Nhị Khóa Hiệp Giải
(Thời khóa tụng
khuya và thời khóa tụng chiều)
Chú giải:
Ngài Quán
Nguyệt
Dịch giả:
HT Thích Khánh Anh
LƯỢC TRÌNH VỀ PHIÊN
DỊCH
BỘ NHỊ KHÓA HIỆP GIẢI
Nhị khóa:
Hai thời khóa tụng; Hiệp giải: nhập chung để
giải
Nguyên
xưa ngài Quán Nguyệt Pháp sư đem hai thời kinh khóa
tụng: Mai đóng chung và chiều nhập chung lại làm một
đại thể làm một tập lớn. Nội dung phân ra từ mục: Từ
quyển thứ nhứt đến quyển thứ bảy để giải nghĩa, nên
gọi là “Nhị Khóa Hiệp giải”. Như là: đem các
bổn kinh mai và chiều họp chung lại làm một thể mà
sắp làm 5 quyển; còn các bài phát nguyện, hồi
hướng, tam tự quy y của mai và chiều thì nhập chung
lại làm một quyển (quyển thứ 6), và các nghi
thức thù ân chúc tán làm một quyển.
Nay tôi dịch bộ kinh
này, xin chia làm hai tập thượng và hạ: Tập thượng
nói riêng trọn về thời kinh mai, tập hạ nói nguyên
vẹn cả thời kinh chiều, và xin để phiên dịch ra như
thế này là Y theo lối quy định của các Ðức Tổ xưa đã
sắp đặt, mà các chùa bấy nay cũng thường tụng đã
quen. Như vậy là để cho các học giả vẫn được dễ dàng
xem hiểu thuận tiện, vì với “Nhựt tụng” đã riêng
phần, xem đâu được sẵn liên tiếp đó. Như thế đã khỏi
thất công tìm kiếm và gọi là “Nhị khóa hiệp giải”
mới nhằm với bản dịch ngày nay vì đã phân riêng ra
làm hai tập: thượng và hạ.
Với 5 bức biểu đồ thế
giới và lời chú thích, nay cũng xin đem tiếp theo
sau 4 câu “Tứ sanh cữu hữu đồng đăng hoa tạng
huyền môn, bát nạn tam đồ cọng nhập Tỳ lư tánh hải”
mà dịch ra cho pháp và nghĩa được liên quan với
nhau.
Vì những bức biểu đồ
ấy là tượng trưng những pháp tướng và tâm tướng của
4 câu trên ở Kinh Hoa Nghiêm, do “tri kiến của Phật”
Ngài thuyết ra “Hoa tạng thế giới hải”.
Vài lời dịch thuật,
xin đại chúng biết cho.
Nam mô Hoan Hỷ Ðịa Bồ
Tát.
Phật tử THÍCH KHÁNH
ANH
Viết tại chùa Phước
Hậu
Ngày tự tứ tháng 7 năm
Mậu Tuất
Phật lịch 2502 – Dương
lịch 1958
LỜI TỰA TỰ CHẤN CHỈNH
LẠI BỔN
NHỊ KHÓA HIỆP GIẢI
Bầu trời cao lớn, nào
hẹp lượng với một vật ni; lòng Phật khắp phương, đâu
nỡ ngơ với một linh nớ.
Không hiềm vì một vật,
thì cả hiện tượng đều lượng bao dung; chẳng bỏ xót
một linh, thì toàn pháp giới đều ơn tế độ (đồng về
cõi Phật)
Toàn pháp giới đồng về
hờ mình, thì mỗi mỗi đức tốt trang nghiêm đều hiển
hiện ngay nơi tự kỷ “lấy pháp giới để sửa thân, gom
kiền khôn để làm lượng” cũng như cả vạn vật đều rực
rỡ bày giữa bầu vũ trụ bao la.
Bởi thế, đức Như Lai
giảng giáo tại xứ Trúc Kiền, mà mười phương cũng
đồng được phổ độ hoặc bằng gián tiếp, hoặc chịu ảnh
hưởng; đức Sơ Tổ ấn tâm ở bên chấn đán, mà bốn biển
cũng đều được huân triêm hoặc bằng tương truyền hoặc
bằng lưu thông.
Phật
trước đã nêu gương mẫu nơi tinh xá Kỳ Viên: Hiền sưa
đã sắp khóa trình làm công phu triêu mộ. Với mai
chiều, nếu chẳng có phép tu bằng hai thời khóa tụng,
để làm như đường rầy tấn đạo, tỷ khác nào con ngựa
không có điều khiển dây cương, thì lấy chi làm điều
kiện để đáng tiêu của Tín Thí và kiến thiết nên đạo
nghiệp!
Nên chi tụng 5 hội chú
Lăng Nghiêm, thì dục vọng gì cũng thôi dứt: tụng 10
bài thần chú, thì quả tu có thể mưu cầu ; tụng Phật
thuyết A Di Ðà Kinh là chí hướng sẽ vãng sanh ; lạy
Hồng danh báo sám nghi thức thì nghiệp chướng xưa
tiêu diệt ; tụng văn Mông sơn là để thí thực cứu tế
cho cô hồn; tụng chú Bát nhã là để phá tướng giải
không cho tình thức,
Kể cả các văn khóa
tụng ấy, rốt đều hồi hướng về Tịnh thổ (độ) là làm
chỗ để đi đến chốn về đến nơi; thế đủ thấy biết
rằng; dẫu tầm phương chi để thoát tục nữa, cũng
chẳng hơn hai thời khóa tụng đây vậy.
Chỉ
vì kinh phật nhiệm
mầu, nếu không giải thích thì ít ai hiểu thấu đặng;
ngày trước tôi giảng diễn hai thời khóa tụng ở thiên
thai U khổ, khổ vì chăng đủ tài liệu để chú giải nên
các học giả chẳng dò nắm được lẽ hay của nó. Dù các
bổn kinh A Di Ðà, Tâm kinh đã có nhiều nhà chú giải,
còn các bổn kia, hãy chưa rõ được!
Kế sau, được xem xét
bổn “Nhật khóa tiện mông” tuy đủ mà thiếu, vì giải
những bài mà bị bổn ấy bớt đi, thành thử tôi không
nệ mình dốt, hèn mà đánh bạo ra làm việc biên tập.
Với các bổn: A Di Ðà
kinh, Bát nhã tâm kinh và Hồng danh bảo sám.... Là
những bổn đã giai tác từ xưa; còn với các bổn: Chú
Lăng Nghiêm, thập chú, Mông sơn, Hồi hướng, đều là
phần tôi diễn thuật lại.
Việc biên tập đã
thành, nhan đề là “Nhị Khóa hiệp giải hội bổn”
vận động tài chánh in được một ngàn bộ, hoặc là mình
đưa ra tặng cho, hoặc người htân đến nài thỉnh, chỉ
trong vài tháng đã phát hành hết rồi, mà hãy còn
nhiều người đến đòi hỏi mãi.
Sau đó, tính muốn tái
bản, lại e rằng: Tánh dốt lẫn nhau với thối cũ, vóc
trắng khó sánh cùng màu me,f bởi thế nên vừa chuộng
cái tông chỉ cũ mà hay của xưa, vừa diễn cái biểu đồ
mới mà đẹp của nay, để biên tập lại và chú giải trọn
vẹn; trong đây có chỗ nào khó rõ, thì lại y theo
nghĩa thành lập ra cái biểu đồ, để hành giả thấy rõ
như xem chỉ trong bàn tay.
Ðã thành bộ pho, lại
đặt tên là “Trùng đính Nhị khóa hiệp giải”,
để bổ khuyết vào chỗ chưa đủ của “Bổn hiệp giải”
trước, vã lại vạch rõ thêm chỗ mà Tiền Hiền chưa
phát minh.
Cốt mong các đấng Hậu
hiền, xem nghĩa rồi thâu góp đặng lý mầu, dẹp sạch
hết mê hoặc và các chướng.
Hơn nữa là, với sự
“Hành” tu, hãy mau lên chóng tiến, đồng thời với lý
“giải” tỏ, hãy triệt để nhận chơn, ngõ cùng vào biển
tánh Tỳ lư, cả căn thân chánh báo, lẫn khí giới y
báo, đồng hoàn toàn “Nhứt thế chủng trí” Tức là “Sai
biệt trí” nghĩa là chứng trí nầy thì biết suốt cả sự
vật. “Sai biệt trí” cũng gọi là Phật trí.
HƯNG TỪ bí xu, hiệu
QUÁN NGUYỆT
Soạn lời tựa tại
núi Thiên thai, thuộc tỉnh Chiết giang.
Ngày Phật Niết bàn,
tháng trọng xuân, năm Tân dậu (1921)
LỜI TỰA
GIẢO ÐÌNH
BỘ NHỊ KHÓA HIỆP GIẢI
Trong Thiên thai tông,
ngài Quán Nguyệt pháp sư vì lẽ gì tạo ra bộ “Nhị
Khóa Hiệp giải” nầy?
Nghĩa rằng: từ “kiếp không” về trước, một chữ
“Phật”
còn chẳng có, huống chi là “Khóa giải”?
Với chữ “Khóa” hãy còn không, thì làm gì có
chữ “Giải”. Ðã không khóa không
giải thì ở trong không “Ta” là phần năng
độ; ngoài cũng không “Người” là cảnh sở độ.
Năng sở đều không, thì hết thảy chi chi nữa cũng
không còn.
Với tất cả chi chi đã toàn là không. Cho đến không
cái “Không” cũng không luôn. Người mà với
“Không cái không” đã không hẳn, thì đến đây hiện
ngay ra cái Cảnh giới chính đương đồng thời Phật Oai
Âm, với cái cảnh giới bấy giờ đó. Chính trong kinh
Bát nhã bảo là cảnh “Vô Dư Niết bàn” đấy vậy.
Ðâu có biết từ cái tâm nómống một niệm bất giác (si
mê) thành thử từ trong cái cảnh giới “không không”
kia, nảy ra các cái “có có” là như 3 tế tướng
hỉ nộ ai lạc....
Ðã có ra các cái “có” thì, “tâm không không”
trở lại bị các cái có làm cột buộc. Bởi thế, loài
người, loài trời, đều có bị những cái thấy lầm, cái
nghĩ lầm là “kiến hoặc và tư hoặc” làm cột buộc; các
thánh Bồ tát đều có bị cái “vô minh hoặc” làm cột
buộc.
Các phàm thánh kia đã đều có bị kiết phược,
nghĩa là 6 căndính mắc vào 6 trần, thì không thể
không có phương pháp để giải thoát là cổi mở những
điều kiết phược hay sao? Ðấy là chỗ sở do để tạo ra
bổn “Nhị Khóa Hiệp Giải” nầy, để khử niềm
giải phược cho chúng.
Hỏi rằng: Dùng cái danh đề “Hiệp giải” đây là
ý gì? Xin đáp lại bằng lời ví dụ như thế nầy: Có ông
Trưởng giả vì cái cảnh ngộ “Cha già con muộn”
e rồi nó khó nỗi nối dõi nghiệp nhà, kêu bằng “Sáng
nghiệp na, thủ thành bất dị”! Nhơn đó, ông thốt lời
than và dặn bảo với người bạn hiền rằng: “Oâi! tôi
đã già nua quá, với cái gia nghiệp nầy hcả biết rồi
nó sẽ ra sao! Chỉ nhờ bạn một điều là sau khi tôi
tắt hơi cuối cùng rồi, xin bạn khéo nuôi giùm chút
Bé nầy”. Trối rồi tắt thở.
Người bạn lãnh lời phú thác đem của quí là viên ngọc
minh châu nhét trong túi áo của đứa bé, và thường
thường cưng nhớ mật thiết không nỡ chút rời!
Kế đó, ông bạn là cha nuôi gặp việc phải đi qua xứ
khác ở nhà, cậu Bé là dưỡng tử còn nhỏ dại không
biết, bị nghe lời của đứa bạn khù khờ bày đặt lầm
lạc: đem vạt áo kia cột thắt làm từ một gút, hai
gút, cho đến hàng trăm hàng ngàn cái gút; đó rồi
theo bọn lãng tử đi đây đi đó, vất vả nơi đất khách
phương xa; lâu ngày, nó xài hết tiền, cơ hồ như cây
không còn nhựa để sống!
Bấy giờ dưỡng phụ rồi việc về nhà, nghe con sa ngã,
xiêu lạc, liền đi tìm giáp quanh vùng, đã lắm ngày
tháng mà chưa được tin tức. Mãi đến sau, mới gặp
đựng nó đương lẩn quẩn nơi ngã tư lộ lớn ngoài đồng.
Cha tâm được con mừng hòa lẫn vơi lòng thương, kể
sao cho xiết!
Dù rằng mình khong công sanh, nhưng có công dưỡng,
huống nữa lãnh lời của bạn di chúc. Ðành rằng nghĩa
cũ vấn vương, thêm xót thân con rắc rối, nên mau mau
lo giải thoát cho con trước đã. Nghĩa là mở
lần từ 1 gút, 2 gút, cho đến mở cả trăm nghìn cái
gút. Ðến đó, lấy viên mình châu ra và chỉ thị rằng:
“Ngọc nầy là vật quý báu nhứt trong thất bửu, nếu kẻ
nào có phước thì lấy đặng, không ai cấm cản, vì là
của sẵn có, và thụ dụng không hề thiếu hết, bởi nó
có cái năng tánh hay phát sanh ra các thứ quý báu
khác nữa; thế mà con sao quá dại, để cho đứa tà ngu
kia nói cám dỗ đặt bày, làm cho cái vật “Quý vô giá”
bị khuất lấp nhiều lớp lu lấp như bỏ quên mất đi,
đến đỗi phải chịu đói khổ ra nông nổi nầy”!
Ðây “Nhị khóa” hai thời tu tụng là vì “minh
châu” đó chăng? Còn “Hiệp giải” là “bạn hiền”
cũng như Thiện tri thức và Cha nuôi đó chăng? Nhan
đề là “Nhị Khóa giải” đây, chính là nghĩa
“giải y xuất bữu cũng như xuất châu” mở gút áo lấy
ngọc ra của Kinh Pháp Hoa kia, thật thế.
Tôi xét htấy lời “Hiệp giải” của ngài Quán
Nguyệt pháp sư; mỗi lời mỗi lời như mỗi hạt ngọc lụn
vụn, chẳng còn tìm kiếm của ai, mỗi câu mỗi câu tợ
mỗi linh vàng đưa ra sẵn sàng tự có; đấy chính rằng:
người có cách khéo “giải kiết” là mở gút đó chăng?
Tôi đây chậm chạp lắm, vì với mỗi cách gì: cũng chả
ăn nhập vào đâu; chỉ được cái hân hạnh là: Pháp Sư
Ngài bảo tôi khảo duyệt lại bản thảo kia, thì bất
quá cũng như dính một giọt nước của giữa biển cả
thôi.
Song một giọt dù ít, nhưng nó cũng không khác khí vị
gì với biển cả chút nào, vì vẫn đồng một tánh nước.
Tổ xưa đã bảo: “Phật pháp như đại hải lưu nhập A Nan
tâm”: (pháp của Phật như bể cả, trôi vào tâm của
ngài A Nan Ðà) thì cũng chỉ một tâm pháp
Nên với ơn thầy dầu chưa thể đền đáp được một phần
muôn, chứ cũng chính phải ghi lời “Duyên khỉ tác
giải” để làm bài tiểu dẫn như thế vậy thôi.
Nhứt
tâm Bí Xu Bích Ðạo soạn.
LỜI TỰA
NHỊ KHÓA HIỆP
GIẢI HỘI BỔN
Nhị khóa hiệp giả hội bổn đây, là một công tác của
Ngài Pháp Sư hiệu Quán Nguyệt bên phái Thiên thai
diễn thuật ra.
Ta nghị luận rằng:Ngài Pháp Sư làm ra “Nhị khóa
hiệp giải hội bổn” đây là Ngài biết đạo chăng?
Vã luận: từ cái tâm nó vốn là bản thể chơn không, mà
biến hóa ra thành cái “ngoan không” là vì bởi cái
niệm bất giác (mê); rồi từ nơi “ngoan không” là vì
bởi cái niệm bất giác (mê); rồi từ nơi “ngoan không”
đó lại thành lập ra thế giới; đã có thế giới rồi lại
phát sanh ra vạn vật.
Ðã có muôn loài sanh ra rồi, thì nhân tâm đều xu
hướng đến để nhiễm trước vào, mà bỗng nhiên chấp lấy
có cái “ta” làm chủ. Từ có cái ta rồ, thì với
tấtcả các pháp, không mộtpháp nào là không có cái ta
nó chấp đến, từ tầng, mỗi lớp mê hoặc nghiệp chướng
chát chồng, đều nhơn theo cái ta đó để phát sanh,
mỗi sự, từng vật, hiện tượng ngỗn ngang cũng do cái
ta đó mà huyễn hóa ra.
Ðấy là từ nơi cái cảnh giới “Không” mà chường
bày tiến đến cái cảnh giới “có”. Phật bảo
“tâm sanh chủng chủng pháp sanh” là vậy.
Lật lại nghĩa trên để xét thì cái ta tức là cái
người, ta tức là sự vật; ta tức là thế giới và ngoan
không; đến cả những gì cũng cứ so theo chánh nghĩa
đó để xét lại, tìm cho đến nơi bản thể chân không,
thì hẳn không có cái chi đáng gọi là cái “ta”
cả.
Với cả vũ trụ vạn hữu, đều không có cái chi đáng gọi
là ta rồi, mà còn có cái ta tự biết đó, thì “cái ta”
ấy nó hãy còn chưa thoát khỏi nơi cái ta cuả sanh
lão, bịnh tử bất quá nó cũng như cái biết chiêm bao
trong giấc chiêm bao của ông Trang Tử đã bảo thế
thôi.
Ðây là từ nơi các cảnh giới “có” mà tiêu dung hườn
lại cái cảnh giới “Không” Phật bảo “tâm diệt chủng
chủng pháp diệt” là thế.
Từ không mà tiến đến có, thì cách với đạo ngày một
đi xa lần; từ có mà lui lại không thì với đạo càng
ngày càng gần gũi sát.
Với nghĩa rằng “cách đạo một ngày một xa” đó, nó
cũng như nghĩa của câu “gọng xe thì hướng về phương
nam, mà lần dấu của bánh xe lại lăn qua phía bắc”,
nghĩa là đi cách xà lui.
Với cái lối hành động trái ngược như thế đó, há
không thể không có một phương pháp gì để chận ngăn
lại ư? Là cản lại không cho nó vọng hành như con Tơm
Tít bắn lùi.
Với nghĩa rằng “cùng đạo càng ngày càng gần” đó nó
cũng như nghĩa của câu “nấu nước sôi mà hóa làm hơi
bốc bay lên” nghĩa là bể trần lòng cạn bằng cách
diệt tâm thâu tâm, với cái lỗi phóng tâm như “trụ
sắc trần sanh tâm.....” tán loạn như thế, thì há
không thể không có một phương pháp gì để thâu liễm
lại ư? là chế tâm lại một chỗ không cho nó phóng
túng như như con khỉ, con vượn nhảy nhót.
Phương pháp ấy là gì?
Thưa rằng chỉ là 2 thời khóa tụng mai chiều đây vậy.
Vì rằng: có thời tảo khóa, thì với cảnh giới từ nơi
“không mà có” kia để làm tâm hơi; có thời mộ khóa,
thì với cái cảnh giới từ nơi “có mà không” đó, để
làm tin tức. Vậy cái tăm hơi ấy, cái tin tức ấy, đây
gọi là Ðạo chăng?
Ðạo lại có “thị đạo” có “phi đạo” là hai bề mặt và
trái. Với phi đạo mà cũng không một mơi , một chiều
nào khá rồi ra được đó, là vì nó cũng là cái đạo để
vào đạo, bởi nhờ có đó là phi, mới biết được đây là
thị.
Với cái đạo để vào Ðạo, nếu phi giải thích, thì
không dễ gì mỗi ai cũng đều rõ được. Tỷ như qua chỗ
nước lớn, tuy đã sẵn có ghe xuồng, nhưng không có
dầm chèo mà có thể khỏi được cái điều mùi mắt
thở than rằng khơi bể minh mông chăng!?
Từ bổn kinh “Nhị khóa hiệp giả hội bổn” nầy
ra đời, thì những nghĩa kín đáo của “nhị thời khóa
tụng” đều rõ ràng bày ra, không sót mảy giấu khuất,
dù là căn cơ người bực trung, trình độ người
lớp hạ, cũng đều thông hiểu được dễ dàng; chỉ cốt
một điều là cố gắng dày công lễ bái, trọn niệm
tụng tu, thì tự nhiên cái cảnh duyên phải dứt, cái
tâm vọng phải tan, một mảy trần chẳng dính bấm vì
xem “tâm minh cảnh” đâu phải như lòng gương hửu
hình, muôn hiện tượng đều không trơn, bởi biết “quả
bồ đề” nào phải như trái cây thực vật.
Ðạo ở tại đấy chăng? Hay là không ở nơi đó ư? Ta đây
là kẻ còn ngu dốt, đâu đã đủ trí để biết đặng! Song,
tâm ta vẫn tự tin chắc rằng sẵn có Ðạo ở tại đây mà
không ngờ, ấy là “Lời giải” của nhị thời khóa tụng
đây vậy. Ðã rõ được lời giải của nhị khóa rồi, thì
biết rằng lời giải nhị khóa đó, là phi giải nhị khóa
vậy đâu,mà là giải cái đạo vào Ðạo vậy.
Ðành rằng với đạo không thể giải, mà với cái đạo vào
Ðạo chẳng khá dùng chẳng giải được, đấy là chỗ khổ
tâm của Ngài Pháp Sư đối với việc tác thuật nầy
vậy.
Trong đời có kẻ hỏi thăm đường đạo nầy, thì ắt phải
từ nơi cái đạo vào Ðạo mà vào chờ nghi. Mà ai là
người muốn từ nơi cái đạo vào Ðạo để đi vào, thì hơn
nữa là ắt phải từ nơi cái đạo vào Ðạo là chỗ của
Ngài Pháp Sư hiệp giải đó để vào chớ có nghi ngờ gì
nữa.
Nếu biết rằng: Cái đạo vào Ðạo mà Pháp Sư giải ra
đó, nó ở tại đây; ngay như cái đạo vào Ðạo mà phi
ngài Pháp sư giải đó, nó cũng ở tại đây, là vì chẳng
phải ngài Pháp Sư chỗ giải cái đạo vào Ðạo ở đây.
Cho nên biết rằng: Cái đạo mà chẳng phải đạo vào Ðạo
của ngài Pháp Sư đã giải, cùng với cái đạo mà chăng
chẳng phải đạo vào Ðạo của ngài Pháp Sư đã giải,
cũng đâu chẳng ở đây; vì Ðạo thì không đâu là không
ở, mà không nhứt định ở đâu, kêu bằng phi nội, phi
ngoại, vô thỉ, vô chung bất sanh, bất diệt, vô lai,
vô khứ.
Pháp sư ngài dư biết cái ý chỉ đó rồi; bởi
thế, với tôi thì toi lẳng lặng có chỗ cảm đến, rổng
rang có chỗ nghĩ đến, hình như chẳng tự biết trí lực
của mình còn kém lắm, vừa nhận thấy thấp thoáng, mập
mờ, mà dám làm lời tựa, và vội bàn đến cái tiêu tức
của pháp môn, để dạy người có Ðạo sau nầy.
Bấy giờ nhằm năm Quý Sửu (1913) tháng trọng động,
ngày mười sáu, núi Oác Chầu (tại huyện Tân xương,
tỉnh Chiết giang) họ Tịnh Hư, tên Du Hằng, soạn tựa
nầy.
|