa nghe được thì nổi giận
mắng :"Ông nương tựa vào đâu mà nói tôi là
nghiệp lực như hải ?" Tôi mới cười nói với
ông ta :"Tôi bảo đảm sư huynh sẽ hoan hỉ.
Nghiệp lực có thiện có ác, tôi nói sư huynh
nghiệp thiện như hải, sư huynh nhận thấy thế
nào ?" Lần nầy ông ta chẳng có lời gì để
nói, tức khắc chuyển giận thành vui. Bạn
thấy đó ! Con người thật là kì quái, chỉ sai
có một chữ thì họ đã nổi giận. Bạn dịch chữ
nghiệp là nghiệp thiện, thì sự nóng giận của
họ chẳng biết chạy đi đâu mất. Bạn nói có
diệu chăng ? Cho nên lực nầy tức là nghiệp
lực. Nghiệp cũng là một thể, là một sức lực
ở trong nghiệp thể. Tất cả sơn hà đại địa,
nhà cửa phòng ốc, sâm la vạn tượng ở trong
mười pháp giới, đâu chẳng phải từ nghiệp lực
của chúng sinh thị hiện. Thân của chúng sinh
gọi là chánh báo, tất cả sâm la vạn tượng
gọi là y báo. Y, chánh hai báo đều từ nghiệp
lực sinh ra, cho nên gọi là lực như vậy.
5. Làm như vậy : Làm tức là tạo tác,
làm nên. Tạo ra tất cả nghiệp thiện ác khác
nhau. Trồng nhân thiện thì kết quả thiện,
trồng nhân ác thì kết quả ác. Tạo nầy tức là
hãy xem bạn tạo cái gì, cho nên nói : Thiện
ác là hai con đường, tu thì tu, tạo thì tạo.
Ai tu thiện thì có phước đức, ai tạo ác thì
chịu hoạn nạn.
6. Nhân như vậy : Nhân nầy là chỉ tâm
của chúng ta chúng sinh, tâm nầy lại gọi là
tâm địa, giống như một miếng đất, bất cứ bạn
trồng hạt giống thiện hoặc ác, thì tương lai
sẽ kết quả. Tất cả đều do tâm tạo, thiện ác
báo ứng đều từ trong tâm của bạn tạo thành.
Nhân nầy tức là hạt giống, trồng ở trong đất
tâm của bạn, mà thiện ác cũng tùy theo nhân
nầy mà hiển hiện.
7. Duyên như vậy : Duyên nầy có hai
nhân tố hợp thành. Một là thời, hai là việc.
Duyên nầy vốn chẳng phân ra thiện và ác,
song việc gì cũng phải gặp duyên kết hợp mà
thành mới hiện ra tướng mạo. Ví như, một vật
khô, nếu gặp lửa đốt thì cháy, lửa là trợ
duyên. Lại ví như băng, nếu gặp ánh nắng mặt
trời thì tan ra mau, nếu gặp lạnh thì kết
thành băng cứng rắn, đó đều là trợ duyên
khác nhau. Lại ví như, đem hạt giống trồng
xuống đất thì cần phải có ánh sáng mặt trời,
phân, nước, .v.v., đủ thứ trợ duyên, như thế
thì hạt giống mới nảy mầm lớn lên. Do đó, do
ngoại duyên hòa hợp mà thành, gọi là nhân
duyên.
8. Quả như vậy : Bắt đầu hành vi ra
sao, gọi là tạo nhân, đợi khi việc đã làm
xong rồi tức là quả. Quả cũng căn cứ trên
thiện ác mà nói, trồng nhân thiện thì được
quả thiện, trồng nhân ác thì được quả ác,
cho nên gọi là trồng nhân được quả.
9. Báo như vậy : Báo tức là quả báo.
Bạn làm gì thì phải chịu quả báo đó. Vậy,
quả và báo có gì khác nhau ? Nói về quả thì
vẫn chưa thọ báo, chỉ là sự việc đã trưởng
thành mà đắc được quả của nó, đợi đến khi
thọ báo thì quả cũng tan rã mà thọ báo ứng.
Ví như, bạn trồng nhân ác, lúc kết quả thì
vẫn chưa chính thức thọ báo, đợi đến khi
giai đoạn của quả nầy cũng đi qua rồi thì
sau đó mới thọ báo ứng. Lại có thể giải
thích sâu hơn nữa, ví như bạn tạo đủ thứ
nghiệp ác mà chiêu quả đọa vào địa ngục,
nhưng trong địa ngục lại chia ra rất nhiều
thứ hình phạt khác nhau. Nếu như bạn phải
thọ báo ứng địa ngục chảo dầu sôi, nhưng bạn
vẫn chưa đi đến địa ngục chảo dầu sôi, đó là
quả. Một khi vào chảo dầu sôi thì đó là thọ
báo.
Nếu như giác ngộ đạo lý nhân duyên quả
báo là tơ hào chẳng sai, mà dũng mãnh tu đạo
xuất ly, thì có cơ hội chứng bốn quả Thánh,
tức bốn quả vị A La Hán. Nếu không thì vẫn
luân hồi sinh tử ở trong cảnh giới của lục
phàm.
10. Gốc ngọn cứu kính như vậy : Ðây là
một như vậy trong mười như vậy. Mười như vậy
đều có mê, ngộ hai đường. Bất cứ là mê, là
giác, từ con đường đó bắt đầu đi (gốc), đến
điểm cuối cùng (ngọn), luận về nhân quả thì
đều là bình đẳng không hai, cứu kíng bình
đẳng. Trong mỗi pháp giới đều có mười như
vậy. Ví như trong pháp giới của Phật có
"mười như vậy" nầy, trong pháp giới của địa
ngục cũng có "mười như vậy" nầy. Song, cảnh
giới của Phật và cảnh giới của địa ngục khác
nhau một trời một vực. Trong mười pháp giới,
mỗi một giới có mười như vậy, hợp lại thì
thành một trăm như vậy. Ở trong một trăm
nầy, mỗi cái lại có mười như vậy, thành ra
một ngàn, đạo lý nầy gọi là bách giới thiên
như (trăm giới ngàn như). Mà bách giới thiên
như nầy, bao quát tất cả đủ thứ sự tướng
tình hình trong mười pháp giới. Ðây là một
giải pháp rất hạn hẹp vô cùng đối với mười
như vậy. Muốn thấu hiểu thêm bước nữa, thì
phải bỏ ra một phen công phu để nghiên cứu
Phật pháp, thì càng minh bạch đạo lý nầy.
Lúc đó Ðức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa lý đã
nói, mới dùng kệ để nói :
Ðấng Thế Hùng khó lường
Chư thiên và nhân loại
Tất cả loài chúng sinh
Chẳng ai hiểu biết Phật.
Phật lực vô sở úy
Giải thoát các tam muội
Các pháp khác của Phật
Chẳng ai đo lường được.
Vốn từ vô số Phật
Ðầy đủ hạnh các đạo
Pháp thâm sâu nhiệm mầu
Khó thấy khó biết được.
Trong vô lượng ức kiếp
Hành các đạo đó rồi
Ðạo tràng được chứng quả
Ta đều đã thấy biết.
Quả báo lớn như vậy
Ðủ thứ tánh tướng nghĩa
Ta và mười phương Phật
Mới biết rõ việc đó.
Ðấng Thế Hùng là Ðấng đại anh hùng, tức cũng
là một vị Thánh nhân duy nhất của thế gian
và xuất thế gian của thế giới chúng ta, là
đại hùng đại lực đại từ bi, cho nên nói :
Ðấng Thế Hùng khó lường.
"Chư thiên và nhân
loại" : Tất cả chư thiên ở trên trời và tất
cả loài người trên thế gian. "Tất cả loài
chúng sinh. Chẳng ai hiểu biết Phật" : Chẳng
có một Chúng sinh nào hiểu biết được cảnh
giới của Phật. "Phật lực vô sở úy" : Phật có
mười lực, bốn vô sở úy. Mười lực là mười trí
lực :
1. Trí lực biết xứ phi xứ.
2. Trí lực biết nghiệp báo ba đời.
3. Trí lực biết các thiền giải thoát tam muội.
4. Trí lực biết các căn thắng liệt.
5. Trí lực biết đủ thứ giải.
6. Trí lực biết đủ thứ giới.
7. Trí lực biết tất cả chí xứ đạo.
8. Trí lực biết thiên nhãn vô ngại.
9. Trí lực biết túc mạng vô lậu.
10. Trí lực biết vĩnh đoạn tập khí.
Phật lại có bốn vô sở úy :
1. Nhất thiết trí vô sở úy.
2. Lậu tận vô sở úy.
3. Nói chướng đạo vô sở úy.
4. Nói đạo dứt khổ vô sở úy.
"Giải thoát các tam muội" : là chỉ người giải
thoát và các thiền tam muội. "Các pháp khác
của Phật" : những diệu hạnh diệu pháp khác,
đức Phật thực hành đều chẳng cách chi đo
lường được. "Vốn từ vô số Phật, đầy đủ hạnh
các đạo". Từ vô lượng vô biên ở nhiều nơi
các Ðức Phật các Ngài đều đầy đủ hạnh môn.
"Pháp thâm sâu vi diệu nầy khó thấy khó hiểu
được". Chẳng dễ gì thấy được cũng chẳng dễ
gì minh bạch được. "Trong vô lượng ức kiếp"
: Ðức Phật Thích Ca và mười phương các Ðức
Phật khác, đều ở trong vô lượng ức kiếp về
trước hành các đại hoằng nguyện, viên mãn
Bảy bồ đề phần, Tám chánh đạo, Năm căn, Năm
lực, Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý
túc, cộng thành ba mươi bảy đạo phẩm. "Hành
các đạo đó rồi" : Ðã tu hành ba mươi bảy đạo
phẩm, bốn Diệu Ðế, mười hai Nhân Duyên, lục
độ vạn hạnh .v.v. "Ðạo tràng được chứng
quả". Vì tu rất nhiều pháp môn, cho nên đạo
tràng thành tựu, Phật quả cũng thành tựu.
"Ta đều đã thấy biết". Quả báo lớn như thế.
Quả báo lớn giống như mười như vậy. "Ðủ thứ
tánh tướng nghĩa". Mười như vậy là đạo lý
tướng và đủ thứ pháp môn, đủ thứ tu hành, ta
đều hoàn toàn minh bạch. "Ta và mười phương
Phật, mới biết rõ việc đó". Ta và mười
phương chư Phật, mới minh bạch đủ thứ sự
việc đó, còn những chúng sinh khác chẳng dễ
gì minh bạch được.
Pháp đó chẳng thể bày
Lời lẽ tướng tịch diệt
Những loài chúng sinh khác
Chẳng ai hiểu biết được.
Trừ các chúng Bồ Tát
Bậc sức tin kiên cố
Chúng đệ tử chư Phật
Từng cúng dường chư Phật.
Tất cả bậc sạch lậu
Trụ ở thân cuối cùng
Những hạng người như vậy
Sức họ chẳng kham được.
Nếu như đầy thế gian
Ðều như Xá Lợi Phất
Suy nghĩ và độ lượng
Chẳng dò được Phật trí.
"Pháp đó chẳng thể bày". Diệu pháp nầy không
thể tùy tiện nói cho người nghe. Tại sao ?
Vì lời lẽ tướng tịch diệt. Ðây là pháp môn
cứu kính thật tướng, đường ngôn ngữ đã dứt,
dùng lời lẽ cũng chẳng cách chi giải thích
được ; chỗ tâm hành đã diệt, dùng tâm suy
nghĩ tưởng tượng cũng chẳng cách chi nghĩ
ra. Do đó :
"Khẩu dục ngôn nhi từ tán,
Tâm dục duyên nhi lự vong".
Nghĩa là : miệng muốn nói mà lời tan mất, tâm
nghĩ muốn phan duyên mà niệm lự tư tưởng đều
chẳng còn. Lời lẽ tướng tịch diệt tức là
chẳng có gì để nói. Diệu pháp chân chánh thì
không thể nói, không thể nói là nói chẳng
ra, nó phát huy ở trong tự tánh chứ chẳng
phải từ bên ngoài đến được. "Những loài
Chúng sinh khác chẳng ai hiểu biết được".
Chẳng có bất cứ chúng sinh nào có thể minh
bạch được diệu pháp nầy. "Trừ các chúng Bồ
Tát". Trừ những bậc đại Bồ Tát mới minh bạch
đạo lý thật tướng nầy. "Bậc sức tin kiên
cố". Vì tâm của các vị ấy kiên cố, giống như
Bồ Tát Văn Thù mới minh bạch được pháp nầy,
tin được pháp nầy, ngoài ra những chúng sinh
khác hoàn toàn chẳng minh bạch. "Chúng đệ tử
chư Phật, từng cúng dường chư Phật". Tất cả
chúng đệ tử của hết thảy chư Phật, ở trong
ba đời quá khứ đã từng cúng dường tất cả chư
Phật. "Tất cả bậc sạch lậu" : Các bậc đã đắc
được vô lậu, chứng được quả vô lậu Bích Chi
Phật. "Trụ ở thân cuối cùng". Hiện tại là
báo thân cuối cùng, chẳng còn thọ thân sau,
đã vĩnh viễn dứt sinh tử. "Những hạng người
như vậy", giống như những Bồ Tát và Bích Chi
Phật. "Sức họ chẳng kham được". Các vị ấy
cũng đều không thể minh bạch được diệu pháp
nầy. "Nếu như đầy thế gian, đều như Xá Lợi
Phất". Giả sử người đầy khắp thế giới đều có
trí huệ như Ngài Xá Lợi Phất. "Suy nghĩ và
độ lượng". Dùng hết sự suy nghĩ và trí thức
để dò trí huệ của Phật. "Không dò được Phật
trí". Cũng chẳng cách chi đo lường được trí
huệ của Phật.
Giả sử đầy mười phương
Ðều như Xá Lợi Phất
Và các đệ tử khác
Cũng đầy mười phương cõi.
Cùng nghĩ và độ lượng
Cũng chẳng hiểu biết được
Bích Chi Phật lợi trí
Vô lậu thân cuối cùng.
Cũng đầy khắp mười phương
Số đông như rừng tre
Thảy đều chung một lòng
Trong vô lượng ức kiếp.
Muốn lường Phật thật trí
Chẳng biết được ít phần
Bồ Tát mới phát tâm
Cúng dường vô số Phật.
Thấu rõ các nghĩa thú
Lại hay khéo nói pháp
Như lúa mè tre lau
Ðầy khắp mười phương cõi.
Nhất tâm dùng diệu trí
Trải Hằng sa số kiếp
Cùng chung nhau suy lường
Chẳng biết được Phật trí.
Phật đầy đủ viên mãn quyền thật hai trí. Quyền
trí là tùy cơ thuyết pháp, phương tiện độ
sinh ; thật trí là chuyên giảng về trí huệ
thật tướng, trí huệ chân thật. Cho nên Ngài
nói : "Giả sử đầy mười phương, đều như Xá
Lợi Phất". Ở trước chỉ nói đầy một thế giới,
bây giờ nói mười phương thế giới, tức cũng
là ba ngàn đại thiên thế giới, vô lượng vô
biên chúng sinh trong cõi nước mười phương
thế giới, đều có trí huệ như Ngài Xá Lợi
Phất, song, Xá Lợi Phất tuy có trí huệ,
nhưng chỉ là quyền trí mà chẳng phải thật
trí của Phật. "Và các đệ tử khác". Và các đệ
tử khác của chư Phật. "Cũng đầy mười phương
cõi". Cũng đầy khắp mười phương thế giới.
"Cũng nghĩ và độ lượng". Cùng nhau suy nghĩ
và độ lượng, dò trí huệ của Phật. "Cũng
chẳng hiểu biết được". Cũng không thể nào
hiểu biết được trí huệ chân thật của Phật,
đó là chỉ đệ tử Thanh Văn tiểu thừa.
"Bích Chi Phật lợi
trí". Bích Chi Phật là trung thừa, trí huệ
của các Ngài cao sâu hơn Thanh Văn. "Vô lậu
thân cuối cùng". Các bậc ấy đã đắc được vô
lậu, tức là lậu tận thông. Chứng quả Bích
Chi Phật rồi cũng chẳng còn thọ báo thân
nữa, cho nên đây là báo thân cuối cùng.
"Cũng đầy khắp mười phương". Bích Chi Phật
cũng đầy khắp mười phương thế giới. "Số đông
như rừng tre". Hết thảy đều nhất tâm. Nếu
như Bích Chi Phật nhiều như thế cùng nhất
tâm. "Trải vô lượng ức kiếp". Trải qua vô
lượng vô số đại kiếp. "Muốn lường Phật thật
trí" : Muốn đo lường thật trí của Phật.
"Chẳng thể biết ít phần". Ðừng nói biết hết
toàn bộ, dù một phần nhỏ chút ít cũng chẳng
cách chi biết được.
"Bồ Tát mới phát
tâm, cúng dường vô số Phật". Bồ Tát mới phát
tâm đã từng cúng dường vô số các đức Phật.
"Thấu rõ các nghĩa thú". Ðối với đạo lý tông
thú của Phật pháp, đều thông đạt vô ngại.
"Lại hay khéo nói pháp". Các Ngài không
những thông đạt tất cả nghĩa thú của các
pháp, mà còn khéo thuyết pháp biện tài vô
ngại. "Như lúa mè tre lau". Các vị Bồ Tát
mới phát tâm nhiều như lúa, mè, tre, cỏ lau.
"Ðầy khắp mười phương cõi". Ðầy khắp cõi
nước trong mười phương thế giới. "Nhất tâm
dùng diệu trí". Mọi người đều nhất tâm dùng
diệu trí huệ. "Trải Hằng sa số kiếp". Trải
qua đại kiếp nhiều như số cát sông Hằng.
"Cùng chung nhau suy lường". Cùng nhau suy
lường trí huệ của Phật. "Chẳng biết được
Phật trí". Cũng chẳng thể biết được trí huệ
của Phật.
Các Bồ Tát bất thối
Số đông như Hằng sa
Ðều nhất tâm suy cầu
Cũng chẳng thể biết được.
Lại nữa Xá Lợi Phất !
Vô lậu chẳng nghĩ bàn
Pháp thâm sâu nhiệm mầu
Ta nay đã được đủ
Chỉ ta biết tướng đó
Mười phương Phật cũng thế.
Xá Lợi Phất nên biết !
Lời chư Phật không khác
Pháp của Phật nói ra
Nên sinh sức tin lớn
Pháp Thế Tôn lâu sau
Cần phải nói chân thật.
Nầy các chúng Thanh Văn !
Và người cầu Duyên Giác
Ta khiến cho thoát khổ
Sớm đắc được Niết bàn.
Phật dùng sức phương tiện
Mở bày ba thừa giáo
Chúng sinh nơi nơi chấp
Dẫn dắt họ ra khỏi.
Các Bồ Tát bất thối, số đông như Hằng sa : Có
khi Bồ Tát mới phát tâm cũng thối thất bồ đề
tâm, vì chưa có định lực chân chánh. Những
vị Bồ Tát nầy đã chứng được ba bất thối :
1. Vị bất thối : Quả vị của những Bồ Tát nầy,
ở đại thừa khổng thể thối về nhị thừa.
2. Hạnh bất thối : Các Ngài tu hành tinh tấn,
chẳng giải đãi.
3. Niệm bất thối : Các Ngài chẳng bao giờ khởi
tâm niệm thối chuyển.
Những Bồ Tát nầy nhiều như số cát sông Hằng.
"Ðều nhất tâm suy cầu". Ðều chuyên tâm nhất
chí cùng nghiên cứu trí huệ chân thật của
Phật. "Cũng chẳng thể biết được" : Bồ Tát
bất thối vị tuy là bất thối, nhưng vẫn chẳng
đắc được trí huệ chân thật. Các Ngài chỉ có
quyền trí, còn trí huệ chân thật của Phật
thì các Ngài không thể biết được.
Phật Thích Ca nói :
"Lại nữa Xá Lợi Phất ! Vô lậu chẳng nghĩ
bàn, pháp thâm sâu vi diệu, ta nay đã được
đủ". Ðây là các pháp thật tướng, trí huệ
chân thật, ta Phật Thích Ca Mâu Ni đã hoàn
toàn đắc được, đầy đủ chẳng thiếu chẳng
thừa. Chỉ ta biết tướng đó, mười phương Phật
cũng thế.
"Xá Lợi Phất nên
biết" ! Ðức Phật lại gọi Xá Lợi Phất phải
biết. "Lời chư Phật không khác" : Lời của
chư Phật nói đều là dị khẩu đồng âm nói lời
chân thật. Lời của Như Lai là chân, là thật,
là như, chẳng hư vọng, chẳng khác. Cho nên
pháp của mỗi vị Phật nói đều như nhau. Trí
huệ chân thật của Phật, chẳng có ai biết
được, chỉ có Phật với Phật minh bạch được
pháp nầy. "Pháp của Phật nói ra, nên sinh
sức tin lớn". Bạn nên sinh đại tín tâm. Niềm
tin lớn tức là chẳng có tâm nghi hoặc, chỉ
có tín tâm, sức tin nầy lớn vô cùng. Tại sao
gọi là sức tin ? Vì Phật pháp như biển cả,
bạn muốn vào được chỉ có niềm tin. Nếu bạn
chẳng có sức tin, thì không thể minh bạch
đạo lý Phật pháp, cho nên nói : "Tin là
nguồn đạo mẹ công đức". Tin là nguồn gốc của
đạo lý, là mẹ của tất cả công đức. "Nuôi lớn
tất cả mầm căn lành", bạn có niềm tin mới
nuôi lớn căn lành được, nếu chẳng có niềm
tin, thì căn lành không thể lớn lên được.
Cho nên niềm tin là quan trọng nhất. "Pháp
Thế Tôn lâu sau" : Ta Thế Tôn, lúc ban đầu
thành Phật, thì nói Tam Tạng giáo, đây là
bán tự giáo, dùng để giáo hóa Thanh Văn
chúng sinh, thế nhưng khi ta nói pháp, nói
đến lúc cuối cùng, thì cần phải nói chân
thật. Ta phải nói ra hết tất cả pháp chân
thật giáo hóa Bồ Tát thật trí, chẳng giống
như lúc trước nói pháp phương tiện, bây giờ
nói pháp chân thật. Ví như lúc trước bạn có
chút mao bệnh, có thể từ từ trừ, chẳng quan
trọng. Bây giờ thì thề nào ? Phải chân thật
mà tu hành, một chút mao bệnh cũng không thể
tồn tại. Bạn phải thật thà mà dụng công tu
hành, phát tâm Bồ Tát đại thừa, đừng giống
như lúc trước kéo dài ngày giờ. Kéo dài là
gì ? Hôm nay thì đợi ngày mai mới tu hành,
ngày mai lại chẳng tu hành, đợi đến ngày mốt
mới tu. Giống như Tôn Giả A Nan, tự cho rằng
mình là em chú bác với Ðức Phật, thì Phật sẽ
ban cho tam muội, đó là tư tưởng sai lầm. Tu
đạo thì sinh tử của mình tự mình lo, ai ăn
người đó no. Sinh tử của bạn chắc chắn phải
tự mìng dụng công tu hành, người khác chẳng
cách chi trợ giúp bạn. Phật nói trợ giúp
bạn, đó chỉ là pháp phương tiện, khiến cho
chính bạn phát tâm tu hành. Nếu chính bạn
chẳng tu hành, thì cũng giống như người khác
ăn cơm bạn không thể no được. Cho nên phải
tự mình cung hành thực tiễn.
"Nầy các chúng
Thanh Văn và người cầu Duyên Giác" : Ta nói
pháp môn bốn Diệu Ðế, bảo tất cả chúng Thanh
Văn. Lại nói pháp mười hai Nhân Duyên, để
giáo hóa đệ tử Duyên Giác thừa. "Ta khiến
cho thoát khổ". Tâm từ bi của Phật, muốn
khiến cho tất cả chúng sinh đều lìa khổ được
vui, liễu sinh thoát tử. Vì vô thường mau
chóng, nếu bạn chẳng tu hành thì quỷ vô
thường chẳng nể vì, đợi đến khi nó đến mời
bạn đi chầu vua Diêm Vương, thì nó sẽ chẳng
nể nang chút nào. Dù bạn dùng bao nhiêu tiền
để mua chuộc quỷ vô thường, kêu nó hoãn lại
một thời gian, để cho bạn sống thêm mấy năm
cũng không thể nào được. Quỷ vô thường chẳng
ăn hối lộ, chẳng giống như người nhân gian
chúng ta tham quan ô sử, thấy tiền thì sáng
mắt ra, việc gì cũng có thể làm được. Do đó,
tiền là thần thông, bạn có tiền thì việc làm
không được cũng làm được ; bạn phạm pháp,
cầm tiền đến thì pháp cũng chẳng phạm. Song,
quỷ vô thường chẳng có tâm tham như thế,
chúng chẳng tham tiền. "Sớm đắc được Niết
Bàn". Phật dùng sức phương tiện, mở bày ba
thừa giáo : Phật vì một Phật thừa mà mở bày
ba thừa. Ba thừa là Thanh Văn thừa, Duyên
Giác thừa và Bồ Tát thừa ; mục đích cuối
cùng của ba thừa là Phật thừa. Mà hiện tại
đến lúc cuối cùng ta phải nói Phật thừa pháp
chân thật nầy. "Chúng sinh nơi nơi chấp, dẫn
dắt họ ra khỏi" : Một số chúng sinh bất cứ
đến hoàn cảnh nào, thì họ chấp trước vào địa
vị đó, mà chẳng di động ; thậm chí ở trong
địa ngục, thì có sự chấp trước về địa ngục ;
ở trong súc sinh, thì có sự chấp trước về
súc sinh ; ở trong nhân loại, thì có sự chấp
trước về nhân loại ; ở trong ngạ quỷ, thì có
sự chấp trước về ngạ quỷ. Cho nên nói nơi
nơi đều chấp. Nơi nơi tức là bất cứ ở hoàn
cảnh nào. Ngũ luân ở gia đình : Anh, em,
cha, mẹ, tổ, ai cũng đều có sự chấp trước ;
trong cơ quan chính phủ quốc gia, mỗi bộ
môn, mỗi cấp bậc cũng có chấp trước của họ.
Pháp của Phật nói là vì phá chấp trước của
chúng sinh. Tại sao có Phật pháp ? Vì Chúng
ta có chấp trước. Nếu chẳng có chấp trước
thì đâu có dùng pháp phá chấp trước.
Bấy giờ, ở trong đại chúng có các vị Thanh
Văn A La Hán đã sạch các lậu, Ngài A Nhã
Kiều Trần Như .v.v. , một ngàn hai trăm
người và các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cư sĩ
nam, cư sĩ nữ, phát tâm cầu Thanh Văn và
Bích Chi Phật, ai nấy đều nghĩ rằng : Hôm
nay Ðức Thế Tôn vì cớ gì, mà ân cần khen
ngợi pháp phương tiện mà nói như vầy : Pháp
của Phật đắc được thâm sâu khó hiểu, lời lẽ
nói ra ý thú khó biết, tất cả Thanh Văn Bích
Chi Phật, không thể hiểu biết được. Ðức Phật
nói một nghĩa giải thoát, chúng ta cũng được
pháp nầy, đến nơi Niết bàn, mà nay chẳng
biết nghĩa đó như thế nào ?
"Lúc bấy giờ, ở trong đại chúng" : Sau khi Ðức
Phật nói kệ xong. Ðây là đoạn văn do Ngài A
Nan nói khi kết tập Kinh điển, ở trong đại
chúng có các vị Thanh Văn, là những vị tu
pháp bốn Diệu đế mà ngộ đạo, thuộc về Thanh
Văn thừa, và vì nghe âm thanh của Phật mà
ngộ đạo, cho nên gọi là Thanh Văn thừa. A La
Hán đã sạch các lậu, các lậu đã sạch, tức
đắc được lậu tận thông, chẳng còn ở trong
sinh tử nữa, chẳng còn vô minh, phiền não,
cũng chẳng còn tất cả tập khí mao bệnh, tức
cũng là vô lậu. Vậy hữu lậu thì thế nào ?
Giống như cái bình lủng lỗ, khi rót nước vào
thì chảy ra hết, cũng giống như thân thể
chúng ta, cũng có rất nhiều lỗ, cho nên thân
phàm phu gọi là hữu lậu. A La Hán là tiếng
Phạn, dịch là "Ứng cúng", "sát tặc", "vô
sinh". Trong các vị A La Hán, có vị trưởng
lão Kiều Trần Như, cũng là tiếng Phạn, dịch
là "Tối sơ giải". Vì sau khi Ðức Phật thành
đạo, thì trước hết đi đến vườn Lộc Uyển độ
Kiều Trần Như, tiền thân của vị nầy là Vua
Ca Lợi ở trong Kinh Kim Cang. Vì Ðức Phật
tại nhân địa phát nguyện rằng : "Thành Phật
rồi, thì trước hết độ vua Ca Lợi đã chặt
thân thể của Ngài". Cho nên, Ngài thành Phật
rồi, trước hết đi đến vườn Lộc Uyển độ năm
vị Tỳ Kheo mà A Nhã Kiều Trần Như là vị
chứng quả A La Hán đầu tiên, cho nên gọi là
Tối sơ giải ; và vì Ngài minh bạch căn tánh
bổn lai của Ngài, do đó lại gọi là Giải bổn
tế. Một ngàn hai trăm người. Chúng A La Hán
gồm có một ngàn hai trăm người.
"Và các vị Tỳ Kheo,
Tỳ Kheo Ni, cận sự nam, cận sự nữ phát tâm
Thanh Văn và Bích Chi Phật". Tỳ Kheo có ba
nghĩa : Khất sĩ, bố ma, phá ác. Tỳ Kheo Ni
tức là nữ chúng xuất gia. Cư sĩ nam, cư sĩ
nữ tức là những vị ưu bà tắc, ưu bà di, tại
gia gần gũi Tam Bảo, đều phát tâm cầu Thanh
Văn và Duyên Giác. Ai nấy đều nghĩ thế nầy :
Bây giờ Ðức Thế Tôn vì cớ gì mà khen ngợi
pháp phương tiện ? Ân cần tức là rất hoan
hỉ, nói đi rồi nói lại. Ở trước, Phật dùng
trường hàng để tán thán, tiếp theo lại dùng
kệ để tán thán, cho nên gọi là ân cần, tức
cũng rất trịnh trọng đại đạo lý sẽ được nói
ra, tơ hào chẳng cẩu thả, dùng mỗi phương
thức để nói lại. Mà nói như vầy : "Pháp của
Phật đắc được thâm sâu khó hiểu, lới lẽ nói
ra, ý thú khó biết". Lúc đó, các chúng đệ tử
vừa nói ở trên đều nói như vầy : Pháp của
Phật đắc được vi diệu không thể nghĩ bàn,
pháp của Phật diễn nói ý nghĩa, lý thể cũng
rất khó hiểu. "Tất cả Thanh Văn, Bích Chi
Phật không thể hiểu biết được". Tất cả hàng
Thanh Văn và Bích Chi Phật đều không thể
minh bạch đạo lý nầy. "Phật nói một nghĩa
giải thoát" : Trước kia Phật nói giáo nghĩa
giải thoát bậc nhất. "Chúng ta cũng được
pháp đó" : Chúng ta hàng Thanh Văn cũng hoàn
toàn đắc được đạo lý nghĩa giải thoát nầy.
"Ðến nơi Niết Bàn" : Nếu y pháp tu hành thì
tương lai sẽ đắc được quả vị Niết Bàn. "Mà
chẳng biết nghĩa đó như thế nào ?" Thế nhưng
hiện tại Phật lại nói, lúc trước pháp nói ra
chẳng cứu kính, chẳng triệt để, pháp nói lúc
trước là quyền pháp, chẳng phải là thật pháp
; pháp nói lúc trước là quyền trí mà chẳng
phải là thật trí. Bây giờ Phật nói như thế,
khiến cho chúng ta chẳng biết nghĩa lý đó
cứu kính đáo để là gì ? Bây giờ chúng ta đều
sinh ra nghi hoặc. Lẽ nào pháp của Phật nói
trước kia là sai chăng ? Pháp nói bây giờ là
đúng chăng ? Dù là sai, chúng ta cũng đều đã
đắc được sơ quả, nhị quả, tam quả và tứ quả.
Bây giờ lại nói pháp của Phật nói trước kia
không đúng, vậy quả vị đã chứng lẽ nào cũng
đều là giả chăng ? Bốn chúng đều có nghi vấn
lớn như thế !
Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất biết tâm nghi của
bốn chúng, chính mình cũng chưa rõ, mới bạch
Ðức Phật rằng : Ðức Thế Tôn ! Vì nhân duyên
gì, mà ân cần khen ngợi pháp phương tiện bậc
nhất của chư Phật, thâm sâu nhiệm mầu khó
hiểu ? Con từ xưa đến nay, chưa từng nghe
Ðức Phật nói như thế. Nay bốn chúng thảy đều
có tâm nghi, ngưỡng mong đức Thế Tôn diễn
nói việc đó. Vì sao đức Thế Tôn ân cần ngợi
khen, pháp thâm sâu nhiệm mầu khó hiểu ?
Khi đó, Ngài Xá Lợi Phất muốn thuật lại nghĩa
nầy mà nói ra bài kệ.
Ở trong hàng Thanh Văn, người có trí huệ bậc
nhất là Ngài Xá Lợi Phất. Ngài biết bốn
chúng có tâm nghi, khi đức Phật hiển hiện
những cảnh giới nầy, chính Ngài cũng chưa
rõ. Mới bạch Phật rằng : "Ðức Thế Tôn ! Vì
nhân duyên gì mà ân cần khen ngợi pháp
phương tiện bậc nhất của chư Phật thâm sâu
vi diệu khó hiểu" ? Ðức Thế Tôn ! Vì nhân
duyên gì mà Ngài nay lại tán thán pháp thâm
sâu vi diệu của chư Phật ba đời ? Ba đời chư
Phật là quá khứ, hiện tại và vị lai. "Con từ
xưa đến nay" : Con Xá Lợi Phất đã theo Phật
hơn bốn mươi năm.
Từ chữ xưa nầy, có
thể biết Ngài Xá Lợi Phất thường theo Ðức
Phật nghe pháp nghe Kinh thời khắc chẳng
lìa. "Chưa từng nghe Ðức Phật nói như thế" :
Con chưa từng nghe Ðức Phật nói thận trọng
như thế, khen ngợi lại khen ngợi, tán thán
lại tán thán, trân trọng ân cần nói pháp như
thế. "Nay bốn chúng thảy đều có tâm nghi" :
Bây giờ bốn chúng đệ tử đều có tâm nghi
hoặc, chẳng biết y vào pháp môn nào mà tu
trì. "Ngưỡng mong Ðức Thế Tôn diễn nói việc
đó". Mong Ðức Thế Tôn phân tích nói tỉ mỉ,
khiến cho chúng con đừng đi vào con đường
rẽ. Vì sao Ðức Thế Tôn ân cần ngợi khen pháp
thâm sâu vi diệu khó hiểu. "Khi đó, Ngài Xá
Lợi Phất muốn thuật lại nghĩa nầy mà nói bài
kệ". Lúc đó, Ngài Xá Lợi Phất lại dùng kệ để
thưa hỏi Ðức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni.
Ðấng Huệ Nhật Ðại Thánh
Lâu mới nói pháp nầy
Tự nói được như thế
Lực vô úy tam muội.
Thiền định giải thoát thảy
Pháp không thể nghĩ bàn
Pháp chứng nơi đạo tràng
Chẳng ai có thể hỏi.
Tâm con khó dò được
Cũng chẳng ai hỏi được
Chẳng hỏi mà tự nói
Khen ngợi đạo mình hành.
Trí huệ sâu vi diệu
Chỗ đắc của chư Phật
Các La Hán vô lậu
Và người cầu Niết bàn.
Nay đều sa lưới nghi
Vì sao Phật nói thế ?
Những người cầu Duyên Giác
Tỳ kheo Tỳ kheo ni.
Các trời rồng quỷ thần
Và Càn thát bà thảy
Nhìn nhau ôm lòng nghi
Chiêm ngưỡng Ðấng Lưỡng Túc.
Việc đó như thế nào ?
Xin Phật hãy giải nói.
"Ðấng Huệ Nhật Ðại Thánh, lâu mới nói pháp
nầy". Huệ là trí huệ, nhật là mặt trời, ví
dụ trí huệ của đức Phật như ánh sáng mặt
trời. Là Thiên Trung Thiên, Thánh Trung
Thánh, cho nên gọi là Ðấng Ðại Thánh. Trước
kia khi Phật chưa ra đời, thì thế giới chẳng
có Phật pháp, giống như chẳng có ánh sáng
mặt trời, Chúng sinh đều ở trong đen tối.
Khi Phật ra đời, thì giống như mặt trời mọc
cao ở trong hư không, chiếu phá tất cả đen
tối. Vì khi Phật chưa ra đời, thì người thế
gian chẳng rõ chân lý. Chẳng phải chẳng có
chân lý, mà là chẳng có ai minh bạch chân
lý. Chân lý vốn chẳng đến cũng chẳng đi, chỉ
vì chúng sinh đã trầm mê quá lâu, lại chẳng
có bậc trí đến chỉ bày, cho nên chẳng biết
chân lý sở tại. Thế thì chúng sinh trầm mê
vào đâu ? Tức là trầm mê ở trong năm dục :
Sắc, thanh, hương, vị, xúc, gọi là năm trần,
còn gọi là năm dục.
Sắc trần : Phàm là
vật có hình tướng đều gọi là sắc. Như một số
người tham trước sắc đẹp, nhìn chẳng thủng
sắc trần, cho nên say đắm ở trong sắc trần.
Thanh trần : Thích
nghe âm nhạc, thích nghe ca hát, hoặc thích
nghe tiếng chim hót, hoặc thích nghe lời mềm
mại dịu dàng ngon ngọt, đó đều là đắm say ở
trong thanh trần.
Hương trần : Cũng
là một thứ dục vọng của con người, ăn vật
nầy thì cảm thấy chẳng có hương thơm của vật
kia, ăn đồ béo xong thì muốn thay đổi khẩu
vị khác, ăn xong khẩu vị nầy, lại muốn đổi
khẩu vị khác, thay đổi không ngừng, chẳng
khi nào ngừng sự tham trước. Tóm lại, chúng
sinh cũng say đắm trong hương trần chẳng
tỉnh, giống như uống rượu say không khác.
Vị trần : Tức là
mùi vị. Hôm nay muốn ăn cá, mai muốn ăn gà,
mốt muốn ăn vịt, ăn xong thịt bò, thì cảm
thấy thèm ăn thịt dê, ăn xong thịt dê, thì
thèm ăn thịt heo, ăn thứ gì lâu ngày thì sẽ
sinh chán, không thể đầy đủ. Ðó đều là do
tham dục mà sinh ra thực dục, khiến cho
chúng sinh trầm mê ở trong vị trần, mà chẳng
cách chi tự cứu.
Xúc trần : Tức là
thích tiếp xúc vật trơn nhẵn lán mịn, thậm
chí giữa nam nữ đều hổ tương tham trước xúc
trần, như hãm vào bùn lầy sâu thẳm, càng hãm
càng sâu, chẳng cách chi tự cứu.
Năm dục chẳng dễ gì
phá được, cho nên kẻ ngoại đạo thuận theo
năm dục để thuyết pháp, chẳng thể khiến cho
chúng sinh tỉnh ngộ. Chúng sinh chẳng khác
nào đi vào con đường chết đen tối, chẳng
cách chi ra khỏi, cũng chẳng biết lối ra.
Ðến khi Phật ra đời, thì mới giống như mặt
trời chiếu phá đen tối, cho nên Ngài Xá Lợi
Phất nói : "Ðấng Huệ Nhật Ðại Thánh". "Lâu
mới nói pháp nầy". Phật từ lâu xa chẳng nói
pháp nầy. Trước kia nói pháp đều là quyền
pháp, quyền trí, mà chẳng nói thật trí. Bây
giờ mới nói trí huệ chân thật cho mọi người
nghe.
"Tự nói được như
thế, lực vô úy tam muội, thiền định giải
thoán thảy, pháp không thể nghĩ bàn". Ðức
Phật diễn nói thật trí nầy, thì trước hết
nói chính Ngài đã chứng được pháp như vậy,
tức mười trí lực, bốn vô sở úy và đủ thứ
thần thông tam muội, còn có bốn thiền, tám
định, tám giải thoát .v.v., pháp không thể
dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời luận
bàn. "Pháp chứng nơi đạo tràng, chẳng ai có
thể hỏi". Phật tu đạo đắc được pháp vi diệu
đó là thật trí, chẳng phải là quyền trí, cho
nên Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát quyền
thừa, đều chẳng minh bạch thật trí, cũng
chẳng có ai có thể hỏi được. "Tâm con khó dò
được" : Pháp nầy chỉ có Ðức Phật mới minh
bạch được, thâm sâu không thể dò lường được,
cho nên cũng chẳng ai hỏi được. "Chẳng hỏi
mà tự nói" : Chẳng có ai hỏi, mà Ðức Thế Tôn
tự nói pháp nầy. "Khen ngợi đạo mình hành" :
Tán thán khen ngợi đạo của Phật thực hành.
"Trí huệ sâu vi diệu" : Trí huệ chân thật
của Phật thâm sâu vi diệu. "Chỗ đắc của chư
Phật" : Chỉ có mười phương chư Phật và Phật
Thích Ca mới minh bạch được trí huệ nầy.
"Các La Hán vô lậu" : Tuy nhiên các bậc
Thanh Văn La Hán đắc được vô lậu, và người
cầu Niết Bàn, và quyền thừa Bồ Tát cầu được
Niết Bàn, hoặc Bích Chi Phật .v.v. "Nay đều
sa lưới nghi". Bây giờ mọi người đều sinh
nghi hoặc, thì có chướng ngại cho sự tu đạo,
do đó người tu đạo chớ có nghi, nếu khởi tâm
nghi tức rơi vào đường mê. "Vì sao Phật nói
thế, những người cầu Duyên Giác, Tỳ Kheo, Tỳ
Kheo Ni, các trời, rồng, quỷ thần và Càn
Thát Bà thảy, nhìn nhau ôm lòng nghi. Tại
sao Phật nói pháp nầy" ? Chẳng những một số
người hồ nghi không tin, mà thậm chí các bậc
Duyên Giác, hai chúng xuất gia, tất cả trời,
rồng hộ pháp, tám bộ quỷ thần .v.v… đều nhìn
nhau ôm lòng nghi. Bạn nhìn tôi, tôi nhìn
bạn, ai nấy đều chẳng minh bạch.
"Chiêm ngưỡng Ðấng
Lưỡng Túc" : Bây giờ mọi người đều chiêm
ngưỡng Ðức Phật mắt chẳng tạm rời. Ðấng
Lưỡng Túc, Lưỡng Túc là gì ? Lưỡng là hai,
là chỉ phước và huệ. Túc là đầy đủ, tức là
phước huệ đầy đủ viên mãn, cho nên gọi là
Lưỡng Túc Tôn. Ðức Phật Thích Ca tam kỳ tu
phước huệ. Trải qua thời gian ba đại A Tăng
Kỳ kiếp tu phước tu huệ. Bách kiếp chủng
tướng hảo. Trong một trăm đại kiếp về trước
tu ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp. A
Tăng Kỳ là gì ? Tức là vô lượng số, không
thể tính ra được số mục. Ðoạn thời gian dài
nầy Phật tu phước tu huệ. Tu phước thì cúng
dường Tam Bảo, gần gũi chư Phật, cúng dường
Phật, Pháp, Tăng, cúng dường Bồ Tát, cúng
dường Bích Chi Phật, cúng dường A La Hán.
Chẳng những cúng dường một vị, mà là cúng
dường vô lượng vô số Phật, Pháp, Tăng .v.v.
Tu huệ thì trước phải giữ giới. Tại sao ? Vì
trước hết giữ giới, mới do giới mà sinh
định, do định mà phát huệ. Ðịnh lực tức là
chẳng bị cảnh giới chuyển, đối với cảnh
thiện, ác đều chẳng động tâm. Cảnh thiện tức
là thuận cảnh, cảnh ác tức là nghịch cảnh.
Thuận nghịch, khen chê, đều chẳng động tâm,
đó tức là có định lực, có định lực mới có
huệ lực, cho nên Ðức Phật vừa tu phước vừa
tu huệ.
Tu huệ thì phải học
Kinh điển, nếu chẳng học Kinh điển thì trí
huệ không thể tăng trưởng. Học Kinh, Luật,
Luận ba tạng thì sẽ sinh huệ. Nếu chỉ tu
phước mà chẳng tu huệ, thì tương lai được
kết quả gì ? Tu phước chẳng tu huệ, thân voi
mang chuỗi anh lạc. Tương lai làm voi vừa
cao vừa to lớn, lại có sức mạnh, thân mang
châu báu, chẳng có trí huệ. Tu huệ chẳng tu
phước, La Hán ôm bát không. Cứ học Kinh điển
nhưng chẳng làm việc thiện, chẳng trồng căn
lành. Làm việc thiện tức là không làm các
điều ác, hãy làm các việc lành. Nếu bạn nói
: Tôi nghiên cứu Kinh điển là tốt rồi, tại
sao phải làm việc thiện, phải giúp đỡ người
? Thế thì tương lai bạn chứng quả A La Hán,
đi hóa duyên chẳng có ai cúng dường. Tại sao
? Vì tại nhân địa chẳng tu phước, thì tại
quả địa chẳng có phước. Tôi thường nói :
"Chịu khổ thì hết khổ,
Hưởng phước thì hết phước.
Tại sao bạn phải chịu khổ ? Vì quá khứ bạn
chẳng tu phước, cho nên phải chịu khổ. Khổ
nầy nếu bạn chịu được nó thì mới dứt được.
Nếu bạn chẳng chịu khổ, thì khổ nầy vẫn tồn
tại. Nếu bạn có một chút phước báo, nhưng
suốt ngày đến tối cứ nói việc hưởng thụ, ở
nhà tốt, ăn vật ngon, mua quần áo đẹp, chạy
xe mới, thậm chí đi du lịch bằng máy bay, đó
đều là đang tiêu mòn phước báo, bạn hưởng
hết phước thì chẳng còn phước, thì phải chịu
khổ. Vậy Ðức Phật thì sao ? Ngài vừa tu
phước vừ tu huệ, phước huệ đều tròn đầy, cho
nên gọi là phước huệ Lưỡng Túc Tôn. "Việc đó
như thế nào ? Xin Phật hãy giải nói" : Mọi
người đều khẩn cầu đức Phật nói ra ý nghĩa
đó.
Trong hàng chúng Thanh Văn
Phật nói con hạng nhất.
Nay con nương trí mình
Nghi hoặc chẳng hiểu được
Ðâu là pháp cứu kính
Ðâu là đạo Phật hành ?
Con từ miệng Phật sinh !
Chắp tay chiêm ngưỡng chờ
Xin nói pháp vi diệu
Liền vì nói như thật.
Các trời rồng thần thảy
Số đông như Hằng sa
Các Bồ Tát cầu Phật
Số nhiều đến tám vạn.
Và vạn ức cõi nước
Chuyển luân thánh vương đến
Chắp tay lòng cung kính
Muốn nghe đạo đầy đủ.
"Trong hàng chúng Thanh Văn, Phật nói con hạng
nhất" : Ở trong hàng chúng Thanh Văn, Phật
nói con Xá Lợi Phất, là người có trí huệ đệ
nhất. "Nay con nương trí mình, nghi hoặc
chẳng hiểu được". Tuy con là trí huệ đệ
nhất, nhưng cũng nghi hoặc chẳng hiểu ? "Ðâu
là pháp cứu kính" : Cứu kính thì pháp nào là
pháp cứu kính ? Là vì pháp cứu kính vi diệu
thâm sâu. "Ðâu là đạo Phật hành" : Và đâu
mới là đạo bồ đề viên mãn của Như Lai tu ?
"Con từ miệng Phật sinh" : Tất cả Bồ Tát là
chân tử của Phật, từ miệng Phật sinh ra.
"Chắp tay chiêm ngưỡng chờ" : Ðều chắp tay
lại, chiêm ngưỡng đức Phật mắt chẳng tạm
rời, đợi Phật nói pháp thâm sâu vi diệu, trí
huệ chân thật. "Xin nói pháp vi diệu, liền
vì nói như thật". Bây giờ mọi người đều mong
đợi Ðức Thế Tôn ban pháp âm vi diệu, đạo lý
chân thật. "Các trời, rồng, thần thảy, số
đông như Hằng sa, các Bồ Tát cầu Phật, số
nhiều đến tám vạn" : Thiên, Long bát bộ số
đông như số cát sông Hằng, còn có các vị Bồ
Tát cầu Phật đạo, đông nhiều đến tám vạn.
"Và vạn ức cõi nước, Chuyển luân thánh vương
đến" : Và tất cả hàng vạn ức cõi nước khác,
có các vị Chuyển luân thánh vương đều đến.
Chuyển luân thánh vương lại phân ra Kim luân
vương, Ngân luân vương, Ðồng luân vương,
Thiết luân vương. "Chắp tay lòng cung kính,
muốn nghe đạo đầy đủ". Mọi người đều chắp
tay lại, cung kính muốn nghe Ðức Thế Tôn
diễn nói nghĩa lý chân thật đầy đủ viên mãn
vô thượng bồ đề đại đạo của đức Phật tu.
Bấy giờ, Ðức Phật bảo Xá Lợi Phất : Thôi đi
! Thôi đi ! Ðừng nói nữa. Nếu nói việc đó,
thì tất cả trời, người thế gian đều sẽ kinh
sợ nghi ngờ.
Xá Lợi Phất lại bạch Phật rằng : Ðức Thế Tôn !
Cúi xin nói cho, cúi xin nói cho ! Vì sao ?
Vì vô số trăm ngàn vạn ức A tăng kỳ chúng
sinh, đã từng gặp các đức Phật, các căn đều
lanh lợi, trí huệ sáng suốt, nghe đức Phật
nói chắc sẽ cung kính tin nhận.
"Lúc bấy giờ, Phật bảo Xá Lợi Phất : Thôi đi !
Thôi đi ! Ðừng nói nữa" : Ðây là pháp không
thể nói, không cần nói. "Vì sao ? Nếu nói
việc đó, thì tất cả trời, người thế gian,
đều sẽ kinh sợ nghi ngờ" : Người ở trên trời
và người ở nhân gian đều sẽ kinh sợ hoài
nghi. Tại sao ? Nếu bạn nói pháp phương tiện
quyền xảo, thì họ tin sâu chẳng nghi hoặc,
nếu bạn nói pháp chân thật thì họ chẳng tin.
Ví như bạn kêu họ đừng có tâm dâm dục thì họ
nói : chẳng có tâm dâm dục thì còn có ý
nghĩa gì ? Mọi người đều sinh ra tâm nghi
hoặc, vì họ cho rằng thứ hành vi đó là khoái
lạc nhất. "Xá Lợi Phất lại bạch Phật rằng" :
Ðức Phật vốn chẳng muốn nói pháp nầy, chẳng
nói bộ Kinh Pháp Hoa nầy, nhưng Ngài Xá Lợi
Phất nài nỉ khẩn cầu Ðức Phật nhất định phải
nói, đây gọi là thỉnh pháp. Giảng Kinh vốn
phải có người thỉnh pháp mới giảng, bất quá
ở những nơi chẳng hiểu Phật pháp, nếu phải
đợi người thỉnh, thì dù đợi đến năm sáu năm,
cũng chẳng có người thỉnh.
"Ðức Thế Tôn ! Cúi
xin nói cho, cúi xin nói cho" : Ngài Xá Lợi
Phất lại gọi Ðức Thế Tôn hãy nói cho. "Xin
vì đại chúng mà diễn nói diệu pháp ! Xin vì
đại Chúng mà nói diệu pháp" ! Do đó, thỉnh
pháp tổng cộng có ba lần, đó là biểu thị
khẩn thiết chí thành, nhất tâm cầu pháp. Vì
sao ? Tại sao phải ba lần thỉnh Phật nói
pháp nầy ? Vì vô số trăm ngàn vạn ức A Tăng
Kỳ chúng sinh. "Trong pháp hội nầy có vô
lượng vô số chúng sinh. Ðã từng gặp các Ðức
Phật" : Trong quá khứ họ đã từng gặp các Ðức
Phật, bây giờ cũng gặp được Ðức Thế Tôn.
"Các căn lanh lợi" : Căn tính của họ đều
lanh lẹ thông minh phi thường. "Trí huệ sáng
suốt" : cũng đều có trí huệ. Nghe pháp của
Phật nói, chắc sẽ cung kính tin nhận. Nếu
Phật nói ra chắc chắn họ đều sinh tín tâm,
thỉnh Phật từ bi diễn nói pháp thâm sâu vi
diệu nầy.
Khi đó, Ngài Xá Lợi Phất muốn thuật lại
nghĩa nầy, mà nói ra bài kệ :
Ðấng Pháp Vương vô thượng
Xin nói chớ do dự
Vô lượng chúng trong hội
Có người sẽ kính tin.
Lúc đó, Ngài Xá Lợi Phất vì biểu thị sự khẩn
thiết chí thành thỉnh pháp của Ngài, mới
dùng kệ thuật lại ý nghĩa trường hàng ở
trên. "Ðấng Pháp Vương Vô Thượng" : Chỉ có
Phật là bậc tôn kính nhất của thế gian và
xuất thế gian. "Xin nói chớ do dự" : Hy vọng
Ðức Thế Tôn nói pháp nầy, đừng do dự. "Vô
lượng chúng trong hội, có người sẽ kính
tin". Vì ở trong đại hội nầy, tất có người
có thể tiếp nhận cung kính thọ trì.
Ðức Phật lại bảo Xá Lợi Phất : Thôi đi !
Nếu nói việc đó, thì tất cả thế gian trời,
người, A tu la đều sẽ kinh sợ nghi hoặc, Tỳ
kheo tăng thượng mạn sẽ sa vào hầm lớn.
Lúc đó, Ðức Thế
Tôn nói kệ rằng :
Thôi thôi đừng nên nói
Pháp ta diệu khó nghĩ
Những kẻ tăng thượng mạn
Nghe tất chẳng kính tin.
Ở trước Phật đã hai phen bảo Ngài Xá Lợi Phất
: Thôi đi ! Lần nầy là lần thứ ba. Tại sao
nói thôi đi ? "Nếu nói việc đó thì tất cả
thế gian trời, người, A Tu La đều sẽ kinh sợ
nghi hoặc ; không những trời, người .v.v.,
đều sẽ kinh sợ nghi hoặc, Tỳ Kheo tăng
thượng mạn sẽ sa vào hầm lớn" : Ở trong hội
có những Tỳ Kheo cống cao ngã mạn, tự cho
rằng họ đệ nhất, họ sẽ đọa vào hầm lớn. Ðó
là bệnh thông thường của con người, ỷ có
chút thông minh, chẳng phải là trí huệ cứu
kính, khua môi múa mỏ đi khắp nơi khoe
khoang mình là đệ nhất. Người thật có trí
huệ thì họ giữ kín chẳng để cho người biết.
Thế thì đó chẳng phải là tâm tham chăng ?
Chẳng phải, sáng lạng mà chẳng lộ ra bên
ngoài, là vì phòng ngừa tâm cống cao ngã
mạn. Cống cao tức là tự xem mình hơn người,
cảm thấy ưu tú hơn bất cứ ai. Ví như : Người
da vàng thì cho người da vàng ưu tú, người
da trắng thì cho rằng người da trắng ưu tú,
người da đen thì cho rằng người da đen ưu
tú, đó là một thứ biểu hiện cống cao ngã
mạn. Lời xưa có nói : "Mãn chiêu tổn, khiêm
thọ ích". Một khi mình khởi tâm kiêu ngạo,
thì sẽ có chướng ngại trên đường học vấn, vì
không thể nào tiếp thọ học được những gì hay
của người khác, người chưa học Phật pháp,
thì chẳng thông đạt Phật lý, càng không nên
không nên có tâm cống cao.
Có những người
thiên tài xuất chúng, thông minh hơn người,
bất cứ xem Kinh, tụng Kinh đều nhanh chóng
hơn người khác, nhưng y rất dễ sinh ra tâm
tự mãn, cho rằng mình thành Phật cũng sẽ
nhanh hơn người. Loại người nầy nên nhớ đừng
có tâm kiêu ngạo.
Hiện tại Ðức Phật
nói : "Tỳ Kheo tăng thượng mạn". Họ cho rằng
pháp gì họ cũng đều hiểu hết, song hậu quả
của họ không thể tưởng tượng được. "Sẽ xa
vào hầm lớn" : Hầm lớn tức là ba đường ác :
súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục.
"Lúc đó, Ðức Phật
lại dùng kệ để trả lời Ngài Xá Lợi Phất" :
Thôi thôi đừng nên nói, pháp ta diệu khó
lường, những người tăng thượng mạn nghe tất
chẳng kính tin. Pháp thâm sâu vi diệu nầy
của ta nói ra, rất khó có người tin nhận,
nhất là những người tăng thượng mạn càng
chẳng cung kính tin nhận.
Khi đó, Ngài Xá Lợi Phất lại bạch Phật rằng
: Ðức Thế Tôn ! Cúi xin nói cho, cúi xin nói
cho, nay trong hội nầy, những người như con,
có hàng trăm ngàn vạn ức, các vị đó đời đời
kiếp kiếp, đã từng tiếp thọ sự giáo hóa của
Phật. Những người nầy tất sẽ cung kính tin
nhận, lâu dài sẽ an ổn, sẽ đắc được nhiều
lợi ích.
Lúc đó,
Ngài Xá Lợi Phất muốn thuật lại nghĩa nầy,
bèn nói ra bài kệ :
Ðấng Vô Thượng Lưỡng Túc
Xin nói pháp bậc nhất
Con là trưởng tử Phật
Cúi xin phân biệt nói.
Vô lượng chúng hội nầy
Sẽ kính tin pháp nầy
Phật đời đời đã từng
Giáo hóa chúng như thế.
Ðều một lòng chấp tay
Muốn nghe lời Phật nói
Chúng con ngàn hai trăm
Và người cầu Phật kia.
Xin vì đại chúng nầy
Cúi xin phân biệt nói
Chúng con nghe pháp nầy
Chắc sinh vui mừng lớn.
Lúc đó, Ngài Xá Lợi Phất lại ba lần hai lược
khẩn cầu Ðức Phật nói :"Ðức Thế Tôn ! Cúi
xin nói cho, cúi xin nói cho. Nay trong hội
nầy người như con có hàng trăm ngàn vạn ức,
các vị đó đời đời kiếp kiếp đã từng tiếp thọ
sự giáo hóa của Phật. Những người nầy tất sẽ
kính tin." Trong pháp hội nầy, những người
như con, tức là những Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni,
cư sĩ nam, cư sĩ nữ .v.v., đã từng trải qua
trăm vạn kiếp, đời đời kiếp kiếp, đều tiếp
thọ sư giáo hóa của Phật. Nhiều đời nhiều
kiếp, Phật đã độ các hữu tình, họ cũng phát
nguyện, đời đời kiếp kiếp thường theo học
Phật. Phật làm Tỳ Kheo thì những người nầy
đã quy y Phật, làm đệ tử của Phật. Khi Phật
chứng đắc sơ quả A La Hán, thì họ đều nương
theo Phật xuất gia, khi Phật chứng nhị quả
thì họ phát nguyện theo Phật tu hành, Phật
dùng tâm từ bi để nhiếp hóa họ. Ðến khi Phật
thành Phật rồi thì những đệ tử nầy đều chứng
đắc quả vị A La Hán, đời đời kiếp kiếp theo
bên trái bên phải của Phật. "Những đệ tử nầy
chắc chắn sẽ kính tin pháp vi diệu của Phật
nói. Lâu dài sẽ an ổn, sẽ được nhiều lợi
ích". Nếu nghe được Phật nói pháp nầy, thì
lâu dần sẽ chẳng sợ sệt, thâm tâm yên ổn đắc
được rất nhiều lợi ích.
Khi tôi ở tại Ðông Bắc Trung Quốc, và Hương
Cảng, có những đệ tử đối với tôi niềm tin
rất thâm sâu, bất cứ tôi nói gì họ cũng đều
tin sâu chẳng nghi ngờ, khiến cho những
người đời nầy quy y lần đầu tiên, hoặc đã
quy y hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, thì
tín tâm càng vững vàng. Nếu người nào đã quy
y nhiều đời thì tín tâm của họ kiên cố kiền
thành, đối với Phật pháp tin sâu chẳng nghi
ngờ.
Tuy Ngài Xá Lợi Phất nói trong hội có người
tất sẽ kính tin, nhưng khi Phật đang muốn
nói diệu pháp nầy thì trong đại chúng có năm
ngàn người bỏ đi, đó giống như đãi gạo, bỏ
hết trấu chỉ còn lại gạo. "Lúc đó, Ngài Xá
Lợi Phất muốn thuật lại nghĩa nầy mà nói kệ
: Ðấng Vô Thượng Lưỡng Túc, xin nói pháp bậc
nhất." Muốn thỉnh Ðức Thế Tôn đấng phước huệ
đều viên mãn diễn nói diệu pháp độc nhất
không hai nầy. "Con là trưởng tử của Phật,
cúi xin phân biệt nói". Con Xá Lợi Phất là
đại đệ tử ThanhVăn của Phật, nay cung thỉnh
Ðức Thế Tôn phân biệt giải nói tỉ mỉ. "Vô
lượng Chúng hội nầy, sẽ kính tin pháp nầy,
Phật đời đời đã từng, giáo hóa chúng như
thế". Các vị ấy đã nhiều đời nhiều kiếp, đã
chịu ơn của Phật pháp, cho nên nhất định sẽ
tin nhận. "Ðều một lòng chắp tay, muốn nghe
lời Phật nói, chúng con ngàn hai trăm, và
người cầu Phật pháp, xin vì đại chúng nầy,
cúi xin phân biệt nói". Một ngàn hai trăm vị
Thanh Văn ở trong đại hội nầy, và Bích Chi
Phật, Bồ Tát quyền thừa đều khát ngưỡng Ðức
Thế Tôn diễn nói diệu pháp nầy. "Chúng con
nghe pháp nầy, chắc sinh vui mừng lớn". Nếu
Chúng con nghe diệu pháp nầy, thì chắc chắn
vui mừng nhảy nhót.
Bấy giờ, Ðức Thế Tôn bảo Ngài Xá Lợi Phất :
Ông đã ân cần ba phen thỉnh cầu, lẽ nào
không nói, ông hãy lóng nghe và khéo suy
xét. Ta sẽ vì ông phân biệt giải nói.
Ðức
Phật vừa nói lời nầy xong, thì trong hội có
các vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ
nữ, cả thảy năm ngàn người, liền từ chỗ ngồi
đứng dậy lễ Phật rồi đi. Vì sao ? Vì những
người nầy tội căn sâu nặng, và những người
tăng thượng mạn, chưa được mà nói đã được,
chưa chứng mà nói đã chứng, có lỗi như thế,
cho nên chẳng ở lại. Ðức Thế Tôn yên lặng
chẳng ngăn cản họ.
Lúc
đó, Ðức Phật nói với Ngài Xá Lợi Phất : Nay
chúng của ta đây chẳng còn cành lá, chỉ
thuần có chân thật. Xá Lợi Phất ! Những
người tăng thượng mạn như thế, đi về cũng
tốt. Nay ông hãy khéo lóng nghe, ta sẽ vì
ông mà nói.
Ngài Xá Lợi Phất nói : Thưa vâng, Ðức Thế Tôn,
con thích muốn được nghe.
Lúc đó, Ðức Thế Tôn bị Ngài Xá Lợi Phất thành
tâm khẩn thiết thỉnh cầu mà cảm động, cho
nên nói :"Con đã ân cần ba phen thỉnh cầu,
lẽ nào chẳng nói." Ta làm sao mà chẳng nói ?
Con hãy lắng nghe và khéo suy xét. Ta sẽ vì
con mà phân biệt giải nói. Con phải chuyên
tâm nhất chí, lóng nghe, bây giờ ta sẽ vì
các con mà giải nói cặn kẽ.
"Nói lời
nầy xong, thì trong hội có các Tỳ Kheo, Tỳ
Kheo Ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, cả thảy năm
ngàn người, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, lễ
Phật mà lui đi". Lúc đó có năm ngàn người
lui về. "Vì sao ? Vì những người đó tội căn
sâu nặng và những kẻ tăng thượng mạn chưa
được mà nói đã được, chưa chứng mà nói đã
chứng, có lỗi như thế, cho nên chẳng ở lại".
Tại sao họ phải lui đi ? Vì tội chướng của
họ quá nặng, phước mỏng huệ cạn, cho nên
không thể ở lại trong hội nầy, để nghe diệu
pháp vô thượng. Mao bệnh của những người nầy
là tăng thượng mạn, tự mình chưa đắc pháp mà
nói đã đắc được pháp, tự mình chưa chứng quả
vị A La Hán mà nói đã chứng được, tự mình
chưa chứng được trí huệ chân thật, mà nói đã
chứng được, do đó những người nầy chẳng có
duyên nghe được Kinh Pháp Hoa.
"Ðức Thế
Tôn yên lặng mà chẳng ngăn cản họ" : Phật
cũng chẳng ngăn cản họ, kêu họ đừng đi. "Lúc
đó, Ðức Phật nói với Ngài Xá Lợi Phất : Nay
Chúng của ta đây chẳng còn cành lá, chỉ
thuần có chân thật". Phật nói những người
vừa mới lui đi, là cành lá tạp nhạp, cũng là
vỏ bẹ bên ngoài. Bây giờ những người còn lại
toàn là những người có căn lành, có phước
huệ, có thuần chân tín tâm thanh tịnh. Năm
ngàn người lui đi là vì tâm của họ chẳng
thành. Ví như, tôi có hai vị đệ tử, sau lần
thọ giới thì chạy đi mất, tình hình cũng
giống như năm ngàn người lui đi. Sau đó, anh
em hai người đó đi khắp nơi nói dối người
đời, nói chúng đã khai ngộ. Ðó thật là tự
lừa dối người.
"Xá Lợi
Phất ! Những kẻ tăng thượng mạn tự bỏ đi
cũng là tốt." Họ bỏ đi cũng tốt, tránh sự
ảnh hưởng đến người khác, khiến cho người
khác xấu theo. "Nay ông hãy lóng nghe, ta sẽ
vì ông mà nói" : Bây giờ ông hãy nghe cho
kỹ, ta sẽ vì ông mà nói pháp. Xá Lợi Phất
nói : "Thưa vâng, Ðức Thế Tôn ! Con rất
thích muốn nghe". Ngài Xá Lợi Phất và đại
chúng đều vui mừng chờ đợi Phật nói pháp.
Ðức Phật bảo Xá Lợi Phất ! Diệu pháp như
thế, khi đúng thời thì chư Phật Như Lai mới
nói. Như hoa Ưu đàm bát, đúng thời mới hiện.
Xá Lợi Phất ! Các ông nên tin lời của Phật
nói, chẳng có hư vọng. Xá Lợi Phất ! Chư
Phật tùy nghi nói pháp ý thú khó hiểu. Vì
sao ? Ta dùng vô số phương tiện, đủ thứ nhân
duyên lời lẽ thí dụ, để diễn nói các pháp,
pháp đó chẳng phải suy lường phân biệt mà
hiểu được, chỉ có chư Phật mới biết được. Vì
sao ? Chư Phật Thế Tôn chỉ vì một đại sự
nhân duyên mà xuất hiện ra đời.
Phật bảo Xá Lợi Phất ! Diệu pháp như thế, khi
đúng thời thì chư Phật Như Lai mới nói :
Diệu pháp nầy chẳng phải bất cứ lúc nào cũng
nghe được, phải đợi đến khi nhân duyên chín
mùi thì mới nói. Diệu pháp nầy có một ví dụ.
Ví dụ gì ? Ví dụ hoa Ưu Ðàm Bát đúng thời
mới hiện. Thứ hoa nầy chỉ nở trong thời gian
rất ngắn thì tàn, cho nên rất trân quý ít
có. Hiện tại thứ hoa nầy và diệu pháp nầy
đều ít có như nhau. "Xá Lợi Phất ! Các ông
nên tin lời của chư Phật nói chẳng có hư
vọng." Lời lẽ của Phật nói đều chân thật
chẳng hư. "Xá Lợi Phất ! Chư Phật tuỳ nghi
nói pháp." Tuy nhiên là diệu pháp khai quyền
hiển thật, song, Phật vì pháp chân thật mà
thí quyền xảo phương tiện tùy nghi nói pháp,
quán căn cơ mà nói pháp, vì người mà mưa
pháp vũ. "Ý thú khó hiểu" : Ðạo lý bên trong
chẳng dễ gì minh bạch được. "Vì sao" ? Vì
sao mà chẳng dễ gì minh bạch ? "Ta dùng vô
số phương tiện, đủ thứ nhân duyên" : Phật
dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, và nhân
duyên để giáo hóa chúng sinh. "Ví dụ lời lẽ"
: Lại đưa ra lời lẽ ví dụ để diễn nói các
pháp. "Pháp đó chẳng phải suy lường phân
biệt mà hiểu được". Pháp nầy chẳng phải dùng
tâm thức để phân biệt suy lường mà minh bạch
được, đừng dùng thức thứ sáu và thức thứ
bảy, để dò pháp của Phật nói. "Chỉ có chư
Phật mới biết được" : Chỉ có Phật với Phật
mới biết được pháp nầy. "Vì sao" ? Ðây là
đạo lý gì ? "Chư Phật Thế Tôn, chỉ vì một
đại sự nhân duyên mà xuất hiện ra đời". Ðại
sự nhân duyên gì ? Chúng ta mỗi người hãy
nghĩ xem, đó là đại sự gì ? Ðức Phật vì một
đại sư nhân duyên, đại sự nầy cứu kính là
đại sự gì ? Ðại sự nầy chẳng phải việc nhỏ,
nếu việc nhỏ thì chẳng nói là đại sự. Câu
trả lời rất là đơn giản, và còn có một câu
trả lời rất thâm sâu, các bạn hãy tự nghĩ
lại. Ðó thật là diệu vô cùng, diệu đến cỡ
nào ? Diệu đến mức chẳng thể tưởng tượng
được, tức cũng là không thể nghĩ bàn. Ở trên
đã giảng qua, nói là không thể suy lường
phân biệt mà hiểu được. Chẳng phân biệt,
chẳng suy lường, đó tức là diệu pháp. Tôi
kêu các bạn trả lời vấn đề nầy, kỳ thật vấn
đề nầy chẳng cần phải trả lời, vì nó chẳng
có trả lời. Chỗ nầy giảng quá lạ lùng, vốn
phải có trả lời, sao lại nói chẳng có trả
lời ? Vì hiện tại Ðức Phật sắp muốn vào Niết
Bàn, câu trả lời nầy chỉ có Ðức Phật mới
phán đoán được. Hiện tại tôi chưa đủ tư cách
phán đoán vấn đề nầy, cho nên chúng ta mọi
người tốt nhất là hãy quên đi vấn đề nầy,
đừng tưởng đến nó. Song, tuy nói tốt nhất là
hãy quên đi, nhưng tôi tin rằng các bạn nhất
định chẳng quên được, tại sao ? Vì là đại sự
nhân duyên, chẳng phải là nhân duyên nhỏ, là
đại sự nhân duyên, làm sao mà có thể quên
được chăng ? Quên chẳng được. Quên chẳng
được vậy biết làm sao ? Chỉ có cách minh
bạch nó, nói đi nói lại, đại sự nhân duyên
nầy tôi vẫn chưa nói ra, bây giờ tôi phải
nói ra. Ðại sự nhân duyên nầy, giống như
hiện tại trong bàn tay của tôi cầm vật gì.
Bạn nhìn thấy vật gì ? Ðó là đại sự nhân
duyên, bạn biết được tức là đại sự nhân
duyên. Bạn nói có vật gì ? Bạn chẳng biết ?
Ðó cũng là đại sự nhân duyên. Bạn hãy xem có
gì ? Gì cũng chẳng có ! Ðại sự nhân duyên
nầy cũng như thế. Ðại sự nhân duyên tức là
chẳng có việc, Ðức Phật muốn tìm chút việc
để làm, tức cũng muốn nói Kinh Pháp Hoa. Nói
Kinh Pháp Hoa tức là đại sự nhân duyên. Vậy
Kinh Pháp Hoa nói gì ? Là nói diệu pháp của
Kinh Pháp Hoa. Thứ diệu pháp nầy là gì ? Là
không thể nghĩ, khi bạn nghĩ thì chẳng phải
là diệu pháp, một khi bạn hỏi thì chẳng còn
diệu. Vậy, chúng ta nghe Kinh để làm gì ?
Chúng ta chẳng nghe Kinh càng chẳng diệu
sao. Ai kêu bạn đến ? Bạn có thể không nghe
!
Còn có một đại sự, chúng ta cũng chẳng
nên quên, tức là sinh tử đại sự của mỗi
chúng ta. Chúng ta mỗi người đều có sinh có
tử, phải minh bạch việc sinh tử cho rõ ràng,
thì đại sự nầy mới chấm dứt được. Vấn đề
sinh tử của bạn chẳng rõ ràng, thì đại sự
của bạn không thể hoàn thành. Nếu chúng ta
nghĩ muốn biết đại sự nhân duyên nầy, thì
trước hết phải biết tiểu sự nhân duyên. Bạn
chẳng biết tiểu sự nhân duyên, thì chẳng
biết đại sự nhân duyên. Con người từ đâu đến
? Từ vô minh mà đến. Vô minh tức là tiểu sự
nhân duyên, sinh tử tức là đại sự nhân
duyên. Tại sao có sinh tử ? Vì bạn có vô
minh. Một khi bạn có vô minh thì tâm tham,
tâm sân, tâm si, tâm ngã mạn, tâm nghi ngờ
đều xuất hiện. Nếu chẳng có vô minh, thì
những vấn đề nầy đều chẳng có. Có vô minh
rồi thì có vấn đề ; có vấn đề thì có sinh
tử. Cho nên chúng ta trước phải minh bạch rõ
ràng tiểu sự nhân duyên, thì sẽ minh bạch rõ
ràng đại sự nhân duyên. Tại sao ? Vì đại sự
thì do nhỏ mà biến thành lớn, đứa trẻ con do
từ nhỏ mà lớn thành người lớn, từ lớn mà
thành già, từ già mà chết đi. Nếu bạn chẳng
biết gốc rễ của tiểu sự nhân duyên, thì cũng
chẳng giải quyết được đại sự nhân duyên, cho
nên hiện tại trước phải phá vô minh, phá
được vô minh rồi, thì hằng ngày chẳng còn
tích tập nghiệp nhỏ mà gây thành họa lớn, do
đó đại sư nhân duyên cũng tự nhiên chấm dứt.
Xá Lợi Phất ! Vì
sao lại nói chư Phật Thế Tôn, chỉ vì một đại
sự nhân duyên mà xuất hiện ra đời ? Vì chư
Phật Thế Tôn muốn khiến cho chúng sinh, khai
mở tri kiến của Phật, để được thanh tịnh mà
hiện ra nơi đời, muốn mở bày cho chúng sinh
tri kiến của Phật mà hiện ra nơi đời, muốn
khiến cho chúng sinh ngộ tri kiến của Phật
mà hiện ra nơi đời, muốn cho chúng sinh vào
được tri kiến của Phật mà hiện ra nơi đời.
Ðức Phật gọi Ngài Xá Lợi Phất, nói : Gì là chư
Phật Thế Tôn chỉ vì một đại sự nhân duyên mà
hiện ra nơi đời ? Chư Phật vì việc sinh tử
của chúng sinh, đủ thứ nghiệp báo nhân duyên
mới xuất hiện ra đời. Chư Phật Thế Tôn muốn
khiến cho chúng sinh khai mở tri kiến của
chư Phật. Chư Phật Thế Tôn muốn khiến cho
chúng sinh đắc được tri kiến của Phật, khai
mở tri kiến của Phật. Khai mở tri kiến của
Phật, tức là đối với chúng sinh khép kín tri
kiến của Phật mà nói. Chúng sinh đã khép kín
tri kiến của Phật khi nào ? Là vì vô minh
sinh ra, cho nên khép kín tri kiến của Phật
lại, bây giờ lại khai mở nó ra. Trí của Phật
là gì ? Tức là tâm mà chúng ta tất cả chúng
sinh đều có. Tâm nầy đầy đủ trí huệ của
Phật, cho nên còn gọi là tâm Phật. Phật kiến
là gì ? Tức là Phật nhãn. Bạn khai mở Phật
nhãn, thì sau đó bạn sẽ thấy rõ thật tướng
của tất cả các pháp, chứng được quả vị thanh
tịnh. Chúng ta chẳng khai mở Phật nhãn, là
vì chẳng thanh tịnh sở chí, tức cũng là vô
minh, phiền não, thô hoặc, tế hoặc, khiến
cho tánh chẳng thanh tịnh. Tự tánh vốn thanh
tịnh, tại sao bây giờ chẳng thanh tịnh ? Vì
chẳng khai mở tri kiến của Phật, cho nên Ðức
Phật vì khiến cho tất cả chúng sinh trở về
nguồn cội, khai mở tri kiến của Phật, cho
nên xuất hiện ra đời, hiện tám tướng thành
đạo giáo hóa chúng sinh.
"Mở bày cho chúng sinh tri kiến của
Phật" : Mục đích duy nhất của đức Phật, là
mở bày cho tất cả chúng sinh tri kiến của
Phật, tức khiến cho chúng sinh minh bạch tri
kiến của Phật vốn tự có, chứ chẳng phải đắc
được từ bên ngoài. Chỗ khác nhau của Phật
giáo và các tôn giáo khác là : "Tất cả chúng
sinh đều có thể thành Phật", đây là chỗ bình
đẳng nhất của giáo nghĩa. Bất cứ ai tu hành
đều có thể thành Phật, chẳng phải nói tôi là
Phật, bạn chẳng phải là Phật, cũng chẳng
phải nói bạn là Phật, tôi chẳng phải là
Phật. Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh,
đều có thể thành Phật. Một số ngoại đạo nói
: Chỉ có Thiên Chúa là độc nhất vô nhị. Vậy
chứ Thiên Chúa từ đâu đến ? Có khi nói vốn
có, có khi nói chẳng được hỏi. Nếu hỏi Thiên
Chúa từ đâu đến thì phạm tội, nhưng đó tuyệt
đối chẳng phạm tội, trừ khi chẳng có Thiên
Chúa, nếu như có Thiên Chúa thì chẳng phạm
tội. Bạn hỏi họ thì đáng lý họ phải nói cho
bạn biết, không thể nói : Tôi chẳng biết,
một khi hỏi thì có tội. Chẳng có đạo lý nầy
! Kỳ thật, Thiên Chúa tức là trời Ðế Thích ở
cõi trời Ðao Lợi, còn gọi là Ngọc Hoàng Ðại
Ðế, có người nói chẳng phải : Chúa trời đó
chẳng phải là Chúa trời nầy, là Chúa trời
khác. Vậy bạn muốn đem Chúa trời cõi trời
Ðao Lợi để ở đâu ? Ðem ông đi làm Chúa Trời
ở đâu ? Trừ khi, tựa như bạn soán ngôi vua,
đuổi ông ta đi để cho bạn làm Chúa trời. Kỳ
thật, Chúa trời chỉ là một vị hộ pháp ở
trong Phật giáo. Một số giáo đồ Thiên Chúa
chẳng biết giáo lý nầy, cũng chẳng minh bạch
đạo lý vô thủy vô chung, chỉ biết hữu thủy
vô chung, nói Chúa trời vốn có, là ý trời
khai thủy, Chúa trời sẽ vĩnh viễn tồn tại,
vĩnh viễn sống mãi, vĩnh viễn chẳng chết,
cho nên là vô chung. Kỳ thật, đây là lý luận
của chúng sinh ước lượng, chứ chẳng phải là
hiểu biết chân chánh. Tuy nhiên, Ðức Phật
nói : "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc
tôn". Nhưng ai ai cũng có thể thành Phật,
chẳng riêng gì mình Ðức Phật Thích Ca là
Phật, còn những chúng sinh khác thì chẳng
cho thành Phật. Mười phương chư Phật, Phật
Phật đồng nhau, một luật bình đẳng, chẳng
phải nói ta là độc nhất vô nhị, cũng chẳng
chuyên chế độc đoán. Hiện tại chẳng phải chỉ
có Phật mới có tri kiến của Phật, mà tất cả
chúng sinh đều có tri kiến của Phật, chỉ tạm
thời chúng sinh chẳng minh bạch đạo lý nầy,
chẳng đắc được sức lực nầy, cho nên Phật vì
chỉ thị cho tất cả chúng sinh tri kiến của
Phật mà xuất hiện ra thế giới Ta Bà nầy.
"Muốn khiến cho chúng sinh ngộ tri kiến của
Phật" : Nói về lý thì tức nhiên minh bạch,
nhưng chính mình cũng phải giác ngộ. Mình
chẳng giác ngộ, chỉ cầu nghe thì trong tâm
chẳng lãnh thọ chân chánh. Phật muốn khiến
cho tất cả chúng sinh giác ngộ tri kiến Phật
mà mình vốn có, cho nên hiện ra nơi đời.
"Muốn khiến cho chúng sinh vào tri kiến của
Phật" : Tức nhiên có người chỉ thị rõ ràng,
mình cũng chân chánh giác ngộ, nhưng chưa
chứng đắc cho nên hiện tại Phật khiến cho
tất cả chúng sinh vào tri kiến của Phật. Vào
tức là chứng quả, chứng được cảnh giới của
Phật, do đó đại sự nhân duyên của Phật, tức
là muốn khiến cho chúng sinh : khai, thị,
ngộ, nhập, tri kiến của Phật, liễu sinh
thoát tử, một khi liễu sinh tử, thì đại sự
sẽ hoàn tất. Ðại sự hoàn tất, thì chẳng còn
việc làm, cho nên Phật nói đạo lý nầy xong
rồi thì muốn vào Niết Bàn.
Xá Lợi Phất ! Ðó là chư Phật vì một đại sự
nhân duyên mà xuất hiện ra đời. Ðức Phật bảo
Xá Lợi Phất ! Ðức Phật Như Lai chỉ giáo hóa
Bồ Tát, làm tất cả những gì, thường vì một
việc, đó là : mở bày cho chúng sinh ngộ được
tri kiến của Phật.
Xá Lợi Phất ! Như Lai chỉ dùng một Phật thừa
mà vì chúng sinh thuyết pháp, chẳng có hai
hoặc ba thừa nào khác. Xá Lợi Phất ! Hết
thảy mười phương chư Phật cũng lại như thế.
Xá Lợi Phất ! Chư Phật quá khứ dùng vô lượng
vô số phương tiện, đủ thứ nhân duyên lời lẽ
thí dụ, mà vì chúng sinh diễn nói các pháp,
pháp đó đều vì một Phật thừa, các chúng sinh
đó theo chư Phật nghe pháp, cứu kính đều đắc
được Nhất thiết chủng trí.
Xá Lợi Phất ! Khai, thị, ngộ, nhập, Phật tri
kiến mà ta nói ở trước, khiến cho chúng sinh
liễu sinh thoát tử, lìa khổ được vui. Ðó tức
là chư Phật vì một đại sự nhân duyên mà xuất
hiện ra đời. Ðức Phật nói với Xá Lợi Phất :
"Chư Phật Như Lai chỉ giáo hóa các Bồ Tát,
làm tốt cả những gì thường vì một việc" :
Thường thường chỉ vì một đại sự nhân duyên,
tức là mở bày cho chúng sinh ngộ được tri
kiến của Phật. "Xá Lợi Phất ! Như Lai chỉ
dùng một Phật thừa, mà vì chúng sinh thuyết
pháp, chẳng có hai hoặc ba thừa nào khác" :
Mười phương chư Phật Như Lai chỉ dùng một
Phật thừa duy nhất, để giáo hóa chúng sinh,
vì chúng sinh mà nói pháp, chẳng có đại thừa
hoặc tiểu thừa. Hai hoặc ba tức là đại thừa,
tiểu thừa ; Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa
và Bồ Tát thừa, chẳng có các thừa ấy, cũng
chẳng có thừa nào khác. Chẳng có đại thừa,
chẳng có tiểu thừa, cũng chẳng có Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát thừa vậy. Vậy đó là thừa
nào ? Tức là duy nhất một Phật thừa. "Xá Lợi
Phất, pháp của tất cả mười phương chư Phật
cũng như thế" : Tất cả hết thảy mười phương
chư Phật thuyết pháp, thì cũng chỉ nói duy
nhất một Phật thừa, chẳng có thừa nào khác.
"Xá Lợi Phất ! Chư Phật quá khứ dùng vô
lượng vô số phương tiện, đủ thứ nhân duyên".
Những nhân duyên gì ? Tức là bạn trồng nhân
lành thì được quả lành, trồng nhân ác thì
được quả ác. Thiện có thiện báo, ác có ác
báo, đủ thứ nhân duyên quả báo. "Lời lẽ ví
dụ" : Lại dùng đủ thứ ví dụ, đủ thứ lời lẽ
tốt đẹp để giáo hóa chúng sinh. "Mà vì chúng
sinh diễn nói các pháp, pháp đó đều vì một
Phật thừa" : Tuy nhiên nói là có tiểu thừa,
đại thừa ; hoặc Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ
Tát thừa, song, bổn hoài cứu kính của Phật
chỉ vì nói Phật thừa để tiếp dẫn chúng sinh
sớm thành Phật đạo. "Các chúng sinh đó, theo
chư Phật nghe pháp, cứu kính đều đắc được
Nhất thiết chủng trí". Tất cả chúng sinh bắt
đầu theo chư Phật nghe pháp, cứu kính đều
đắc được Nhất thiết chủng trí. Trí gồm có :
1. Nhất thiết trí.
2. Ðạo chủng trí.
3. Nhất thiết chủng trí.
Nhất thiết trí là thuộc về không, là sở chứng
đắc về lý không của hàng nhị thừa. Ðạo chủng
trí là lý chứng đắc của quyền thừa Bồ Tát,
cũng gọi là có (hữu), còn gọi là giả. Có nầy
là giả có, chẳng phải thật. Cho nên Nhất
thiết chủng trí tức là trung đạo, chẳng rơi
về có cũng chẳng rơi về không, đó là trí huệ
trung đạo của chư Phật chứng đắc.
Xá Lợi Phất ! Chư Phật vị lai sẽ xuất hiện
ra đời, cũng dùng vô lượng vô số phương
tiện, đủ thứ nhân duyên lời lẽ thí dụ, mà vì
chúng sinh diễn nói các pháp. Pháp đó đều vì
một Phật thừa, các chúng sinh đó theo Phật
nghe pháp, cứu kính đều đắc được Nhất thiết
chủng trí.
Xá Lợi Phất !
Hiện tại chư Phật Thế Tôn, trong mười phương
vô lượng trăm ngàn vạn ức các cõi Phật, làm
lợi ích an lạc chúng sinh, chư Phật đó cũng
dùng vô lượng vô số phương tiện, đủ thứ nhân
duyên lời lẽ thí dụ, mà vì chúng sinh diễn
nói các pháp. Pháp đó đều vì một Phật thừa.
Các chúng sinh đó theo Phật nghe pháp, cứu
kính đều đắc được Nhất thiết chủng trí.
Xá Lợi Phất !
Chư Phật đó chỉ giáo hóa Bồ Tát, vì muốn chỉ
bày cho chúng sinh tri kiến của Phật, muốn
cho chúng sinh ngộ được tri kiến của Phật,
muốn cho chúng sinh vào được tri kiến của
Phật.
Xá Lợi Phất ! Chư Phật quá khứ vì chúng sinh
thuyết pháp như thế. Còn chư Phật vị lai ?
cũng như thế. Khi chư Phật xuất hiện ra đời,
thì cũng dùng vô lượng vô số phương tiện, đủ
thứ nhân duyên, lời lẽ ví dụ mà vì chúng
sinh diễn nói các pháp. Pháp đó đều vì một
Phật thừa. Pháp của chư Phật nói đều vì duy
nhất một Phật thừa, chẳng có thừa nào khác.
Các chúng sinh đó, theo Phật nghe pháp, cứu
kính đều đắc được Nhất thiết chủng trí. Phật
nói các pháp mục đích cuối cùng là khiến cho
tất cả chúng sinh đắc được Nhất thiết chủng
trí. "Xá Lợi Phất ! Hiện tại chư Phật Thế
Tôn trong mười phương vô lượng trăm ngàn vạn
ức các cõi Phật, làm lợi ích an lạc chúng
sinh" : Hiện tại hết thảy cõi nước trong
mười phương, cũng đều thấm nhuần lợi ích tất
cả chúng sinh, khiến cho họ đều được yên ổn
và khoái lạc. Chư Phật đó cũng dùng vô lượng
vô số phương tiện, đủ thứ nhân duyên, lời lẽ
ví dụ mà vì chúng sinh diễn nói các pháp.
Pháp đó đều vì một Phật thừa. Các chúng sinh
đó theo Phật nghe pháp, cứu kính đều đắc
được nhất thiết chủng trí. Phật nói các
pháp, mục đích duy nhất là khiến cho chúng
sinh đắc được nhất thiết chủng trí, viên mãn
bồ đề, quy vô sở đắc. "Xá Lợi Phất ! Chư
Phật đó, tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện
tại và vị lai, chỉ giáo hóa Bồ Tát" : Mục
đích của các Ngài là giáo hóa khiến cho phát
tâm Bồ Tát, thành Phật đạo.
"Vì muốn chỉ bày
cho chúng sinh tri kiến của Phật, vì muốn
cho chúng sinh ngộ được tri kiến của Phật,
vì muốn cho chúng sinh vào được tri kiến của
Phật" : Hết thảy chư Phật trong mười phương
ba đời, đều vì duy nhất một Phật thừa, mà
trước hết nói pháp môn thiện xảo phương
tiện, mục đích cuối cùng là khiến cho tất cả
chúng sinh đắc được tri kiến của Phật, đắc
được trí huệ của Phật, đắc được quả vị Phật.
Xá Lợi Phất ! Ta nay cũng lại như thế, biết
các chúng sinh có đủ thứ dục niệm, chấp
trước nơi thâm tâm, tuỳ theo bản tánh của
họ, ta dùng đủ thứ nhân duyên, lời lẽ thí dụ
sức phương tiện, để vì họ nói pháp.
"Xá Lợi Phất ! Ta nay cũng lại như thế" : Ta
hiện tại giáo hóa chúng sinh, cũng dùng đủ
thứ nhân duyên lời lẽ ví dụ mà vì chúng sinh
nói pháp. "Biết các chúng sinh có đủ thứ dục
niệm" : Ta biết hết thảy chúng sinh, mỗi
chúng sinh đều có vô lượng vô biên dục niệm.
"Chấp trước nơi thâm tâm" : Những dục niệm
nầy chẳng phải một đời một kiếp, hoặc mấy
kiếp tích tập nên, mà là từ vô lượng kiếp
đến nay, đời đời kiếp kiếp tập nhiễm mà ra.
Những dục niệm nầy, tích tập thâm sâu ở
trong tám thức của chúng sinh, do đó chẳng
thể nào xả bỏ được, sức tập nhiễm nầy lớn vô
cùng, do tâm chấp trước nên chẳng dễ gì đắc
được giải thoát. Vì nhân duyên đó, cho nên
ta tùy theo bổn tính của họ, dùng đủ thứ
nhân duyên, lời lẽ ví dụ, sức phương tiện mà
vì họ nói pháp.
Xá Lợi Phất ! Như thế đều vì đắc được một
Phật thừa Nhất thiết chủng trí. Xá Lợi Phất
! Ở trong mười phương thế giới còn chẳng có
hai thừa, hà huống có ba. Xá Lợi Phất ! Chư
phật xuất hiện ra đời ác năm trược : Kiếp
trược, phiền não trược, chúng sinh trược,
kiến trược, mạng trược. Như thế Xá Lợi Phất
! Vào thời kiếp trược loạn thì chúng sinh
cấu nặng, xan tham, đố kị, thành tựu các căn
chẳng lành. Chư Phật dùng sức phương tiện
nơi một Phật thừa mà phân biệt nói ba.
Xá Lợi Phất ! Nếu đệ tử của ta, tự cho mình là
bậc A La Hán, Bích Chi Phật, mà chẳng nghe
chẳng biết việc chư Phật Như Lai chỉ giáo
hóa Bồ Tát, những người đó chẳng phải đệ tử
của Phật, chẳng phải A La Hán, chẳng phải
Bích Chi Phật.
"Xá Lợi Phất ! Như thế đều vì đắc được một
Phật thừa Nhất thiết chủng trí" : Như ở
trước có nói, chư Phật quá khứ, hiện tại và
vị lai nói pháp đều giống nhau, đều vì đắc
được một Phật thừa, Nhất thiết trí, Ðạo
chủng trí, Nhất thiết chủng trí. "Xá Lợi
Phất ! Ở trong mười phương thế giới còn
chẳng có hai thừa, hà huống có ba" : Ở trong
mười phương thế giới của chư Phật, còn chẳng
có hai thừa, hà huống có ba ? Hai thừa có
thể nói là đại thừa và tiểu thừa ; lại có
thể nói là tạng giáo và thông giáo. Ba thừa
tức là chỉ biệt giáo. Kinh Hoa Nghiêm là đốn
giáo, là pháp giáo hóa Bồ Tát, song cũng bao
quát bất định giáo. Tạng giáo và thông giáo
là pháp giáo hóa A La Hán và Duyên Giác.
Biệt giáo là đối với Thanh Văn và Duyên
Giác, sẽ phải hồi tiểu hướng đại, phải hồi
hướng đến viên giáo. "Hà huống có ba" : Ba ở
đây cũng có thể nói là tạng, thông và biệt
giáo. Vì Kinh Pháp Hoa là thuần viên độc
diệu. Thuần viên, tức là chỉ nói về viên
giáo ; độc diệu tức là chỉ có Kinh Pháp Hoa
mới là diệu nhất, ngoài ra tạng, thông, biệt
giáo đều chẳng sánh bằng. Do đó, duy chỉ một
Phật thừa, tức cũng là nói viên giáo. Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát thừa đều là quyền
giáo.
"Xá Lợi Phất ! Chư Phật xuất hiện ra
đời ác năm trược.
Kiếp trược : Kiếp tức là thời gian. Bổn lai
thời gian chẳng tồn tại, nhưng vì ở tại phần
của chúng sinh, sinh ra tâm phân biệt mới có
quá khứ, hiện tại và vị lai ba đời, cho nên
gọi là kiếp. Kiếp là tiếng Phạn, nếu nói đủ
là Kiếp ba, dịch là "thời phần". Vào thời
đại tội ác đầy dẫy nầy, cho đến thời gian
cũng ô nhiễm.
Phiền não trược, tức là có năm độn sử : Tham,
sân, si, mạn, nghi. Ðó là gốc rễ của phiền
não.
Kiến trược, tức là năm lợi sử : Thân kiến,
biên kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến,
tà kiến. Ðộn, là vì nó đến chậm ; lợi là vì
nó đến nhanh.
Chúng sinh trược : Chúng sinh có đủ thứ nhân
duyên thiện ác xen tạp, mỗi chúng sinh đều
có nghiệp ác đặc biệt của họ, cho nên chúng
sinh cũng ô trược.
Mạng trược, mạng tức là một đoạn thời
gian của báo thân chúng sinh, tức là mạng
sống. Mạng sống cũng ô trược. Trược là gì ?
Trược cũng giống như bùn ở dưới nước, dùng
tay khuấy thì đục ngầu, nhìn chẳng rõ. Thế
giới nầy do năm thứ trược đục nầy tạo thành,
cho nên thế giới cũng chẳng sạch sẽ, cho nên
gọi là đời ác năm trược. "Như thế, Xá Lợi
Phất ! Vào thời kiếp trược loạn thì chúng
sinh cấu nặng" : Tội cấu của chúng sinh nặng
vô cùng. "Xan, tham, đố kị" : Xan tức là keo
kiệt, không thể xả bỏ một đồng xu. Tham tức
là chẳng những không xả bỏ, mà còn tham lam
tài vật của người khác, tham chẳng biết
chán. Người xan tham thì tương lai phải chịu
quả báo nghèo cùng.
Bây giờ kể về chuyện tham cho mọi người nghe.
Có một người nọ, sau khi chết rồi thì đến
chỗ Vua Diêm Vương, Vua Diêm Vương hỏi y
:"Ông là người thông minh, khi ông còn sống
thì cũng chẳng thiệt thòi gì. Ông kiếp sau
làm người, thì muốn ăn của người khác hay ăn
của chính mình ?" Ông ta nghĩ :"Ăn đồ của
mình thì hao tốn, còn ăn đồ của người thì
chẳng tốn hao gì của mình." Bèn nói với Vua
Diêm Vương :"Tôi thích ăn của người, chẳng
thích ăn của mình." Vua Diêm Vương nói
:"Tốt, vậy ông đi làm heo, heo thì chuyên
môn ăn của người, chẳng ăn của mình." Do đó,
người tâm tham nầy mới biết ăn của người
khác là sai lầm, nhưng đã yêu cầu với Vua
Diêm Vương, chẳng thể nào thay đổi được nữa,
do đó bèn đi làm heo. Heo thì suốt ngày đến
tối ăn đồ của người, tức là vì tâm tham mà
phải gánh chịu. Ðố kị, đố tức là đố hiền,
nghĩa là thấy bất cứ người nào, nếu tốt hơn
mình thì chẳng vui ; kị, là kị năng, nếu
người nào mà giỏi hơn mình, thì sinh tâm
ganh tị, cho nên hợp lại gọi là đố kị, tức
là ghen ghét người hay, người giỏi hơn mình.
Người có tâm ghen ghét thì tương lai sẽ đọa
lạc, kiếp sau hoặc làm súc sinh vì tâm sân
hận quá nặng !
"Các căn chẳng lành" : Vì chúng sinh
tham, xan, đố kị, cho nên làm được những gì,
cũng đều chẳng phải việc tốt, mà trở thành
căn chẳng lành. Căn chẳng lành tức là căn
ác. "Chư Phật dùng sức phương tiện" : Chư
Phật dùng sức phương tiện quyền xảo. "Nơi
một Phật thừa mà phân biệt nói ba" : Vốn chỉ
là một Phật thừa, chẳng có thừa nào khác,
nếu lúc khởi đầu kêu chúng sinh thành Phật,
thì tất cả chúng sinh đều chẳng tin, cho nên
mười phương chư Phật, trước hết đều nói pháp
tiểu thừa, dẫn dắt tất cả chúng sinh, từ nhỏ
đến lớn. "Xá Lợi Phất ! Nếu đệ tử của ta, tự
cho mình là bậc A La Hán" : Nếu như họ tự
nói đã chứng được quả A La Hán. "Bích Chi
Phật" : Ðã đắc được quả vị Bích Chi Phật.
"Mà chẳng nghe chẳng biết" : Cũng chẳng từng
nghe đến một Phật thừa duy nhất chân thật
diệu pháp nầy. "Cũng chẳng biết việc chư
Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ Tát" : Họ cũng
chẳng biết chư Phật Như Lai vì giáo hóa Bồ
Tát để thành Phật quả. "Những người đó chẳng
phải đệ tử của Phật. Những người đó chẳng
phải là Bồ Tát, chẳng phải là A La Hán,
chẳng phải là Thanh Văn Thừa, chẳng phải
Bích Chi Phật, cũng chẳng phải là Duyên
Giác". Tại sao họ chẳng phải là Bồ Tát ?
chẳng phải là A La Hán ? chẳng phải là Bích
Chi Phật ? Vì nếu như họ thật sự đắc được
quả A La Hán, quả Bích Chi Phật, quả Bồ Tát,
thì nhất định sẽ tin diệu pháp của Phật nói,
căn tánh của họ nhất định rất sâu dày. Nếu
họ không tin thì họ chẳng thật sự chứng được
quả A La Hán, chẳng chứng được quả Bích Chi
Phật, cũng chẳng chứng được quả Bồ Tát quyền
thừa, họ chỉ là kẻ tăng thượng mạn.
Lại nữa, Xá Lợi Phất ! Các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo
ni đó, tự cho mình đã chứng A la hán, là
thân cuối cùng, cứu kính Niết bàn, chẳng còn
có chí cầu quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh
giác. Nên biết, những người đó đều là những
kẻ tăng thượng mạn. Vì sao ? Nếu có Tỳ kheo
thật chứng được A la hán, nếu không tin pháp
nầy, thì chẳng có lý vậy, trừ khi Phật diệt
độ rồi, hiện tiền chẳng có Phật. Vì sao ?
Sau khi Phật diệt độ rồi, người thọ trì đọc
tụng, hiểu nghĩa những Kinh như vầy, thật là
khó có được. Nếu gặp đức Phật khác, ở trong
pháp nầy thì sẽ hiểu rõ.
Xá Lợi Phất ! Các ông nên một lòng tin hiểu,
thọ trì lời của Phật nói. Lời của chư Phật
Như Lai chẳng có hư vọng, chẳng có thừa nào
khác, chỉ có một Phật thừa.
Ðức Phật lại nói : "Xá Lợi Phất ! Các Tỳ Kheo,
Tỳ Kheo Ni đó, tự cho mình đã chứng A La
Hán" : Những vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni đó, nói
họ đã chứng được quả vị A La Hán. "Là thân
cuối cùng" : Báo thân nầy là báo thân cuối
cùng, sau nầy chẳng còn thọ thân khác nữa.
"Cứu kính Niết Bàn" : Họ nói đã đắc được cứu
kính Niết Bàn, thường, lạc, ngã, tịnh.
"Chẳng còn có chí cầu quả vị Vô thượng chánh
đẳng chánh giác" : Chẳng còn hướng thượng
phát nguyện cầu quả vị Vô thượng chánh đẳng
chánh giác. "Nên biết những người đó, đều là
những kẻ tăng thượng mạn" : Những loại người
nầy đều thông minh, ngược lại bị thông minh
lầm lẫn, cống cao ngã mạn, là những kẻ tăng
thượng mạn. "Vì sao ? Nếu có Tỳ Kheo thật
chứng được A La Hán, nếu không tin pháp nầy
thì chẳng có lý vậy" : Là nguyên nhân gì ?
Nếu như họ đã chứng quả A La Hán, mà họ
chẳng tin Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nầy, thì
chẳng có lý. "Trừ khi Phật diệt độ rồi" :
Trừ khi Phật đã nhập diệt rồi. "Hiện tiền
chẳng có Phật" : Hiện tại chẳng có Phật. "Vì
sao" ? Là nguyên nhân gì ? "Khi Phật diệt độ
rồi" : Sau khi Ðức Phật diệt độ. "Những Kinh
như vầy" : Giống như Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
nầy. "Người thọ trì đọc tụng hiểu nghĩa" :
Người hay thọ trì, hay đọc tụng minh bạch
đạo lý nầy. "Thật là khó có được" : Chẳng dễ
gì tìm được người giảng giải Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, vì chẳng có người minh bạch cho
nên chúng sinh chẳng tin. "Nếu gặp Ðức Phật
khác" : Hoặc là gặp Phật ở thế giới khác. "Ở
trong pháp nầy thì sẽ hiểu rõ" : Ðối với đạo
lý khai quyền hiển thật trong Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, họ có thể minh bạch hiểu rõ. "Xá
Lợi Phất ! Các ông nên nhất tâm tin hiểu,
thọ trì lời của Phật nói" : Các ông tất cả
chúng Thanh Văn và chúng Bồ Tát, nên chuyên
tâm nhất chí tin hiểu thọ trì pháp của Phật
nói. "Lời của chư Phật Như Lai chẳng có hư
vọng" : Pháp của chư Phật nói chẳng giả, đều
là chân thật không hư. "Chẳng có thừa nào
khác, chỉ có một Phật thừa" : Chẳng có ba
thừa pháp nào khác, chỉ duy nhất một Phật
thừa, cho nên đừng sinh tâm hoài nghi.
Lúc đó, Ðức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
trên, mà nói ra bài kệ.
"Lúc đó, Ðức Thế Tôn" : Khi đó, Ðức Thế Tôn
Thích Ca Mâu Ni. "Muốn thuật lại nghĩa trên"
: Muốn tuyên lại nghĩa vừa nói ở trên. "Mà
nói ra bài kệ" : Bèn nói kệ rằng.
Tỳ kheo Tỳ kheo ni
Ôm lòng tăng thượng mạn
Cư sĩ nam ngã mạn
Cư sĩ nữ chẳng tin.
Hàng bốn chúng như thế
Số đông năm ngàn người.
Ðức Phật đang muốn nói Kinh Pháp Hoa, thì
trong đại hội có năm ngàn Tỳ Kheo, Tỳ Kheo
Ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, bốn chúng đệ tử đều
lui về. Tại sao ? Vì họ có tăng thượng mạn,
hoặc là hoài nghi chẳng tin.
Chẳng thấy rõ lỗi mình
Nơi giới có thiếu lủng.
Tiếc giữ lầm lỗi mình
Người trí nhỏ đã ra
Bọn tấm cám trong chúng
Ði vì oai đức Phật.
Họ cũng chẳng biết lỗi lầm mao bệnh của mình,
bởi vì giới đức chẳng đầy đủ, có sự thiếu
khuyết mà còn khư khư giữ mao bệnh của mình.
Lỗi lầm tức là mao bệnh. Phàm là người đã
thọ giới thì phải giữ giới. Bất cứ là giới
Bồ Tát, giới Bát quan trai, giới Sa Di đều
phải giữ gìn giới luật cho tinh nghiêm, nếu
không thì cũng như đáy bình có lỗ lủng,
chẳng đựng được nước, đó là hữu lậu. "Tiếc
giữ lầm lỗi mình" : Lầm lỗi cũng như ngọc có
tì vết, chẳng được tốt đẹp, chẳng được viên
mãn, đây là chỉ phẩm đức của người có mao
bệnh, giới đức có khuyết lủng. "Bọn tấm cám
trong chúng" : Họ giống như tấm cám, sau khi
xay lúa xong lấy gạo ra, thì còn lại tấm
cám, cũng có thể nói là, người làm rượu
xong, thì còn lại cặn rượu, chẳng còn dùng
nữa. Tại sao họ phải bỏ đi ? Bởi vì oai đức
của Phật. Vì đức hạnh của mình chẳng đủ, đợi
chẳng được, cho nên lui về.
Những người đó phước mỏng
Chẳng kham thọ pháp nầy
Chúng nay không cành lá
Chỉ toàn là chân thật.
Xá Lợi Phất khéo nghe !
Pháp của chư Phật được
Vô lượng sức phương tiện
Mà vì chúng sinh nói.
Tâm chúng sinh nghĩ gì
Làm đủ thứ các việc
Bao nhiêu các tính dục
Nghiệp thiện ác đời trước.
Phật đều biết vậy rồi
Dùng các duyên thí dụ
Lời lẽ sức phương tiện
Khiến tất cả vui mừng.
Hoặc nói những khế Kinh
Cô khởi và Bổn sự
Bổn sinh Vị tằng hữu
Cũng nói các Nhân duyên.
Thí dụ và Trùng tụng
Và Kinh luận nghị thảy
Ðộn căn thích pháp nhỏ
Tham trước trong sinh tử.
Vô lượng chỗ chư Phật
Chẳng hành sâu diệu đạo
Bị khổ làm não loạn
Vì họ nói Niết bàn.
Ta bày phương tiện đó
Khiến vào được Phật huệ
Chưa từng nói các ông
Sẽ đắc được Phật đạo.
Sở dĩ chưa từng nói
Vì thời nói chưa đến
Nay chính là phải thời
Quyết định nói đại thừa.
Chín bộ pháp ta đây
Thuận theo chúng sinh nói
Vào đại thừa làm gốc
Vì vậy nói Kinh nầy.
Có Phật tử tâm tịnh
Êm diệu cũng lợi căn
Vô lượng chỗ chư Phật
Mà hành sâu diệu đạo.
Vì các Phật tử đó
Nói Kinh đại thừa nầy
Ta thọ ký người đó
Tương lai sẽ thành Phật.
Vì giữ gìn tịnh giới
Người nầy nghe thành Phật
Mừng rỡ khắp toàn thân
Phật biết tâm người đó.
Cho nên nói đại thừa
Nếu Thanh Văn Bồ Tát
Nghe pháp của ta nói.
Cho đến một bài kệ
Ðều thành Phật chẳng nghi.
"Những người đó phước mỏng, chẳng kham thọ
pháp nầy" : Những người nầy phước thì mỏng,
căn tính thì hạ liệt, chẳng đủ tư cách thọ
trì diệu pháp nầy. "Chúng nay không cành lá,
chỉ toàn là chân thật" : Hiện tại, người còn
ở lại ở trong pháp hội đều là Bồ Tát và A La
Hán, chẳng có cành lá hỗn tạp, chẳng có cặn
bã, chỉ còn lại chân thật người căn khí đại
thừa. "Xá Lợi Phất khéo nghe, pháp của chư
Phật được, vô lượng sức phương tiện, mà vì
chúng sinh nói" : Phật dùng vô số pháp môn
thiện xảo phương tiện để dẫn dắt chúng sinh
hồi tiểu hướng đại, phát tâm bồ đề thành
Phật đạo. "Chúng sinh tâm nghĩ gì, làm đủ
thứ các việc, bao nhiêu các tính dục, nghiệp
thiện ác đời trước, Phật đều biết vậy rồi" :
Trong tâm của mỗi chúng sinh nghĩ gì, làm
gì, đủ thứ căn tính đều chẳng giống nhau.
Người nhiều nghiệp thiện thì dục niệm nhẹ,
người nhiều nghiệp ác thì dục niệm nặng. Từ
chỗ nầy các bạn có thể tự suy ra, tự hỏi
mình : Dục niệm của mình nhẹ hay nặng ? Nếu
nhẹ thì căn lành của mình sâu dày. Nếu nặng
thì căn lành của mình mỏng manh. Thật ra,
dục niệm tức là một tên khác của phiền não,
tức cũng là vô minh. Phàm là bạn nhìn chẳng
xuyên thủng, buông chẳng đặng đều là dục
niệm, phiền não. Tất cả hết thảy những thứ
nầy Phật đều biết vậy rồi. Bao nhiêu thứ
tính của chúng sinh, Như Lai đều biết. "Dùng
các duyên ví dụ, lời lẽ sức phương tiện,
khiến tất cả vui mừng, hoặc nói những khế
Kinh" : Do đó, Phật dùng đủ thứ vị dụ, lời
lẽ tốt đẹp khéo léo nói Phật pháp, để khiến
cho tất cả chúng sinh pháp hỉ sung mãn. Khế
Kinh tức là trên thì khế với lý thể của chư
Phật, dưới thì khế với căn cơ của chúng
sinh. Cũng có thể nói trên thì đồng nhất với
Phật tính, dưới thì hợp với nhân duyên của
chúng sinh.
"Cô khởi và Bổn sự"
: Cô khởi, là nghĩa của Già Ðà (tiếng Phạn)
dịch là "tụng", tức chẳng có quan hệ gì với
Kinh trường hàng ở trước hoặc sau. Ví như
trong Kinh Kim Cang có một bài Già Ðà (cô
khởi) :
"Tất cả pháp hữu vi,
Như mộng huyễn bọt bóng,
Như sương cũng như điện,
Hãy quán sát như vậy."
Thông thường, Già Ðà là dùng để biểu thị ý
chính trong Kinh, như Kinh Kim Cang còn có
một bài kệ rằng :
"Nếu dùng sắc thấy ta,
Dùng âm thanh cầu ta,
Người đó hành tà đạo,
Không thấy được Như Lai."
Bổn sự, là tường thuật lại chuyện quá khứ của
chư Phật. "Bổn sinh Vị tằng hữu" : Bổn sinh
là một bộ trong mười bộ Kinh, chuyên thuật
lại chuyện của các đại đệ tử và các đại Bồ
Tát trong quá khứ. Vị tằng hữu là trước kia
chưa từng nói qua, nghe những gì chưa nghe,
thấy những gì chưa thấy.
"Cũng nói các nhân
duyên, thí dụ và trùng tụng" : Nhân duyên
tức là nói đủ thứ việc nhân duyên quả báo.
Thí dụ là Phật dùng đủ thứ thí dụ để xiển
minh đạo lý thâm áo ở trong Kinh. Trùng tụng
là nghĩa của chữ Kì Dạ (tiếng Phạn), tường
thuật lại những gì nói ở trường hàng phía
trên, như đoạn văn đang giảng nầy là Kì Dạ
(trùng tụng).
"Và Kinh luận nghị
thảy" : Luận nghị là nghĩa của Ưu Ba Ðề Xá
(tiếng Phạn). Chỗ nầy Ðức Phật đề ra tên của
chín bộ Kinh trong mười hai bộ Kinh. Tại sao
? Dưới đây Phật có giải thích nói. "Ðộn căn
thích pháp nhỏ, tham trước trong sinh tử" :
Người độn căn thì thích pháp tiểu thừa,
chẳng thích pháp đại thừa, cũng tham luyến
sinh tử luân hồi. "Vô lượng chỗ chư Phật,
chẳng hành sâu diệu đạo" : Ở trước vô lượng
chư Phật trong quá khứ, họ chưa từng tu hành
Phật đạo thâm sâu vô thượng. "Bị khổ làm não
loạn" : Suốt ngày chịu đựng ba thứ khổ, tám
thứ khổ và vô lượng thứ khổ bức bách. "Vì họ
nói Niết Bàn, ta bày phương tiện đó, khiến
vào được Phật huệ" : Vì những người căn tính
nông cạn mà Phật nói Niết Bàn, pháp môn :
thường, lạc, ngã, tịnh, khéo bày đủ thứ pháp
môn phương tiện để dẫn dắt họ nhập vào trí
huệ của Phật.
Song, chưa từng nói các ông sẽ đắc được Phật
đạo. "Sở dĩ chưa từng nói, vì thời nói chưa
đến" : Phật chưa nói với người tiểu thừa
rằng : các ông tương lai đều sẽ thành Phật.
Tại sao không nói ? Vì thời cơ chưa đến, vì
nhân duyên chưa thành thục. "Nay chính là
phải thời, quyết định nói đại thừa" : Phật
nói pháp thì trước hết quán sát căn cơ vì
người thuyết pháp, nay chính là phải thời,
nên nói diệu pháp đại thừa nầy. "Chín bộ
pháp ta đây" : Chín bộ Kinh nói ở trên, đều
thuận theo chúng sinh mà nói. "Vào đại thừa
làm gốc" : Mục đích cuối cùng, là khiến cho
người tiểu thừa vào gốc rễ đại thừa. "Vì vậy
nói Kinh nầy" :Vì nhân duyên đó, cho nên nói
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
"Có Phật tử tâm tịnh, êm dịu cũng lợi căn" :
Có đệ tử của Phật, tâm của họ thanh tịn, tâm
ý êm dịu cũng thông minh có trí huệ, đó là
căn cơ đại thừa. "Vô lượng chỗ chư Phật, mà
hành sâu diệu đạo" : Vì những vị đệ tử của
Phật đó, đã ở chỗ vô lượng chư Phật thực
hành sâu diệu đạo. "Vì các Phật tử đó, nói
Kinh đại thừa nầy" : Phật vì tất cả đệ tử
của Phật, mà nói Kinh đại thừa Diệu Pháp
Liên Hoa. "Ta thọ ký người đó, tương lai sẽ
thành Phật" : Hiện tại Phật thọ ký cho những
đệ tử đó, tương lai họ nhất định sẽ thành
Phật. "Dùng thâm tâm niệm Phật, vì giữ gìn
tịnh giới" : Vì họ dùng thâm tâm, tức là tâm
đại thừa để tu Phật pháp, giữ gìn giới thanh
tịnh. "Người nầy nghe thành Phật, mừng rỡ
khắp toàn thân" : Những người nầy mà nghe
được mình sẽ thành Phật, thì toàn thân của
họ mừng rỡ vô cùng. "Phật biết tâm người đó,
cho nên nói đại thừa" : Phật biết tư tưởng
và sự tu hành của họ, cho nên vì họ mà nói
pháp đại thừa. "Nếu Thanh Văn, Bồ Tát" :
Hoặc là Thanh Văn thừa, hoặc là Bồ Tát thừa.
"Nghe pháp của ta nói, cho đến một bài kệ" :
Nghe được diệu pháp của Phật nói, dù chỉ một
bài kệ. "Ðều thành Phật chẳng nghi" : Tương
lai đều có thể thành Phật, chẳng có tơ hào
hoài nghi.
Trong mười phương cõi Phật
Chỉ có một thừa pháp.
Chẳng hai cũng chẳng ba
Trừ Phật phương tiện nói
Chỉ dùng tên giả danh
Dẫn dắt các chúng sinh.
Nói trí huệ của Phật
Chư Phật hiện ra đời
Chỉ thật một việc nầy
Nếu hai chẳng phải chân.
Quyết chẳng dùng tiểu thừa
Tế độ các chúng sinh
Phật tự trụ đại thừa
Như pháp của mình được.
Ðịnh huệ lực trang nghiêm
Dùng để độ chúng sinh
Tự chứng đạo vô thượng
Pháp đại thừa bình đẳng.
Nếu giáo hóa tiểu thừa
Cho đến chỉ một người
Thì ta đọa xan tham
Việc nầy không thể có.
"Trong mười phương cõi Phật, chỉ có một thừa
pháp, chẳng hai cũng chẳng ba, trừ Phật
phương tiện nói" : Trong mười tất cả các cõi
Phật, Phật vì giáo hóa chúng sinh, mà nói đủ
thứ pháp môn phương tiện, cho nên vừa nói
tiểu thừa, đại thừa, lại nói Thanh Văn thừa,
Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa. "Chỉ dùng tên
giả danh, dẫn dắt các chúng sinh, nói trí
huệ của Phật" : Chẳng qua là dùng những tên
giả danh nầy, để khiến cho chúng sinh cũng
đắc được trí huệ của Phật.
"Chư Phật hiện ra
đời, chỉ thật một việc nầy" : Chỉ có một
việc nầy là chân thật nhất. "Nếu hai chẳng
phải chân" : Nếu như hai hoặc ba thừa nào
khác, thì chẳng phải chân, đều là pháp môn
quyền xảo phượng thiện. "Quyết chẳng dùng
tiểu thừa, tế độ các chúng sinh" : Song, chư
Phật tuyệt đối chẳng dùng giáo lý tiểu thừa
để giáo hóa, cứu độ chúng sinh. "Phật tự trụ
đại thừa, như pháp của mình được" : Phật trụ
ở trong pháp đại thừa và pháp Ngài đắc được
ở tại Ðạo tràng là chân thật. "Ðịnh huệ lực
trang nghiêm" : Phật dùng sức định huệ, huệ
lực để tự trang nghiêm cho mình. Lực là mười
thứ trí lực, ở trước đã giải thích rõ. Phật
có mười thứ trí huệ, cho nên gọi là định huệ
lực trang nghiêm. "Dùng để độ chúng sinh" :
Dùng những lực nầy để giáo hóa chúng sinh,
độ thoát chúng sinh. "Tự chứng đạo vô
thượng" : Mình đã chứng được đại đạo vô
thượng, tức là "pháp đại thừa bình đẳng".
"Nếu giáo hóa tiểu thừa, cho dù chỉ một
người, thì ta đọa xan tham, việc nầy chẳng
thể có" : Phật nói : Nếu ta không dùng pháp
đại thừa giáo hóa chúng sinh, chỉ nói pháp
tiểu thừa dù đối với một người, giấu pháp
lớn mà nói pháp nhỏ, tức là rơi vào tâm
tham, keo kiệt pháp, việc nầy tuyệt đối
không thể có.
Nếu người tin quy Phật
Như Lai chẳng dối gạt.
Cũng không tham ghen ghét
Dứt ác trong các pháp
Nên Phật trong mười phương
Chẳng có gì sợ hãi.
Ta dùng tướng nghiêm thân
Quang minh chiếu thế gian
Vô lượng chúng tôn kính
Vì nói ấn thật tướng .
Xá Lợi Phất nên biết !
Ta vốn lập thệ nguyện
Muốn khiến tất cả chúng
Ðồng như ta không khác.
Nguyện xưa kia của ta
Nay đã đầy đủ rồi
Ðộ tất cả chúng sinh
Ðều khiến vào Phật đạo.
Nếu như có người tin Phật pháp, quy y Phật
đạo, thì Như Lai quyết chẳng dối gạt, cũng
chẳng có ý tham lam đố kị. "Dứt ác trong ác
pháp" : Mục đích học Phật pháp, là muốn thấu
sự rõ lý, minh bạch nhân quả, thực hành
những gì Phật thực hành, giác ngộ những gì
Phật giác ngộ. Ðối với pháp lành, thì phải
nghe theo hành theo, mới có thể trừ khử bớt,
tập khí xấu tham sân si từng chút từng chút,
tức là dứt ác trong các pháp. Tại sao có
người ngu si ? Vì thấy người có trí huệ thì
sinh tâm đố kị, cho nên đời nầy ngu si. Ðồng
lý ấy, đời nầy thông minh có trí huệ, là vì
đời trước không những chẳng đố kị với người
khác, ngược lại sinh ra tâm tùy hỉ ca ngợi
người khác. Người chân chánh tu đạo, thì
không sợ người khác giỏi hơn mình, mà mong
muốn mọi người đều hơn mình, mọi người đều
thành Phật, sau đó mình mới thành Phật. Bạn
hãy xem, ôm ấp chí khí nầy ở trong lòng thật
là vĩ đại. Bồ Tát Ðiạ Tạng Vương pháp nguyện
:
"Ðịa ngục chưa trống không,
Thệ không thành Phật.
Chúng sinh độ hết
Mới chứng bồ đề".
Chúng sinh ở trong địa ngục, ác tập khí quá
nặng, khó điều khó phục, luân hồi ở trong
sáu nẻo, nhưng Bồ Tát chẳng than mệt nhọc,
luôn luôn cứu độ, khiến cho họ sớm được giải
thoát.
Có người hỏi, có
thể nào cùng năm tháng ngày giờ, đều độ hết
chúng sinh trong sáu nẻo thành Phật chăng ?
Không, không thể được, chỉ có thân người mới
có thể thành Phật đặng, nguyện lực nầy mới
viên mãn. Còn năm nẻo kia là trời, A Tu La,
súc sinh, ngạ quỷ, điạ ngục, nếu muốn thành
Phật thì trước hết phải làm thân người, chứ
không thể ở trong năm nẻo kia mà thành Phật
đặng. Trong lời nguyện của Bồ Tát Ðịa Tạng
phát ra là trước hết độ tất cả chúng sinh ác
liệt nhất, cho nên đời ác năm trược, thệ vào
trước để cứu độ tất cả chúng sinh tội khổ
đọa lạc trong ba đường ác.
Ðức Phật chánh đại quang minh, cho nên
được người thế gian trong mười phương tôn
kính, mà chẳng có gì sợ hãi. Con người vì
hoặc nghiệp chưa hết, suốt ngày điên đảo
mộng tượng, tâm nhiều quái ngại, thậm chí
đêm ngủ cũng chẳng yên. Phật đắc được trí
huệ cứu kính, đủ đại dũng mãnh, tinh thần
đại vô úy, chẳng sợ cứu độ những chúng sinh
cang cường, thường làm thuyền độ người trong
biển khổ. Vì chẳng có gì sợ hãi, nên đắc
được quang minh chánh trực. Chánh cũng có
nghĩa là trung đạo, chẳng lệch bên phải,
chẳng lệch bên trái, chẳng nhiều cũng chẳng
ít. Trung đạo thì chẳng có hình tướng, luôn
luôn xử sự hợp với trung đạo, đó tức là diệu
đạo, cho nên Phật hay dùng vô sở úy, để
khiến chúng sinh thích nghe Phật pháp.
Phật nói pháp thiện
xảo phương tiện, làm hài lòng tâm của đại
chúng. Song, tại sao ở trong hội Pháp Hoa,
còn có năm ngàn người lui về ? Thật ra chẳng
phải họ không muốn nghe, mà vì nghiệp chướng
của họ quá sâu nặng, đức hạnh chẳng đủ, cho
nên chiêu lại ma lực ở trong thân, khiến cho
họ lui khỏi pháp hội.
Phật dùng tướng tốt trang nghiêm thân,
trí huệ quang minh chiếu khắp thế gian, là
bậc tôn kính ngưỡng mộ của vô lượng chúng
sinh, hiện tại là nói pháp thật tướng. "Ấn
thật tướng" là chánh pháp ấn thật tướng, tức
cũng là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
"Xá Lợi Phất nên
biết, ta vốn lập đại thệ nguyện, muốn khiến
cho tất cả chúng sinh đồng như Phật, Thế Tôn
không khác". Như ta đã pháp thệ nguyện xưa
kia, nay đã mãn nguyện được thành Phật đạo
và khéo dẫn dụ tất cả chúng sinh si mê, đều
khiến cho họ nhập vào trong chánh đạo của
Phật.
Nếu ta gặp chúng sinh
Dùng Phật đạo dạy hết
Kẻ vô trí lầm lẫn
Mê hoặc chẳng nghe lời.
"Ta" ở đây là chỉ bản thân của Phật. Phật có
tám đại tự tại ngã (ta).
Tự tại ngã thứ nhất là : Dùng một thân mà ứng
vô lượng thân để độ thoát chúng sinh.
Thứ hai là : Dùng một thân đầy khắp đại thiên
thế giới, sao lại có thể dùng một thân mà
đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới ? Vì tự
tại.
Thứ ba là : Thân Phật có thể khinh cử viễn
đạo. "Khinh cử" tức là nhẹ như khí cầu, một
chút trọng lượng cũng chẳng có, có thể tùy ý
bay nổi, đó gọi là khinh cử. "Khinh cử viễn
đạo", nghĩa là thần thông của Phật tự tại
diệu dụng.
Thứ tư là : Phật có thể ở trong cùng một cõi
nước, mà hiện đủ thứ thân hình.
Thứ năm là : Sáu căn dụng với nhau, như mắt có
thể ăn được vật ăn, tai có thể nói ; tóm
lại, mỗi một căn đầy đủ năng lực của năm căn
kia.
Thứ sáu là : Ðắc các pháp tướng vào vô pháp
tướng. Tuy chứng đắc các pháp tướng vào vô
pháp. Tuy chứng đắc tất cả các pháp, mà
chẳng có các pháp tướng, pháp cũng không.
Thứ bảy là : Diễn nói kệ tụng, vĩnh viễn chẳng
dừng cảnh.
Thứ tám là : Thân đầy các nơi, khắp mười
phương cõi, chẳng có nơi nào mà không có.
Pháp giới làm thể, hư không làm dụng. Hư
không vô tướng mà vô sở bất tướng. Chúng ta
đều sống ở trong pháp thân của Phật. Chúng
sinh sống ở trong pháp thân, cũng giống như
sống ở trong gió, nhưng bản thân ngưới chẳng
biết gió ra làm sao. Ðồng lý ấy, chúng ta
tuy sống ở trong pháp thân của Phật mà chẳng
biết Phật là thế nào. Do đó :
"Chẳng biết mặt mũi thật núi Lư Sơn,
Chỉ nương thân ở trên núi ấy."
Núi Lư Sơn là danh lam thắng cảnh nổi tiếng
của Trung Quốc, nếu ở tại núi Lư Sơn thì tự
nhiên chẳng thấy được mặt mũi thật của núi
Lư Sơn, chỉ ở ngoài núi mới trông thấy được.
Thế thì làm sao thấy được pháp thân của Phật
? Chẳng có cách nào khác, chỉ cần siêng tu
Phật đạo, thành tựu quả vị Phật, với Phật
không hai không khác, thì tự nhiên ngộ được
ý bên trong.
Phật dùng tám đại tự tại ngã nầy, toại tâm như
ý giáo hóa chúng sinh, giáo hóa hết Phật
đạo. Song, người chẳng rõ thị phi, chẳng
phân trắng đen, vô trí lầm lẫn, cho nên hoặc
chẳng nghe lời. Nếu người luôn luôn tự mình
kiểm thảo, hồi quang phản chiếu, thì giống
như ở trước gương soi, sẽ chiếu rõ ràng mặt
mũi của mình. Nếu tâm thường từ bi, đồng thể
đại bi, thì kiếp trước đã từng tu thiện dứt
làm ác, chẳng tạo nghiệp giết hại. Nếu người
tâm sân hận quá nặng, giết hại nhiều sinh
linh, thì đời nầy nóng giận bạo phát, hỏa
khí rất lớn. Do đó, có thể suy ra :
"Muốn biết nhân trồng trong quá khứ,
Hãy xem mình đang hưởng thụ đời nầy ;
Muốn biết quả sẽ thọ trong tương lai,
Hãy xem mình đang làm gì trong đời nầy."
Xưa kia, có người từng hỏi tôi : "Người sẽ đọa
làm súc sinh chăng ?" Tôi đáp : "Bạn làm
việc súc sinh tức là súc sinh, làm việc
người tức là người, làm việc quỷ tức là quỷ.
Nếu thọ Bồ Tát giới hành Bồ Tát đạo, tức là
Bồ Tát sơ phát tâm, làm việc Phật tức là
Phật. Tóm lại, mười pháp giới chẳng lìa một
tâm niệm, vạn pháp do tâm tạo ra." Hiện tại
đại chúng thường đến pháp hội nầy nghe Kinh,
đều do kiếp trước đã từng gieo trồng căn
lành, niềm tin chẳng thối lùi, cho nên đời
nầy mới gặp được pháp duyên nầy.
Ta biết chúng sinh đó
Chưa từng tu gốc lành
Chấp cứng nơi năm dục
Vì si ái sinh phiền.
Do nhân duyên ác dục
Ðọa vào ba đường ác
Luân hồi trong sáu nẻo
Chịu đủ các khổ độc.
Thọ thai hình hài nhỏ
Ðời đời thường lớn dần
Người đức mỏng phước ít
Bị các khổ bức bách.
Vào rừng rậm tà kiến
Chấp có hoặc chấp không
Nương tựa các kiến này
Ðầy đủ sáu mươi hai.
Chấp sâu pháp hư vọng
Giữ chặt chẳng bỏ được
Ngã mạn tự khoe cao
Dua nịnh tâm chẳng thật.
Trong ngàn vạn ức kiếp
Chẳng nghe danh hiệu Phật
Cũng chẳng nghe chánh pháp
Người như thế khó độ.
Ta biết những chúng sinh mê hoặc nầy, chưa
từng tu học gốc lành đại thừa, lại tham chấp
vào cảnh : sắc, thanh, hương, vị, xúc, năm
dục, tức : tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn
và ngủ. Do đó, đọa địa ngục. Ví như :
1. Người tham tiền tài : Bất chấp mọi thủ đoạn
để kiếm tiền bạc, chẳng cứ nhân nghĩa đạo
đức, cũng chẳng màng nguồn gốc tiền bạc có
chánh đáng chăng, suốt ngày tâm vì tiền bạc
sai khiến, trồng xuống hạt giống địa ngục.
2. Sắc : Sắc đẹp là nhân luân hồi của chúng
sinh, bất cứ nam nữ, một khi gặp nhau thì ý
niệm đầu tiên là, muốn nhìn xem thử đối
phương có xinh đẹp chăng ? Cứ khởi vọng
tưởng, sự suy nghĩ nầy chẳng chân thật, cho
nên có luân chuyển.
3. Danh lợi : Con người thường bị danh lợi
trói buộc, do đó thích tự mình tuyên truyền,
ở trên tấm thiếp nhỏ in đầy ra, nào là giám
đóc công ty nào đó, chủ tịch gì đó..., đó
phải chăng là vì háo danh.
4. Ăn : Có người chẳng thích tiền tài, chẳng
háo sắc, cũng chẳng tham danh lợi mà thích
ăn !
5. Ngủ : Có những người chẳng tham mấy thứ ở
trên mà chỉ thích ngủ ! Ngủ nhiều thì đầu
não hôm mê.
Ở tại Hương Cảng, Ðài Loan thường nghe bệnh
ngủ chết phát sinh, vì người quá tham ngủ,
ngủ chết rồi cảm thấy sung sướng, cho rằng
đó là sự ra đi an nhàn, chẳng chịu đựng cảnh
chết đau đớn. Tóm lại, năm thứ dục lạc nầy
là địa ngục năm căn, khiến cho chúng sinh
trầm luân sâu thẳm ở trong sáu nẻo luân hồi.
Do đó, học Phật tu đạo là khiến cho con
người dứt làm ác mà làm điều lành, bỏ tà quy
chánh, chấm dứt sinh tử, chẳng còn luân hồi.
"Vì si ái sinh phiền" : Vì quá chấp trước năm
dục, ngu si luyến ái, chẳng xả bỏ được, cho
nên sinh đủ thứ phiền não. Tham những ái dục
nghiệp ác nầy đều là nhân duyên của ba đường
ác, nghiệp quả vay trả, như bánh xe lăn, lưu
chuyển trong sáu nẻo, đó gọi là sáu nẻo luân
hồi. Chúng sinh luân hồi trong sáu cõi, chịu
đủ các khổ độc, thọ bào thai hình hài nhỏ,
ra thai bò vào bụng ngựa, khi thì họ Trương,
khi thì họ Lý, luân chuyển trong lục đạo.
Người hạ liệt đức mỏng phước ít, thường bị
các khổ bức bách. Khổ có ba thứ khổ, tám thứ
khổ và vô lượng thứ khổ.
"Vào rừng rậm tà kiến" : Tức là kiến trược.
"Hoặc chấp có chấp không" : Chấp có tức là
chấp thường, chấp không tức là chấp đoạn, đủ
các thứ tà kiến. "Nương tựa các kiến nầy" :
Nương vào có, không, hai thứ kiến (thấy) bất
chánh, thành sáu mươi hai kiến. Năm kiến là
: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ
kiến, giới cấm thủ kiến.
"Ðầy đủ sáu mươi hai" : Phàm phu và các ngoại
đạo, nơi cảnh năm uẩn (sắc, thọ, tưởng,
hành, thức) khởi bốn thứ kiến ; hoặc là sắc
lớn ngã nhỏ, ngã ở trong sắc ; hoặc là sắc
nhỏ ngã lớn, sắc ở trong ngã ; hoặc là sắc
tức là ngã ; hoặc là lìa sắc là ngã. Ðó là
về sắc ấm, còn bốn ấm kia, thọ tưởng hành
thức, mỗi ấm cũng khởi bốn thứ kiến, cộng
thành hai mươi thứ kiến. Quá khứ, hiện tại
và vị lai, mỗi thứ có hai mươi thứ kiến,
cộng thành sáu mươi thứ kiến và kể cả thường
kiến và đoạn kiến (chấp không chấp có) cộng
thành sáu mươi hai thứ tà kiến.
"Ngã mạn tự khoe cao" : Khoe khoang kiêu ngạo,
trọng mình khinh người. "Dua nịnh tâm chẳng
thật" : Dua nịnh tức là a dua theo người có
quyền có thế, chẳng ngay thẳng, chẳng thật
thà. Trong Kinh Lăng Nghiêm nói :
"Nhân mà không thật thì quả quanh co".
Nếu tại nhân địa mà chấp chặt vào pháp hư
vọng, ngã mạn tự khoe cao, dua nịnh chẳng
thật, nhân địa chẳng thật, cho nên ngàn vạn
ức kiếp, chẳng nghe được danh hiệu của Phật,
cũng chẳng đắc được chánh pháp của Phật,
người như thế chẳng có duyên, khó mà độ
thoát được.
Tại San Francisco, mỗi buổi tối người đến tham
gia pháp hội nầy, thật là lông phụng sừng
lân, tình hình nầy giống như có một lần Ðức
Phật cầm lên một ít đất hỏi Ngài A Nan :"Con
xem đất trong tay của ta nhiều, hay đất
ngoài đại địa nhiều ?" Ngài A Nan đáp
:"Ðương nhiên đất ngoài đại địa nhiều, đất
trong bàn tay của Như Lai ít." Phật lại nói
: "Ðược thân người như đất trong lòng bàn
tay, mất đi thân người như đất ngoài đại
địa." Nếu thân người mất đi thì vạn kiếp khó
được lại, đời sau chẳng làm ngạ quỷ thì làm
súc sinh hoặc đọa vào địa ngục. Do đó, có
thể thấy, vào thời mạt pháp, người đến đây
học Phật nghe Kinh, hiếm có như vàng thật,
còn những người chẳng nghe danh hiệu Phật,
chẳng học Phật như đất, khắp nơi đều có.
Trung Quốc có một vị Phật sống Chùa Kim
Sơn, bất cứ vị pháp sư nào giảng Kinh thuyết
pháp, Ngài cũng đều đảnh lễ trước rồi quỳ
xuống nghe, chắp tay im lặng, cung kính phi
thường, thật là có tâm thành. Vì sao Ngài
được xưng là Phật sống ? Nguyên nhân là Ngài
từ đỉnh tháp Kim Sơn nhảy xuống mà vẫn an
nhiên chẳng hề gì, và Ngài hay dùng "thuốc
Ba La Mật" chữa trị các chứng bịnh nan y.
"Thuốc Ba La Mật" là vật gì ? Tức là nước
rửa chân của Phật sống Kim Sơn ! Nếu ai cầu
chữa bệnh, thì Ngài lầy nước rửa chân rồi
thêm vào một chút tro, cho bệnh nhân uống.
Nói ra cũng lạ thật, nước rửa chân lại có
thể công hiệu, phát sinh ra chất thuốc chữa
lành các chứng bệnh. Cho nên ai ai cũng gọi
Ngài là Phật sống Kim Sơn.
Người như Phật sống Chùa Kim Sơn căn
lành sâu dày, vào thời đại mạt pháp thật là
hiếm có. Tương lai khi Phật pháp phải diệt,
thì tất cả Kinh điển sẽ biến thành giấy
trắng. Trong các Kinh điển thì Kinh Lăng
Nghiêm mất trước nhất, cho nên tôi đến nước
tây phương hoằng dương Phật pháp, thì trước
hết đề xướng Kinh Lăng Nghiêm. Kinh Lăng
Nghiêm là bộ Kinh khai mở trí huệ, đạo lý
thâm áo vi diệu, siêu hơn khoa học và triết
học hiện nay. Kinh Lăng Nghiêm có thể sánh
là Ðồng Luân Vương. Ngân Luân Vương là Kinh
Pháp Hoa, Vua trong các Kinh. Kinh Hoa
Nghiêm có thể ví là Kim Luân Vương. Ðức Phật
sau khi thành đạo dưới cội bồ đề, hai mươi
mốt ngày đầu tiên giảng Kinh Hoa Nghiêm,
nhưng Phật dùng pháp thân diễn nói tại bảy
nơi chín hội, ngoài Bồ Tát ra, người nhị
thừa chẳng nghe được, cũng chẳng thấy được,
do đó :
"Có mắt chẳng thấy Lô Xá Na,
Có tai chẳng nghe pháp viên đốn."
Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, sau đó bị Long Vương
thỉnh vào Long cung, nhân gian từ đó mất đi
bộ Kinh nầy, cho đến đời tổ thứ mười bốn Bồ
Tát Long Thọ, cảm thấy trên thế gian chẳng
có gì để học, mới dùng thần thông đi xuống
Long cung. Ngài xem thấy ba bộ Kinh Hoa
Nghiêm là : thượng, trung, và hạ. Quyển
thượng số phẩm nhiều như hạt bụi trong bốn
thiên hạ, quyển trung có bốn mươi chín vạn
tám ngàn tám trăm bài kệ, một ngàn hai trăm
phẩm. Quyển hạ có mười ngàn bài kệ, bốn mươi
tám phẩm. Vì quyển thượng và quyển trung quá
dài, người thế gian chẳng lãnh thọ được, cho
nên Bố Tát Long Thọ chỉ dùng trí nhớ thuộc
lòng quyển hạ, trở về nhân gian rồi dùng bút
chép ra hết toàn quyển Kinh. Cho nên, hiện
nay có được bộ Kinh Hoa Nghiêm là nhờ ân đức
của Bồ Tát Long Thọ để lại cho đời sau. Nếu
Chúng ta hiểu rõ ba bộ Kinh nầy (Hoa Nghiêm,
Lăng Nghiêm và Pháp Hoa) thì tất cả các Kinh
khác càng dễ minh bạch hơn.
Cho nên Xá Lợi Phất !
Ta vì bày phương tiện
Nói hết các khổ đạo
Mở bày đạo Niết bàn.
Tuy ta nói Niết bàn
Ðó cũng chẳng thật diệt
Các pháp từ bổn lai
Tướng thường tự tịch diệt.
Phật tử hành đạo rồi
Ðời sau được thành Phật
Ta có sức phương tiện
Mở bày pháp ba thừa.
Nay các đại chúng đây
Ðều nên trừ nghi hoặc
Lời chư Phật không khác
Một chẳng có hai thừa.
Xá Lợi Phất ! Ta dùng pháp quyền xảo phương
tiện, nói ba tạng giáo lý, muốn giải thoát
mọi sự khổ, cho nên nói : biết khổ, dứt tập,
mộ diệt, tu đạo, tức là pháp bốn Diệu đế. Ta
đối với những người căn tính tiểu thừa, thì
vì họ mà nói Niết Bàn : Thường lạc ngã tịnh
bốn đức. Tuy ta vì họ mà nói pháp tịch diệt,
nhưng đó là pháp quyền xảo phương tiện,
chẳng phải là pháp cứu kính tịch diệt. Tất
cả pháp từ xưa đến nay, pháp tính vốn tự
thanh tịnh tịch diệt, gọi là thật tướng. Bổn
thể của nó là tịch diệt, là như như ; như
như là tịch diệt ; tịch diệt tức cũng là như
như. "Phật tử hành đạo rồi" : Ðệ tử của Phật
nghe theo lời Phật dạy, trước hết tu tiểu
thừa, sau đó rồi hồi tiểu hướng đại, hành Bồ
Tát đạo. Tu Bồ Tát đạo viên mãn, thì tương
lai sẽ thành Phật. Ban đầu người nhị thừa
chẳng hiểu pháp đại thừa viên đốn, cho nên
Phật dùng đủ thứ pháp quyền xảo phương tiện,
mở bày pháp ba thừa (Thanh Văn, Duyên Giác
và Bồ Tát thừa).
Tất cả các Thế Tôn đều nói một thừa đạo. Chư
Phật trước nói ba thừa, sau đó đem ba quy về
một, khai quyền hiển thật. Nay các đại chúng
Bồ Tát, La Hán, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, cư sĩ
nam, cư sĩ nữ, quỷ, thần, trời, rồng, tám bộ
chúng đây đều nên tin sâu giáo lý viên đốn,
trừ nghi hoặc, đừng nên đa nghi không tin
như hồ ly. Mùa đông, nước trên mặt sông đóng
băng, hồ ly đi qua sông thì mỗi bước đều
dùng tai lóng nghe, để biết chắt chắn là mặt
sông đã đóng băng, nhưng nó vẫn chẳng tin,
do đó lóng nghe rồi lóng nghe nữa, cho nên
gọi là hồ nghi.
Người chẳng có căn lành, thì nửa tin nửa ngờ
đối với Phật pháp, tức cũng tồn tâm hồ nghi.
Tin chẳng chân thật tức là chẳng trừ lòng
nghi, tức cũng là ngu si vô minh. Nếu người
có trí huệ Bát nhã, thì chẳng hoài nghi. Vì
chẳng có trí huệ Bát nhã, cho nên giảng pháp
chân thật cho họ nghe, thì họ cho rằng là
pháp giả, đó tức là chẳng có trạch pháp nhãn
(mắt chọn pháp). Mười phương chư Phật nói
pháp đếu giống nhau, tức là chỉ có một thừa
Phật đạo, trí huệ chân thật, ngoài pháp môn
thật tướng chẳng có hai thừa, chẳng có đại
thừa, tiểu thừa hoặc Bồ Tát thừa.
Quá khứ vô số kiếp
Vô lượng Phật diệt độ
Trăm ngàn vạn ức Phật
Số đông không thể lường.
Các Thế Tôn như thế
Ðủ thứ duyên thí dụ
Vô số sức phương tiện
Diễn nói tướng các pháp.
Các Thế Tôn đó thảy
Ðều nói pháp một thừa
Ðộ vô lượng chúng sinh
Khiến vào được Phật đạo.
Kiếp, dịch ra nghĩa là "thời phần". Thời phần
vốn chẳng có định nghĩa, chỉ vì tâm niệm của
chúng sinh phân biệt mới có quá khứ, hiện
tại và vị lai.
"Các Thế Tôn đó thảy, đều nói pháp một thừa" :
Thuở xưa chư Phật nói ba tạng giáo lý, đều
là vì thật thí quyền, mục đích cứu kính là
khai quyền hiển thật, tức cũng là nói pháp
một thừa Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. "Ðộ vô
lượng chúng sinh, khiến vào được Phật đạo" :
Khiến cho tất cả chúng sinh đều được khoái
lạc : thường lạc ngã tịnh, bốn đức Niết Bàn.
Các Ðấng Ðại Thánh Chúa
Biết tất cả thế gian
Trời người loại quần sinh
Trong thâm tâm ưa muốn.
Bèn dùng phương tiện khác
Giúp bày nghĩa đệ nhất
Nếu có loại chúng sinh
Gặp chư Phật quá khứ.
Nếu nghe pháp bố thí
Hoặc trì giới nhẫn nhục
Tinh tấn thiền trí thảy
Tu đủ thứ phước huệ.
Tất cả những người đó
Ðều đã thành Phật đạo.
"Các Ðấng Ðại Thánh Chúa" : Tức là các Ðức
Phật. Ðại Thánh Chúa là tên khác của Phật.
"Biết tất cả thế gian" : Thế gian phân ra
gồm có hữu tình thế gian và khí thế gian.
Hữu tình thế gian còn gọi là chánh báo, khí
thế gian còn gọi là y báo. Chánh, y hai báo
Phật đều biết đều thấy. "Trời người loại
quần sinh" : Người trên trời và người nhân
gian cùng tất cả loại chúng sinh. "Trong
thâm tâm ưa muốn" : Ðủ thứ sự ưa muốn trong
thâm tâm của họ, chư Phật đều thấy biết rõ
ràng. Do đó, "bèn dùng phương tiện khác,
giúp bày nghĩa đệ nhất" : Vì chư Phật biết
sự ưa muốn của chúng sinh, cho nên bày đủ
thứ pháp môn quyền xảo phương tiện, để độ
thoát chúng sinh. Phương tiện ở đây tức là
đại thừa, tiểu thừa, Thanh Văn thừa, Duyên
Giác thừa và Bồ Tát Thừa, đó gọi là phương
tiện khác, đều vì hiển lộ Phật thừa nghĩa đệ
nhất mà bày ra. "Nếu nghe pháp bố thí" : Bố
thí gồm tài thí, pháp thí và vô úy thí.
"Hoặc trì giới nhẫn nhục" : Hoặc tu trì giới
độ, hoặc nhẫn nhục độ. Hành bố thí độ xan
tham, trì giới độ hủy phạm, nhẫn nhục độ sân
hận. "Tinh tấn thiền trí thảy" : Tinh tấn độ
giải đãi, thiền định độ tán loạn, tán loạn
tức là chẳng có định lực, trí huệ độ ngu si.
"Tu đủ thứ phước huệ" : Tu sáu độ vạn hạnh,
tức cũng là tu phước huệ. "Tất cả những
người đó" : Hết thảy những người nầy. "Ðều
đã thành Phật đạo" : Họ đều đã thành Phật
đạo. Vì những người nầy ban đầu tu chút chút
việc thiện, ngày tháng tích lũy, từ chút
chút mà biến thành nhiều, từ một việc phước
mà trở thành nhiều việc phước ; từ một việc
huệ mà trở thành nhiều việc huệ ; khi nào
phước huệ tròn đầy thì Phật đạo cũng thành
tựu. Bây giờ chúng ta bắt đầu tu hành, không
biết trong quá khứ bạn đã gieo trồng phước
huệ chưa, thì đời nầy chúng ta gặp được Phật
pháp vô thượng, nhất định phải bắt đầu dũng
mãnh tinh tấn tu hành cho đến khi thành
Phật.
Sau chư Phật diệt độ
Nếu người tâm tốt lành.
Những chúng sinh như thế
Ðều đã thành Phật đạo
Chư Phật diệt độ rồi
Người cúng dường xá lợi.
Tạo vạn ức bảo tháp
Vàng bạc và pha lê
Xa cừ cùng mã não
Châu mai khôi lưu ly.
Thanh tịnh rộng nghiêm sức
Trang trí nơi các tháp
Hoặc dùng đá làm chùa
Chiên đàn và trầm thủy.
Gỗ mật và gỗ khác
Gạch ngói bùn đất thảy
Nếu ở nơi đồng hoang
Chứa đất thành chùa Phật.
Cho đến trẻ con chơi
Vun cát làm tháp Phật
Tất cả những người đó
Ðều đã thành Phật đạo.
"Sau chư Phật diệt độ" : Sau khi chư Phật vào
Niết Bàn. "Nếu người tâm tốt lành" : Nếu
người có tâm tốt lành hòa diệu, ban đầu xem
ra tuy chỉ có chút chút căn lành, nhưng lâu
dần tích lũy được rất nhiều công đức. "Các
chúng sinh như thế, đều đã thành Phật đạo" :
Như những chúng sinh đó cũng đều đã thành
Phật. "Chư Phật diệt độ rồi" : Sau khi chư
Phật diệt độ. "Người cúng dường xá lợi" :
Tạo tháp cúng dường tất cả xá lợi của Phật.
Tạo tháp thí có từng cấp khác nhau, chỉ có
tháp xá lợi của Phật là mười ba từng, Bích
Chi Phật thì năm từng, tứ quả A La Hán thì
bốn từng, tam quả A Na Hàm là ba từng, nhị
quả Tư Ðà Hàm là hai từng, sơ quả Tu Ðà Hoàn
là một từng. "Tạo vạn ức bảo tháp" : Tạo
dựng trăm ngàn vạn ức bảo tháp, dùng gì để
tạo ? "Vàng bạc và pha lê" : Hoặc dùng vàng,
bạc hoặc pha lê để tạo tháp. "Xa cừ cùng mã
não" : Hoặc dùng đá xa cừ để tạo, hoặc dùng
đá mã não để tạo. "Châu mai khôi lưu ly" :
Hoặc dùng đá mai khôi, hoặc dùng đá lưu ly,
hoặc dùng chân châu để tạo tháp. "Thanh tịnh
rộng nghiêm sức" : Dùng đồ thanh tịnh trang
nghiêm, để nghiêm sức tháp xá lợi của Phật.
"Trang trí nơi các tháp" : Lại dùng các thứ
đồ vật để trang trí các tháp. "Hoặc dùng đá
làm chùa, chiên đàn và trầm thủy" : Hoặc có
người dùng đá làm chùa, hoặc dùng gỗ chiên
đàn và gỗ thơm trầm thủy để làm chùa, làm
tượng Phật. "Gỗ mật và gỗ khác, gạch ngói
bùn đất thảy" : Gỗ mật tức là gỗ thơm, hoặc
dùng gạch ngói hoặc dùng bùn đất làm chùa.
"Nếu ở nơi đồng hoang, chứa đất thành chùa
Phật" : Hoặc ở nơi hoang dã, tích chứa đất
thành ngôi chùa."Cho đến trẻ con chơi, vun
cát làm tháp Phật" : Nhẫn đến trẻ con chơi
giỡn, vun một đống cát làm tháp Phật. "Tất
cả những người đó, đều đã thành Phật đạo" :
Tất cả những người như thế, tích lũy công
đức cũng đều đã thành Phật.
Nếu như người vì Phật
Kiến tạo các hình tượng
Ðiêu khắc thành các tướng
Ðều đã thành Phật đạo.
"Nếu như người vì Phật, kiến tạo các hình
tượng, điêu khắc thành các tướng" : Dùng đủ
thứ vật chất khác nhau để làm tượng Phật,
những người nầy "đều đã thành Phật đạo".
Hoặc làm bằng bảy báu
Vàng thau đồng trắng đỏ
Nhôm chì và chất kẽm
Sắt gỗ cùng với bùn.
Hoặc dùng keo sơn vải
Nghiêm sức làm tượng Phật
Hết thảy những người đó
Ðều đã thành Phật đạo.
"Hoặc làm bằng bảy báu" : Hoặc dùng bảy báu :
vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu,
mã não, để tạo tượng Phật. "Vàng thau đồng
trắng đỏ" : Vàng thau giống như vàng thật,
nhưng chẳng phải vàng thật, hoặc là đồng
trắng, đồng đỏ. "Nhôm chì và chất kẽm" :
Hoặc dùng chất nhôm, chì, kẽm để tạo tượng
Phật. "Sắt gỗ cùng với bùn" : Hoặc dùng sắt,
hoặc dùng gỗ, hoặc dùng bùn để tạo tượng
Phật. "Hoặc dùng keo sơn vải" : Hoặc dùng
keo, sơn, vải để tạo tượng Phật. "Nghiêm sức
làm tượng Phật" : Dùng để trang sức những
tượng Phật, trông rất đẹp vô cùng.
Tạo tượng Phật có mười một thứ công đức :
1. Ðời đời kiếp kiếp mắt sáng suốt thấy rõ.
Tại sao có quả báo như thế ? Vì trong đời
quá khứ đã tạo tượng Phật cho nên mắt thấy
rõ sáng suốt.
2. Sinh vào nơi chẳng có người ác, bất cứ
chung quanh phải trái trước sau chỗ của mình
ở, họ hàng bạn bè đều là người tốt, chẳng
gặp người ác, thú dữ hoặc các hiểm nạn.
3. Sinh trưởng trong nhà giàu : sinh vào nhà
giàu có, vừa có tiền vừa có địa vị.
4. Thân thể màu hoàng kim. Tại sao thân thể
của chúng ta chẳng phải màu hoàng kim ? Vì
trong quá khứ chẳng tạo tượng Phật.
5. Châu báu dồi dào. Nơi nào cũng đầy đủ châu
báu.
6. Sinh vào nhà hiền lành. Sinh vào nhà người
hiền lành.
7. Ðược sinh làm vua. Công đức tạo tượng Phật,
đời sau được sinh làm vua. Bây giờ có những
nước chẳng có vua, nhưng làm tổng thống và
vua đều giống nhau.
8. Ðược làm Chuyển luân vương. Làm chuyển luân
vương càng trân quý hơn, Chuyển luân vương
một khi mà tu thì thành Phật.
9. Không những làm vua ở nhân gian mà còn có
thể sinh về cõi trời, sinh về Phạm thiên,
thọ mạng lâu dài.
10. Chẳng đoạ vào đường ác. Người đã từng làm
tượng Phật thì sẽ không đọa vào ba đường ác.
11. Ðời đời kiếp kiếp kính trọng Tam Bảo, quy
y Tam Bảo, chẳng đọa lạc. Ðó là mười một thứ
công đức tạo tượng Phật.
Người tạo tượng Phật tướng mạo rất viên mãn.
Tại sao tướng mạo của Phật viên mãn như thế
? Vì trải qua ba đại A Tăng Kỳ kiếp, chẳng
biết Ngài đã tạo bao nhiêu tượng Phật. Bạn
thử tính xem, Ngài gặp bao nhiêu vị Phật ra
đời ? A Tăng Kỳ kiếp thứ nhất gặp hơn bảy
vạn năm ngàn vị Phật, A Tăng Kỳ kiếp thứ hai
gặp hơn bảy vạn sáu ngàn vị Phật, A Tăng Kỳ
kiếp thứ ba gặp hơn bảy vạn bảy ngàn vị
Phật. Gặp nhiều vị Phật như vậy thì tất
nhiên Ngài tạo tượng Phật càng nhiều hơn,
nếu tính thì chẳng biết được số lượng, cho
nên tướng mạo của Ngài viên mãn phi thường.
Tạo tượng Phật không những tướng mạo viên
mãn, mà còn khiến cho người sinh tâm ái kính
tu phước tu huệ. "Hết thảy những người đó,
đều đã thành Phật đạo" : Những người tạo
tượng Phật cũng đều đã thành Phật.
Vẽ hoạ làm tượng Phật
Trăm tướng phước trang nghiêm
Tự làm hoặc bảo người
Ðều đã thành Phật đạo.
Cho đến trẻ con chơi
Dùng cỏ cây và bút
Hoặc là dùng móng tay
Mà vẽ họa tượng Phật.
Hết thảy những người đó
Từ từ tích công đức
Ðầy đủ tâm đại bi
Ðều đã thành Phật đạo.
Giáo hóa các Bồ Tát
Ðộ thoát vô lượng chúng.
Ðoạn Kinh văn ở trên, tuy nói dùng keo sơn vải
để tạo tượng Phật, nhưng ở trong giới luật
chẳng đề xướng dùng keo sơn vải để tạo tượng
Phật. Vì keo sơn có một thứ mùi hôi. Và giới
luật cũng nói, nếu tượng Phật đứng thì chúng
ta người học Phật không thể ngồi ở trước
tượng Phật. Nếu tượng Phật ngồi, thì chúng
ta không thể nằm ở trước tượng Phật, các vị
nên biết những điều nhỏ nầy.
"Vẽ họa làm tượng Phật" : Vẽ họa thành tượng
Phật. "Trăm tướng phước trang nghiêm" : Vẽ
họa tượng Phật rất trang nghiêm viên mãn.
"Tự làm hoặc bảo người" : Tự mình làm tượng
hoặc bỏ tiền ra nhờ người khác làm tượng
Phật. "Ðều đã thành Phật đạo" : Những hạng
người nầy đều đã thành Phật. "Cho đến trẻ
con chơi" : Nhẫn đến trẻ con đùa giỡn. "Dùng
cỏ cây và bút" : Hoặc dùng cỏ, hoặc dùng cây
tạo tượng Phật, hoặc dùng bút vẽ tượng Phật.
"Hoặc dùng đến móng tay" : Hoặc dùng móng
tay chấm mực. "Mà vẽ hoạ tượng Phật."
Thuở xưa, tại Tứ Xuyên có một người chuyên đọc
Kinh Kim Cang và dùng tay biên Kinh Kim Cang
ở trong hư không. Mỗi ngày đều đứng tại chỗ
đó biên. Về sau mỗi khi trời mưa thì chung
quanh chỗ ông ta biên Kinh Kim Cang mưa
chẳng rớt xuống đất, người đã khai mở ngũ
nhãn mới thấy được. Tuy ông ta dùng tay biên
Kinh Kim Cang ở trong hư không, song, thiên
long bát bộ cũng đều bảo hộ bộ Kinh Kim Cang
nầy, khiến cho nước mưa chẳng rớt vào chỗ
nầy. Cho nên về sau cũng tại chỗ nầy tạo
dựng một ngôi chùa. Do đó, có thế thấy chỉ
dùng tay biên ở trong hư không, mà có cảm
ứng lớn như thế. chuyện nầy ghi ở trong linh
dị lục của Kinh Kim Cang, là chuyện có thật.
"Hết thảy những người đó" : Những người nói ở
trên là những người tạo tượng Phật. "Từ từ
tích công đức" : Tích lũy công đức dần dần.
"Ðầy đủ tâm đại bi, đều đã thành Phật đạo" :
Hiện tại đều đã thành Phật đạo. "Giáo hóa
các Bồ Tát" : Phật giáo hóa các Bồ Tát,
khiến cho bậc Duyên Giác, Thanh Văn đều hồi
tiểu hướng đại tu pháp Bồ Tát, sau đó hồi
hướng Phật thừa. "Ðộ thoát vô lượng chúng" :
Ðộ thoát vô lượng vô biên chúng sinh, cũng
đều cùng thành Phật đạo.
Nếu người nơi chùa tháp
Tượng báu và tượng vẽ.
Dùng hương hoa, phan, lọng
Cúng kính mà cúng dường
Hoặc khiến người tấu nhạc
Ðánh trống thổi sừng ốc.
Tiêu, sáo, cầm, đờn sắt
Tì bà chụp chã đồng
Các tiếng hay như thế
Ðem hết để cúng dường.
"Nếu người nơi chùa tháp" : Nếu có người ở nơi
chùa hoặc tháp. "Tượng báu và tượng vẽ" :
Bất cứ đối với tượng báu hoặc tượng vẽ.
"Dùng hương hoa phan lọng". Dùng hương hoa,
phan báu và lọng báu, tức cũng bao gồm những
dụng cụ khác như tràng chuỗi, y phục, thực
phẩm, âm nhạc .v.v. "Cung kính mà cúng
dường" : Dùng tâm cung kính để cúng dường
tượng Phật. "Hoặc khiến người tấu nhạc" :
Hoặc mời người hòa tấu âm nhạc. "Ðánh trống
thổi sừng ốc" : Ðánh trống hoặc thổi kèn
sứng hoặc kèn ốc. "Tiêu, sáo, cầm, đờn sắt"
: Hoặc thổi ống tiêu, ống sáo, hoặc gảy đàn
cầm, đàn sắt. "Tì bà chập chã đồng" : Hoặc
gảy đàn tì bà, hoặc đánh chập chã. Dùng
những thứ âm nhạc nầy để tán thán Phật,
Pháp, Tăng. Ví như đánh mõ, đánh chuông cũng
là âm nhạc ; tụng Kinh, đọc Chú, ngâm nga kệ
tán, đó cũng đều là dùng âm nhạc để tán thán
cúng dường Phật. "Các diệu âm như thế" :
Những âm thanh vi diệu như thế. "Ðem hết để
cúng dường" : Dùng những âm thanh vi diệu
trang nghiêm nầy để cúng dường Phật.
Hoặc dùng tâm vui mừng
Ca tụng công đức Phật.
Dù chỉ một vài lời
Họ đều đã thành Phật
Hoặc người tâm tán loạn
Cho đến dùng cành hoa.
Cúng dường trước tượng vẽ
Lần thấy vô số Phật
Hoặc có người lễ lạy
Hoặc là chỉ chắp tay.
Cho đến giơ một tay
Hoặc là hơi cúi đầu
Dùng để cúng dường tượng
Lần thấy vô lượng Phật.
Tự thành vô thượng đạo
Rộng độ vô số chúng
Vào Vô dư Niết bàn
Như củi hết lửa tắt.
"Hoặc dùng tâm vui mừng" : Hoặc có người dùng
tâm vui mừng khen ngợi Phật. "Ca tụng công
đức Phật" : Tán khen ngợi đức hạnh của Phật.
"Cho đến một vài tiếng" : Dù chỉ ca ngợi tán
thán đức hạnh của Phật một vài tiếng. "Ðều
đã thành Phật đạo" : Những người đó cũng đều
đã thành Phật đạo, hà huống là người tán
thán Phật rất nhiều, thì càng sớm thành Phật
đạo. "Nếu người tâm tán loạn" : Nếu có người
tâm tán loạn chẳng có định lực. "Cho đến
dùng cành hoa" : Cho đến dùng một cành hoa
để cúng tượng Phật vẽ. "Lần thấy vô số Phật"
: Vì họ tích lũy công đức cúng dường tượng
Phật vẽ, cho nên họ từ từ thấy được vô số
Ðức Phật. "Hoặc có người lễ lạy" : Hoặc có
người đảnh lễ Phật. "Hoặc chỉ là chấp tay" :
Hoặc có người chắp tay ở trước Phật. "Cho
đến giơ một tay" : Hoặc là giơ một tay lên
trán (đây là chỉ hành động ít cung kính).
Hoặc là hơi cúi đầu xuống. "Dùng để cúng
dường tượng" : Dùng tâm ít cung kính nầy để
cúng dường tượng vẽ, tượng báu. "Lần thấy vô
lượng Phật" : Do ý niệm phát tâm ban đầu
nầy, sẽ lần lần gặp được vô lượng Ðức Phật.
"Tự thành vô thượng đạo" : Vì mình tích công
lũy đức mà được thành tựu Phật đạo. "Rộng độ
vô số chúng" : Chẳng những mình thành Phật
đạo, mà còn rộng độ vô lượng vô số chúng
sinh. "Vào Vô dư Niết Bàn" : Vào cõi Vô dư
Niết Bàn. "Như củi hết lửa tắt" : Giống như
củi cháy hết thì lửa tắt. Cơ duyên của chúng
sinh như củi, ứng hiện của Phật như lửa, cơ
củi của chúng sinh đã độ tận thì lửa cũng
phải tắt.
Hoặc người tâm tán loạn
Vào đến trong chùa tháp
Miệng niệm Nam Mô Phật
Họ đều đã thành Phật.
"Nếu người tâm tán loạn" : Tâm tán loạn tức là
tâm chẳng chuyên nhất, chẳng có định lực,
cũng giống như khách đến đây tham quan chùa,
tham quan tượng Phật, chứ chẳng vì lễ Phật,
chỉ là đến tham quan, đó đều gọi là tâm tán
loạn, họ đều chẳng có tâm thành, tuy là đến
chùa tham quan, nhưng vốn chẳng biết có
Phật, cho nên có thể nói là, tán loạn trong
sự tán loạn. "Vào đến trong chùa tháp" : Ðến
chùa hoặc vào tháp Phật. "Miệng niệm Nam Mô
Phật, họ đều đã thành Phật" : Ít nhất họ
niệm được một tiếng Nam Mô Phật, do một niệm
ban đầu nầy, mà cứu kính họ đều có thể thành
Phật. Tại sao ? Vì đi ngàn dặm do khởi đầu
bước thứ nhất ; vạn đức viên dung , nhờ một
niệm ban đầu. Nhờ trồng nhân Phật một tiếng
niệm Phật ban đàu, mà tương lai đắc được quả
vị Phật.
Chúng ta niệm Nam Mô Phật, Nam Mô A Di Ðà
Phật, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,
Nam Mô Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Lưu Ly
Quang Vương Phật. Bạn thấy rất dễ niệm,
nhưng cơ hội nầy chẳng dễ gì gặp được. Bây
giờ các bạn đều biết niệm danh hiệu Phật,
nhưng mọi người hãy nghĩ xem, trên thế giới
nầy người không biết niệm Phật nhiều hay là
người biết niệm Phật nhiều ? Cũng có thể nói
người chẳng biết niệm Phật thì nhiều như sao
trên bầu trời. Cho nên nói người biết niệm
Phật, đều nhờ căn lành của kiếp trước chín
mùi, nên đời nầy mới gặp được pháp môn niệm
Phật. Do đó, các vị phải trân tiếc căn lành
của mình, đừng có bỏ lỡ.
Khi Ðức Phật còn tại thế, thì Ðề Bà Ðạt Ðà
(anh em chú bác với Ðức Phật) luôn luôn làm
trái ngược với Ðức Phật. Ðức Phật dạy đệ tử
ăn chay không ăn thịt, thì Ðề Bà Ðạt Ða nói
với Phật và đệ tử của Phật không những không
ăn thịt mà muối cũng không ăn, đó là muốn
biểu thị ông ta cao hơn Ðức Phật một bậc.
Song, ông ta chẳng chịu niệm Phật. Ông ta
một đời tạo tội nghiệp, khi ông ta sắp hãm
vào địa ngục (tức là nhục thân sống nầy rơi
vào địa ngục) thì ông ta đột nhiên nghĩ muốn
niệm Phật. Song, ông ta muốn niệm Phật mà
niệm chẳng ra, chỉ niệm được hai chữ "Nam
Mô...", còn chữ Phật thì niệm chẳng ra, đó
là vì nghiệp chướng che đậy ông ta, cho nên
niệm chẳng ra được chữ Phật. Ðức Phật nói
:"Người nầy cũng rất đáng thương ! Các con
đừng khinh thường ông ta, khi ông ta chịu
hết khổ dưới địa ngục, được ra khỏi địa ngục
lại tu hành, lúc đó có thể sẽ chứng Bích Chi
Phật, danh hiệu của vị Bích Chi Phật đó là
Nam Mô, vì ông ta lúc đó niệm được hai chữ
Nam Mô. Cho nên các bạn đừng coi thường niệm
Phật quá dễ dàng như thế, cho rằng lúc nào
cũng có thể niệm Phật được. Hiện tại các bạn
chẳng bị nghiệp chướng che đậy, cho nên mới
niệm được dễ dàng, một khi bị nghiệp chướng
che đậy thì bạn muốn niệm cũng niệm chẳng
ra.
Và có câu chuyện nầy, cũng vào lúc Ðức Phật
còn tại thế, thì có một ông già rất nghèo.
Ông ta thấy Ðức Phật mỗi ngày dẫn một ngàn
hai trăm vị đệ tử ôm bát đi khất thực, chẳng
bận việc đời, rất thanh tịnh tự tại, do đó
ông ta cũng muốn xuất gia. Ông ta đến vườn
Cấp Cô Ðộc để xin xuất gia, nhưng ngày đó
Ðức Phật đi vắng. Ðệ tử của Phật có những
người khai mở ngũ nhãn, khai mở pháp nhãn,
khai mở huệ nhãn hoặc đã hoàn toàn chứng
được ngũ nhãn lục thông, cũng có những người
chứng sơ quả, nhị quả, tam quả và tứ quả A
La Hán. Khai mở Phật nhãn chẳng phải là
chứng quả, đó gọi là báo đắc thông. Vì rất
nhiều người đời đã từng tu 42 tay và mắt và
Chú Lăng Nghiêm, đủ thứ pháp môn, cho nên
đắc được quả báo nầy. Bậc Thánh chứng được
sơ quả đến tứ quả, thì có thể biết được nhân
duyên ở trong tám vạn đại kiếp. Ông già nầy
muốn xuất gia, nên những vị đệ tử đại A La
Hán của Phật, bèn quán sát xem căn cơ của
ông già nầy thế nào, có thể xuất gia được
chăng ? Sau khi quán sát thì thấy ông già
nầy trong tám vạn đại kiếp chẳng cúng dường
Phật, cũng chẳng từng lễ Phật, cũng chẳng
niệm Phật ; căn bản chẳng có gieo trồng tơ
hào căn lành nào, do đó cho rằng ông ta
chẳng thể xuất gia. Cho nên có câu : "Ðừng
cho rằng việc xuất gia là dễ". "Ðều nhiều
kiếp trồng bồ đề" : Người xuất gia phải đời
đời kiếp kiếp, gieo trồng nhiều căn lành,
phát bồ đề tâm, sau đó mới có thể xuất gia,
chứ chẳng phải nói tôi muốn xuất gia, thì có
thể xuất gia. Nếu bạn chẳng có căn lành, thì
dù muốn xuất gia cũng có rất nhiều chướng
ngại, tức là xuất gia rồi, qua một ngày, hai
ngày hoặc một tháng, hai tháng thì hoàn tục
; hoặc là xuất gia được một năm, hai năm lại
hoàn tục, thậm chí ba năm, năm năm, mười năm
sau đều có thể hoàn tục. Cho nên bạn đừng
xem việc xuất gia quá dễ dàng.
Ðệ tử của Ðức Phật xem thấy ông già nầy, trong
tám vạn đại kiếp chẳng có gieo trồng căn
lành, do đó bèn nói với ông ta : "Ông không
thể xuất gia được, vì ông đã lới tuổi, không
thể tu hành được, ông nên trở về." Ông già
nghe nói rất buồn rầu, vừa đi vừa khóc tự
nhủ :"Ta cho rằng xuất gia quá dễ dàng,
không ngờ đệ tử của Phật chẳng nhận ta, đại
khái hiềm ta vừa già vừa nghèo, ta một đời
làm người cũng chẳng có ý nghĩa gì, chết đi
cho xong !" Cho nên ông ta vừa khóc vừa đi
đến bờ biển. Lúc đó Ðức Phật đến bên ông ta,
hỏi ông ta :"Nầy ông lão, tại sao ông muốn
tự tử ?" Ông ta nói : "Tôi muốn xuất gia,
đến vườn Cấp Cô Ðộc, đức Phật đi vắng, đệ tử
của Ðức Phật chẳng nhận tôi. Tôi nghĩ tôi
chẳng còn muốn sống nữa, muốn chết đi cho
rồi ! " Ðức Phật nói :"Ông muốn xuất gia
phải chăng ? Chẳng có vấn đề gì hết ! Ông
hãy theo ta trở về, ta hứa cho ông xuất
gia." Ông già theo đức Phật xuất gia tu
hành, chẳng bao lâu thì chứng được quả A La
Hán.
Ðệ tử của Phật chẳng minh bạch việc nầy, đều
cảm thấy kì lạ : "Ông già nầy chẳng có căn
lành, sao lại chứng được quả A La Hán ?
Trong tám vạn đại kiếp ông ta cũng chẳng làm
việc tốt, tại sao Phật cho ông xuất gia ?"
Do đó, bèn hỏi Ðức Phật.
Ðức Phật bèn giải thích : "Các con chỉ có thể
thấy biết được nhân quả trong tám vạn đại
kiếp, còn việc ngoài tám vạn đại kiếp, các
con chẳng biết được. Ông già nầy trước tám
vạn đại kiếp cũng rất nghèo, một ngày nọ,
ông ta vào rừng đốn củi, thì gặp con cọp
muốn ăn thịt ông ta, ông ta leo lên cây
trốn, nhưng vẫn quá sợ hãi bèn niệm "Nam Mô
Phật", vì niệm một tiếng "Nam Mô Phật" thì
cọp bỏ đi. Cho nên, đến bây giờ căn lành hạt
giống ông ta niệm "Nam Mô Phật" đã chín mùi,
cho nên ông ta đến xuất gia và còn chứng
được quả A La Hán. Từ câu chuyện nầy xem ra,
đủ thấy xuất gia chẳng phải là việc dễ dàng.
Còn có câu chuyện nầy, tại Ấn Ðộ có một thứ
ngoại đạo, họ chuyên cúng dường một tượng
thiên thần. Thân thể của tượng thiên thần
nầy dùng bùn hoặc gỗ tạo thành, còn cái đầu
thì làm bằng vàng. Tin nầy bị kẻ trộm biết
được, y muốn đi trộm cắp đầu của thiên thần.
Y đến nơi, vì oai đức của vị thiên thần bèn
sinh tâm sợ hãi, lúc đó y bèn khởi niệm "Nam
Mô Phật", thì tâm sợ hãi chẳng còn nữa. Do
niệm một tiếng "Nam Mô Phật", mà khiến cho
oai đức của thiên thần chẳng còn linh hiển
nữa, cho nên y bèn trộm cắp đầu vị thiên
thần. Trộm cắp đi rồi thì một số người nói :
"Ê ! Bạn hãy xem kìa, vị thiên thần mà các
vị đều tin là vị thiên thần chẳng còn linh
nữa, nếu Ngài linh thì sao lại bị mất đầu ?
Các vị tin vị thần nầy chẳng có ích gì." Vừa
nói như vậy thì linh tính của vị thiên thần
lập tức hiển hiện. (Thần có khi có linh khí,
linh khí mà nhập vào ai, thì người đó bất
tỉnh nhân sự.) Lúc đó, thiên thần nhập vào
thân người vừa nói bèn nói rằng : "Ta chẳng
phải là không linh ! Kẻ trộm đó vốn chẳng
dám ăn cắp cái đầu của ta, nhưng y niệm Phật
một tiếng "Nam mô Phật", thì quang minh cuả
Phật chiếu sáng, khiến cho mắt của ta nhắm
lại chẳng còn mở được, cho nên chẳng có cách
chi giữ được đầu của ta, mà bị y ăn cắp mất,
chứ chẳng phải ta chẳng linh, mà là oai đức
của Phật quá lớn so với ta, cho nên ta chẳng
cách chi giữ được đầu của ta."
Nói đến đây, có phải nói Phật giúp tên trộm ăn
cắp đầu bằng vàng của vị Thiên thần, kêu y
đi tạo nghiệp chăng ? Chẳng phải, mà là công
đức niệm Phật không thể nghĩ bàn. Bất cứ
người thiện niệm Phật hoặc người ác niệm
Phật, đều có công lực đồng nhau. Cho nên,
tuy nhiên là tên trộm, nhưng y biết niệm
"Nam Mô Phật", cho nên y ăn cắp đầu bằng
vàng của vị Thiên thần đi, đó chẳng phải
Phật giúp y trộm cắp, mà là Phật thành tựu
căn lành của y. Tại sao nói y ăn cắp đồ, mà
còn có căn lành ? Trong Kinh Pháp Hoa nói :
"Xưng được Nam Mô Phật, đều cùng thành Phật
đạo." Tuy lúc đó, y là tên trộm, nhưng y có
căn lành niệm Phật, tương lai nhất định sẽ
thành Phật. Ðây gọi là : "Thuận nghịch đều
tinh tấn". Do đó, mới nói chẳng phải Phật
giúp y ăn cắp đầu vị Thiên thần, mà là Phật
đối đãi với chúng sinh đều bình đẳng. Bất cứ
người thiện kẻ ác niệm Phật đều có cảm ứng
như nhau.
Nói đến đây, mọi người đừng hiểu lầm, niệm
Phật thì có thể ăn cắp đầu bằng vàng của vị
Thiên thần, vậy tôi cũng niệm Phật đi ăn cắp
đầu bằng bạc của vị Thiên thần, như thế thì
không được. Tên trộm nầy chẳng hiểu Phật
pháp, chẳng qua nghe họ nói niệm "Nam Mô
Phật" là tốt, y bèn ghi nhớ. Ðến lúc sợ sệt,
thì y niệm "Nam Mô Phật", song, y vốn chẳng
học qua Phật pháp. Chúng ta là người học
Phật pháp, nên nhớ đừng ỷ vào oai đức niệm
Phật, nương quang minh của Phật mà đi trộm
đồ, như thế thì chẳng được ! Vì bạn đã hiểu
biết Phật pháp, biết ăn cắp là phạm giới,
bạn đã biết rõ mà cố phạm, thì tội lại thêm
tội, về điểm nầy, mỗi người đều phải nhận
thức rõ ràng.
Tại sao phải nói về điểm nầy ? Vì xưa kia có
vị Hòa Thượng, trước khi ông ta xuất gia là
một quân nhân, về sau học Phật pháp thì ông
ta rất tin pháp môn niệm Phật và còn luôn
luôn hướng dẫn, một số người niệm Phật. Sau
khi xuất gia thọ giới cũng có tôi ở đó,
khoảng năm, sáu năm sau thì ông ta đến Hương
Cảng.
Hương Cảng tân giới, có một cơ sở của cơ đốc
giáo gọi là "đạo phong sơn", chuyên môn phá
hoại Phật giáo, phá hoại người xuất gia.
Dùng tiền và nữ sắc để dụ hoặc khiến cho họ
hoàn tục. Có những người xuất gia chẳng có
tiền dùng, hoặc muốn tìm nữ sắc thì đều đi
đến đó. Vị Hòa Thượng nầy cũng đến đó và làm
việc nấu ăn. Người xuất gia đến đó đều ăn
mặn, chẳng ăn chay, lại còn sát sinh, giết
gà, giết vịt. Vị Hòa Thượng nầy làm bếp, cho
rằng niệm Phật thì có thể siêu độ chúng
sinh, cho nên khi ông ta giết gà giết vịt,
thì vừa cầm dao giết thì vừa niệm "Nam Mô A
Di Ðà Phật ! Nam Mô A Di Ðà Phật !" Ông ta
cho rằng khi sát sinh niệm "Nam Mô A Di Ðà
Phật", thì có thể siêu độ những con gà con
vịt đó. Kết quả, ở chưa quá nửa năm, thì
phát sinh bệnh thần Kinh, chẳng bao lâu thì
chết.
Do đó nên biết, biết rõ mà cố phạm thì tội
tăng gầp ba. Không sai ! Niệm Phật có thể
siêu độ, nhưng đừng có cho rằng ta giết con
vật, thì nó lập tức được vãng sinh về thế
giới Cực Lạc, khi bạn chưa có công phu, thì
không thể tùy tiện sát sinh, không thể nói
ta giết nó, thì muốn nó vãng sinh về thế
giới Cực Lạc. Do đó, chúng ta đừng hiểu lầm
niệm Phật, thì có thể tùy tiện tạo nghiệp.
Tình hình vị Hòa Thượng đó chính tôi thấy
được. Khi ông ta bệnh thần Kinh thì muốn đến
gặp tôi, nhưng chẳng gặp được tôi. Tên của
ông ta là Hoành Huy, là đồ tôn của Lão Hòa
Thượng Hư Vân.
Nơi chư Phật quá khứ
Tại thế hoặc diệt độ
Người nghe được pháp nầy
Ðều đã thành Phật đạo.
Các Thế Tôn vị lai
Số đông không thể lường
Các vị Như Lai đó
Cũng phương tiện nói pháp.
Tất cả các Như Lai
Dùng vô lượng phương tiện
Ðộ thoát các chúng sinh
Vào trí Phật vô lậu.
Nếu có người nghe pháp
Không ai chẳng thành Phật.
"Nơi chư Phật quá khứ" : Ở nơi tất cả chư Phật
trong quá khứ. "Tại thế hoặc diệt độ" : Bất
cứ tại thế gian hoặc vào Niết Bàn rồi. "Nếu
nghe được pháp nầy" : Nếu ai nghe được Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa. "Ðều đã thành Phật đạo"
: Tất cả những người trong quá khứ nghe được
Kinh Pháp Hoa, họ đều đã thành Phật. "Các
Thế Tôn vị lai" : Tất cả chư Phật vị lai.
"Số đông không thể lường" : Số đông vô lượng
vô biên không thể lường. "Các đức Như Lai
đó" : Tất cả các Như Lai Thế Tôn. "Cũng
phương tiện nói pháp" : Cũng dùng pháp môn
phương tiện, trước hết nói quyền giáo, sau
mới nói thật giáo. "Tất cả các Như Lai, dùng
vô lượng phương tiện" : Mười phương tất cả
chư Phật, dùng vô lượng vô biên pháp môn
phương tiện. "Ðộ thoát các chúng sinh, vào
trí Phật vô lậu" : Khiến cho tất cả chúng
sinh, đều đắc được trí huệ vô lậu của Phật.
"Nếu có người nghe Pháp, không ai chẳng
thành Phật" : Tất cả những người đã nghe
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, chẳng có một người
nào mà tương lai không thành Phật.
Cho nên hiện tại chúng ta nghe được Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa, thì tương lai mỗi người đều
có cơ hội thành Phật, đừng xem thường chính
mình, vì ba ngàn năm về trước Ðức Phật sớm
đã vì người thọ ký.
Bạn đừng cho rằng niệm Phật là việc quá dễ
dàng, hiện tại chúng ta niệm một câu danh
hiệu Phật, cảm thấy chẳng khó khăn gì, tại
sao ? Vì chúng ta chẳng có nghiệp chướng sâu
nặng, nếu người có nghiệp chướng, nghĩ muốn
niệm Phật cũng niệm chẳng được. Như Ðề Bà
Ðạt Ða đã nói ở trước, ông ta chỉ niệm được
hai chữ "Nam Mô ..." Tại sao ? Vì nghiệp
chướng của ông ta quá nặng cho nên chữ Phật
niệm chẳng ra.
Tại Trung Quốc, có câu chuyện nầy cũng chứng
minh người nghiệp chướng quá nặng thì không
thể niệm Phật được. Vào thời Nam Tống, có
một vị thừa tướng tên là Tần Cối. Ông ta vốn
cũng có chút căn lành, cho nên đời nầy rất
thông minh, thi đỗ trạng nguyên. Song, sau
khi ông ta làm quan, thì đố kị ghen ghét
người tài giỏi, nhất là đối với Nhạc Phi như
cái đinh trong con mắt, do đó bày kế cho kẻ
khác giết chết, và còn tạo đủ thứ tội nghiệp
rất nặng. Vì Bồ Tát Ðịa Tạng và ông ta có
duyên mới tìm cách để độ ông ta bèn nói :
"Ta đến chỗ ông ta, sẽ tha thứ tất cả tội
nghiệp của ông ta." Do đó, Bồ Tát Ðịa Tạng
bèn hóa thân hiện làm Tỳ Kheo đến gặp Tần
Cối. Lúc đó, Tần Cối là tể tướng, gặp Hòa
Thượng đến cũng tiếp đón. Hòa Thượng nói với
ông ta : "Ông hãy nên niệm Phật, bây giờ địa
vị của ông đã cao..." Nhưng Tần Cối chẳng
niệm, ông ta nói : "Hà tất phải niệm ?" Ông
ta vốn một chữ Phật cũng chẳng nói. Lúc đó,
Bồ Tát hiển thần thông dùng cây phất trần
của Ngài, phất một cái thì thân của Tần Cối
quỳ xuống đất, muốn đứng dậy cũng chẳng đứng
được. Do đó, Bồ Tát Ðịa Tạng dũi tay ra nói
: "Ông hãy xem đây ! Trong tay ta là chữ gì
?" Trong tay Bồ Tát Ðịa Tạng vẽ chữ Phật,
nhưng Tần Cối nhìn rồi bèn lớn tiến nói :
"Ta đi học từ nhỏ, đậu tú tài, đậu cử nhân,
đậu tiến sĩ, đậu trạng nguyên. Hiện tại văn
thư của các nước, đều phải qua sự xét duyệt
của ta trước, rồi mới quyết định xử lý như
thế nào. Nếu chữ nầy mà ta chẳng biết, thì
làm sao mà làm thừa tướng ? Chữ nầy chẳng
phải ta chẳng biết, nhưng chỉ vì ta không
niệm !" Bồ Tát Ðịa Tạng thấy người nầy, thật
là nghiệp chướng quá sâu nặng, chẳng cách
chi độ được ông ta, bèn bỏ đi, sau đó Tần
Cối chết thì đọa vào địa ngục.
Do đó có thể thấy, niệm Phật chẳng phải là
việc dễ dàng. Tại sao bình thường chúng ta
phải niệm Phật ? Bình thường niệm Phật là
chuẩn bị cho lúc lâm chung. Tại sao không
đợi đến lúc lâm chung mới niệm ? Vì tập quán
là do sự tích lũy hằng ngày hằng tháng mà
thành. Bình thường bạn chẳng có thói quen
niệm Phật, thì khi đến lúc lâm chung chẳng
nghĩ đến niệm Phật, hoặc chẳng biết niệm
Phật. Do đó, bình thường phải học niệm Phật,
tu pháp môn tịnh độ, đến lúc lâm chung thì
chẳng sợ hãi bối rối, mà được bình an vãng
sinh về thế giới Cực Lạc.
Tại sao phải vãng sinh về thế giới Cực Lạc ?
Vì khi Phật A Di Ðà tại nhân địa làm Tỳ Kheo
Pháp Tạng, thì đã từng phát 48 đại nguyện.
Trong đó có nói : "Sau khi ta thành Phật,
thì tất cả chúng sinh trong mười phương, nếu
ai niệm danh hiệu của ta, thì ta nhất định
tiếp dẫn về thế giới của ta, tương lai sẽ
thành Phật. Ở trong thế giới của ta, chúng
sinh đều từ hoa sen hóa sinh, nên thân thể
thanh tịnh không nhiễm". Vì Phật A Di Ðà
phát đại nguyện nầy, nên tất cả chúng sinh
đều nên tu pháp môn niệm Phật, đây là pháp
môn tu rất dễ, rất hợp căn cơ. Trong Kinh
nói : "Thời mạt pháp, một ức ngưới tu thì ít
có người đắc đạo, chỉ có pháp môn niệm Phật
thì được độ." Nhất là thời đại mạt pháp hiện
nay, pháp môn niệm Phật rất hợp với nhiều
người.
Nhưng tại tây phương, hiện tại chẳng phải là
thời đại mạt pháp, có thể nói là thời đại
chánh pháp. Tại sao nói là thời đại chánh
pháp ? Vì Phật pháp mới truyền vào nước
phương tây, đang thịnh vượng. Cho nên hiện
nay tại nước Mỹ, có rất nhiều người thích
tham thiền đả tọa, đó là biểu hiện chánh
pháp. Thời kỳ chánh pháp cũng có thể tu pháp
môn niệm Phật ; thời kỳ mạt pháp cũng có thể
tu pháp môn niệm Phật. Pháp môn niệm Phật
thời đại nào cũng có thể tu. Nếu ai chẳng
hợp với pháp môn khác, thì có thể tu pháp
môn niệm Phật.
Ðại sư Vĩnh Minh Thọ nói : "Có thiền có tịnh
độ như cọp có thêm cánh." Vừa tu thiền vừa
niệm Phật giống như cọp có thêm cánh. "Ðời
nầy làm nhân sư", đời hiện tại có thể làm sư
biểu của người. "Tương lai làm Phật tổ",
tương lai có thể làm Phật làm tổ.
Cho nên người chân chánh tham thiền, tức là
chân chánh niệm Phật ; người chân chánh niệm
Phật, tức là chân chánh tham thiền. Nói cao
hơn một bậc là người chân chánh trì giới,
tức cũng chân chánh tham thiền, người chân
chánh tham thiền, tức cũng chân chánh trì
giới. Người chân chánh giảng Kinh thuyết
pháp, thì họ vì giảng Kinh mà giảng Kinh,
tức cũng là chân chánh tham thiền. Trong
Chứng Ðạo Ca của Vĩnh Gia đại sư có nói :
"Tông cũng thông, lời cũng thông,
Ðịnh huệ viên minh chẳng trệ không."
Vừa biết tham thiền, vừa biết giảng Kinh, đó
là tông và lời đều thông, tiến thêm một bước
nữa, người chân chánh trì Chú, người chân
chánh tu mật tông, tức cũng chân chánh tham
thiền.
Thiền, giáo, luật, mật, tịnh, tuy nói là năm,
nhưng quy về gốc chỉ là một, chẳng có hai.
Kỳ thật, nếu nói sâu thêm bước nữa, thì cho
đến một cũng chẳng có, thì làm gì mà có tới
năm ? Người chân chánh học Phật pháp, thì
tại điểm nầy nên minh bạch. Cho nên, có
người cho rằng pháp môn niệm Phật là tối
cao, tham thiền thì chẳng đúng ; hoặc có
người nói tham thiền là tối cao, niệm Phật
là sai lầm, đó đều là những người chẳng hiểu
Phật pháp. Người hiểu Phật pháp chân chính,
thì biết rõ tất cả đều là Phật pháp, đều bất
khả đắc, tức vô pháp bất khả đắc, hà tất đầu
lại thêm đầu ? Hà tất chẳng có việc tìm việc
làm ? Nếu bạn thật hiểu pháp thì vô pháp khả
đắc. Song, đối với những người chẳng hiểu
pháp, dù bạn nói với họ pháp căn bản gì cũng
vô ích, sẽ thất vọng. Cho nên Phật thí quyền
pháp, là vì nói thật pháp ; nói quyền trí là
vì thật trí. Thật trí là gì ? Thật trí là
"quy vô sở đắc". Thật tướng vô tướng, vô sở
bất tướng, đó mới là trí huệ chân thật.
Chư Phật vốn thệ nguyện
Ta tu hành Phật đạo
Muốn hết thảy chúng sinh
Cũng đều được đạo nầy.
Chư Phật đời vị lai
Tuy nói trăm ngàn ức
Vô số các pháp môn
Thật tế vì một thừa.
Chư Phật Lưỡng Túc Tôn
Biết pháp thường vô tánh
Giống Phật từ duyên sinh
Vì thế nói một thừa.
Pháp đó trụ pháp vị
Tướng thế gian thường trụ
Biết rồi nơi đạo tràng
Ðạo sư phương tiện nói.
Ðoạn Kinh văn ở trước có nói : "Tất cả các Như
Lai, dùng vô lượng phương tiện, độ thoát các
chúng sinh, vào trí Phật vô lậu, nếu có ai
nghe pháp, chẳng ai không thành Phật" : Ðây
là nhân dụ. Kinh Pháp Hoa vốn có "bổn môn
thập diệu, chi môn thập diệu". Song, sợ
người không hiểu, cho nên cũng chẳng nói tỉ
mỉ. Bây giờ chỉ nói "nhân (người), hành,
giáo, lý", đều một dạng. Sáu câu vừa nói ở
trên là nhân dụ, tất cả mọi người đều thành
Phật đạo. Tiếp theo là : "Chư Phật vốn thệ
nguyện, ta tu hành Phật đạo, muốn hết thảy
chúng sinh, cũng đều được đạo nầy". Ðây là
hành dụ, chỉ sự tu hành đều như nhau. Cho
nên nói : "Chư Phật vốn thệ nguyện" : Mười
phương chư Phật vốn thệ nguyện. "Ta tu hành
Phật đạo" : Pháp môn Phật đạo của ta tu
hành. "Muốn hết thảy chúng sinh" : Muốn
khiến cho hết thảy chúng sinh. "Cũng đều
được đạo nầy" : Cũng tu hành đạo nầy, chứng
được đạo nầy.
Rõ là vô pháp không chỗ đắc được, sao lại nói
được đạo nầy ? Ðạo nầy chẳng phải được từ
bên ngoài, như "Vô thượng chánh đẳng cháng
giác". Trong Kinh Kim Cang nói : "Như Lai ở
chỗ Phật Nhiên Ðăng, thật chẳng được pháp Vô
thượng chánh đẳng chánh giác". Vô thượng
chánh đẳng chánh giác nầy, là tự tính của
chúng ta vốn đầy đủ, chẳng phải được từ bên
ngoài. Cho nên nói là "vô sở đắc", nhưng
chúng ta chẳng biết. Ví như trong túi áo có
hạt minh châu, nhưng chúng ta chẳng biết có
hạt minh châu. Hạt minh châu nầy như Phật
tánh vốn có của chúng ta, chẳng khác gì với
Phật. Vậy tại sao chúng ta chẳng thành Phật
? Vì chúng ta chẳng phát hiện được Phật tánh
vốn có của chính mình. Cho nên chẳng thành
Phật. Thành Phật chỉ bất quá khôi phục lại
của báu vốn có của chúng ta mà thôi. "Cũng
đều được đạo nầy" : Khiến cho tất cả chúng
sinh, cũng đều tu hành pháp môn nầy. Ðây gọi
là hành dụ, tu hành là như nhau. "Chư Phật
đời vị lai". Tất cả chư Phật đời vị lai.
"Tuy nói trăm ngàn ức" : Tuy diễn nói trăm
ngàn vạn ức thứ. "Vô số các pháp môn" : Vô
số phương tiện pháp môn. "Thật tế vì một
thừa" : Kỳ thật đều vì nói một thừa pháp.
"Chư Phật Lưỡng Túc Tôn" : Mười phương chư
Phật là đấng Lưỡng Túc Tôn đầy đủ phước và
huệ. "Biết pháp thường vô tánh" : Chư Phật
biết các pháp vốn chẳng có tự tánh. "Giống
Phật từ duyên sinh" : Chẳng qua các pháp môn
của Phật, đều do duyên mà sinh ra. "Vì thế
nói một thừa" : Vì một thừa Phật giáo mới
hiển nói tạng giáo, thông giáo và biệt giáo.
Trên thực tế thì, vì một Phật thừa, đây gọi
là giáo dụ, giáo hóa là như nhau. "Pháp đó
trụ pháp vị" : Pháp đó tức là Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa. "Trụ pháp vị", pháp vị nầy, pháp
đó tức là pháp vị. Pháp vị cũng tức là pháp
đó. "Pháp đó trụ pháp vị, tướng thế gian
thường trụ" : Pháp đó trụ pháp vị, trụ ở đâu
? Tức trụ vào tướng thế gian. Tướng thế gian
thường trụ, pháp thế gian tức là pháp xuất
thế, pháp xuất thế tức là pháp thế gian. Do
đó, Lục Tổ nói :
"Phật pháp tại thế gian,
Chẳng lìa thế gian giác,
Lìa thế gian cầu bồ đề,
Ví như tìm sừng thỏ."
Giác ở tại thế gian, nếu lìa khỏi pháp thế
gian, lại đi tìm sự giác của giác ngộ nầy,
ví như tìm sừng trên đầu con thỏ. "Nơi đạo
tràng biết rồi" : Ðức Phật nói, ta ngồi tại
Bồ Ðề đạo tràng, thành Phật rồi thì biết rõ
đạo lý bên trong. "Ðạo Sư phương tiện nói" :
Cho nên Ðạo Sư của trời người, dùng đủ thứ
phương tiện, để xiển minh diệu pháp nầy, mà
lý tánh đắc được đều là một.
Chỗ trời người cúng dường
Hiện tại mười phương Phật
Số đông như Hằng sa
Xuất hiện nơi thế gian.
Vì yên ổn chúng sinh
Cũng nói pháp như thế
Biết tịch diệt bậc nhất
Vì dùng sức phương tiện.
Tuy bày nhiều thừa pháp
Thật tế vì Phật thừa
Biết các hạnh chúng sinh
Nghĩ tưởng trong thâm tâm.
Nghiệp nhiễm trong quá khứ
Tánh dục sức tinh tấn
Và các căn lợi độn
Dùng đủ thứ nhân duyên.
Thí dụ và lời lẽ
Tùy theo phương tiện nói.
"Chỗ trời người cúng dường" : Chỗ đáng cúng
dường của trời người. "Hiện tại mười phương
Phật, số đông như Hằng sa". "Xuất hiện nơi
thế gian, vì yên ổn Chúng sinh" : Vì muốn
khiến cho chúng sinh đều đắc được an lạc.
"Cũng nói pháp như thế" : Cũng nói bộ Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa nầy. "Biết tịch diệt bậc
nhất" : Phật biết pháp thật tướng, là tịch
diệt bậc nhất. "Vì dùng sức phương tiện" :
Nếu ban đầu mà Phật nói diệu lý thật tướng,
thì chẳng có ai hiểu, cho nên trước hết dùng
đủ thứ sức phương tiện khéo léo, vì thật thí
quyền. "Tuy bày nhiều thừa pháp" : Tuy khai
thị đủ thứ pháp môn, đủ thứ đạo lý. "Thật tế
vì Phật thừa" : Mục đích cứu kính là vì nói
Phật thừa, khiến cho chúng sinh đều đặng
thành Phật. "Biết các hạnh chúng sinh" :
Phật cũng biết tất cả hạnh nghiệp của chúng
sinh. "Nghĩ tưởng trong thâm tâm" : Cũng
minh bạch trong tâm chúng sinh, nghĩ những
gì tưởng những gì. "Nghiệp nhiễm trong quá
khứ" : Tất cả đều là nghiệp quả tập nhiễm
của chúng sinh trong quá khứ. "Tánh dục sức
tinh tấn" : Sức dục niệm tinh tấn của họ.
"Và các căn lợi độn" : Còn có sự khác biệt
về căn tánh của chúng sinh, có người lợi căn
có người độn căn, Phật đều biết đều thấy.
"Dùng đủ thứ nhân duyên" : Phật dùng đủ thứ
nhân duyên. "Ví dụ và lời lẽ" : Ví dụ và lời
lẽ. "Tùy theo phương tiện nói" : Tùy thuận
căn tánh của chúng sinh mà ứng cơ thuyết
pháp. Ví như : đối với chúng sinh cang cường
khó điều phục, thì Phật dùng pháp môn từ bi,
để cảm hóa họ, đối với chúng sinh ngu si,
thì nói Bát Nhã khiến cho họ khai mở trí
huệ, đối với chúng sinh tán loạn, thì dạy họ
tu thiền định, đối với chúng sinh giải đãi,
thì kêu họ tu tinh tấn, đối với chúng sinh
phạm giới, thì bảo họ phải giữ giới, đối với
chúng sinh tham lam, thì dạy họ tu bố thí.
Tóm lại, dùng đủ thứ pháp môn phương tiện,
để giáo hóa chúng sinh.
Nay ta cũng như thế
Vì yên ổn chúng sinh.
Dùng đủ thứ pháp môn
Mở bày nơi Phật đạo
Ta dùng sức trí huệ
Biết tính chúng sinh muốn.
Phương tiện nói các pháp
Ðều khiến được vui mừng
Xá Lợi Phất nên biết !
Ta dùng mắt Phật xem.
Thấy sáu đường chúng sinh
Bần cùng chẳng phước huệ
Vào đường hiểm sinh tử
Khổ liên tục chẳng dứt.
Chấp sâu nơi năm dục
Như trâu mao mến đuôi
Bởi tham ái tự che
Ðuôi mù chẳng thấy được.
Chẳng cầu thế của Phật
Và pháp diệt trừ khổ
Vào sâu các tà kiến
Lấy khổ muốn bỏ khổ.
Phật vì chúng sinh nầy
Mà sinh tâm đại bi.
"Nay ta cũng như thế" : Ta Thích Ca Mâu Ni nói
pháp, cũng như chư Phật ba đời quá khứ hiện
tại và vị lai. "Vì yên ổn chúng sinh" : Muốn
khiến cho tất cả chúng sinh, đều đắc được
yên ổn khoái lạc. "Dùng đủ thứ pháp môn, mở
bày nơi Phật đạo". "Ta dùng sức trí huệ" :
Ta dùng sức trí huệ chân thật của Phật.
"Biết tánh dục chúng sinh" : Ðối với tánh
dục của tất cả chúng sinh rõ như chỉ bàn
tay. "Phương tiện nói các pháp" : Hay dùng
đủ thứ phương tiện pháp môn để giáo hóa
chúng sinh. "Ðều khiến được vui mừng" :
Khiến cho họ pháp hỷ sung mãn, đắc được chân
chánh khoái lạc.
"Xá Lợi Phất nên biết" : Xá Lợi Phất ông nên
biết. "Ta dùng mắt Phật xem, thấy sáu đường
chúng sinh" : Thấy tất cả chúng sinh trong
sáu nẻo. "Bần cùng chẳng phước huệ" : Chúng
sinh trong sáu nẻo, đều mê hoặc chẳng giác
ngộ, vì chẳng có trí huệ, chẳng có phước
báu. Tại sao chẳng có phước báu, chẳng có
trí huệ ? Vì chẳng hiểu Phật pháp, cho nên
bần cùng. Vậy phước huệ từ đâu mà có ? Do tu
đạo mà có. Sáu đường chúng sinh chẳng hiểu
Phật pháp, thật là đáng thương xót. "Vào
đường hiểm sinh tử" : Một khi mà vào trong
đường hiểm ác sinh tử, tuần hoàn không
ngừng, thì thật là nguy hiểm vô cùng. Dó đó
:
"Một khi mất thân người,
Vạn kiếp khó được lại".
Một lần nọ, Ðức Phật bốc một ít đất bỏ vào
trong lòng bàn tay, hỏi Ngài A Nan : "Ðất ở
trong tay của ta nhiều, hay đất ngoài đại
địa nhiều ?" Ngài A Nan đáp : "Ðất ngoài đại
địa nhiều, đất ở trong tay của Phật ít." Ðức
Phật nói : "Ðược thân người như đất trong
lòng bàn tay, mất thân người như đất ngoài
đại địa." Có thể thấy, vào đường hiểm sinh
tử thật là nguy hiểm !
"Khổ liên tục không ngừng" : Liên tục tức là
đời nầy nối tiếp đời sau, thay đổi liên tiếp
nhân khổ, quả khổ, báo khổ, chẳng gián đoạn.
"Chấp sâu nơi năm dục" : Vì sao khổ nầy
chẳng gián đoạn ? Vì chúng sinh chấp trước
thâm sâu nơi năm dục : Tài, sắc, danh, ăn,
ngủ, tức cũng là sắc, thanh, hương, vị, xúc,
năm thứ dục trần. "Như trâu mao mến đuôi,
bởi tham ái tự che" : Trâu mao là một giống
trâu, bản tánh của nó rất thích cái đuôi của
nó, cho nên nó luôn luôn bảo vệ đuôi của nó,
bởi thế nên có nhiều người sinh tâm tham
muống được nó, cuối cùng trâu mao vì bảo vệ
đuôi của nó mà mất mạng. "Ðuôi mù chẳng thấy
được" : Ðuôi mù đen tối chẳng thấy được gì.
"Chẳng cầu thế của Phật" : Người chẳng có
trí huệ, giống như kẻ mù. Nếu chẳng có thiện
trí thức dẫn dắt, thì giống như ở trong bóng
tối, chẳng thấy được ánh sáng, chẳng biết gì
cả, họ cũng chẳng cầu Phật trợ giúp họ. Phật
có thế lực rất lớn, hay cứu tất cả khổ nạn
của chúng sinh. "Và pháp diệt trừ khổ" :
Hoặc là cầu Phật chỉ bày phương pháp dứt
khổ. "Vào sâu các tà kiến" : Vì họ chẳng cầu
trí huệ, tự cho rằng đúng, cho nên đui mù
dẫn dắt bọn tùy tùng, lâu dần thì vào sâu
các tà kiến. Con người, có lúc rất kì lạ,
bạn dạy họ chánh pháp, dạy đi dạy lại họ học
cũng chẳng vào. Nếu dạy họ tà pháp, thì chỉ
dạy một lần thì họ lãnh hội. Ðó là nguyên
nhân gì ? Vì đời đời kiếp kiếp đã chấp chặt
vào tà kiến, cho nên học pháp tà rất dễ
dàng, còn chánh pháp thì chúng ta đã lìa nó
quá xa, do đó dù có học cũng chẳng dễ gì nhớ
được. "Lấy khổ muốn bỏ khổ" : Muốn bỏ hết
các thứ khổ của mình đi, thật là việc chẳng
dễ dàng. Trước hết, phải minh bạch gì là gốc
khổ của sự khổ ? Vô minh là gốc rễ của khổ.
Do đó, "đủ thứ vô minh là gốc khổ, gốc khổ
trừ sạch tồn căn lành, bằng sức oai thần
kiếm trí huệ, vượt khỏi luân hồi trong sáu
đường". Vô minh là gốc khổ, nếu bạn đoạn trừ
sạch vô minh, thì gốc khổ cũng dứt. Làm cách
nào mới đoạn được vô minh ? Chỉ dùng thanh
kiếm trí huệ của chính bạn, nếu bạn biết
dùng kiếm trí huệ, thì có thể chặt đứt gốc
rễ vô minh, chặt đứt gốc rễ vô minh, mới có
thể vượt ra khỏi luân hồi. "Phật vì chúng
sinh nầy" : Phật vì những người đang trôi
nổi ở trong biển khổ, chúng sinh khổ nạn
chẳng có ngày ra. "Mà sinh tâm đại bi" :
Phật sinh ra nguyện lực đại từ đại bi để cứu
độ tất cả chúng sinh.
Xưa ta ngồi đạo tràng
Xem cây cũng kinh hành.
Trong hai mươi mốt ngày
Suy nghĩ việc như vầy :
Trí huệ mà ta được
Rất nhiệm mầu bậc nhất.
Các chúng sinh độn căn
Tham vui si làm mù
Những loại người như thế
Làm sao mà độ được !
Lúc đó, có Phạm Vương
Và các trời Ðế Thích
Bốn Thiên Vương hộ đời
Cùng trời Ðại Tự Tại.
Và các chúng trời khác
Quyến thuộc trăm ngàn vạn
Cung kính chắp tay lễ
Thỉnh ta chuyển pháp luân.
Ta liền tự suy nghĩ :
Nếu chỉ khen Phật thừa
Chúng sinh đắm nơi khổ
Không thể tin pháp nầy.
Vì phá pháp chẳng tin
Ðọa trong ba đường ác
Ta thà không nói pháp
Mau vào cõi Niết bàn.
"Xưa ta ngồi đạo tràng" : Ðức Phật nói : Ta
ban đầu ngồi bốn mươi chín ngày, dưới cội Bồ
Ðề đạo tràng thành Phật thì, "Xem cây cũng
kinh hành" : Ta thành Phật rồi, ngồi dưới
cội bồ đề quán sát nhân duyên trong quá khứ
và trong tương lai, có lúc cũng đi kinh
hành. Ði kinh hành là gì ? đi kinh hành tức
là đi chung quanh cây, để vận động và nhiếp
tâm, khiến cho tâm chẳng tán loạn. Tâm của
Phật vốn chẳng tán loạn, cần gì phải đi kinh
hành ? Sở dĩ Phật làm như thế, là vì chúng
sinh sau nầy cũng tu hành theo như thế.
"Trong hai mươi mốt ngày, tư duy việc như
vầy" : Trong ba tuần lễ suy nghĩ việc giáo
hóa chúng sinh như thế nào. "Trí huệ mà ta
được" : Trí huệ mà ta đắc được. "Rất nhiệm
mầu bậc nhất" : Là nhiệm mầu bậc nhất trong
thiên hạ. "Các chúng sinh độn căn" : Căn cơ
của chúng sinh rất ngu si ám độn. "Tham vui
si làm mù" : Họ đam mê dục lạc mà biến thành
ngu si. "Những loại người như thế" : Loại
chúng sinh chẳng có trí huệ giống như người
mù nầy. "Làm sao mà độ được" : Ta làm sao mà
độ chúng được !
"Lúc đó, các Phạm Vương" : Lúc đó, Ðại Phạm
Thiên Vương của cõi trời sắc giới. "Và các
trời Ðế Thích" : Và Thiên Chúa trời Ðao Lợi
(Ðế Thích Thiên Vương). "Tứ Thiên Vương hộ
đời" : Và Tự Ðại Thiên Vương bảo hộ thế
giới. "Và Ðại Tự Tại Thiên" : Và Thiên Chúa
Ma Hê Thủ La (Ðại Tự Tại Thiên Vương). "Và
các Thiên chúng khác" : Và Thiên chúng các
cõi trời khác. "Quyến thuộc trăm ngàn vạn" :
Mỗi vị Thiên Vương suất lãnh trăm ngàn vạn
quyến thuộc. "Cung kính chắp tay lễ" : Ðều
cung kính chắp tay làm lễ ở trước Ðức Phật.
"Thỉnh ta chuyển pháp luân" : Họ đều thỉnh
cầu ta chuyển bánh xe pháp. "Ta liền tự suy
nghĩ" : Vì nhiều chúng sinh chư Thiên thỉnh
cầu Ðức Phật thuyết pháp, do đó Ngài lại
phải một phen suy nghĩ. "Nếu chỉ khen Phật
thừa" : Nếu ta chỉ nói một Phật thừa, không
nói các pháp tiểu thừa khác. "Chúng sinh đắm
nơi khổ" : Nếu chúng sinh khổ biết Phật đạo
lâu xa, khó khăn, phải trải qua ba đại A
Tăng Kỳ kiếp mới thành Phật, đều nhìn biển
mà thở dài, sợ pháp quá cao sâu mà chẳng
muốn học. Ví như : Có người chưa nghe Kinh,
thì chẳng sinh tâm hoan hỉ đối với Kinh, một
khi thấy bộ Kinh Pháp Hoa quá dày, biết khi
nào nghe cho hết ? Làm sao có nhiều thời
gian để nghe ? Do đó, cũng chẳng nghe. Nếu
bạn đắc được từ vị của Phật pháp, thì sẽ
thấy rằng Phật pháp, chiếm địa vị quan trọng
thiết yếu trong cuộc sống, thậm chí không
ăn, không ngủ, cũng nhất định phải học Phật
pháp. Chiếu theo quy cụ Phật giáo, nếu trong
khoảng bốn mươi dặm có người tụng Kinh
thuyết pháp, thì cư sĩ học Phật đều nên đi
nghe Kinh. "Chúng sinh đắm nơi khổ, không
thể tin pháp nầy" : Vì chúng sinh căn cơ ngu
độn, nếu Phật nói ra một thừa pháp thì họ
chẳng tin. "Vì phá pháp chẳng tin" : Chúng
sinh chẳng những không tin, mà còn có hành
vi hủy báng pháp. Ðối với diệu pháp nầy, một
khi sinh tâm hủy báng, thì tạo vô lượng vô
biên tội lỗi. "Ðọa trong ba đường ác" :
Tương lai sẽ đọa vào ba đường ác : địa ngục,
ngạ quỷ, súc sinh. "Ta thà chẳng nói pháp" :
Phật sợ chúng sinh hủy báng pháp chẳng tin,
mà đọa vào ba đường ác, cho nên thà chẳng
nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. "Mau vào cõi
Niết Bàn" : Phải mau vào cõi Niết Bàn, không
nên ở tại thế gian chuyển pháp luân.
Liền nhớ Phật quá khứ
Thực hành sức phương tiện
Nay ta đắc được đạo
Cũng nên nói ba thừa.
Suy nghĩ như thế thì :
Mười phương Phật đều hiện
Tiếng Phạm an ủi ta
Lành thay Ðức Thích Ca !
Ðấng Ðạo sư bậc nhất
Ðược pháp vô thượng nầy
Thuận theo tất cả Phật
Mà dùng sức phương tiện.
Chúng ta cũng đều được
Pháp tối diệu bậc nhất
Vì các loại chúng sinh
Phân biệt nói ba thừa.
Trí kém ưa pháp nhỏ
Chẳng tự tin thành Phật
Cho nên dùng phương tiện
Phân biệt nói các quả.
Tuy là nói các quả
Chỉ vì dạy Bồ Tát.
"Liền nhớ Phật quá khứ" : Tuy nghĩ như thế,
nhưng Phật lại nghĩ nhớ sâu xa, tất cả pháp
của Phật quá khứ. "Thực hành sức phương
tiện" : Và sức phương tiện của chư Phật thực
hành trong quá khứ. "Nay ta đắc được đạo" :
Hiện nay ta đắc được Phật đạo. "Cũng nên nói
ba thừa" : Cũng nên vì thật thí quyền, nói
giáo lý ba thừa. "Suy nghĩ như thế thì" : Ta
vừa suy nghĩ như thế thì. "Mười phương Phật
đều hiện" : Mười phương chư Phật đều hiển
hiện ở trước mắt của ta. "Tiếng Phạm an ủi
ta" : Các Ngài dùng tiếng phạm âm thanh tịnh
của Phật, để an ủi ta và còn nói với ta
:"Lành thay Ðức Thích Ca ! Ðức Thích Ca Ngài
tốt lắm". "Ðấng Ðạo Sư bậc nhất" : Ngài thật
là đấng Ðạo Sư bậc nhất của thế gian. "Ðược
pháp vô thượng nầy" : Ngài đắc được diệu
pháp vô thượng nầy. "Thuận theo tất cả Phật"
: Ngài tùy thuận tất cả chư Phật trong mười
phương. "Mà dùng sức phương tiện" : Cũng vận
dụng sức quyền xảo phương tiện. "Chúng ta
cũng đều được" : Chúng ta mười phương chư
Phật, cũng đều đắc được diệu pháp như nhau.
"Pháp tối diệu bậc nhất" : Ðây là pháp tối
vi diệu bậc nhất. "Vì các loại chúng sinh" :
Chúng ta vì quan hệ với chúng sinh. "Phân
biệt nói ba thừa" : Cho nên phân biệt nói
Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát ba thừa.
"Trí kém ưa pháp nhỏ" : Người độn căn kém
trí huệ chỉ ưa thích pháp nhỏ, họ chẳng có
căn tánh đối với pháp lớn, như trẻ nhỏ chỉ
biết chơi vật nhỏ, nếu bạn cho chúng vật
lớn, thì chúng chẳng biết chơi. Cho nên đối
với người tiểu thừa, chỉ nói pháp tiểu thừa
đối với họ, nếu nói pháp đại thừa, thì họ hồ
đồ chẳng hiểu được. "Chẳng tự tin thành
Phật" : Sao họ muốn nghe pháp mà chẳng nói
pháp lớn cho họ nghe ? Vì họ chẳng tin mình
sẽ thành Phật. "Cho nên dùng phương tiện" :
Do đó, trước hết dùng pháp môn quyền xảo
phương tiện. "Phân biệt nói các quả" : Phân
biệt nói : sơ quả, nhị quả, tam quả và tứ
quả. "Tuy là nói ba thừa" : Tuy nhiên phân
biệt nói ba thừa. "Nhưng chỉ dạy Bồ Tát" :
Song, thật tế thì chỉ vì giáo hóa Bồ Tát, tu
hành pháp môn Phật thừa.
Xá Lợi Phất nên biết !
Ta nghe tiếng của Phật.
Rất thanh tịnh nhiệm mầu
Xưng Nam Mô chư Phật !
Ta lại nghĩ như vầy :
Ta ra đời ác trược.
Như chư Phật đã nói
Ta cũng thuận làm theo
Suy nghĩ việc nầy rồi
Bèn đến vườn Lộc Uyển.
Các pháp tướng tịch diệt
Không thể dùng lời nói
Bèn dùng sức phương tiện
Vì năm Tỳ Kheo nói.
"Xá Lợi Phất nên biết" : Xá Lợi Phất ông nên
biết. "Ta nghe tiếng của Phật" : Ta nghe
mười phương chư Phật khen ngợi ta, nói ta là
đại Ðạo Sư bậc nhất. "Rất thanh tịnh nhiệm
mầu" : Âm thanh của chư Phật rất nhiệm mầu
thanh tịnh. "Xưng Nam Mô chư Phật" : Mười
phương chư Phật cũng xưng Nam Mô chư Phật,
ta cũng xưng Nam Mô chư Phật, Phật với Phật
khen ngợi với nhau. "Ta lại nghĩ như vầy" :
Ta lại suy nghĩ như thế nầy. "Ta ra đời ác
trược" : Ta hiện ra thế giới Ta Bà đời ác
năm trược. "Như chư Phật đã nói, ta cũng
thuận làm theo" : Ta cũng tùy thuận theo
phương thức giáo hóa, của mười phương chư
Phật mà hành sự. "Suy nghĩ việc nầy rồi" :
Ta nghĩ sự việc đã qua rồi. "Bèn đến vườn
Lộc Uyển" : Vườn Lộc Uyển ở thành Ba La Nại,
đức Phật lập tức đi đến vườn Lộc Uyển.
Vì sao mà có tên là "vườn Lộc Uyển" ? Thuở
xưa, có hai con nai chúa, một con là tiền
thân của Ðức Phật Thích Ca, nhiều đời nhiều
kiếp về trước, là một con nai chúa rất từ
bi. Và một con là tiền thân của Ðề Bà Ðạt
Ða. Lúc đó, có một vị vua rất thích đi săn,
thường thường mang quân lính vào vườn nai
săn bắn, mỗi lần đi đều săn được rất nhiều
nai. Do đó, hai con nai chúa mới hội nghị,
nai chúa Thích Ca Mâu Ni nói : "Chúng ta hãy
đi đến thỉnh nguyện với Ðức Vua !" Nai chúa
Ðề Bà Ðạt Ða nói : "Chúng ta thỉnh nguyện
như thế nào ?" Nai chúa Thích Ca Mâu Ni nói
: "Chúng ta yêu cầu Ðức Vua mỗi ngày mình
mang đến cho vua một con nai, để vua dùng,
như thế thì lũ nai chúng ta mới không tuyệt
chủng, mà hằng ngày vua cũng có thịt nai mới
dùng. Nếu vua mà đi săn thì sẽ săn hết lũ
nai chúng ta, mà mỗi ngày vua chẳng ăn bao
nhiêu, còn lại cũng bỏ đi. Tôi tin rằng vua
sẽ đồng ý với chúng ta." Nai chúa Ðề Bà Ðạt
Ða nghe rồi nói : "Tốt lắm ! Vậy chúng ta
hãy đi thỉnh cầu !"
Do đó, hai con nai chúa bèn đi đến thỉnh cầu
với Ðức Vua, vừa đến cửa cung điện, thì quân
lính thấy hai con nai to lớn, bèn cầm thương
giáo muốn giết. Hai con nai chúa nói : "Các
ông đừng giết, hôm nay chúng tôi đến cầu
kiến Ðức Vua." Quân lính thấy nai biết nói,
rất lấy làm lạ, lập tức đi báo cho vua biết,
nói có hai con nai biết nói. Ðức Vua rất
ngạc nhiên, bàn truyền cho chúng vào. Hai
con nai chúa đem lời thỉnh cầu nói ra cho
vua nghe. Vua thấy nai biết nói, đã lấy làm
lạ, lại nghe lời thỉnh cầu của họ rất hợp
lý, do đó đồng ý nói : "Ðược lắm ! Mỗi ngày
các vị hãy mang một con nai đến !" Từ đó về
sau, mỗi ngày đều mang đến cho vua một con
nai, vua mỗi ngày đều thưởng thức thịt nai
tươi.
Một ngày nọ, nai chúa Thích Ca Mâu Ni đột
nhiên thân tự đến hiến cúng. Vua ngạc nhiên
hỏi : "Ngươi là nai chúa, sao lại có thể đến
hiến thân, trừ khi quyến thuộc của ngươi
chẳng còn nữa ?" Nai chúa Thích Ca Mâu Ni
nói : "Quyến thuộc của ta chẳng những còn,
mà càng ngày sinh sản càng nhiều. Chúng tôi
mỗi một nai chúa quản lý năm trăm con nai,
mà mỗi ngày chỉ dâng một con cho vua, nai mẹ
còn lại lại sinh ra rất nhiều nai con, cho
nên hiện tại lũ nai của chúng tôi đã sinh
sản phồn thịnh thêm nhiều, chẳng qua bây giờ
có một nguyên nhân, cho nên chính tôi tự đến
đây hiến cúng. Ðức Vua nói : "Nguyên nhân gì
?" Nai chúa nói : "Hôm nay đến phiên của một
con nai mẹ hiến cúng, nhưng con nai mẹ đó
đang mang thai một con nai con, chỉ còn ít
hôm nữa thì sẽ sinh ra nai con, do đó nai mẹ
đi yêu cầu các con nai khác đổi phiên, đợi
khi nào sinh ra nai con thì sẽ đến để hiến
cúng, nhưng chẳng có con nai nào chịu, cho
nên con nai mẹ đó đến thương lượng với tôi,
chẳng còn cách nào khác, nên hôm nay chính
tôi tự đến để thế nai mẹ đó."
Ðức Vua nghe xong, cảm thấy việc nầy rất kỳ
lạ, vua minh bạch : "Nai cũng đều là chúng
sinh ! Tại sao ta hằng ngày phải ăn thịt nai
? Lúc đó, Ðức Vua nói bài kệ :
"Ngài làm nai đầu người,
Ta làm người đầu nai,
Từ nay trở về sau,
Chẳng ăn thịt chúng sinh."
Nghĩa là : Tuy ngươi làm thân nai, nhưng tâm
của ngươi nhân từ phi thường, còn tốt hơn so
với con người. Tuy nhiên ta là người, nhưng
tâm ta chẳng bằng tâm loài nai. Từ nay về
sau, bất cứ thịt gì, ta cũng không ăn nữa.
Nai chúa làm cho Ðức Vua cảm động, từ đó vua
bắt đầu ăn chay. Do quan hệ về câu chuyện
nầy, cho nên nơi đó có tên là vườn Lộc Uyển
(vườn Nai).
Vườn Lộc Uyển là nơi non xanh nước biếc, có
luồng linh khí, cho nên có rất nhiều người
tu hành đang tu hành tại đó.
Ban đàu, Ðức Phật xuất gia tu đạo, thì có năm
người hầu hạ cho Ngài. Trong năm người nầy,
bà con phía cha ba người, và hai người bà
con phía mẹ. Sau nầy, họ đều lìa bỏ Ngài. Vì
sao ? Ðức Phật tu tại núi tuyết, mỗi ngày
chỉ ăn một hạt mè, trong đó có ba người chịu
chẳng đặng bỏ đi trước, đến Vườn Lộc Uyển tu
đạo. Còn lại hai người tu với Ðức Phật. Một
lần nọ, thấy thiếu nữ chăn dê dâng cúng cho
Ðức Phật bát sữa bò, lúc đó Ðức Phật ốm gầy
như cây củi. Phật thấy sữa bò cũng vui mừng
tiếp nhận sự cúng dường. Hai ngưới thấy Phật
uống sữa bò, thì cho rằng Ðức Phật hết chịu
nổi sự khổ hạnh, chẳng thể tu thành đạo mới
nói : "Tu hành phải tu khổ hạnh, bây giờ
Ngài chẳng chịu được sự khổ hạnh, chúng tôi
chẳng muốn ở đây, hầu hạ một người chẳng
thành tựu." Do đó, hai người nầy cũng bỏ đi
luôn, chỉ còn lại một mình Ðức Phật tu ở đó,
sau đó Ðức Phật đến dưới cội bồ đề, tĩnh tọa
bốn mươi chín ngày, thấy sao mai mọc mà ngộ
đạo.
Ðức Phật ban đầu tu đạo rất gian nan khốn khổ,
bây giờ chúng ta tu đạo, chịu một chút khổ
mà chịu chẳng được.
"Các pháp tướng tịch diệt" : Ðức Phật biết
tướng tịch diệt của tất cả các pháp, nó
chẳng có tướng mạo. "Không thể dùng lời nói"
: Chỉ có thể lý hội mà không thể nói ra, tức
cũng là "ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ
diệt". "Bèn dùng sức phương tiện" : Cho nên
Phật phải dùng phương tiện khéo léo. "Vì năm
Tỳ Kheo nói" : Ðó là vì năm vị Tỳ Kheo Kiều
Trần Như nói pháp. Năm vị Tỳ Kheo là : Kiều
Trần Như, Ngạch Tiên, Bạt Ðề, Thập Lực Ca
Diếp, Ma Nam Câu Lợi, tức cũng là năm người
hầu nói ở đoạn trên. Ðức Phật thành Phật
rồi, biết năm vị Tỳ Kheo đó, đang tu tại
Vườn Lộc Uyển. Vừa quán nhân duyên thì biết,
trước hết độ năm Tỳ Kheo nầy, do đó Phật đến
Vườn Lộc Uyển, vì năm vị Tỳ Kheo ba lần nói
diệu pháp bốn Ðế.
Gọi là chuyển pháp luân
Bèn có tiếng Niết bàn
Cùng với A la hán
Tên Pháp, Tăng khác biệt.
Từ kiếp xưa đến nay
Khen ngợi pháp Niết bàn
Dứt hẳn khổ sinh tử
Ta thường nói như thế.
Xá Lợi Phất nên biết !
Ta thấy các Phật tử
Người chí cầu Phật đạo
Vô lượng ngàn vạn ức.
Ðều dùng tâm cung kính
Ðồng đến chỗ chư Phật
Từng theo nghe chư Phật
Dùng phương tiện nói pháp.
Ta liền nghĩ thế nầy :
Sở dĩ Phật ra đời
Ðều vì nói Phật huệ
Nay đúng là phải thời.
Xá Lợi Phất nên biết !
Người độn căn trí nhỏ
Kẻ chấp tướng kiêu mạn
Chẳng thể tin pháp nầy.
Nay ta vui chẳng sợ
Ở trong chúng Bồ Tát
Ta bỏ ngay phương tiện
Chỉ nói đạo vô thượng.
Bồ Tát nghe pháp nầy
Lưới nghi đều đã trừ
Ngàn hai trăm La Hán
Thảy đều sẽ thành Phật.
"Gọi là chuyển pháp luân" : Phật vì năm vị Tỳ
Kheo Kiều Trần Như, chuyển bánh xe pháp bốn
Diệu Ðế. Chuyển bánh xe pháp bốn Diệu Ðế là
gì ? Ban đàu, Phật độ năm vị Tỳ Kheo nói :
"Ðây là khổ, tính bức bách.
Ðây là tập, tính chiêu cảm.
Ðây là diệt, tính có thể chứng.
Ðây là đạo, tính có thể tu."
Ðây gọi là chuyển lần thứ nhất. Sự khổ đối với
con người có tính chất bức bách. Tập, là chỉ
phiền não kết tập, phiền não có tính chiêu
cảm, do chiêu cảm mà đến. Diệt, là tịch diệt
Niết Bàn, thường lạc ngã tịnh, bốn đức Niết
Bàn. Ðạo, đạo nầy nên tu hành, đây là chuyển
lần thứ nhất.
Kế tiếp lại chuyển lần thứ hai :
"Ðây là khổ, các ông nên biết".
"Ðây là tập, các ông nên đoạn", phiền não chỉ
là khách trần mà thôi, chẳng phải là chủ
nhân, do bên ngoài chiêu cảm mà đến, do đó
các ông phải đoạn trừ. Lại nói :
"Ðây là diệt, các ông nên chứng". Niết Bàn
thường lạc ngã tịnh khoái lạc, các ông nên
chứng đắc.
"Ðây là đạo, các ông nên tu."
Sau đó, chuyển lần thứ ba nói :
"Ðây là khổ, ta đã biết."
"Ðây là tập, ta đã đoạn."
"Ðây là diệt, ta đã chứng."
"Ðây là đạo, ta đã tu."
Ta cũng đã tu ba mươi bảy đạo phẩm. Ðây là
chuyển lần thứ ba. Ðức Phật vừa nói pháp lần
thứ ba xong, thì Kiều Trần Như một trong năm
vị minh bạch được nguyên do của khách trần
mà chứng quả. Ðây gọi là chuyển bánh xe pháp
bốn Diệu Ðế.
"Bèn có tiếng Niết Bàn" : Ðức Phật chuyển bánh
xe pháp bốn Diệu Ðế, có nói đến tịch diệt
Niết Bàn khoái lạc, cho nên phát ra diệu âm
Niết Bàn. "Cùng với A La Hán" : Cùng với
danh từ A La Hán, sơ quả, nhị quả, tam quả
và tứ quả A La Hán. "Tên Pháp, Tăng khác
biệt" : Pháp là bốn Diệu Ðế : Khổ, tập,
diệt, đạo. Tăng là A La Hán. Vì có Pháp, có
Tăng nhiều danh từ khác biệt. "Từ kiếp xưa
đến nay" : Ta từ kiếp lâu xa, tu Phật đạo
đến nay. "Khen ngợi pháp Niết Bàn." "Dứt hẳn
khổ sinh tử" : Nếu ông chứng được diệu lý
Niết Bàn, thì sẽ vĩnh viễn dứt khổ sinh tử.
"Ta thường nói như thế" : Từ kiếp lâu xa đến
nay, ta vì các ông luôn luôn nói pháp nầy.
"Xá Lợi Phất nên biết" : Xá Lợi Phất ông nên
biết. "Ta thấy các Phật tử" : Ta thấy tất cả
Phật tử. "Người chí cầu Phật đạo" : Người
lập chí trên cầu Phật đạo. "Vô lượng ngàn
vạn ức" : Số đông vô lượng ngàn vạn ức. "Ðều
dùng tâm cung kính" : Hết thảy đều dùng tâm
cung kính. "Ðồng đến chỗ chư Phật" : Thảy
đều đến chỗ chư Phật. "Từng theo nghe chư
Phật" : Trong quá khứ, họ từng theo chư Phật
để nghe Phật pháp. "Dùng phương tiện nói
pháp" : Chư Phật dùng phương tiện pháp môn
mà nói pháp. "Ta liền nghĩ thế nầy" : Ta lại
suy nghĩ thế nầy. "Sở dĩ Phật ra đời" : Sở
dĩ mà Phật xuất hiện ra đời. "Ðều vì nói
Phật huệ" : Ðều vì nói trí huệ chân thật của
Phật. "Nay đúng là phải thời" : Bây giờ là
lúc nên nói trí huệ chân thật của Phật. "Xá
Lợi Phất nên biết" : Xá Lợi Phất ông nên
biết. "Người độn căn trí nhỏ" : Người độn
căn chỉ có chút chút trí huệ. "Kẻ chấp
trướng kiêu mạn" : Chẳng những họ chấp trước
tất cả hình tướng, mà còn tự cho rằng đúng,
cho nên sinh ra tâm cống cao ngã mạn. "Không
thể tin pháp nầy" : Họ chẳng tin pháp đại
thừa, cũng chẳng tin nghe Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, cho nên mới có năm ngàn người lui
về. "Nay ta vui chẳng sợ" : Bây giờ những
người chẳng có căn lành và những kẻ kiêu mạn
đều đã lui về, cho nên ta chẳng còn lo chẳng
còn sợ. "Ở trong chúng Bồ Tát" : Ở trong các
hàng Bồ Tát. "Ta bỏ ngay phương tiện" : Ta
bỏ ngay phương tiện nầy, chẳng dùng pháp
quyền xảo nữa. Bây giờ ta phải mở cửa để
thấy núi, nói thẳng Phật huệ chân thật. "Chỉ
nói đạo vô thượng" : Chỉ nói pháp môn thành
Phật. "Bồ Tát nghe pháp nầy" : Tất cả Bồ Tát
đều nghe được Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nầy.
"Lưới nghi đều đã trừ" : Lưới nghi của các
Ngài đều tiêu trừ. "Ngàn hai trăm La Hán" :
Lúc đó, có một ngàn hai trăm năm mươi vị A
La Hán. "Thảy đều sẽ thành Phật" : Tương lai
họ cũng đều sẽ thành Phật. Ðây là Phật thọ
ký cho tất cả đệ tử sẽ thành Phật, phàm là
người nghe pháp ở trong hội Pháp Hoa, chẳng
ai mà không thành Phật.
Như chư Phật ba đời
Nghi thức nói các pháp
Ta nay cũng như thế
Nói pháp không phân biệt.
Chư Phật hiện ra đời
Lâu xa khó gặp được
Gặp lúc Phật ra đời
Nói pháp nầy khó hơn.
Vô lượng vô số kiếp
Nghe pháp nầy cũng khó
Người nghe được pháp nầy
Người đó càng khó hơn.
Ví như hoa Ưu Ðàm
Tất cả đều ưa thích
Ít có trong trời người
Ðúng thời mới xuất hiện.
Nghe pháp vui mừng khen
Cho đến nói một lời
Tức là đã cúng dường
Tất cả Phật ba đời.
Người đó rất ít có
Hơn cả hoa Ưu Ðàm.
"Như chư Phật ba đời, nghi thức nói các pháp"
: Ðức Phật nói, hiện tại ta nói đạo lý Phật
thừa thật trí, cũng như nghi thức thuyết
pháp, của chư Phật ba đời : quá khứ, hiện
tại và vị lai. "Nay ta cũng như thế, nói
pháp không phân biệt" : Ta nay cũng chỉ nói
một Phật thừa như nhau, chẳng có thừa pháp
vi diệu nào khác. Pháp không phân biệt nầy,
chẳng phải một số người minh bạch được. "Chư
Phật hiện ra đời" : Mười phương chư Phật
xuất hiện ra đời. "Lâu xa khó gặp được" :
Nếu gặp được chư Phật mười phương xuất hiện
ra đời, phải trải qua thời gian lâu dài.
"Gặp lúc Phật ra đời, nói pháp nầy khó hơn"
: Tức gặp lúc bạn gặp Phật xuất hiện ra đời,
mà nghe được Phật nói Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa, chẳng phải là việc dễ dàng. Ðức Phật
nói pháp bốn mươi chín năm, ban đầu nói Tam
Tạng giáo, Kinh A Hàm, sau đó nói Phương
Ðẳng và Bát Nhã, cuối cùng mới nói Kinh Pháp
Hoa, nhưng gặp được nói bộ Kinh nầy, cũng
chẳng dễ. "Vô lượng vô số kiếp" : Trải qua
thời gian lâu dài vô lượng vô số kiếp. "Nghe
pháp nầy cũng khó" : Nghe được pháp nầy cũng
chẳng dể dàng. "Người nghe được pháp nầy" :
Người đã nghe được Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
nầy. "Người đó càng khó hơn" : Người nầy
chẳng dể gì tìm được. "Ví như hoa Ưu Ðàm" :
Như hoa Ưu Ðàm ít có. Hoa Ưu Ðàm dịch là
"tường đoan". Hoa nầy ba ngàn năm mới nở một
lần, mà một khi nở thì tàn, cho nên đặc biệt
ít có. "Tất cả đều ưa thích, ít có trong
trời người" : Vì hoa Ưu Ðàm ít có, cho nên
người trên trời, dưới nhân gian đều ưa thích
hoa nầy. "Ðúng thời mới xuất hiện" : Nếu
chưa đến thời, thì chẳng bao giời xuất hiện
ra đời. "Nghe pháp vui mừng khen" : Nếu nghe
thấy Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, mà người đó
sinh tâm vui mừng khen ngợi. "Cho đến nói
một lời" : Hoặc chỉ nói một câu để khen ngợi
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. "Tức là đã cúng
dường, tất cả Phật ba đời" : Tức là đã cúng
dường tất cả chư Phật trong mười phương ba
đời. "Người đó rất ít có, hơn cả hoa Ưu Ðàm"
: Người nầy so với hoa Ưu Ðàm càng ít có
hơn, do đó có thể thấy, nghe pháp thật là
không dễ dàng, trứ khi đến thời cơ mới nghe
được.
Các ông chớ có nghi
Ta là vua các pháp.
Nói khắp các đại chúng
Chỉ dùng đạo một thừa
Giáo hóa các Bồ Tát
Không Thanh Văn đệ tử.
Xá Lợi Phất các ông !
Thanh Văn và Bồ Tát
Nên biết diệu pháp nầy
Bí yếu của chư Phật.
Ðức Phật lại nói : Pháp nầy so với hoa Ưu Ðàm
càng khó gặp hơn. Pháp của ta nói, các ông
chớ có hoài nghi. Vì sao ? "Ta là vua các
pháp" : Vì ta là vua của tất cả các pháp, đã
đắc được trí huệ chân thật. "Nói khắp các
đại chúng" : Bây giờ, ta nói khắp tất cả đại
chúng trong pháp hội, và hết thảy chúng sinh
vị lai. "Chỉ dùng đạo một thừa" : Ta chỉ
dùng một thừa Phật đạo. "Giáo hóa các Bồ
Tát" : Ðể giáo hóa tất cả Bồ Tát. "Không
Thanh Văn đệ tử" : Pháp nầy chẳng giáo hóa
đệ tử Thanh Văn tiểu thừa. "Xá Lợi Phật các
ông" : Xá Lợi Phất ! Các ông những bậc Thanh
Văn. "Thanh Văn và Bồ Tát" : Bây giờ đều nên
hồi tiểu hướng đại, đừng được ít mà cho là
đủ, phải từ Thanh Văn thừa mà chuyển qua Bồ
Tát thừa. "Nên biết diệu pháp nầy" : Các ông
nên biết diệu pháp của Kinh Pháp Hoa nầy.
"Bí yếu của chư Phật" : Là diệu pháp vô
thượng bí yếu nhất của chư Phật, nên nhớ
đừng sinh tâm nghi hoặc.
Bởi đời ác năm trược
Chỉ ưa chấp các dục
Những chúng sinh như thế
Quyết chẳng cầu Phật đạo.
Người ác đời vị lai
Nghe Phật nói một thừa
Mê hoặc chẳng tin nhận
Phá pháp đọa đường ác.
Người hổ thẹn thanh tịnh
Quyết chí cầu Phật đạo
Ta sẽ vì người đó
Rộng khen đạo một thừa.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là bí yếu của chư
Phật, cho nên Ðức Phật thành Phật rồi, rất
lâu mà chẳng nói bộ Kinh Pháp Hoa nầy. Tại
sao ? Vì rất là quan trọng, một khi nói ra,
mà chúng sinh không tin, thì sẽ đọa vào ba
đường ác, cho nên đức Phật thà không nói.
"Bởi đời ác năm trược" : Năm trược tức là :
Kiếp trược, kiến trược, phiền não trược,
chúng sinh trược, mạng trược, đây là năm thứ
trược hiện tại của thế giới nầy. "Chỉ ưa
chấp các dục" : Chúng sinh trong đời ác năm
trược, tánh của họ ưa thích các dục. Năm dục
là : Tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống
và ngủ nghỉ. "Những Chúng sinh như thế,
quyết chẳng cầu Phật đạo" : Họ chấp vào các
dục, tham trước nhất thời, chẳng phải là
khoái lạc cứu kính. Ai ai cũng đều bị tiền
tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ
vây hãm, không thể tự cứu. Phật sớm đã biết
có loại chúng sinh mê muội nầy, cho nên nói
: "Những chúng sinh như thế" : Những chúng
sinh mê muội đó. "Quyết chẳng cầu Phật đạo"
: Họ chẳng muốn cầu Phật đạo, nay mình đã
khai mở trí huệ chân thật, phá tan mê muội.
"Người ác đời vị lai" : Người ác trược đời
vị lai. "Nghe Phật nói một thừa" : Họ nghe
Phật nói một thừa pháp. "Mê hoặc chẳng tin
nhận" : Trong tâm mê hoặc, không thể tin
nhận. "Phá pháp đọa đường ác" : Họ chẳng tin
mà còn phá hoại, nói là : "Các vị đó giảng
Phật pháp, vốn chẳng có đạo lý !" Vì phá
pháp nên đọa vào ba đường ác. "Người chí cầu
Phật đạo, biết hổ thẹn thanh tịnh" : Người
lập chí nhất định thành Phật, biết sinh tâm
hổ thẹn, sửa đổi lỗi lầm muốn cầu thanh
tịnh. "Ta sẽ vì người đó" : Phật nói, ta sẽ
vì những chúng sinh đó. "Rộng khen đạo một
thừa" : Rộng khen pháp một thừa vô thượng
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Xá Lợi Phất nên biết !
Pháp chư Phật như thế
Dùng vạn ức phương tiện
Tùy nghi mà nói pháp.
Người nào chẳng tu học
Không thể hiểu pháp nầy
Các ông tức đã biết
Chư Phật thầy trong đời.
Tùy nghi dùng phương tiện
Không nên sinh nghi hoặc
Sinh tâm vui mừng lớn
Biết mình sẽ thành Phật.
"Xá Lợi Phất nên biết" : Xá Lợi Phất và tất cả
Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, Bồ
Tát, trời, rồng, tám bộ chúng hết thảy đều
nên biết. "Pháp chư Phật như thế" : Mười
phương chư Phật, Phật Phật đạo đồng, do đó
có câu :
"Ba đời mười phương Phật,
Ðều cùng một pháp thân".
Pháp của mười phương chư Phật đều như nhau,
pháp chỉ có một, vì quán căn cơ mà thí giáo,
do đó, "Dùng vạn ức phương tiện" : Dùng vô
lượng vô biên phương tiện pháp môn để giáo
hóa chúng sinh. "Tùy nghi mà nói pháp" : Tùy
thuận căn cơ của chúng sinh mà nói pháp.
Do đó,
vì người thí giáo, theo bệnh cho thuốc.
"Người nào chẳng tu học" : Phật nói ra pháp
nầy, nếu chúng sinh nào chẳng tu hành,
"Không thể hiểu pháp nầy" : Không thể nào
hiểu được nghĩa của pháp nầy. "Các ông đều
đã biết" : Xá Lợi Phất ! Các ông những bậc
đại A La Hán, đại Bồ Tát, đại Tỳ Kheo, hiện
tại đều đã biết diệu pháp chân thật nầy.
"Chư Phật thầy trong đời" : Mười phương chư
Phật và Thích Ca Mâu Ni, đều là Ðạo Sư của
thế gian. "Tùy nghi dùng phương tiện" : Ðều
tuỳ nghi nói pháp, dùng phương tiện để giáo
hóa chúng sinh. "Không nên sinh nghi hoặc" :
Các ông đừng sinh tâm nghi hoặc. "Sinh tâm
vui mừng lớn" : Bây giờ các ông nghe được
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nên sinh tâm vui
mừng lớn. "Biết mình sẽ thành Phật" : Bây
giờ, các ông cũng nên biết, tương lai mình
nhất định cũng sẽ thành Phật. Do đó, tất cả
chúng sinh ở trong hội Pháp Hoa, nhất định
đều sẽ thành Phật, vì đức Phật đều đã thọ ký
cho các Ngài, đều nghe pháp Phật thừa tối
thượng.
Hết
tập 1