KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA
Gảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Hán dịch :
Ngài Cưu Ma La Thập
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP 01
Giải
thích Kinh Văn
Quyển
1
Phẩm
Tựa Thứ Nhất
Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa có hai mươi tám phẩm, thứ nhất
là phẩm tựa ; tường thuật nhân duyên của
Kinh văn. Bổn lai tất cả Kinh văn, phẩm đầu
tiên không gọi là phẩm tựa, nhưng chỉ có bộ
Kinh Pháp Hoa này, dùng phẩm thứ nhất làm
phẩm tựa.
Tôi nghe như vầy.
"Tôi nghe" là nghe (văn) thành tựu, "tôi" là
ai ? Tôi gồm có cái tôi giả, và thần ngã của
ngoại đạo. Cái "tôi" này là tôi giả, chẳng
phải tôi thật. Sao lại nói "tôi nghe" mà
không nói "tai nghe" ? Vì lỗ tai chỉ là một
bộ phận của thân thể, chẳng phải gọi chung
cho toàn thân thể. Cho nên Ngài A Nan nói
"Tôi nghe".
"Như vầy" là tin thành tựu. Pháp như vầy mới
có thể tin, chẳng phải pháp như vầy, thì
không thể tin. "Tôi nghe như vầy" có nhiều ý
nghĩa :
1. Dứt lòng nghi của đại chúng : Khi Ngài A
Nan kết tập Kinh điển, ban đầu lên pháp tòa,
tướng tốt trang nghiêm như đức Phật, do đó
đại chúng khởi lên ba điều nghi.
Ðiều nghi thứ nhất là : Các vị đại A La Hán
trong pháp hội, cho rằng Ðức Phật chưa vào
Niết Bàn, còn đến giảng Kinh thuyết pháp.
Ðiều nghi thứ hai là : Ðại chúng cho rằng, vị
Phật này từ phương khác đến.
Ðiều nghi thứ ba là : Ðại chúng nghi ngờ cho
rằng Ngài A Nan đã thành Phật, nếu không sao
Ngài lại có ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ
đẹp của đức Phật, nhưng khi Ngài A Nan lên
pháp tòa, nói "Tôi nghe như vầy", thì lập
tức cả đại chúng chẳng còn hoài nghi gì nữa.
Tất cả đại chúng đều biết Ngài A Nan đang
nói :"Pháp như vầy là tôi A Nan thân tự nghe
được những gì Ðức Phật nói, chứ chẳng phải
tôi tự tạo ra".
2. Tôn trọng sự phó chúc của Phật. Khi Ðức
Phật vào Niết Bàn, thì phó chúc cho Ngài A
Nan :"Khi bắt đầu tất cả Kinh điển đều nên
dùng "Tôi nghe như vầy". Vì tôn trọng sự chỉ
thị của đức Phật, cho nên khi kết tập Kinh
điển, thì Ngài A Nan trước hết nói "Tôi nghe
như vầy", bốn chữ.
3. Dứt tranh luận. Ngài A Nan là đệ tử trẻ của
đức Phật. Nếu Ngài không nói rõ bộ Kinh này,
do Ngài nghe Ðức Phật nói chứ chẳng phải
mình nói, thì trong đại chúng nhất định sẽ
khởi tranh luận :"Ngài có thể nói, tôi cũng
có thể nói !" Mọi người nhất định sẽ khởi sự
luận nghị, song, khi Ngài A Nan nói bộ Kinh
này do đức Phật nói, thì lập tức đại chúng
dứt tranh luận và sự bất bình.
4. Khác với ngoại đạo. Ngoại đạo dùng hai chữ
"A Ưu" để bắt đầu Kinh điển của họ, "A" là
không, "Ưu" là có. Vì ngoại đạo nói tất cả
vạn pháp chẳng phải có thì là không, chẳng
phải không tức là có. Kinh điển của Phật
nói, dùng :"Tôi nghe như vầy", để bắt đầu
Kinh điển, để khác với ngoại đạo.
Khi Ðức Phật sắp vào Niết Bàn, thì Ngài A Nan
hỏi Ðức Phật bốn việc : Sau khi Ðức Phật
nhập diệt thì :
a. Khi kết tập Kinh điển dùng chữ gì bắt đầu
Kinh điển, để khiến cho mọi người đều tin là
Phật nói ?
b. Sau này về phương pháp tu hành y theo pháp
gì mà trụ ?
c. Sau này chúng con nương ai làm thầy ?
d. Những Tỳ Kheo ác tính, chúng con đối xử với
họ ra sao ?
Ðức Phật trả lời :
Thứ nhất : Khi kết tập Kinh điển, thì trước
hết Kinh bắt đầu câu :"Tôi nghe như vầy".
Thứ hai : Y theo tứ niệm xứ mà trụ.Tứ niệm xứ
là thân, thọ, tâm, pháp.
1. Quán thân bất tịnh : Thân thể của chúng ta
dù tắm rửa rất sạch sẽ, cũng có mồ hôi chảy
ra, nếu không tắm thì thối không chịu nổi !
Trên thân có chín lỗ thường tiết ra thứ bất
tịnh : Ghèn, nước mắt, nước mũi, cứt ráy,
đàm, đại tiện, tiểu tiện .v.v., luôn luôn
tiết ra chất dơ bẩn. Cho nên phải quán thân
bất tịnh. Người nhiều tham dục thì hãy dùng
quán bất tịnh để đối trị, quán nam nữ dù đẹp
cũng là dơ bẩn không sạch, tức nhiên không
sạch, lại có gì để tham luyến ? Biết không
sạch thì sẽ chẳng tham trước, chẳng còn tâm
dâm dục.
2. Quán thọ là khổ : Thọ là lãnh thọ, bất cứ
cảnh giới thiện ác, thuận nghịch gì hiện
tiền, bạn lãnh thọ thì tâm của bạn sẽ giao
động. Có giao động thì là khổ. Tất cả sự
tiếp thọ, chịu đựng mọi cảnh giới đều là
khổ. Nếu bạn biết nó là khổ, thì chẳng tham
hưởng thụ, cầu dục lạc, như thế thì sẽ đoạn
diệt khổ.
3. Quán tâm vô thường. Tâm của chúng ta như
sóng trong biển, niệm trước diệt, niệm sau
sinh, niệm niệm biến đổi, sinh sinh không
ngừng, nhưng mỗi một niệm đều là vô thường
hư vọng.
4. Quán pháp vô ngã. Pháp có : sắc pháp, tâm
pháp. Trong Bách Pháp Minh Môn Luận có nói
:"Sắc pháp có mười một, tâm pháp có tám, tâm
sở pháp có năm mươi mốt, bất tương ưng pháp
có hai mươi bốn, vô vi pháp có sáu, tổng
cộng thành một trăm pháp". Tuy nhiên có
nhiều pháp như thế, nhưng đều vô ngã, cho
nên đừng chấp trước pháp. Trong Kinh Kim
Cang có nói : "Pháp còn phải xả bỏ, hà huống
là phi pháp". Tu hành, tu đến cực điểm thì
người và pháp chẳng còn nữa. Trước kia, khi
chưa minh bạch Phật pháp, thì chấp cái ta
rất sâu nặng, tất cả đều thuộc về ta, gì
cũng đều là của ta. Nhưng khi minh bạch Phật
pháp rồi, thì chấp trước vào pháp, biến
thành pháp chấp, có sự chấp trước thì có
quái ngại, có quái ngại thì khởi điên đảo,
khởi điên đảo thì sinh mộng tưởng. Nếu quán
cái ta chẳng còn nữa, vậy còn pháp thì sao ?
Cho nên phải quán pháp vô ngã. Từ quán thân
bất tịnh rồi thì quán tâm, thọ, pháp, cũng
đều bất tịnh. Quán thọ là khổ rồi thì quán
thân, tâm, pháp, cũng đều là vô thường. Quán
pháp vô ngã rồi thì quán thân, thọ tâm cũng
đều vô ngã. Cho nên, tuy nói là bốn Niệm Xứ,
nhưng chúng có mối quan hệ với nhau. Sau khi
Phật vào Niết Bàn rồi, mỗi vị Tỳ Kheo đều
nên y theo bốn Niệm Xứ mà trụ, không thể tơ
hào xa lìa.
Thứ ba : Phải lấy giới làm thầy. Tất cả những
người xuất gia, phải y theo giới luật tu
hành, nếu không y theo giới luật tu hành,
thì Phật pháp sẽ diệt vong. Nếu y theo giới
luật tu hành, thì Phật pháp sẽ tồn tại lâu
dài trên thế gian. Có một người y theo giới
luật tu hành, thì Phật giáo có một phần
quang minh, có mười người thì có mười phần
quang minh, có trăm người, ngàn người, vạn
người, cho đến ai ai cũng đều y theo giới
luật tu hành, mà không hủy phạm, thì Phật
giáo có vô lượng vô biên quang minh, chiếu
phá tiêu diệt tất cả sự đen tối trên thế
gian. Cho nên giữ giới trong sạch, y theo
giới luật tu hành, là lời dạy cuối cùng,
quan trọng nhất của Ðức Phật. Giới là thầy
hiện tại của Tỳ Kheo tu hành.
Thứ Tư : Không nói năng gì với Tỳ Kheo ác
tính. Không đếm xỉa gì đến họ, lấy sự yên
lặng đối đãi với họ. Tỳ Kheo ác tính chẳng
cứ đạo lý, cho nên đừng đả động gì đến họ,
để họ tự sinh hổ thẹn, do đó sẽ làm ảnh
hưởng đến họ, khiến cho họ hồi tâm trở lại
giữ quy cụ, đó là biện pháp tốt nhất.
Ngài A Nan hỏi Phật bốn câu hỏi ; Phật đều trả
lời phó chúc, cho nên tất cả Kinh điển,
trước hết đều bắt đầu bằng câu :"Tôi nghe
như vầy". "Tôi nghe" là Ngài A Nan nói :
"Pháp như vầy là tôi A Nan thân tự nghe Ðức
Phật nói, chứ chẳng phải tôi tự bày vẽ tạo
ra". "Như vầy" là từ chỉ pháp, tức là nói bộ
Kinh này, gọi là tin thành tựu, bạn tin tức
là như vầy, không tin thì chẳng phải như
vầy. "Như " là bất biến (không thay đổi),
tùy duyên là "vầy". "Như vầy" tức là tùy
duyên không thay đổi, không thay đổi mà tùy
duyên, tức cũng là như như bất động, liễu
liễu thường minh. Và "như vầy" là một sự ấn
khả, tức là nếu bạn làm đúng khế hợp với tâm
của Phật tức là như vầy. Nếu trái với tâm
của Phật thì chẳng như vầy.
Ngài A Nan ít tuổi hơn đức Phật rất nhiều, khi
đức Phật ba mươi tuổi thành đạo, thì cũng
lúc ấy Ngài A Nan ra đời. Ngài A Nan hai
mươi lăm tuổi mới xuất gia, vậy hai mươi lăm
năm về trước, Kinh điển của Phật nói, Ngài
cũng chẳng nghe qua, sao Ngài lại đi kết tập
Kinh điển ? Ngài A Nan là em bà con chú bác
với Ðức Phật, tuy hai mươi lăm tuổi mới xuất
gia, nhưng Ngài thỉnh cầu đức Phật nói lại
hết những Kinh điển đã nói lúc trước. Do đó,
Phật dùng sức thần thông, nói lại hết những
Kinh điển đã nói lúc trước cho Ngài A Nan
nghe. Sức trí nhớ của Ngài A Nan tốt vô
cùng, một khi lọt vào tai thì vĩnh viễn
không bao giờ quên. Cho nên nói :"Phật pháp
như biển cả, chảy vào tâm A Nan". Hơn nữa
Ngài A Nan cũng là đại quyền thị hiện, vì
trong quá khứ tất cả chư Phật nói Kinh điển,
cũng đều do Ngài A Nan kết tập, hơn nữa mỗi
vị Phật thuyết pháp cũng đều như nhau, cho
nên Ngài A Nan khai ngộ rồi, đều nhớ lại tất
cả pháp tạng của tất cả Chư Phật đã nói
trong quá khứ.
Một thời, Ðức Phật ở tại thành Vương Xá,
trên núi Kì Xà Quật, cùng với đại chúng Tỳ
Kheo, một vạn hai ngàn người tụ tập.
"Một thời" là thời thành tựu. Cho nên không
nói rõ ngày tháng chính xác, là vì muốn
tránh nhà lịch sử học, truy tìm khảo chứng
gốc rễ không có ý nghĩa. Một thời này, tức
là lúc Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nói Kinh
Pháp Hoa, tức là vào lúc đó.
"Ðức Phật" là chủ thành tựu. "Phật" là nửa
tiếng Phạn, nói đầy đủ là Phật Ðà Gia". Phật
dịch là "giác". Giác thì có :
1. Bổn giác,
2. Thủy giác,
3. Cứu Kinh giác.
1. Bổn giác : Tức là giác ngộ Phật tánh vốn có
sẵn, không cần phải trải qua sự tu hành, mà
vẫn đầy đủ sự giác ngộ.
2. Thủy giác : Mới bắt đầu giác ngộ. Chúng ta
phát tâm muốn học Phật pháp, nghiên cứu Kinh
điển giáo lý, đó gọi là thủy giác.
3. Cứu Kính giác : Bắt đầu giác ngộ rồi, thì
ngày càng tinh tấn, ngộ hiểu Phật pháp, cho
đến khi hoàn toàn minh bạch Phật pháp thành
Phật, đó gọi là cứu kính giác. Lại có lối
nói khác :
1. Tự giác : Tự giác ngộ chân lý. Như hàng nhị
thừa (Thanh Văn, Duyên Giác) chỉ tự giác, mà
không thể giác tha, cho nên gọi là người
tiểu thừa.
2. Giác tha : Mình giác ngộ rồi, cũng phải đem
chân lý phát dương quang đại, giáo hóa chúng
sinh, khiến cho tất cả mọi người cũng đều
giác ngộ. Bồ Tát thì tự độ độ tha, tự lợi
lợi tha. Người tiểu thừa chỉ biết lợi mình
mà không biệt lợi người, chỉ muốn làm tự
liễu hán. Cho nên, Phật trách người tiểu
thừa là tiêu nhạ bại chủng, không thể hoằng
dương Phật pháp quảng đại.
3. Giác hạnh viên mãn : Ðó là sự viên mãn của
Phật. Ủức Phật thì ba giác tròn vạn đức đầy.
Vị Phật này là chỉ ai ? Tức là Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni, sinh ra tại Ấn Ðộ, thái tử
của vua Tịnh Phạn, tên là Tất Ðạt Ða, mười
chín tuổi xuất gia, ba mươi tuổi thành đạo,
thuyết pháp bốn mươi chín năm, giảng Kinh
hơn ba trăm hội.
"Ở tại thành Vương Xá, trên núi Kì Xà Quật".
Thành Vương Xá tức là kinh đô nước Ma Kiệt
Ðà, là thành của vua Tần Bà Sa La ở, bốn
phía thành có năm dãy núi lớn bao bọc, núi
hướng đông bắc là núi Linh Sơn. Núi Kì Xà
Quật tức cũng là núi Linh Thứu (Linh Sơn),
vì núi hình giống như con chim Thứu, cho nên
gọi là núi "Linh Thứu". "Thành Vương Xá núi
Kì Xà Quật" là xứ thành tựu.
"Cùng với chúng Ðại Tỳ Kheo một vạn hai ngàn
người tụ tập", là chúng thành tựu. Những
Kinh điển khác đa số đều nói là hai trăm năm
mươi người tụ tập, nhưng đặc biệt người
trong hội Pháp Hoa nhiều hơn, tới một vạn
hai ngàn người tụ tập. Ðại Tỳ Kheo tức là Tỳ
Kheo đã chứng quả A La Hán. Tỳ Kheo là tiếng
Phạn có ba nghĩa :
1. Khất sĩ : Tỳ Kheo chẳng nấu nướng, mỗi ngày
đến giờ ăn, thì ôm bát đi vào trong thành,
hoặc làng quê khất thực hóa trai, làm như
thế không những thân an đạo tồn, mà còn
phước lợi cho thí chủ. Phật chế Tỳ Kheo ngày
ăn một bữa, quá ngọ không ăn, đó là hành
hạnh đầu đà (khổ hạnh).
2. Bố ma : Người xuất gia, khi thọ giới Tỳ
Kheo thì tam sư thất chứng hỏi rằng :"Con có
phải là đại trượng phu chăng ?" Ðáp :"là đại
trương phu". Hỏi :"Con đã phát tâm bồ đề
chưa ?" Ðáp :" Ðã phát tâm bồ đề". Trong lúc
Yết Ma vấn đáp, bạn đáp nói đã phát tâm bồ
đề, thì lúc đó có địa hành Dạ Xoa truyền lời
cho không hành Dạ Xoa, không hành Dạ Xoa
truyền lời cho thiên ma lục dục thiên nghe,
nói rằng :"Ở nhân gian lại có thêm người
xuất gia, quyến thuộc của Phật lại tăng
thêm, còn quyến thuộc của chúng ta lại giảm
bớt". Ma vương nghe lời nói đó, thì sinh tâm
đố kị và sợ hãi, cho nên gọi là bố ma.
3. Phá ác : Phá ác gì ? Tức là phá phiền não
ác, vô minh ác và tham sân si ba ác độc.
Trước mỗi bộ Kinh đều có sáu thành tựu, đó là
: Tin thành tựu, nghe thành tựu, thời thành
tựu, chủ thành tựu, xứ thành tựu, và chúng
thành tựu. Có sáu thứ thành tựu nầy, đức
Phật mới nói pháp. Nếu thiếu một trong sáu
thứ không thành tựu, thì không thể nói pháp.
Ðều là A La Hán, các lậu đã hết, chẳng còn
phiền não. Sớm được lợi mình, hết những sự
ràng buộc trong các cõi, tâm được tự tại.
"Ðều là A la hán", đây là khen ngợi công đức
của bậc A la hán. A la hán là tiếng Phạn,
cũng có ba ý nghĩa như Tỳ Kheo. Tỳ Kheo tức
là nhân của A la hán, A la hán tức là quả
của Tỳ Kheo.
1. Ứng cúng : Lúc tại nhân địa thì Tỳ Kheo là
khất sĩ. Tại quả địa thì A la hán là ứng
cúng, tức là xứng đáng thọ nhận sự cúng
dường của trời người. Cũng gọi là "cúng
ứng", tức là đi cúng dường những Tỳ Kheo
khác. Lúc đức Phật còn ở đời, thì tất cả Tỳ
kheo đều cúng dường đức Phật, nhưng có một
lần nọ, đức Phật biến thành một đạo nhân,
chuyển sự cúng dường đến tất cả các vị Tỳ
kheo, cho nên gọi là "cúng ứng".
2. Sát tặc : Giết tặc vô minh, tặc phiền não,
tặc mắt tai mũi lưỡi thân ý sáu tên tặc. A
la hán hoàn toàn tiêu diệt, giết sạch hết
những tên tặc nầy. Chẳng những giết "tặc",
mà cũng giết "chẳng phải tặc". Thế nào là
"chẳng phải tặc" cũng giết ? Vì những thứ đó
hàng tiểu thừa nhận rằng chẳng phải tặc,
nhưng tại Phật và Bồ Tát nhìn lại, thì cũng
đều là tặc, cho nên "chẳng phải tặc" cũng
phải giết.
3. Vô sinh : Chứng được tứ quả A la hán, thì
ngộ vô sinh pháp nhẫn. Ở trong ba ngàn đại
thiên thế giới, chẳng thấy có chút pháp
sinh, cũng chẳng thấy có chút pháp diệt.
Cảnh giới nầy nói chẳng ra, giảng chẳng
được, nhưng chỉ có thể nhẫn thọ nơi tâm, cho
nên gọi là vô sinh pháp nhẫn.
A la hán có bốn bậc :
Sơ quả,
Nhị quả,
Tam quả và
Tứ quả.
Sơ quả A la hán còn gọi là quả Tu đà hoàn, là
bước đầu tiên của A la hán. Chứng được sơ
quả A la hán, thì sinh tử vẫn chưa dứt. Cho
nên gọi là "kiến đạo vị" (bậc thấy đạo). Tu
đà hoàn là tiếng Phạn, dịch là "nhập lưu",
nhập vào dòng Thánh nhân pháp tính, ngược
dòng phàm phu sáu trần. Sáu trần tức là :
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
Sắc trần : Người chứng được sơ quả chẳng nhập
vào sáu trần, bậc ấy có một thứ định lực,
bất cứ sắc đẹp nào ở trước mắt, cũng chẳng
động tâm.
Thanh trần : Một số người thích nghe tiếng âm
nhạc ca khúc êm tai. Nhưng người chứng được
sơ quả, bất cứ tiếng hay dở tốt xấu thị phi,
cũng đều chẳng lay động, chẳng bị thanh trần
lay chuyển, mà chuyển được thanh trần.
Hương trần : Con người thích ngửi hương thơm,
nhưng mùi hôi thối thì khởi tâm chán ghét,
có tâm hoan hỉ và chán ghét, thì có tâm
thích ghét, khởi tâm thích ghét thì bị hương
trần lay chuyển.
Vị trần : Bình thường con người ăn vật ngon,
thì ham ăn nhiều, nhưng khi ăn đến vật không
ngon thì không thích ăn, đó lại bị vị trần
lay chuyển.
Xúc trần : Người bình phàm tham trước xúc
giác, cho đến tham luyến tình ái giữa nam nữ
không xả bỏ, tham trước xúc chạm vàng bạc
báu vật mỹ lệ nhỏ nhẵn. Ðó đều là nhìn chẳng
xuyên thủng, không chuyển được xúc trần.
Pháp trần : Chấp trước vào đủ thứ pháp, đó tức
là pháp trần. Sơ quả A la hán chẳng bị sáu
trần ở trên lay chuyển, bậc ấy đạt đến cảnh
giới nầy.
Nếu có người nói họ tự chứng quả, hoặc đắc đạo
khai ngộ, phải chứng nghiệm họ có chân thật
chăng, thì hãy làm cho họ một phần thức ăn
ngon thượng hạng, và một phần thức ăn khó ăn
nhất. Xem thử họ chọn món nào ? Nhưng đừng
cho họ biết bạn đang thử họ, nếu họ biết
được, thì họ sẽ chuyên ăn món thức ăn khó
ăn, cũng là bị hương vị trần lay chuyển. Ðây
tức là tạo tác, đeo mặt giả để lường gạt
người. Vì chẳng bị vị trần lay chuyển, thì
dù một chút phân biệt lựa chọn cũng chẳng
có, ngon dở đều ăn, đó mới có thể chứng
minh, người tu hành có một chút công phu.
Cho nên, chứng được sơ quả Thánh nhân, thì
phải có chứng cứ, chẳng phải ai cũng có thể
nói mình đã chứng quả khai ngộ.
Nhị quả A la hán, còn gọi là quả Tư đà hàm, Tư
đà hàm là tiếng Phạn, dịch là "Nhất lai",
nếu như không hướng về trước tu hành, thì
vẫn còn phải một lần sinh lên cõi trời, một
lần sinh xuống nhân gian, cho nên nhị quả là
quả nhất lai. Sơ quả thì còn bảy lần thọ
sinh tử.
Tam quả A la hán, gọi là quả A na hàm, cũng là
tiếng Phạn, dịch là "Bất lai", chẳng còn thọ
sinh tử trong cõi dục nữa. Sơ quả là "bậc
thấy đạo", nhị quả và tam quả là "bậc tu
đạo", tứ quả là "bậc vô học", không cần học
nữa, đã chấm dứt sinh tử. Nhưng tứ quả chỉ
đoạn được "phần đoạn sinh tử", còn "biến
dịch sinh tử" vẫn chưa đoạn trừ được. Bây
giờ giải thích sơ lược về hai loại sinh tử :
1. Phần đoạn sinh tử : Mỗi người đều có một
phần thân hình của mình, thân hình đó đều có
sự phân biệt, mạng sống đều có sự giới hạn.
2. Biến dịch sinh tử : Ở trong tâm, niệm trước
diệt, thì niệm sau sinh, niệm sau diệt, thì
niệm sau nữa lại sinh, niệm niệm sinh diệt
biến đổi không ngừng. Bồ Tát đã đoạn trừ
được biến dịch sinh tử.
Người chứng được tứ quả A la hán, thì có thần
thông biến hoá không thể nghĩ bàn, cảnh giới
vi diệu khó tả. Ngài có ngũ nhãn lục thông,
lại có thể vọt thân lên hư không mà đi. Ngài
có thể trên thân phun ra lửa, dưới thân phun
ra nước; trên thân phun ra nước, dưới thân
phun ra lửa. Tóm lại, ở trong hư không Ngài
có mười tám thần thông biến hoá. Vì tứ quả A
la hán có thần thông, cho nên liệt vào một
trong bốn bậc Thánh trong Phật giáo : Phật,
Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn.
Trước kia, có một vị A la hán dẫn theo một vị
đệ tử mới thu nhận, cùng đi du hành, vị đệ
tử đó mang hành lý đi trên đường bèn nghĩ :
"Hành Bồ Tát đạo là tối vô thượng, ta nhất
định phải phát tâm tu Bồ Tát đạo, để độ tất
cả chúng sinh". Vị đệ tử nghĩ như thế, thì
vị A la hán lập tức biết được. Bèn nghĩ :
"Vị đệ tử hiện tại phát tâm bồ đề, mà ta chỉ
là A la hán, ta phải mang hành lý". Do đó,
bèn lấy hành lý từ vị đệ tử và mang trên
vai. Ði được một đoạn đường, vị đệ tử lại
nghĩ : "Ngài Xá Lợi Phất vừa mới hành Bồ Tát
đạo, thì có người đến xin Ngài con mắt, móc
ra con mắt trái cho, thì người đó không
muốn, còn nói không phải, nói là muốn con
mắt bên phải. Ôi ! Bồ Tát đạo thật là khó
hành khó nhẫn. Hay là ta không nên tu Bồ Tát
đạo, mà tu pháp A la hán, làm tự liễu hán
cho xong". Vị Thầy A la hán lập tức biết
được tâm niệm của đệ tử, từ lớn lùi xuống
nhỏ, cho nên đưa hành lý lại cho vị đệ tử
mang. Vị đệ tử mang hành lý chưa được bao
lâu, lại phát khởi lại tâm Bồ Tát, vị A la
hán biết, lại mang hành lý thế cho vị đệ tử.
Cứ đưa qua lấy lại như vậy mấy lần, khiến
cho vị đệ tử nghĩ rất là kỳ lạ, bèn hỏi :
"Sư phụ ! Một lúc thì Thầy mang hành lý, một
lúc lại đưa cho con, bây giờ Thầy lại mang,
đó chẳng phải là làm phiền chăng, con thật
không hiểu". Vị La hán đáp : "Trên đường đi,
có lúc con phát tâm Bồ Tát, hồi tiểu hướng
đại, cho nên hành lý phải đưa cho ta người
hành pháp A la hán mang. Ði được một đoạn
đường, con lại hồi đại hướng tiểu, chẳng
muốn tu Bồ Tát đạo mà muốn tu pháp A la hán,
cho nên hành lý phải đưa cho con mang. Hiện
tại con lại phát khởi tâm lớn, thì hành lý
phải đưa cho ta mang". Vị đệ tử nghe xong,
mới biết sư phụ của mình thật sự có lai
lịch, do đó vị đệ tử phát tâm đại bồ đề,
hành Bồ Tát đạo.
Khi kết tập Kinh điển Tôn Giả A Nan chưa chứng
được tứ quả, chưa đắc được lậu tận thông.
Lúc kết tập tạng Kinh, mọi người tuyên bố
rõ, chỉ có những người chứng được tứ quả A
la hán, mới có thể tham gia. Mà Tôn Giả A
Nan chỉ chứng được tam quả, cho nên mọi
người chẳng cho Ngài A Nan vào. Ngài đứng ở
ngoài cửa lo lắng vạn phần, nghĩ : "Biết làm
sao ? Hết thảy Kinh điển của Phật nói, ta
đều nhớ hết. Nhưng bây giờ, chỉ vì ta chưa
chứng được tứ quả A la hán, nên không thể
tham gia pháp hội kết tập tạng Kinh, làm thế
nào bây giờ ?" Trong lúc cấp bách như thế,
thì Ngài lập tức chứng được tứ quả A la hán.
Do đó, Ngài nói : "Hiện tại tôi đã chứng
được tứ quả A la hán rồi, các Ngài hãy mở
cửa cho tôi vào đi !" Các vị đại A la hán ở
bên trong nói : "Nếu ông chứng được tứ quả,
thì cần gì phải mở cửa để vào ? Ông hãy vào
lỗ ổ khoá cửa đi !" Ngài A Nan nghe, nghĩ :
"Ðúng đó ! Hà tất phải mở cửa ?" Do đó, Ngài
bèn vận dụng thần thông đi vào lỗ ổ khoá
cửa. Cho nên người chứng được quả A la hán,
ra vào không cần phải mở cửa. Nếu có người
nói đã chứng quả, nhưng phải mở cửa mới có
thể ra vào, thì biết người đó đại vọng ngữ,
nói lời giả dối.
Chứng được tứ quả A la hán, mới có thể sạch
hết các lậu, phiền não tức là lậu, có tám
vạn bốn ngàn thứ phiền não, thì có tám vạn
bốn ngàn thứ lậu. Sinh ra phiền não tức là
lậu đi xuống, gọi là hữu lậu, rớt (lậu)
xuống cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc. Hết thảy
tất cả mao bệnh, tâm dục niệm, tham luyến mỹ
vị, tiếng hay, nhà tốt, xe cộ .v.v., đều gọi
là lậu. Những gì bạn ưa thích tham muốn,
hoặc buông bỏ chẳng được, đều gọi là lậu.
Hết thảy tập khí ác mao bệnh quái lạ, như
thích hút thuốc, uống rượu, bài bạc, tìm
người nữ, đó đều gọi là lậu. Người nữ thích
tìm người nam cũng là lậu, người nữ mỗi
tháng đều có kinh nguyệt, cho nên người nữ
càng nhiều lậu. Người nam chẳng buông bỏ
được tâm dâm dục, đây gọi là lậu lớn nhất.
Thân thể của chúng ta gọi là thân hữu lậu,
mắt, tai, mũi, miệng, nơi đại tiểu tiện đều
gọi là lậu. Nói rõ ra là trong tâm của bạn
khởi vọng tưởng, giữ gìn chẳng được tinh khí
thần của chính mình, đây gọi là lậu. Những
thứ lậu nầy cũng giống như dưới đáy bình có
lỗ hổng, có bao nhiêu nước trong bình đều rỉ
ra hết bấy nhiêu, làm được bao nhiêu công
đức thì lậu ra hết bấy nhiêu. Lậu có quá
nhiều, đếm cũng đếm không hết, kỳ thật chẳng
phải chỉ có tám vạn bốn ngàn thứ. Song, bậc
A la hán đã hết các lậu, "Ðã hết" chẳng phải
nói là đã lậu hết ; mà là đã hoàn toàn chẳng
còn lậu nữa. Chẳng phải nói lậu ra hết, thì
gọi là hết ; mà là vốn đã chẳng còn lậu nữa,
vốn chẳng lậu nữa, đây mới gọi là "hết lậu".
Cho nên mọi người xem Kinh phải đặc biệt
hiểu rõ ý nghĩa nầy. Lậu tận thông tức là
các lậu đã hết, phải chứng được tứ quả A la
hán mới đắc được. Hiện tại một vạn hai ngàn
vị đại A la hán, các lậu đều đã hết, bậc
Thánh nhân chẳng còn chút tập khí mao bệnh
nào.
Những vị đại A La Hán này, vì đều đã đắc được
lậu tận thông, cho nên chẳng còn phiền não.
"Chẳng còn" nghĩa là chẳng có nữa. Những gì
cần làm các Ngài đã làm xong, chẳng còn thọ
thân sau nữa. Sinh tử đã dứt, cho nên chẳng
có phiền não. Phiền não cứu kính có bao
nhiêu ? Có tám vạn bốn ngàn, nhưng tổng quát
lại thì tức là vô minh. Vô minh sinh ra tất
cả phiền não, phân ra thành ba loại, tức là
tham, sân, si, ba độc. Ba độc này che lấp
Phật tánh của mọi người. Chúng ta từ vô thủy
cho đến hiện tại, chưa thành Phật là vì có
ba thứ phiền não này. Ba thứ độc này, độc
hại con người sinh ra trong cơn say, chết đi
trong ảo mộng, khiến cho không thể trở về
nguồn cội, khôi phục lại bộ mặt thật của
thuở nào. Nhưng nếu tu ba học vô lậu : Giới,
định, huệ thì có thể diệt trừ ba độc này,
khôi phục lại thanh tịnh.
Giới : Tức là chấm dứt làm các điều ác, phòng
ngừa việc quấy, đối trị với tâm tham. Tâm
tham tức là tham mà không chán, không biết
đủ. Người nhiếp chánh có dã tâm lớn, đều
muốn nuốt chiếm đoạt đất đai tài sản của
nước khác. Người tham lam luôn luôn muốn tất
cả vật chất của thế giới quy thuộc về mình.
Có tâm tham thì sẽ sinh ra niệm tà, tham tài
vật không thể có được. Vì sao sinh ra tham ?
Là vì không hiểu về giới. Giới thì chấm dứt
làm các điều ác, phòng ngừa việc quấy, kêu
bạn nên biết đủ, đừng tham lam. Bạn giữ được
giới luật thì có thể chiến thắng lòng tham
của bạn.
Ðịnh : Tức là có định lực, chẳng có định lực
thì sẽ nổi giận, thấy người thấy việc đều
cảm thấy không vừa mắt. Nếu chẳng có ai,
mình thấy không vừa mắt thì sẽ nổi giận. Có
người không những chính mình nổi giận mà còn
đánh mình nữa, cho một bạt tai vào má trái,
lại sợ má phải "ăn dấm" cho nên lại bồi cho
một bạt tai.
"Ăn dấm" là một câu chuyện vào thời xưa của
Trung Quốc. Vào đời Ðường, có một ông quan
đại thần là thuộc hạ của vua, ông ta rất sợ
vợ vô cùng. Ông quan này, nếu mỗi lần về nhà
trễ, thì vợ của ông ta bắt ông ta quỳ ở
trước giường, cho đến khi bà ta bảo thôi,
thì ông ta mới dám đứng lên. Ông quan này,
ban ngày thấy hoàng đế thì phải lạy, ban đêm
về nhà trễ thì phải quỳ vợ. Ông quan này rất
thân với hoàng đế, do đó đem tình hình trên
nói với hoàng đế, hoàng đế lập tức nói có
biện pháp. Sang ngày sau, hạ thánh chỉ gọi
vợ của ông quan vào cung, hoàng đế nói với
bà ta :"Chồng của bà chẳng làm bậy với người
nữ, cũng chẳng làm việc sai quấy, chỉ về nhà
trễ mà thôi, sao bà lại bắt ông ta phạt quỳ
trước giường ? Ðó thật là chẳng đúng, nếu về
sau bà không tái phạm nữa, thì trẫm tha thứ
bà vô tội, còn nếu về sau cũng như thế thì
trẫm bắt ngươi chết, bà phải uống thuốc độc
dưới tay của trẫm". Bà ta nói :"Tốt ! Tôi
chịu uống thuốc độc, dù tôi có chết cũng
phải nghiêm trị ông ta". Do đó, bèn bưng bát
thuốc độc uống một hơi cạn sạch. Nhưng uống
xong rồi vẫn không chết, chỉ cảm thấy bụng
chua chua. Nguyên do, chẳng phải là thuốc
độc mà là một chén dấm. Hoàng đế cố ý nói
dấm là thuốc độc để thử bà ta có dám uống
chăng, không ngờ bà ta có chí khí sắt đá, dù
bà ta có thể uống thuốc độc chết, cũng phải
nghiêm trị chồng, cho nên từ đó về sau,
Trung Quốc lưu truyền về chuyện "uống dấm"
này, nghĩa là vợ rất là nghiêm nghị đối với
chồng.
Vậy người rất nóng giận sao lại phải đánh mình
? Vì y chẳng có định lực, do đó thấy người,
thấy việc, thấy mình, đều cảm thấy chẳng vừa
mắt. Cho nên, phải tu định, khi có định lực
thì không nổi tâm sân hận, mà hàng phục được
con ma sân hận.
Huệ : Vì sao ngu si ? vì chẳng có trí huệ,
suốt ngày đến tối khởi vọng tưởng, làm chi
phối tâm không được nghỉ ngơi, đều vì chẳng
có trí huệ, cho nên đối với bất cứ việc gì,
đều nhận thức không rõ ràng, hồ đồ điên đảo.
Người có trí huệ thì : "việc đến thì ứng,
việc đi thì lặng". Việc gì đến thì ứng phó
nó, đều đón nhận mà giải quyết ; việc đi rồi
thì để tâm nghỉ ngơi, không bắt tâm phải làm
nô lệ cho thân thể. Bây giờ tôi nói với bạn
một câu sự thật :"Ngu si là gì ? tức là trí
huệ". Bạn sẽ nói :"Thầy lại nói hồ đồ rồi,
nếu như ngu si là trí huệ, trí huệ là ngu
si, thì sao lại còn phải học trí huệ mà vứt
bỏ ngu si ?"
Bạn đừng cho rằng tôi nói pháp lộn xộn, tôi
nói ngu si này, bổn thể của nó, có thể biến
thành trí huệ, chẳng phải nói lìa khỏi ngu
si mà đi tìm trí huệ riêng ngoài. Trí huệ
vốn ở trong ngu si, song, bạn không biết
dùng nó, nếu bạn dùng nó được thì nó tức là
trí huệ, không dùng được nó tức là ngu si.
Ví như định tức cũng là sân, sân cũng tức là
định. Bạn muốn đắc được định lực, thì hãy
biến cái sân hận thành định lực. Bạn thật
muốn trì giới thì trong sự tham biến thành
giới, chứ chẳng phải đi tìm bên ngoài. Tất
cả những thứ này đều nằm ở trong tự tánh của
bạn. Bạn dùng được nó tức là giới định huệ,
không dùng được tức là tham sân si. Diệu lý
là tại chỗ này, bạn không minh bạch cũng tại
chỗ này.
Những vị A La Hán này vì các lậu đã sạch,
chẳng còn phiền não, cho nên những gì cần
làm đã làm xong. Tại sao chúng ta tự mình
không đắc được lợi ích ? Vì lúc được, lúc
mất, lúc có, lúc không. Thế nào mới gọi là
chân chánh đắc được lợi ích cho chính mình ?
Tức là hiểu biết thật sự, đắc được trí huệ
chân thật, chứng được quả A La Hán, mình
giác ngộ rồi lại lợi ích chính mình.
"Dứt sự ràng buộc trong các cõi". Gì gọi là sự
ràng buộc trong các cõi ? Tức là nghiệp và
chướng, tức là dục giới, sắc giới và vô sắc
giới, còn gọi là tam hữu (ba cõi). Tam hữu
phân ra thì có hai mươi lăm cõi. Dục giới có
mười bốn cõi : Tức là :
Bốn đại châu (Ðông Thắng Thần châu,©
Nam Thiệm Bộ châu, Tây Ngưu Hóa châu, Bắc Câu
Lưu châu),
Bốn đường ác (A©
tu la, súc sinh, ngạ quỷ, điạ ngục),
Sáu cõi trời dục giới (Tứ Thiên©
Vương, Trời Ðao Lợi, Trời Dạ Ma, Trời Ðâu
Xuất, Trời Hóa Lạc, Trời Tha Hóa Tự Tại).
Sắc giới có bảy cõi : Tức là :
Trời Tứ Thiền (Trời Sơ Thiền, Trời Nhị Thiền,
Trời Tam Thiền, Trời Tứ Thiền),
Trời Ðại Phạm
Trời Vô Tưởng
Trời Ngũ Bất Hoàn.
Vô sắc giới có bốn cõi : Tức là :
Trời Tứ Không Xứ (Trời Không Vô Biên Xứ, Trời
Thức Vô Biên Xứ,ª
Trời Vô Sở Hữu Xứ, Trời Phi Tưởng Phi Phi
Tưởng Xứ).
Dứt sự ràng buộc trong các cõi, tức là vượt ra
khỏi ba cõi, không còn ở trong cõi dục, cõi
sắc và cõi vô sắc. Do đó : "Vượt ra khỏi ba
cõi, không ở trong ngũ hành", như thế mới
thật sự chấm dứt sinh tử.
Có những người chẳng minh bạch về Phật pháp,
cho rằng tu đến Trời Tứ Thiền là cao siêu
nhất rồi. Kỳ thật, đó vẫn còn ở trong tam
giới hai mươi lăm cõi, căn bản họ chẳng biết
gì là tốt, trong sự tu hành có thể nói là xa
lại càng xa, song, những người đó hồ đồ, nói
với mọi người rằng đã đạt tới cảnh giới cao
nhất. Giống như Tỳ Kheo Vô Văn, lấy tứ thiền
làm tứ quả, đến được cảnh giới tứ thiền, cho
rằng đã chứng tứ quả, khi ông ta bị đọa lạc
thì phỉ báng Phật rằng :"Phật nói chứng được
tứ quả thì dứt sinh tử, sao tôi bây giờ còn
đọa lạc ?" Phỉ báng Phật thì càng đọa lạc
vào ba đường ác, vĩnh viễn không ra khỏi,
không những chỉ một mình Tỳ Kheo Vô Văn đọa
vào địa ngục, mà bao nhiêu đồ đệ theo ông ta
cũng đi theo vào địa ngục. Do đó có câu :
"U mê truyền cho u mê,
Một truyền hai chẳng hiểu,
Ông thầy đọa địa ngục,
Ðệ tử cũng theo vào".
"Tâm được tự tại". Những vị A La Hán này,
trong tâm khoái lạc vô biên, tiêu giao tự
tại, giống như Bồ Tát Quán Tự Tại, suốt ngày
đến tối ngồi tham thiền, rất khoái lạc vô
ngần, chẳng có tơ hào phiền não, tâm thật sự
đắc được tự tại, trí huệ. Sự khoái lạc ở
đây, bên trong thật sự tự tại, chứ chẳng
phải bên ngoài cố ý tạo tác la lên om sòm.
Bạn đừng cho rằng suốt ngày đến tối la lối,
tức là khoái lạc, ngược lại, đó là phiền não
điên đảo ! Tại sao ? Bạn thấy được việc của
bạn thích thì bị nó chuyển, chính mình còn
chẳng có định lực, mà còn la lối cười điên
lên, đó thật sự có gì khoái lạc ? Chẳng có
gì cả !
Tên của các Ngài là : A Nhã Kiều Trần Như,
Ma Ha Ca Diếp, Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp, Già
Da Ca Diếp, Na Ðề Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Ðại
Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Chiên Diên, A Nậu
Lâu Ðà, Kiếp Tân Na, Kiều Phạm Ba Ðề, Ly Bà
Ða, Tất Lăng Già Bà Tha, Bạt Câu La, Ma Ha
Câu Hi La, Nan Ðà, Tôn Ðà La Nan Ðà, Phú Lâu
Na Di Ða La Ni Tử, Tu Bồ Ðề, A Nan, La Hầu
La.
Những tên vừa cử ra ở trên là đại chúng, hai
mươi mốt vị đại Thanh Văn đệ tử của đức
Phật, ở trong một vạn hai ngàn người của đại
hội Pháp Hoa.
1. "A Nhã Kiều Trần Như".
Ngài là một trong năm vị đầu tiên, được đức
Phật độ trước nhất. Ðức Phật ở dưới cội bồ
đề thấy sao mai mọc mà ngộ đạo, do đó Phật
thốt lên ba lần lành thay :"Hết thảy chúng
sinh đều có Phật tánh, đều có thể thành
Phật". Ðức Phật chỉ nói hết thảy chúng sinh
đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật, chứ
chẳng phải nói tất cả chúng sinh tức là
Phật, song, có những đệ tử của Phật sau này
hoặc là Phật giáo đồ nói :"Ai ai cũng đều là
Phật, người và Phật chẳng có khác biệt ". Ðó
tức là kẻ đui dẫn người mù, muốn lòa mắt
thiên hạ.
Ðức Phật thốt lên ba lần lành thay, rồi dùng
Diệu quán sát trí quán sát, biết trước hết
phải đến vườn Lộc Uyển độ năm anh em Kiều
Trần Như. Vì sao ? Vì trong quá khứ năm vị
này chuyên môn phá hoại và phỉ báng Ðức
Phật. Trong vô lượng kiếp về trước, tuy
nhiên sáu người cùng phát tâm tu đạo, nhưng
năm người họ liên kết với nhau khinh khi
Phật, có khi đánh Ngài, mắng Ngài, ăn thịt
Ngài hoặc uống máu của Ngài, song, đức Phật
không những không khởi tâm oán giận họ, mà
ngược lại Ngài phát nguyện nói :"Các vị thật
trợ giúp cho ta tu hành ! Nếu ta tương lai
có thể thành Phật, thì nhất định phải độ các
vị trước hết. Hiện tại các vị đối với ta
không tốt, nhưng ta chẳng phiền não oán giận
chút nào, ngược lại ta càng đối xử tốt với
các vị ". Ðức Phật nhẫn nhục được như thế
thật là quá vĩ đại, chúng ta mỗi người tu
đạo hãy học theo gương tốt ấy.
Lại có câu chuyện về vua Ca Lợi và Tiên Ông
nhẫn nhục. Thuở xưa, Ðức Phật tu hành thì
chuyên tu pháp môn nhẫn nhục, cho nên gọi là
Tiên Ông nhẫn nhục. Một ngày nọ, vua Ca Lợi
(tiền thân của Kiều Trần Như) đem một số
cung phi mỹ nữ vào rừng săn bắn, trong sự vô
ý các cung phi mỹ nữ thấy Tiên Ông nhẫn nhục
đang ngồi thiền, do đó bèn quây quần ông ta
để hỏi đạo. Vua Ca Lợi cho rằng Tiên Ông
nhẫn nhục dụ dỗ phi tần của vua, bèn sinh
tâm đố kị, do đó bèn chặt tay chân tứ chi
của Tiên Ông nhẫn nhục. Mỗi khi vua chặt một
chi thì hỏi :"Trong tâm ông có oán giận tôi
chăng ?" Tiên Ông nhẫn nhục đáp :"Tôi chẳng
giận ông, nếu tôi không sân hận thì tứ chi
của tôi hoàn lại như cũ, nếu có tâm sân hận
thì tứ chi của tôi không thể hoàn lại như
cũ". Vừa nói xong thì quả nhiên tay chân tứ
chi hoàn lại như cũ, lúc đó tất cả Hộ Pháp
thiện thần phẫn nộ vua Ca Lợi, bèn mưa đá
xuống chỗ của vua Ca Lợi để trừng phạt vua
Ca Lợi. Nhưng Ðức Phật cầu thỉnh với các vị
thiện thần :"Ðừng trách ông ta, ông ta đến
khảo nghiệm tôi, để tôi thành tựu đạo
nghiệp. Tương lai khi tôi thành Phật, thì
trước hết tôi sẽ độ ông ta". Tuy nhiên Ngài
A Nhã Kiều Trần Như đối xử rất thậm tệ với
Phật, nhưng Ðức Phật thành Phật rồi thì độ
ông ta trước nhất. "A Nhã" nghĩa là "giải
bổn tế" cũng gọi là khai ngộ đầu tiên.
2. "Ma Ha Ca Diếp".
Ma Ha nghĩa là "lớn" (đại), do đó Ma Ha Ca
Diếp tức là Ðại Ca Diếp. Ca Diếp dịch là "ẩm
quang", còn gọi là "Ðại quy thị". Ðại Quy
Thị là họ của Ngài, vì khi tổ tiên của Ngài
tu đạo, thì thấy một con rùa lớn cõng trên
lưng một họa đồ, cho nên lấy đó mà làm họ.
Tên của Ngài Ðại Ca Diếp là Tí Bát La. Tí Bát
La là tên cây, vì cha mẹ của Ngài cầu nguyện
với cây này mà sinh ra Ngài, cho nên lấy Tí
Bát La làm tên, và trên thân của Ngài có
quang minh, che lấp hết các quang minh khác,
giống như uống (ẩm) hết tất cả quang minh
khác. Sao Ngài lại có quang minh ? Có câu
chuyện như vầy : Vợ của Ngài (Tỳ Kheo Ni Tử
Kim Quang) trong quá khứ là một người nữ rất
nghèo nàn. Sau khi Ðức Phật Tì Bà Thi diệt
độ, có người làm tháp thờ Phật và tạo tượng
Phật, trải qua thời gian lâu thì tháp cũng
hư hoại mà tượng cũng hư. Do đó, người nữ
này thấy vậy bèn phát bồ đề tâm muốn sơn sửa
lại tượng Phật ở trong Chùa, cho nên cô ta
đi các nơi xin tiền, mỗi ngày tiền xin được
thì mua vàng, khổ nhọc trải qua mười chín
năm, số vàng tích tụ cũng không ít, cô ta
mời một thợ đúc vàng đến để thếp vàng tượng
Phật. Khi thợ đúc vàng biết cô ta cực khổ
như thế, khiến cho ông ta rất cảm động, ông
ta bèn đi quyên mọi người thêm để tu bổ
tượng Phật, cho nên ông ta cũng phát tâm
muốn giúp đỡ cô ta làm. Hai người cùng nhau
trùng tu Chùa và tượng Phật lại đẹp đẽ rồi,
ông thợ vàng xin cầu hôn với người nữ nghèo
đó, người nữ nghèo cũng vui vẻ đáp ứng. Hai
người kết hôn rồi thì phát nguyện : đời đời
kiếp kiếp đều muốn làm vợ chồng. Vì thếp
vàng tượng Phật, cho nên hai người thân thể
đều phóng kim quang, do đó khi Ngài Ca Diếp
ra đời thì trên thân có kim quang (áng sáng
vàng). Sau khi Ngài lớn lên, cha mẹ của Ngài
muốn Ngài cưới vợ, Ngài nói :"Thân của con
phóng kim quang, thì phải tìm người nữ trên
thân cũng có kim quang, thì con mới cưới cô
ta, nếu không thì con sẽ sống độc thân".
Thời gian sau tìm được một người nữ trên
thân cũng phóng kim quang, cho nên hai người
kết hôn với nhau. Hai người kết hôn rồi đều
cùng xuất gia tu đạo, chứng được quả vị A La
Hán rồi, mới biết trong quá khứ đã từng phát
nguyện, đời đời kiếp kiếp đều muốn làm vợ
chồng.
Bạn đừng lầm rằng họ phát nguyện đời đời kiếp
kiếp làm vợ chồng mà nói rằng :"Tương lai
tôi gặp người nam (người nữ), tôi cũng muốn
y phát nguyện như thế, đời đời kiếp kiếp đều
làm vợ chồng". Tuyệt đối đừng như thế, họ
phát nguyện đời đời kiếp kiếp làm vợ chồng
là muốn tu đạo, đều phải quy y Tam Bảo, xuất
gia tu đạo, bạn đừng phát nguyện đời đời
kiếp kiếp làm vợ chồng, vì càng làm càng đọa
vào địa ngục, phải xuất gia tu đạo mới có
thể, cho nên Ngài Ca Diếp và vợ của Ngài
xuất gia đều chứng quả.
Ngài Ma Ha Ca Diếp là vị Tổ thứ nhất. Bạn có
muốn gặp vị Tôn Giả này chăng ! Bây giờ Ngài
vẫn còn ở trong thế giới này, Ngài đang ngồi
thiền nhập định trong núi Kê Túc ở Tỉnh Vân
Nam Trung Quốc. Ngài đợi đến khi Bồ Tát Di
Lặc ra đời thành Phật, thì đem y bát của
Phật Thích Ca giao cho Ðức Phật Di Lặc. Bây
giờ Ngài vẫn chưa viên tịch. Nếu các bạn ai
thành tâm đến núi Kê Túc lạy Ngài Ma Ha Ca
Diếp, thì có thể sẽ thấy được Ngài. Tại núi
Kê Túc thường có ba thứ quang minh : Quang
minh của Phật, quang minh màu vàng và quang
minh màu bạc. Nếu ai có thành tâm, không
những có thể thấy quang minh, mà còn có thể
nghe tiếng chuông. Tiếng chuông đó dù ở
ngoài mấy trăm dặm cũng có thể nghe được.
Ngài Ca Diếp là người lớn tuổi nhất trong số
đệ tử của Ðức Phật, cũng là người tu khổ
hạnh bậc nhất. Nhưng Ngài càng già thì càng
có tinh thần sức lực. Cha mẹ của Ngài, người
ở nước Ma Kiệt Ðà, giàu có vô cùng, có thể
nói "Phú khả địch quốc", mà vua nước Ma Kiệt
Ðà cũng từng lạy Ngài làm thầy, nhưng từ khi
Ngài theo Phật xuất gia tu đạo, thì không
những đem tài sản ra bố thí mà còn chuyên
môn hành đầu đà khổ hạnh, chịu khổ chịu cực.
Một ngày nọ, khi Ðức Phật thuyết pháp thì
đức Phật chia cho Ngài nửa tòa ngồi, kêu
Ngài Ca Diếp cùng ngồi. Lúc đó Ngài Ca Diếp
đã già lắm, khoảng một trăm bốn mươi lăm
tuổi. Ðức Phật nói với Ngài Ca Diếp :"Ông
tuổi đã quá lớn rồi, tinh thần chắc chắn
không được sung túc, ông hành đầu đà khổ
hạnh sợ chịu không được. Ông đừng hành khổ
hạnh nữa, thay đổi ăn uống ngon một chút,
mặc tốt hơn một chút, ở chỗ thích hợp hơn
một chút !" Nhưng Ngài cũng nghe lời của Ðức
Phật, Ngài vẫn cứ hành khổ hạnh. Do đó, Ngài
được Ðức Phật khen ngợi :"Phật pháp của ta
trụ thế lâu dài, là có quan hệ rất lớn với
sự tu hành đầu đà khổ hạnh của Ðại Ca Diếp.
Nếu cứ tu hành đầu đà khổ hạnh như thế, thì
Phật pháp của ta nhất định trụ thế lâu dài".
Cho nên, Tổ Sư Ma Ha Ca Diếp là người tu
hành đầu đà khổ hạnh bậc nhất.
Một lần nọ, đức Phật đang muốn thuyết pháp,
thì có một vị trời Ðại Phạm Thiên, lấy cành
hoa Kim Ba La đến cúng dường Ðức Phật. Vị
trời đó nằm dưới đất thỉnh Ðức Phật ngồi lên
thân của ông để thuyết pháp. Ðức Phật ngồi
lên trên thân vị trời đó, tay cầm cành hoa
dơ lên trước đại chúng trời người trăm vạn
người và mở nụ cười, khi Ðức Phật cười thì
Ngài Ca Diếp cũng cười. Cho nên đó gọi là
:"Niêm hoa vi tiếu, truyền Phật tâm ấn". Ðức
Phật bèn nói :"Ta có chánh pháp nhãn tạng,
Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, giáo
ngoại biệt truyền, lấy tâm ấn tâm, đã phó
chúc cho Ma Ha Ca Diếp". Do đó, Ngài Ma Ha
Ca Diếp trở thành vị Tổ thứ nhất. Ðức Phật
chỉ truyền cho Ngài Ca Diếp, Ngài Ca Diếp
lại truyền cho Tổ thứ hai Ngài A Nan, Ngài A
Nan lại truyền cho Tổ thứ ba Thương Na Hòa
Tu, Ngài Thương Na Hòa Tu lại truyền cho Tổ
thứ tư Ưu Ba Cúc Ða .v.v., một đời truyền
xuống một đời đều dùng tâm ấn tâm. Từ sơ Tổ
truyền đến Tổ thứ hai mươi tám Bồ Ðề Ðạt Ma.
Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma đem tâm ấn của Phật mang đến
Trung Quốc, truyền cho Tổ thứ hai là Huệ
Khả. Ngài Huệ Khả lại truyền cho Tổ thứ ba
là Tăng Xán .v.v., cho đến Lục Tổ Huệ Năng.
Về sau thì một hoa nở năm cánh, phân ra :
Tông Lâm Tế, Tông Pháp Nhãn, Tông Tào Ðộng,
Tông Quy Ngưỡng và Tông Vân Môn. Cho đến
hiện tại Phật pháp lại truyền đến tây
phương, đó là sơ lược về Tổ sư tương truyền.
"Mười hai hạnh đầu đà khổ hạnh". Nay giảng sơ
lược về hạnh đầu đà khổ hạnh vừa mới đề cập
đến ở trên. "Ðầu đà" là tiếng Phạn, dịch là
"phấn chấn", nghĩa là phấn chấn tinh thần ;
như khi đả thiền thất thì thường nói phấn
chấn tinh thần, không sợ khổ, càng khổ thì
càng nỗ lực. Giống như Ngài Ca Diếp già như
thế, mà cũng hành hạnh đầu đà, phấn chấn
tinh thần hành mười hai hạnh đầu đà.
1. Mặc y bá nạp. Y bá nạp còn gọi là y phấn
tảo, tức là tấm y vốn có trăm ngàn lỗ rách,
nhưng mỗi khi rách thì vá lại, chẳng biết vá
bao nhiêu lần mà nói. Tấm y này người khác
chẳng ai muốn mặc. Người xuất gia nhặt vải
vụn ở trong đống rác, rồi giặt sạch mà may
vá thành y để mặc. Mặc y này tốt ở chỗ nào ?
Nếu nói ra thì nhiều lắm. Ví như bạn mặc y
này lên, thì chẳng còn tâm tham, cũng diệt
trừ tâm tham của người khác. Những Tỳ Kheo
khác thấy bạn mặc y lam lũ mà không mặc y
tốt, họ cũng phát khởi đạo tâm để tu đạo.
Hơn nữa, bạn mặc y rách nát lam lũ, thì trộm
cướp nhất định không trộm cướp của bạn. Vào
năm 1948, tôi ở tại chùa Nam Hoa thì có bọn
cướp đến cướp Chùa. Chúng phá cửa xông vào,
lập tức kêu tôi đưa tiền ra, tôi bèn nói
:"Các anh xem, tôi mặc y như thế này, có
giống người có tiền chăng ?" (Lúc đó tôi mặc
y như lúc tôi mặc y thủ hiếu bên cạnh mộ của
mẹ tôi, thủ hiếu xong rồi, tôi vẫn luôn luôn
mặc nó để làm kỷ niệm mẹ của tôi. Vì tấm y
đó đã rách nát, cho nên khi ở tại Ðông Bắc
(Trung Quốc), ai quy y với tôi thì vá cho
tôi một miếng vào cái y đó, do đó tấm y đó
có rất nhiều lỗ vá). Tuy nhiên, tôi nói với
bọn cướp trong phòng có báu vật, kêu chúng
có thể đi vào mà lấy, song, những tên cướp
thấy tôi mặc y như thế, cũng chẳng vào phòng
cướp lấy gì cả, bèn bỏ đi hết. (Thật tế,
trong phòng thật có hai báu vật sống, đó là
hai chú Sa Di sợ hãi nằm dưới gầm giường).
Hơn nữa, bạn mặc y phấn tảo thì người giàu
cũng xa lìa bạn, như thế thì ít bị quấy
nhiễu, còn có điểm tốt quan trọng nhất là
người nữ cũng xa lìa bạn. Tu đạo, nếu mặc y
như thế thì lâu dần sẽ có một hương vị rất
kỳ đặc, nhưng hương vị này đối với người nữ
mà nói thì đó là mùi thối, cho nên mặc y
phấn tảo có rất nhiều chỗ tốt nói không hết
được.
2. Chỉ có ba cái y. Tỳ Kheo hành hạnh đầu đà
chỉ có ba tấm y, do đó :"Ngoài thân chẳng
vật gì khác, cũng chẳng có phiền não gì phát
sinh". Ba y tức là :
Thứ nhất là Tổ y, còn gọi là đại y, tiếng Phạn
gọi là y Tăng già lê, dịch là "y hai mươi
lăm điều". Y hai mươi lăm điều, bốn dài một
ngắn, cộng thành một trăm hai mươi lăm ô, đó
là biểu thị hình tướng của ruộng phước, cho
nên còn gọi là y phước điền. Y này nếu vào
cung vua, tụ lạc khất thực, thuyết pháp thì
mới mặc.
Thứ hai là y bảy điều, y bảy điều hai dài một
ngắn, cộng thành hai mươi mốt ô, tiếng Phạn
gọi là y Uất Ða La Tăng, dịch là "y nhập
chúng". Khi lễ bái, tụng Kinh, nghe pháp,
hội họp với đại chúng .v.v., thì mặc y này.
Thứ ba là y năm điều, y năm điều một dài một
ngắn, cộng thành mười ô, tiếng Phạn gọi là y
An Ðà Hội dịch là "y chấp tác", khi làm việc
chấp tác mọi nơi đều mặc y này. Nếu Tỳ Kheo
hành hạnh đầu đà, thì chỉ có ba y này và
bình bát với tọa cụ. Bình bát là cái bát của
Tỳ Kheo dùng để ăn cơm, tọa cụ dùng để trải
lễ Phật ở trong chánh điện.
3. Khất thực : Mỗi ngày khi đến giờ ăn thì vào
thành, vào làng khất thực, chứ mình chẳng
nấu nướng gì cả.
4. Khất thực có thứ tự : Nghĩa là khi đi khất
thực, thì không lựa nhà giàu hoặc nhà nghèo,
mục đích là tiêu diệt tâm phân biệt mà hành
bình đẳng, đó là hành vi đại công vô tư.
5. Ngày ăn một bữa, tức là sáng cũng không ăn,
chỉ ăn một bữa trưa. Ăn một bữa trưa rất tốt
nhưng đáng tiếc không dễ gì làm được. Tại
sao ? Vì đói một chút thì muốn ăn, cho nên
đa số nhiều người chịu không được sự khổ
hạnh ngày ăn một bữa. Song, công đức ngày ăn
một bữa nói không hết được. Tóm lại, bạn bớt
ăn một chút thì bớt một chút phiền não, ăn
nhiều một chút thì phiền não cũng nhiều một
chút. Ngoài ra, khi Tỳ Kheo ăn cơm thì phải
có ba quán niệm và năm điều quán tưởng.
Ba quán niệm : Thứ nhất : Nguyện dứt tất cả
điều ác. Thứ hai : Nguyện tu tất cả điều
lành. Thứ ba : Thệ độ tất cả chúng sinh.
Năm điều quán tưởng :
Thứ nhất : "Kế công đa thiểu, lượng bỉ lai
xứ". Nghĩa là : hãy tính xem vật ăn phải tốn
bao nhiêu công nhân mới làm thành. Ví như sự
hình thành một hạt gạo, phải trải qua gieo
giống, tưới nước, bón phân, nhổ cỏ .v.v.,
bao nhiêu là sự khổ cực, cho nên làm được
hạt gạo rất khó khăn vô cùng, đến nơi cũng
không dễ. Cho nên có câu :
"Giữa nắng trưa gay gắt,
Nông dân nhọc nhằn cuốc,
Mồ hôi đổ trên lúa,
Bưng bát cơm ai biết,
Mỗi hạt bao đắng cay".
Do đó, chúng ta mỗi người nên thương tiếc vật
chất, tiết kiệm, đừng tùy tiện lãng phí, mà
hãy nghĩ đến nó, đến nơi không dễ dàng. Tại
sao trên thế giới này có những nước thiếu
lương thực, nhân dân chẳng có cơm ăn ? Vì
lãng phí vật chất quá nhiều, cho nên chẳng
có cơm ăn. Chúng ta là người tin Phật, nhất
là đối với nhân quả phải cẩn thận, vật chất,
ẩm thực, tài vật, bạn dùng được thì dùng,
không dùng được thì cho người khác dùng,
nhưng đừng có tùy tiện vứt đi, do đó:
"Trong bếp có cơm dư,
Ngoài đường có kẻ đói".
Cho nên trong nhà nếu còn cơm dư, thì hãy bố
thí cho người không có cơm ăn, đừng vứt đi.
Thứ hai : "Thổn kỷ đức hạnh, toàn khuyết ứng
cúng". Nghĩa là : hãy nghĩ xem mình có công
đức gì, đáng thọ thập phương cúng dường, độ
lượng đức hạnh của mình có đủ chăng ? là đủ
hay thiếu ? đáng thọ lãnh của thí chủ cúng
dường chăng ? nếu đức hạnh không đủ thì hãy
mau dụng công tu đạo.
Thứ ba : "Phòng tâm ly quá, tham đẳng vi tông.
Nghĩa là : phòng ngừa tâm của mình, lìa khỏi
mọi lỗi lầm. Lìa khỏi lỗi lầm gì ? Tức là
lìa khỏi tham sân si ba độc. Ăn vật ăn thì
đừng phân biệt vật ngon hay dở, đừng nên vật
ngon thì ăn nhiều, vật dở thì không ăn, như
thế thì không đúng.
Thứ tư : "Chánh sự lương dược, vi liệu hình
khô". Khi Tỳ Kheo ăn cơm thì nghĩ rằng vật
ăn vào dùng làm thuốc, để cho thân thể khỏi
khô héo, nếu không ăn thì không thể sinh
tồn.
Thứ năm : "Vi thành đạo nghiệp, ưng thọ thử
thực". "Tại sao tôi phải ăn cơm ? Vì muốn
dụng công tu đạo, nếu tôi không ăn cơm thì
đứng không vững, ngồi không yên. Vì tôi muốn
tu đạo, cho nên không thể không ăn".
6. Ăn có tiết lượng. Tức là phải có sự tiết
chế đối với thức ăn uống, ăn có số lượng.
Không thể cảm thấy vật ăn ngon, ăn xong rồi
lại muốn ăn nữa, luôn luôn nghĩ nhớ không
quên, như thế thì chẳng có tiết lượng. Bất
cứ thấy vật gì ngon, nếu mỗi bữa ăn hai bát,
thì nhất định ăn hai bát. Không thể nói vật
này không ngon thì tôi ăn một bát, khi vật
ăn ngon thì ăn ba bát, mà chẳng tiết chế
chút nào. Người hành hạnh đầu đà thì vốn ăn
hai bát mới no, nhưng chỉ ăn một bát rưỡi,
tiết lượng bát ăn một chút, đó là ăn có tiết
lượng.
7. Quá giờ ngọ không uống nước có chất bổ.
Không uống sữa, nước trái cây, cà phê, trà
hoặc mật ong, mà chỉ uống nước lạnh. Song,
điều này rất khó hành, vì ngay cả trà cũng
liệt vào chất bổ, không được uống, cho nên
không dễ gì hành được. Ðó là năm điều khổ
hạnh về ăn uống, dưới đây nói về khổ hạnh
chỗ ở.
8. Ở nơi A Lan Nhã. A Lan Nhã là tiếng Phạn,
dịch là "nơi vắng lặng". Vắng lặng tức là
nơi không ồn ào, chẳng có bất cứ âm thanh
gì. Nơi đây là ở trong rừng núi, trong thâm
cốc, hoặc là nơi xa thành thị, là nơi tu
hành tốt nhất cho người tu hành.
9. Ở dưới gốc cây. Người hành hạnh đầu đà thì
ở dưới gốc cây. Tại sao? Vì người tu đạo lấy
trời đất làm nhà, đi khắp nơi đều ở được,
nhưng không ở quá mỗi gốc cây ba đêm, vì
người tu đạo chân chánh thì rất thanh cao,
vì tránh cho người biết họ để đến cúng
dường, cho nên ở dưới gốc cây chừng hai đêm
thì bỏ đi, để tránh có người muốn đến cúng
dường, đó là không cầu bất cứ ai cúng dường.
10. Ở ngoài trời. Người tu đạo ở ngoài trời,
thật là lấy trời đất làm phòng, tức có ánh
sáng của trăng sao, đời sống như thế, sao mà
quá tự tại tiêu dao, do đó có câu :
"Nguyệt đáo thiên tâm xứ,
Phong lai thủy bất thức,
Nhất cổ thanh dị vị,
Lược đắc thiểu nhân tri".
Ðời sống thiên nhiên như thế, rất ít người
lãnh hội được những chỗ áo diệu của nó.
11. Ở ngoài nghĩa địa, tức là ở với người
chết, làm bạn với ma quỷ. Tại sao ? Vì ngồi
ở trong mồ mả thì mình có thể tu quán về vô
thường, thấy rõ đời người là vô thường, bất
cứ sớm tối trước sau gì cũng sẽ chết, chết
rồi thì chôn cất vào mộ, hóa thành đống
xương trắng. Ngồi trong mộ tu đạo, thì có
thể giác ngộ tất cả đều là vô thường, do đó
sẽ không sinh ra đủ thứ tâm tham sân si, mà
cũng chẳng có chấp trước.
12. Lưng không chạm đất. Ở Ấn Ðộ, có vị Hiếp
Tôn Giả, suốt đời không bao giờ nằm, mà luôn
luôn ngồi không nằm. Nếu ngủ nằm thì càng
ngủ càng muốn ngủ mà chẳng muốn dậy. Song,
nếu thường ngồi không nằm thì ngủ một giấc
sẽ tỉnh dậy, tỉnh dậy rất dễ dàng dụng công
tu hành tham thiền. Cho nên thường ngồi
không nằm về phương diện tu hành giúp ích
không ít.
Nếu hành được một hoặc hai hạnh đầu đà vẫn tốt
như thường, tùy theo khả năng của mình. Ngài
Ca Diếp tuy rất già nua, nhưng Ngài vẫn hành
mười hai hạnh đầu đà, cho nên Ngài là người
hành đầu đà đệ nhất.
3. Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp
4. Già Gia Ca Diếp
5. Na Ðề Ca Diếp
Ba anh em này trước khi quy y với đức Phật,
thì đều thờ thần lửa ngoại đạo. Các vị này
cho rằng lửa là thần thánh cao nhất, là mẹ
của vạn vật, cho nên chuyên môn cung kính
lửa, lạy lửa. Bạn nói họ có ngu si chăng ?
Lạy lửa lại có ích gì ?
"Ưu Lầu Tần Loa" là tiếng Phạn dịch là "rừng
mộc qua", Ngài hoan hỉ nhất là tu đạo trong
rừng mộc qua. Ngài và năm trăm đệ tử của
Ngài ở bên bờ sông Ni Lạc Ca. Hai người em
cùng ở chung với Ngài. "Già Gia" dịch là
"thành", hoặc là "núi đầu voi", vị này có ba
trăm vị đệ tử. "Na Ðề" dịch là "sông", vị
này có hai trăm vị đệ tử, cho nên anh em Ca
Diếp cộng lại được một ngàn vị đệ tử.
Ðức Phật ngộ đạo rồi, bèn đi đến Vườn Nai độ
năm vị Tỳ Kheo Kiều Trần Như. Ðộ xong rồi,
Ngài quán sát người kế tiếp phải độ là ba
anh em Ca Diếp, do đó đức Phật tìm đến Ưu
Lầu Tần Loa Ca Diếp, Phật biết nếu độ được
vị này, thì hai người em kia và tất cả các
đệ tử cũng đều độ được, song, Phật không thể
nói toạc ra ý nghĩ đó, cho nên dùng phương
tiện khéo léo nói :"Trời đã tối rồi ! Tôi
không thể tiếp tục đi nữa, có thể nào cho
tôi tá túc trong động của ông một đêm được
chăng ?" Ưu Lầu Tần Loa nói :"Có một con
rồng lửa hung ác ở trong động đó, nó nhất
định thiêu chết ông". Nhưng Ðức Phật nói
:"Chẳng có vấn đề gì, nó không thể làm
thương hại đến tôi". Do đó, Ưu Lầu Tần Loa
mời Ðức Phật vào trong sơn động đó ở. Quả
nhiên nửa đêm, con rồng lửa thật lớn, miệng
phun ra lửa muốn thiêu chết Ðức Phật. Song,
Ðức Phật đã nhập định hỏa quang tam muội,
chẳng bị tổn thương chút nào. Lúc đó, Ðức
Phật dùng thần lực nhiếp rồng bỏ vào trong
bình bát, sau đó nói pháp cho nó nghe, rồng
chịu quy y với Phật.
Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp quá đỗi kinh ngạc. Tuy
nhiên, Ngài cho rằng mình là người tu hành
có công phu, nhưng không thể bì được cảnh
giới và thần lực của đức Phật, cho nên đem
năm trăm đệ tử cùng quy y với đức Phật. Khi
hai người em nghe tin Ngài đã xuất gia theo
Phật, cũng phát tâm muốn xuất gia và đem hết
các đệ tử gia nhập vào trong Tăng đoàn. Xuất
gia chẳng bao lâu, ba anh em đều chứng quả A
La Hán.
6. Xá Lợi Phất
Khi Xá Lợi Phất chưa ra đời, thì mẹ của Ngài
thường biện luận với cậu của Ngài (Ma Ha Câu
Hi La), nhưng đều bị thua. Song, từ khi mang
thai Ngài Xá Lợi Phất thì rất là kỳ lạ, tức
là mẹ của Ngài biện luận với cậu của Ngài
thì ngược lại cậu của Ngài đều bị thua. Cho
nên, Ma Ha Câu Hi La biết được cậu bé ở
trong thai của chị mình, nhất định là người
có đại trí huệ. Tại sao ? Vì ông ta biết
trước kia chị của mình đâu có thông minh như
thế, mà bây giờ lại thông minh lanh lợi,
chắc chắn đứa bé trí huệ đó giúp cho bà ta.
Ma Ha Câu Hi La cảm thấy bản lãnh của mình
không đủ, nếu tương lai biện luận với cháu
của mình mà thua thì mất mặt, do đó ông ta
đi về phía nam Ấn Ðộ tìm thầy học pháp. Ngày
đêm chỉ lo chuyên tâm học, chẳng có thời
gian để cắt tóc, cạo râu, cắt móng tay, mà
để móng tay dài ra, cho nên đa số đều gọi
Ngài là "Trường Trảo Phạm Chí" (Ông Phạm Chí
móng tay dài).
Khi Ngài học y, bói, xem tướng, chiêm tinh,
biện luận .v.v. , xong hết rồi, thì trở về
nhà gặp chị của Ngài, tìm Xá Lợi Phất. Song,
chị ông ta nói Xá Lợi Phất đã theo Phật xuất
gia rồi, ông ta tức khắc sinh tâm kiêu ngạo
nói :"Cháu ngoại của ta mới tám tuổi đã đăng
tòa thuyết pháp, danh đồn khắp nơi, mấy trăm
luận sư đều bị cậu ta luận bại, là cậu bé
thông minh như thế, sao lại có thể theo vị
Sa Môn xuất gia ? thật là đáng tiếc ! Tôi
phải đi gặp vị Sa Môn đó, xem thử ông ta có
bản lãnh gì ?" Do đó, Ma Ha Câu Hi La đi gặp
Ðức Phật, ông ta gặp Ðức Phật đem hết phương
pháp sở học ra, cũng chẳng cách chi biện
luận thắng được Ðức Phật, cuối cùng ông ta
lập tông với Phật. Phật hỏi ông ta :"Ông lấy
gì làm tông ?" Ông ta đáp :"Tôi lấy không
thọ làm tông, bất cứ Ngài giảng đạo lý gì,
tôi cũng chẳng lý tới, cũng chẳng tiếp thọ,
xem thử Ngài có biện pháp gì ?" Phật nói
:"Tốt ! Ông lấy không thọ làm tông, vậy ông
đã thọ chấp kiến không thọ của ông hay chưa
?" Phật hỏi như vậy, đúng là hỏi ngược lại
ông ta ! Nếu nói thọ thì vốn chẳng có tông
này, càng trái ngược với mình. Trước khi
biện luận, ông ta đánh cá với Phật :"Nếu tôi
biện luận thua thì hãy cắt đầu của tôi
xuống, nếu Ngài thua thì phải trả lại đứa
cháu của tôi". Nhưng khi luận thua thì ông
ta bỏ chạy, không muốn cắt đầu, chạy chẳng
bao xa thì nghĩ lại :"Mình là nam tử hán đại
trượng phu, nói ra thì phải giữ lời, sao lại
nuốt lời ? Thôi hãy trở lại chịu cắt đầu !"
Do đó chạy lại chỗ đức Phật muốn lấy đao cắt
đầu, nhưng Phật nói :"Ở trong Phật pháp của
ta chẳng có phương pháp này, ông biện luận
thua là người thua cuộc, hà tất phải cắt
đầu". Sau đó Phật thuyết pháp cho ông ta
nghe, ông ta lập tức khai mở pháp nhãn, đắc
được pháp nhãn thanh tịnh, biết Phật pháp áo
diệu vô cùng, mà pháp của mình học là pháp
ngoại đạo, chẳng bằng một trong vạn phần của
Phật pháp. Cho nên, ông ta không những không
đòi cháu về, ngược lại cũng theo Phật xuất
gia, đó là một đoạn nhân duyên của Ngài Xá
Lợi Phất và cậu của Ngài Ma Ha Câu Hi La.
Xá Lợi Phất là tiếng Phạn, dịch là "phu tử",
lại gọi là "châu tử" hoặc "phân tử". Vì mẹ
của Ngài gọi là "Thu", có cặp mắt rất xinh
đẹp như chim Thu, cho nên gọi là Thu. Và mắt
mẹ của Ngài cũng giống như hạt châu, cho nên
gọi là châu. "Phất" nghĩa là con.
Xá Lợi Phất trí huệ đệ nhất, đồng thời thần
thông cũng lớn vô cùng. Có một lần, Ngài Mục
Kiền Liên và Ngài so sánh thần thông. Khi
Ðức Phật đi đến đâu thuyết pháp, thì tất cả
các đệ tử đều theo đi nghe pháp. Chỉ có lần
đó Ngài Xá Lợi Phất đang vá y, Ngài Mục Kiền
Liên bèn giục hối Ngài đi, nhưng giục hối
cách nào Ngài cũng khẳng định vá tấm y xong
rồi mới đi, do đó Ngài Mục Kiền Liên dùng
thần thông khiến cho tấm y xếp lại, Ngài Xá
Lợi Phất để tấm y bên phải nói :"Nếu bạn giở
nổi tấm y lên, thì tôi sẽ đi với bạn". Ai
biết, dùng hết tất cả thần thông, không
những không thể giở tấm y lên được, mà tấm y
cũng chẳng nhúc nhích tí nào. Bạn thấy trí
huệ của Ngài Xá Lợi Phất lớn hơn so với thần
thông ! Bổn lai Mục Kiền Liên là thần thông
đệ nhất, nhưng so sánh với trí huệ của Ngài
Xá Lợi Phất thì đấu không qua Ngài được, đủ
thấy trí huệ quan trọng hơn hết, thần thông
là thứ yếu.
7. Ðại Mục Kiền Liên.
Mục Kiền Liên là tiếng Phạn, dịch là "lai bặc
căn" hoặc là "thái thúc thị", tên của Ngài
là Tí Lợi Bát (tên một thứ cây), vì cha mẹ
của Ngài cầu nguyện với cây Tí Lợi Bát mà
sinh ra Ngài, cho nên lấy tên này làm tên,
nhân duyên giống như Ngài Ca Diếp.
Tuy nhiên mẹ của Ngài Mục Kiền Liên cầu thần,
nhưng không tin Phật, Pháp, Tăng, cũng chẳng
cung kính Tam Bảo, mà phỉ báng phá hoại Tam
Bảo. Do đó, bà ta chết rồi bị đọa vào địa
ngục. Khi Ngài Mục Kiền Liên chứng đắc ngũ
nhãn lục thông rồi, bèn quán sát khắp thế
giới tìm mẹ của Ngài, thì thấy mẹ của Ngài ở
trong địa ngục làm ngạ quỷ, chịu vô lượng
thống khổ. Ngài Mục Kiền Liên thương xót
buồn rầu, mới mang một bát cơm đến cho mẹ
ăn, nhưng cơm vừa tới miệng thì hóa thành
lửa than. Tại sao ? Vì mẹ của Ngài tội lỗi
sâu nặng, cho nên bất cứ ăn vật gì vào đến
miệng của bà ta đều hóa thành lửa, mà ăn
chẳng được.
Mục Kiền Liên tuy là thần thông đệ nhất, mà
cũng chẳng cách chi cứu được mẹ của Ngài, do
đó mới đi tìm đức Phật, khóc lóc nói :"Mẹ
của con đọa vào địa ngục làm ngạ quỷ, con
mang cơm đến cho bà ăn, nhưng khi cơm đến
miệng thì biến thành lửa than, nay con cầu
Ðức Thế Tôn từ bi thương xót, cứu mẹ của
con". Ðức Phật nói :"Vì mẹ của con phỉ báng
Tam Bảo, tội nghiệp quá nặng, sức của một
mình con chẳng thể cứu đặng, nếu muốn cứu mẹ
của con thì vào ngày rằm tháng bảy, cũng là
ngày Phật hoan hỉ, lúc chư Tăng tự tứ, thiết
lễ Vu Lan Bồn để cúng dường mười phương Phật
Pháp Tăng, ngày đó, nếu con cúng dường Tam
Bảo, thì mẹ của con sẽ lìa khổ được vui".
Ngài Mục Kiền Liên nghe rồi, y theo phương
pháp của Phật, thiết lễ Vu Lan Bồn để cúng
dường Tam Bảo, khiến cho mẹ của Ngài lìa
khỏi cảnh khổ trong địa ngục, mà sinh về cõi
trời hưởng sự sung sướng.
Cho nên mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy, mỗi
Chùa đều làm lễ Vu Lan, siêu độ cha mẹ bảy
đời và cha mẹ hiện tiền. Có người hỏi
:"Nhưng cha mẹ của tôi chưa chết ? Vậy tôi
làm thế nào ?" Cha mẹ của bạn chưa chết thì
bạn siêu độ cha mẹ bảy đời quá khứ, cha mẹ
còn sống cũng được lợi ích thêm phước sống
lâu.
Thần thông của Ngài Mục Kiền Liên rộng lớn, là
đệ tử Phật có thần thông đệ nhất. Một lần
nọ, Ðức Phật lên cung trời Ðao Lợi thuyết
pháp, đi ngang qua núi Tu Di, gặp một con
rồng độc. Con rồng độc này rất đố kị Ðức
Phật, muốn cản trở đức Phật lên trời thuyết
pháp, do đó miệng phun ra cát độc muốn hại
chết đức Phật. Nhưng Ngài Mục Kiền Liên dùng
thần thông, biến cát độc thành bông tơ mềm
mại, làm cho rồng độc tức mình, do đó rồng
độc lại hiện thân to lớn, cuộn tròn ba vòng
núi Tu Di, Ngài Mục Kiền Liên cũng hiện thân
lớn hơn rồng độc, quấn núi Tu Di chín vòng.
Rồng độc thấy Ngài Mục Kiền Liên lợi hại hơn
nó, nhưng nó vẫn chưa chịu thua. Do đó, Ngài
Mục Kiền Liên bèn biến thành con trùng nhỏ,
chui vào trong bụng rồng độc cắn ruột dạ dầy
của nó đau đớn vô cùng, chịu hết nổi, rồng
độc cũng chẳng còn thần thông gì khác để
chống chọi, cho nên chịu thuần phục quy y
Phật, do đó, đủ thấy thần thông của Ngài Mục
Kiền Liên rộng lớn vô cùng.
Ngài Mục Kiền Liên tức cũng là Bồ Tát Ðịa Tạng
Vương, vì thấy mẹ của Ngài thọ khổ, mà không
nỡ thấy tất cả chúng sinh thọ khổ, do đó
Ngài phát nguyện muốn làm Bồ Tát Ðịa Tạng
Vương, vào địa ngục cứu giúp chúng sinh thọ
khổ, lìa khổ được vui, Ngài phát nguyện rằng
:
"Ðịa ngục chưa trống không,
Thề không thành Phật.
Chúng sinh độ hết, mới chứng bồ đề".
8. Ma Ha Ca Chiên Diên.
Ma Ha nghĩa là "lớn". Ca Chiên Diên dịch là
"văn sức". Văn chương của Ngài rất sinh
động, xuất sắc vô cùng. Ngài còn có tên là
Phiến Thằng (sợi dây), vì khi Ngài được sinh
ra chẳng bao lâu, thì cha của Ngài qua đời,
do đó mẹ của Ngài muốn cải giá, nhưng có cậu
bé Ca Chiên Diên này giống như sợi dây trói
buộc bà ta, nên không thể tùy ý cải giá.
Ngài còn gọi là Hảo Kiên, vì hai bắp vai của
Ngài nhìn trông rất đẹp. Lại có cái tên nữa
là Tư Thắng vì tư tưởng của Ngài nhạy bén
hơn người.
Ngài Ca Chiên Diên khéo về thuyết pháp, bất cứ
giảng về đạo lý gì, Ngài cũng đều đưa ra rất
nhiều đạo lý, khiến cho người nghe tâm vui
mừng kính phục, cho nên trong mười đệ tử lớn
của đức Phật, Ngài là người luận nghị đệ
nhất.
Một lần nọ, có một vị ngoại đạo chuyên nói về
đoạn kiến, gặp được Tôn Giả hỏi rằng :"Phật
giáo các Ngài nói : người chết rồi còn có
đời sau, nhưng đạo của tôi nói : người chết
rồi chẳng có đời sau, tôi có lý do để bác
Ngài. Ngài nói người chết rồi lại có đời
sau, còn đi thọ khổ, nhưng theo chỗ tôi biết
thì những người chết rồi, vốn chẳng có ai về
nói họ thọ khổ gì, như vậy làm sao có đời
sau ? Cho nên tôi nói người chết như đèn
tắt, nhất định chẳng có đời sau".
Ngài Ca Chiên Diên đáp :"Người không trở về,
giống như người phạm tội bị người ta bắt đi
nhốt vào ngục tù, họ còn có thể về nhà chăng
? Những người đọa vào địa ngục cũng như thế
!"
Vị ngoại đạo lại nói :"Nhưng những người sinh
lên cõi trời, tôi cũng chẳng thấy có người
nào trở lại, ở trong địa ngục không được tự
do, thì không thể trở về, đó còn có lý do để
nói, chứ đằng này sinh lên cõi trời là tự
do, sao cũng chẳng thấy họ trở về ?"
Ngài Ca Chiên Diên nói :"Người được sinh lên
cõi trời, giống như người từ hầm phân bò
lên, dùng nước tắm rửa sạch sẽ rồi, họ còn
muốn bò xuống hầm phân nữa chăng ?"
Vị ngoại đạo lúc đó bí lối câm mồm chẳng nói
được gì. Ngài Ca Chiên Diên lại nói tiếp
:"Một ngày một đêm trên trời Ðao Lợi, là một
trăm năm ở nhân gian của chúng ta. Ông hãy
nghĩ xem, những người sinh về cõi trời ít
nhất họ cũng phải nghỉ ngơi, dọn dẹp đâu đó
cho gọn gàng mọi việc, cũng phải mất vài ba
ngày, tức là nhân gian khoảng hai ba trăm
năm. Lúc đó, thì ông đã chết mất, xương cốt
chẳng còn, thì ông còn biết họ trở lại chăng
?" Ðến đây vị ngoại đạo chẳng còn gì để nói.
Cho nên, Ngài Ca Chiên Diên là người luận
nghị đệ nhất. Bất cứ đạo lý gì đều có thể
giảng, đầu đầu thì đạo, thao thao bất tuyệt,
khiến cho người nghe thấm nhuần vị đạo.
9. A Nậu Lâu Ðà.
Vị Tôn Giả này tức là Tôn Giả Không Nghèo, còn
gọi là A Na Luật. Trong vô lượng kiếp về
trước, Ngài từng cúng dường cho một vị Bích
Chi Phật, nhưng lúc cúng dường Ngài không
biết vị đó là Bích Chi Phật. Nguyện lực của
vị Bích Chi Phật đó là : bảy ngày mới xuống
núi một lần, hóa duyên bảy nhà, nếu bảy nhà
không có ai cúng dường, thì Ngài chẳng hóa
duyên nữa mà trở về núi. Vốn bảy ngày vừa
qua, Ngài chẳng khất thực được gì, mà lần
này cũng như thế, do đó vị Bích Chi Phật lại
phải ôm bát không trở về núi, vì đời sống
của người dân lúc đó rất khó khăn khổ sở,
đâu có thức ăn dư mà bố thí cho người xuất
gia. Ngài A Nậu Lâu Ðà lúc đó là người nông
dân nghèo, mỗi ngày làm ngoài đồng rất vất
vả mà ăn cơm rất đạm bạc. Buổi trưa hôm ấy,
Ngài thấy vị Tỳ Kheo già chẳng khất thực
được gì, bèn sinh tâm cảm động nói : "Ngài
là người xuất gia tu đạo gặp lúc thất mùa
đói khát, chẳng có cơm ăn, thật là đáng
thương. Ngài không hiềm cơm canh đạm bạc thì
con dâng cúng cho Ngài".
Vị Bích Chi Phật nói :"Ông chịu bố thí cho tôi
thật là tốt, tôi sẵn sàng nhận sự cúng dường
của ông, nhưng ông lấy gì để ăn ?" A Nậu Lâu
Ðà nói :"Hôm nay con không ăn cũng không
sao". Do đó, vị Bích Chi Phật thọ trai xong
rồi, bèn hiển thần thông hiện mười tám thứ
biến hoá, nói :"Ta đã thọ sự cúng dường của
ông, sau này đời đời kiếp kiếp ông sẽ chẳng
còn nghèo khổ nữa". Vị Tỳ Kheo hồi hướng cho
ông rồi, Ngài A Nậu Lâu Ðà tiếp tục làm
việc, chẳng bao lâu trong rẫy chạy ra một
con thỏ. Con thỏ rất kỳ lạ, nhảy nhót đùa
giỡn chung quanh rồi chạy lên vai Ngài A Nậu
Lâu Ðà không chịu xuống. Ngài A Nậu Lâu Ðà
lấy xuống mà không cách chi gỡ xuống được,
mới trở về nhà, kêu vợ của ông ta cầm con
thỏ xuống. Cầm xuống thì con thỏ sống đã
biến thành con thỏ bằng vàng óng ánh sáng
chói, do đó ông ta bèn chặt cái chân trước
để đi bán lấy tiền, nhưng cái chân bị chặt
chẳng bao lâu lại mọc ra như cũ. Cho nên, từ
đó về sau Ngài A Nậu Lâu Ðà không những đời
này trở thành phú ông giàu có, mà cho đến
chín mươi kiếp cũng đều vinh hoa phú quý.
Ðó là A Nậu Lâu Ðà cúng dường cho vị Bích Chi
Phật mà đắc được quả báo không nghèo.
A Nậu Lâu Ðà thích nhất là ngủ, có một lần đức
Phật đang giảng Kinh thuyết pháp mà Ngài ngủ
gục, bị Phật quở trách, Ngài A Nậu Lâu Ðà hổ
thẹn vô cùng, mới phát tâm tinh tấn dũng
mãnh không ngủ. Bảy ngày bảy đêm không ngủ,
mắt bị lòa. Ðức Phật thương xót mới dạy Ngài
tu Tam muội Kim Cang Chiếu Minh. Không lâu,
Ngài đắc được thiên nhãn thông, thấy rõ ba
ngàn đại thiên thế giới, như thấy trái Am Ma
La trong lòng bàn tay. Trong số đệ tử của
đức Phật Ngài A Nậu Lâu Ðà là người có thiên
nhãn đệ nhất.
10. Kiếp Tân Na.
Cha mẹ của Ngài Kiếp Tân Na đã bốn năm mươi
tuổi mà chưa có con, do đó mới đến miếu thờ
vì sao thứ tư trong Nhị Thập Bát Tú để cầu
con. Tâm thành sở chí, cảm ứng linh nghiệm,
chẳng bao lâu hạ sinh một đứa con, do nhân
duyên đó cho nên đặt tên là "Phòng Tú". Tôn
giả Kiếp Tân Na tức là vì sao thứ tư đó.
Trong số đệ tử của Phật, Ngài là người tinh
thuật học (giỏi về chiêm tinh) đệ nhất.
11. Kiều Phạm Ba Ðề.
Vị Tôn giả này có động tác rất là kỳ quái, tức
là mỗi khi ăn cơm xong, thì giống như bò gặm
cỏ, trong mồm cứ nhai nuốt không ngừng, cho
nên gọi là Ngưu Từ Tôn Giả, lại gọi là Ngưu
Vương. Vì Ngài có tập khí này, cho nên Ðức
Phật sợ người đời thấy Ngài mà sinh hủy
báng, sẽ bị đọa lạc, do đó mới kêu Ngài lên
sống ở trên cõi trời, thọ nhận chư thiên
cúng dường. Tại sao Ngài có tập khí này ? Vì
quả báo ác khẩu (chửi mắng). Vô lượng kiếp
về trước, khi Ngài còn là chú tiểu Sa Di, đã
từng khinh mạn chửi mắng một vị Bích Chi
Phật già, ăn cơm như bò gặm cỏ, tuy vị Bích
Chi Phật khuyên Ngài lập tức sám hối, song,
Ngài chẳng hổ thẹn chút nào, ngược lại còn
bôi bác nói :"Sám hối cái gì ? Tôi đâu có
giống ông như thế !" Do chửi mắng khinh khi
như thế, cho nên chết rồi đọa làm bò năm
trăm đời, về sau được chuyển làm thân người,
nhưng không tránh khỏi hình tướng tập khí
làm bò, ăn rồi vẫn giống như bò gặm cỏ. Ðó
là vì quá khứ đã phỉ báng vị Bích Chi Phật.
Do đó, cử chỉ hành động gì chúng ta đều phải
cẩn thận, kiểm thảo phản tỉnh chính mình,
đừng tùy tiện phỉ báng khinh khi phá hoại
người khác.
12. Ly Bà Ða.
Ly Bà Ða là tiếng Phạn, là vì sao thứ bảy
trong Nhị Thập Bát Tú, cha mẹ của Ngài cũng
cầu sao mà được con. Ngài còn có tên là "Giả
Hòa Hợp", trước khi chưa xuất gia, Ngài
nghèo khổ vô cùng, có lần đến ngủ ở trong
miếu hoang. Ban đêm có hai con quỷ, một lớn
một nhỏ đến kéo theo một thây người chết.
Hai con quỷ gặp Ngài hỏi rằng :"Ê ! Ngươi
muốn chúng ta ăn thây chết này, hay là ăn
ngươi !" Ngài Ly Bà Ða chẳng đếm xỉa gì đến
bọn chúng, do đó hai con quỷ thương lượng,
con quỷ lớn thì ăn thây chết, con quỷ nhỏ
thì xé từng bộ phận của Ngài Ly Bà Ða đắp
vào thây chết. Chẳng bao lâu, con quỷ lớn ăn
hết thây chết, đầu mắt tay chân đều bị con
quỷ nhỏ đem ráp vào thây chết. Lúc đó, Ngài
kinh hãi vạn phần :"Toàn thân của tôi đã bị
quỷ xé rách ra, bây giờ tôi chẳng còn thân
thể nữa, làm sao đây ?"
Ngài lập tức chạy về xóm làng, thấy người bèn
hỏi :"Tôi có thân thể chăng ? Xin nói cho
tôi biết !" Nhưng ai cũng đều cho rằng Ngài
bị điên. Lát sau, Ngài gặp một nhóm hoà
thượng lại hỏi rằng :"Các vị có thấy tôi có
thân hay không ?" Trong số hoà thượng đó có
vị đã chứng quả A La Hán, biết có thể độ
Ngài xuất gia mới nói :"Thân người vốn là
giả mà chẳng tự có, nếu ông tu hành chứng
quả, đắc được tự tính quang minh, thì đó mới
là chân thật không giả, ông có hay không có
nhục thân này lại có quan hệ gì ?" Ngài nghe
như vậy rồi bèn theo vị Hoà Thượng đó xuất
gia, chẳng bao lâu thì Ngài khai ngộ. Vì
Ngài bị quỷ xé thân ăn, ngộ được lý thân
người giả hợp, cho nên có tên là "Giả Hoà
Hợp".
13. Tất Lăng Già Bà Tha.
Tất Lăng Già Bà Tha dịch là "Dư Tập", vì Ngài
chưa trừ khử sạch hết tập khí nhiễm ô nhiều
đời nhiều kiếp. Có một lần, Ngài đi qua sông
thì kêu thần sông ngưng nước lại đừng chảy,
vị thần sông nầy là người nữ, do đó Ngài nói
:"Tiểu tì, ngưng chảy." Vì Ngài đã chứng quả
A La Hán có thần thông. Tuy nhiên nói như
thế, nhưng thần sông cũng không dám không
nghe chỉ thị của Ngài, song, trong tâm rất
bực bội, nhưng chẳng dám nói ra. Tình hình
như thế xảy ra nhiều lần, nữ thần sông không
còn nhẫn nhịn được nữa bèn đi lên gặp Ðức
Phật nói :"Ðức Thế Tôn ! Ngài có vị đệ tử
hiệu là Tất Lăng Già Bà Tha, vị đó chẳng tôn
trọng con chút nào, mỗi lần đến bờ sông của
con thì nói :"Tiểu tì, ngưng chảy. " Nói lời
như thế thật là vô lễ, thật chẳng có lễ độ
đối với người." Ðức Phật nói đợi vị ấy về
thì sẽ bảo vị ấy xin lỗi với thần sông.
Chẳng bao lâu, Tôn Giả trở về, đức Phật nói
với Tôn Giả :"Con qua sông Hằng thì tại sao
gọi thần sông : "Tiểu tì, ngưng chảy." Ðó
thật là vô lễ, phải mau xuống xin lỗi với vị
thần ấy." Do đó, Ngài Tất Lăng Già Bà Tha
đến bờ sông, chắp tay lại cười hì hì nói :"Ê
! Tiểu tì, đừng giận !" Nói như vậy càng làm
cho thần sông bực mình. Thần sông bèn nói
với Ðức Phật :"Ngài thấy đó ! Ðang ở trước
mặt Ngài mà Tôn Giả nầy vẫn còn kêu con như
thế." Ðức Phật nói :"Con không biết đâu !
Năm trăm đời về trước, con là tôi tớ của Tôn
Giả Tất Lăng Già Bà Tha, Tôn Giả kêu con
"tiểu tì" đã quen rồi, bây giờ tuy con làm
thần sông, nhưng tập khí của Tôn Giả vẫn
chưa thay đổi. Vì các con có quan hệ chủ tớ
như thế, cho nên Tôn Giả bây giờ vẫn cứ gọi
con là tiểu tì." Thần sông nghe Ðức Phật nói
như thế thì mới vỡ lẽ. Cho nên Tôn Giả Tất
Lăng Già Bà Tha tập khí nhiều đời nhiều kiếp
vẫn còn, cho nên gọi là "dư tập".
14. Bạc Câu La.
Tên của Tôn Giả nầy dịch là "Thiện Dung", đó
là vì tướng mạo của Tôn Giả đoan nghiêm
trang trọng. Tôn Giả trong vô lượng kiếp về
trước, chuyên tu giới không sát sinh. Ngài
chuyên môn tu giới nầy, không những biểu
hiện bên ngoài chẳng phạm giới, mà nội tâm
bên trong cũng thanh tịnh trong sạch, chẳng
khởi ý niệm giết hại. Vì giữ gìn cẩn thận,
cho nên cảm ứng được năm thứ quả báo hại
không chết.
Khi Ngài vừa mới sinh ra thì đã biết nói, vui
vẻ tươi cười nói :"Cha mẹ, cha mẹ." Rất kháu
khỉnh dễ thương, nhưng cha mẹ sợ hãi hoảng
hốt, cho rằng Ngài là yêu ma quỷ quái chuyển
thế. Do đó, mẹ của Ngài sinh tâm độc ác đem
bỏ Ngài vào lò nấu muốn nấu chín Ngài. Nhưng
nấu mãi mà không chết, mà còn cười cho rằng
là trò chơi. Mẹ của Ngài nói :"Thằng nầy là
yêu quái chẳng sợ lửa, nhưng chắc chắn sẽ sợ
nước." Do đó, đem bỏ Ngài xuống sông cũng
không chết.
15. Ma Ha Câu Hi La.
Tên của Tôn Giả nầy dịch là "Ðại tất" (đầu gối
to), vì đầu gối của Ngài rất lớn. Ngài là
cậu của Ngài Xá Lợi Phất, trước khi xuất gia
Ngài biện luận với Ðức Phật, đánh cuộc rằng
:"Nếu ta thua thì hãy chém đầu ta, nếu ta
thắng thì ta sẽ dẫn cháu về." Cuối cùng Ngài
biện luận thua, nhưng Phật không cần chém
đầu Ngài mà thuyết pháp độ cho Ngài xuất
gia. Ngài Ma Ha Câu Hi La biện tài vô ngại,
là người biện tài đệ nhất. Ngài với Tôn Giả
Bạc Câu La đều là thường tùy chúng của Ðức
Phật (Chúng luôn luôn đi theo Ðức Phật).
16. Nan Ðà.
Ðức Phật có ba đệ tử đều gọi là Nan Ðà : Nan
Ðà, A Nan Ðà, Tôn Ðà La Nan Ðà. Vị Nan Ðà
nầy là chỉ vị Phóng Ngưu Nan Ðà (Nan Ðà chăn
bò), dịch là "Thiện Hoan Hỉ". Vì Ngài hỏi
đức Phật mười một việc chăn bò, biết đức
Phật đầy đủ Nhất Thiết Trí mới theo Phật
xuất gia, chứng được quả A La Hán. Ngài rất
thông minh, có âm thanh tuyệt vời.
17. Tôn Ðà La Nan Ðà.
Tên của Tôn Giả nầy lấy theo tên vợ của Ngài
(Tôn Ðà La) mà làm tên, vì Ngài thương mến
lưu luyến vợ của Ngài. Tôn Ðà La dịch là
"hảo ái" hoặc là "đoan chánh", tướng mạo của
vợ Ngài là tuyệt thế giai nhân, là người đẹp
nhất trong xứ Ấn Ðộ. Do đó, Ngài Tôn Ðà La
Nan Ðà rất thương yêu vợ vô cùng. Khi đức
Phật thấy Ngài nhân duyên đã chín mùi, muốn
độ Ngài xuất gia (Ngài là em cùng cha khác
mẹ với Ðức Phật). Nhưng Ngài chẳng bỏ được
người vợ xinh đẹp, cho nên chẳng muốn xuất
gia. Do đó, đức Phật dùng phương tiện pháp
môn. Một ngày nọ, đức Phật vào vương cung
khất thực, muốn Ngài ôm bình bát của đức
Phật về Tinh Xá Kỳ Hoàn, nhưng Ngài bước
từng bước mà không muốn rời xa vợ, song
chẳng dám từ chối mạng lệnh của anh mình
(đức Phật), do đó giải thích với vợ nguyên
nhân phải ra đi. Tôn Ðà La nhổ nước bọt
trong lòng bàn tay nàng, hạn định Tôn Giả
Nan Ðà phải trở về trước khi nước bọt khô,
nếu không thì cô ta sẽ không mở cửa cho Tôn
Giả Nan Ðà vào.
Tôn Giả hứa sẽ trở về liền, không ngờ đến Tinh
Xá Kỳ Hoàn rồi, Phật không cho Tôn Giả về mà
muốn Tôn Giả xuất gia, do đó xuống tóc cho
Tôn Giả. Tuy nhiên đã xuất gia nhưng hằng
ngày Tôn Giả đều muốn tìm cơ hội trốn về
nhà, vì Tôn Giả chưa xả bỏ đặng nàng Tôn Ðà
La !
Ðức Phật thấy Tôn Giả luôn luôn buồn rầu không
vui, mới đưa Tôn Giả lên núi đi du ngoạn.
Ðến trên núi thấy bầy khỉ đùa giỡn, đức Phật
bèn hỏi :"Con hãy so sánh bầy khỉ nầy với
nàng Tôn Ðà La ai đẹp hơn ? " Tôn Giả nói
:"Ðương nhiên nàng Tôn Ðà La đẹp hơn, bầy
khỉ xấu xí làm sao sánh với nàng Tôn Ðà La."
Ðức Phật nói :"Con thật là thông minh, biết
phân biệt đẹp xấu, được rồi, chúng ta trở
về." Trở về, Tôn Giả nhớ vợ không ngui, tuy
nhiên luôn luôn muốn trốn đi nhưng chẳng có
cơ hội.
Phật thấy Tôn Giả buồn bã không vui, lần nầy
Phật đưa Tôn Giả lên các cõi trời du ngoạn,
thấy thiên cung thật đẹp đẽ trang nghiêm,
lại có một thiên cung, bên trong có rất
nhiều tiên nữ xinh đẹp tuyệt trần. Ðức Phật
hỏi Tôn Giả :"Con thấy những vị tiên nữ nầy
đẹp hay là nàng Tôn Ðà La đẹp hơn ?" Tôn Giả
nói :"Ðương nhiên là tiên nữ đẹp hơn, nàng
Tôn Ðà La sánh với tiên nữ cũng giống như
khỉ sánh với nàng Tôn Ðà La, nàng Tôn Ðà La
sao có thể sánh với tiên nữ được !" Tôn Giả
thấy những tiên nữ đẹp mà chẳng thấy chủ
nhân, do đó mới hỏi tiên nữ :"Ai là chủ nhân
của các vị ?" Tiên nữ đáp :"Chủ nhân của
chúng tôi là em của đức Phật, là Tôn Giả Tôn
Ðà La Nan Ðà. Bây giờ anh ấy đang theo đức
Phật tu đạo, đời sau anh ấy sẽ sinh về cung
trời nầy, chúng tôi sẽ hầu hạ anh ấy." Tôn
Giả nghe như vậy tâm mừng rỡ vô cùng, nghĩ
rằng :"Có những tiên nữ xinh đẹp như thế sẽ
hầu hạ mình, mình nhất định phải dụng công
tu hành."
Lần nầy trở về, Tôn Giả đã hoàn toàn quên nàng
Tôn Ðà La, mà chỉ nhớ đến các tiên nữ. Cho
nên Tôn Giả thay đổi thái độ trước kia,
ngược lại rất tinh tấn dụng công tu hành,
nhưng đức Phật biết Tôn Giả chỉ muốn tu để
sinh về cõi trời làm chủ nhân của các tiên
nữ. Do đó, một ngày nọ, đức Phật đưa Tôn Giả
đi xuống địa ngục xem cho biết. Ðến địa ngục
thấy cảnh trạng thật thê thảm hãi hùng, nào
là : núi đao, chảo dầu sôi, hầm lửa, đủ các
thứ địa ngục, khiến cho người thấy toát mồ
hôi, toàn thân run sợ ! Cuối cùng đến địa
ngục nọ, thấy có hai con quỷ giữ chảo dầu
sôi mà chẳng thấy có ai ở trong đó, bèn hỏi
quỷ rằng : "Sao trong chảo dầu sôi nầy chẳng
thấy có ai ?" Quỷ đáp :"Anh không biết đâu,
chảo dầu sôi này để dành cho em của đức Phật
tức là Tôn Giả Tôn Ðà La Nan Ðà, bây giờ đã
theo Phật xuất gia tu đạo, nhưng chỉ muốn tu
để hưởng phước cõi trời, sau khi hưởng thụ
hết phước cõi trời thì Tôn Giả sẽ đọa vào
địa ngục, đợi Tôn Giả sẽ vào chảo dầu sôi
nầy." Tôn Giả nghe rồi thì toàn thân toát ra
mồ hôi run lập cập nghĩ :"Không xong rồi,
nguyên lai chảo dầu nầy chuẩn bị dành riêng
cho ta, biết làm sao ?" Sau đó, Phật đưa Tôn
Giả trở về nhân gian, vì Tôn Giả mà nói về
pháp môn : Khổ, không, vô thường, vô ngã.
Lúc đó Tôn Giả tinh tấn dụng công tu hành
chẳng bao lâu chứng được quả A La Hán.
Tuy nhiên ban đầu Tôn Giả rất thương nhớ vợ,
nhưng từ khi thấy các vị tiên nữ quá xinh
đẹp hơn vợ, thì Tôn Giả chẳng còn nhớ vợ
nữa. Một khi biết được khổ ở địa ngục thì
mới chân chánh phát tâm tu hành. Nếu không
biết khổ ở địa ngục, thì Tôn Giả chưa chịu
phát tâm tu hành.
18. Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử.
Phú Lâu Na dịch là "Mãn", là tên cha của Ngài.
Di Ða La Ni dịch là "Từ", là tên mẹ của
Ngài. Nghĩa của tên là Mãn Từ Tử. Khi Ngài
vừa ra đời, thì chư thiên cõi trời mưa châu
báu xuống nhà của Ngài đó là điềm cát tường.
Ngài là vị A La Hán thuyết pháp đệ nhất
trong số đệ tử của đức Phật.
19. Tu Bồ Ðề.
Khi Ngài sinh ra thì châu báu trong nhà đều
không (biến mất hết), cho nên gọi là Không
Sinh. Cha mẹ của Ngài tìm thầy bói tướng xem
thử, thì đoán rằng đó là cát tường trong sự
cát tường, do đó lại có tên là Thiện Cát,
qua bảy ngày sau, châu báu trong nhà đều
xuất hiện trở lại, cho nên Ngài lại có tên
nữa là Thiện Hiện. Trong số đệ tử của Phật,
Ngài là người giải không đệ nhất.
20. A Nan.
A Nan là vị Tôn Giả kết tập Kinh điển, là thị
giả của Ðức Phật. A Nan dịch là "Khánh Hỉ",
vì ngày Ðức Phật thành đạo là ngày Ngài ra
đời, cho nên cha mẹ của Ngài quá đỗi vui
mừng, do đó đặt tên là Khánh Hỉ.
21. La Hầu La.
Là con của đức Phật. Khi La Hầu La chào đời
thì xảy ra việc thị phi phiền não rất nghiêm
trọng. Ðức Phật đã xuất gia sáu năm, mà Da
Du Ðà La vợ của Ngài mới sinh ra một đứa
con, cho nên quyến thuộc của đức Phật giận
dữ vô cùng, cho rằng công chúa không giữ đạo
làm vợ, do đó có người muốn trừng phạt công
chúa, nhục mạ công chúa, tiếng xấu đồn lan
tràn khắp nơi :"Ðức Phật đã xuất gia sáu năm
mà vợ của Phật mới mang bầu !" Tuy nhiên
người trong cung nói với phụ vương của đức
Phật là bảo đảm công chúa chẳng làm chuyện
đó, đứa con nầy chắc chắn là con của đức
Phật, nhưng chẳng có ai tin. Thật tế thì La
Hầu La ở trong thai mẹ sáu năm. Nhưng duyên
bên ngoài bức bách quá, do đó nàng Gia Du Ðà
La mới phát nguyện rằng :"Nếu tôi không giữ
đạo làm vợ thì nhảy vào hầm lửa, lửa sẽ
thiêu chết mẹ con tôi, nêu tôi trong sạch
thì thiên thần hãy bảo hộ tôi khiến cho mẹ
con tôi không bị lửa thiêu chết", mới làm
một hầm lửa. Công chúa Gia Du Ðà La bồng
Ngài La Hầu La nhảy vào hầm lửa, nhưng lạ
thay hầm lửa biến thành hồ sen, có đóa hoa
sen lớn đỡ mẹ con hai người. Từ đó về sau
mọi người đều biết là Công Chúa Gia Du Ðà La
bị oan, ai ai cũng hiểu rõ sự việc nầy chẳng
phải là việc tầm thường, cũng chẳng còn ai
phỉ báng công chúa nữa.
Tên của Ngài La Hầu La dịch là "Phú Chướng"
(chướng che đậy), vì trong quá khứ Ngài La
Hầu La từng bít miệng hang chuột trong vòng
sáu ngày, cho nên đời nầy Ngài phải ở trong
thai mẹ sáu năm, đó là quả báo. Cho nên quả
báo tuần hoàn thật là đáng sợ ! La Hầu La là
con của đức Phật cũng không tránh khỏi ác
nghiệp mình đã tạo ra trong quá khứ, mà phải
ở trong thai mẹ sáu năm, cho nên gọi là Phú
Chướng, vì mang thai La Hầu La mà sinh rất
nhiều phiền não chướng ngại.
Cứu kính con của đức Phật ra sao. Có phải con
của Phật chăng ? Phải. Vậy có phải Phật quan
hệ hành vi vợ chồng như người bình thường
chăng ? Không phải. Vì công chúa Gia Du Ðà
La muốn có con, do đó Ðức Phật dùng tay chỉ
vào bụng thì nàng mang thai, đó là một cảnh
giới không thể nghĩ bàn, nếu bạn muốn khảo
chứng thì hiện tại tôi chẳng có chi làm cho
bạn hiểu đặng, chỉ có cách bạn dụng công tu
hành, tu đến cảnh giới đó thì sẽ thấy rõ
cảnh giới của Phật vi diệu khó nghĩ bàn.
Ðó là những vị đại A La Hán, hàng tri thức
trong chúng.
Tức là chỉ hai mươi mốt vị đại A La Hán ở
trên. Trong tâm của đại chúng minh bạch là
tri, mắt thấy là thức ; tâm, mắt đều minh
bạch tức là tri thức. Tri thức là đối với
người ngu si mà nói. Người ngu si thì bất
tri bất thức (chẳng hiểu biết), người trí
huệ là tri thức. Nhưng đạo lý phải nói hai
bên, nếu bạn thật bất tri bất thức, đó mới
là chân chính trí huệ. Chân chính bất tri
bất thức mới chân chính trí huệ. Chân chính
bất tri bất thức mới chân chính vô tư vô lự
(không suy nghĩ). Ðược vô tư vô lự thì trí
huệ của mình mới hiển hiện được, đó mới là
chân chính tri thức trí huệ.
Ðại A La Hán thì thọ nhận sự cúng dường của
trời người. Nghĩa của A La Hán là : Ứng
cúng, sát tặc, vô sinh. A La Hán không những
sát tặc (giết kẻ tặc), mà cho đến bất tặc
(chẳng phải tặc) cũng giết. Vì cảnh giới của
A La Hán thì cho rằng chẳng phải tặc, nhưng
cảnh giới của Bồ Tát thì đó là tặc. Cho nên,
nếu hồi tiểu hướng đại thì chẳng phải tặc
cũng phải giết.
Lại có hai nghìn
người hữu học và vô học.
Trong bốn quả Thánh, thì ba quả trước là bậc
hữu học, chứng được tứ quả A La Hán mới là
bậc vô học. Trong hội Pháp Hoa, bậc hữu học
và vô học cộng lại có hai ngàn người. Hai
ngàn người nầy lại biểu thị "thập như thị".
Mười pháp giới, từ pháp giới địa ngục cho
đến pháp giới của Phật, mỗi pháp giới đều có
đủ pháp nhân quả thập như thị. Ðó là : Như
thị tướng (tướng như vầy), như thị tánh, như
thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị
nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị
báo, như thị bổn mạt (gốc ngọn) cứu kính.
Mỗi như thị, lại biến thành mười, mười lại
biến thành trăm, trăm lại biến thành ngàn,
đó là biểu thị hữu học vô học hai ngàn
người.
Tỳ Kheo Ni Ma Ha Ba Xà Ba Ðề, cùng với
quyến thuộc sáu ngàn người tụ hội. Mẹ của La
Hầu La là Tỳ Kheo Ni Gia Du Ðà La, cũng cùng
với quyến thuộc tụ hội.
Ma Ha là lớn. Ba Xà Ba Ðề dịch là "Ái Ðạo". Vị
Ðại Ái Ðạo Ty Kheo Ni nầy, không những chỉ
là dì của Ðức Phật mà mỗi vị Phật ra đời, bà
ta đều làm dì của Ðức Phật, nuôi dưỡng chăm
sóc các Ngài trưởng thành. Quyến thuộc kể cả
lục thân, bạn bè. Ðại Ái Ðạo Tỳ Kheo Ni với
quyến thuộc sáu ngàn người, thân nhân bạn bè
đều ở trong hội Pháp Hoa.
Mẹ của La Hầu La là Gia Du Ðà La cũng xuất gia
theo Phật, làm đệ tử của Phật, trở thành Tỳ
Kheo Ni. Tỳ Kheo Ni cũng có ba nghĩa như Tỳ
Kheo là khất sĩ, bố ma, phá ác. Tỳ Kheo Ni
Gia Du Ðà La cũng cùng với quyến thuộc ở
trong hội Pháp Hoa.
Bậc đại Bồ Tát gồm tám vạn người, đều không
thối chuyển nơi đạo Vô thượng chánh đẳng
chánh giác, đều đắc được Ðà La Ni nhạo
thuyết biện tài, chuyển bánh xe pháp bất
thối chuyển, đã từng cúng dường vô lượng
trăm ngàn các Ðức Phật, ở chỗ các Ðức Phật
gieo trồng các gốc công đức. Thường được chư
Phật ngợi khen, dùng từ để tu thân, khéo vào
huệ của Phật, thông đạt đại trí huệ, đến nơi
bờ kia, danh đồn khắp vô lượng thế giới, có
thể độ được vô số trăm ngàn chúng sinh.
Bồ Tát là tiếng Phạn, nói đủ là Bồ Ðề Tát Ðỏa.
Bồ Ðề là giác, Tát Ðỏa là hữu tình. Một vị
Bồ Tát giác ngộ hữu tình, tức cũng là trong
hữu tình Bồ Tát là một vị giác ngộ. Ngài
dùng phương pháp đạo lý giác ngộ, đi giác
ngộ những hữu tình khác. Ngoài ra, còn có
hai tên gọi khác là chúng sinh đại đạo tâm,
hoặc là Khai Sĩ. Bậc đại Bồ Tát có đầy đủ
bảy đại.
1. Ðủ đại căn cơ : Căn cơ của Bồ Tát sâu rộng
vô cùng. Ngài gieo trồng gốc công đức, từ
nhiều đời nhiều kiếp đến nay, đã trồng xuống
căn lành sâu rộng quảng đại, căn lành nầy
gọi là gốc công đức. Căn lành Ngài trồng
xuống nhiều vô lượng vô biên, cho nên nói là
gieo trồng các gốc công đức. Hơn nữa chẳng
phải chỉ trồng căn lành ở nơi một vị Phật,
hai vị Phật, ba, bốn, năm vị Phật, mà là
giống như trong Kinh Kim Cang có nói : "Ở
nơi vô lượng bô biên trăm ngàn vạn ức vị
Phật, nhiều như số cát sông Hằng, đều đã
từng gieo trồng các căn lành." Ở trước vô
lượng vô biên trăm ngàn vạn ức vị Phật,
nhiều như số cát sông Hằng, đều đã từng gieo
trồng các căn lành.
2. Ðủ đại trí huệ : Ngài phát đại bồ đề tâm
rộng độ tất cả chúng sinh, tuy độ khắp tất
cả chúng sinh, nhưng chẳng chấp tướng độ
chúng sinh, đó tức là đại trí huệ. Trong
Kinh Kim Cang có nói :"Loài sinh bằng trứng,
bằng thai, bằng ẩm ướt, bằng biến hóa, loài
có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng,
chẳng có tưởng, chẳng không tưởng, ta đều
khiến cho vào Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ.
Diệt độ như vậy vô lượng vô số vô biên chúng
sinh, mà thật chẳng có chúng sinh nào được
diệt độ." Chẳng có một chúng sinh nào là
Phật độ, mà chúng sinh đều tự độ vậy. Nghĩa
là : tuy nhiên độ chúng sinh mà chẳng chấp
tướng độ sinh. Chẳng giống như chúng ta làm
được một việc gì tốt thì tuyên dương :"Tôi
độ được bao nhiêu người xuất gia, tôi độ
được bao nhiêu người phát tâm tin Phật, hoặc
là người nào đó là do tôi độ, người nào đó
là do tôi giới thiệu để tin Phật." Ðó là
chấp trước tướng. Vì sao chấp tướng ? Vì ngu
si. Người có đại trí huệ thì chẳng chấp
tướng. Bồ Tát thì lìa tất cả tướng, tức là A
Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề. Nếu không lìa
tướng thì chẳng phải là Bồ Tát.
3. Tin đại pháp : Ðại pháp tức là pháp đại
thừa. Bạn phải tin sâu pháp môn đại thừa
thật tướng, tin sâu nhân quả, tin sâu trí
huệ Bát Nhã. Phật pháp như biển cả, chỉ có
niềm tin mới vào được. Nếu bạn thiếu niềm
tin, thì dù Phật pháp rộng lớn, cũng không
thể độ bạn được. Trong Kinh Hoa Nghiêm có
nói :
"Tin là nguồn gốc mẹ công đức,
Nuôi lớn tất cả các căn lành."
Căn lành từ đâu đến ? Từ niềm tin đến, từ niềm
tin sinh ra, cho nên tin là mẹ của tất cả
công đức. Ðại Bồ Tát tin sâu tất cả đại
pháp, diệu pháp vô thượng, nhất là đối với
bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nầy, Ngài đặc
biệt tin sâu coi trọng.
Chúng ta có đại tín tâm chân chánh đối với
Phật pháp, thì chúng ta cũng là đại Bồ Tát.
Trong Kinh Kim Cang có nói :"Cho đến trong
một niệm sinh niềm tin thanh tịnh, thì phước
đức ấy thắng hơn dùng bảy báu bố thí ba ngàn
đại thiên thế giới." Công đức của một niềm
tin thanh tịnh của bạn, đồng như dùng bảy
báu để bố thí cho tất cả thế giới, mà Ðức
Như Lai hoàn toàn biết tâm niệm nầy của bạn,
không thể khiến cho luống qua. Cho nên chúng
ta là người học Phật pháp, đều phải đem niềm
tin chân chánh ra, mới có thể đắc được sự
tương ưng.
4. Hiểu đại lý : Trong Kinh Hoa Nghiêm có nói
: Tin, hiểu, hành, chứng. Do đó, hiểu đại lý
thì phải y chiếu tín tâm, trước hết phải
tin, sau mới hiểu, rồi thực hành, cuối cùng
sẽ chứng đắc. Ðại lý là gì ? Tức là minh
bạch tất cả chúng sinh vốn là Phật, tức cũng
là :"lý tức Phật" ở trong "sáu tức Phật".
Nói theo lý, thì mỗi chúng sinh đều là Phật,
nhưng phải tu hành mới thành Phật được. Nếu
không tu hành mà cứ nói mình là Phật thì
chẳng ích gì. Ví như bạn tự phong làm vua,
suốt ngày tự hô : Ta là hoàng đế ! Ta là
hoàng đế ! Nhưng chẳng có văn võ bá quan đến
bảo hộ bạn, chẳng có nhân dân để chi trì,
nếu chẳng có, bạn chỉ là hoàng đế trống
rỗng, có ích gì ? Cho nên, theo lý mà nói
thì tất cả chúng sinh vốn là Phật, nhưng
phải tu hành mới trở về nguồn cội được, nhận
thức bộ mặt thật vốn có của mình. Tại sao
phải minh bạch chúng sinh vốn là Phật ? Vì
trí huệ thật tướng không lìa tâm chúng sinh,
đều đầy đủ trong mỗi tự tính của chúng sinh,
cho nên phải hiểu đại lý.
5. Tu đại hạnh : Ðại Bồ Tát siêng tu lục độ
vạn hạnh : Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh
tấn, thiền định, trí huệ.
A. Bố thí : Gồm bố thí tài, bố thí pháp, bố
thí không sợ hãi.
a. Bố thí tài, lại có : nội tài (đầu, mắt,
tủy, não), và ngoại tài (ngai vàng, vợ con).
Hành Bồ Tát đạo là chẳng có tướng ta, chẳng
có tướng người, cho nên Bồ Tát xả bỏ tất cả,
bố thí cho mọi người.
b. Bố thí pháp, tức là thuyết pháp lợi sinh,
vì Chúng sinh mà thuyết giảng Phật pháp. Cho
nên người học Phật pháp, đều phải học tập
giảng Kinh thuyết pháp, để thuyết giảng cho
mọi người nghe. Nếu biết chút ít thì nói
chút ít, biết nhiều thì nói nhiều, tùy theo
sự hiểu biết của mình, mà giảng giải cho
người nghe, đó tức là bố thí pháp, dùng pháp
để bố thí giáo hóa chúng sinh.
c. Bố thí không sợ hãi, tức là nếu có người
gặp hoàn cảnh bất như ý hoặc tai nạn, trong
tâm sợ hại âu lo, mà lúc đó bạn an ủi họ,
khiến cho họ tiêu trừ hết tất cả sợ hãi lo
âu, tâm được yên ổn.
B. Trì giới : Giới có : năm giới, tám giới,
mười giới, mười giới trọng bốn mươi tám giới
khinh, giới Tỳ Kheo, giới Tỳ Kheo Ni.
C. Nhẫn nhục : Là phương pháp hữu dụng nhất,
nếu bạn nhẫn nhục được, thì giống như lượm
được báu vật vậy. Có câu chuyện nầy tôi đã
từng nói qua : Có vị tu hành, tu hạnh nhẫn
nhục ghi câu "Tính của tôi như tro", dáng
lên ở trước cửa. Ý nghĩa câu đó là : tính
của vị đó chẳng còn lửa, chưa bao giờ nóng
giận. Vị tu hành nầy, ngày đêm tinh tấn dụng
công, tính tình tu rất nhu hòa.
Lúc đó, có vị Bồ Tát đến khảo nghiệm đạo hạnh
của vị đó. Bồ Tát đến trước cửa của vị đó
hỏi :"Mấy chữ nầy là chữ gì ?" Ðáp :"Tính
như tro." Lát sau, Bồ Tát trở lại hỏi nữa
:"Tấm đó biên cái gì vậy ? vì tôi chẳng nhớ
rõ." Ðáp : "Tính như tro." Cứ như thế trở
lại hỏi mấy lần, cuối cùng vị tu hành nổi
lửa sân lên, lớn tiếng la lớn :"Tính như tro
! Tính như tro ! Ông có nghe không ! Ông có
nghe không ! Cứ đến nhiễu loạn sự tu hành
của tôi." Bồ Tát cười nói :"Té ra tro vẫn
còn lữa." Nói xong vọt thân lên hư không
biến mất. Bạn biết vị Bồ Tát nầy là ai chăng
? Ðó là Bồ Tát Quán Thế Âm đến khảo nghiệm
ông ta, kết quả tu mấy chục năm tính như tro
nhưng vẫn còn lửa. Trước khi Bồ Tát Quán Âm
đi có nói :"Ngươi hãy tiếp tục tu hành, hai
mươi năm sau ta sẽ đến nữa." Do đó, đủ thấy
nhẫn nhục là việc cực đoan chẳng dễ dàng,
quan trọng nhất là chẳng còn nóng giận.
D. Tinh tấn : Gồm thân tinh tấn và tâm tinh
tấn. Thân tinh tấn là : Lạy Phật, tụng Kinh,
trì Chú .v.v., ngày đêm sáu thời đều tinh
tấn dụng công, một phút một giây cũng không
giải đãi phóng dật. Chân chánh dụng công
chẳng phải cứ giả bề mặt bên ngoài, mà là tự
mình chân thật dụng công, đừng ở trước mặt
đại chúng tạo tác, giả vờ. Tâm tinh tấn là
luôn luôn siêng tu giới, định, huệ, diệt trừ
tham, sân, si.
E. Thiền định : Tham thiền đả tọa thì phải cần
tinh tấn để trợ giúp, có tinh tấn thì tất có
nhẫn nại ; có nhẫn nại tất tu được công đức,
tham thiền đả tọa nhập định. Nếu chẳng tinh
tấn, một nóng mười lạnh, tu một ngày, nghỉ
mười ngày, thì vĩnh viễn cũng chẳng đắc được
thiền định.
F. Bát Nhã : Bát Nhã là quan trọng nhất, người
tu hành phải có trí huệ, thiếu trí huệ thì
rất khó tu hành. Người có trí huệ thì bất cứ
lúc nào cũng đều dụng công, thấy gì cũng đều
là trí huệ, do đó : "Thuý trúc hoàng hoa vô
phi Bát Nhã". Nghĩa là : Trúc xanh hoa vàng
đâu chẳng phải là Bát Nhã trí huệ. Giống như
tôi có một đệ tử nói với tôi : "Sư huynh nào
đó khi nói chuyện với con thì mắng con".
Mắng ai ? Ðó chẳng phải là ngu si chăng !
Nếu bạn có trí huệ thì y mắng bạn mà bạn
không nhận sự mắng nầy, thì sự mắng nầy trở
về y ! Ví như có người ngửa mặt lên trới
phun nước miếng, nước miếng chẳng bao lâu
lại trở về mặt mình, hoặc là bạn có thể xem
như người đó, vì mình mà ca hát, hoặc là nói
tiếng ngoại quốc, như thế thì việc lớn sẽ
hóa nhỏ, việc nhỏ chẳng còn nữa, đó mới là
thật sự có trí huệ. Ðừng trách cứ rằng : Y
mắng chưởi tôi. Cứu kính : Tôi lại là ai ?
Bồ Tát chẳng có tướng tôi, chẳng có tướng
người, chẳng có tướng chúng sinh, chẳng có
tướng thọ mạng, như vậy còn cái tôi chăng.
Người xuất gia phải sớm trừ khử cái tướng
tôi, đừng để nó tồn tại sẽ có chướng ngại.
Bồ Tát còn phải quét sạch ba tâm : Tâm quá
khứ, tâm hiện tại và tâm vị lai. Tâm quá khứ
: quá khứ đã qua rồi, cho nên tâm quá khứ
không thể đắc được. Tâm hiện tại : nếu bạn
nói bây giờ là hiện tại, nhưng từng sát na
trôi qua không ngừng, cho nên tâm hiện tại
cũng không thể đắc được. Tâm vị lai : vị lai
thì chưa đến, do đó tâm vị lai cũng không
thể đắc được. Nếu bạn đã thấu rõ ba tâm
không thể đắc được, thì còn có gì để chấp
trước, không chấp trước tất cả, tức là đắc
được giải thoát, được tự tại thật sự.
Bồ Tát lại có bốn pháp nhiếp : Bố thí, ái ngữ,
lợi hành và đồng sự.
Bố thí : Bồ Tát
phải luôn luôn có tâm bố thí, bố thí khắp
cho tất cả chúng sinh.
Ái ngữ : Bồ Tát
chẳng có tướng ta, cho nên đối với tất cả
chúng sinh thường sinh tâm thương xót, xem
chúng sinh như chính mình, chẳng có chút
phân biệt ta người. Bồ Tát tự độ độ tha, đối
với bất cứ chúng sinh nào, cũng đều dùng lời
dịu dàng ôn hòa để đối xử.
Lợi hành : Tất cả
chúng sinh đều thích sự lợi ích, cho nên Bồ
Tát thường làm việc lợi ích cho chúng sinh.
Ðồng sự : Bồ Tát
hóa thân trăm ngàn ức, thấy thân gì độ được
họ, thì hiện ra thân đó để độ họ. Khi Ðức
Phật hành Bồ Tát đạo, thì vì muốn độ một bầy
nai mà hóa thành thân nai để giáo hóa chúng,
đó là một trong những đồng sự.
Hành Bồ Tát đạo thì khó hành mà hành được, khó
xả mà xả được, khó nhẫn mà nhẫn được, khó
nhường mà nhường được. Ðó là những điều kiện
tu hạnh Bồ Tát phải có.
6. Trải qua đại kiếp. Một kiếp tức là mười ba
vạn chín ngàn sáu trăm năm. Một ngàn kiếp
hợp lại làm một tiểu kiếp, hai mươi tiểu
kiếp làm một trung kiếp, bốn trung kiếp làm
một đại kiếp. Vậy Bồ Tát phải tu bao nhiêu
kiếp ? Ba đại A Tăng Kỳ kiếp. A Tăng Kỳ là
tiếng Phạn dịch là "vô lượng số". Cho nên
làm Bồ Tát chẳng phải là việc dễ dàng, phải
trải qua ba vô lượng số đại kiếp thời gian
mới thành đại Bồ Tát.
7. Cầu đại quả : Bồ Tát cầu đại quả gì ? Ngài
cầu quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác, tức
là thành Phật.
Cho nên đại (Ma ha tát) đầy đủ bảy đại ý nghĩa
nầy. Trong hội Pháp Hoa nầy có bao nhiêu vị
đại Bồ Tát ? Có tám vạn người. Tám vạn người
nầy đều đắc đại đạo Vô thượng chánh đẳng
chánh giác, do đó con đường nầy chỉ tiến về
trước, cho nên nói : Ðều không thối chuyển
nơi đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Có ba bất thối chuyển.
1. Vị bất thối : Bồ Tát đại thừa không thối
lùi về quả vị nhị thừa.
2. Niệm bất thối : Ðại Bồ Tát luôn luôn nghĩ
nhớ hành Bồ Tát đạo, tu lục độ vạn hạnh,
niệm niệm hướng về trước mà chẳng lui về
sau, chưa từng nghĩ : Tôi không hành Bồ Tát
đạo, mà làm tự liễu hán ! Bồ Tát không bao
giờ khởi ý niệm như thế.
3. Hành bất thối : Bồ Tát tinh tấn không giải
đãi, chỉ có tiến chứ chẳng có lùi.
"Ðều đắc được Ðà La Ni nhạo thuyết biện tài".
Ðà La Ni là tiếng Phạn, dịch là "tổng trì".
Tổng tất cả pháp, trì vô lượng nghĩa. Còn
gọi là "giá trì", hoặc là Chú. Ðà La Ni là
sinh thiện diệt ác, che (giá) ác, giữ (trì)
thiện, nghĩa là : không làm các điều ác, làm
các điều lành, và nghĩa là giới, đại đồng
tiểu dị, bất quá giữ giới luật thì bạn tự
mình giữ gìn, Ðà La Ni thì trì tụng Chú, sức
lực của Chú trợ giúp cho bạn dứt các điều
ác, sinh các điều lành. Ðà La Ni có rất
nhiều thứ, Bồ Tát đều đắc được, và còn đắc
được nhạo thuyết biện tài, cũng có thể nói
là đắc được Ðà La Ni nhạo thuyết biện tài.
"Chuyển bánh xe pháp bất thối chuyển". Chuyển
bánh xe pháp là gì ? Bồ Tát thường chuyển
bánh xe pháp, tức là chuyển bánh xe pháp bất
thối chuyển. Ví như hiện tại chúng ta giảng
Kinh thuyết pháp, hoặc phiên dịch Kinh ra
tiếng Anh, tiếng ngoại ngữ khác, hoặc giới
thiệu Phật pháp cho mọi người đều biết, đó
đều là chuyển bánh xe pháp. Tất cả những
công việc hoằng pháp, đều gọi là chuyển bánh
xe pháp. Cho nên, chúng ta là Phật giáo đồ,
đều phải coi công việc chuyển bánh xe pháp
là trách nhiệm của mình, đem hết khả năng ra
làm. Hơn nữa, hiện tại là thời đại khoa học,
có máy in, máy đánh chữ, chúng ta lợi dụng
những công cụ nầy, lưu truyền rộng rãi những
bản Kinh đã dịch ra tiếng ngoại quốc, khiến
cho mỗi người đều có phần, đó tức là chuyển
bánh xe pháp, khiến cho Phật pháp chảy mãi
không ngừng, vĩnh viễn không dứt. Khi tôi
còn thiếu thời tại Ðông Bắc Trung Quốc, học
Phật pháp chẳng bao lâu thì thích nhất là in
Kinh Phật, in ra mấy trăm mấy ngàn bộ. Mỗi
khi vào dịp lễ hoặc ngày sinh nhật của thân
nhân bạn bè, thì tôi đều biếu cho họ làm
quà, khiến cho họ sinh ra cảm hứng đối với
Phật pháp, đó là tôi chuyển bánh xe pháp bất
thối trước kia. Hy vọng mỗi người đều tận
hết khả năng lưu truyền Phật pháp, khiến cho
bánh xe pháp chuyển mãi không ngừng.
Ðại Bồ Tát cúng dường vô lượng chư Phật, ở nơi
các đạo tràng của chư Phật trải qua vô lượng
kiếp, vun bồi các gốc công đức lành. Bạn
thường cúng dường Tam Bảo, tức là vun bồi
gốc rễ đức hạnh của chính mình. Cho nên, tám
vạn vị đại Bồ Tát nầy, thời khắc luôn luôn
đều được chư Phật tán thán ca ngợi :"Thiện
nam tử ! Ông hành Bồ Tát đạo bất thối
chuyển, thật tốt thật không sai !"
Ðại Bồ Tát dùng tâm từ bi giáo hóa chúng sinh,
tu dưỡng thân mình. Các Ngài khéo đắc được
trí huệ của Phật, thông đạt đắc được đại trí
huệ, cho nên đến được bờ kia. Nếu đắc được
đại trí huệ thì đến được bờ kia (Ba La Mật).
Danh hiệu của tám vạn đại Bồ Tát nầy, vang
khắp trong vô lượng thế giới, tất cả chúng
sinh thường nghe thường niệm thường biết.
Trong tất cả vô lượng vô biên thế giới, Bồ
Tát độ giáo hóa vô số trăm ngàn chúng sinh.
Tên của các Ngài là : Bồ Tát Văn Thù Sư
Lợi, Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Ðại Thế, Bồ
Tát Thường Tinh Tấn, Bồ Tát Bất Hưu Tức, Bồ
Tát Bảo Chưởng, Bồ Tát Dược Vương, Bồ Tát
Dũng Thí, Bồ Tát Bảo Nguyệt, Bồ Tát Nguyệt
Quang, Bồ Tát Mãn Nguyệt, Bồ Tát Ðại Lực, Bồ
Tát Vô Lượng Lực, Bồ Tát Việt Tam Giới, Bồ
Tát Bạt Ðà Bà La. Bồ Tát Di Lặc, Bồ Tát Bảo
Tích, Bồ Tát Ðạo Sư .v.v… các vị đại Bồ Tát
như vậy, gồm tám vạn người tụ hội.
Tám vạn vị đại Bồ Tát có tám vạn danh hiệu,
nếu kể ra hết thì bộ Kinh Pháp Hoa nầy sẽ
quá dài, cho nên chỉ đề ra mấy vị đại Bồ Tát
đứng đầu trong số đó làm đại biểu.
Bồ Tát đại biểu đứng đầu có Bồ Tát Văn Thù Sư
Lợi. Văn Thù Sư Lợi là tiếng Phạn, dịch là
"Diệu Ðức", "Diệu Cát Tường". Vị Bồ Tát nầy
trí huệ rộng lớn vô cùng, tư cách cũng già
nhất. Trong quá khứ, Ngài sớm đã thành Phật,
hiệu là Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật,
thành Phật rồi Ngài ẩn lớn hiện nhỏ, hành Bồ
Tát đạo giáo hóa chúng sinh, trợ giúp Phật
hoằng dương giáo hóa. Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát
Quán Âm, Bồ Tát Phổ Hiền, Bồ Tát Ðịa Tạng là
bốn vị Ðại Bồ Tát. Bồ Tát Văn Thù ở tại núi
Ngũ Ðài, là đạo tràng Ngài thường hiển hiện.
Thần thông diệu dụng của Ngài thật không thể
nghĩ bàn.
Lão Hoà Thượng Hư Vân đã từng phát nguyện đi
ba bước lạy một lạy, từ Nam Hải núi Phổ Ðà
lạy đến núi Ngũ Ðài cầu sự cảm ứng của Bồ
Tát Văn Thù, khiến cho Ngài cũng đắc được
đại trí. Lộ trình ba bước một lạy dài khoảng
năm sáu ngàn dặm, bạn nói phải lạy bao lâu
mới xong ? Là một đoạn thời gian rất dài,
nếu muốn biết tỉ mỉ thì hãy xem quyển Hư Vân
Lão Hoà Thượng Niên Phổ, hoặc là Họa Truyện.
Trong đó có một đoạn như thế nầy : Tức là
Ngài Hư Vân lạy đến sông Hoàng Hà, thì vào
lúc mùa đông tuyết xuống quá nhiều, mới tá
túc cạnh bờ sông trong một cái sạp để tránh
tuyết rơi, trải qua mấy ngày tuyết từ từ bớt
dần, Ngài cũng đói rã rượi, gần như sắp
chết. Lúc đó có một vị ăn mày đến, lấy cỏ
che chung quanh cái sạp, nổi lửa nấu cháo
gạo vàng, dâng cho Hoà Thượng dùng. Ăn xong
thì hồi phục sức lại, Ngài Hư Vân mới hỏi vị
ăn mày tên họ và từ đâu đến. Vị ăn mày nói
:"Họ Văn tên Cát, đến từ Ngũ Ðài, ai cũng
đều biết tôi." Sau đó vị ăn mày này mang
hành lý cho Ngài Hư Vân, Ngài Hư Vân thì ba
bước một lạy rất là thuận tiện.
Trên đường đi, có khi vào chùa tá túc, nhưng
Hoà Thượng trong chùa chuyên môn khinh khi
vị ăn mày nầy, lại mắng Ngài Hư Vân :"Ông lễ
lạy thì lễ lạy, sao còn dẫn kẻ ăn mày đi
theo !" Ngài Hư Vân bị người mắng chưởi, còn
vị ăn mày lại càng bị người mắng chưởi, thậm
chí không cho vị ăn mày ngủ ở trong chùa, bị
đuổi ra khỏi chùa. Vị ăn mày nói với Ngài Hư
Vân :"Từ đây còn cách núi Ngũ Ðài chẳng bao
xa, tôi đi về trước, ông từ từ đến, hành lý
của ông chẳng bao lâu sẽ có người mang lên
núi cho ông." Quả nhiên giữa đường, Ngài Hư
Vân gặp một vị quan đánh xe ngựa, giúp Ngài
mang hành lý đến núi Ngũ Ðài, còn Ngài Hư
Vân thì ba bước một lạy. Khi đến núi Ngũ
Ðài, mới hỏi các vị Hoà Thượng của núi Ngũ
Ðài, có biết một vị ăn mày tên là Văn Cát
chăng ! Nhưng chẳng có ai biết, sau đó mới
kể cho một vị Tăng nghe, thì vị Tăng chắp
tay lại nói : "Ðó là hóa thân của Bồ Tát Văn
Thù !" (Văn là Văn Thù, Cát là Diệu Cát
Tường).
Ngài Hư Vân lạy Bồ Tát Văn Thù, được sự cảm
ứng của Bồ Tát Văn Thù đến giúp đỡ Ngài.
Ngài với Bồ Tát ở chung khá lâu nhưng cũng
chẳng biết, kết quả sau nầy mới biết là Bồ
Tát Văn Thù hiển thánh, thế mà chẳng nhận
ra. Cho nên, chỗ diệu của Bồ Tát Văn Thù
thật không thể nghĩ bàn. Vì chỗ diệu của
Ngài, nên hóa thành một kẻ ăn mày. Nếu Ngài
biến thành một ông trưởng giả giàu hoặc đánh
xe ngựa đến giúp đỡ Hoà Thượng cũng có thể.
Nhưng Ngài không làm như thế ! Ngài cũng
nguyện theo Hoà Thượng chịu khổ. Cho nên, đó
là đại trí đại huệ của Bồ Tát Văn Thù Sư
Lợi.
Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là vị Bồ Tát rất đặc
thù, khi Ngài ra đời thì có mười điều cát
tường phát sinh, chẳng giống các vị Bồ Tát
khác. Bồ Tát Văn Thù là bậc đại trí huệ, có
bạn sẽ hỏi :"Vậy Tôn Giả Xá Lợi Phất cũng là
bậc đại trí huệ, giữa Bồ Tát Văn Thù và Ngài
Xá Lợi Phất có gì khác biệt ?" Trí huệ của
Bồ Tát Văn Thù là thật trí, trí huệ đại
thừa, còn trí huệ của Tôn Giả Xá Lợi Phất là
quyền trí, trí huệ tiểu thừa.
Sau đây là mười
điều cát tường phát sinh khi Bồ Tát Văn Thù
ra đời.
1. Quang minh đầy phòng. Quang minh nầy sáng
hơn bất cứ ánh sáng đèn gì, đại biểu đại trí
huệ của Bồ Tát.
2. Cam lồ đầy sân. Cam lồ là một thứ nước bất
khả tư nghì, có thể trị lành đủ thứ bệnh,
nếu ai uống được thì chẳng bị uy hiếp về khổ
sinh, già, bệnh, chết.
3. Ðất vọt lên bảy báu. Bảy báu là : vàng,
bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã
não. Tại sao bảy báu vọt lên ? Vì Bồ Tát Văn
Thù đã tu lục độ vạn hạnh hết sức cứu kính
viên mãn, cho nên Ngài đến đâu cũng đều cảm
ứng châu báu từ duới đất xuất hiện.
4. Thần thông khai mở bảo tàng. Sức đại thần
thông của Bồ Tát Văn Thù, khiến cho đất nứt
ra mà lộ ra bảo tàng ẩn náu ở dưới đất, đây
chẳng giống đất vọt lên bảy báu, như điều
thứ ba ở trên, ở đây đất nứt xé ra mà hiển
lộ ra bảo tàng.
5. Gà sinh phụng hoàng. Ðiềm nầy càng chẳng
tầm thường so với điềm vừa rồi ở trên. Kì
thật, gà chỉ sinh gà, nhưng vì Bồ Tát Văn
Thù ra đời là việc phi thường đặc thù, cho
nên trứng gà nở ra phụng hoàng (phụng hoàng
là thần của loài chim).
6. Heo sinh rồng con. Ðiềm cát tường nầy, càng
hi kỳ ít thấy hơn gà sinh phụng hoàng. Nếu
bạn đã cảm thấy quá bất khả tư nghì, thì hãy
xem mấy điềm dưới đây nữa.
7. Ngựa sinh kì lân. Kì lân, thân nai đuôi bò,
một sừng. Ngựa mà sinh kì lân là điều hiếm
có trên đời.
8. Bò sinh bạch trạch. Bạch trạch là tên của
loài thần thú, biết nói. Là mội loài thần
thú hiếm có vô cùng mà cát tường, chẳng
giống bò cũng chẳng giống ngựa.
9. Thóc biến thành vàng. Các bạn nghĩ có kì dị
chăng ? Có những người cho rằng thật là quá
kì dị, cho nên không tin. Nếu bạn không tin
là vì bạn chẳng minh bạch. Nếu bạn minh bạch
thì chẳng có nghi vấn gì, trước kia chắc
chắn bạn chưa nghe qua những việc nầy, cho
nên làm sao bạn tin được. Bất quá, thế giới
nầy quá rộng lớn, mà những gì chúng ta thấy
nghe đều có hạn, vì chúng ta chưa nghe qua
những hiện tượng kì dị nầy, khi thóc chuyển
biến thành thóc bằng vàng rồi, thì không thể
làm vật ăn nữa, nhưng đó chỉ là số ít.
10. Voi đủ sáu ngà. Thông thường chúng ta chỉ
biết voi có hai ngà. Nhưng khi Bồ Tát Văn
Thù ra đời, thì voi đều mọc ra sáu cái ngà,
bạn nói đó có kì dị chăng ?
Có vị cư sĩ hỏi :"Tại sao voi đủ sáu ngà ?"
Sáu ngà là tượng trưng cho sáu độ (lục độ),
voi là đại biểu cho vạn hạnh.
Ðó là mười điềm cát tường hiển hiện khi Bồ Tát
Văn Thù ra đời, đó cũng là biểu hiện Ngài
thuyết pháp biện tài vô ngại. Bồ Tát Văn Thù
trí huệ đệ nhất trong chúng Bồ Tát, đầy đủ
dũng mãnh thật trí, thuyết pháp viên dung vô
ngại. Nếu như các bạn nghe được Bồ Tát Văn
Thù thuyết pháp, thì các bạn sẽ thấy sự
giảng pháp của tôi còn thua Ngài xa lắm, vì
chẳng cách chi so sánh được. Hoặc có bạn sẽ
nói :"Chúng con rất thích Hoà Thượng giảng
pháp, chúng con cảm thấy Hoà Thượng giảng
rất là hay." Nhưng nếu quý vị nghe được sự
giảng pháp của Bồ Tát Văn Thù, thì sẽ biết
không thể sánh với Ngài được.
Bồ Tát Quán Thế Âm. Danh hiệu của Ngài là Quán
Tự Tại. Quán Thế Âm là quán sát âm thanh của
thế gian. Chúng ta đều biết Ngài, vì Ngài từ
bi nhất, như tình thương của người mẹ ban
cho chúng sinh tất cả sự mong cầu. Do đó,
tại Trung Quốc có câu liễu rằng : Nhà nhà
Quán Âm, cửa cửa Di Ðà Phật. Bồ Tát Quán Thế
Âm là đệ tử lớn của Phật A Di Ðà. Phật A Di
Ðà là giáo chủ cõi Tây phương thế giới Cực
Lạc. Bên trái của Ngài là Bồ Tát Quán Thế
Âm, bên phải của Ngài là Bồ Tát Ðại Thế Chí.
Ðó là Tây phương Tam Thánh. Khi Phật A Di Ðà
hết làm giáo chủ, thì Bồ Tát Quán Thế Âm lên
thay thế làm giáo chủ, sau đó khi Bồ Tát
Quán Thế Âm hết làm giáo chủ, thì Bồ Tát Ðại
Thế Chí lên thay thế làm giáo chủ.
Vì Bồ Tát Quán Thế Âm, thường hóa hiện vô
lượng số thân hình để cứu độ khổ nạn của
chúng sinh, cho nên Ngài có danh hiệu là Ðại
Từ Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài dùng ngàn
con mắt chiếu soi chúng sinh trôi nổi trong
biển khổ, cho nên dùng ngàn tay để cứu vớt
chúng sinh lìa khỏi biển khổ, khiến cho họ
đến nơi yên ổn an vui.
Phẩm thứ hai mươi lăm trong Kinh Pháp Hoa là
Phẩm Phổ Môn Quán Thế Âm Bồ Tát, chuyên nói
về thần lực không thể nghĩ bàn của vị Bồ Tát
nầy, chúng ta sẽ nghiên cứu về phẩm nầy sau.
Bồ Tát Ðắc Ðại Thế, tức là Bồ Tát Ðại Thế Chí.
Mỗi khi vị Bồ Tát nầy cất bước đi, thì ba
ngàn đại thiên thế giới đều phát sinh sáu
thứ chấn động, đó là nguyên nhân Ngài được
danh hiệu là Ðắc Ðại Thế Bồ Tát. Sáu thứ
chấn động là gì. Tức là : Ðộng, dũng, khởi,
chấn, hống, thanh. Sức mạnh của những sự
chấn động nầy phát khởi, thì dù bom đạn mạnh
hết sức của thời đại hiện nay, cũng không
thể sánh bằng, bất quá những thứ chấn động
ấy, chẳng phải như vũ khí tân thời sẽ phá
hủy tiêu diệt tất cả vạn vật. Sáu thứ chấn
động nầy chẳng tổn hại tơ hào đến bất cứ vật
gì.
Bồ Tát Ðắc Ðại Thế, còn gọi là Bồ Tát Vô Biên
Quang Sí Thân, vì ai thấy được quang minh
một lỗ chân lông của vị Bồ Tát nầy, thì
giống như thấy được quang minh thanh tịnh vi
diệu của chư Phật Như Lai trong mười phương.
Bồ Tát Thường Tinh Tấn. Thường nghĩa là chưa
từng thối lui. Tinh tấn gồm có thân tinh tấn
và tâm tinh tấn. Vị Bồ Tát nầy tu hành tinh
tấn chưa từng ngừng nghỉ. Ngài siêng tu vạn
hạnh để giáo hóa chúng sinh, dũng mãnh tinh
tấn phi thường. Ngài chẳng giống như chúng
ta, vừa mới tiến hành một kế hoặch gì, nếu
gặp khó khăn thì thối thất bỏ qua. Bồ Tát
Thường Tinh Tấn chưa từng ngủ nghỉ, luôn
luôn nỗ lực công việc. Ngài có thể trải qua
thời gian dài vô lượng kiếp, thử đi giáo hóa
một chúng sinh, trợ giúp cho họ phát đại bồ
đề tâm. Ngài giáo hóa chúng sinh nầy, có thể
dùng vô số pháp môn, đem hết khả năng và
thời gian, hoặc có khi cũng chẳng cách chi
cứu độ họ. Tuy nhiên như thế, nhưng Bồ Tát
Thường Tinh Tấn chưa từng mệt mỏi hoặc thối
thất nghị lực. Cho nên chúng ta muốn cứu độ
chúng sinh, nên học theo vị Bồ Tát nầy. Nếu
một đời nầy độ không được người nào đó, thì
chúng ta hãy phát tâm đời sau nhất định phải
độ họ, hoặc là đời sau nữa, đời sau sau nữa
cũng phát tâm như thế, cho đến khi thành
công mới thôi.
Nói về phương diện khác, nếu bạn chú ý đến có
người nào đó thường theo bạn, thử đến giáo
hóa hướng dẫn bạn, thì bạn hãy lập tức nghe
lời sự dạy dỗ hướng dẫn của họ và sinh đại
tín tâm. Người đó có khả năng tức là Bồ Tát
Thường Tinh Tấn, không sợ phiền não nguyện
lực mà trải qua đời đời kiếp kiếp thử giáo
hóa cứu độ bạn ! Bạn không nên không nghe
lời sự khuyên dạy của họ !
Tâm tinh tấn nghĩa là tâm chưa từng sợ thối
lùi, chưa bao giờ nghĩ : Khó quá ! Bạn cũng
chẳng cảm thấy giáo hóa người khác là khốn
khổ. Thường tinh tấn tức là siêng năng
chuyên cần không thối tâm.
Bồ Tát Bất Hưu Tức. Bạn sẽ nghĩ : "Thường tinh
tấn và bất hưu tức có gì khác biệt ? Hai
danh từ nầy chẳng phải là tương tợ chăng ?
Tại sao chúng ta cần tên khác nhau của hai
vị Bồ Tát ?"
Trên thật tế thì chẳng biết có bao nhiêu vị Bồ
Tát Thường Tinh Tấn, cũng chẳng cách chi đếm
được có bao nhiêu vị Bồ Tát Bất Hưu Tức, các
Ngài nhiều vô lượng vô biên. Nói tóm lại,
nếu bạn tu tập luôn luôn (dụng công không
ngừng), thường tinh tấn thì chính bạn là Bồ
Tát Thường Tinh Tấn. Nếu bạn truy cầu nghiên
cứu Phật pháp chưa từng nghỉ ngơi, thì bạn
cũng là Bồ Tát Bất Hưu Tức.
Vậy các Ngài cứu kính có gì khác nhau ? Tuy
nhiên, trên căn bản thì các Ngài giống nhau,
nếu như bạn muốn nói về sự khác nhau của các
Ngài, thì vị Bồ Tát Thường Tinh Tấn vào dòng
sinh tử tiếp tục không ngừng, để cứu độ
Chúng sinh. Còn Bồ Tát Bất Hưu Tức, thì trải
qua thời gian lâu dài rộng lớn, ở trong dòng
sinh tử chưa từng mệt mỏi.
Không mệt mỏi, nghĩa là : Ngài không sợ gian
lao khổ nhọc. Nếu lạy Phật hoặc tụng Kinh
thì Ngài không vì một chút mệt nhọc mà đi
nằm nghỉ. Bất cứ làm gì, Ngài cũng chưa từng
nghỉ ngơi. Bồ Tát Bất Hưu Tức bận rộn vô
cùng, nhưng Ngài tuyệt đối không than thở,
hoặc chẳng có ai thấy Ngài làm việc thiện,
Ngài cũng tinh tấn tiếp tục công việc không
nghỉ ngơi. Ngài chưa từng rao bán công đức
của mình.
Có một số cư sĩ thường đến đây quảng cáo công
đức của họ, tuyên dương mình làm được bao
nhiêu công đức, hoặc bỏ ra bao nhiêu tiền,
những người nầy hoàn toàn trái ngược với Bồ
Tát Bất Hưu Tức. Bồ Tát Bất Hưu Tùc, trải
qua nhiều đại kiếp như số cát sông Hằng,
chưa từng nghỉ ngơi, giải đải, nhiều ngày
đầy tháng, nhiều tháng đầy năm, nhiều năm
thành trăm ngàn vạn ức kiếp mà Ngài không
nghỉ ngơi.
Bồ Tát Bảo Chưởng. Bảo là bảo bối, cũng là
pháp bảo. Chưởng là bàn tay. Bồ Tát có khi
lấy hạnh môn của Ngài tu mà làm tên, có khi
lấy đức hạnh để làm tên, có khi dùng nguyện
lực để làm tên. Bàn tay của vị Bồ Tát Bảo
Chưởng nầy có đủ thứ pháp bảo. Pháp bảo thứ
nhất trên tay của Ngài là Châu như ý, châu
như ý nầy là toại tâm như ý, chẳng có sự
mong cầu gì mà chẳng được. Tay thứ hai là
Quyên tố thủ, tay thứ ba là Bảo bát thủ, thứ
tư là Bảo kiếm thủ, thứ năm là Bạt triết
thủ, thứ sáu là Kim cang xử thủ, thứ bảy là
Thí vô úy thủ, thí vô úy thủ nầy của Ngài,
chẳng sợ hãi bất cứ những gì. Vị Bồ Tát Bảo
Chưởng nầy, khi tại nhân địa thì tu ngàn tay
ngàn mắt của Quán Thế Âm Bồ Tát và bốn mươi
hai tay và mắt, cho nên đắc được bảo chưởng.
Vì trong bàn tay của Ngài đầy đủ tất cả pháp
bảo cho nên gọi là Bồ Tát Bảo Chưởng.
Bồ Tát Dược Vương. Trong Kinh Lăng Nghiêm, hai
mươi lăm vị Thánh thuật lại sư chứng đắc của
mình, trong đó có Bồ Tát Dược Vương và Bồ
Tát Dược Thượng. Vị Bồ Tát nầy có một đoạn
nhân duyên như vầy : Trong quá khứ có vị
Chuyển luân thánh vương, có một ngàn vị
vương tử. Một ngàn vị vương tử cùng phát tâm
xuất gia, tức là một ngàn vị Phật của Hiền
kiếp nầy. Ðức Phật Thích Ca là vị Phật thứ
tư trong Hiền kiếp. Vị Chuyển luân thánh
vương có riêng một bà thiếp phi, sinh được
hai người con, người con lớn phát nguyện
muốn hộ trì pháp của một ngàn người anh, khi
mỗi một vị Phật ra đời, Ngài đều hộ pháp.
Người con thứ hai thấy người anh phát nguyện
làm hộ pháp, thì Ngài phát nguyện khi một
ngàn người anh thành Phật, thì bất cứ vị nào
thành Phật, Ngài đều muốn đến cúng dường
Phật trước nhất. Khi Phật trụ thế thì Ngài
luôn luôn đến cúng dường. Chẳng phải chỉ
cúng dường một người anh, mà là một ngàn
người anh thành Phật, thì Ngài đều đến cúng
dường. Khi Phật nhập Niết Bàn rồi, đến thời
kỳ mạt pháp thì Ngài lại phát nguyện cứu độ
chúng sinh, dùng đủ thứ thuốc để chữa bệnh
cho chúng sinh. Bất cứ nạn lửa, đao binh,
nạn nước, nạn ôn dịch, Bồ Tát Dược Vương đều
phát nguyện, đến cứu độ tất cả chúng sinh có
những bệnh khổ tai nạn nầy. Ðó là nhân duyên
quá khứ của Bồ Tát Dược Vương.
Bồ Tát Dược Vương chuyên môn chữa bệnh cho
chúng sinh, Ngài không những chữa thân bệnh,
mà cũng chữa tâm bệnh cho chúng sinh. Thân
tâm của chúng sinh bệnh đều chữa khỏi mới có
thể tu hành.
Bồ Tát Dũng Thí. Dũng là dũng mãnh. Thí là bố
thí. Bố thí phải có tâm dũng mãnh mới bố thí
được, nếu chẳng có tâm dũng mãnh, thì chẳng
bố thí được. Trong lục độ vạn hạnh, bố thí
là hàng đầu, trong vạn hạnh, lấy lục độ làm
chủ thể, lục độ lấy bố thí làm chủ thể. Cho
nên, chúng ta hành bố thí, tức là bao quát
lục độ vạn hạnh.
Bố thí phải có tâm dũng mãnh, công đức bố thí
thật không thể ngĩ bàn. Vì khi bạn bố thí,
thì dùng tinh thần không thể nghĩ bàn để bố
thí, cho nên quả báo đắc được cũng không thể
nghĩ bàn. Chúng ta hành bố thí thì tốt lắm,
song, nếu nghĩ đến chính mình rằng :"Nếu
mình đem tiền bố thí cho người khác thì con
đâu mà mua sắm ? Nếu đem quần áo ra bố thí
thì mình lấy gì mặc ? Nếu đem nhà cửa bố thí
thì mình lại ở đâu ?" Ðó tức là chẳng có tâm
dũng mãnh. Một khi mà nghĩ đến cái ta, thì
chẳng bố thí đặng. "Nếu đem đồ ăn uống bố
thí cho người ta thì mình lại ăn cái gì ?"
Nếu nghĩ đến chính mình, thì tâm dũng mãnh
tiêu tan mất, hơn nữa cũng chẳng còn tinh
thần bố thí. Nhưng Bồ Tát Dũng Thí, khi Ngài
bố thí thì chẳng suy nghĩ đắn đo gì cả. Ngài
thấy người nào đó gặp khó khăn thì giúp đỡ
họ, đem quần áo, đem thức ăn của mình bố thí
được bao nhiêu thì hay bấy nhiêu, nghĩa là
làm hết khả năng. Vì Bồ Tát Dũng Thí dũng
mãnh nhất về bố thí, dũng mãnh về bố thí
tài, bố thí pháp, bố thí vô úy, cho nên gọi
là Bồ Tát Dũng Thí.
Bồ Tát Bảo Nguyệt. Bồ Tát nầy dùng bảo nguyệt
làm danh hiệu.
Bồ Tát Nguyệt Quang. Vị Bồ Tát nầy dùng ánh
sáng của mặt trăng làm danh hiệu. Ánh sáng
của mặt trăng diệt trừ tất cả đen tối ban
đêm.
Bồ Tát Mãn Nguyệt. Vị Bồ Tát nầy công đức như
trăng rằm. Các vị Bồ Tát trên đây rất nghiêm
trì giới luật, do đó : "Nghiêm trì Tỳ ni,
hoành phạm tam giới, năng ư quốc độ, thành
tựu oai nghi". Tỳ ni tức là giới luật. Các
Ngài nghiêm trì giới luật quang minh như bảo
nguyệt, viên mãn, làm đại mô phạm cho tam
giới, làm khuôn mẫu. Cho nên Bồ Tát Bảo
Nguyệt, Bồ Tát Nguyệt Quang, Bồ Tát Mãn
Nguyệt, trì giới tinh tấn như trăng rằm,
thân miệng thanh tịnh không tì vết.
Bồ Tát Ðại Lực. Vị Bồ Tát nầy sức lực mạnh vô
cùng, không kém sứ lực của Bồ Tát Ðắc Ðại
Thế.
Bồ Tát Vô Lượng Lực. Bồ Tát Việt Tam Giới. Hai
vị Bồ Tát nầy, siêu việt khỏi dục giới, sắc
giới, vô sắc giới (tam giới). Làm thế nào
siêu việt ? Vì có đại lực, có vô lượng lực.
Ba vị Bồ Tát Ðại Lực, Vô Lượng Lực, Việt Tam
Giới, đều tu cùng một hạnh môn, đó là hạnh
môn tinh tấn Ba La Mật, dũng mãnh tinh tấn
tiến về trước, cho nên ba danh hiệu đều như
nhau. Ðại Lực tức là Vô Lượng Lực, Vô Lượng
Lực cũng tức là Việt Tam Giới. Nếu các Ngài
chẳng có đại lực, vô lượng lực thì cũng
không thể siêu việt khỏi tam giới. Tại sao
tu tinh tấn Ba La Mật ? Vì đều đắc được đại
lực, vô lượng lực, đắc được dũng mãnh siêu
việt tam giới. Cho nên các Ngài luôn luôn
tinh tấn chẳng giải đãi, đều tiến về trước,
đó là nguyên do danh hiệu của ba vị Bồ Tát
nầy.
Bồ Tát Bạt Ðà Bà La. Bạt Ðà Bà La dịch là
"Hiền thủ", "Hiền hộ". Hiền Thủ : Vị Bồ Tát
nầy đứng đầu trong hiền chúng, làm thượng
tọa ở trong chúng Bồ Tát. Ngài là đại Bồ Tát
trong chúng Bồ Tát. Hiền Hộ : Ngài là một vị
Bồ Tát hộ trì chúng sinh trong Thánh hiền.
Bồ Tát Di Lặc. Ngài còn gọi là Bồ Tát A Dật
Ða.
Di Lặc dịch là "Từ Thị". A Dật Ða dịch là "Vô
Năng Thắng", chẳng có thiên ma ngoại đạo nào
thắng qua Ngài được. Ngài hiện nay ở nội
viện cung trời Ðâu Suất. Ngài tu từ tâm tam
muội, tức cũng là tu nhẫn nhục tam muội, đối
với tất cả chúng sinh đều có tâm từ bi, cho
nên mỗi chúng sinh nào thấy Ngài đều phát
sinh tâm từ bi.
Tương lai Bồ Tát Di Lặc sẽ thay thế Ðức Phật,
làm giáo chủ cõi Ta Bà nầy. Tương lai khi
nào sẽ thay thế ? Có một số ngoại đạo nói :
Bồ Tát Di Lặc đã ra đời. Ðó là nói lời mộng
mị ! Ðức Phật Thích Ca nói rất rõ ràng, tại
thế giới nầy (Hiền kiếp), mỗi một trăm năm
thì thân người giảm xuống một tất, tuổi thọ
cũng giảm xuống một tuổi, giảm đến tuổi thọ
của con người chỉ còn mười tuổi thì ngừng.
Lúc đó lại bắt đầu tăng lên, cũng trải qua
một trăm năm thì thân người cao thêm một
tất, tuổi thọ cũng tăng thêm một tuổi, đến
khi tuổi thọ của con người tám vạn bốn ngàn
tuổi thì lại bắt đầu giảm xuống, giảm đến
tuổi thọ còn tám vạn tuổi thì Bồ Tát Di Lặc
mới xuất hiện ra đời, giáo hóa chúng sinh.
Lúc đó, tức cũng là Long Hoa tam hội. Cho
nên, hiện tại ngoại đạo chẳng hiểu Phật pháp
nói cuồng nói bậy.
Hiện tại tuổi thọ của con người khoảng sáu,
bảy mươi tuổi, vậy khi tuổi thọ con người
giảm xuống còn mười tuổi, thì bạn tính xem
thời gian còn dài bao lâu ? Sau đó mới tăng
đến tám vạn bốn ngàn tuổi, lại dài bao lâu ?
Sau đó giảm xuống còn tám vạn tuổi thì Bồ
Tát Di Lặc mới ra đời. Cho nên những tà môn
ngoại đạo cứ nói lời mộng mị.
Bồ Tát Bảo Tích. Vị Bồ Tát nầy tích lũy rất
nhiều bảo vật, tích lũy vô lượng vô biên
công đức. Công đức cũng như bảo vật, như
pháp bảo.
Bồ Tát Ðạo Sư. Ðạo Sư là gì ? Là thầy dẫn
đường. Ngài làm đạo sư dẫn đường chúng sinh,
tiếp dẫn chúng sinh, tức là hướng dẫn người
trở về con đường chánh, trở về Phật đạo.
Hướng dẫn ai ? hướng dẫn người bị đọa địa
ngục. Người đọa địa ngục chịu vô lượng sự
khổ, chẳng biết phát bồ đề tâm, cũng chẳng
biết sám hối. Cho nên, Bồ Tát Ðạo Sư dùng đủ
thứ phương tiện pháp môn, để dẫn đường chỉ
lối cho họ, dạy họ phát bồ đề tâm, đi trên
đường giác ngộ.
"Các vị đại Bồ Tát như vậy tám vạn người tụ
hội". Những vị đại Bồ Tát như ở trên đã nói
có tám vạn người tụ hội.
Lúc đó, Thích Ðề Hoàn Nhân và quyến thuộc
hai vạn Thiên Tử đều tụ hội. Lại có Thiên Tử
Minh Nguyệt, Thiên Tử Phổ Hương, Thiên Tử
Bảo Quang. Bốn vị Ðại Thiên Vương và quyến
thuộc một vạn Thiên Tử đều tụ hội. Thiên Tử
Tự Tại, Thiên Tử Ðại Tự Tại và quyến thuộc
ba vạn Thiên Tử đều tụ hội.
Lúc đó là lúc đương thời, tức là lúc Ðức Phật
nói bộ Kinh Pháp Hoa nầy. Ðương lúc đó, có
tám vạn Bồ Tát cùng đến pháp hội đạo tràng.
Tám vạn vị Bồ Tát nầy đều là đại Bồ Tát, đều
là con của Phật. Ðức Phật là Ðấng Pháp
Vương, Bồ Tát là Pháp Vương tử nghĩa là con
của đấng Pháp Vương. Cho nên trong Kinh A Di
Ðà có nói : Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử
.v.v. Những vị đại Bồ Tát ở trong Kinh Pháp
Hoa nầy đều là Pháp Vương Tử.
Ðức Phật có ba hạng con :
1. Chân tử : Tức là Bồ Tát Pháp Vương Tử. Các
Ngài là quyến thuộc bên ngoài của Phật, hộ
trì Phật ở bên ngoài.
2. Nội tử : Tất cả Tỳ Kheo và A La Hán đều là
nội tử của đức Phật.
3. Ngoại tử : Tất cả phàm phu chúng sinh, cũng
đều là con của Phật, bất quá là ngoại tử của
Phật, ở bên ngoài Phật pháp, chưa học tập
Phật pháp ; tuy nhiên họ học tập Phật pháp,
nhưng chưa chứng quả, vẫn ở địa vị phàm phu,
chưa đạt đến địa vị Thánh Hiền, cho nên gọi
là ngoại tử. Ba hạng con của Phật bao quát :
Bồ Tát, A La Hán và lục đạo chúng sinh. Ba
cõi Thánh và sáu cõi phàm hợp lại là chín
pháp giới chúng sinh.
Thích Ðề Hoàn Nhân : Là tiếng Phạn, dịch là
"Năng tác". Năng là cái gì ? được làm Chúa
trời. Thích Ðề Hoàn Nhân tức là Chúa trời mà
một số người sùng bái. Thích Ðề Hoàn Nhân ở
trong Chú Lăng Nghiêm tức là Nhân Ðà La Gia,
Nam mô Nhân Ðà La Gia. Nhân Ðà La Gia tức
cũng là Thích Ðề Hoàn Nhân, làm chủ chư
thiên cõi trời Tam Thập Tam (trời Ðao Lợi),
tức cũng là Ngọc Hoàng Ðại Ðế, mà một số
người cung kính. Tuy nhiên ông ta làm Hoàng
Ðế trên cõi trời, nhưng còn ở trong pháp
giới của sáu cõi phàm, chẳng phải là Thánh
Hiền. Cho nên, Thích Ðề Hoàn Nhân là hộ pháp
ở trong Phật giáo.
Thích Ðề Hoàn Nhân và quyến thuộc hai vạn
người đều cùng đến hội Pháp Hoa. Còn có
Thiên Tử Minh Nguyệt, vị Thiên Tử nầy như
trăng sáng, khiến cho người thấy được thì
tâm rất thanh lương. Lại có Thiên Tử Phổ
Hương, Thiên Tử nầy thích mùi hương, trên
thân thường thường tỏa ra hương thơm, huân
khắp pháp giới. Lại có Thiên Tử Bảo Quang,
vị Thiên Tử nầy thích bảo vật, trên thân có
quang minh báu. Thiên Tử Phổ Hương biết tất
cả chúng sinh cũng đều thích hương thơm, do
đó phóng ra một mùi hương khắp thế giới để
trừ khử mùi hôi thối. Nếu chẳng phải vị
Thiên Tử nầy phóng ra hương thơm, thì chúng
ta ở thế giới nầy hôi thối không thể tả.
Thiên Tử Bảo Quang cũng biết tất cả chúng
sinh đều có tâm tham, thích bảo vật quý giá,
cho nên vị nầy phóng ra bảo quang, làm thỏa
mãn nguyện vọng của chúng sinh. Thỏa mãn
nguyện vọng thì phát bồ đề tâm. Hai vị Thiên
Tử nầy, chẳng phải chỉ có mình thích hương
thơm và bảo vật, mà là vì tất cả chúng sinh
cũng đều thích hương thơm và bảo vật, cho
nên hai vị nầy phóng ra hương thơm và bảo
quang, làm mãn nguyện tâm nguyện của chúng
sinh, cũng khiến cho chúng sinh trên thế
gian đều thức tỉnh, gặp cảnh giới không thể
nghĩ bàn nầy, mà phát tâm bồ đề vô thượng.
Hương là trì giới thanh tịnh, bảo là bố thí
vô tướng.
Lại có Tứ Ðại Thiên Vương. Phương đông Trì
Quốc Thiên Vương, phương nam Tăng Trưởng
Thiên Vương, phương tây Ða Văn Thiên Vương,
phương bắc Quảng Mục Thiên Vương. Tứ đại
Thiên Vương ở giữa núi Tu Di, các vị Thiên
Vương nầy đều bảo hộ tất cả chúng sinh ở thế
giới nầy, cho nên gọi là hộ thế Tứ Vương,
bốn ông vua giúp đời. Bốn vị Thiên Vương nầy
cùng với quyến thuộc một vạn người đều đến
hội Pháp Hoa.
Lại có Thiên Tử Tự Tại, vị Thiên Tử nầy tự tại
vô cùng, ở trên cõi trời Hóa Lạc. Sự khoái
lạc ở cõi trời Hóa Lạc do biến hóa mà có, sự
khoái lạc ở cõi trời khác, họ có thể biến
hóa ra ỡ cõi trời của họ để hưởng thụ. Thiên
Tử Ðại Tự Tại, tức là Thiên Tử Tha Hóa Tự
Tại. Sự khoái lạc của họ chẳng phải ở cõi
trời của họ, mà là do các cõi trời khác rồi
họ biến hóa ra. Vị Thiên Tử nầy, cùng với
quyến thuộc ba vạn Thiên Tử đều cùng nhau
đến pháp hội Pháp Hoa.
Chủ Thế giới Ta Bà : Phạm Thiên Vương, Thi
Khí Ðại Phạm, Quang Minh Ðại Phạm và quyến
thuộc một vạn hai ngàn Thiên Tử đều tụ hội.
"Thế giới Ta Bà" : Ta Bà là tiếng Phạn. Thế
giới Ta Bà là thế giới như thế nào ? Là thế
giới vui sướng, thế giới vui nhất. Có người
nói : "Hoà Thượng ! Con nghe Hoà Thượng
giảng Kinh đã lâu rồi, cũng chưa nghe Hoà
Thượng giảng sai, nhưng chỗ nầy lại giảng
sai ! Con thấy chữ Ta Bà dịch là khổ nhất,
sao Hoà Thượng nói là vui ?"
Vậy bạn biết là khổ thì đừng lưu luyến ! Tại
sao bạn không buông xả đặng thế giới nầy ?
Tại sao tôi nói thế giới nầy là vui ? Vì tôi
thấy bạn xả chẳng đặng thế giới nầy, do đó
chắc chắn là vui ! Nếu khổ thì bạn sớm đã bỏ
nó rồi !
Hoà Thượng giảng như thế thì con cũng chẳng có
gì để nói.
Bạn chẳng có gì để nói, còn ta thì có lời để
nói. Lời gì ? Thế giới nầy chẳng khổ cũng
chẳng vui, mà là một thế giới chẳng có vị
đạo. Tuy nhiên chẳng có vị đạo gì, nhưng
phiền não thì quá nhiều, rất nhiều sự thống
khổ. Cho nên Ta Bà dịch là "kham nhẫn", kham
nhẫn chịu đựng mọi hoàn cảnh khổ. Hoàn cảnh
khổ có ba sự khổ, tám sự khổ, vô lượng sự
khổ.
Ba sự khổ :
1. Khổ khổ : Khổ trong sự khổ, là khổ của
người nghèo, chẳng có cơm ăn, chẳng có áo
mặc, lại không nhà để ở, bạn nói đó có khổ
chăng ?
2. Hoại khổ : Hoặc có người giàu, không những
có nhà ở, còn ở nhà cao cửa rộng. Không
những có áo mặc, mà còn mặc tơ lụa áo gấm
tân thời. Không những có cơm ăn, mà còn ăn
những thức ăn sơn trân hải vị, hưởng tận vị
ngon của thiên hạ. Nhưng bất hạnh thay đột
nhiên bị tai nạn cháy nhà, hoặc bị trộm
cướp, bị đụng xe .v.v. Tất cả tài sản, sự
sung sướng đều bị phá sạch, đó tức là hoại
khổ.
3. Hành khổ : Chẳng phải khổ khổ của người
nghèo, cũng chẳng phải hoại khổ của người
giàu, đó là từ bé lớn lên, trưởng thành rồi
già nua, mắc bệnh ngặt nghèo rồi chết đi.
Niệm niệm biến đổi không ngừng, sinh diệt
liên tục không gián đoạn, đó là hành khổ.
Tám sự khổ :
1. Sinh khổ.
2. Già khổ.
3. Bệnh khổ.
4. Chết khổ.
5. Thương mà xa lìa là khổ : bạn thương yêu
người nào đó, nhưng hoàn cảnh bắt buộc phải
xa lìa, bạn nói có đau khổ chăng ?
6. Ghét mà gặp nhau là khổ : Bạn ghét người
nào đó không muốn gặp họ, nhưng thình lình
gặp người đó ở một nơi nào đó, bạn nói có
khổ chăng ?
7. Cầu không được là khổ : Bạn mong cầu điều
gì đó mà không được, có khổ chăng ?
8. Năm ấm thiêu đốt là khổ : Khổ nầy rất lợi
hại. Năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức)
thường theo bạn, không rời nửa bước, đi đứng
nằm ngồi đều cùng với bạn, như lửa thiêu
đốt, đó cũng là khổ.
Có nhiều sự khổ như thế mà đều kham chịu được.
Một số người đều cho rằng thế giới nầy như
trái Tần-bà, ngon ngọt. Kỳ thật, ăn rồi mới
biết còn đắng hơn trái huỳnh liên. Vậy biết
được thế giới nầy là khổ, nếu tu đạo chịu
đựng nhiều sự khổ thì nhất định sẽ thành
Phật.
Trước kia tôi có vị đệ tử Quả Thuấn, thời kỳ
kháng chiến bị Nhật bắt đi làm lao công, ăn
chẳng no, mặc chẳng ấm, ngủ chẳng đủ. Nếu
người tu đạo chịu khổ được một nửa của người
lao công, thì nhất định sẽ thành Phật. Cho
nên khi y xuất gia rồi, ngày ăn một bữa, ngủ
ngồi không nằm, tu hạnh đầu đà. Trong số đệ
tử của tôi, y là người tu đầu đà đệ nhất.
Về sau, y không muốn lưu lại thế giới nầy nữa,
cho nên dùng lửa tự thiêu. Thiêu xong rồi
thân thể vẫn ngồi yên. Khi có người đến xem
dùng tay rờ thân thể của y, thì ngã xuống
thành tro. Ðó là chứng minh y có định lực.
Nếu chẳng có công phu nhập đînh, thì người
bình thường như chúng ta, dùng lửa thiêu
thân thể sẽ nhảy lên. Cho nên, bất cứ người
nào nói mình có định lực, thường nhập đînh,
thì bạn có thể thử nghiệm họ, dùng lửa thiêu
họ, nếu họ không nhảy lên thì thật có định
lực. Như Quả Thuấn tự thiêu thành tro, vẫn
ngồi yên tại đó, đó mới là thật có định lực.
Chẳng có định lực như vậy, thì đừng khoe
khoang rằng có định lực. Cho nên tôi chẳng
dám nói tôi có định lực, bằng không thì phải
chịu thử nghiệm.
"Chủ Phạm Thiên Vương". Chủ là làm chủ. Phạm
là Ðại Phạm Thiên Vương.
"Thi Khí Ðại Phạm". Thi Khí là tiếng Phạn,
dịch là "nhục kế".
"Quang Minh Ðại Phạm". Lại có vị Thiên Vương
Quang Minh Ðại Phạm và các Thiên Vương khác
một vạn hai ngàn Thiên Tử đều đến đại hội
Pháp Hoa.
Có tám vị Long Vương. Ðó là : Long Vương
Nan Ðà. Long Vương Bạt Nan Ðà. Long Vương Sa
Già La. Long Vương Hòa Tu Cát. Long Vương
Ðức Xoa Ca.
Long
Vương A Na Bà Ðạt Ða. Long Vương Ma Na Tư.
Long Vương Ưu
Bát La.
Mỗi vị có bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc đều
tụ hội.
Trước kia rồng rất nhiều, ai ai cũng đều có
thể thấy. Ngày nay thì rồng chẳng xuất hiện.
Tại sao bây giờ rồng chẳng xuất hiện ? Vì
hiện tại người quá nhiều, khiến cho rồng
chẳng dám xuất hiện.
Rồng thuộc về loài súc sinh, nhưng chẳng giống
với các loài khác ; rồng có thần thông biến
hóa, có thể biến lớn biến nhỏ, lúc ẩn lúc
hiện. Rồng tại sao phải làm rồng ? Kiếp
trước của rồng là người tu đạo. Vì khi tu
đạo thì "thừa cấp giới hoãn", cho nên đọa
làm thân rồng. Bây giờ giải thích thừa cấp
giới hoãn.
Thừa cấp giới hoãn : Thừa là đại thừa tiểu
thừa, giới là giới luật. Người nầy tu đạo
tuy rất cấp tấn, nhưng chẳng giữ giới luật,
dục niệm không đoạn trừ, nhất là dâm dục
chưa dứt được, đối với giới luật cẩu thả lơ
là, cho nên đọa làm thân rồng. Vì tu pháp
đại thừa rất tinh tấn dũng mãnh, cho nên có
thần thông.
Giới cấp thừa hoãn : Tuy giữ gìn giới luật,
nhưng chẳng tinh tấn về pháp đại thừa. Người
tu đạo kiểu nầy kiếp sau cũng làm người,
được làm người giàu sang, nhưng chẳng thông
minh lắm. Vì tu giữ giới luật rất cẩn thận,
cho nên làm người giàu sang, nhưng chẳng đọc
tụng Kinh điển đại thừa, chẳng nghiên cứu
Phật pháp, cho nên chẳng có trí huệ, chẳng
được thông minh lắm.
Thừa giới câu cấp : Không những đối với pháp
đại thừa rất tinh tấn tu hành tiến về trước,
mà giới luật cũng giữ gìn rất tinh nghiêm.
Người tu đạo như thế nầy có thể sớm khai ngộ
chứng quả. Nếu không thể chứng quả cũng sẽ
sinh về cõi trời hưởng thọ phước báu.
Thừa giới câu hoãn : Loại người nầy không tu
pháp đại thừa cũng chẳng giữ giới luật, suốt
ngày đến tối giải đãi, sáng ngủ đến mười giờ
mới dậy, tối thì đi nghỉ sớm, do đó :
"Nhật cao tam can thân vị khởi,
Toán lai danh lợi bất như hàn."
Nghĩa là : Mặt trời mọc cao hơn mười trượng,
nhưng người tu hành nầy vẫn chưa dậy, những
người cầu danh cầu lợi chẳng thanh nhàn như
ta, gì cũng chẳng làm. Người thừa giới câu
hoãn, chẳng giữ giới luật cũng chẳng nghiên
cứu Phật pháp. Tuy nhiên, mang danh là xuất
gia, nhưng thật tế thì chẳng tu hành, chẳng
dụng công, thích ăn không ngồi rồi, việc gì
cũng chẳng làm, cứ thối lui về sau. Nhưng có
vật gì ngon thì lén ăn trước. Thường thì
thích ăn mà lười biếng làm, tương lai sẽ đọa
địa ngục, suốt ngày đến tối phải ăn toàn sắt
nóng. Bạn thích ăn thì mời bạn xơi cái đó,
thích không làm việc, không thích nghiên cứu
Phật pháp, thì đến nơi đó chẳng cần bạn làm
chi cả, chỉ kêu bạn thọ tội, trên thì núi
đao, dưới thì chảo dầu sôi .v.v., khiến cho
bạn thưởng thức mùi vị, xem bạn còn lười nữa
chăng ?
Trong hội Pháp Hoa nầy có tám vị Long Vương,
ngoài ra còn có vô số quyến thuộc của loài
rồng. Giảng đến đây, tôi nhớ lại lúc còn ở
Ðông Bắc (Trung Quốc), thì Quả Thuấn dùng cỏ
tranh làm một cái am, thỉnh tôi đến khai
quang. Tôi dẫn theo Quả Năng, Quả Thị, Quả
Hữu, một số đệ tử tôi đi. Ðêm đó, tá túc lại
lều tranh của y. Do đó, có mười con rồng đến
muốn quy y Tam Bảo. Lúc đó, thời tiết hạn
hán chẳng mưa, tôi bèn hỏi mười con rồng :
"Rồng thì lo về mưa, tại sao các vị không
mưa xuống ?" Rồng đáp : "Mưa xuống phải có
lệnh của Trời Ðế Thích, có lệnh của Trời Ðế
Thích mới có thể mưa xuống, nếu không chúng
tôi không dám tùy tiện mưa xuống." Tôi nói :
"Các vị hãy thế tôi, đến thỉnh cầu Trời Ðế
Thích mưa xuống chung quanh chỗ tôi khoảng
bốn mươi dặm. Nếu ngày mai các vị thỉnh Trời
Ðế Thích mưa xuống, thì ngày mốt ta sẽ quy y
cho các vị, thu các vị làm đệ tử vào cửa
Phật." Quả nhiên, ngày thứ hai trời mưa
xuống, mà chỉ mưa chung quanh bốn mươi dặm,
cho nên sang ngày sau tôi quy y cho mười con
rồng đó. Quy y rồi mấy con rồng đều phát tâm
tu hành.
Tôi cho mười vị Long Vương nầy cùng một pháp
danh gọi là "Cấp Tu Khoái Ðộ", nghĩa là tu
mau lên để sớm cứu độ tất cả loài rồng. Cho
nên, nhiệm vụ của chúng hiện tại là giáo hóa
rồng ! Nói ra chuyện nầy có vẻ là thần
thoại, nhưng thật tế thì chẳng phải thần
thoại, đó là sự thật hiện đời của tôi.
Rồng có thần thông biến hóa, tuy nhiên người
nhìn chẳng thấy, nhưng rồng vẫn tồn tại.
Hiện tại có tám vị Long Vương trong hội Pháp
Hoa :
1. Long Vương Nan Ðà.
2. Long Vương Bạt Nan Ðà : Nan Ðà là tiếng
Phạn, dịch là "hoan hỉ". Bạt Nan Ðà dịch là
"thiện hoan hỉ". Hai vị Long Vương nầy là
hai anh em. Trước kia chúng chẳng giữ quy
cụ, nhưng từ khi Ngài Mục Kiên Liên hàng
phục được chúng, thì họ trở thành hộ pháp
trong Phật giáo, cho nên đến tham dự hội
Pháp Hoa. Hai anh em Long Vương nầy, ủng hộ
nước Ma Kiệt Ðà, khiến cho phong điều vũ
thuận, mưa gió điều hòa thì ngũ cốc dồi dào.
Do đó hai vị Long Vương nầy rất có ích lợi
cho con người.
3. Long
Vương Sa Già La : Sa Già La dịch là "biển
mặn". Vị Long Vương nầy ở trong biển mặn.
4. Long Vương Hòa Tu Cát : Hòa Tu Cát dịch là
"nhiều đầu". Vị Long Vương nầy có bảy đầu,
hoặc chín đầu, hoặc mười hai đầu, hoặc mười
lăm đầu. Vị Long Vương nầy là vị Long Vương
nhiều đầu.
5. Long Vương Ðức Xoa Ca : Ðức Xoa Ca dịch là
"hiện độc". Vị Long Vương nầy hiện ra nhiều
chất độc, ai bị chất độc nầy thì sẽ chết.
6. Long Vương A Na Bà Ðạt Ða : A Na Bà Ðạt Ða
dịch là "không nhiệt não", chẳng có nhiệt
phiền não.
7. Long Vương Ma Na Tư : Ma Na Tư dịch là
"thân lớn". Vị Long Vương nầy thân thể to
lớn, gọi là đại thân Long Vương.
8. Long Vương Ưu Bát La : Ưu Bát La dịch là
"thanh liên hoa". Vị Long Vương nầy gọi là
Long Vương Thanh Liên Hoa.
Các vị Long Vương nầy, mỗi vị đều mang quyến
thuộc, trăm ngàn rồng con rồng cháu, đến hội
Pháp Hoa để nghe Phật giảng Kinh.
Có bốn vị Khẩn Na La Vương. Ðó là : Pháp
Khẩn Na La Vương, Diệu Pháp Khẩn Na La
Vương, Ðại Pháp Khẩn Na La Vương, Trì Pháp
Khẩn Na La Vương. Mỗi vị có bao nhiêu trăm
ngàn quyến thuộc đều tụ hội.
Không những có rồng mà cũng có Khẩn na la,
cũng là một trong Thiên Long bát bộ. Khẩn na
la dịch là "nghi thần", vì Khẩn na la giống
như người, nhưng trên đầu có một cái sừng.
Khẩn na la là thần tấu nhạc cho Trời Ðế
Thích.
1. Pháp Khẩn Na La Vương : Vị nầy có nhiều
phương pháp để tấu âm nhạc.
2. Diệu Pháp Khẩn Na La Vương : Vị nầy không
những có pháp mà còn diệu phi thường. Âm
nhạc tấu lên hay vô cùng, khiến cho người
nghe đều hoan hỉ.
3. Ðại Pháp Khẩn Na La Vương : Âm nhạc của vị
nầy tấu lớn phi thường, pháp cũng lớn, tiếng
cũng lớn.
4. Trì Pháp Khẩn Na La Vương : Âm nhạc của vị
nầy tấu lên, khiến cho người sinh tâm hoan
hỉ, y pháp tu hành.
Có bốn vị Càn Thát Bà Vương. Ðó là : Nhạc
Càn Thát Bà Vương, Nhạc Âm Càn Thát Bà
Vương, Mỹ Càn Thát Bà Vương, Mỹ Âm Càn Thát
Bà Vương. Mỗi vị có bao nhiêu trăm ngàn
quyến thuộc đều tụ hội.
Càn Thát Bà Vương cũng là thần tấu âm nhạc cho
Trời Ðế Thích.
1. Nhạc Càn Thác Bà Vương : Âm nhạc của vị nầy
tấu rất hay vô cùng.
2. Nhạc Âm Càn Thát Bà Vương : Âm nhạc của vị
nầy tấu lên, còn hay hơn so với vị Nhạc Càn
Thát Bà Vương.
3. Mỹ Càn Thát Bà Vương : Âm nhạc của vị nầy
tấu lên mỹ diệu êm tai vô cùng.
4. Mỹ Âm Càn Thát Bà Vương : Âm nhạc của vị
nầy tấu lên hay không thể tả, vi diệu nhất,
êm tai nhất.
Các vị nầy thích nhất là ngửi mùi hương, dùng
hương làm thức ăn. Cho nên, khi Ðế Thích
muốn nghe âm nhạc, thì chỉ cần đốt lên hương
chiên đàn, thì họ sẽ đến tấu âm nhạc.
Trong bộ Kinh nầy, có nói về các chúng Thần
tấu nhiều loại âm nhạc hay vô cùng, song, họ
vốn chẳng phải sở hữu của Phật giáo, mà là
thuộc về sự quản lý của Trời Ðế Thích. Trời
Ðế Thích quy y với Phật rồi, thì Trời Ðế
Thích và quyến thuộc bộ hạ đều trở thành
Thiên Long hộ pháp.
Có bốn vị A Tu La Vương. Ðó là : Bà Trĩ A
Tu La Vương, Khư La Khiên Ðà A Tu La Vương,
Tỳ Ma Chất Ða La A Tu La Vương, La Hầu A Tu
La Vương. Mỗi vị với bao nhiêu trăm ngàn
quyến thuộc đều tụ hội.
A Tu La Vương lại gọi là vô đoan chánh, cũng
gọi là vô tửu, vì chúng có phước trời, mà
chẳng có quyền lực trời. Diện mạo của người
nam rất xấu xí, nhưng người nữ rất đẹp.
Chúng thích nhất là đấu tranh.
1. Bà Trĩ A Tu La Vương : Bà Trĩ nghĩa là "bị
trói", bị ai trói ? Bị binh trời tướng trời
trói, hoặc dịch là "tối thắng", thắng hết
tất cả mọi cảnh tình dục.
2. Khư La Khiên Ðà A Tu La Vương : Dịch là
"bắp vai lớn", dùng để gánh vác pháp.
3. Tỳ Ma Chất Ða La A Tu La Vương : Tỳ Ma Chất
Ða La, nghĩa là "âm thanh sóng biển", hoặc
dịch là "tịnh tâm", vị nầy là nhạc phụ của
Trời Ðế Thích.
4. La Hầu A Tu La Vương : Nghĩa là "chướng
trì", thân của vị nầy cao và to lớn, tay có
thể rờ mặt trời mặt trăng, che lấp ánh sáng.
Tóm lại, vị nầy luôn luôn vì phiền não làm
chướng ngại, do đó suốt ngày bực bội nóng
giận.
Bốn vị A tu la nầy, với quyến thuộc của họ đều
đến nghe Phật pháp.
Có bốn vị Ca Lâu La Vương. Ðó là : Ðại Oai
Ðức Ca Lâu La Vương, Ðại Thân Ca Lâu La
Vương, Ðại Mãn Ca Lâu La Vương, Như Ý Ca Lâu
La Vương. Mỗi vị với bao nhiêu trăm ngàn
quyến thuộc đều tụ hội.
Ca Lâu La Vương là đại bàng kim sí điểu, là
chim lông cánh sắc vàng.
1. Ðại Oai Ðức Ca Lâu La Vương : Oai đức của
vị nầy lớn vô cùng, hơn các Ca Lâu La Vương
khác, có thể che trời phủ đất.
2. Ðại Thân Ca Lâu La Vương : Vị nầy ở trên
núi Kim cang đại thụ, hai cánh dãn ra rộng
dài khoảng ba trăm ba mươi sáu do tuần.
3. Ðại Mãn Ca Lâu La Vương : Chim nầy chỉ cần
quạt cánh một cái, thì nước biển rẽ làm đôi,
bắt rồng ăn mà lấy làm thỏa mãn.
4. Như Ý Ca Lâu La Vương : Chim nầy trên cổ có
hạt châu như ý. Chỉ cần nghĩ đến ăn rồng,
thì rồng tự động vào trong miệng. Vì loài
chim cánh vàng nầy có bản lãnh ăn rồng, gần
như muốn tuyện nòi, vì muốn bảo hộ rồng tồn
tại, cho nên Long Vương đến cầu cứu với Ðức
Phật. Ðức Phật đem tấm y Cà sa cũ cho Long
Vương, kêu Long Vương phân ra từng sợi chỉ,
và cột vào mỗi con rồng, thì chim đại bàng
cánh vàng không dám ăn nữa. Quả nhiên, chim
đại bàng cánh vàng chẳng có gì để ăn, mới
đến khiếu nại Ðức Phật. Phật thuyết pháp
khuyên nói đừng ăn rồng nữa. Từ đó về sau
mỗi khi chư Tăng dùng cơm trưa, thì thí cho
nó ít cơm. Ðó là nguyên nhân chim đại bàng
cánh vàng quy y với Ðức Phật. Hiện tại chúng
mang tất cả quyến thuộc đến pháp hội để nghe
pháp.
Vua A Xà Thế con của bà Vi Ðề Hi, và bao
nhiêu trăm ngàn quyến thuộc đều tụ hội. Hết
thảy đều lễ dưới chân Ðức Phật, rồi lui về
ngồi một bên.
Vua A Xà Thế là con của Bà Vi Ðề Hi và Vua Tần
Bà Sa La, cũng là ông vua hung ác nhất trong
các ông vua. Vì ông phạm tội ngũ nghịch :
Giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, làm thân
Phật chảy máu, và phá hòa hợp Tăng chúng.
Ông ta đại nghịch bất đạo như thế đều do Ðề
Bà Ðạt Ða (em chu bác với Ðức Phật) xúi
giục. Vì Ðề Bà Ðạt Ða sớm đã muốn chiếm đoạt
thay thế Ðức Phật, cho nên xúi A Xà Thế giết
cha, giết mẹ để đối phó với Ðức Phật. Vua A
Xà Thế chẳng còn tính người, bắt Vua cha
giam vào ngục bảy lớp tường, để bỏ đói cho
đến chết, chẳng cho ai vào thăm. Bà mẹ là Vi
Ðề Hi chỉ có cách lén lấy nước nho, đổ vào
trong hột chuỗi mang vào cho vua Tần Bà Sa
La dùng. Hai người khóc lóc với nhau, nỗi
đau đớn chẳng còn muốn sống nữa, trong hoàn
cảnh đau thương như thế, mới nghĩ nhớ đến
Ðức Phật, cầu Ðức Phật giúp đỡ. Tâm vừa nghĩ
như thế thì Ðức Phật biết ngay, do đó đức
Phật phái Ngài Mục Kiền Liên vào trong ngục,
vì họ nói Kinh Thập Lục Quán, khiến cho họ y
pháp tu hành, sau đó họ được vãng sinh về
thế giới Cực Lạc.
Vi Ðề Hi nghĩa là "suy nghĩ". A Xà Thế nghĩa
là "sinh oán" (chưa sinh ra đã chẳng cát
tường), hoặc nghĩa là "đoạn chỉ" (đứt ngón
tay), khi ông ta sinh ra rồi, mẹ của ông ta
rất chán ghét, mới cắn đứt ngón tay của ông
ta, do đó mới gọi là "đứt ngón tay".
Tội của Vua A Xà Thế không thể tha thứ, đáng
đọa vào địa ngục vô gián, nhưng về sau ông
ta thật sự ăn năn hối cải, phát lồ sám hối,
cải ác hướng thiện, quy y với Ðức Phật, mang
tất cả quyến thuộc đến pháp hội nghe Phật
pháp, đảnh lễ Ðức Phật rồi lui về một phía
ngồi xuống.
Bấy giờ, tất cả bốn chúng đều vây quanh đức
Thế Tôn, cung kính cúng dường tôn trọng tán
thán ca ngợi.
Lúc nầy, tất cả Thiên Long bát bộ đều hướng về
Ðức Phật đảnh lễ, mỗi người đều ngồi theo vị
trí của mình. Bốn chúng là : Tỳ Kheo, Tỳ
Kheo Ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ. Ngoài ra, bốn
chúng còn có ý nghĩa là : Phát khởi chúng,
đương cơ chúng, ảnh hưởng chúng và kết duyên
chúng. Phát khởi chúng : Biết cơ duyên của
chúng sinh thành thục mà hướng về Ðức Phật
phát ra vấn đề, có trí huệ phương tiện thiện
xảo. Ðương cơ chúng : Là nghe pháp từ Ðức
Phật, đắc đạo được thọ ký, như Kinh Kim Cang
đương cơ chúng là Ngài Tu Bồ Ðề. Trong Kinh
Lăng Nghiêm đương cơ chúng là Ngài A Na và
hai mươi lăm vị Thánh. Ðương cơ chúng trong
Kinh A Di Ðà là Ngài Xá Lợi Phất và các đại
A La Hán, Bồ Tát, .v.v… Ảnh hưởng chúng là
các đại Bồ Tát, từ trước đã từng nghe nhiều
Ðức Phật thuyết pháp, đã hiểu rõ, nhưng vì
muốn làm ảnh hưởng đến người khác, sinh tín
tâm và tâm thành đối với pháp, cho nên cũng
đến ủng hộ đạo tràng, khiến cho họ im lặng
chú ý cung Kinh nghe pháp. Kết duyên chúng :
Số còn lại tuy là dự nghe, tâm chưa thấu
hiểu, nhưng kết nhân lâu xa, đó là kết duyên
chúng, hoặc họ cũng dùng phẩm vật hoặc thức
ăn đến cúng dường Tam Bảo và kết duyên với
đại chúng ở trong pháp hội.
Lúc đó, bốn chúng đệ tử vây quanh đi nhiễu đức
Phật ba vòng, từ bên phải nhiễu vòng bên
trái. Sau khi nhiễu xong thì cung kính đảnh
lễ đức Phật, cúng dường đức Phật, tán thán
ca ngợi đức Phật. Trong bài xướng của chúng
ta có câu :
"A Di Ðà Phật thân kim sắc,
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân."
Hoặc là :
"Thiên thượng thiên hạ vô như Phật,
Thập phương thế giới diệc vô tỉ,
Thế gian sở hữu ngã tận kiến,
Nhất thiết vô hữu như Phật giả."
Ðó đều là kệ tán khi lễ Phật.
Bây giờ nói về tầm quan trọng của sự kết
duyên. Nếu chẳng có duyên, thì dù bạn đối
với họ tốt thế nào, họ đối với bạn cũng
chẳng vừa ý. Trước kia, có một vị pháp sư
biện tài vô ngại, người trời đều đến nghe vị
nầy thuyết pháp, chỉ là chẳng có duyên với
ai, cho nên không có ai đến nghe vị nầy
thuyết pháp. Vị nầy hiểu rõ về nhân quả, cho
nên đi mua rất nhiều gạo, đem vào rừng bố
thí cho chim, lại niệm chú Ðại Bi và chú
Lăng Nghiêm gia trì vào gạo không ngừng,
quán tưởng tất cả bầy chim ăn gạo rồi, sẽ có
thể thoát khỏi thân phi cầm, mà chuyển làm
thân người. Hai chục năm sau, vị pháp sư nầy
vẫn còn là người xuất gia, diễn nói pháp thì
tự nhiên có rất nhiều người, mà đều là người
trẻ đến nghe pháp, đều cung kính năm thể sát
đất. Những người trẻ nầy, quá khứ đều là
chim, đắc được pháp thí cho nên mới sinh làm
người. Vì bái ân đức mà đến ủng hộ đạo
tràng. Cho nên, phải thường kết duyên lành
với người, đừng lấy tâm sân đối đãi với
người, nếu không thì chẳng có duyên với
người, ai ai cũng đều lánh xa.
Cúng dường thì phải dùng tâm thành khẩn và
chân thật để cúng dường. Tâm chân thật tức
là tâm xả đặng, xả bỏ những gì tâm còn ái
chấp. Tâm thành khẩn tức là chẳng có tâm tạp
loạn, làm việc phải thật lòng, chuyên tâm
nhất chí.
Trước kia có vị ăn mày, vì thấy người cúng
dường Tam Bảo tu công đức, mà khiến cho ông
ta cũng phát tâm cúng dường, nhưng vì tiền
chỉ đủ mua bình dầu đến cúng dường Tam Bảo.
Lúc đó, vị Hòa Thượng trụ trì trong chùa (có
thiên nhãn thông) ra nghinh tiếp ông ta, và
mời ông ta dùng cơm. Trong lúc ấy, lại có
một người nhà giàu, cũng mang đến một phi
dầu để cúng dường Tam Bảo, nhưng Hòa Thượng
trụ trì không đích thân ra tiếp, chỉ kêu vị
Tăng tri khách ra tiếp. Nhiều vị Tăng trong
chùa không hiểu tại sao Hòa Thượng trụ trì
hậu đãi người nghèo đó, dù chỉ cúng Tam Bảo
có một bình dầu, còn người giàu kia cúng một
phi dầu, mà Hòa Thượng lại lạnh nhạc. Khi
mọi người bàn tán thì Hòa Thượng đến giải
thích nói : "Một người giàu có mua hai ba
trăm lít dầu chẳng khó khăn gì, song một
người ăn mày nghèo sơ, chỉ có mấy đồng tiền
mà đem hết ra để mua dầu cúng Tam Bảo, dù
chỉ một bình nhỏ, nhưng công đức thật vô
lượng hơn người giàu kia. Ðó gọi là khó xả
mà xả được, ông ta mới là người dùng chân
tâm để cúng dường Tam Bảo, ông ta là một vị
đại hộ pháp ! Người trong hoàn cảnh khốn khó
mà còn nghĩ đến cúng dường Tam Bảo, công đức
đó thật là vĩ đại ! Một người đời nầy giàu
có cũng vì trong quá khứ, họ tu tích tập
phước báu khó xả mà xả được, khó hành mà
hành được."
Nghe những lời nầy rồi đồ chúng mới minh bạch,
cúng dường Tam Bảo cần có chân tâm và thành
tâm.
Vì các Bồ Tát nói Kinh đại thừa tên là Vô
Lượng Nghĩa, pháp giáo hóa Bồ Tát, được Phật
hộ niệm.
Khi Ðức Phật thuyết pháp thí có sáu điềm lành
:
1. Ðiềm lành về thuyết pháp.
2. Ðiềm lành về nhập định.
3. Ðiềm lành về mưa hoa.
4. Ðiềm lành về đất chấn động.
5. Ðiềm lành về chúng hoan hỉ.
6. Ðiềm lành về phóng quang.
Lần nầy, Ðức Phất thuyết pháp chẳng giống
trước kia, vì lần nầy thì thuyết pháp trước,
sau mới nhập định. Ðức Phật vì tất cả Bồ Tát
ở trong đại hội Pháp Hoa nói Kinh điển đại
thừa tên là Vô Lượng Nghĩa. Kinh đại thừa có
bảy nghĩa :
1. Pháp đại : Tức là bao quát tất cả Tam Tạng
mười hai bộ Kinh, cũng bao quát tất cả pháp
tiểu thừa.
2. Phát đại bồ đề tâm : Từ phàm phu, tu cho
đến khi thành Phật, tâm nầy vĩnh viễn không
thối chuyển.
3. Hiểu đại Tạng : Minh bạch giáo pháp đại
tạng, y giáo phụng hành.
4. Tịnh đại : Thấy được đạo thì tịnh tâm đại.
5. Trang nghiêm đại : Tức là phước trí đại.
6. Thời đại : Ðức Phật trải qua ba đại A Tăng
Kỳ kiếp để tu trì, là thời gian lâu dài,
cũng có thể gọi là nhân đại.
7. Cụ túc đại : Là lục độ vạn hạnh đều viên
mãn, dùng tướng tốt tự trang nghiêm, mà đắc
được quả Bồ Tát, cũng có thể gọi là quả đại.
Vì có bảy ý nghĩa nầy cho nên gọi là đại tạng,
Ma Ha Tát có bảy thứ đại nhưng chẳng giống
như ở trên vừa nói.
"Nói Kinh đại thừa", trên thì khế với Kinh của
Phật, dưới thì hợp với căn cơ của chúng
sinh, cho nên gọi là khế Kinh. Trước khi nói
Kinh Pháp Hoa, thì Ðức Phật nói Kinh Vô
Lượng Nghĩa. Vô Lượng Nghĩa tức là nghĩa vô
số lượng. Vô lượng là từ hữu lượng mà ra,
hữu lượng là từ một mà ra, một từ vô tướng
mà ra, vô tướng từ thật tướng mà ra, cho nên
vô lượng nghĩa cũng là Kinh thật tướng
nghĩa. Do đó, thật tướng vô tướng, tướng vô
sinh tử, vô vô tướng, vô Niết Bàn tướng, mà
vô sở bất tướng. Vô lượng làm một, một làm
vô lượng, tức cũng là thật tướng. Thậm chí,
một cũng chẳng có, chỉ là người đầu lại thêm
đầu, bày vẽ ra một, đó là tự tìm phiền não
mà thôi.
"Kinh Vô Lượng Nghĩa" là phương pháp giáo hóa
Bồ Tát đại thừa, được Phật hộ niệm, Kinh Vô
Lượng Nghĩa là chỗ Phật tự chứng đắc, đoạn
văn dưới đây nói rằng : Phật tự trụ đại thừa
vậy, tuy muốn khai thị mà căn tính của chúng
sinh chậm chạp, yên lặng lâu là cốt yếu đó,
chẳng cần nói mau, cho nên gọi là hộ niệm.
Ðức Phật nói Kinh nầy rồi, bèn ngồi kiết
già, nhập Tam muội Vô lượng nghĩa xứ, thân
tâm đều bất động.
Ðức Phật nói Kinh Vô Lượng Nghĩa xong rồi, thì
ngồi kiết già, cũng gọi là ngồi theo tư thế
hoa sen, tư thế kim cang. Ngồi kiết già trợ
giúp rất nhiều cho việc tu đạo, không khiến
cho người hôn trầm ngủ gục, mà dễ sinh ra
định lực, có định thì tự nhiên sẽ phát huệ.
Ai ngồi thẳng ngay ngắn được, thì giới thể
vốn có sẽ hiện tiền, tất cả Thiên Long bát
bộ đều đến ủng hộ, còn yêu ma quỷ quái tự
nhiên sẽ xa lánh, cho nên ngồi kiết già là
một pháp ngồi tu đạo viên mãn nhất. Bây giờ,
lấy một công án để chứng minh tầm quan trọng
của sự ngồi kiết già.
Quan Trung Hỉ là bạn của tôi. Vị nầy là người
tu đạo có ba ngàn người đồ chúng, nhưng vị
nầy hiểu rõ chính mình chẳng có đạo nghiệp,
chưa được liễu sinh thoát tử, do đó vị nầy
cấp tốc cầu chánh đạo, đi khắp nơi tìm minh
nhãn thiện tri thức, nhưng ba năm trôi qua
cũng chưa tìm được.
Một đêm nọ, cháu của vị nầy là Quan Chiêm Hải,
chưa từng gặp tôi, mà ở trong mộng thấy tôi
và còn cầu đạo nơi tôi, mà tôi dùng tay từ
trên đầu của y lột xuống một tấm da heo, và
nói tấm da nghiệt nầy khử sạch rồi thì có
thể tu đạo. Ngày thứ hai, tôi đi thăm chú
của y thì Quan Chiêm Hải ngó một cái thì
nhận ra tôi, chú của y nhắc lại việc tôi thủ
hiếu ba năm ở mộ phần mẹ của tôi, hai người
mừng rỡ vạn phần, cho rằng đưa đạo vào cửa,
lập tức hai chú cháu cùng quỳ xuống hướng
tôi cầu đạo. Nhưng tôi nói tôi chẳng có đạo
hạnh, không thể thu nhận họ làm đệ tử, song
tôi sẽ mang họ đi tìm danh sư. Cuối cùng, vì
Quan Trung Hỉ chẳng tìm được vị thầy vừa ý,
do đó Quan Trung Hỉ trở lại cầu đạo với tôi.
Tôi nói tôi chẳng có đạo, bất quá có thể dạy
cho ông ta một phương pháp tu hành, nhưng
ông ta trước hết phải học ngồi tư thế kiết
già. Quả nhiên, ông ta y pháp tu hành, nhưng
hai đầu gối của ông ta quá lớn kì lạ, muốn
học ngồi kiết già thật là khó khăn vô cùng,
bất cứ ngồi thế nào cũng chẳng được, song
ông ta cũng chẳng sợ đau đớn khó khăn, vẫn
kiên quyết tập ngồi cho bằng được, tập lên
tập xuống thì hai đầu gối của ông ta sưng đỏ
lên. Bảy mươi ngày trôi qua, tôi thấy ông ta
vẫn đi chưa được ! Tôi khuyên ông ta đừng
tập nữa, phương pháp ngồi kiết già rất khó
khăn với ông ta, nhưng ông ta kiên quyết nói
trừ khi tôi chết, bằng không tôi nhất định
phải tập cho tốt. Nếu tập ngồi kiết già mà
tập không xong thì còn nói gì về việc tu đạo
?
Qua một trăm ngày sau, tôi vẫn đến thăm ông ta
thì đầu gồi của ông ta hết sưng cũng hết
đau, chẳng những thế mà ông ta ngồi rất là
đoan nghiêm, thật là có chí thì việc tất
thành. Ông ta ngồi kiết già thành công rồi,
tôi bèn chỉ ông ta phương pháp ngồi thiền.
Cháu của ông ta là Quan Chiêm Hải, cũng như
người chú, tìm thầy năm năm trời, cũng chẳng
tìm được thầy vừa ý. Cuối cùng cũng phải trở
về tìm tôi quỳ xuống. Tôi hỏi y : "Anh làm
gì thế ?" Y nói : "Con đi tìm minh sư đã
nhiều năm, nay mới phát giác thầy mới là vị
thầy chân thật nhất, mong thầy nhận con làm
đệ tử !" Thấy y cầm tay áo của tôi giựt
giựt, tôi giả dạng nóng giận, phất tay áo bỏ
đi khoảng hơn nửa dặm đường thì quay lại
xem, thấy y vẫn còn quỳ ở đó ! Tôi nói :
"Anh còn làm gì ở đây ?" Y nói : "Nếu Ngài
không nhận con làm đệ tử, thì con sẽ quỳ cho
đến chết ở tại đây !" Vì muốn thử tâm thành
của y, tôi lại phất tay áo bỏ đi, lần nầy đi
hơn một dặm đường, quay đầu lại nhìn vẫn
thấy y quỳ bất động ở đó, đủ thấy y thành
tâm, do đó tôi thu nhận y làm đệ tử. Y là đệ
tử đầu tiên của tôi tại Ðông Bắc Trung Quốc.
Quan Trung Hỉ y theo pháp tu hành được năm
năm, thì có sở thành tựu, nghĩ muốn gặp tôi
để nói lời cảm kích, vì ông ta biết trước
ngày vãng sinh. Song, việc nầy ông ta chẳng
được mãn nguyện, vì từ đầu đến cuối, tôi với
anh ta mất liên lạc. Quả nhiên, như chính
ông ta đã dự liệu ngày đó, ông ta ngồi ngay
ngắn mà vãng sinh, ngày đó có rất nhiều
người hành xóm, đều mộng thấy có hai vị đồng
tử mặc y màu xanh, dẫn ông ta về Tây phương
! Cho nên ngồi kiết già trợ giúp không ít
cho việc tu đạo.
Ðức Phật nói xong Kinh Vô Lượng Nghĩa rồi, bèn
ngồi kiết già, nhập Tam muội Vô lượng nghĩa
xứ, tức cũng là nhập thật tướng định. Thân
tâm đều bất động. Thân không động thì tâm
chẳng động, tâm chẳng động thì thân không
động, đó là chân tâm vốn không động. Ðây là
điềm lành sự nhập định của Ðức Phật.
Lúc đó, trời mưa hoa mạn đà la, hoa ma ha
mạn đà la, hoa mạn thù sa, hoa ma ha mạn thù
sa, rải ở trên Ðức Phật và các đại chúng.
Ðoạn văn nầy nói về mưa hoa. Khi đức Phật nhập
đînh, thân tâm đều chẳng động, thì hoa trời
từ trên trời mưa xuống. Hoa Mạn đà la là hoa
trắng nhỏ. Hoa Ma ha mạn đà la là hoa trắng
lớn. Hoa Mạn thù sa là hoa đỏ nhỏ. Hoa Ma ha
mạn thù sa là hoa đỏ lớn. Bốn thứ hoa nầy
đều rải cúng dường ở trên thân của Ðức Phật,
và tất cả đại chúng trong pháp hội. Bốn thứ
hoa nầy đại biểu cho bốn vị trí là : Thập
trụ, thập hạnh, thập hồi hướng và thập địa,
tức cũng là bốn tấn độ của Bồ Tát đạo, là
giai đoạn tu hành phải trải qua.
Khắp hết thảy thế giới của chư Phật, đều có
sáu thứ chấn động.
Ðây là điềm lành về chấn động. Ðức Phật vì
biểu thị sư quan trọng của Kinh Pháp Hoa, mà
hiện ra đủ thứ điềm tốt lành. Khắp hết thảy
cõi Phật trong mười phương ba đời, đều có
sáu thứ chấn động : Chấn, hống, kích (về âm
thanh), động, dũng, khởi (về hình tượng).
Sáu thứ chấn động nầy dụ chó sáu căn : Mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Nếu nói rộng ra,
thì trong sự chấn động, mỗi thứ lại phân ra
ba thứ, cộng thành mười tám thứ, tức cũng dụ
cho mười tám giới. Thế nào là một thứ phân
ra làm ba thứ ? Ví như : Ðộng, biến động,
đẳng biến động. Chấn, biến chấn, đẳng biến
chấn. Hống, biến hống, đẳng biến hống. Kích,
biến kích, đẳng biến kích. Dũng, biến dũng,
đẳng biến dũng. Khởi, biến khởi, đẳng biến
khởi.
Ðộng, chỉ là một nơi chấn động. Biến động, là
một bốn thiên hạ (Nam Thiệm Bộ Châu, Ðông
Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa Châu và Bắc
Câu Lưu Châu), đều chấn động. Ðẳng biến
động, tức ba ngàn đại thiên thế giới đều
chấn động.
Sáu thứ chấn động đại biểu cho : Thập trụ,
thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, đẳng
giác và diệu giác. Tức cũng biểu thị muốn
phá vô minh, thì trước hết phải trải qua sáu
giai đoạn biến động. Người tu tập thiền
định, đều thân tự thể nghiệm qua những giai
đoạn nầy. Ðối với người chẳng tu thiền mà
nói, đó chỉ là chấn động của sáu căn mà
thôi.
Dũng, từ bên đông vọt ra thì bên tây lặng.
Ðông vọt thì tây chìm. Phương đông là mộc
tức cũng là màu xanh ; màu xanh dụ cho gan
thuộc về nhãn căn (mắt). Phương nam là màu
đỏ cũng là lửa, dụ cho tim, thuộc về thiệt
căn (lưỡi). Phương tây là màu trắng, thuộc
về kim, chỉ cho phổi, thuộc tĩ căn (mũi).
Ðây là biểu thị công đức của mắt sinh, thì
phiền não của mũi diệt. Phiền não của mắt
diệt, thì công đức của mũi sinh. Sáu căn nầy
đều có công đức của nó, công đức sinh thì
phiền não diệt ; phiền não sinh thì công đức
diệt, tức cũng là sáu thứ chấn động. Phương
bắc là màu đen, thuộc thủy, dụ cho thận,
thuộc về nhĩ căn (tai), cũng hổ tương giao
lưu công đức và phiền não với năm căn kia.
Thân thuộc về bốn phương (mắt, tai, mũi,
lưỡi đều ở trong đó). Ý có công năng phan
duyên với bốn phương nầy. Cho nên, Thập trụ,
Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Ðẳng
giác và Diệu giác là chấn động bên ngoài,
còn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý là chấn
động bên trong.
Sáu thứ chấn động nầy, là điềm lành về chấn
động, biểu thị sáu căn chấn động. Sáu căn
nầy hổ tương trợ giúp, kết thành một đảng,
dựa nhau làm bậy, có thể làm thiện, cũng có
thể làm ác. Tạo điều ác thì sẽ khiến cho
pháp thân đọa lạc vào ba đường ác. Song,
người thành Phật cũng nương vào sự trợ giúp
lẫn nhau của sáu căn nầy. Như công đức của
lỗ mũi sinh ra, thì phiền não của con mắt
diệt đi. Phiền não của con mắt là gì ? Công
đức của con mắt là gì ? Khi mắt thấy sắc
(vật chất) cái mà mình yêu thích, nhưng
không đắc được thì sẽ sinh phiền não, theo
đó mà khởi tâm tham, tức cũng là nguồn gốc
của phiền não. Sau đó, mắt cũng sẽ mang lại
công đức không ít, nó giúp người xem Kinh
điển, nghiên cứu Phật pháp, thâm nhập Kinh
tạng. Hoặc thấy tượng Phật thì sinh tâm cung
kính lễ bái. Do đó, sáu căn nầy đều có công
năng trợ giúp hoặc phá hoại, hãy xem chúng
ta vận dụng nó như thế nào ! Dùng làm thiện
thì có công đức, dùng làm ác thì đọa lạc,
chẳng nghi ngờ gì hết. Cho nên Kinh Lăng
Nghiêm nói rằng : "Thành Phật hoặc đọa địa
ngục, đều do sáu căn nầy." Cho nên nói ngu
si tức là trí huệ, đó là đạo lý sáu căn vận
dụng một dạng với nhau. Nếu chúng ta khéo
vận dụng nhĩ căn (căn tai) để nghe pháp,
nghe Phật pháp nhiều rồi mà thông được một,
thì tất cả đều thông, hiểu một thì tất cả
đều hiểu, biết một thì tất cả đều biết, giác
một thì tất cả đều giác.
"Tự tánh như hư không,
Chân vọng đều ở trong,
Ngộ triệt bổn lai thể,
Một thông tất cả thông."
Ðồng đạo lý nầy, có thể đưa ra ví dụ về ăn,
mặc, ở và hành động. Tại sao con người phải
ăn cơm ? Vì để nuôi thân thể, mặc áo là để
che lạnh. Cho nên ăn cơm, mặc áo, ngủ nghỉ,
là những thứ cần thiết cho sinh mạng không
thể thiếu, mà tự tánh của chúng ta rất cần
Phật pháp để nuôi dưỡng, nếu không thì xảy
ra vấn đề. Do đó, lợi dụng sáu căn để thành
vô thượng đạo, đây là sáu căn chấn động vậy.
Người đã từng tập ngồi thiền, thì sẽ có kinh
nghiệm sự chấn động nầy, hoặc tay, hoặc mắt,
hoặc tai, mũi, lưỡi, thân, tình huống chấn
động của sáu căn. Trong Kinh Lăng Nghiêm nói
rằng : Tĩnh cực quang thông đạt, đó là công
phu tu thiền đạt đến cực điểm, thì hiện ra
một thứ cảnh giới, nếu không khởi tâm chấp
trước, tức là cảnh giới tốt.
Trong pháp hội Lăng Nghiêm mùa hè đó, có người
ngồi thiền thì tay hay tự động, đó là sự
biến hóa của thân thể, động tắc biến, biến
tắc hóa. Tự động của thân thể là người tu
thiền đã từng trải qua một phen hạ thủ công
phu, mới phát sinh hiện tượng nầy, nhưng
phải qua sự chỉ điểm của minh nhãn thiện tri
thức, mới không lầm đi vào đường tà, hoặc
sinh tâm kinh hãi, hoặc do đó mà bỏ tu
thiền. Thật ra, sư kinh hãi nầy là dư nhiều,
tự động nầy không ngoài một trong sáu thứ
chấn động. Ðạo lý nói ở trong Kinh Phật tất
định với tự tánh thân thể của chúng ta đều
tương hợp, chẳng phải vì chúng ta tìm một
con đường tương ưng, mà con đường nầy là tự
tánh của chúng ta vốn đầy đủ. Tám vạn bốn
ngàn pháp môn là dùng để đối trị tám vạn bốn
ngàn tập khí xấu, bệnh tật của chúng ta. Rõ
là người có đủ thứ tập khí mao bệnh mà chẳng
tự biết được, cho nên suốt ngày đều bị trần
lao lay chuyển, lấy khổ làm vui, càng ngày
càng đọa đi xuống, mà vẫn không tỉnh. Do đó,
trong Kinh nầy, Phật dùng sáu thứ chấn động
làm dụ, để đối trị sáu căn, làm phương pháp
tiêu trừ tập khí ác. Chấn động tức là phá
trừ vô minh : Phá vô minh sơ quả, nhị quả,
tam quả và tứ quả ; sau đó lại phá vô minh
Thập địa và Ðẳng giác, đây là sáu giai đoạn
thành Phật, tức cũng là sáu quả vị lần lược
thành Phật.
Bấy giờ, trong pháp hội các chúng Tỳ kheo,
Tỳ kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, trời, rồng,
Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la,
Khẩn na la, Ma hầu la già, người, chẳng phải
người, và các ông vua nhỏ, Chuyển luân thánh
vương, các đại chúng, được chưa từng có, vui
mừng chắp tay một lòng nhìn Ðức phật.
Ðây là điềm lành chúng vui mừng.
Lúc đó, tức cũng là lúc sáu thứ chấn động,
trong pháp hội có các chúng đại Tỳ Kheo, Tỳ
Kheo Ni .v.v. Tỳ Kheo có ba nghĩa :
1. Khất thực.
2. Bố ma.
3. Phá ác.
Tỳ Kheo ni, cũng giống như ở trên, đều có ba
nghĩa, là nữ chúng xuất gia. Trước kia, có
vị tu hành, vì xác định khai ngộ thật sự của
mình mới đi gặp một vị cao Tăng đã khai ngũ
nhãn lục thông. Khi vị cao Tăng biết được ý
của vị tu hành, thì bắt đầu khảo vị tu hành
rằng : "Ông có sở đắc gì ?" Vị tu hành đáp :
"Tôi chẳng có sở đắc gì." Cao Tăng lại hỏi :
"Ông khai ngộ gì ?" Vị tu hành đáp : "Tôi
biết Ty Kheo Ni là người nữ !" Vị cao Tăng
nghe rồi, lập tức ấn chứng cho vị tu hành,
nói vị tu hành đã thật sự khai ngộ. Tại sao
nói vị đó đã khai ngộ ? Vì vị cao Tăng biết
vị đó đến, chẳng có tơ hào nói dối, vị đó
rất khẳng định trả lời. Vậy nếu chúng ta
cũng trả lời như thế, có phải cũng đã khai
ngộ ? Chẳng phải vậy ! Khai ngộ chẳng phải
lượm lặt những gì của người khác. Phàm là
học theo người đã nói qua, đều chẳng phải
thật khai ngộ, trừ khi tự mình ngộ ra, riêng
có một lần gặp, mà câu nầy lại chưa có người
nói qua.
Cư sĩ nam, cư sĩ nữ có hai nghĩa : 1. Cận sự
nam hoặc cận sự nữ. 2. Cận trụ nam, cận trụ
nữ. Tỳ Kheo, Ty Kheo Ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ
là bốn chúng đệ tử. Ngoài ra có trời, rồng,
Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la,
Khẩn na la, Ma hầu la già, người, chẳng phải
người, các ông vua nhỏ, Chuyển luân thánh
vương .v.v. Dạ xoa là tốc tật quỷ, lại gọi
là dũng kiện. Sức mạnh của quỷ thần nầy, có
thể dời núi lấp biển, một tay đẩy quả núi ra
ngoài một trăm dặm, một tay lại kéo quả núi
trở về. Ma hầu la già là đại mãng xà. Chẳng
phải người, là một trong tám bộ quỷ thần.
Chuyển luân thánh vương có phước báu rất
lớn, có ngàn vị vương tử, lại có bảy báu,
trong đó có một báu là bảo châu như ý. Bảo
châu nầy khiến cho chủ nhân tùy thời tùy lúc
muốn gì có nấy, muốn bao nhiêu có bấy nhiêu,
tùy tâm mãn nguyện. Ngoài ra, còn có xe kim
luân, có thể trong nháy mắt thì đưa Chuyển
luân thánh vương đi chu du tứ thiên hạ, lộ
trình so với lên mặt trăng còn xa nhiều lắm.
Có người sẽ thắc mắc : "Thời đại Ðức Phật
chẳng có Chuyển luân thánh vương, vậy Chuyển
luân thánh vương đáo để từ đâu đến ?" Chuyển
luân thánh vương từ phương khác đến, chẳng
phải chúng ta có thể thấy hoặc nghe được.
Người biết thì biết, không biết thì không
biết. Ðừng cho rằng những gì mình không
thấy, thì nói là chẳng có việc đó. Ngoài chỗ
ở của mình, còn có lân cư, có thành thị, thị
trấn .v.v., do đó phải nhìn xa hiểu rộng,
đừng dùng tầm mắt một làng nhỏ bé để nhìn
thành thị. Là các đại chúng, được chưa từng
có. Vì chưa từng nghe qua pháp nầy, cho nên
vui mừng chắp tay, một lòng nhìn Ðức Phật.
Bấy giờ, Ðức Phật phóng ra luồng hào quang
trắng ở giữa chân mày, chiếu soi hết thảy
một vạn tám ngàn thế giới ở phương đông.
Lúc đó, chúng sinh đều hoan hỉ chuyên tâm nhìn
Ðức Phật, đức Phật cũng hoan hỉ, cho nên
giữa chân mày phóng ra luồng hào quang
trắng. Ðây là điềm lành về phóng quang. Bây
giờ, người tạo tượng Phật đều gắn ở giữa
chân mày của Ðức Phật một hạt châu hoặc đá
quý để đại biểu luồng hào quang trắng.
"Chiếu soi hết thảy một vạn tám ngàn thế
giới ở phương đông." Phương đông thuộc mộc,
tượng trưng cho mùa xuân, vạn vật đều sinh
trưởng. Ðây dụ cho chúng sinh huệ mạng của
một vạn tám ngàn thế giới, đều đắc được
quang minh của Phật chiếu mà tăng trưởng.
Dưới thì chiếu đến địa ngục A Tỳ, trên thì
chiếu đến cõi trời Sắc Cứu Kính. Ở thế giới
nầy, đều thấy hết thảy chúng sinh trong sáu
nẻo của các cõi kia.
Hiện tại điềm lành hiện ra là phương khác được
độ. Ðức Phật phóng quang minh, chẳng những
điềm lành chiếu thấy thế giới nầy, mà thậm
chí chiếu xuống đến địa ngục A Tỳ (địa ngục
Vô Gián), địa ngục nầy một người rớt xuống
thì chật, nhiều người rớt xuống cũng chật
đầy, thời gian chịu khổ chẳng gián đoạn. Chỉ
cần tội nghiệp sâu nặng, thì đọa vào đó, vạn
kiếp khó mà ra khỏi. Trời Sắc cứu kính tức
là từng trời cao nhất của sắc giới. Từ
phương đông của thế giới Ta Bà nhìn qua một
vạn tám ngàn thế giới, đều thấy hết chúng
sinh trong sáu đường của các cõi đó, đều
thấy rõ quả báo của mỗi loài.
Sáu nẻo luân hồi là : Trời, A tu la, loài
người, ba đường lành ; địa ngục, ngạ quỷ,
súc sinh, ba đường ác. A tu la có khi liệt
vào trong ba đường ác, thành bốn đường ác.
Trời là do tu năm giới mười điều lành, mà
được sinh về cõi trời. Làm người căn bản
nhất là giữ gìn năm giới :
1. Không sát sinh : Người giữ được giới nầy
thì đắc được tuổi thọ sống lâu, được quả báo
trường thọ. Ngược lại, kẻ sát sinh sẽ bị quả
báo tuổi thọ ngắn ngủi hoặc chết yểu. Ðó
cũng nói rõ, tại sao có người sống lâu có
người chết yểu.
2. Không trộm cắp : Trộm là làm tổn hại đến
tài vật và phước mạng của kẻ khác, cắp là
chưa được sự chấp thuận của người ta, mà
mình tự lấy đồ vật hoặc tiền tài. Quả báo là
trong đời nầy hoặc đời sau, tài sản của mình
cũng sẽ bị người trộm cắp hoặc bị cướp đi.
Nếu giữ được giới không trộm cắp, thì được
giàu sang phú quý.
3. Không tà dâm : Ai dâm vợ con của người ta,
thì tương lai quả báo bị người chơi lại,
hoặc vợ mình chẳng trinh tiết, hôn nhân gặp
nhiều sự trở ngại, gia đình ly tán, .v.v.,
đủ thứ chướng ngại phiền não.
4. Không nói dối : Tức là không nói láo gạt
người. Có những người nói : tôi một đời đều
thật thà, chưa từng lường gạt người, cũng
chẳng hại người, tại sao tôi lại bị người
gạt, bị người hại. Nên biết, quả báo nầy
chẳng phải một đời tạo ra, mà là thông cả ba
đời, quá khứ hiện tại và vị lai. Xưa kia đã
tạo ra nghiệp nói dối, khi nhân duyên thành
thục thì nghiệp báo sẽ hiện tiền, phải thọ
quả báu bị gạt, bị hại. Trong Kinh có câu
rằng :
Trải qua trăm ngàn kiếp,
Nghiệp tạo ra chẳng mất,
Khi nhân duyên chín mùi,
Phải thọ lấy quả báo.
5. Không uống rượu : Cũng kể cả hút thuốc, hút
cần sa, hút á phiện, ma tuý, khiến cho người
mất đi lý tính. Uống rượu sẽ khiến cho người
càng uống càng uống nhiều, uống càng nhiều
thì càng hồ đồ, làm cho nhiễu loạn tính
tình, mà làm ra đủ thứ tội lỗi thất thường,
hồi đầu trở lại thì đã trăm năm. Hiện tại
giới y học rất lạm dụng đối với thuốc men,
cho nên cũng liệt vào trong giới nầy. Vì xử
dụng ma túy, hoặc thuốc kích thích quá độ
khiến cho bệnh tình của bệnh nhân bỏ mạng,
hoặc khiến cho tinh thần càng thêm hỗn loạn
chẳng được yên.
Năm giới là gốc căn bản làm người, quan trọng
là sửa đổi tập khí ác của : thân, khẩu, ý,
ba nghiệp, tiến thêm một bước nữa thì chẳng
khởi ý niệm : giết hại, trộm cắp, tà dâm,
nói dối và uống rượu. Phàm là chưa được sự
hứa khả của người khác, mà tự trộm lấy đi xử
dụng, là phạm giới trộm cắp. Ví như thấy
người mua một bình rượu, trong tâm nghĩ : Ồ
! Rượu ngon, thôi thì uống trước một ly thử
! Khởi ý niệm như thế tức thì đã phạm giới
trộm cắp và giới uống rượu. Có phải uống
rượu của người thì không phạm giới uống rượu
chăng ? Chẳng phải, tuy chẳng uống rượu của
người, nhưng cũng uống sữa hoặc thức uống
khác, nếu khởi ý niệm tham ái chấp trước
cũng là phạm giới nầy. Ví như, thấy trong tủ
lạnh có một chai sữa, bèn khởi lên một niệm
tham cũng chẳng biết ba bảy hai mươi mốt,
cầm lên uống, uống xong thì chẳng biết của
ai mua. Sữa là việc nhỏ, nhưng chưa được sự
đồng ý của người mà uống, tức cũng phạm giới
ăn cắp. Nói đi cũng phải nói lại, người bị
mất sữa cũng phải phản tỉnh, tại sao người
ta lại ăn cắp đồ của tôi ? Ồ ! Ðó là kiếp
trước tôi đã từng ăn cắp tài vật của người,
đó là nhân quả báo ứng. Lấy đó mà hồi quang
phản chiếu, luôn luôn cảnh tỉnh mình, về sau
đừng tái phạm nữa. Song, người ăn cắp sữa
cũng đừng nói : hiện tại tôi ăn cắp của anh,
đợi kiếp sau tôi sẽ hoàn lại. Nên biết kiếp
sau có thể chẳng có vật để hoàn trả lại cho
người. Tóm lại, một cây kim, sợi chỉ, cộng
cỏ, khúc gỗ, chẳng phải sở hữu của mình, nếu
chưa được chủ nhân đồng ý mà lấy đi, tức
phạm giới ăn cắp. Ðạo lý những giới căn bản
khác cũng như thế.
Phước báo của trời vô cùng vô tận, nhưng cao
tột đỉnh cũng có ngày sẽ đọa lạc. Hưởng hết
phước báo thì năm tướng suy hiện ra vẫn phải
đọa lạc. Do đó, chỉ tu phước báu cõi trời mà
không tu trí huệ, thì vĩnh viễ lưu chuyển ở
trong sáu nẻo luân hồi. A tu la cũng tu năm
giới mười điều lành, nhưng dở ở chỗ dùng tâm
đấu tranh để làm công đức. Khi hành thiện bố
thí thì đều thích nổi danh, tranh đệ nhất, ở
trước mọi người thì tỏ thái độ nhà đại từ
thiện xuất hiện, bỏ ra nhất định phải nhiều
hơn bất cứ ai. Dùng phương thức huyền diệu
tự ngã để làm bố thí, nói thẳng đó chẳng qua
là dùng tiền bạc để mua danh, vốn chẳng phải
thật tâm hành thiện, cho nên công đức đắc
được cũng là hữu lậu. Còn có những kẻ hư
ngụy, mặt ngoài hành thiện một cách yên
lặng, nhưng trong bóng tối lại cố ý để cho
mọi người biết họ đang bố thí, hành động như
thế tự mình tuyên truyền ngụy quân tử, so
với công đức của những người ở trên tuyên
truyền tự ngã càng âm hiểm dối trá, thuộc về
âm tính A tu la. Nhân mà không thẳng thì quả
cong vạy. Tại nhân địa mà tâm không thẳng,
thì tương lai quả báo đắc được cũng sẽ biến
thành quả ác. Nếu tâm của họ bất chánh,
thích đấu tranh, tâm sân quá nặng, thì đời
sau sẽ thành A tu la. Do đó, khi bố thí thì
đừng sai nhân quả, nên dùng tâm chân thật và
tâm vui thích để hành sự, mới được quả lành.
Người cũng tu năm giới mười điều lành mà ra,
thuộc về năm giới mười điều lành bậc hạ. A
tu la là năm giới mười điều lành bậc trung,
còn chư thiên thì năm giới mười điều lành
bậc thượng, đó là ba đường lành.
Quả báo của ba đường ác, đều do khởi tâm tham,
sân, si. Tham quá nhiều thì sẽ thành ngạ
quỷ. Người còn sống quá tham ăn, thì kết quả
chết rồi, vật gì cũng ăn chẳng được, chẳng
có sở hữu gì hết. Người tâm sân quá nặng,
thì khi chết rồi sẽ đọa vào địa ngục, chịu
đủ thứ khổ hình, như vào trong chảo dầu sôi,
lên núi đao, hoặc kiếm thụ .v.v. Do đó,
người có tập khí sân hận phải sửa đổi, người
chẳng có sự nóng giận, thì đừng làm cho phát
sinh. Học Phật có thể khiến cho con người rõ
thị phi, thấu rõ sự lý, minh bạch nhân quả
rồi, thì chẳng có hành vi ngu si, mà đắc
được Bát nhã trí huệ. Người quá nhiều ngu
si, thì tùy theo quả báo và nghiệp lực của
họ, mà đọa làm súc sinh. Lời nói hành vi của
kẻ ngu si, là phỉ báng Tam Bảo, bác vô nhân
quả, chính mình không những không tin Phật,
mà còn xúi giục người khác cũng đừng tin
Phật, tự cho rằng mình rất thông minh, ương
ngạnh nói học Phật là việc rất ngu rất mê
tín, kết quả bị quả báo làm súc sinh.
Cho nên trong sáu nẻo luân hồi, trồng nhân
lành thì được quả lành, trồng nhân ác thì
được quả ác. Trồng dưa được dưa, trồng đậu
được đậu. Trồng nhân thành Phật thì sẽ thành
Phật, nhưng nếu trồng xuống nhân địa ngục,
thì sẽ rơi vào địa ngục. Do đó, muốn thăng
đi lên hoặc muốn đọa đi xuống, đều do mình
lựa chọn. Ðủ thứ tướng mạo của chúng sinh
trong sáu nẻo, đều hiện ra ở trong luồng hào
quang trắng của Ðức Phật. Ðoạn nầy là sáu
điềm lành của thế giới khác :
1. Ðiềm lành sáu nẻo.
2. Ðiềm lành thấy chư Phật.
3. Ðiềm lành nghe thuyết pháp.
4. Ðiềm lành thấy chúng đắc đạo (điềm chứng
quả).
5. Ðiềm lành thấy Bồ Tát hạnh.
6. Ðiềm lành thấy chư Phật vào Niết Bàn.
Hào quang trắng, là biểu thị trung đạo liễu
nghĩa, chẳng lệch bên trái, chẳng lệch bên
phải, mà ở chính giữa chân mày, cũng biểu
thị đạo lý pháp môn viên đốn, trung đạo thật
tướng của Kinh Pháp Hoa.
Luồng hào quang trắng có thể co dãn, gần có
thể chiếu xa giống như lưu ly, quang minh
chiếu khắp. Tình hình nầy, cũng giống như
trong bóng tối đột nhiên bậc đèn pin hoặc
đèn pha, thì một luồng ánh sáng chiếu thẳng
về trước phá tan bóng tối, có thể chiếu được
xa. Mà luồng hào quang trắng nầy, chiếu khắp
vũ trụ hư không, tùy ý chiếu phương nào cũng
được, sở chiếu hiện tại là phương đông một
vạn tám ngàn cõi. Trước kia, Ðức Phật chẳng
thị hiện phóng luồng hào quang trắng ở giữa
chân mày, chỉ có trong hội Pháp Hoa mới hiện
tướng điềm lành nầy. Trong pháp hội Kinh
Lăng Nghiêm, khi Ðức Phật thuyết pháp, thì
từ trong nhục kế vọt ra trăm luồng quang
minh báu, trong quang minh vọt ra hoa sen
báu ngàn cánh. Ý nghĩa của hai thứ quang
minh nầy đều khác nhau. Người chỉ cần nghe
được một câu, một bài kệ trong Kinh Pháp
Hoa, thì đã trồng xuống nhân thành Phật.
Song, phải bao lâu ? không nhất định. Người
nghe được Kinh Pháp Hoa thì đều có căn lành
nhân duyên. Cho nên Phật pháp và chúng ta có
quan hện trọng đại. Có những người nghi ngờ,
còn nói tôi không tin tôi có thể sẽ thành
Phật. Thật tế, Phật pháp là tận hư không
khắp pháp giới, chẳng có gì mà không dung
nạp. Chúng sinh khắp pháp giời đều bao hàm ở
trong Phật giáo. Dù hiện tại họ không tin
nhưng tương lai họ sẽ tin, cũng có thể thành
Phật, đó là chỗ vi diệu của Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa.
Lại thấy chư Phật đang ở các cõi đó.
Ðây là điềm lành thấy chư Phật, là Thánh và
phàm tương đối. Thánh là Phật, phàm là
người. Trong luồng hào quang trắng hiện ra
cõi nước của chư Phật, và các Ðức Phật đang
giáo hóa chúng sinh. Dùng luồng hào quang
trắng là có hai nghĩa :
1. Ứng cơ đầu giáo (theo căn cơ mà thuyết
pháp).
2. Ðoạn hoặc trừ nghi.
Giống như đức Phật A Di Ðà, cũng có tướng
luồng hào quang trắng, như bài kệ tán Phật A
Di Ðà rằng : "A Di Ðà Phật thân kim sắc,
tướng hảo quang minh vô đẳng luân." Biểu thị
ba mươi hai tướng tốt, tám mươi hai vẻ đẹp,
quang minh không thể sánh được. "Bạch hào
uyển chuyển ngũ Tu Di." Giữa chân mày phóng
ra luồng hào quang trắng, chuyển động như
rồng múa không ngừng, luồng quang minh rộng
cỡ năm hòn núi Tu Di. "Hám mục trừng thanh
tứ đại hải." Mắt trong suốt sáng ngời như
nước bốn biển. "Quang trung hóa Phật vô số
ức." Trong luồng quang minh trắng của Phật A
Di Ðà lại có hóa Phật vô số ức. "Hóa Bồ Tát
chúng diệc vô biên." Có hóa Bồ Tát vô lượng
vô biên. "Tứ thập bát nguyện độ chúng sinh."
Mỗi lời nguyện đếu khiến cho chúng sinh
thành Phật. "Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ
ngạn." Người có thể phân làm : thượng, trung
và hạ phẩm, trong ba phẩm lại phân làm chín
phẩm. Do đó, chín phẩm hoa sen tức là thượng
thượng phẩm, thượng trung phẩm, thượng hạ
phẩm ; trung thượng phẩm, trung trung phẩm,
trung hạ phẩm ; hạ thượng phẩm, hạ trung
phẩm và hạ hạ phẩm. Chín phẩm chúng sinh
nầy, khi Ðức Phật A Di Ðà gia bị đều lên bờ
Niết Bàn bên kia.
Luồng hào quang trắng của Phật Thích Ca, cũng
lớn như năm hòn núi Tu Di. Ở trong Kinh Quán
Phật Tam Muội Hải có nói rằng : Khi Ðức Phật
Thích Ca ra đời, thì luồng hào quang trắng
là năm thước, tu khổ hạnh thì mười bốn
thước, thành Phật thì mười lăm thước. Ở
trong không gian tướng luồng hào quang
trắng, sắc trắng như lưu ly, biểu thị :
thường, lạc, ngã, tịnh, tức là Niết Bàn bốn
đức, trong không gian đại biểu trung đạo,
cũng có nghĩa là thường, tướng nhu nhuyến là
biểu thị lạc, thư thái tự tại, tùy ý có thể
dài hoặc ngắn là đại biểu chân ngã, màu
trắng là thanh tịnh, cũng dụ cho Niết Bàn
bốn đức : Thường đức, lạc đức, ngã đức, tịnh
đức, là trung đạo bảo ấn thật tướng, ở trong
luồng hào quang trắng lại thấy chư Phật ở
các cõi đó, mà Ðức Phật Thích Ca từ khi đản
sinh cho đến nhập Niết Bàn, tu tất cả khổ
hạnh, đủ thứ tướng mạo và công đức cũng hiển
ở trong đó.
Và nghe chư Phật giảng Kinh thuyết pháp,
cũng thấy các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cư sĩ
nam, cư sĩ nữ, các vị tu hành đắc đạo. Lại
thấy các vị đại Bồ Tát, đủ thứ nhân duyên,
đủ thứ tin hiểu, đủ thứ tướng mạo, hành Bồ
Tát đạo. Lại thấy chư Phật vào Niết Bàn, sau
khi chư Phật vào Niết Nàn, đều đem xá lợi
của Phật, đựng thờ trong tháp bằng bảy báu.
Ðây là điềm lành nghe thuyết pháp. Chư Phật
đều ở tại mỗi cõi thuyết pháp giáo hóa bốn
chúng đệ tử (Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, cư sĩ nam,
cư sĩ nữ), khiến cho họ y pháp tu hành mà
chứng đắc A La Hán, hoặc thành Bồ Tát, hoặc
đắc quả vị Phật. Ðây là điềm lành về chứng
quả, là người và pháp tương đối, tức cũng là
điềm lành nghe pháp và chứng quả. "Lại thấy
các vị đại Bồ Tát" : Lại thấy các vị Bố Tát
và đại Bồ Tát. "Ðủ thứ nhân duyên" : Dùng đủ
thứ nhân duyên để tu đủ thứ pháp môn và giáo
hóa đủ thứ chúng sinh. "Ðủ thứ tin hiểu" :
Là chỉ pháp bốn Diệu Ðế, mười hai Nhân
Duyên, lục độ Vạn Hạnh .v.v., đủ thứ sự tin
hiểu. "Ðủ thứ tướng mạo" : Dùng đủ thứ hạnh
môn tu đủ thứ pháp. "Hành Bồ Tát đạo" :
Luồng hào quang trắng của Ðức Phật từ cõi
nầy phóng đến cõi kia, là biểu thị tự giác,
giác tha, tự lợi, lợi tha, tức hành Bồ Tát
đạo.
"Lại thấy chư Phật nhập Niết Bàn", "sau khi
chư Phật nhập Niết Bàn" : Niết Bàn là không
sinh không diệt, nghĩa là viên tịch. Công
viên đức tịnh, công đức viên mãn. Ðó là thị
hiện việc chư Phật giáo hóa chúng sinh đã
hoàn mãn, thu vô lượng pháp trở về một pháp,
thị hiện chấm dứt việc giáo hóa. Sau đó xây
tháp mà làm Phật sự, là biểu thị ban đầu ra
đời, cuối cùng là tượng pháp. "Ðều đem Phật
xá lợi mà dựng thờ trong tháp bằng bảy báu."
Xá lợi là linh cốt, sau khi Phật vào Niết
Bàn rồi, dùng lửa thiêu, nhặt được xá lợi
rất nhiều, cho nên xây tháp mà cúng dường.
Tháp có hai nghĩa : 1. Phương mộ. 2. Cao
hiển. Tháp bảy báu cúng dường xá lợi, là
biểu thị pháp thân của Phật sở tại, đó là
điềm Phật thị hiện Niết Bàn. Những gì ở trên
vừa giảng đều là điềm cõi nước phương khác.
Niết Bàn có bốn :
1. Tự tính thanh tịnh Niết Bàn.
2. Hữu dư Niết Bàn.
3. Vô dư Niết Bàn.
4. Vô trụ xứ Niết Bàn.
Bấy giờ, Bồ Tát Di Lặc khởi ý nghĩ như vầy
: Nay Ðức Thế Tôn hiện tướng thần thông biến
hóa, vì nhân duyên gì mà hiện điềm lành nầy
? Nay Ðức Phật Thế Tôn đang nhập tam muội,
là việc ít có không thể nghĩ bàn. Bây giờ
nên hỏi ai, ai là người đáp được ? Lại nghĩ
thế nầy : Ngài Văn Thù Sư Lợi là con của
đấng Pháp Vương, đã từng gần gũi cúng dường
vô lượng chư Phật trong quá khứ, chắc đã
thấy tướng ít có nầy, nay tôi nên hỏi Ngài.
Bồ Tát Di Lặc là Phật sẽ hạ sinh trong tương
lai, là Bồ Tát bổ xứ. Di Lặc dịch là "Từ
Thị", lại có tên là A Dật Ða, nghĩa là Vô
Năng Thắng. Ngài dùng mắt từ bi bình đẳng
trông tất cả chúng sinh, mà chẳng khởi tâm
phân biệt. Hiện tại Ngài không minh bạch Ðức
Phật vì sao phải dùng tướng luồng hào quang
trắng hiện tướng thần biến, do đó khiến cho
Ngài khởi ba ý niệm. Tại sao Ðức Phật phải
hiện tướng sáu điềm lành ? Nay Ðức Thế Tôn
đang nhập tam muội, là việc ít có không thể
nghĩ bàn, nên hỏi ai ? Có thể hỏi Bồ Tát Văn
Thù, Ngài là con của Ðấng Pháp Vương, đã
từng cúng dường vô lượng chư Phật trong quá
khứ, tự nhiên sẽ biết rõ việc ít có điềm
lành nầy, ta nên đi hỏi Ngài. Văn Thù Sư Lợi
nghĩa là diệu cực hoặc diệu lạc. Vì sao Bồ
Tát Di Lặc khởi nghi vấn ? Vì Bồ Tát sơ địa
chẳng biết Bồ Tát nhị địa, Bồ Tát cửu địa
chẳng biết Bồ Tát thập địa, thập địa Bồ Tát
chẳng biết cảnh giới của đẳng giác Bồ Tát,
hà huống là cảnh giới của Phật ? Do đó,
người ngu chẳng biết người trí, người ngu si
chẳng biết cảnh giới của người có trí huệ,
chẳng phải quá thì bất cập ; người phóng tâm
chẳng biết người định tâm. Tóm lại, tâm thần
không yên, lo trước lo sau, tâm căn tán
loạn, chẳng hiểu rõ cảnh giới nhập định, cho
nên phàm phu chẳng biết Thánh nhân, tiểu
thừa chẳng biết đại thừa. Xá Lợi Phất là bậc
đại trí huệ ở trong tiểu thừa A La Hán,
nhưng Xá Lợi Phất không hiểu rõ cảnh giới
của Bồ Tát. Một số Bồ Tát cũng không hiểu
cảnh giới của Bồ Tát bổ xứ. Bổ xứ là tương
lai thay thế Phật vị của Ðức Phật Thích Ca.
Bồ Tát Di Lặc là Bồ Tát nhất sinh bổ xứ, mà
Bồ Tát bổ xứ lại không biết Phật quả , Bồ
Tát tôn kính cùng cực, cho nên Ngài mới khởi
ý niệm nghi vấn.
Khi đó, các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cư sĩ nam,
cư sĩ nữ và các vị trời, rồng, quỷ thần
.v.v… đều khởi nghĩ như thế nầy : Tướng
quang minh thần thông của Ðức Phật, nay nên
hỏi ai ?
Không những Bồ Tát Di Lặc, mà cho đến bốn
chúng và trời, rồng, quỷ thần .v.v… cũng
khởi ý niệm hoài nghi, tại sao Ðức Phật phải
hiện tướng thần thông quang minh ? Kỳ thật,
Bồ Tát Di Lặc chẳng phải không biết nhân
duyên Ðức Phật hiện điềm lành. Ngài cũng đã
từng cúng dường vô số chư Phật trong quá
khứ. Ngài chỉ là vì thỉnh pháp, vì thế đại
chúng giải mối nghi, mới hiện tướng hoài
nghi mà hỏi Bồ Tát Văn Thù.
Bấy giờ, Bồ Tát Di Lặc muốn giải quyết tâm
nghi của mình, lại quán sát tâm của bốn
chúng : Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cư sĩ nam, cư
sĩ nữ và các chúng hội trời, rồng, quỷ thần
.v.v… mà hỏi Bồ Tát Văn Thù, vì nhân duyên
gì mà có điềm lành nầy ? Tướng thần thông
phóng đại quang minh, chiếu phương đông một
vạn tám ngàn cõi, đều thấy cõi nước của chư
Phật đó trang nghiêm. Do đó, Bồ Tát Di Lặc
muốn tuyên lại nghĩa nầy bèn dùng kệ để hỏi.
Lúc đó, Bồ Tát Di Lặc muốn cầu khai thị nghi
vấn, lại thấy bốn chúng đệ tử và trời, rồng,
quỷ thần .v.v… sinh tâm nghi ngờ, do đó mới
hỏi Bồ Tát Văn Thù.
Quỷ phân ra : ngạ quỷ (quỷ đói) và bảo quỷ
(quỷ no). Quỷ nghĩa là "quy", là trở về. Ai
ai cũng có Phật tánh, đều có thể trở về cội
nguồn cứu kính thành Phật, nhưng vì vô minh
phiền não mà tạo nghiệp, chết rồi do nghiệp
lực dẫn vào địa ngục, đưa đẩy vào đường ngạ
quỷ. Vì lúc sống, chẳng biết lợi dụng thân
người nầy để tu thiện, sau khi chết rồi mới
biết dụng tâm sai lầm, đi sai đường, cho đến
bỏ giác hợp trần, mà trôi nổi ở trong biển
khổ, khổ không thể tả. Song, nếu kịp thời
hồi đầu, biết mê trở về giác, thì Ðức Phật
cũng khiến cho lên bờ bên kia, cuối cùng sẽ
thành Phật.
Thần nghĩa là "thiên tâm", có thần thông và
cảm ứng tự nhiên. Bồ Tát Di Lặc nói với Bồ
Tát Văn Thù : "Xin Ngài từ bi nói cho chúng
tôi biết, vì nhân duyên gì mà đức Phật phải
hiện tướng thần thông ít có nầy, phóng đại
quang minh chiếu phương đông một vạn tám
ngàn thế giới ? Ðồng thời lại thấy vô số ức
cõi nước chư Phật và điềm lành Phật diễn
thuyết pháp." Hiện tại trước mắt giới khoa
học phát triển tiến bộ nhất, cho rằng lên
cung trăng hoặc phóng vệ tinh nhân tạo, đến
tinh cầu khác là việc giỏi nhất, song, hai
ngàn năm về trước, Ðức Phật dùng tướng luồng
hào quang trắng, sớm đã biết đã thấy tất cả
bí mật ở trong vũ trụ không gian, hiển hiện
ở trong tướng luồng hào quang trắng một vạn
tám ngàn thế giới, thấy tất cả chúng sinh và
chư Phật đều rõ ràng mỹ lệ lại trang nghiêm.
Vì muốn cho chúng sinh minh bạch ý của Phật,
cho nên Bồ Tát Di Lặc lại dùng kệ để hỏi.
Ngài Văn Thù Sư Lợi !
Ðấng Ðạo Sư cớ chi ?
Phóng quang trắng giữa mày
Quang minh chiếu hết thảy.
Trời mưa hoa Mạn đà
Và hoa Mạn thù sa
Gió thơm hương chiên đàn
Khiến vừa lòng đại chúng.
Do nhân duyên như vậy
Cõi nước đều nghiêm tịnh
Mà ở thế giới nầy
Có sáu thứ chấn động.
Lúc nầy bốn bộ chúng
Thảy đều rất vui mừng
Thân tâm đều an lạc
Ðắc được chưa từng có.
Bồ Tát Văn Thù ! Ðấng Ðạo Sư của chúng ta, vì
cớ gì phóng luồng hào quang trắng giữa chặng
mày, chiếu khắp hết thảy ?
Ðạo Sư tức là Ðức Phật Thích Ca. Ngài dẫn
đường chúng ta từ con đường đen tối đến con
đường sáng, trở về ngôi nhà xưa, là ngôi nhà
nào ? Là cõi Thường Tịch Quang Tịnh Ðộ. Lúc
đó, trời mưa xuống hoa Mạn đà la và hoa Mạn
thù sa màu trắng và màu đỏ, không những xinh
đẹp mềm mại, mà còn tỏa ra mùi hương chiên
đàn, chu vi khoảng bốn mươi dặm. Cho nên
chúng sinh đều hoan hỉ vui mừng, mặt đất đều
trang nghiêm thanh tịnh. Ở thế giới nầy, lại
phát sinh sáu thứ chấn động, bốn chúng đều
vì thấy điềm lành, mà thân tâm đều sung
sướng vui thích, đó là việc ít có từ trước
chưa từng có.
Quang minh giữa chân mày
Chiếu thẳng về phương đông
Một vạn tám ngàn cõi
Thảy đều như sắc vàng.
Dưới chiếu ngục A tỳ
Trên chiếu trời Hữu đỉnh
Trong tất cả thế giới
Các chúng sinh sáu đường.
Sinh tử chỗ họ đến
Nghiệp duyên thiện và ác
Thọ báo tốt và xấu
Thảy đều thấy rõ hết.
Luồng hào quang trắng trung đạo của Ðức Phật,
trước hết chiếu phương đông, chiếu khắp một
vạn tám ngàn cõi, cho đến khắp cả hư không
đều thành màu hoàng kim. Dưới chiếu đến ngục
A Tỳ, trên chiếu đến cõi trời Hữu Ðỉnh,
trong tất cả thế giới. Hữu là dục giới, sắc
giới và vô sắc giới. Hữu đỉnh tức là trời
Phi Tưởng Phi Phi Tưởng cao nhất trong tam
giới. Cõi trời nầy thuộc về vô sắc giới,
chẳng có hình sắc cho nên không thể thấy,
nhưng ở trong luồng hào quang trắng, nương
hào quang mà thấy được. Chúng sinh ở trong
sáu nẻo luân hồi, sinh sinh tử tử, tử tử
sinh sinh, chuyển đi chuyển lại, khó thoát
ra được. Sinh tử, tức là sự trở lại của năm
ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cũng là chỉ
tinh thần và thân thể). "Nghiệp duyên thiện
và ác" : Là nhân đến, tốt xấu là quả đến.
Chính là hai con đường thiện và ác, tu thì
tu, tạo thì tạo, xem bạn đi con đường nào mà
thôi. Tu là tu nghiệp thiện, tạo là tạo
nghiệp ác, muốn thăng đi lên hoặc đọa lạc,
hoàn toàn do mình nắm trong tay. Thân người
khó được, nếu không sớm tu năm giới mười
điều lành, mà làm điều ác, thì kiếp sau
không dễ gì được làm người nữa.
"Thọ báo tốt và xấu, thảy đều thấy rõ hết."
Ðây là nói ở tại nhân địa, người tu thiện
thì được quả báo tốt, nếu tạo ác thì được
quả báo xấu. Tất cả đều thuận tâm tính,
thuận nghiệp lực mà đến. Cho nên chúng sinh
ở trong sáu nẻo hổ tương tạo nghiệp, hổ
tương thọ báo, lưu chuyển trong luân hồi,
chẳng có thời kỳ chấm dứt. Tất cả nghiệp
duyên quả báo nầy, đều thấy hết ở trong
luồng hào quang trắng.
Lại thấy các đức Phật
Ðấng Thánh chúa sư tử
Ðang diễn nói Kinh điển
Tối vi diệu bậc nhất.
Âm thanh rất thanh tịnh
Thốt ra lời êm diệu
Giáo hóa các Bồ Tát
Vô số ngàn ức vạn.
Tiếng phạm âm thâm diệu
Khiến người ưa thích nghe
Ðức Phật ở mỗi cõi
Ðều diễn nói chánh pháp.
Lại thấy chư Phật. Phật là chúa trong bậc
Thánh, như sư tử. Âm thanh của Phật rất
thanh tịnh vô cùng, lời nói rất lưu loát
viên mãn, giọng điệu rất êm diệu, ai cũng
đều ưa thích nghe. Phật dùng âm thanh nầy để
thuyết pháp, giáo hóa vô số ức vạn Bồ Tát.
"Tiếng phạm âm thâm diệu." Thứ âm thanh
thanh tịnh nầy thâm diệu vô cùng, khiến cho
tất cả chúng sinh hoan hỉ tin thọ, mà tin
sâu thắng trí của Phật. Ðồng thời, mỗi vị
Phật ở thế giới kia cũng đều đang diễn nói
chánh pháp.
Dùng đủ thứ nhân duyên
Và vô lượng thí dụ
Chiếu rõ các Phật pháp
Ðể khai ngộ chúng sinh.
Nếu người gặp sự khổ
Chán sinh già bệnh chết
Vì họ nói Niết bàn
Dứt hết thảy các khổ.
Nếu người có phước báo
Từng cúng dường chư Phật
Chí cầu pháp thù thắng
Vì họ nói Duyên Giác.
Nếu có những Phật tử
Tu đủ thứ hạnh môn
Ðể cầu huệ vô thượng
Vì họ nói tịnh đạo.
Nầy Bồ Tát Văn Thù !
Tôi ở tại nơi đây
Thấy nghe như vậy đó
Và ngàn ức thứ việc.
Như thế nhiều vô số
Nay sẽ lược nói ra
Tôi thấy cõi nước kia
Có Hằng sa Bồ Tát.
Tu đủ thứ nhân duyên
Ðể cầu chứng Phật đạo
Hoặc có vị bố thí
Vàng bạc và san hô.
Chân châu ngọc ma ni
Sa cừ và mã não
Kim cương đồ quý báu
Tôi tớ và xe cộ.
Trang sức và xe kiệu
Ðều hoan hỉ bố thí
Hồi hướng quả vị Phật
Nguyện đắc được thừa ấy
Bậc nhất trong ba cõi
Chư Phật thường khen ngợi.
"Dùng đủ thứ nhân duyên." : Vì người có đủ
loại căn cơ và đủ thứ tập khí mao bệnh, cho
nên phải dùng vô lượng thí dụ, để vì chúng
sinh thuyết pháp, khiến cho họ hiểu thấu
được Phật pháp chân chánh, y theo đó mà hành
trì. "Chiếu rõ các Phật pháp." : Dùng trí
huệ quang minh để thấu hiểu tất cả Phật
pháp. "Ðể khai ngộ chúng sinh." : Khiến cho
trí huệ và bồ đề của chúng sinh tăng trưởng,
y như mỏ vàng, nếu không khai quậc, thì
chẳng bao giờ được vàng thật, đây cũng là ví
dụ. Con người vốn đầy đủ Phật tánh, nhưng
đang tiếc chẳng nhận thức mặt thật của mình.
Song, nếu gặp bậc thiện tri thức chỉ điểm
cho họ, theo đó mà làm theo thì được trở về
cội nguồn. Do đó :
Phá vỡ tâm niệm một chút nghi,
Mười phương nơi đâu chẳng gia trì,
Phật nhãn tròn sáng thường chiếu nhau,
Chỉ tại mỗi người không tự biết.
"Nếu người gặp sự khổ." : Phàm phu tuy thân
tâm đều thọ khổ mà chẳng biết, ngược lại còn
cho khổ là vui, do đó khổ lại thêm khổ, càng
thọ khổ thì càng muốn tạo khổ. Vô minh phiền
não vốn là khổ, nhưng con người cứ chấp
trước mà chẳng muốn xả bỏ, cho nên không thể
thoát khỏi biển khổ, ngược lại đọa vào địa
ngục, vĩnh viễn trầm luân thọ khổ mà không
thể tự cứu. Ngoại đạo cũng vì muốn dứt khổ,
mà tìm cầu lối thoát, song chẳng tìm được,
cuối cùng quay lưng với đạo mà theo đuổi đọa
vào trong đường ngạ quỷ.
Con người có thế trí biện thông, tuy nhiên có
chút thông minh, cũng thông đạt pháp thế
gian mà chẳng minh bạch pháp xuất thế gian.
Do đó, khi khổ nạn xảy đến thì chẳng biết
ứng phó như thế nào, muốn dứt khổ nhưng
ngược lại tạo khổ. Khi người rơi vào nghịch
cảnh nghèo cùng bệnh hoạn bức bách, nếu hiểu
được thọ khổ tức hết khổ, biết được đây là
những nghiệp đã tạo ra trong quá khứ nên
chiêu lại quả báo, đời nầy phải an phận làm
người. Nhưng nếu kháng cự nhân gây ra trong
quá khứ chẳng chịu trả, tự tạo nghiệp mà
mình chẳng thừa nhận, ngược lại còn oán trời
trách người, thậm chí còn lợi dụng sự thông
minh đi trộm cướp lường gạt. Thật là lên
được tới núi lại gặp cọp. Mánh khoé gạt
người cuối cùng sẽ bị người bắt được. Khi
mưu kế bại lộ thì bị cảnh sát bắt, đưa đến
quả báo ngồi tù, hoặc lâu hoặc mau do tội
nặng hay nhẹ mà quyết định. Thứ quả báo nầy,
chỉ thân thể thọ khổ mà thôi, quan trọng
nhất là chẳng tránh khỏi ác nghiệp nầy, đưa
đến tương lai sẽ đắc được quả báo súc sinh.
Sở dĩ con người gặp sự khổ, đều vì chính
mình đã tạo ra đủ thứ nghiệp ác. Nếu còn
không tỉnh ngộ thì sẽ không được làm người
nữa mà đọa vào ba đường ác.
"Chán sinh, già, bệnh, chết." Khổ có ba thứ :
1. Khổ khổ : Khổ trong sự khổ.
2. Hoại khổ : Vốn chẳng có khổ, nhưng vì sung
sướng rất ngắn ngủi, sự vui chẳng bao lâu,
nên gọi là hoại khổ.
3. Hành khổ : Con người từ nhỏ lớn dần lên,
trưởng thành rồi già, già rồi chết đi, niệm
niệm sinh diệt không ngừng ; như sóng biển,
sóng trước diệt, sóng sau lại sinh, sóng sau
diệt, sóng sau nữa lại sinh, liên tục không
ngừng. Do đó, hành khổ chẳng có ai tránh
khỏi được.
Ngoài ra còn có tám thứ khổ :
1. Sinh khổ : Khi đứa bé mới lọt lòng mẹ thì
khóc : Khổ a ! Khổ a ! Có thể thấy thế gian
có lắm sự khổ, nhưng ở tại thế giới kham
nhẫn nầy (thế giới Ta Bà) lâu rồi, lại lấy
khổ làm vui, quên mất đường về. Ở trong thai
mẹ, nếu người mẹ ăn đồ nóng, thì thai nhi
cảm thấy như ở trong núi lửa. Nếu người mẹ
ăn đồ ăn lạnh, thì thai nhi có cảm giác lạnh
như ở trong địa ngục hàn băng. Trách sao
được, khi thân ở trong thai mẹ chỉ phải chịu
khổ mà không thể mở lời than oán. Lúc lọt
lòng mẹ thì giống như hai quả núi đè ép,
sinh ra rồi gặp gió thổi thì thân thể lại
giống như bị dao cắt, đau thấu tim gan.
Song, đối với sự khổ nầy, hầu hết mọi người
quá ba tuổi thì cũng từ từ quên mất.
2. Già khổ : Lớn tuổi thì sức khoẻ cũng suy
giảm, mắt mờ tai điết, răng rụng, ngũ quan
chẳng còn linh hoạt ; tóm lại chẳng có ai
tránh khỏi sự già nua, đó chẳng phải là khổ
chăng ?
3. Bệnh khổ : Sự khổ nầy càng chẳng ai tránh
khỏi, dù bạn là ông vua, tổng thống, hoặc
đại thần, .v.v… đều khuất phục dưới con ma
bệnh, già, chết. Bệnh có nhiều thứ, bệnh
hoạn mang đến sự khổ đau cũng đếm không xuể.
4. Chết khổ : Khổ nhất là khổ về chết và khổ
về sinh. Khi sinh ra thì như rùa lột mu,
chết thì như bò sống lột da. Vậy mục đích
học Phật là gì ? Tức là chấm dứt sinh tử,
thoát khỏi luân hồi.
5. Thương lìa nhau khổ : Thế tục tham nhiều về
tình ái, khó phân ly khó xả bỏ. Nhưng càng
thương yêu bao nhiêu, đến lúc sinh ly tử
biệt, thì càng đau khổ bấy nhiêu. Ái tình là
nhân trầm luân trong biển khổ. Nếu khử trừ
sạch tâm dâm dục, thì đoạn sạch mầm mống
sinh tử, cũng chẳng còn thọ luân hồi, bằng
không vẫn lưu chuyển ở trong biển khổ, không
khi nào dứt được.
6. Ghét gặp nhau khổ : Người nầy tôi ghét nhất
! Tôi chẳng muốn thấy y ! Nhưng nếu đối với
vợ của mình, cũng khởi tâm chán ghét, mà y
thị luôn luôn quấn quít không lìa, đó thật
là ghét thấy nhau như chẳng thấy, hoặc là
mình ghét người nào đó mà phải tránh né y,
nhưng đôi khi lại gặp y ! Ðó đều là khổ về
ghét gặp nhau. Nếu tâm tự tại thì tất cả đều
tự tại, tâm như ý thì tất cả đều như ý. Nếu
trong tâm có quá nhiều chán ghét oán hận,
thì tất cả những gì thấy nghe cũng khiến cho
mình chẳng được như ý. Ðó là tự mình làm khổ
mình.
7. Cầu không được khổ : Mong cầu chẳng được
cũng khổ. Nếu muốn thăng quan phát tài, hoặc
bạn trai muốn có người vợ đẹp, còn bạn gái
muốn được người chồng tốt, nhưng đều chẳng
thành công, thì phiền não sẽ phát sinh, đêm
ngủ chẳng yên, ăn chẳng biết ngon, tinh thần
hoảng hốt, tinh thần bất định, đó đều là khổ
!
8. Năm ấm thiêu đốt khổ : Thân thể vốn là khổ,
là vô thường. Cho nên, tám thứ khổ nầy luôn
luôn bức bách chúng ta, chi phối chúng ta,
cho nên Ðức Phật mới nói pháp Niết Bàn. Niết
là không sinh, Bàn là không diệt. Nếu chẳng
chấp trước thân giả tạm nầy, mà cầu đạo vô
thượng, thì sẽ được Niết Bàn, cũng là :
thường, lạc, ngã, tịnh, bốn đức Niết Bàn. Do
đó, dứt hết các sự khổ, tất cả mọi sự khổ
đều dứt sạch.
Ai muốn chấm dứt đau khổ, thì phải rộng trồng
ruộng phước, cung kính lễ bái và cúng dường
Tam Bảo, đừng làm điều ác, hãy làm các điều
lành, đủ thứ công đức. Nhưng đừng chấp trước
mình từng bỏ ra bao nhiêu tiền, hãy dùng tâm
chân thật để làm bố thí, tu phước đức và huệ
đức, tức là phước huệ song tu. Làm công đức
là tu phước, nghe Kinh và nghiên cứu Phật
pháp thì sẽ khai mở trí huệ, đó gọi là tu
huệ. Do đó, nếu người có phước báo, từng
cúng dường chư Phật. "Chí cầu pháp thù
thắng". Lập chí muốn cầu pháp thù thắng. "Vì
họ nói Duyên Giác". Pháp mười hai Nhân
Duyên, khiến cho họ quán thế duyên, giác ngộ
pháp tính. Mười hai Nhân Duyên là : Vô minh,
hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ,
ái, thủ, hữu, sinh, lão tử. Ðây là pháp của
người nhị thừa tu. "Nếu có những Phật tử, tu
đủ thứ hạnh môn, cầu chứng huệ vô thượng, vì
họ nói tịnh đạo." Nếu có đệ tử của Phật muốn
cầu đạo vô thượng, tu tập lục độ vạn hạnh,
thì Ðức Phật vì họ mà nói Phật đạo thanh
tịnh, tức là lục độ Ba la mật. "Bồ Tát Văn
Thù Sư Lợi ! Tôi ở tại thế giới Ta Bà nầy.
Thấy nghe như vậy đó", mắt thấy cảnh Phật,
tai nghe tiếng của Phật, đều như vậy đó. "Và
ngàn ức thứ việc" : Còn có rất nhiều thứ
việc khác. "Như thế nhiều vô số" : Là chỉ sự
thấy và nghe quá nhiều. Nay sẽ lược nói ra :
Bây giờ tôi phải lược nói với Bồ Tát Văn
Thù. "Tôi thấy cõi nước kia, có Hằng sa Bồ
Tát, tu đủ thứ nhân duyên, mà cầu chứng Phật
đạo" : Tôi thấy được cõi nước kia, Bồ Tát
nhiều như số cát sông Hằng, dùng đủ thứ nhân
duyên tu hành. Nếu ai muốn cầu Phật đạo thì
phải làm công đức, tất sẽ đắc được trí huệ,
còn phải hạ thủ một phen khổ công phu ! Bồ
Tát nhiều như số cát sông Hằng còn phải dùng
đủ thứ nhân duyên để tu phước huệ, để cầu
quả vị Phật, hà huống là phàm phu ! "Hoặc có
người bố thí." : Có người dùng bảy báu để bố
thí, vì muốn cầu Phật đạo. Bảy báu là : vàng
bạc và san hô, trong biển có báu do tụ khí
kết thành, màu sắc nhuận đỏ, hình như cây
gọi là san hô. "Chân châu ngọc ma ni" : Châu
ma ni gọi là châu như ý. "Xà cừ và mã não" :
Con sò lớn ở trong biển, tức là ốc biển lớn.
Mã não là tụ khí trong đá, màu sắc nhuận đỏ
như não ngựa. "Kim cương đồ quý báu" : Kim
cương tức là toàn thạch, là một thứ đá rất
quý, rất cứng dùng để chạm ngọc và thủy
tinh. "Tôi tớ và xe cộ" : Người nầy thậm chí
đem tôi tớ, xe cộ ra bố thí. "Trang sức và
xe kiệu" : Xe kiệu là một thứ xe nạm châu
báu, thời xưa hoàng đế thường dùng xe kiệu
nầy đi lại. Quân lính khiên đi cho nên gọi
là xe kiệu. "Ðều hoan hỉ bố thí, hồi hướng
quả vị Phật" : Ðây là người rất vui thích
dùng bảy báu làm bố thí. Ngược lại, nhân sĩ
người thời nay chỉ bỏ ra vỏn vẹn năm đồng,
mười đồng thì cho rằng đã nhiều lắm rồi, mà
còn ghi nhớ trong tâm, chẳng biết công đức
chánh bố thí, ngoại trừ đem bảy báu ra bố
thí nhưng tâm chẳng có tơ hào hối tiết và
cũng đừng khởi tâm chấp trước mới khế hợp
Phật đạo. "Nguyện đắc được thừa ấy" : Nguyện
đắc được Phật thừa. "Bậc nhất trong tam
giới" : Thành Phật ở trong dục giới, sắc
giới và vô sắc giới, cho nên là bậc nhất
trong tam giới. "Chư Phật thường khen ngợi"
: Thành Phật rồi, được chư Phật trong mười
phương tán thán ca ngợi.
Hoặc có những Bồ Tát
Dùng xe báu bốn ngựa
Lan can và lọng hoa
Trang sức đem bố thí.
Lại thấy các Bồ Tát
Ðem thân thịt tay chân
Và vợ con bố thí
Ðể cầu vô thượng đạo.
Lại thấy có Bồ Tát
Dùng đầu mắt thân thể
Vui thích đem bố thí
Ðể cầu Phật trí huệ.
Ngài Văn Thù Sư Lợi !
Tôi thấy các ông vua
Ðều đi đến chốn Phật
Hỏi pháp vô thượng đạo.
Bèn vui vẻ bỏ nước
Và cung điện thần thiếp
Cạo bỏ râu và tóc
Mà mặc y pháp phục.
Hoặc thấy có Bồ Tát
Xuất gia làm Tỳ kheo
Một mình ở chỗ vắng
Thích đọc tụng Kinh điển.
Lại thấy có Bồ Tát
Rất tinh tấn dũng mãnh
Vào ở trong rừng sâu
Suy gẫm cầu Phật đạo.
Bồ Tát Di Lặc nói với Ngài Văn Thù : Tôi thấy
ở trong luồng hào quang trắng của Ðức Thế
Tôn có những vị Bồ Tát hành bố thí. "Ngài
dùng xe báu tứ mã" : Xe ngựa bốn con, dùng
các báu trang sức. "Lan can và lọng hoa" :
Ngang gọi là lan, dọc gọi là can, là một
loại xe báu trên đỉnh có trang trí lọng hoa.
"Trang sức đem bố thí" : Dùng đồ trang
nghiêm tối thắng nầy đem đi bố thí. "Lại
thấy các Bồ Tát, đem thân thịt tay chân" :
Lại thấy có những vị Bồ Tát, không những đem
tất cả châu báu tài vật, mà còn đem thân
thịt, tay chân, vợ con của họ ra bố thí. Ðó
chẳng phải là khó làm mà làm được chăng ?
Ðáng cười phàm phu chúng ta, làm được một
chút việc thiện hoặc bố thí được chút ít thì
đắc chí lắm, hí hửng mừng rỡ, cho rằng nhiều
quá lắm rồi đó ! Một vị Bồ Tát vốn ôm ấp từ
bi tinh thần cứu đời, không những xả bỏ tất
cả vật ngoài thân, mà thậm chí thân thịt cho
đến tay chân của mình hoặc vợ con, khi chúng
sinh cần thì đều vui vẻ bố thí cho người. Bồ
Tát bố thí thân thể như thế nào ? Ví như, có
người gặp tai nạn xe cộ mất đi cánh tay, thì
Bồ Tát chẳng do dự, đem cánh tay của mình bố
thí, cho đến tim gan phổi thận, bố thí cho
bệnh nhân cần, cứu bệnh khổ của tất cả chúng
sinh, mà khiến cho họ thoát khỏi kinh sợ và
tai nạn, đó là bố thí nội tài. "Và vợ con bố
thí" : Ðây là bố thí ngoại tài. Nhân gian
cũng có Bồ Tát, chỉ cần người nào đó phát
được tâm đại từ bi, vì chúng sinh mà hành bố
thí, khó xả bỏ mà xả bỏ được thì gọi là Bồ
Tát. Vì trong thế gian, việc khó xả bỏ nhất
là tình cảm vợ chồng, các Ngài buông xả được
mọi tình cảm khó xả bỏ được, đủ thấy tâm của
các Ngài kiên định và tự tại cho nên xưng là
Bồ Tát.
Ở trong Thủy Kính Hồi Thiên Lục có một đoạn
ghi về Ngài Hòa Thượng Thường Nhân, trước
khi chưa xuất gia, từng vì tu đạo mà bố thí
vợ của mình cho người khác. Sau khi cha mẹ
của Ngài qua đời, Ngài vì muốn báo hiếu cho
cha mẹ mà thủ hiếu ở mộ ba năm. Do đó, vợ
của Ngài chẳng khác nào là "thủ hoạt quả",
vì không thể chịu đựng cảnh vắng vẻ, cho nên
đôi ba phen khuyên Ngài trở về nhà sống với
nhau, nhưng tâm tu đạo của Ngài đã kiên
quyết. Rõ là người càng muốn hướng thượng
thì càng gặp ma thử thách. Do đó :
"Ðạo cao một thước, ma cao một trượng,
Ðạo cao một trượng, ma ở trên đầu".
Ðại Sư Thường Nhân càng muốn chuyên tâm tu
đạo, thì càng bị vợ quấy nhiễu, cuối cùng
dẫn lại một người đàn ông đến mộ để uy hiếp
chồng, nếu Ðại Sư không chịu trở về nhà, thì
y thị sẽ kết hôn với người đàn ông nầy.
Song, Ðại Sư Thường Nhân chẳng có chút nóng
giận gì, ngược lại còn khoan hồng đại lượng
tán thán sự sống chung của hai người, đủ
thấy công phu tu hành của Ngài rất thâm sâu.
Ðó là :
Khó làm mà làm được,
Khó xả bỏ mà xả bỏ đặng.
Tâm chẳng còn tham trước, thì không bị cảnh
trần ô nhiễm lay chuyển ; đoạn được tâm dâm
dục thì không còn tiếp tục sinh tử, mà ra
khỏi được tam giới, cho nên chỉ có Bồ Tát
mới đem vợ con bố thí, để cầu vô thượng đạo.
"Lại thấy các Bồ Tát, dùng đầu mắt thân thể."
Những vị Bồ Tát nầy, không những xả bỏ được
nội tài và ngoại tài, thậm chí đầu, mắt,
thân thể, cũng đều vui vẻ bố thí. Ðây là vô
úy thí, Ngài dùng thân tâm tính mạng bố thí
cho người, vì cầu vô thượng đạo, cho nên
được liễu sinh thoát tử. Nếu người xan tham
không xả bỏ, cũng chẳng bố thí, thì vĩnh
viễn không thể chấm dứt sinh tử. Mà bố thí ở
đây phải vui vẻ thí xả, hoàn toàn chẳng có ý
đấu tranh. Có những người chẳng phải dùng
chân tâm để bố thí, nếu thấy người bỏ ra một
trăm ngàn, thì họ phải bỏ ra hai trăm ngàn,
nếu người bỏ ra hai trăm ngàn, thì họ chẳng
bỏ ra ba trăm ngàn thì không được, nhất định
phải hơn người mới được, đó chẳng phải là bố
thí như pháp, cũng chẳng hoàn toàn thành tâm
hành thiện. Ðoạn nầy nói về bố thí độ ở
trong lục độ.
"Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ! Tôi lại thấy các quốc
vương, đều đi đến chốn Phật, hỏi pháp vô
thượng đạo". Ðến trước chư Phật thỉnh hỏi
pháp vô thượng đạo, thì Phật khai thị đạo lý
: khổ, không, vô thường, vô ngã, bốn niệm xứ
.v.v. Có bài thơ Tây Giang Nguyệt, đồn rằng
do Trang Tử sáng tác, cũng nói lên đạo lý :
khổ, không, vô thường, vô ngã. Thơ rằng :
"Phú quý năm canh xuân mộng,
Công danh một đám mây trôi,
Trước mắt cốt nhục đã chẳng thật,
Ân ái trở thành cừu hận,
Ðừng mang gông vàng vào cổ,
Chớ đeo vòng ngọc trói thân,
Thanh tâm quả dục thoát hồng trần,
Khoái lạc tiêu dao tự tại."
Các vị quốc vương nghe nói về bốn Niệm Xứ, bèn
vui vẻ bỏ nước, chẳng có tơ hào do dự, xả bỏ
hết sự hưởng thụ năm dục, cũng đem cung điện
thần thiếp xả bỏ, để cạo bỏ râu và tóc, mà
mặc y pháp phục, mặc lên y Cà sa của người
xuất gia. Ðoạn văn nầy nói về giới độ ở
trong lục độ.
"Hoặc thấy có Bồ Tát, xuất gia làm Tỳ Kheo,
một mình ở chỗ vắng, thích tụng đọc Kinh
điển." Ðoạn nầy dụ cho nhẫn nhục Ba la mật.
Một vị Tỳ Kheo một mình ở trong động núi khó
tránh khỏi người ác đánh chưởi hoặc rắn độc
thú dữ xâm hại, nhưng họ đều nhẫn thọ mà
chẳng sinh tâm kinh sợ, đó là sinh nhẫn, tự
tiết thủ chí là khổ hạnh nhẫn, tụng Kinh cầu
Phật là nhẫn đệ nhất nghĩa.
"Lại thấy có Bồ Tát, rất tinh tấn dũng mãnh,
vào ở trong rừng sâu, tư duy cầu Phật đạo."
Ðây là độ thứ tư trong lục độ Ba la mật. Ðây
là biểu hiện tinh thần quên ăn bỏ ngủ để cầu
Phật đạo. Các vị ấy vào trong rừng sâu núi
thẳm, tư duy cầu Phật đạo, chánh niệm tư duy
sở hành của Phật tức là quán chiếu thiền.
Lại thấy người lìa dục
Thường ở chỗ thanh nhàn
Chuyên tu tập thiền định
Ðắc được năm thần thông.
Lại thấy có Bồ Tát
Chắp tay trụ thiền định
Dùng ngàn vạn bài kệ
Khen ngợi các Pháp Vương.
Bồ Tát Di Lặc lại nói : Tôi lại thấy người tu
hành lìa dục, chẳng tham : tài, sắc, danh,
ăn và ngủ. Ở chỗ thanh nhàn ngày đêm tu
thiền, chẳng có gián đoạn. Nếu ai chân chánh
tu hành thì phải nỗ lực, ngày ngày tu tập
thiền định, chẳng có ngày giờ nào nghỉ. Nếu
lười biếng giải đãi, thì vĩnh viễn chẳng
thành tựu. Tu thiền sẽ đắc được năm thần
thông : Thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông,
tha tâm thông, túc mạng thông và thần túc
thông, nhưng chưa đắc được lậu tận thông.
Chỉ có tứ quả A La Hán và bậc Bồ Tát trở lên
mới có thần thông nầy. Ngoài tu thiền ra,
nếu chuyên tâm niệm Phật hoặc tụng Kinh trì
Chú, cũng sẽ đắc được năm thần thông. Như
Ngài Trí Giả Ðại Sư chuyên trì tụng Kinh
Pháp Hoa mà khai ngộ. Khi Ngài tụng đến phẩm
Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự : "Ðốt thân cúng
Phật là chân tinh tấn, gọi là chân pháp cúng
dường Như Lai", thì nhập vào cảnh giới tam
muội. Ở trong định thấy pháp hội Linh Sơn
vẫn còn chưa tan, thấy Ðức Phật vẫn còn đang
thuyết pháp. Cho nên trì tụnh Kinh điển cũng
có thể khai ngộ, nhưng phải chuyên tâm nhất
chí, chứ chẳng phải khi thì niệm Phật, khi
thì khởi vọng tưởng. Nếu đang niệm Phật, mà
còn bàn tính chuyện làm sao để kiếm tiền,
thì nhất định chẳng thể khai ngộ, vì đó là
niệm tiền chứ chẳng phải niệm Phật.
Lại thấy có Bồ Tát, chắp tay an trụ trong
thiền định, dùng ngàn vạn bài kệ để tán thán
chư Phật.
Lại thấy có Bồ Tát
Trí sâu chí kiên cố
Tham vấn các đức Phật
Nghe rồi đều thọ trì.
Lại thấy có Phật tử
Ðịnh huệ đều đầy đủ
Dùng vô lượng thí dụ
Vì chúng diễn nói pháp.
Vui thích nói các pháp
Giáo hóa các Bồ Tát
Phá trừ chúng binh ma
Mà đánh vang trống pháp.
Lại thấy có Bồ Tát
Yên lặng ngồi bất động
Trời rồng đều cung kính
Chẳng vì thế vui mừng.
Lại thấy có Bồ Tát
Tại rừng phóng quang minh
Cứu khổ dưới địa ngục
Khiến họ vào Phật đạo.
Lại thấy có Phật tử
Chưa từng có ngủ nghỉ
Kinh hành ở trong rừng
Siêng cầu chứng Phật đạo.
Lại thấy bậc giới đức
Oai nghi chẳng thiếu khuyết
Thanh tịnh như châu báu
Ðể cầu chứng Phật đạo.
Lại thấy có những vị Bồ Tát, có trí huệ thâm
sâu và chí khí kiên cố. "Tham vấn các Ðức
Phật." : Khéo hỏi pháp. "Nghe rồi đều thọ
trì." : Nghe pháp thì y theo pháp mà tu
hành. "Lại thấy có Phật tử, định huệ đều đầy
đủ". Ðịnh dùng để nhiếp giáo, huệ dùng để
phá mê. Ðịnh huệ đều trì thì gọi là đầy đủ.
Bồ Tát nầy dùng vô lượng phương tiện khéo
léo, để ví dụ vì chúng sinh mà thuyết pháp.
"Phá trừ chúng binh ma" : Chúng đều giả danh
làm Phật tử, nhưng chẳng hành chánh đạo, mà
còn dùng kẻ mù dẫn người đui, nên gọi là
binh ma. Cho nên dùng chánh pháp nhãn phá
trừ quân tà, nên gọi là phá ma vậy. Ðoạn nầy
là Bát nhã độ.
"Lại thấy có Bồ Tát, lặng yên ngồi bất động."
Lại thấy có những Bồ Tát ngồi kiết già. Vì
có công phu thiền định, cho nên trời rồng
đều cung kính lễ bái, nhưng các Ngài chẳng
vì thế mà sinh tâm vui mừng. Do định mà sinh
huệ, cho nên tâm chẳng bị cảnh chuyển, cũng
chẳng động niệm. Nếu chẳng có vọng niệm thì
không sinh không diệt, không dơ không sạch,
không tăng không giảm, cho nên chẳng trái
chẳng phải, chẳng thiện chẳng ác, tức là tự
tính thanh tịnh, đắc được chân như diệu
tính. Nhưng chẳng thế nói tôi đã vô niệm
(chẳng còn niệm gì nữa), vì nói vô niệm thì
đã có niệm. Người biết vô niệm, thì hàng
phục được tâm của họ, người biết mình vô
niệm, khi phá trừ chúng binh ma, thì dùng vô
niệm là diệu nhất ! Nó bao hàm cả nhẫn nhục
và sinh nhẫn, tức chẳng bị lời hay tiếng
ngọt làm động, cũng không vì nghịch cảnh mà
khởi tâm kinh sợ hoặc sân hận.
Trước khi Tổ Ðạt Ma đến Trung Quốc, thì phái
hai vị đệ tử Di Phật Ðà và Già Xá đến Trung
Quốc hoằng pháp trước. Sư đồ họ đều là người
Ấn Ðộ. Hai vị khoái chí giảng về thiền, bất
lập văn tự, kiến tánh thành Phật. Lúc đó, ở
Trung Quốc cũng có một vị sư tiểu thừa từ Ấn
Ðộ đến là Bồ Ðề Lưu Chi, thấy hai vị thiền
sư đại thừa mới đến, bèn liên hợp với tất cả
những người xuất gia bôi nhọ họ, khiến cho
họ từ Trường An phải chạy đến Lư Sơn. Hai vị
sư Di Phật Ðà và Già Xá thấy đại sư Viễn
Công, mới thuật lại tình hình trên cho đại
sư nghe. Lúc đó, đại sư hỏi họ truyền pháp
gì ? Hai vị duỗi cánh tay ra, sau đó lại co
vào, bèn hỏi duỗi ra co vào có nhanh chăng ?
Ðại sư đáp : "Phải." Hải vị thiền sự giải
thích phiền não và bồ đề và sự biến hoá rất
nhanh của nó cũng lại như thế. Ví như duỗi
ra co vào đều cùng một cánh tay, mà có sự
khác biệt về lòng bàn tay và mu bàn tay.
Cũng thế ấy, phiền não tức bồ đề, bồ đề tức
phiền não, cả hai thật chẳng lìa nhau, là
hai mà chẳng hai, tức tâm tức Phật, minh tâm
kiến tánh, cho nên sinh tử tức Niết Bàn,
Niết Bàn tức sinh tử. Vô niệm tức Niết Bàn,
có niệm tức có sinh tử. Duy có một niệm
không sinh toàn thể hiện, Phật tính vốn có
hiện tiền, thì dù ma quỷ cũng phải cung
kính. Nếu vô niệm thì sẽ trở về nguồn cội,
đây là bổn địa phong quang vậy. "Trời rồng
đều cung kính, chẳng vì thế vui mừng." Cho
nên trời rồng cung kính cũng là bổn hữu,
chẳng vì thế mà vui mừng, liền xả thiền.
"Lại thấy có Bồ Tát, tại rừng phóng quang
minh, cứu khổ dưới địa ngục, khiến họ vào
Phật đạo." Lại thấy có những vị Bồ Tát tu
thiền ở trong rừng tức là tự lợi, đồng thời
phóng ra quang minh thanh tịnh chiếu chúng
sinh trong địa ngục, tức là lợi tha. Dùng
tâm đại bi cứu vớt chúng sinh thọ khổ trong
địa ngục, đây là bi thiền.
"Lại thấy có Bồ Tát, chưa từng có ngủ nghỉ,
kinh hành ở trong rừng, siêng cầu chứng Phật
đạo." Những vị nầy, ở trong rừng, hoặc ở
trong nhà, tu khổ hạnh thường đi không ngồi,
không nằm. Pháp môn nầy gọi là "bát chu tam
muội", cũng là Phật lực tam muội, trong chín
mươi ngày thường đi, không ngồi, không nằm,
vì muốn trừ con ma ngủ mà siêng cầu Phật
đạo.
"Thấy bậc đủ giới đức, oai nghi chẳng thiếu
khuyết, thanh tịnh như châu báu, để cầu
chứng Phật đạo." Lại thấy có những vị Bồ Tát
thọ trì mười đại giới thanh tịnh như châu
báu. Giới cấm thân, miệng gọi là oai nghi,
tự tịnh tâm ý tức chẳng khuyết phạm.
1. Giới chẳng khuyết : Nghĩa là chẳng phạm
trọng tội, nếu phạm thập ác, ngũ nghịch
trọng tội, thì như túi nổi khuyết thất.
2. Chẳng phá giới : Nghĩa là chẳng phạm trọng
tội, nếu phạm trọng tội thì như túi nổi tàn
phá.
3. Giới chẳng thủng : Nghĩa là chẳng phạm tiểu
tội, nếu phạm tiểu tội, thì như túi nổi
thủng lỗ. Ðó là nhiếp luật nghi.
4. Giới chẳng tạp nhạp : Nghĩa là chẳng khởi
niệm ác, nếu khởi niệm ác, thì tuy thân
miệng thanh tịnh, nhưng ý tạp nhạp phiền
não, đây gọi là định cộng giới.
5. Giới tùy đạo : Như bậc sơ quả đi trên đất,
thì cách côn trùng bốn tất.
6. Chẳng chấp trước giới : Như A La Hán nơi
tam quả lục trần, vĩnh viễn chẳng tham
trước.
7. Giới được bậc trí ca ngợi : Nghĩa là dùng
pháp quyền xảo phương tiện để hoằng pháp lợi
sinh, cho nên được bậc trí tán thán.
8. Giới tự tại : Nghĩa là, du hí thần thông
thị hiện nghịch thuận, nhưng chẳng phạm giới
tính (nếu sinh một niệm tà tức phạm giới,
đây là vô hình) và giá giới (thân miệng
chẳng được phạm đây là hữu hình). Vì có tự
tại thần thông, giả thị hiện dùng tạo tội và
sát sinh để giáo hóa người, đó thì chẳng
phạm tính và giá hai giới.
Ví như trong Kinh Lăng Nghiêm, Hộ Pháp đập nát
đầu quỷ vương. Và nữa, khi Vua Lương Võ Ðế
còn làm vua, thì có một vị thiền sư Bảo Chí,
mỗi bữa ăn đều ăn hai con chim bồ câu, ăn
hết cả xương cả đầu cũng chẳng chừa. Một
ngày nọ, người nấu bếp ăn lén cái cánh của
một con bồ câu, cho rằng đã chặt vụn ra
tưởng đâu có thể nói gạt đặng, không ngờ
Ngài Chí Công nhìn qua rồi nói : "Ông ăn lén
bồ câu." Người nấu bếp tuy kinh sợ, nhưng
vẫn chối không nhận. Lúc đó, Ngài Chí Công
cũng chẳng tranh biện làm chi, bèn ăn hết
hai con bồ câu. Chuyện kỳ lạ cũng phát sinh
! Ngài Chí Công ăn hết thịt chim bồ câu rồi,
thì lại phun ra hai con bồ câu sống, trong
đó có một con bồ câu thiếu mất cái cánh. Cho
nên Ngài Chí Công là một người không tầm
thường. Nếu ai ăn bồ câu chín mà phun ra bồ
câu sống, hoặc ăn thịt bò mà phun ra bò
sống, thì mới tính là chẳng phạm giới sát
sinh. Nếu chẳng có bản lãnh như thế, mà cứ
tùy tiện ăn thịt chúng sinh, thì tương lai
phải trả quả báo và đọa địa ngục. Giới nầy
gọi là giới tục đế.
9. Giới tùy định : Ði, đứng, nằm, ngồi, cử
chỉ, hành động, nói năng, đều ở trong định,
đều có oai nghi.
10. Giới cụ túc : Nghĩa là giới Ba la mật tất
kính viên mãn, lại gọi là đế giới trung đạo
đệ nhất nghĩa.
Lại thấy có Phật tử
Trụ vào sức nhẫn nhục
Bị kẻ tăng thượng mạn
Mắng chưởi và đánh đập.
Thảy đều nhẫn thọ được
Ðể cầu chứng Phật đạo !
Lại thấy có Bồ Tát
Lìa bỏ sự giỡn cười.
Và quyến thuộc ngu si
Gần gũi bậc trí huệ
Nhất tâm trừ tạp loạn
Nhiếp niệm ở núi rừng.
Trải ức ngàn vạn năm
Ðể cầu chứng Phật đạo !
Hoặc thấy có Bồ Tát
Ðồ ăn uống thượng hạng.
Và trăm thứ thuốc thang
Ðem cúng Phật và Tăng
Y tốt quần áo đẹp
Trị giá ngàn vạn tiền.
Hoặc là y vô giá
Ðem cúng Phật và Tăng.
Dùng ngàn vạn ức thứ
Nhà báu bằng chiên đàn
Các giường nệm tốt đẹp
Dâng cúng Phật và Tăng.
Vườn rừng rất thanh tịnh
Hoa quả đều sum sê
Có suối chảy ao tắm
Cúng dường Phật và Tăng.
Như thế đều bố thí
Ðủ thứ đồ tốt đẹp
Vui vẻ chẳng nhàm chán
Ðể cầu vô thượng đạo.
Lại thấy có đệ tử của Phật, chuyên tâm nhất
chí tu pháp môn nhẫn nhục. Nhẫn nhục đối trị
được sân hận, cho nên nhẫn thọ được tất cả
chưởi mắng đánh đập, cho đến quán tất cả
cảnh thuận nghịch cũng đều an nhiên tự tại.
Nhưng người tu hành đừng tìm tòi sự nhẫn
nhục của người khác sâu hay cạn, mà phóng
túng sự tu hành của mình.
"Bị kẻ tăng thượng mạn." Là chỉ những người
kiêu ngạo trong tầm mắt chẳng thấy có ai. Kẻ
kiêu ngạo không những sẽ bị bại, mà cũng là
hành vi ngu si nhất. Vì sao ? Ðức Phật là
bậc Ðại giác, Ngài dùng hiếu thuận, bình
đẳng và từ bi, để đối đãi với tất cả chúng
sinh, vì Ngài đều thấy đều biết tất cả chúng
sinh, đều có thể thành Phật, đều làm cha mẹ
của mình trong quá khứ.
Bậc đại giác ngộ còn chẳng kiêu ngạo, hà huống
là phàm phu chúng ta ! Cho nên chỉ có người
ngu mới khởi tâm kiêu mạn mà khinh khi người
khác.
Lại thấy người chẳng cười nói cẩu thả, và xa
lìa quyến thuộc ngu si : Tâm sân là vô minh
chẳng hiểu nhân quả. Sư nóng giận có hại cho
thần nhất, cũng khiến cho người mất đi lý
trí, mà phạm đủ thứ lỗi lầm, và rất nhiều
tội ác phát sinh, cho đến giết người, đều do
một niệm sân khởi lên, cho nên sân là đáng
sợ nhất, khiến cho người tạo ra những hành
vi ngu si, và mười điều ác, năm tội ngũ
nghịch, đủ thứ tội mà gieo xuống nhân địa
ngục, ngạ quỷ và súc sinh. "Gần gũi bậc trí
huệ." : Nếu cải ác hướng thiện, gần gũi
thiện tri thức, thì từ từ sẽ thay đổi trong
sự ẩn tàng, trừ khử tập khí ác, bỏ tà theo
chánh, đó là gần mực thì đen, gần đèn thì
sáng. Như hiện nay tại Vạn Phật Thành, mỗi
ngày đều có pháp hội, đó tức là gần gũi bậc
trí huệ, vì nghe nhiều Phật pháp, thì khiến
cho trí huệ của con người tăng trưởng.
Nếu nhất tâm trừ loạn, thì trừ khử được tham
cái. Không tham thì tự nhiên chẳng phạm ngũ
giới thập thiện. Tham sẽ khiến cho người
đụng việc thì hôn mê, ràng buộc tâm mà
chướng ngại đạo nghiệp. Rõ là người thế gian
nhiều tham dục, vì lợi mà quên mình, suốt
ngày vì kiếm tiền mà bất chấp thủ đoạn,
chẳng nhận lục thân quyến thuộc, tổn người
lợi mình. Những nghiệp ác nầy chẳng những
hại người, cũng thương hại đến tự tánh của
chính mình, làm cho trí huệ vốn có bị che
lấp, mà gây tạo ra biết bao tội lỗi. Cho
nên, chỉ có đoạn trừ tâm tham dục, thì mới
khiến cho tự tính quang minh hiển hiện.
"Nhiếp niệm ở núi rừng." : Mười pháp giới
không lìa một tâm niệm. Thiên đường, địa
ngục hoặc nhân gian, chẳng lìa niệm hiện tại
nầy. Cho nên muốn thành Phật, Bồ Tát, A La
Hán, đều do một niệm nầy sinh ra. Một niệm
của con người, tuy đạt được một vạn tám ngàn
dặm, nhưng hoàn toàn chẳng có quang minh,
chỉ có tướng luồng hào quang trắng của đức
Phật, thông đạt được một vạn tám ngàn dặm,
và còn thấy biết hết vạn sự vạn vật tận hư
không viên dung vô ngại. Nhiếp niệm tức là
thu hồi tâm tán loạn lại, mà an trụ tại một
niệm, đó là pháp môn lấy độc trị độc. Buông
xả vạn duyên, chỉ tồn tại một niệm, tốt nhất
là đạt được cảnh giới vô niệm, thì đại giác
Phật tính viên minh tự nhiên sẽ hiện tiền.
Cho nên, nhiếp niệm ở núi rừng, là trừ khử
thùy cái (ngủ). Thùy cái là chướng ngại cho
người tu hành, vì ở trong mộng chẳng dễ gì
trì giới, tự nhiên sẽ bị cảnh mộng lay
chuyển, mà ma vương thích nhất là nhiễu loạn
định lực của người tu hành ở trong mộng,
khiến cho họ phạm giới mà khởi tâm niệm
tham, sân, si, mà che lấp tự tánh. Do đó, Bồ
Tát nầy xả bỏ được ba độc, và ngũ dục vô
minh phiền não, mà yên tâm tu đạo, vĩnh viễn
không thối chuyển.
Lại thấy Bồ Tát dùng thức ăn thượng hạng, y
áo, giường nệm và thuốc thang, hoặc nhà báu
bằng gỗ chiên đàn, vườn rừng thanh tịnh, hoa
quả sum sê, suối chảy ao tắm .v.v… hàng ngàn
vạn thứ, đem bố thí cúng dường Phật Pháp
Tăng.
Lại thấy có Bồ Tát
Ðang nói pháp tịch diệt
Ðủ thứ sự giáo hóa
Ðộ vô số chúng sinh.
Hoặc thấy có Bồ Tát
Quán sát các pháp tánh
Ðều chẳng có hai tướng
Giống như là hư không.
Lại thấy có Phật tử
Tâm chẳng có chấp trước
Lấy đó làm diệu huệ
Cầu chứng vô thượng đạo.
Hoặc thấy Bồ Tát đang nói pháp tịch diệt. Pháp
tịch diệt vốn không thể nói ra, nhưng vì
lòng từ bi, dùng đủ thứ pháp phương tiện để
giáo hóa vô số chúng sinh. Hoặc thấy có Bồ
Tát, dùng trí huệ quán sát, thể tính của các
pháp, không hình không tướng, chẳng dài ngắn
vuông tròn, cũng chẳng xanh vàng đỏ trắng
đen .v.v… giống như hư không, gì cũng chẳng
có, nhưng tất cả hình tướng lại chẳng lìa
khỏi hư không mà có. Sắc chẳng khác không,
không chẳng khác sắc. Nếu đào đất ra một
thước, thì có một thước hư không, nếu đào
một trượng thì có một trượng hư không. Nhưng
trước khi chưa đào cũng có một thước hư
không như thế, chưa từng có tăng giảm. Do
đó, tuy có hình tướng nhưng hình tướng chẳng
thể bao hàm hư không, mà hư không bao hàm
hết tất cả hình tướng. Do đó có câu :
"Tự tánh như hư không,
Chân vọng đều trong đó."
Chân không chẳng ngại diệu hữu, diệu hữu chẳng
ngại chân không. Trong Chứng Ðạo Ca của Ðại
sư Vĩnh Gia có nói :
"Chân bất lập, vọng bổn không,
Hữu vô câu di bất không không."
Các pháp vốn chẳng phân biệt thật giả, sự phân
biệt nầy dựa trên danh tướng, chỉ bất quá
tâm chúng sinh phân biệt đang tác quái. Cho
nên tự tánh vốn không, tức cũng là thật
tướng của các pháp. Song, nếu nói như thế
thì có những người chẳng minh bạch ! Gì cũng
đều chẳng có, vậy tôi chẳng phải là không
chăng ? Gì cũng đều chẳng có mới là thật có.
Nếu chẳng có quái ngại, chẳng chấp trước thì
tất cả sơn hà đại đîa, cho đến sâm la vạn
tượng, chẳng có một vật nào mà chẳng bao hàm
ở trong tự tánh của bạn. Nhưng nếu còn tồn
tại một tơ hào chấp trước quái ngại, thì
không thể thừa thọ pháp vi diệu thù thắng
nầy, bằng không bạn sẽ là một pháp tài vĩ
sĩ, tận hư không khắp pháp giới, đều bao hàm
ở trong tự tánh. Cho nên, ngộ triệt bổn lai
thể, một thông tất cả đều thông, ba thân,
bốn trí, năm nhãn, sáu thông, đều là của báu
trong nhà vốn có, hà tất tìm cầu bên ngoài ?
Do đó, hiện tại tôi nói pháp mà chẳng có một
pháp để nói, mà bạn cũng chẳng có một pháp
để nghe, đó mới là Bát nhã diệu huệ chân
chánh !
Lại thấy có Phật tử, con của đấng Pháp Vương,
tâm nơi các duyên mà chẳng chấp trước, cho
nên trí huệ và tự tính quang minh hiển hiện.
Nếu chẳng buông xả được bất cứ vật gì, xả bỏ
chẳng sạch, thì đừng nói đến thành Phật, dù
diệu huệ cũng chẳng có. Do đó, người tu hành
chân chính, nhất là đệ tử xuất gia, nên đừng
chấp trước vào bất cứ vật gì, tức là :
"Lạnh chết chẳng van xin,
Ðói chết chẳng cầu xin,
Nghèo chết chẳng cầu cạnh,
Tùy duyên chẳng thay đổi,
Chẳng thay đổi mà tùy duyên,
Xả thân làm Phật sự,
Tạo mạng là việc chánh,
Nuôi mạng chân chánh, làm việc Tăng,
Thấu việc rõ lý, rõ lý thấu việc.
Dùng Bát nhã diệu huệ nầy, hoằng pháp lợi
sinh, thắp nối đèn sáng Phật pháp, đừng để
cho mạt pháp tồn tại, chỉ để cho chánh pháp
tồn tại lâu dài, bằng không thì người xuất
gia chỉ làm những chuyện viễn vông mà chẳng
tu hành, chẳng làm việc Tăng, hoặc thân tâm
nhiễm trước công danh lợi dưỡng. Trong Kinh
Lăng Nghiêm có nói rằng : "Thế nào là kẻ
tặc, là kẻ giả y phục của ta, làm bại hoại
Như Lai, tạo ra đủ thứ nghiệp, đều nói lời
Phật pháp, mà chẳng phải xuất gia, đầy đủ
giới Tỳ Kheo, mà vì đạo tiểu thừa, là do
nghi ngờ lầm lẫn, vô lượng chúng sinh, đọa
vào ngục vô gián." Người xuất gia, nếu chẳng
tinh tấn tu tập thiền định, tụng Kinh trì
Chú, giữ gìn giới luật, mà nương vào Phật ăn
cơm mặc áo, tất sẽ đọa vào tam đồ. Người xưa
nói rằng :
"Hột gạo thí chủ cho,
Nặng như núi Tu Di,
Ăn xong chẳng tu đạo,
Mang sừng đội lông trả."
Những người tu hành, phải quý trọng giới luật.
Trong Kinh Phạm Võng nói rằng : "Nếu Phật tử
tín tâm xuất gia, thọ chánh giới của Phật,
nếu khởi tâm phạm giới, thì không được thọ
tất cả sự cúng dường của tín thí, cũng chẳng
được đi trên đất của quốc vương, chẳng được
uống nước của quốc vương, năm ngàn đại quỷ
thường che ở trước họ nói là đại tặc. Nếu
vào trong phòng xá thành ấp, thì quỷ lại
quét dấu chân của họ, tất cả người thế tục
đều mắng rằng : ‘Tặc ở trong Phật pháp’ !
Tất cả chúng sinh đều chẳng muốn nhìn. Người
phạm giới giống như súc sinh chẳng khác, như
khúc gỗ chẳng khác. Nếu người cố ý phạm
giới, thì phạm khinh cấu tội." Ðoạn văn nầy
nói về giới nầy, đủ mượn làm gương cho chúng
ta.
Tông chỉ của tôi lập ra là :
Dù rét chết chẳng van xin,
Dù đói chết chẳng cầu xin,
Dù nghèo chết chẳng cầu cạnh.
Cho nên năm đầu tiên tôi đến Hương Cảng, do
Quách Khoang Bồ giới thiệu ở trong động Quan
Âm núi Phù Dung. Ở trong đó, ngoài bốn vách
tường ra, chẳng có cái gì hết, mà còn rất ẩm
ước, tôi ngồi thiền ở trên mặt tấm đá bằng
trơn. Ba ngày sau đôi chân bắt đầu tê dại,
khó chịu đựng vô cùng, tưởng đâu sẽ thối
tâm, nhưng nghĩ lại, thà tu hành mà chết,
chứ chẳng trộm đồ của họ mà sống, huống gì
họ có ý tốt giới thiệu, sao lại bỏ dở giữa
chừng ? Do đó, nán ở lại nửa tháng nữa, đôi
chân đã khôi phục lại bình thường. Mỗi ngày
đều xuống núi, đến Trúc Lâm Thiền Tự khất
thực. Vì trong động đá quá ẩm ước, trở ngại
cho sự tu hành. Một năm sau tôi làm túp lều
tranh nhỏ ở ngoài động, khiến cho vị sư ở
gần đó đố kị. Ông ta cứ bóp méo sự thật, nói
tôi có khả năng làm lều tranh, thì cũng có
khả năng lo việc ăn uống. Do đó, ông ta xúi
giục vị trụ trì Trúc Lâm Thiền Tự đừng cho
tôi thức ăn nữa. Chẳng có cơm ăn càng tốt !
Tôi bế quan dụng công ngồi thiền cả mấy ngày
chưa cảm thấy đói, thì có nữ cư sĩ Quỳnh
Khoang Thắng, vì chân của bà ta bị chó dữ
cắn bị thương, đã lâu mà chẳng lành, thuốc
men đã hết cách, cầu đảo cũng chẳng linh.
Trong lúc bàng hoàng lo lắng cả mấy ngày,
thì một đêm nọ bà nằm mộng thấy Bồ Tát Vi Ðà
nói với bà rằng : "Nếu muốn hết bệnh thì hãy
cúng dường vị pháp sư An Từ ở tại động Quan
Âm, và hiện tướng mạo ra cho ba ta thấy". Bà
ta hoan hỉ vô cùng, bèn chuẩn bị đồ cúng
dường mang đến động Quan Âm. Ai biết vị sư ở
gần đó, thấy trai chủ họ đến thì đi trước ra
nghinh tiếp, và tự xưng là trụ trì, muốn
những đồ vật của thí chủ. Nhưng bà Quỳnh
Khoan Thắng nói : "Chẳng phải là người mà bà
ta gặp ở trong mộng, kiên quyết không cho".
Do đó, hai người khởi sự tranh chấp ồn ào.
Tôi bèn ra khỏi động, bà ta liền thấy tôi,
thì lập tức nhận ra và nói vị nầy mới là
pháp sư An Từ, rồi đem toàn bộ thực phẩm đưa
cho tôi. Tôi bèn chia ra một nửa đưa cho vị
sư kia, song ông ta chẳng vừa lòng, phẫn nộ
nói với bà ta rằng : "Lần sau bà đến đây,
thì phải đưa hết thực phẩm cúng dường cho
tôi !" Bà Quỳnh Khoan Thắng chân bỗng nhiên
hết bệnh, thì tin tức truyền đi, có rất
nhiều trai chủ đến, mỗi lần tôi cũng đều
chia một nửa cho vị sư kia, nhưng vẫn chẳng
giảm bớt việc ông ta coi tôi như kẻ thù, và
đủ thứ phá hoại phỉ báng tôi.
Chẳng bao lâu, tôi dọn đến vùng đất hoang ở
hòn đảo Lan Tao, thành lập chùa Tây Lạc Viên
rồi, thì bỗng nhiên có mạch nước tự đến, còn
tụ thành ao nước, chẳng bao giờ khô cạn. Và
nghe nói mạch nước ở động Quan Âm mà tôi đã
từng ở qua, đột nhiên khô cạn. Cho nên rất
nhiều người cho rằng đó là chuyện lạ và còn
cho rằng tôi dời mạch nước đó đi.
Người xuất gia nếu chẳng cầu danh văn lợi
dưỡng, tùy duyên chẳng đổi, chẳng thay đổi
mà tùy duyên, thọ trì giới Phật, thành tựu
oai nghi, nghiêm tịnh Tỳ ni, hoằng phạm tam
giới, thì tự nhiên trời, rồng, loài người
đều cung kính cúng dường, mười phương chư
Phật Bồ Tát đều hộ trì, hoan hỉ tán thán, đó
mới là hành vi đại trượng phu đầu đội trời
chân đạp đất, chẳng mất bổn sắc của Tăng Bảo
vậy.
Ngài Văn Thù Sư Lợi !
Lại thấy có Bồ Tát
Khi Phật diệt độ rồi
Cúng dường Phật xá lợi.
Lại thấy có Phật tử
Tạo dựng các chùa tháp
Nhiều vô số Hằng sa
Nghiêm sức khắp cõi nước.
Bảo tháp rất cao đẹp
Ðến năm ngàn do tuần
Bề ngang rộng đồng nhau
Dài hai ngàn do tuần.
Tại mỗi mỗi chùa tháp
Ðều có ngàn tràng phan
Màn châu xen thòng xuống
Linh báu đều hòa reo.
Hết thảy trời rồng thần
Người và chẳng phải người
Hương hoa và âm nhạc
Thường mang đến cúng dường.
Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, tôi lại thấy những
vị Bồ Tát, sau khi Phật diệt độ rồi, cúng
dường xá lợi của Phật. Cúng dường xá lợi
cũng đồng như cúng dường Tam Bảo, đồng như
cúng dường Phật không khác. Nhưng phải dùng
chân tâm, chứ chẳng phải dùng tâm ô nhiễm để
cúng dường. Tâm mà có sở cầu, có sự mong
muốn thì tâm chẳng được thanh tịnh. Hãy coi
sự cúng dường bố thí là trọng trách của
mình, đó gọi là báo ân Phật Pháp Tăng Tam
Bảo. Nếu chẳng có Tam Bảo thành trì chánh
pháp tồn tại, thì ma vương sẽ hiện ra đời,
tức cũng là ngày thế giới hủy diệt. Do đó,
mỗi ngày trước khi ăn cơm hãy quán như thế
nầy, nếu chẳng cúng dường Tam Bảo thì cơm ăn
khó tiêu. Nói là pháp, tu là đạo, nên phước
huệ song tu. Bây giờ chẳng cúng dường Tam
Bảo, tương lai thành A La Hán rồi, cũng ôm
bát không, chẳng có ai cúng dường. Cúng
dường Tam Bảo là tu phước, ấn tống Kinh
điển, tuyên dương Phật pháp là tu huệ.
Lại thấy có Phật tử tạo vô số chùa tháp nhiều
như số cát sông Hằng nghiêm sức khắp cõi
nước. Tháp để cúng dường xá lợi, chùa cúng
dường tượng Phật.
Có câu chuyện nầy quan hệ tới bảo tháp : Khi
Ðức Phật còn tại thế, thì có một người tướng
rất quái dị. Một số người cao khoảng hơn năm
thước, vai thì rộng hai thước, nhưng ông ta
thì ngược lại, thân cao hai thước rưỡi, mà
vai rộng năm thước. Tuy ông ta thân hình
quái dị như cái nồi đen, nhưng lại có giọng
ca tiếng trong trẻo như tiếng khánh, tiếng
đại hồng chung. Do người nầy quả báo đặc
thù, đưa đến đồ chúng nghi hoặc mà thưa hỏi
Ðức Phật. Ðức Phật bèn cười nói : người nầy
trong quá khứ vô lượng kiếp về trước, đã
từng làm đệ tử của Phật, thấy người muốn tạo
bảo tháp cao đẹp, nên tâm có ý ghen mà phê
bình nói : "Hà tất phải làm cao như thế !
Cao quá thì đỉnh tháp đâu có thấy được ! Bất
quá, tôi có cái chuông nhỏ (cái linh) treo ở
đỉnh tháp, thì tôi bố thí cái đó !" Chỉ vì
tâm có ác ý nói một câu : "Ðừng làm cao
quá..." Do đó, ông ta đời đời kiếp kiếp đều
cao chẳng quá ba thước. Nhưng vì ông ta có
tâm thiện bố thí cái linh, cho nên được quả
báo âm thanh như đại hồng chung. Do đó phiền
não chỉ vì nói nhiều những lời vô ích.
Muốn biết đời trước mình làm gì, hãy xem đời
nầy mình có được những gì, muốn biết đời sau
ra sao, hãy xem đời nầy mình làm những gì.
Trồng nhân gì thì kết quả đó. Nếu phát được
đại bồ đề tâm, tu bố thí công đức, thì tương
lai phước đức cũng vô lượng vô biên.
Tạo dựng bảo tháp cao đẹp trang nghiêm cõi
nước, mỗi bảo tháp treo ngàn tràng báu phan
báu, dùng châu làm màng lưới bảo tháp. Gió
thổi động linh báu vang ra âm thanh hoà nhã
vi diệu, đều là đồ trang nghiêm cúng Phật
tối thắng. Các vị trời, rồng, thần, người,
chẳng phải người, thường mang hương hoa âm
nhạc đến cúng dường.
Ngài Văn Thù Sư Lợi !
Các vị Phật tử kia
Vì cúng dường xá lợi
Trang nghiêm đẹp chùa tháp.
Khắp cõi nước tự nhiên
Ðẹp đẽ tốt lạ thường
Như cây Thiên thụ vương
Hoa nở khắp hết thảy.
Phật phóng luồng hào quang
Tôi và cả chúng hội
Thấy khắp cõi nước đó
Ðủ thứ sự thù diệu.
Sức thần thông chư Phật
Trí huệ rất hi hữu
Phóng một luồng tịnh quang
Chiếu khắp vô lượng cõi.
Chúng ta thấy như vậy
Thật là chưa từng có
Mong Phật tử Văn Thù
Giải quyết nghi của chúng.
Bốn chúng đều trông mong
Nhìn Ngài và nhìn tôi
Thế Tôn vì cớ gì ?
Phóng luồng quang minh nầy !
Phật tử hãy giải đáp
Dứt nghi cho chúng mừng
Có những lợi ích gì ?
Về việc quang minh đó !
Phật ngồi tại đạo tràng
Ðắc được pháp thâm diệu
Vì muốn nói pháp đó
Hay là sẽ thọ ký !
Hiện bày các cõi Phật
Các báu đều nghiêm tịnh
Và thấy các đức Phật
Ðây chẳng phải duyên nhỏ.
Ngài Văn Thù nên biết !
Bốn chúng trời, rồng, thần
Thảy đều nhìn trông Ngài
Vì sẽ nói những gì ?
Ngài Bồ Tát Văn Thù, các vị Phật tử kia tạo
chùa tháp để cúng dường xá lợi và tượng
Phật, trang nghiêm xứ sở, khiến cho cảnh
giới đẹp của nước nầy, tự nhiên trở thành
thù thắng tốt đẹp. Cây Thiên thụ vương tức
là cây Ba Lợi Chất Ða, mọc ở trong vườn của
trời Ðế Thích, nhánh lá che khắp năm mươi do
tuần. Ðây là dụ cho sự nghiêm sức tháp chùa,
như hoa của cây nầy nở.
Ðức Phật phóng ra luồng hào quang trắng, khiến
cho chúng ta thấy được trí huệ và thần thông
hi hữu của chư Phật, trong một vạn tám ngàn
cõi. Cảnh giới thù thắng nầy, thật là ít
thấy, do đó chắc có nhân duyên lớn, cho nên
Ðức Phật thị hiện tướng điềm tốt nầy, là
muốn vì đại chúng nói diệu pháp vô thượng,
hay là vì đại chúng thọ ký bồ đề ? Tôi và
bốn chúng : Thiên Long bát bộ .v.v., đều
mong cầu Bồ Tát Văn Thù vì chúng tôi mà giải
trừ lòng nghi ngờ. Ðại chúng đều nhìn Ngài
và nhìn tôi đều muốn biết Phật sẽ nói những
gì ?
Bấy giờ, Ngài
Văn Thù Sư Lợi nói với đại Bồ Tát Di Lặc và
các Ðại sĩ. Các thiện nam tử ! Theo sự nghĩ
của tôi, nay Ðức Phật Thế Tôn muốn nói pháp
lớn, đánh trống pháp lớn, diễn nói pháp
nghĩa lớn.
Các thiện nam tử ! Tôi ở chỗ chư Phật trong
quá khứ, đã từng thấy điềm lành nầy, sau khi
đức Phật phóng quang minh rồi sẽ nói pháp
lớn.
Ðương lúc đó, Bồ Tát Văn Thù nghe lời nầy
xong, thì vì Bồ Tát Di Lặc và các đại chúng
nói : Theo Kinh nghiệm của tôi trong quá
khứ, phàm là Phật phóng thứ quang minh nầy,
tức sẽ nói pháp đại thừa, như mưa lớn thấm
nhuần chúng sinh, thổi pháp loa lớn, để hiệu
triệu tất cả chúng sinh, đánh trống pháp
lớn, để thức tỉnh mê mộng.
Do đó, sẽ biết chắc hôm nay Ðức Phật, hiện
quang minh cũng lại như thế, muốn khiến cho
chúng sinh đều được nghe biết pháp, mà tất
cả thế gian rất khó tin, cho nên thị hiện
tướng điềm lành.
Các thiện nam tử ! Vào thuở quá khứ vô
lượng vô biên bất khả tư nghì A tăng kỳ
kiếp, lúc đó có đức Phật hiệu là Nhật Nguyệt
Ðăng Minh Như Lai, ứng cúng, chánh biến tri,
minh hạnh túc, thiện thệ thế gian giải, vô
thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân
sư, Phật, Thế Tôn.
Cho nên, hiện nay Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni
hiện ra quang minh cũng lại như thế. Ðức
Phật trước nói tam tạng giáo lý, Kinh điển
tiểu thừa, nông cạn dễ hiểu, sau thị hiện
tướng quang minh điềm lành, khiến cho chúng
sinh thật hiểu biết pháp môn viên đốn mà tất
cả thế gian, tam giới đều khó tin, sau đó mà
vì đại chúng giải nói diệu nghĩa, khiến cho
nhập vào trí huệ của Phật.
Các thiện nam tử ! Ví như : Trong quá khứ bất
khả tư nghì vô lượng kiếp, có một vị cổ Phật
hiệu là Nhật Nguyệt Ðăng Minh Như Lai. Nhật
là biểu thị huệ quang phá đêm dài của trời,
người, chiếu sáng sự tối tăm của vũ trụ.
Nguyệt là biểu thị định lực. Ðăng là biểu
thị giới trí. Cho nên giới, định, huệ viên
mãn đầy đủ.
Tất cả chư Phật đều có tên chung và tên riêng.
Nhật Nguyệt Ðăng Minh là tên riêng. Như Lai
cho đến Thế Tôn mười danh hiệu nầy, là tên
chung của chư Phật. Danh hiệu của mỗi một vị
Phật vốn có một vạn, biểu thị vạn đức trang
nghiêm, nhưng sức trí nhớ của con người hạn
hẹp, căn cơ ám độn, cho nên bớt đi còn năm
ngàn, rồi còn một ngàn, một trăm, cuối cùng
thì cố định mười danh hiệu, làm thông hiệu
cho chư Phật, nay lược giải như sau.
Như Lai : Tức là Phật. Như là bất biến, tĩnh.
Lai là tùy duyên, động. Ðộng tĩnh nhất như,
hổ tương vô ngại. Kinh Bát Nhã nói rằng :
Chẳng từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, đây
tức là pháp thân Như Lai không sinh không
diệt. Trong Thành Thật Luận nói rằng : Thừa
như thật đạo, lai thành chánh giác, đây tức
có sinh có diệt, ứng thân Như Lai vậy.
Ứng Cúng : Như Lai
Thế Tôn đầy đủ vạn đức, đáng thọ nhận trời,
người cúng dường.
Chánh Biến Tri :
Biết một niệm hiện tiền, sinh ra vạn pháp,
gọi là chánh tri. Biết vạn pháp chẳng lìa
một tâm niệm là biến tri. Cho nên gọi là
Chánh biến tri.
Minh Hạnh Túc :
Phước đức, trí huệ cả hai đều đầy đủ.
Thiện Thệ : Ði đến
chỗ tốt nhất, tức từ chỗ mê mà đến nơi trí
địa.
Thế Gian Giải :
Khéo hiểu pháp thế gian và xuất thế gian.
Vô Thượng Sĩ : Chư
Bồ Tát chưa sạch vô minh thì còn có Phật ở
trên, gọi là hữu thượng sĩ, chứng tột Như
Lai gọi là Vô Thượng Sĩ.
Ðiều Ngự Trượng Phu
: Ðiều là có uy đức cho nên chúng sinh cung
kính mà điều phục được. Ngự là dùng pháp
thiện xảo phương tiện nhiếp thọ tất cả chúng
sinh. Phật là đại trượng phu điều ngự được
tất cả chúng sinh.
Thiên Nhân Sư : Ðạo
Sư của trời và người.
Phật : Nói đủ là
Phật Ðà Gia, nghĩa là tự giác, giác tha và
giác hạnh viên mãn. Phàm phu bị vây hãm ở
trong lò lửa tam giới, kham nhẫn biển khổ,
chẳng muốn lìa khỏi, nên gọi là không giác.
A La Hán biết được sự nóng bức, mà muốn
thoát khỏi tam giới tự giác được, còn Bồ Tát
không những tự giác mà cũng giác tha, độ
thoát chúng sinh tội khổ nhưng chưa giác ngộ
viên mãn, chỉ có Ðức Phật đã tự giác, giác
tha và giác hạnh cũng viên mãn. Cho nên Phật
là bậc đại giác viên mãn nhất.
Thế Tôn : Là bậc
được trời, người, Thánh Hiền của thế gian và
xuất thế gian tôn kính.
Diễn nói chánh pháp, ban đầu, giữa, sau
cùng đều lành, nghĩa lý rất thâm sâu, lời lẽ
khéo léo vi diệu, thuần nhất chẳng hỗn tạp,
đầy đủ tướng phạm hạnh thanh tịnh.
"Diễn nói chánh pháp" : Pháp quyền xảo phương
tiện, vì người thí giáo, cho nên chẳng nhất
định. Với người căn tính sâu dày, thì nói
pháp tự tính bổn thể ; vì người căn cơ bậc
trung, thì nói pháp luân lý cho đến khoa học
luân hồi ; còn đối với người chẳng hiểu
biết, thì nói pháp nghiệp lực luật nhân quả.
Diễn nói Phật pháp ngoài sự khế cơ khế lý,
cũng phải dung khai và hợp. Khai được mà
chẳng hợp thì có bắt đầu chẳng có kết thúc ;
hợp được mà chẳng khai được, thì có kết thúc
chẳng có bắt đầu, cũng phải tùy cơ ứng biến.
Từ khi Ðức Phật bắt đầu phát tâm, xuất gia tu
đạo bồ đề gọi là sơ thiện (ban đầu lành), tu
khổ hạnh, bố thí nội tài, bố thí ngoại tài ;
ngoại tài là : ngôi vua, vợ con ; nội tài là
: đầu, mắt, tủy, não, thậm chí vì chúng sinh
mà xả bỏ tính mạng, tức gọi là trung thiện
(giữ lành). Ðức Phật thuyết pháp giáo hóa
chúng sinh bốn mươi chín năm, giảng Kinh hơn
ba trăm hội, cho đến nhập Niết Bàn, là hậu
thiện (sau cùng lành). Ðức Phật ở trong ba
đại A Tăng Kỳ kiếp tu hành. Kiếp thứ nhất tu
công đức là sơ thiện, kiếp thứ hai tu công
đức là trung thiện, kiếp thứ ba tu công đức
là hậu thiện. Sơ, trung, hậu, là quá trình
tu hành, có bổn có tế. Bổn (gốc) tức là lúc
ban đầu phát bồ đề tâm ; tế là thị hiện đủ
thứ pháp môn sở tu. Nghĩa lý của pháp từ đầu
đến cuối rất sâu xa, lời lẽ khéo léo vi
diệu, thuần một pháp môn viên đốn, khiến cho
người thích nghe, đầy đủ tướng thanh tịnh.
Ðầy đủ nghĩa là chẳng thiếu chẳng thừa.
Thuần nhất chẳng hỗn tạp, là nhất thừa thuần
tịnh, chẳng hai, chẳng ba.
Vì người cầu Thanh Văn thì nói pháp bốn
Diệu Ðế, độ : sinh, già, bệnh, chết, đắc
được cứu kính Niết Bàn. Vì người cầu Bích
Chi Phật, thì nói pháp mười hai Nhân Duyên.
Thanh Văn, Duyên Giác là pháp tiểu thừa, tức
là bậc sơ học của Phật giáo. Thanh Văn tức
là nghe âm thanh của Phật mà ngộ đạo. Sau
khi Phật thành đạo rồi, đầu tiên độ năm vị
Tỳ Kheo, nói về pháp bốn Thánh Ðế thì có thể
độ : sinh, già, bệnh, chết, đắc được cứu
kính Niết Bàn, thường, lạc, ngã, tịnh, cứu
kính thoát khỏi khổ quả trong tam giới. Ðức
Phật vì hàng Thanh Văn đệ tử nói pháp bốn
Diệu Ðế, Phương Ðẳng cho đến Kinh Niết Bàn,
từ cạn vào sâu, từ nhỏ đến lớn, thứ tự nhập
vào pháp môn đại thừa diệu nghĩa.
Mười hai Nhân Duyên lại gọi là mười hai chi,
tức cũng bao hàm nghĩa lý bốn Thánh Ðế.
Vô minh, hành là chi năng dẫn;
Thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ là chi sơ
dẫn;
Ái, thủ, hữu là chi năng sinh ;
Sinh, lão tử là chi sở sinh.
Sở dẫn, sở sinh tức khổ đế,
Năng dẫn, năng sinh tức tập đế,
Vô minh diệt rồi, đến lão tử diệt là diệt đế,
Quán nhân duyên trí thức là đạo đế.
Thanh Văn căn cơ chậm lụt, cho nên tổng tướng
nói pháp bốn Ðế, còn Bích Chi Phật căn cơ
lanh lợi hơn, cho nên nói pháp Nhân Duyên.
Người tu Bích Chi Phật sinh vào lúc có Ðức
Phật tại thế, thì gọi là Duyên Giác. Nếu
người tu hành vào lúc chẳng có Phật tại thế,
quán mười hai Nhân Duyên mà ngộ đạo gọi là
Ðộc Giác. Do đó :
Vạn vật tĩnh quán giai tự đắc,
Tứ thời giai khánh dữ nhân đồng.
Những ngưới nầy tu hành ở trong thâm sơn cùng
cốc, tĩnh tâm quán sát, thấy mùa xuân vạn
vật đều tươi tốt, biết thế sự vô thường, một
ngày trôi qua mạng cũng giảm dần, cho nên
càng tinh tấn, như cứu đầu lửa cháy. Do khéo
tư duy pháp mười hai Nhân Duyên, khoát nhiên
khai ngộ, biết thân thể nầy là chín lỗ
thường chảy ra vật nhơ nhớp, cuối cùng quy
về lão hủ, lúc đó ngộ :
Các hành vô thường,
Là pháp sinh diệt,
Sinh diệt rồi,
Tịch diệt là vui !
Vì các Bồ Tát thì nói sáu Ba la mật, khiến
cho đắc được Vô thượng chánh đẳng chánh
giác, thành Nhất thiết chủng trí.
Hành Bồ Tát đạo tức tự lợi lợi tha, xả mình vì
người. Vì cứu độ giáo hóa chúng sinh, mà
nguyện vào địa ngục, khiến cho chúng sinh
tội khổ, phát bồ đề tâm mà thoát khỏi tam
đồ. Chúng sinh khó độ, cho nên Bồ Tát luôn
luôn lặn lội bôn ba, không từ khổ nhọc ứng
thân vô lượng, cứu độ tất cả chúng sinh khó
điều khó phục, từ biển khổ sinh tử đến bờ bồ
đề Niết Bàn. Hành lục độ hạnh môn nầy, lập
công lập đức, như cứu tự tánh chúng sinh, do
đó :"Chúng sinh độ tận mới chứng bồ đề".
"Thành nhất thiết chủng trí" : Nói về trí có
ba : Nhất thiết trí, là không trí vậy ; Ðạo
chủng trí, là giả trí vậy ; Nhất thiết chủng
trí, là không giả chẳng hai, trung đạo liễu
nghĩa, ba trí viên dung. Sáu Ba La Mật nghĩa
là đến bờ kia, tức là tu : bố thí, trí giới,
nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ,
sáu phạm hạnh.
Lại có vị Phật cũng hiệu là Nhật Nguyệt
Ðăng Minh. Lại có vị Phật nữa cũng hiệu là
Nhật Nguyệt Ðăng Minh. Như thế gồm có hai
vạn vị Phật đều đồng hiệu là Nhật Nguyệt
Ðăng Minh và đồng một họ là Phả La Ðọa.
Vị Phật đầu tiên cho đến hai vạn vị Phật đều
đồng danh hiệu là Nhật Nguyệt Ðăng Minh Như
Lai, họ là Phả La Ðọa, nghĩa là "tiệp tập",
"lợi căn" hoặc "mãn ngữ" ba nghĩa. 1. Tiệp
tập : rất mau thành Phật. 2. Lợi căn : có
đại trí huệ vì tu đủ thứ hạnh môn, học tập
Kinh điển, đọc tụng pháp đại thừa. 3. Mãn
ngữ : pháp nói ra đều viên mãn vô ngại.
Ngài Di Lặc nên biết ! Ðức Phật đầu tiên,
Ðức Phật sau cùng đều đồng danh hiệu là Nhật
Nguyệt Ðăng Minh, đầy đủ mười hiệu, pháp nói
ra trước giữa sau đều lành. Vị Phật cuối
cùng khi chưa xuất gia, có tám vị vương tử.
Vị thứ nhất tên là Hữu Ý, vị thứ hai tên là
Thiện Ý, vị thứ ba tên là Vô Lượng Ý, vị thứ
tư tên là Bảo Ý, vị thứ năm tên là Tăng Ý,
vị thứ sáu tên là Trừ Nghi Ý, vị thứ bảy tên
là Tưởng Ý, vị thứ tám tên là Pháp Ý. Tám vị
vương tử nầy đều có oai đức tự tại, mỗi vị
đều thống lãnh bốn thiên hạ. Khi nghe vua
cha xuất gia đắc được Vô thượng chánh đẳng
chánh giác, thảy đều xả bỏ ngôi vua cũng
theo xuất gia, phát tâm đại thừa, thường tu
phạm hạnh, đều làm pháp sư, đều đã trồng gốc
căn lành nơi ngàn vạn vị Phật.
Bồ Tát Văn Thù nói với Bồ Tát Vô Năng Thắng,
hai vạn vị Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh nầy,
diễn nói pháp trước giữa sau đều lành. Vị
Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh cuối cùng khi
chưa xuất gia đã từng làm vua, có tám vị
vương tử. 1. Tên Hữu Ý : nghĩa là có tư
tưởng đại thừa. 2. Tên Thiện Ý : khéo phát
tâm bồ đề đại đạo. 3. Tên Vô Lượng Ý : có
đại trí huệ, hiểu vô lượng nghĩa. 4. Tên Bảo
Ý : thật phát tính minh, cầu của báu bên
trong vốn có. 5. Tên Tăng Ý : tăng tu vô
thượng bồ đề đại đạo. 6. Tên Trừ Nghi Ý :
người tu đạo chớ nghi ngờ, nếu khởi tâm nghi
ngờ thì sẽ mê đồ, do đó trừ nghi hoặc thì
khiến cho trí huệ tăng thắng. 7. Tên Tưởng Ý
: tu pháp đại thừa biết pháp tính không, như
không cốc dùng truyền thanh. 8. Tên Pháp Ý :
hiểu pháp vi diệu thâm sâu vô thượng.
Tám vị vương tử nầy đều có oai nghi đức hạnh,
mỗi vị thống lãnh bốn thiên hạ, khi nghe tin
vua cha bỏ ngôi đi xuất gia, đắc được Vô
thượng chánh đẳng chánh giác, thì cũng bỏ
nước, bỏ vợ con xuất gia làm pháp sư đại
thừa, phát bồ đề tâm, tu tập đủ thứ hạnh
môn. Ðây là nhân duyên căn lành đã từng cúng
dường ngàn vạn vị Phật trong quá khứ. Phật
thuở xưa có tám người con, hiện tại Phật
Thích Ca có một người con, số tuy khác,
nhưng đều có con, một người con là biểu thị
một đạo thanh tịnh, tám người con là biểu
thị Bát Chánh Ðạo vậy.
Lúc đó, Ðức Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh, nói
Kinh đại thừa tên là Vô Lượng Nghĩa, pháp
giáo hóa Bồ Tát, được Phật hộ niệm. Nói Kinh
nầy rồi, liền ngồi kiết già, ở trong đại
chúng nhập vào Tam muội Vô lượng nghĩa xứ,
thân tâm đều bất động.
Lúc đó, trời mưa hoa Mạn đà la, hoa Ma ha mạn
đà la, hoa Mạn thù sa, hoa Ma ha mạn thù sa,
rải khắp ở trên đức Phật và các đại chúng.
Khắp các thế giới của chư Phật đều có sáu
thứ chấn động.
Lúc đó, ở trong chúng hội, hàng Tỳ kheo, Tỳ
kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, trời, rồng, Dạ
xoa, Càn thác bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn
na la, Ma hầu la già, người, chẳng phải
người, và các ông vua nhỏ, Chuyển luân thánh
vương .v.v., các đại chúng đều được chưa
từng có, vui mừng chắp tay một lòng nhìn
Phật.
Bấy giờ, đức Như Lai phóng tướng luồng hào
quang trắng, giữa chặn mày chiếu khắp phương
đông, một vạn tám ngàn cõi Phật, như những
gì nay thấy là các cõi nước của chư Phật.
Thuở xưa Phật cũng có bốn chúng, trời, rồng,
tám bộ chúng, người, chẳng phải người, các
ông vua nhỏ, Chuyển luân thánh vương .v.v…
nói pháp đại thừa Bồ Tát vô lượng nghĩa. Nói
Kinh xong rồi bèn ngồi kiết già, nhập vào
Tam muội Vô lượng nghĩa xứ, hiện sáu tướng
điềm lành nói pháp:
1. Ðiềm lành nói pháp.
2. Ðiềm lành nhập định.
3. Ðiềm lành mưa hoa.
4. Ðiềm lành chấn động.
5. Ðiềm lành chúng vui mừng.
6. Ðiềm lành phóng quang.
Ðại Chúng thấy tướng điềm lành nầy đều đắc
được chưa từng có, cho nên đều vui mừng,
chắp tay lại một lòng chiêm ngưỡng Ðức Phật.
Ngài Di Lặc nên biết ! Lúc đó, trong chúng
hội có hai mươi ức vị Bồ Tát thích muốn nghe
pháp. Các vị Bồ Tát đó, thấy luồng quang
minh chiếu khắp các cõi Phật, được chưa từng
có, đều muốn biết quang minh đó, do nhân
duyên gì, thì có vị Bồ Tát tên là Diệu
Quang, có tám trăm vị đệ tử.
Lúc đó, Ðức Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh từ tam
muội dậy, vì Bồ Tát Diệu Quang mà nói Kinh
đại thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa, pháp
giáo hóa Bồ Tát, được Phật hộ niệm.
Bồ Tát Văn Thù nói với Bồ Tát Di Lặc : Vào
thời Ðức Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh, trong
hội vô lượng nghĩa có hai mươi ức vị Bồ Tát,
thấy luồng hào quang trắng của Phật cũng
khởi nghi vấn, muốn biết nguyên nhân luồng
quang minh nầy, cho nên cũng có vấn đáp, thì
có Bồ Tát Diệu Quang, tức là tiền thân của
Bồ Tát Văn Thù, có tám trăm vị đệ tử. Thuở
xưa, Ðức Phật xuất định rồi vì Bồ Tát Diệu
Quang mà nói Kinh đại thừa tên là Diệu Pháp
Liên Hoa, được Phật hộ niệm. Nay Ðức Phật
xuất định rồi, pháp bất cô khởi. Khởi tất sẽ
vì người, cho nên cũng vì Xá Lợi Phất mà nói
Kinh nầy.
Trải qua sáu mươi tiểu kiếp, không rời khỏi
chỗ ngồi, những người ở trong hội nghe pháp
cũng ngồi một chỗ, trải qua sáu mươi tiểu
kiếp, thân tâm đều chẳng động, nghe đức Phật
nói pháp như bữa ăn trong chốc lát. Lúc đó,
trong đại chúng chẳng có một người nào hoặc
là thân hoặc là tâm sinh lười mỏi.
Ðức Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh nói Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa, trải qua sáu mươi tiểu kiếp.
Thuở xưa Phật nói pháp ở trong định, cho nên
khiến cho người nghe cũng nhập định chuyên
tâm, vì pháp mà chẳng cảm thấy thời gian
dài, lúc đó sáu mươi tiểu kiếp tựa như thời
gian khoảng một bữa ăn mà thôi. Sáu mươi
tiểu kiếp dài bao lâu ? Nói dài mà chẳng
dài, nói ngắn mà chẳng ngắn. Một kiếp là
mười ba vạn chín ngàn sáu trăm năm. Một ngàn
kiếp cộng lại làm một tiểu kiếp. Rõ là một
niệm làm vạn kiếp, vạn kiếp tức là một niệm
; vạn kiếp không lìa một niệm tâm, thời gian
dài ngắn đều phân biệt tại tâm. Ở cõi trời
Tứ Thiên Vương chỉ một ngày một đêm mà tại
nhân gian là năm mươi năm ! Ở cõi trời Ðao
Lợi một ngày một đêm thì ở nhân gian là một
trăm năm. Ðồng lý ấy ! Nếu người tu tập
thiền định, chẳng khởi vọng tưởng, thì dù
ngồi một ngày cũng chỉ cảm giác khoảng vài
giây đồng hồ. Song, nếu người ngồi thiền mà
cứ khởi vọng tưởng lăn xăn, thì dù ngồi mấy
giây cũng cảm giác là đã lâu lắm, ở đó cứ
khởi vọng tưởng. Cũng như người nghe Kinh,
nếu chuyên tâm thì sẽ thâm nhập hiểu rõ
nghĩa Kinh, được pháp hỷ sung mãn, còn có
quan niệm về thời gian chăng ? Ngược lại,
nếu người không thể tạm thời buông xả công
việc hoặc gia đình, để chuyên tâm nghe Kinh
nghe pháp, thì chẳng đắc được pháp ích, do
đó chuyên nhất thì linh, phân chia thì tán.
Ðức Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh trải qua hai
mươi tiểu kiếp nói Kinh xong rồi, bèn ở
trong đại chúng : Phạm, ma, Sa môn, Bà la
môn và trời, người, A tu la, mà tuyên bố
rằng : Vào nửa đêm nay Như Lai sẽ vào Vô Dư
Niết Bàn.
Lúc đó, có vị Bồ Tát tên là Ðức Tạng, được đức
Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh thọ ký cho Ngài,
nói với các Tỳ kheo rằng : Bồ Tát Ðức Tạng
kế tiếp sẽ thành Phật, hiệu là Tịnh Thân Như
Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri. Ðức Phật thọ
ký xong, vào lúc nửa đêm, bèn vào Vô dư niết
bàn. Ðức Phật diệt độ rồi, Bồ Tát Diệu Quang
trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, trải qua hai
mươi tiểu kiếp, mới vì mọi người mà diễn
nói. Tám người con của đức Phật Nhật Nguyệt
Ðăng Minh, đều là đệ tử của Ngài Diệu Quang.
Ngài Diệu Quang đều giáo hóa, khiến cho các
vị đó kiên cố nơi đạo Vô thượng chánh đẳng
chánh giác.
Ðức Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh dùng sáu mươi
tiểu kiếp để nói Kinh Pháp Hoa, cả đại chúng
đều yên lặng ngồi nghe. Nói Kinh xong rồi,
thì ở trong đại chúng : Phạm (Phạm thiên
vương), ma (ma vương), Sa Môn (người xuất
gia) và trời, người, A tu la .v.v… mà tuyên
bố rằng : Như Lai sẽ vào Vô Dư Niết Bàn.
Ngoài bốn thứ Niết Bàn nói ở trong Duy Thức
Luận, còn có ba thứ Niết Bàn, đó là :
1. Tính Tịnh Niết Bàn : Phàm Thánh bình đẳng,
tức pháp thân đức, không sinh không diệt,
không dơ không sạch, không tăng không giảm.
2. Viên Tịnh Niết Bàn : Xuất chướng viên minh,
tức Bát nhã đức, đây là ba đức bí tàng của
Như Lai.
3. Phương Tiện Tịnh Niết Bàn : Vì chúng sinh,
từ không ra giả, chẳng sinh mà thị hiện
sinh, chẳng diệt mà thị hiện diệt, tức là
giải thoát đức.
Ở trong sáu nẻo chẳng nhiễm chút trần, xuất
Niết Bàn mà thường lạc, chỗ làm đều là
phương tiện Niết Bàn. Chư Phật đều sinh ra
ban ngày (dương), nhập Niết Bàn ban đêm
(âm). Ban ngày, là biểu thị quang minh, ban
đêm là biểu thị đen tối. Ở trong Duy Thức
Kinh có bốn Niết Bàn :
1. Tự Tính Thanh Tịnh Niết Bàn : Phật và chúng
sinh bình đẳng đều có.
2. Hữu Dư Y Niết Bàn : Vì có sắc thân, dùng
giả làm thật, nhận tặc làm con, hướng ngoại
truy cầu, khởi tham, sân, si, tâm ô nhiễm mà
vướng mắc các phiền não nghiệp chướng, cho
nên gọi là dư y khổ chưa diệt, chỉ khi nào
đạt được ngã không pháp không, phá ngã pháp
hai chấp thì mới được nhập vào Vô dư.
3. Vô Dư Y Niết Bàn : Nghĩa là phiền não đã
hết sạch, khổ y cũng diệt, phạm hạnh đã lập,
những gì cần làm đã làm xong, chẳng còn thọ
thân sau nữa.
4. Vô Trụ Xứ Niết Bàn : Vào nơi tịch diệt,
trong Kinh Ðại Bi Bát Nhã có nói : chẳng trụ
sinh tử, chẳng trụ Niết Bàn, suốt thuở vị
lai, tịch mà thường chiếu, lợi ích chúng
sinh.
Hợp ba thứ Niết Bàn ở trước và bốn Niết Bàn ở
sau lại, có thể hiểu là tự tính thanh tịnh
tức là tính tịnh, hữu dư vô dư, xuất phiền
não chướng. Vô trụ, xuất sở tri chướng tức
là viên tịnh. Từ thể khởi dụng, thị hiện
sinh, thị hiện diệt mà thật chẳng sinh chẳng
diệt, tức phương tiện tịnh (phương tiện Niết
Bàn). Tất cả chúng sinh vốn tính tịnh (Phật
tính), nhị thừa vô học có đủ ba thứ Niết Bàn
ở trước, duy chỉ có Ðức Phật đã viên nhập
bốn thứ Niết Bàn.
Lúc đó, đức Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh
ở trong đại chúng Ty Kheo, và các đại chúng
thọ ký cho Bồ Tát Ðức Tạng, kế đây sẽ thành
Phật hiệu là Tịnh Thân Như Lai, Ứng Cúng,
Chánh Biến Tri. Phật vốn có đủ mười hiệu,
đây chỉ lược nói ba. Phật thọ ký xong, lúc
nửa đêm bèn nhập diệt. Bồ Tát Diệu Quang bèn
thừa kế Phật vị, diễn nói Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, trải qua tám mươi tiểu kiếp. Ngài
cũng là thầy của tám vị vương tử, giáo hoá
các vị vương tử kiên cố ở đạo Vô thượng
chánh đánh chánh giác.
Các vị vương tử đó, cúng dường vô lượng
trăm ngàn vạn ức đức Phật rồi, đều thành
Phật đạo. Vị thành Phật cuối cùng hiệu là
Nhiên Ðăng.
Trong tám trăm vị đệ tử, có một người tên là
Cầu Danh, tham trước danh lợi, tuy cũng đọc
tụng Kinh điển, mà chẳng thuộc rành, phần
nhiều quên mất, cho nên gọi là Cầu Danh. Do
người nầy cũng có gieo trồng các căn lành,
nên được gặp vô lượng trăm ngàn ức các đức
Phật, cung kính cúng dường, tôn trọng tán
thán.
Ngài Di Lặc nên biết ! Lúc đó Bồ Tát Diệu
Quang đâu phải là người nào khác, chính là
ta đây, còn Bồ Tát Cầu Danh chính là Ngài
đấy. Nay thấy tướng điềm lành nầy, cùng với
xưa kia không khác. Cho nên xét nghĩ, hôm
nay đức Như Lai sẽ nói Kinh đại thừa tên là
Diệu Pháp Liên Hoa, pháp giáo hóa Bồ Tát,
được Phật hộ niệm.
Lúc đó, Ngài Văn Thù Sư Lợi ở trong đại chúng,
muốn tuyên lại nghĩa nầy, bèn dùng kệ để
nói.
Tám vị vương tử, từ vô lượng kiếp đến nay, đã
từng cung kính cúng dường trăm ngàn vạn ức
vị Phật, xuất gia rồi tu nhân Phật, cho nên
đều thành Phật, vương tử Pháp Ý là vị vương
tử thành Phật cuối cùng, trong số tám vị
vương tử, hiệu là Nhiên Ðăng. Phật Nhiên
Ðăng là thầy của Phật Thích Ca Mâu Ni, mà Bồ
Tát Văn Thù là thầy của Phật Nhiên Ðăng. Nếu
nói về vai vế thì Bồ Tát Văn Thù là sư tổ
của Phật Thích Ca, nhưng Phật pháp bình
đẳng, chẳng phân cao thấp, viên dung vô
ngại. Chư Phật Bồ Tát vì cứu độ chúng sinh
mà thị hiện sinh, thị hiện diệt, giống như
hiện ra đủ thứ màn cảnh trên sân khấu, khi
biểu diễn xong thì cũng trở về bổn vị, mà
nhập diệt.
Trong số tám trăm vị đệ tử của Bồ Tát
Diệu Quang (Văn Thù), thì có một người tham
trước danh văn lợi dưỡng, cho nên gọi là Cầu
Danh. Vì thâm tâm của người nầy nhiễm trước
trên danh lợi, cho nên không thể chuyên nhất
đọc tụng Kinh điển, mà phần nhiều quyên mất,
trí huệ quang minh lâu mà chưa hiển hiện.
Tuy nhiên huệ nghiệp chưa tu được viên mãn,
nhưng phước đức đã trồng được vô lượng, vì
Bồ Tát Cầu Danh đã từng ở trong trăm kiếp
cúng dường cung kính tôn trọng tán thán trăm
ngàn vạn ức các Ðức Phật. Bồ Tát Văn Thù nói
với Bồ Tát Di Lặc : "Ngài có biết vị Bồ Tát
Diệu Quang đó là ai chăng ? Vị đó chính là
tiền thân của tôi, còn Bồ Tát Cầu Danh là ai
? Chính là Ngài đấy !" Bồ Tát Văn Thù lại
nói :"Bây giờ lại thấy tướng điềm lành nầy,
tôi nghĩ chắc Ðức Phật muốn nói Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa."
Nếu người nào thành tâm đọc tụng Kinh
điển, thì thường có trời người rải hoa, có
hương thơm khác lạ tỏa khắp, quỷ thần cung
kính cúng dường. Nếu vì tham cầu danh văn
lợi dưỡng mà xuất gia thì quá ư sai lầm.
Người tu đạo, không nên cầu cúng dường
nhiều, càng không nên vì cúng dường ít mà
bực bội nơi tâm. Người chân chính tu đạo thì
nhiều cũng ít, ít cũng nhiều, đều xem bình
đẳng. Tôi có một đệ tử tại gia người ngoại
quốc, thấy người dâng bì thơ cúng cho tôi, y
cũng làm theo, tôi mở ra xem thì chỉ một xu,
tôi rất cao hứng vì đó là tâm chân thành
nhất của y, ngày thứ hai y lại cúng dường
nữa và y giải thích hôm qua y chẳng mang
theo tiền. Cho nên, người có tâm thành thì
ít cũng nhiều, nếu chẳng có tâm thành thì
nhiều cũng ít.
Tôi nhớ đời quá khứ
Vô lượng vô số kiếp
Có Phật Nhân trung tôn
Hiệu Nhật Nguyệt Ðăng Minh.
Thế Tôn diễn nói pháp
Ðộ vô lượng chúng sinh
Vô số ức Bồ Tát
Khiến vào trí của Phật.
Trước khi Phật xuất gia
Cũng theo tu phạm hạnh.
Phật nói Kinh đại thừa
Tên là Vô Lượng Nghĩa
Ở trong các đại chúng
Mà rộng vì phân biệt.
Phật nói Kinh nầy rồi
Bèn ở trên pháp tòa
Ngồi kiết già nhập định
Tên Vô lượng nghĩa xứ.
Hiện sáu thứ điềm lành để nói pháp, trống trời
trong hư không tự vang lên, Thiên Long bát
bộ đều cung kính cúng dường đấng Nhân Trung
Tôn, tức là Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh. Ở
trong quang minh của Phật, thấy có sinh tử
nghiệp báo và dùng lưu ly pha lê và các thứ
báu để trang nghiêm cõi nước chư Phật.
Và thấy các trời người
Chúng rồng, thần, Dạ xoa
Càn thát, Khẩn na la
Ðều cúng dường đức Phật.
Lại thấy các Như Lai
Tự nhiên thành Phật đạo
Sắc thân như núi vàng
Ðoan nghiêm rất đẹp đẽ.
Như trong lưu ly sạch
Hiện ra tựa vàng thật
Thế Tôn trong đại chúng
Diễn nói pháp thâm sâu.
Mỗi mỗi các cõi Phật
Vô số chúng Thanh Văn
Vì Phật quang chiếu đến
Nên thấy đại chúng kia.
Hoặc thấy các Tỳ kheo
Ở trong nơi rừng núi
Tinh tấn giữ tịnh giới
Như giữ gìn minh châu.
Trời mưa hoa Mạn đà
Trống trời tự nhiên kêu
Các trời, rồng, quỷ, thần
Cúng dường Nhân trung tôn.
Tất cả các cõi Phật
Tức thời đều chấn động
Phật phóng quang giữa mày
Hiện nhiều việc hiếm có.
Quang nầy chiếu phương đông
Một vạn tám ngàn cõi
Hiện sinh tử nghiệp báo
Của tất cả chúng sinh.
Lại thấy các cõi Phật
Dùng các báu trang nghiêm
Màu lưu ly pha lê
Ðều do Phật quang chiếu.
Trong quá khứ vô lượng kiếp, có một vị cổ
Phật, hiệu là Nhật Nguyệt Ðăng Minh Thế Tôn,
từng độ thoát vô lượng chúng sinh, thành tựu
đạo nghiệp vô số các Bồ Tát. Trước khi Phật
chưa xuất gia, có tám vị vương tử cũng theo
cha tu phạm hạnh. Lúc đó, Ðức Phật Nhật
Nguyệt Ðăng Minh, vì các đại chúng rộng phân
biệt diễn nói vô lượng nghĩa rồi bèn ngồi
kiết già nhập định vô lượng nghĩa. Lúc đó, ở
trong quang minh của Phật thấy có trời rồng
tám bộ chúng, đều cúng dường Ðức Phật ở nước
của mình. Lại thấy các Như Lai diễn nói
pháp, nghĩa lý rất sâu xa, trước, giữa, sau
đều lành. Tự nhiên thành Phật đạo, pháp là
như thế, vốn chẳng tạo tác, Phật đạo thanh
tịnh, khế lý ngộ chân tức chứng chánh giác,
cho nên gọi tự nhiên thành. Ba mươi hai
tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của Phật, tử
kim quang tụ thân, thắng diệu tịnh minh, màu
sắc như lưu ly trong sạch, trong ngoài đều
trong suốt. Hiện ra tựa vàng thật : thân
giống như vàng, tính như lưu ly. Sắc thân vi
diệu, hiện ở trong tính.
Lại thấy chư Phật ở cõi nước kia, ở trong
chúng hội vô số Thanh Văn diễn nói pháp vi
diệu thâm sâu. Lại thấy chúng Tỳ Kheo nhị
thừa ở nơi thâm sơn cùng cốc, tinh tấn giữ
giới thanh tịnh, như giữ gìn hạt minh châu.
Họ ngày đêm sáu thời đều tự nghiêm giữ giới
luật. Ban ngày, trước, giữa, sau, phân ra ba
thời ; đêm, trước, giữa, sau phân ra ba
thời. Giữ được một phần giới luật, thì có
một phần quang minh, hà huống là giữ gìn
giới luật thanh tịnh như thế, thì tự tính
quang minh tự nhiên sẽ hiển hiện, cho đến sẽ
thành Phật. Cho nên, trong giáo nghĩa của
chư Phật lấy giới luật làm thầy, nhất là
người xuất gia tâm phải ngay thẳng, chân
thật, giữ giới thanh tịnh thì sẽ có định,
huệ mới có thể thành tựu vô thượng bồ đề.
Năm giới mười điều lành là điều kiện căn bản
làm người, giữ gìn luôn luôn thì sẽ tịnh hóa
thân tâm. Làm bậc Sa Môn mỗi ngày nên niệm
câu kệ nầy :
Giữ miệng, nhiếp thân, tâm chớ phạm,
Ðừng hại tất cả hữu tình,
Khổ hạnh vô ích hãy xa lià,
Như vậy hành giả đáng nhập thế.
Nghĩa là, người xuất gia cần phải tự giữ gìn
giới luật, thân, khẩu, ý ba nghiệp thanh
tịnh, muốn thành tựu tất cả chúng sinh, thì
đừng chướng ngại kẻ khác, cho đến một con
vật cũng đừng gây phiền não cho họ. Không
những thân đừng phạm lỗi lầm, gây hại kẻ
khác, dù ý niệm hại người cũng đừng khởi
lên. Ðã sinh khởi niệm ác thì hãy diệt trừ,
niệm thiện chưa sinh, thì khiến cho sinh ra,
niệm thiện đã sinh thì khiến cho tăng
trưởng.
Lại thấy các Bồ Tát
Bố thí và nhẫn nhục
Số lượng như Hằng sa
Ðều do Phật quang chiếu.
Lại thấy các Bồ Tát
Vào sâu các thiền định
Thân tâm lặng chẳng động
Ðể cầu vô thượng đạo.
Lại thấy các Bồ Tát
Biết pháp tướng tịch diệt
Ðều ở cõi nước kia
Nói pháp cầu Phật đạo.
Lúc đó bốn bộ chúng
Thấy Phật Nhật Nguyệt Ðăng
Hiện sức đại thần thông
Tâm họ đều vui mừng.
Thảy đều tự hỏi nhau :
Việc nầy nhân duyên gì ?
Thế Tôn của trời người
Vừa mới ra khỏi định
Khen Bồ Tát Diệu Quang
Ông là mắt thế gian
Nơi tin của tất cả
Phụng trì được pháp tạng.
Như pháp của ta nói
Chỉ ông chứng biết được
Ðức Thế Tôn khen ngợi
Khiến Diệu Quang vui mừng.
Bèn nói Kinh Pháp Hoa
Trọn sáu mươi tiểu kiếp
Chẳng rời khỏi toà ngồi
Pháp nói ra thâm diệu.
Ngài pháp sư Diệu Quang
Thảy đều thọ trì được.
Lại thấy Bồ Tát nhiều như số cát sông Hằng tu
sáu độ, tức là : Bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ. Bố
thí có ba là : Tài thí, pháp thí và vô úy
thí. Nhẫn nhục cũng có ba là : Sinh nhẫn,
pháp nhẫn và vô sinh pháp nhẫn.
Lại thấy các Bồ Tát vào sâu các thiền định,
ngày đêm sáu thời đều an trụ ở trong thiền
định. Thân tâm lặng chẳng động, trong ngoài
tĩnh lặng, thân tâm chẳng động vào sâu trong
định để cầu vô thượng đạo.
Lại thấy các Bồ Tát, đã biết tướng tịch diệt
của các pháp, mà ở tại nước của mình nói
pháp cầu Phật đạo. Những gì thấy ở trong
quang minh của Phật, đều khiến cho bốn chúng
vui mừng mà háo kỳ, cùng nhau tự hỏi vì sao
Phật hiện sức đại thần thông nầy ? Phật là
đấng tôn kính nhất của trời người, Phật Nhật
Nguyệt Ðăng Minh từ tam muội dậy, bèn tán
thán Bồ Tát Diệu Quang là một vị minh nhãn
thiện tri thức, phụng trì được và chứng biết
tạng pháp của Như Lai, là đạo sư nơi nương
tựa tin cậy của tất cả trời người. Ðức Thế
Tôn khen ngợi, khiến cho Bồ Tát Diệu Quang
vui mừng, sau đó bèn diễn nói Kinh Pháp Hoa,
trải qua sáu mươi tiểu kiếp, chẳng lìa khỏi
toà ngồi. Nói pháp vi diệu thâm sâu vô
thượng, khiến cho pháp sư Diệu Quang tin
hiểu thọ trì.
Phật nói Kinh Pháp Hoa
Khiến chúng vui mừng rồi.
Tức cũng trong ngày đó
Nói với chúng trời người
Nghĩa thật tướng các pháp
Ðã vì các ông nói.
Ta nay trong đêm nay
Sẽ vào cõi Niết bàn
Các ông hãy tinh tấn
Nên xa lìa phóng dật.
Chư Phật rất khó gặp
Ức kiếp gặp một lần
Hết thảy con của Phật
Nghe Phật vào Niết bàn.
Ai nấy đều buồn khổ
Sao Phật diệt sớm thế ?
Ðấng Pháp Vương Thánh Chúa
An ủi vô lượng chúng.
Nếu lúc ta diệt độ
Các ông chớ lo sợ
Vị Bồ Tát Ðức Tạng
Nơi vô lậu thật tướng.
Tâm đã đượt thông đạt
Kế đây sẽ thành Phật
Hiệu là Phật Tịnh Thân
Cũng độ vô lượng chúng.
Ðêm nay Phật diệt độ
Như củi hết lửa tắt
Phân chia các xá lợi
Mà xây vô lượng tháp.
Tỳ kheo Tỳ kheo ni
Số đông như Hằng sa
Lại càng thêm tinh tấn
Ðể cầu vô thượng đạo.
Phật nói Kinh Pháp Hoa nầy, khiến cho đại
chúng hoan hỉ tin mà thọ trì, trong ngày đó
vì trời, rồng, tám bộ quỷ thần khai thị diệu
nghĩa thật tướng của các pháp. Các pháp tức
tất cả pháp, tám vạn bốn ngàn pháp môn. Pháp
môn tuy nhiều, chỉ cần hiểu biết một pháp
môn, tức là biết một biết tất cả, rõ một rõ
tất cả, nghe một biết mười, một tức vô
lượng. Có người hỏi tôi, trong tám vạn bốn
ngàn pháp môn, pháp môn nào là đệ nhất ? Ðây
là vấn đề nhưng cũng chẳng phải vấn đề, vì
sao. Chẳng thấu rõ thì là vấn đề, minh bạch
rồi thì chẳng thành vấn đề. Tôi đáp rằng :
Tám vạn bốn ngàn pháp môn đều là đệ nhất.
Những pháp môn nầy đâu chẳng phải là dùng để
đối trị tập khí mao bệnh của chúng ta, chỉ
cần theo bệnh cho thuốc, khế hợp với căn cơ
của chúng ta, tức là pháp môn vô thượng.
Thật tướng, vô tướng, cũng vô sở bất tướng,
nếu có tướng thì chẳng phải là thật tướng.
Tất cả tướng đều do thật tướng sinh ra,
nhưng bổn thể của nó là vô tướng, vì bổn thể
là vô tướng, mới sinh ra tất cả tướng. Kinh
Kim Cang nói rằng :
Phàm tất cả tướng đều không thật,
Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng,
Tức thấy Như Lai.
Cho nên các pháp là một pháp, Kinh Pháp Hoa
tức là pháp thật tướng.
Ðức Phật nói, ta đã vì các ông diễn nói các
pháp thật tướng, vì thế trong đêm nay ta sẽ
nhập diệt, từ nay về sau các ông hãy tự nỗ
lực, nhất tâm tinh tấn, xa lìa giải đãi
phóng dật. Phật thị hiện nhập Niết Bàn, cũng
là phương pháp giáo hóa chúng sinh, ví nếu
Phật sống mãi ở đời, thì chúng sinh sẽ sinh
tâm ỷ lại và phóng dật. Người xuất gia chẳng
tu hành, giống như suốt ngày đếm tiền bạc
cho họ, mà mình chẳng có đồng xu nào, nơi
pháp chẳng tu hành, lỗi mình cũng như thế.
Nên biết Phật pháp khó nghe, Thánh Tăng khó
cầu, Phật Bảo trải qua trăm ngàn vạn kiếp
khó gặp được ! Như hiện tại tôi ngày ngày
thuyết pháp, nhưng các bạn vì ỷ lại có thầy
mà chẳng phát tâm nỗ lực, một khi ngày nào
tôi lìa các bạn, thì ngược lại khiến cho các
bạn sinh ra sức tự lập mà hăng hái vươn lên.
Nên nhớ, người tu hành phải nương sức của
mình, phấn chấn tinh thần, dũng mãnh tinh
tấn.
Khi tám vị vương tử và các đại chúng nghe tin
Phật muốn vào Niết Bàn, thì ai nấy cũng đều
buồn rầu khổ não. Sư đồ tình như cha con,
chẳng có ai mà không nói : sao đức Phật nhập
diệt quá sớm ! Lúc đó, đấng Thánh Chúa, vua
của các pháp, thấy đại chúng bi ai, thì
thương xót an ủi đại chúng nói : "Các con
đừng quá bi thương lo sợ, tuy ta bỏ các con
mà đi, còn có Bồ Tát Ðức Tạng, kế đây sẽ
thành Phật hiệu là Tịnh Thân Như Lai. Vị đó
đã thông đạt pháp vô lậu thật tướng, sẽ thay
thế ta tiếp tục giáo hóa chúng sinh." Phật
thọ ký truyền pháp rồi, trong đêm ấy vào
Niết Bàn, như củi hết lửa tắt.
Di thể của Phật hỏa thiêu rồi, phân chia xá
lợi, xây vô lượng bảo tháp để cúng dường.
Phật nhập diệt rồi, thì hàng Tỳ Kheo, Tỳ
Kheo Ni đông như số cát sông Hằng đều tôn
kính di chúc của Phật mà càng tinh tấn tu
đạo. Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni có ba nghĩa :
1. Khất thực.
2. Bố ma.
3. Phá ác.
Phá vô minh phiền não thì trí huệ sẽ tăng
trưởng. Khi một vị Sa Di thụ giới Cụ túc,
thì có tam sư thất chứng, hợp lại là mười vị
Tỳ Kheo, đại biểu chư Phật cho thọ giới. Khi
đăng đàn truyền giới, thì đắc giới Hòa
Thượng hỏi y :"Ông có phải đại trượng phu
chăng ?" Ðáp :"Phải". Lại hỏi :"Ông đã phát
bồ đề tâm chưa ?" Ðáp :"Ðã phát bồ đề tâm !"
Lời nầy vừa nói ra thì thiên ma ngoại đạo
kinh hãi dựng lông, vì quyến thuộc của ma
vương bớt đi một người, còn đệ tử của Phật
lại thêm một người.
Vị pháp sư Diệu Quang
Phụng trì tạng Phật pháp
Trong tám mươi tiểu kiếp
Rộng nói Kinh Pháp Hoa.
Tám vị Vương tử đó
Ðược Diệu Quang giáo hoá
Kiên cố đạo vô thượng
Thấy được vô số Phật.
Cúng dường chư Phật rồi
Cũng theo tu đại đạo
Liên tiếp đều thành Phật
Thứ tự mà thọ ký.
Thiên Trung Thiên cuối cùng
Hiệu là Phật Nhiên Ðăng
Là đạo sư trời người
Ðộ thoát vô lượng chúng.
Vị pháp sư Diệu Quang
Có một vị đệ tử
Tâm thường hay giải đãi
Tham trước về danh lợi.
Cầu danh lợi không chán
Thường đến nhà giàu sang
Bỏ bê đọc tụng Kinh
Quên mất chẳng thông thuộc.
Vì bởi nhân duyên đó
Nên gọi là Cầu Danh
Cũng tu các nghiệp thiện
Ðược thấy vô số Phật.
Cúng dường các đức Phật
Theo tu hành đại đạo
Ðủ sáu Ba la mật
Nay gặp Phật Thích Ca.
Sau nầy sẽ thành Phật
Hiệu là Phật Di Lặc
Rộng độ các chúng sinh
Số đông nhiều vô lượng.
Pháp sư Diệu Quang là đệ tử hộ pháp của Phật
Nhật Nguyệt Ðăng Minh, trải qua tám mươi
tiểu kiếp để diễn nói Kinh Pháp Hoa, phụng
trì Pháp của Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh, và
giáo hóa các vị vương tử kiên cố hành trì
pháp đại thừa viên đốn, tức vô thượng đạo.
Vì thấy được vô lượng chư Phật và cúng dường
chư Phật, thuận theo chư Phật tu hành vô
thượng đạo. Lại thứ tự tiếp tục thành Phật
đạo, thứ lớp thọ ký nhau, trong tám vị vương
tử, vị thành Phật cuối cùng hiệu là Phật
Nhiên Ðăng, là bậc đạo sư của trời người, độ
thoát vô lượng chúng sinh. Phật là Thiên
Trung Thiên, Thánh Trung Thánh.
Pháp sư Diệu Quang có một vị đệ tử, tham cầu
danh lợi chẳng giữ giới luật, ít dụng công
tu hành, thường đi đến nhà người tại gia
giàu có, để mong cầu lợi dưỡng. Tuy Ngài
tham cầu danh lợi, bỏ bê đạo nghiệp, nhưng
bên cạnh đó Ngài tu căn lành rộng lớn, có cơ
hội được gặp Phật và cúng dường chư Phật.
Nối tiếp mà thuận theo chư Phật, trừ khử các
các tập khí mao bệnh xấu mà tu bố thí, trì
giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và
bát-nhã, sáu độ vạn hạnh. Do sự nghiêm tịnh
tu trì trải qua vô lượng kiếp, tích tụ công
đức đã thành tựu và phước huệ đều tròn đầy,
cho nên hôm nay được gặp Phật Thích Ca Mâu
Ni, mà được thọ ký tương lai sẽ thành Phật,
thay thế Ðức Phật Thích Ca hiệu là Phật Di
Lặc. Phật Di Lặc sẽ ở dưới cội Long Hoa,
thuyết pháp ba hội, độ vô lượng vô biên
chúng sinh.
Kỳ thật, Bồ Tát Cầu Danh chẳng phải thật tham
cầu danh lợi, chỉ vì chúng sinh điên đảo ngu
si, mà Ngài dùng tâm đại từ bi, lợi dụng
pháp quyền xảo phương tiện, giả bộ ở trong
đời thế tục, tùy loại mà hóa độ tất cả chúng
sinh điên đảo mê các trần lao. Bồ Tát hiện
tướng thuận nghịch để khai thị chúng sinh,
đâu chẳng phải là phá sự tham trước và giải
đãi của chúng sinh. Song, chúng sinh chẳng
hiểu sự khổ tâm của Ngài, không ngại gian
khổ để cứu độ chúng sinh, ngược lại vì hình
tướng bề ngoài của Ngài, như kẻ ăn mày mà
khinh khi Ngài, thậm chí còn mắng chưởi và
đánh đập Ngài. Nhưng đối với sự thành bại
vinh nhục, Ngài đã hoàn toàn chẳng còn bận
lòng. Trong Chứng Ðạo Ca của Ngài Vĩnh Gia
có nói :
"Bao lần sinh, bao lần chết,
Sinh tử đăng đẳng chẳng định ngừng,
Từ khi đốn ngộ liễu vô sinh,
Ðối với vinh nhục hà tất buồn vui."
Nghĩa là, thân tâm của Ngài như hư không, rộng
khắp pháp giới, những gì Ngài làm đều như
ánh sáng mặt trời mặt trăng tỏa muôn phương,
khen chê Ngài đều chẳng bận lòng.
Dưới đây là bài kệ của Bồ Tát Di Lặc ý vị và
nghĩa lý thâm trường :
"Lão quê mặc áo vá,
Cơm hẩm no đầy bụng,
Áo rách che rét lạnh,
Vạn sự hãy tùy duyên.
Có ai mắng lão quê,
Lão quê chỉ nói tốt,
Có ai đánh lão quê,
Lão quê nằm lăn ra,
Khạc nhổ vào mặt lão,
Ðể nó tự khô lấy,
Ta cũng chẳng tốn sức,
Người cũng chẳng phiền não,
Ðó là Ba La Mật,
Cũng là báu vô giá,
Nếu làm được như thế,
Lo gì đạo không thành."
Lão quê không những mặc áo vá, mà uống trà
cũng đơn giản, ăn cơm đạm bạc, chẳng ăn
muối, chẳng ăn dầu, càng chẳng tham cầu thức
ăn ngon. Ngài chẳng sợ lạnh đói khác, vạn sự
đều tùy duyên, tức tùy duyên không đổi,
không đổi mà tùy duyên. Ðến đi tự như, do đó
tiêu giao thế giới mặc đông tây. Cho nên các
sự vinh nhục hà tất phải buồn vui, đối với
sự nhục mạ đánh đập của người khác, không
những chẳng sân hận mà ngược lại càng sinh
tâm cảm kích công đức. Vì những lới ác đánh
đập đó, đâu chẳng phải là thiện tri thức
thành tựu nhẫn nhục Ba La Mật của Bồ Tát.
Nếu chẳng có đại hùng, đại lực, đại từ, đại
nguyện, đại hạnh của Bồ Tát, thì không thể
có định lực nhẫn nhục tinh tấn vô thượng
nầy. Nhẫn nhục Ba La Mật biết dễ mà hành
khó. Người ban đầu phát tâm tu đạo phải dùng
: kiên, thành, hằng ba tâm trợ đạo. Ðời
người ngắn ngủi, các hành vô thường, sinh tử
là việc lớn, nếu không kịp thời tu hành, thì
tương lai hối hận đã quá muộn. Bồ Tát khéo
biết :"Thời gian giảm dần, thì mạng sống
cũng giảm", cho nên dùng thân người nầy, mà
thanh tịnh trang nghiêm lũy kiếp tu. Tu đạo
chẳng việc gì khó, chỉ cần cước đạp thật
địa, đừng sợ gian nan khốn khổ, dũng mãnh
tinh tấn, tất sẽ thành tựu.
Phật kia diệt độ rồi
Người giải đãi là Ngài
Còn pháp sư Diệu Quang
Nay chính là thân ta.
Tôi thấy Phật Ðăng Minh
Ðiềm lành xưa như vậy
Cho nên biết Phật nay
Muốn nói Kinh Pháp Hoa.
Tướng nay như điềm xưa
Là phương tiện chư Phật
Nay Phật phóng quang minh
Giúp bày nghĩa thật tướng.
Các người nay nên biết
Chắp tay một lòng chờ
Phật sẽ rưới mưa pháp
Ðầy đủ người cầu đạo.
Những người cầu ba thừa
Nếu có chỗ nghi hối
Phật sẽ dứt trừ cho
Khiến hết chẳng còn thừa.
Ðức Phật Ðăng Minh nhập diệt rồi, người giải
đãi đó là Ngài, còn tôi tức là Pháp sư Diệu
Quang.
Kinh nghiệm quá khứ của tôi biết Phật Thích Ca
Mâu Ni, trước hết hiện sáu điềm lành, chắc
chắn là muốn nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Chư Phật hiện tướng điềm lành để nói pháp, là
pháp thiện xảo phương tiện. Hiện nay Phật
Thích Ca Mâu Ni phóng đại quang minh, là trợ
giúp hiển bày nghĩa thật tướng, cho nên đại
chúng ở trong hội nên cung kính chắp tay yên
lặng chờ Phật nói pháp yếu. Chúng sinh nghĩ
đến pháp như khát nghĩ đến nước. Cho nên Như
Lai mưa pháp vũ, thấm nhuần khắp tất cả tâm
chúng sinh. Ðây dụ cho tất cả chúng sinh như
: hoa cỏ thụ mộc tùng lâm, trận mưa lớn tưới
xuống khắp, tùy theo sự thu hút của cây lớn
nhỏ mà được sinh trưởng. Phật khéo léo quán
căn cơ để thí giáo, cho nên phổ độ hết thảy
ba căn (thượng, trung, hạ) và thu nhiếp hết
chúng sinh lợi, độn căn, mà phân biệt diễn
nói pháp đại thừa, tiểu thừa và nhân thiên
thừa. Ba thừa ở đây tức là : Bồ Tát, Thanh
Văn, Duyên Giác và nhân thiên thừa. Phật nói
pháp yếu độ hết tất cả người ba thừa, khiến
chẳng còn xót thừa nào.
Người xưa nói rằng :
"Ðạo thì phải hành,
Chẳng hành sao có đạo.
Ðức là do tu,
Không tu sao có đức ?"
Quy về cuối cùng nhất của nhân loại là :
Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, cứu kính Niết Bàn.
Do đó, trước hết phải y pháp tu hành, cung
hành thực tiễn. Thế mà, có những người trước
khi chưa tin Phật, trước khi chưa phát
nguyện, còn bình an vô sự, nhưng khi tin
Phật rồi, phát nguyện rồi thì đủ thứ chướng
ngaị phát sinh. Ðó là nguyên nhân gì ? Vì từ
vô lượng kiếp đến nay, do vô minh mà cứ tạo
nghiệp : giết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối
.v.v… đủ thứ ác nghiệp, chẳng ra khỏi trần
lao, mà theo sinh tử không ngừng. Vô số ác
nghiệp đã gây ra, đều là nghiệp đời quá khứ
tích tụ lần lược trổ ra, nếu giác ngộ được
hôm nay đúng, hôm qua sai, tinh tấn tu hành,
thì những nghiệp chướng phiền não, đã tạo ra
trong quá khứ sẽ hiện tiền. Những ma khảo
nầy đâu chẳng là một thứ ma luyện đối với
người tu hành, do đó :"Ma là ma chân đạo,
chân đạo tức có ma." Nếu tùy duyên tiêu
nghiệp cũ, dùng tâm nhẫn nại để ứng đối,
đừng tạo thêm nghiệp mới, giữ gìn giới luật
thanh tịnh, thì sẽ trả nợ cũ ra khỏi tam
giới.