Nhị Khóa Hiệp Giải
(Thời khóa tụng
khuya và thời khóa tụng chiều)
Chú giải:
Ngài Quán
Nguyệt
Dịch giả:
HT Thích Khánh Anh
Chương 6:
ThẬp
nguyỆn PhỔ HiỀn - PhỤ chú thích - Tam quy
Mười nguyện lớn nhất của đức Phổ Hiền Bồ Tát.
Kinh Hoa Nghiêm,
phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện chép rằng: “lúc bấy giờ,
đức Phổ Hiền Bồ Tát ma ha tát, sau khi xưng tụng
công đức tối thắng của Phật rồi, rao bảo cùng các
đức Bồ Tát và thiện tài rằng: thiện nam tử! đối với
công đức của Như lai, ví dẫu tất cả chư Phật ở
mười phương, trải qua nhiều kiếp bằng số “bất khả
thuyết, bất khả thuyết Phật sát cực vi trần” để tiếp
tục nhau nói mãi đi nữa, cũng chẳng thể nói công đức
ấy! Nếu người muốn trọn nên công đức đó, thì chỉ nên
tu mười thứ hạnh nguyện rộng lớn như sau v.v...
Lại sau mười nguyện
có bài nói rằng: nếu có thiện nam tín nữ, lấy
cả bảy thứ quý báu nhứt, tốt đẹp nhét đầy nhẫy trên
tất cả thế giới ở mười phương bằng số “vô
lượng vô biên bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát
cực vi trần” và lấy cái phước tối thắng an lạc của
loài người, loài trời đều đem ra bố thí cho chư
Phật, Bồ Tát bằng số bấy nhiêu tất cả thế giới, mà
bố thí luôn trải qua nhiều kiếp bằng số. Bấy nhiêu
“Phật sát cực vi trần” vẫn tiếp tục bố thí mãi không
ngớt, người thí chủ ấy sở đắc công đức nhiều quá sức
tưởng tượng như thế kia, cũng chả bằng công đức như
thế này:
Ðối với mười nguyện
chú ấy, nếu có người chỉ một phen nghe lọt vào tai,
mà sở đắc công đức quá ư rất nhiều, đến vô số kể.
Ðem so với trên thì công đức của bố thí kia, chẳng
kịp một phần trăm, chẳng kịp một phần ngàn...nhẫn
đến cũng chẳng kịp một phần ưu ba ni sa đà.
Hoặc lại có người
đối với nguyện lớn ấy, đem cái tâm tin sâu, để
thụ trì đọc tụng, nhẫn đến viết chép ít nhứt là một
bài kệ bằng bốn câu, thì chóng dứt trừ được
cái tội nghiệp của địa ngục ngũ vô gián, ngoài
ra với hết thảy các chứng bịnh, mọi điều chướng nạn
đâu chẳng trừ diệt ráo (bài kệ bốn câu, là tức như:
“sở hữu thập phương thế giới trung, tam thế nhứt thế
nhơn sư tử, ngã dĩ thanh tịnh thân ngữ ý, nhứt thé
biến lễ tận vô dư vv.v....)
Lại nói: chỉ có
nguyện vương (vua nguyện; nguyện lớn nhứt ) đây,
chẳng rời bỏ nhau với người xấp xả thân qua đời, với
mỗi giờ phút, nguyện ấy nó dẫn đường đi trước, chỉ
trong một sát na, người được liền sanh qua thế giới
cực lạc; tới rồi, liền được yết kiến đức A Di Ðà
Phật, và các đức; Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế
Chí cả đến các đức Ðại Bồ Tát, ngài nào cũng đủ sắc
tướng đoan nghiêm.
“Lại tự thấy thân
mình trong hoa sen sanh ra, nhờ Phật thụ ký, từ đấy
về sau trải lâu vô số kiếp, đi khắp giáp thập phương
thế giới để làm việc ích lợi cho chúng sanh. Người
ấy chẳng bao lâu nữa, sẽ ngồi chốn đạo tràng, thành
quả đẳng chánh giác, chuyển diệu pháp luân, kêu là
thuyết pháp độ sanh” mười nguyện chúa như dưới đây:
Nhứt giả lễ kính
chư Phật:
Nguyện thứ nhứt đây là “kính lạy các đức Phật”
Bổn văn (là nguyên
văn phẩm hạnh nguyện kinh Hoa Nghiêm) nói: rằng kính
lạy các đức Phật đó, là có những bao hết cõi pháp,
cõi hư không, trong đó, cả mười phương ba đời đời
các đức Phật Thế Tôn bằng số “nhứt thế Phật cát cực
vi trần: tất cả cõi Phật nhiều như những hột bụi cực
nhỏ”, nay tôi nhơn theo danh nghĩa nguyện lực của
đức Phổ Hiền, đem lòng rất thâm thiết tin hiểu,
trông chư Phật như đối trước mắt, hẳn dùng ba nghiệp
thân khẩu ý đều thanh tịnh, để được thường tu việc
kính lạy. Nghĩa là: đối với mỗi mỗi đức Phật đều
hiện ra nhiều mỗi mỗi thân bằng số “bất khả thuyết
bất khả thuyết Phật sát cực vi trần”; mỗi mỗi thân
khắp lạy chư Phật nhiều bằng số “bất khả thuyết Phật
sát cực vi trần”, cứ vẫn tu lạy như thế, chừng nào
cõi hư không hết, tu lạy của tôi mới hết, còn như
cõi hư không chẳng hết, thì tu kính lạy của tôi đây
cũng không có lúc nào cùng tận, cũng như thế: bao
giờ cõi chúng sanh hết, nghiệp chúng sanh hết, phiền
não của chúng sanh hết, thì chừng đó cái tu nguyện
lạy của tôi mới hết mà nếu như thế giới của chúng
sanh chưa hết, thì cái nguyện lễ kính của tôi đây
cũng chưa có cùng tận. Với lòng tin tưởng lạy Phật
đây, mỗi niệm liền nhau không hề gián đoạn cả đến ba
nghiệp là ý tưởng, miệng xướng, thân lạy vẫn không
nhàm chán.
Lễ: noi theo, hay
thể theo, để thật hành cái nguyện kính lễ. Nghĩa là
khi lễ kính, ta phải mỗi niệm đưa lòng tưởng, xét đi
sâu vào cái thể pháp giới, mới gọi là chơn lễ. Lại
nữa, ta là bên năng lễ năng kính, còn chư Phật
là bên sở lễ sở kính. Năng lễ năng kính là thuộc về
tâm, sở lễ sở kính là thuộc về cảnh chư Phật bị ta
lạy là sở lễ. Mà năng lễ sở lễ cái tánh nó vẫn đều
vắng trống, thì ra, hiện tiền đây, thân tâm của ta
dù là thứ giả dối, chứ cái tánh năng lễ sở lễ nó
không hề hư vọng, vì là thể nó trống vắng, mà tánh
nó đồng một thể viên mãn với thân tâm của chư Phật.
Tỷ như cái không này nhập chung với cái không kia,
lẽ cảm ứng lẫn nhau bằng cách viên mãn dung vô ngại,
bất khả tư nghì, thế mới chánh rằng chân lễ.
Nhị giả xưng tán
Như lai
Nguyện thứ hai là khen kính đức Như Lai
Bổn văn chép rằng
xưng tán Như lai như thế này: có những bao nhiêu tột
hết cõi pháp, cõi hư không, ngang giáp mười phương,
dọc suốt ba đời, tất cả cõi nước, trong đó có những
bao nhiêu mảy trần nhỏ nhứt, trong mỗi mỗi mảy trần
đều có các đức Phật nhiều bằng những số mảy trần nhỏ
nhứt giữa tất cả thế gian; những chỗ của mỗi mỗi đức
Phật, đều có hàng cả biển hội Bồ Tát đoanh vây bao
vòng nơi mỗi Phật. Tôi sẽ trọn dùng cái sức thấy
biết hiện tiền rất sâu biển hơn, đều dùng hiện
ra cuống lưỡi hơn cuống lưỡi vi diệu của biện tài
thiện nữ, mỗi mỗi cuống lưỡi đều thốt ra vô cùng
biển âm thinh, mỗi một âm thinh thuyết ra tất cả
biển ngôn từ, để tỏ bày khen ngợi các biến công đức
của tất cả Như lai, tán dương như thế tột qua đời vị
lai, cũng vẫn tiếp tục khen ngợi mãi chẳng dứt, cùng
cả cõi pháp, đâu chẳng khắp giáp đến để xưng dương
tán thán. Cứ khen tặng như thế luôn, chừng nào cõi
hư không hết, cõi chúng sanh hết, nghiệp chúng sanh
hết, phiền não của chúng sanh hết, thì bấy giờ cái
nguyện xưng tán của tôi mới hết. Nếu cõi hư
không....cho đến các phiền não của chúng sanh chưa
hết, thì cái nguyện tán thán của tôi cũng
không bao giờ hết. Mỗi niệm nối nhau chẳng dứt, ba
nghiệp là thân, khẩu, ý thường tu tán thán hoài
không biết nhàm mỏi.
Ðối với Phật đủ
công đức bất khả tư nghị, người tu nguyện xứng
tán....ít nhứt một lời đẻ khâm khen, thì công đức
của người ấy, còn chắc sẽ thành Phật thay, huống chi
là người thường thường tu những lời xưng tán.
Kính Pháp Hoa chép
lời Phật dạy: “Hoặc đem tâm hoan hỷ, để xưng tụng
công đức của Phật, như ca ngâm hay xưng tán.
Những người ca tán để khen Phật với giọng cao hay
trung bình, cùng ít nhứt là một tiếng nhỏ, những
người ấy đều đã đương, sẽ được thành Phật đạo “.
Tam giả quảng tu
cúng dường
Thứ ba là nguyện “tu rộng làm việc cúng dâng
Bổn văn chép “rằng:
quảng tu cúng dường là rộng cùng tột hết cõi pháp,
cõi hư không, ngang giáp mười phương, dọc suốt ba
đời, trong tất cả cõi Phật nhiều như những hột cực
vi trần, mỗi một hột bụi, đều có chư Phật rất nhiều
bằng số cực vi trần giữa tất cả thế giới, mỗi một
chỗ Phật có nhiều biển hội Bồ Tát bao quanh Phật,
tôi nhơn danh lấy sức hạnh nguyện đức Phổ Hiền, để
dấy cái tri kiến hiện tiền tin hiểu thật sâu và dùng
các món đồ vật tốt nhất để cúng dường, như là: hoa,
tràng bông, âm nhạc trời, tàn lọng trời, y phục
trời..., mỗi món đếu tốt nhứt như mây ùn ùn dương
lên; mỗi món hương đều tốt nhứt, như: hương thoa,
hương xông, hương bột. Các món hương tốt nhứt như
mây đây, mỗi món lượng bằng núi chúa Tu di; đốt
nhiều thứ đèn, như là: “Tô đăng (là đèn một chân có
tám ngọn đốt cúng trên bàn Phật, khi tụng thần chú)
“Du Ðăng” (là đèn thắp bằng dầu của các thứ trái,
củ, hột, ép ra); và đốt đèn bằng các thứ dầu thơm,
mỗi ngọn đèn lớn như núi Diệu cao; mỗi ngọn đèn chứa
dầu như nước biển lớn. Tôi dùng tất cả các món đồ
như thế, để thường làm vật cúng dường”.
Ðức Phổ Hiền kêu
Thiện Tài bảo: Thiện nam tử! Trong các món cúng
dường, duy có “pháp cúng dường” là tối thắng hơn
hết. Nghĩa là: giữ đúng như lời Phật dạy mà tu hành
là cúng dường; làm ích lợi cho chúng sanh là cúng
dường; thâu nạp chúng sanh là cúng dường; siêng tu
căn lành; là cúng dường chẳng rời hạnh nghiệp
của Bồ Tát tức là pháp cúng dường; chẳng lìa tâm bồ
đề tức là pháp cúng dường.
Thiện nam tử! với
vô lượng công đức của các món cúng dường như trước
kia, đem so với công đức chỉ trong một niệm của pháp
cúng dường đây, thì trăm phần công đức kia chẳng
bằng một phần công đức nầy; cho đến: trăm ngàn lần
ức, trăm ngàn lần triệu, trăm ngàn lần một phần trăm,
trăm ngàn lần một phần toán, trăm ngàn lần một phần
số, trăm ngàn lần một phần dụ, trăm ngàn lần một
phần ít nhứt, cũng đều chẳng bằng một phần công đức
pháp cúng dường. Do cớ sao?
Bởi vì các đức Như
Lai đều tôn trọng pháp; bởi vì tu hành đúng như lời
nói mới sản xuất ra chư Phật. Nếu các Bồ Tát cúng
dường theo cách thật hành pháp, thì đắc thành tựu
cúng dường Như lai. Tu hành như thế mới thật là cúng
dường.
Nên với cái nguyện
tu cúng dường quảng đại tối thắng nầy, bao giờ cõi
hư không hết, cõi chúng sanh hết, nghiệp chúng
sanh hết, phiền não chúng sanh hết, thì cái nguyện
tu cúng dường của tôi mới hết; còn nếu cõi hư
không...đến phiền não chưa hết, thì cái nguyện tu
cúng dường của tôi cũng chưa hết. Vậy cái nguyện tu
cúng dường, mỗi niệm nối nhau không hề gián đoạn, ba
nghiệp thân, khẩu, ý, mới không có chán mỏi.
Kinh Pháp Hoa nói
“thật cúng dường, là gọi đúng pháp cúng dường Như
Lai”. Nếu hay tùy dâng lên một trần nào giữa 6 trần
(sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp), thì tất cả pháp
cũng đều đến tập trung nơi trần, cái đến tập trung
như thế là pháp nào cũng chẳng khỏi trần, thì mỗi
trần nào mỗi trần nấy cũng đều có thể lẫn khắp với
nhau, đó là tu cúng dường bằng lẽ duy tâm, chính tức
là pháp cúng dường”.
Lại, Kinh Pháp Hoa
nói: “trước Chùa Tháp, tượng Phật bằng cốt báu hay
tượng vẽ,mà người có lòng thành kính, đem hương,
hoa, tràng phan, bửu cái để cúng dường...người ấy sẽ
thấy được nhiều Phật, rồi được thành đạo quả vô
thượng.
Tứ giả sám hối
nghiệp chướng
Thứ tư là nguyện “sám hối nghiệp chướng”
Bổn văn nói rằng:
“Sám hối nghiệp chướng, là Bồ Tát tự nghĩ lại mình
như vầy: “Từ vô thỉ về thời quá khứ, ta do nơi ý
thức dấy động tham lam, sân hận, si mê, rồi miệng
thốt, thân hiện hành, tạo tác mười điều ác nghiệp
(thân tam: sát, đạo, dâm; Khẩu tứ: vọng ngôn, khỉ
ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu: ý tam: tham, sân, si) dần
dần gây nhân ác nhiều đến vô lượng vô biên. Nếu
những ác nghiệp ấy có hình tướng thì cả cõi hư không
cũng chẳng thể dung chứa hết đặng! Vì ác nghiệp vô
hình, vô tướng con người không để ý sợ mà vẫn cứ làm
hoài.
Tôi nay đều chuyên
lấy ba nghiệp thanh tịnh để khắp đến trước tất cả
chư Phật và chư Bồ Tát chúng trong pháp giới nhiều
bằng số cực vi trần, mà thành tâm xin sám hối hết
thảy những tội ác nghiệp đã lầm lỡ gây từ trước, và
thề rằng từ đây về sau không dám tạo ác nữa, để hằng
giờ an trụ nơi tịnh giới, lo làm tất cả công đức.
Với cái nguyện tu
sám hối như thế, chừng nào cõi hư không nầy hết, cõi
chúng sanh nầy hết, chúng sanh nầy hết ác nghiệp,
chúng sanh nầy hết phiền não, thì chừng đó, cái
nguyện sám hối của tôi mới hết; mà nếu như cõi hư
không nầy, cho đến chúng sanh nầy chưa hết phiền
não, thì cái nguyện tu sám hối của tôi cũng không
cùng tận; mỗi niệm vẫn tu sám hối mãi không hề gián
đoạn, cả thân, khẩu, ý ba nghiệp thường cần tu sám
hối luôn, không hề chán nãn.
Sám
là sám kỳ tiền khiên, nghĩa là rửa sạch, trừ hết
tiền khiên; hối là hối kỳ hậu quá, nghĩa là
ăn năn, kiêng cả hậu quá. Chính rằng: cải thiện lỗi
cũ, chẳng tạo lỗi mới. Có ba cách sám hối sẽ thấy rõ
ở văn đại sám hối (là văn hồng danh bửu sám nghi
thức)
Hối: Riêng về hối
có năm cách hối 1/ sám hối, 2/ khuyến thỉnh 3/ tùy
hỉ 4/ Hồi hương 5/ Phát nguyện mà thường gọi là ngũ
hối.
Nghiệp có ba: Thân
nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp. Ba nghiệp của cái
thân là: giết hại, trộm cướp, dâm dục. Bốn nghiệp
của cái miệng là: nói láo, nói thêm, nói hai lưỡi,
nói thô ác. Ba nghiệp của ý thức là: Tham lam, sân
hận, si mê; ấy gọi là thập ác. Trái loại thì bảo là
thập thiện. Nay ở đây nói rằng thanh tịnh tám nghiệp
là mười điều lành của pháp tánh.
Chướng có ba: Báo
chướng, nghiệp chướng, và phiền não chướng, kẻ tu
Phật phải biết rằng: nghiệp chướng vẫn vô
hình, vô tướng, và tội với phước cũng đều vô chủ.
Nghĩa là chẳng nhứt định riêng có ông nào làm chủ tể
để xả tội hay ban phước cho ta được đâu? Mà nguyên
lai là chính tự ta làm chủ lấy để tự mình làm tội
thì có tội, làm phước thì có phước, mà ta có làm thì
nó có, ta không làm thì nó cũng không có. Có không
đều tự nơi ta, thân ta không làm ác, khẩu ta không
nói ác, ý ta không tưởng ác, tức nhiên cũng không ta
làm chủ tội ác nữa; thế ý niệm đã mất tội tánh cũng
diệt; tâm tội đều không vẫn hoàn không; sám hối phải
xét rõ như thế, mới đúng nghĩa chơn sám hối.
Ngũ giả tùy hỷ
công đức
Thứ năm là tu cái nguyện “tùy hỷ công đức”
Bổn văn nói rằng:
“Tùy hỷ công đức, là có bao nhiêu đức Phật Như Lai
nhiều bằng số như những hột bụi nhỏ nhứt trong tất
cả cõi nước Phật, dọc suốt ba đời, ngang giáp mười
phương tột hết pháp giới, cùng hư không giới, vì
“nhứt thế trí” mà nguyên chư Phật Như Lai kia, từ
mới phát tâm siêng tu phước đức trí huệ, chẳng
tiếc thân mạng, tu như thế đó trải qua nhiều kiếp
bằng những hạt bụi cực kỳ nhỏ tí trong những cõi
Phật số bất khả bất khả thuyết; với trong mỗi mỗi
kiếp đó, chư Phật Như lai đã hy sinh những đầu, mắt,
tay chơn rất nhiều bằng con số bất khả thuyết; bất
khả thuyết Phật sát cực vi trần, các ngài tu tất cả
các khổ hạnh mà người đời khó làm được như thế, nên
các ngài đã viên mãn được món pháp môn (thành phần
nhiều khoa) Ba la mật, để chứng vào mỗi mỗi bực trí
huệ của Bồ Tát, nhiên hậu mới thành tựu quả vô
thượng bồ đề của chư Phật, và sau khi vào niết bàn,
chia của xá lợi ra làm cho nhiều nơi, nhiều đời làm
kỷ niệm. Vậy với chư Phật Như lai đã có bao thành
tích thiện căn, tôi nguyện đều tùy hỷ noi gương làm
theo.
Và với tất cả chủng
loại giữa tứ sanh, lục thú trong hết thảy thế giới
mười phương kia, các chủng loại ấy đã có làm nên bao
công đức. Từ ít đến nhiều, nhẫn đến việc lành nhỏ
nhứt bằng hột bụi, tôi cũng sẵn lòng tùy hỷ theo, là
lấy làm vui mừng, tán thành, để chúng làm nên công
chuyện.
Ðối với hết thảy
các thánh từ bực hữu học đến bực vô học là các đức
Thanh Văn và Duyên giác, dọc suốt ba đời, ngang giáp
mười phương. Các đức ấy đã có được bao nhiêu công
đức, tôi điều cũng xin tùy hỷ kính mừng theo.
Ðối với hạnh khổ
khó làm mà tất cả các đức Bồ Tát đã làm để cầu chứng
lên quả bồ đề vô thượng chánh giác. Công đức ấy quá
rộng lớn của Bồ Tát. Tôi cũng nguyện tùy hỷ tu theo.
Nguyện tu tùy hỉ
như thế, mãi chừng nào cõi hư không nầy hết, cõi
chúng sanh nầy hết, nghiệp chúng sanh nầy hết, phiền
não chúng sanh nầy hết, chớ cái tâm nguyện tu tùy hỷ
của tôi đây, không bao giờ cùng tận, mỗi niệm tiếp
tục luôn, không có xen hở, cả ba nghiệp, thân, khẩu,
ý vẫn thường siêng tu hoài hoài, không dám bi quyện
hay chán nản.
Hễ là thấy ai, hoặc
lạy Phật, tụng kinh, làm các việc công đức bất luận
lớn hay nhỏ, và thấy ai làm việc công quả...ít nhứt
như là gánh nước, quét nhà, tôi cũng đều kính phục
tùy hỷ, thì ai như tôi sẽ được công đức vô lượng.
Lục giả thỉnh
chuyển pháp luân
Thứ sáu là tu cái nguyện “Mời Phật nói pháp”
Bổn văn chép rằng:
mời Phật nói pháp, là có những tột cõi pháp cõi hư
không mười phương ba đời tất cả cõi Phật, trong
những hột bụi hết sức nhỏ, mỗi mỗi đều có những cõi
Phật rộng lớn nhiều như số những hột bụi rất nhỏ
trong các cõi Phật bằng số bất khả thuyết bất khả
thuyết; đó là lẽ rằng cái lớn, phần nhiều nó không
rời nhau với cái nhỏ, phần ít, mà cái nhỏ, phần ít
nó cũng không lìa nhau với cái lớn, và phần nhiều,
kêu bằng nhứt đa vô ngại, đại tiểu tương dung. Trong
mỗi một cõi Phật, niệm nào niệm nấy đều có những con
số chẳng khá nói chẳng khá nói cõi Phật nhiều như
những hột bụi rất bé tí, trong những cõi ấy đều có
tất cả chư Phật đã thành bực đẳng chánh giác, có tất
cả biển hội Bồ Tát đương quây quầng chung quanh
Phật, mà tôi thì tôi dùng ba nghiệp thân khẩu ý
thanh tịnh, mỗi pháp phương tiện, để nong nã khuyên
thỉnh chư Phật chuyển diệu pháp luân.
Nguyện tu khuyến
thỉnh như thế, mãi đến chừng nào cõi hư không hết,
cõi chúng sanh hết. Nghiệp chúng sanh hết, phiền não
chúng sanh hết, nếu những ấy chưa hết, thì tôi cũng
chưa hết cái nguyện thường khuyến thỉnh tất cả chư
Phật chuyển chánh páhp luân. Mỗi niệm tiếp nhau
chẳng có gián đoạn, cả thân khẩu ý ba nghiệp thường
khuyến thỉnh, không có mỏi chán.
Chữ Chuyển là tiếng
nói pháp từ miệng Phật chuyển đem lọt vào lỗ tai của
chúng sanh: liền khiến cho y theo giáo mà dấy ra
hành, để cách mạng phàm tình tập thành thánh trí, tỷ
như bánh xe nó triển chuyển. Bởi vì hễ pháp luân
thường chuyển thì, chúng sanh thường được ly
khổ, chỉnh với kẻ thiếu phước ít duyên, nên với Phật
pháp nó khó nghe qua hiểu liền, vì vậy mà tôi
phải cần kíp khuyến thỉnh.
Thất giả thỉnh Phật
trụ thế
Thứ bảy là nguyện
“xin Phật ở nán lại cõi thế gian này”.
Bổn văn nói rằng:
thỉnh Phật trụ thế, là có chư Phật nhiều bằng số
những hột bụi cực vi trong tất cả cõi Phật ba đời
mười phương tột hết các cõi pháp giới hư không, sắp
muốn hiện ra cái tướng nhập diệt, và các thánh: Bồ
Tát, Thanh văn, Duyên giác, bực hữu học, bực vô học,
nhẫn đến tất cả các đấng Thiện tri thức, vị nào muốn
sẽ nhập diệt, tôi đều khuyến thỉnh chớ vội vào Niết
bàn, xin ở nán lại trải qua kiếp số cực vi
trần trong nhứt thế Phật sát, để được lợi lạc cho
tất cả chúng sanh. Như thế, cõi hư không hết, cõi
chúng sanh hết, nghiệp chúng sanh hết, phiền não của
chúng sanh hết, chứ cái nguyện cầu Phật và các Thánh
ở đời của tôi không có cùng tột mỗi niệm tiếp tục
luôn, chẳng có gián đoạn, thân khẩu ý ba nghiệp cũng
không chán mõi.
Phật pháp
xuất hưng ở đời, tỷ như ánh mặt nhựt chiếu xuống thế
gian; những thời không Phật ra đời, tỷ như đêm dài
quá tăm tối; từ kiếp tối tăm này vào đến kiếp tăm
tối nọ, tiếp tục tạo ác mãi, đi sâu vào tam đồ! Ðối
với thời có chư Phật ra đời, cách bức xa xuôi thật
là khó gặp! Tỷ như hoa ưu đàm, hằng ba ngàn năm mới
một phen trổ hiện; chính như toàn quốc xá vệ có chín
ức nóc nhà: mà có ba ức nhà được thấy Phật, ba ức
nhà chỉ vừa mới nghe được danh, còn ba ức nhà kia
đều chưa được nghe đến cái tên Phật là gì? Vậy chúng
ta cần kíp khuyến thỉnh các đức thánh hiền nãn
ở lại đời, cho chúng sanh được nghe thấy.
Bát giã thường tùy
Phật học
Thứ tám là nguyện
“thường theo Phật để học”
Bổn văn chép rằng:
thường theo Phật học là chính như tại thế giới ta bà
đây, nguyên đức Phật Tỳ Lô Cha Na Như Lai từ ban sơ
mới phát tâm xuất gia tu học cho đến thời chứng quả,
trong khoảng giữa cực kỳ dài dẳng, vì trải qua nhiều
đời kiếp, vẫn một tâm tinh tiến chẳng lui, đã đem
những thân mạng nhiều bằng số bất khả thuyết bất khả
thuyết để làm hạnh bố thí đặng mà cầu học, như là:
xã thân làm tọa ngồi, khoét thân làm đèn, trải tóc
Phật bước lên tòa, cho đến lột da làm giấy, chẻ
xương làm bút, chích máu làm mực, để biên kinh sách
chât như núi cao, chính vì trọng pháp bảo để cầu
học, mà chẳng tiếc thân mạng. Ðó, rất đổi thân
mạng là món chi trọng hơn hết mà còn chẳng tiếc
huống chi những món bên ngoài là: ngôi vua, kinh
thành, tỉnh ấp, làng mạc, cung điện, thượng uyển,
sơn lâm và nhứt thiết vật sở hữu gì gì nữa. Ngoài ra
còn tu hành mỗi mỗi hạnh khổ mà không ai làm được
nhẫn đến lúc ngồi bên gốc cây Da lông đồ, thành quả
đại bồ đề; bấy giờ Phật thị hiện ra mỗi mỗi phép
thần thông, phát khởi lên mỗi mỗi cách biến hóa,
hiện bày ra mỗi mỗi ứng thân, tổ thành ra mỗi mỗi
chúng hội. Như là: hoặc ngài chủ tọa nơi đạo tràng
chúng hội của tất cả chư đại Bồ Tát; khi thì chủ tọa
ở đạo tràng chúng hội của các thánh Thanh văn và
Bích Chi Phật; lúc thì chủ tọa ở đạo tràng chúng hội
của đức Chuyển luân Thánh Vương và các vua nước nhỏ
cả đến quyến thuộc của hoàng thân quốc thích; hồi
thì chủ tọa ở đạo tràng chúng hội của các dòng sát
lợi, dòng Bà la môn, cả trưởng giả cư sĩ; nhẫn đến
có thuở chủ tọa ở đạo tràng chúng hội của Trời, rồng
cả tám bộ thần Hộ pháp và các vị Nhơn Phi nhơn là
quỷ thần.
Phật chủ tịch ở mỗi
mỗi chúng hội như thế, là để dùng pháp âm viên mãn
như đại lôi chấn, tùy theo mỗi căn cơ cũng như
trình độ ham thích, mà huấn luyện cho chúng được
thành thục, nhẫn đến khi ngài thị hiện vào Niết bàn;
như thế với những việc Phật đã làm kể trên, tôi
nguyện đều theo tu học, như đức Lô Cha Na Thế Tôn
vừa nhập diệt rồi ở kiếp thứ chín này vậy.
Như thế, tột cả cõi
pháp, cõi hư không mười phương ba đời tất cả cõi
Phật, trong đó có những số vi trần bao nhiêu là
những số Như lai cũng bấy nhiêu, tôi nguyện đều theo
học các đức Như Lai ấy, với niệm nào niệm nấy vẫn
theo hầu luôn.
Theo hầu học như
thế, chừng nào dẫu cõi hư không hết, cõi chúng sanh
hết, nghiệp chúng sanh hết, phiền não chúng sanh
hết, chứ cái nguyện theo Phật để hầu học của tôi
không có tội hết, mỗi niệm tiếp tục chẳng hề gián
đoạn, cả thân khẩu ý ba nghiệp siêng học không dám
mỏi chán.
Như đã trãi quả
nhiều kiếp đến nay, đức A nan đà vẫn làm kẻ thị giả
hầu Phật, chẳng chỉ một đức Khánh hỷ, mà đến cả các
vị đệ tử lớn kia của Phật cũng đều thế ấy. Như thế
dầu chẳng phải là vì chúng sanh như mình, mà phải
phát nguyện tiếp tục trải qua nhiều kiếp để theo hầu
học với chư Phật, mà vì lẽ phải cốt yếu lo tự giác
giác tha, và tự lợi lợi tha vậy.
Cửu giả hằng thuận
chúng sanh
Thứ chín là nguyện
“thường chấp thuận việc cầu của chúng sanh
Bổn văn nói rằng:
Hằng thuận chúng sanh là tột hết pháp giới hư không
giới, mười phương cả sát hải (thủy và lục) có những
chúng sanh mỗi mỗi sai khác, như là: loài noãn sanh,
loài thai sanh, loài thấp sanh, loài hóa sanh; có
loài nương nơi đất, nước, lửa, gió để ở và sống; có
loài nương hư không, các lùm cây để ở và sống; mỗi
mỗi sanh loại, mỗi mỗi sắc thân, mỗi mỗi hình trạng
mỗi mỗi tướng mạo sắc thân, mỗi mỗi hạn lượng tuổi
sống, mỗi mỗi dòng dõi giống loài, mỗi mỗi tên hiệu,
mỗi mỗi tâm tánh, mỗi mỗi biết thấy, mỗi mỗi ưa
muốn, mỗi mỗi ý nghĩ ra làm mỗi mỗi cách đi đứng nằm
ngồi, mỗi mỗi kiểu bận áo quần, mõi mỗi thức ăn
uống, ở nơi mỗi mỗi: thôn dã, doanh thự, làng mạc,
thị thành, tỉnh ấp, phủ huyện, nhứt là cung điện,
nhẫn đến tất cả vua Trời, vua Rồng, tám bộ thần Hộ
pháp, nhơn phi nhân là các vị quỷ thần này tuy hình
tướng giống người mà trên đầu có sừng. Các loài:
không cẳng, hai giò, bốn chơn, nhiều chơn, có sắc
thân như loài người và trời ở cõi dục giới và trung
gi ới; không có sắc thân như các trời ở cõi không
xứ, vì chỉ lấy bốn lần làm thân; loài hữu tưởng là
các trời có tư tưởng ở ba giới; loài vô tưởng là các
trời ở cõi phi tưởng phi phi tưởng; và các trời ở
cõi vô tưởng thiên tại tắc giới, vì sanh ở cõi này
trong khoảng thời gian 500 kiếp lớn trụ vào cái định
vô tâm, bởi dùng định lực đè nhẹp cái ý thức. Loài
phi hữu tưởng phi vô tưởng (theo danh từ của cựu
dịch, còn tân dịch gọi là phi tưởng phi phi tưởng
thiên; các trời này không có phiền não thô tưởng như
mấy trời ở các cõi dươi snên gọi là phi hữu tưởng;
và gọi là phi tưởng hay là phi phi tưởng. Bởi cái lẽ
“Phi hữu tưởng” nên chúng ngoại đạo lấy chỗ nầy làm
cảnh chơn Niết bàn; bởi vì lẽ “Phi vô tưởng” nên
Phật biết chỗ trời nầy còn là cái cảnh sanh
tử).
Ðối với các loại
chúng sanh nào tâm lý, nào hình thức mỗi mỗi sai
khác nhau như trên, tôi đều tùy thuận theo sát cánh
để mà dần dần day trở, mỗi cách vâng thờ, mỗi cách
cúng dàng, kính như cha mẹ, như vâng Sư, Trưởng, và
A la hán, nhẫn đến cũng không khác với cách mà tối
kính thờ các đức như lai. Nghĩa là: Tôi vì các chúng
bịnh khổ, mà làm bác sĩ....tôi vì các chúng lầm
đường, mà làm chánh lộ đạo sư.....tôi vì các chúng
vô minh trường dạ, mà làm đuốc huệ đèn từ...tôi vì
các chúng bần cùng cơ cẩn, mà khiến đặng kho báu của
chôn...hành Bồ Tát đạo là hy sinh tấm lòng bình đẳng
như thế để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, thì
tức là tùy thuận cúng dường chư Phật; đối với chúng
sanh, nếu Bồ Tát đều tôn trọng vâng thờ thì, tức là
tôn trọng vâng thờ các đức Như lai. Nếu làm cho
chúng sanh nảy lòng hoan hỷ, thì khiến cho tất cả
Như lai cũng đều hoan hỷ, vì sao? Các đức Như lai
đều dùng tâm đại bi làm thể bởi vì: nhơn nơi chúng
sanh bị khổ, mà Như Lai dấy lòng đại bi; nhơn nơi
lòng đại bi mà phát bồ đề tâm; nhơn nơi tâm bồ đề mà
thành bực chánh giác.
Ví như đồng ruộng
mênh mông, giữa vùng sa mạc có một cây lớn nhất, nếu
dưới rễ nó hấp dẫn được nước, thì nhánh lá bông trái
đều rậm tốt. Giữa đồng ruộng sanh tử, có cấy chúa bồ
đề cũng lại như thế: tất cả chúng sanh là rễ cây,
chư Phật, Bồ Tát là hoa trái, lấy nước đại bi làm
lợi ích nhuần thấm cho chúng sanh, thì hay nên hoa
quả bằng trí huệ cho chư Phật, Bồ Tát vì sao?
Nếu chư Phật, Bồ
Tát lấy nước đại bi để nhuần ích cho chúng sanh, thì
các Ngài mới thành tựu được quả vô thượng chánh đẳng
chánh giác. Thế nên cây rễ bồ đề là thuộc về chúng
sanh, vì nếu không chúng sanh thì tất cả Bồ Tát rốt
không thể thành quả vô thượng chánh giác được.
Nói đến đó, đức Phổ
Hiền ngài kêu Thiện Tài để dạy tiếp rằng:
Thiên nam tử! đối với nghĩa trên, trò nên hiểu như
thế này: bởi vì tâm bình đẳng với chúng sanh, thì Bồ
Tát mới có thể thành tựu được tâm đại bi viên mãn;
bởi vì tâm đại bi tùy thuận với chúng sanh, thì Bồ
Tát mới thành tựu được nghĩa cúng dường Như lai,
nghĩa Bồ Tát tùy thuận chúng sanh như tế, dù đến
chừng cõi hư không hết, cõi chúng sanh hết, nghiệp
chúng sanh hết, phiền não của chúng sanh hết, chớ
với cái nguyện tùy thuận của tôi học theo bạn hiền
tôi đây không khi nào cùng tột, mỗi niệm tiếp tục,
không hề gián đoạn, cả thân khẩu ý, ba nghiệp đều
tùy thuận, không dám mỏi chân.
Hằng: thường, luôn
luôn. Chúng sanh là mọi loài ở chín cõi. Cửu
giới: chừa Phật giới, còn chín giới là: Bồ Tát,
Duyên giác, Thinh văn, các loài Trời, nhơn loại, các
thần A tu la, súc sanh giới, ngạ quỷ giới, địa ngục
giới; đối với Phật giới để nói thì chín cõi kia đều
là cảnh giới mê hoặc .
Thập giả phổ
giai hồi hướng
Thứ mười là nguyện “khắp đều hồi hướng”.
Bổn văn trong phẩm
Phổ Hiền hạnh nguyện của bộ Ðại phương Quảng Phật
Hoa Nghiêm kinh nói rằng: Phổ giai hồi hướng là kể
từ ban đầu tu nguyện lễ bái chư Phật....đến nguyện
tùy thuận chúng sanh có được bao nhiêu công đức thảy
đều xin hồi hướng cho tất cả chúng sanh trong cùng
tận pháp giới hư không giới, để nguyện cho tất cả
chúng sanh thường được an vui, không bịnh khổ; như
chúng muốn sắp làm điều ác thì khiến cho việc ấy đều
bất thành; còn với chỗ nghiệp lành, đều khiến cho
việc làm mau chóng nên. Ngăn đóng tất cả đường ngỏ
vào các ác thú như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; mở
bày ra những lộ chơn chánh như tám chánh đạo để đưa
loài người, loài trời, về cảnh Niết bàn. Nếu các
chúng sanh còn nhơn vì chứa chất bao ác nghiệp, mà
phải chịu lấy hết thảy quả khổ nặng nề, thì tôi đây
nguyện sẵn sàng thay chịu để cho chúng sanh kia đều
được giải thoát và đều thành quả vô thượng bồ đề.
Chỗ tu hồi hướng
của Bồ Tát như thế, dầu cõi hư không có hết, cõi
chúng sanh có hết, nghiệp chúng sanh có hết, và
phiền não của chúng sanh có khi hết, chớ cái nguyện
tu hồi hướng của tôi đây không khi nào hết được, mỗi
niệm tiếp luôn nhau không có gián đoạn, cả đến ba
nghiệp là thân khẩu ý vẫn tu hồi hướng luôn không
dám biết mỏi chán.
Tóm lại, nếu hay
phát hành mười thứ nguyện lớn trên đấy, thì mới có
thể thành thục cho chúng sanh, mới có thể sung mãn
được biểu nguyện của đức Phổ Hiền, và mới có thể
chứng được đạo Phật một cách viên mãn. Lại hay trừ
được những tội nghiệp nơi ngục ngũ vô gián, và hai
thứ bịnh ở thân và tâm; cả Ma chú Trời ở trên đảnh
Dục giới, các chúng quỷ ác độc cũng đều chẳng dám
xâm phạm đến gần kẻ tu mười nguyện trên. Cho đến kẻ
thù, người thân cũng đều được ích lợi, liền đặng
vãng sanh về cực lạc thế giới, thấy Phật A Di Ðà thụ
ký cho.
Thế nên, với mười
nguyện lớn trên đây người tu Phật cần phải hoặc
thường thụ trì hoặc thường chép ra, vì người mà nói
rộng nghĩa lý, thì ắt phước nhóm lại nhiều đến vô
lượng vô biên.
BÀI TÁN LỄ
|
Tán lễ
Thích Tông |
kính lạy
Thích Ca |
|
Vô thượng
năng nhân |
Tột bực Bu Ða |
|
Tăng kỳ
cữu viễn tu nhơn |
nhơn tu nhiều
kiếp lâu xa |
|
Ðẩu xuất
giáng thần |
...xuống giữa
ta bà: |
|
Trường từ
bửu vị kim luân |
...hy sinh
ngôi báu nước nhà; |
|
Bồ đề tọa |
....ngồi gốc
da... |
|
Ðại phá ma
quân |
chiến thắng
quân Ma! |
|
Nhứt đổ
minh tinh đạo thành |
đắc đạo sao
Mai sáng lòa |
|
Giáng pháp
lâm |
mưa pháp sa, |
|
Tam thừa
chúng Tăng qui tâm |
theo về xe
pháp cả ba; |
|
Vô sanh dĩ
chứng |
dã chứng Phật
đà |
|
Hiện tiền
chúng đẳng qui tâm |
hiện giờ
chúng đối trước tòa |
|
Vô sanh
tốc chứng |
mau chứng
Phật Ðà |
KHỔ VÌ CHÚNG SANH
PHÁT NGUYỆN
KHẮP VÌ CHÚNG SANH
MÀ DẤY NGUYỆN RẰNG:
Tứ sanh cửu hữu
đồng đăng Hoa tạng huyền môn bát nạn tam đồ cọng
nhập Tỳ lô tánh hải:
Bốn loài chín cõi
đồng lên cửa huyền hoa tạng; tám nạn ba đồ chung vào
biển tánh Tỳ lô.
Tứ sanh:
bốn loài, là nói chung hết thảy cái chánh báo thân
của chúng sanh cả ba giới. Cửu hữu: chín cõi,
là nói chung hết thảy cái y báo độ của mỗi loại ở cả
tam giới. Bát nạn: nói riêng những chỗ bị
chướng nặng nề giữa tam giới, vì chúng sanh ở đó
chẳng nghe được Phật pháp. Tam đồ: nói riêng
về chỗ bị nghiệp quá trọng và khổ giữa tam giới. Ðấy
cả chúng hữu tình đều là hữu lậu mê hoặc mà phải
luân chuyển mãi đến vô cùng!
Hoa tạng huyền
môn: là
nêu chung lên tất cả cõi Phật mười phương. Tỳ lô
tánh hải: là gồm chung hết thảy cái chơn như
tánh giới vô cùng tận. Ðấy là cái pháp giới thanh
tịnh Phật tánh vô biên tế.
Hoa tạng:
Kinh Hoa Nghiêm ghi lời Phật giảng về thế giới Liên
hoa tạng mà ở đây xin sao lục lại đoạn đại khái
rằng:
“có cái biển lớn
nước thơm tên là “Phổ quang ma ni vương trang nghiêm
hương thủy hải”, giữa biển nầy mọc lên một cái hoa
sen lớn tên là “chủng quang minh Nhụy hương tràng”,
trong cái hoa Nhụy hương tràng đây có một tổng hải
tên là “Hoa tạng trang nghiêm thế giới hải”, giữa
biển đây có những hoa bằng số mười lần “Bất
khả thuyết Phật sát vi trần”, trong mỗi một hoa có
một hương thủy hải, trong mỗi một biển ấy lại có một
hoa sen lớn, trên mỗi một hoa sen có hai mươi lớp
thế giới theo thứ lớp chất chồng nhau, dưới đáy hẹp,
lên trên nới lần rộng ra.
Như cái hoa ở rốt
trung tâm tên là “Nhứt thế hương ma ni vương Trang
nghiêm liên hoa” trên hoa nầy có hai mươi lớp thế
giới, một lớp thế giới dưới nhứt tên là “Tối thắng
quang biến chiếu” đức Giáo chủ ở thế giới nầy hiệu
là “Ly cấu Ðăng Phật” chung quanh ngoài lại có nhiều
thế giới bằng số nhứt Phật sát vi trần để bao bọc
giáp vòng.
Ðến lớp thế giới
thứ 13 tên là “ta bà”, đức Giáo Chủ ở thế giới nầy
tức là “Thích Ca Mâu Ni Phật”, chúng quanh ngoài có
nhiều thế giới bằng số mười ba lần Phật sát vi trần
để bao bọc giáp vòng.
Ðến lớp thế giới
thứ 20 tên là “Diệu bửu diệm” đức giáo chủ ở thế
giới nầy hiệu là “phước đức tướng quang minh Phật”,
chúng quanh có nhiều thế giới bằng hai mươi lần Phật
sát vi trần để bao bọc giáp vòng.
Ðối với “hai mươi
thế giới chồng lên hoa” như đã kể trên, vòng vây bên
ngoài còn có mười chồng mỗi chồng cũng đủ hai mươi
lớp thế giới bao bọc khắp bủa ở trên tổng liên hoa
là “chủng quang minh Nhụy hương tràng”.
Ðấy dù là một toàn
cảnh đều do thiên bách ức hóa thân Thích Ca Mâu Ni
Phật chia thân mà giáo hóa, mà cũng chính là do duy
tâm của mỗi người tạo thành cảnh giới ấy do biệt
nghiệp hoặc cọng nghiệp.
Bởi thế, nên mỗi
khi tâm của chúng ta dung hòa, thì cả pháp giới thảy
đều dung hòa một cách soi suốt không chi làm chướng
ngại thân tâm và quốc độ vẫn một chẳng hai (Kinh
Lăng Nghiêm nói:Nếu người biết được tâm rồi, quày
xem đại địa không còn tấc đất. Vì cảnh tức tâm, nên
nói chẳng hai). Cảnh giới đó, chẳng khá nghĩ bàn
được, là nghĩa của chữ “Huyền”. Vì nhứt tâm đây nó
hàm đủ chư pháp (vũ trụ vạn hữu, hay tứ thánh lục
phàm) mà với pháp nào, pháp nào nếu ta không mê, thì
pháp nào cũng là cái môn để vào giác đạo, nên
nói là huyền môn.
Lại nữa, mỗi pháp,
pháp nào cũng vẫn đủ mười môn, nên Hoa Nghiêm tông
diễn tả ra mười lớp huyền môn, với nghĩa lý rất viên
diệu khó nghĩ thấu!
Như Kinh nói: “Cả
mười phương hư không sanh trong tâm người, tỷ như
vết mấy bợn giữa trời cao”. Chính rằng: tâm dung
diệu lý hư không tiểu: tâm hòa lẫn với lẽ mầu rồi,
thì cõi hư không là vật cực nhỏ. Cũng như nói: tâm
bao thái hư, lượng châu sa giới..thì, cùng tột hư
không pháp giới, chỗ nào là chẳng phải thanh tịnh
pháp thân của chư Phật ư?
Thế nên khắp nguyện
cho cả pháp giới: nào là tứ sanh nào là cửu hữu đồng
giác ngộ lý của pháp thân, đồng chứng nhập thể của
pháp thân, nên nói: tứ sanh cửu hữu đồng đăng hoa
tạng huyền môn.
Tỳ lô tánh hải:
tiếng phạm: Vairocana, tiếng ta đọc là: Tỳ lô cha
na. Nhơn vì kinh cũ của đời Tấn dịch là: Lô xá na;
kinh mới của đời Ðường dịch là: Tỳ lô cha na. Dịch
chữ là Biến nhứt thế xứ, nghĩa: khắp tất cả chỗ, tức
là cứu cánh thanh tịnh pháp thân. Lại, cảnh diệu
hiểu ra rất cứu cánh, tên là Tỳ lô cha na; Trí
diệu đầy đủ rất cứu cánh, tên là Lô xá na: hạnh diệu
đầy đủ rất cứu cánh, tên là Thích Ca Mưu ni. Lại: Lô
xá na, dịch: Quang minh chiếu; Tỳ lô cha na dịch:
Quang minh biến chiếu, vì chữ Tỳ dịch là Biến.
Do vì: cái tánh
pháp thân là lìa quá dứt phi, ly hẳn các danh tướng,
vắng lặng chẳng động, dọc tột ba đời, ngang khắp
mười phương, chẳng thể nghĩ bàn được, với lý và thể
như thế không biết gọi thế nào cho đúng, nên tạm nói
là “tánh” đấy thôi. Vậy, trên kia nói: ma ni Trang
nghiêm vương hương thủy hải, số biển này nhiều đến
vô lượng, và các hương hải nhiều như số vi trần, đều
là do nơi tự tánh duy tâm của ta với người chung
nhau tổ thành ra, nên nói là tánh hải.
Song, với tánh, tâm
ấy, nếu người đều mê luôn cả hai, thì làm chúng sanh
bị cách ngại với thế giới, không biết tất cả thế
giới tướng vốn thường trụ và tánh nó viên dung.
Chúng sanh trọn ngày ôm lấy cái tánh tâm ấy, mà
luống uổng chịu luân chuyển! Tuy chịu luân chuyển mà
cái tánh ấy chưa có biến đổi một tý hào nào. Nên
trọn ngày những điều thấy, nghe, hiểu, biết đều toàn
do nơi tự tánh nó rọi, nháng ra mà có những sanh
diệt như chớp chớp, tắt tắt vậy thôi. Nếu người
khứng chịu với mỗi niệm đương sanh diệt đó mà buông
hẳn đi, thì toàn thể của sanh diệt ấy tức là chơn
như, thế với vô biên hư không, Hoa tạng trang
nghiêm, mỗi mảy bụi, mỗi cõi Phật, đều là cái chơn
như diệu tánh của mỗi phần tử nó viên dung lẫn nhau
với cả toàn thể pháp giới tánh.
Tâm ta đã là pháp
giới tánh, mà pháp giới chúng sanh cũng đều ở giữa
tâm ta, mà ta cũng ở giữa tâm của chúng sanh. Bởi vì
chúng sanh tâm cũng đều là pháp giới tánh cả.
Thế thì tâm Phật,
chúng sanh cả ba ấy đều lẫn nhau làm viên dung pháp
giới tánh.
Vả lại, tâm ta đã
hay qui nơi Phật tánh, thì phổ nguyện luôn cho bát
nạn, tam đồ đương thể của chúng cũng quy nơi Phật
tánh, nên nói: “bát nạn tam đồ cọng nhập tỳ lô tánh
hải”.
PHỤ LỤC ÐỒ CHÚ THÍCH VÀ BIỂU
Trên kia lời chua
thêm rằng “đối với Hoa tạng thế giới, có tóm
tắt nêu ra từ đơn vị đến phúc tạp bằng năm cái
biểu đồ và các lời chú thích như sau”.
Dưới và sau đây lần
lượt đăng tái thêm năm bản đồ ấy và hai cái biểu bát
nạn và cửu hữu, cho đến những lời chú thích giải rõ
từ một đơn vị của tứ châu thiên hạ, từ một tiểu thế
giới cho đến tam thiên thế giới của ta bà thế giới,
là hóa cảnh đức Thích Ca Mâu Ni Phật phân thân giáo
hóa chúng sanh, để cho các độc giả sẽ xem hiểu về:
địa dư, thế giới, nhơn loại, thiên loại, tất cả các
học khoa của Phật học bằng tóm tắt một cách với
những vị trí danh từ, còn ai có trí lực khá thì nên
xem Kinh Hoa Nghiêm sẽ được hiểu tường tất hơn.
Vậy xin xem năm bản
đồ sau đây:
Triệu thời Khóa Lễ
PHỤ
ÐỒ THỨ NHỨT
Bốn
châu lớn núi Tu Di và các núi
Một cung điện của
trời Ðao lợi (33 xứ trời) vị trí tại đảnh núi Tu Di.
Bản đồ thứ nhất đây
là tượng trưng một tiểu thế giới, nội dung có một
núi Tu di, và bốn châu thiên hạ (đồ đây tức là đoạn
giữa của đồ thứ hai)
Trung tâm là núi Tu
Di: hình như cây trụ đứng sựng một mình, trên dưới
đều lờn, khoảng giữa thân núi rút nhỏ lại hình như
tảng đá thắt eo lưng cổ bồng; trên đảnh núi là cung
điện của Thiên đế thích.
Ngoài núi Tu Di:
lại còn có bảy vòng núi vàng, bảy vòng biển hương
thủy đều thứ lớp xen nhau để bao vây chạy giáp vòng
ngoài Tu Di hình như bảy lớp hào và thành xen lớp
bọc chung quanh.
Ngoài núi thứ bảy
tức là biển lớn nước mặn nhảy liền bốn phương; bốn
phương giữa biển mặn đều có mỗi một châu lớn: giữa
biển đông là châu Ðông Thắng thần, giữa biển Nam là
châu Nam thiện bộ, giữa biển Tây là Tây ngưu hóa
châu, giữa biển Bắc là Bắc cu lô châu; mỗi hai bên
châu lớn đều có hàng mấy trăm châu nhỏ để làm quyến
thuộc.
Quanh vòng ngoài
biển lớn nước mặm: bốn phía chu vi có núi Thiết vi
bao giáp vòng ngoài như thành, đấy gọi là một tiểu
thế giới.
Song, với cái
thuyết địa cầu ngày nay, thì như thế nào để hiểu cho
thông đặng?
-
Ðối với địa cầu: phía bắc biển Bắc băng
dương, nó giáp với chưn núi phía ngoài của núi Vàng
thứ bảy, là chỗ của trục trái đất phía Bắc nương
tựa: phía Nam biển Nam băng dương, nó giáp với chưn
núi phía trong của núi Thiết vi, là chỗ của trục
trái đất phái Nam y cứ.
Như thế thì bốn
châu lớn đều thành một địa cầu, sắp hàng chạy vòng
tròn bốn phương, đều lấy chưn của hai núi bên trong
bên ngoài để làm chỗ sở y cho trục trái đất ở giữa,
thế thì, một tiểu thế giới nó có bốn châu lớn, đấy
là chỉ dùng để hội thông vậy thôi.
Song, Kinh Hoa
Nghiêm, Hoa Tạng thế giới là chính Phật trí thấy tận
nơi mà nói ra; còn với địa cầu là người đời nay trắc
lượng mà biết chứ phi thân kiến mà biết. Phật
trí như ngàn mặt nhựt đều chiếu; người đời nay biết
là tỷ như ở bên đây bức tường để xét lường cái bóng
mà biết bên kia bức tường, với giờ phút dù chẳng sai
chạy, nhưng đâu bằng thấy biết chính đích thân cận
ư? vậy các nhà trí thức xét rõ lại coi.
Thời công phu sáng
PHỤ ÐỒ NHỊ
Thứ lớp vị trí của ba giới
PHỤ CHÚ THÍCH
1/ Trời Vô nhiệt
sống được hai nghìn đại kiếp; 2/ Trời Thiện hiện
sống được tám nghìn đại kiếp; 3/ Trời sắc cứu cánh
sống được một vạn sáu nghìn đại kiếp; 4/ Trời Thiện
kiến sống được bốn nghìn đại kiếp; 5/ Trời Vô phiền
sống được một nghìn đại kiếp.
6/ Trời Phước sanh
sống được hai trăm năm chục kiếp; 7/ Trời Vô tưởng
và trời Quảng quả đều sống được năm trăm kiếp; 8/
Trời Vô vân sống được một trăm hai mươi lăm kiếp.
Bốn trời đây nhập với năm trời trên cọng là chín
trời chung gọi là “Tứ thiền thiên”.
9/Trời vôlượng tịnh
sống ba mươi hai kiếp; 10/ Trời biến tịnh sống sáu
mươi bốn kiếp; 11/ Trời Thiểu tịnh sống mười sáu
kiếp, ba trời đây chung gọi là “tam thiền thiên”
12/Trời vô lượng
quang sống bốn đại kiếp; 13/ Trời Quang âm sống tám
đại kiếp; 14/ Trời thiểu quang sống hai đại kiếp. Ba
trời đây chung gọi là “Nhị thiền thiên”.
15/Trời Phạm Phụ
sống một trung kiếp; 16/ Trời Ðại phạm sống một
trung kiếp rưỡi; 17/ Trời Phạm chúng sống nữa trung
kiếp, ba trời này chúng gọi là “sơ thiền thiên”.
A/ Cung điện của
trời Ðao Lợi (dịch nghĩa là 33 nước trời, mà đế
thích ở giữa sắp hàng bủa khắp bốn phương nội trên
đảnh núi Tu di).
O/Nhựt luân cũng
như nhứt cầu là mặt trời; P/ Nguyệt luân hay nguyệt
cầu là mặt trăng, tức là cảnh giới cửa nhựt cung
thiên tử, nguyệt cung thiên tử ở.
B/Trời Tứ Thiên
vương; C/Trời Nhứt Nguyệt tinh tú; D/ Trời thường
phóng dật; Ð/Trời cầm tràng hoa; E/Trời G/ Núi Song
trì; H/Núi Trì trục; 1/ Núi Ðảm mộc; K/ Núi Thiện
Kiến; L/ Núi Mã nhĩ; M/ Núi chướng ngại; N/Núi Trì
địa. Bảy núi trên chung kêu là Thất Kim sơn. Hễ một
vòng lớp Núi thì xen một vòng lớp biển hương thủy,
như thế cọng là bảy biển bảy núi đều chạy giáp vòng
chung quanh núi Tu di.
Bản đồ thứ hai là
hình tướng của ba giới theo thứ lớp sắp đặt vị trí.
Bản đồ tam giới là một cái thế giới bằng số một hột
bụi giữa từng thứ mười ba Phật sát vi trần thế giới
của bản đồ thứ ba ở sau này. Nghĩa là dưới cái tam
giới đây, duy có một cái hư không; từ giữa hư không
này sanh khởi lên cái đại phong luân, để duy trì
thủy luân; ở trên vì cái nghiệp lực của chúng sanh
nên thủy luân chẳng trôi tan, tỷ như vật thực nó
chưa tiêu nên nó chẳng sa xuống ruột già.
Trên từng thủy luân
lại duy trì kim luân, tỷ như sữa chín phát sanh ra
dầu nổi lình bình trên mặt. Trên từng kim luân tức
là đại đại, trên đại địa hay địa luân nhảy đầy là
biển nước mặn, chung quanh ngòai bìa đại địa, thì
chạy giáp vòng là núi Chước Ca La dịch là Luân vi,
lại dịch là Thiết vi. Núi này thể nó vòng quanh
ngoài bốn biên địa luân như vòng thành để bao bọc
giáp vòng ngoài biển mặn.
Phía tột trong bể
mặn, có bảy lớp kim sơn và với bảy lớp hương thủy
hải theo thứ lớp xen nhau, đều cùng chạy giáp vòng
như bảy lớp thành hào để bao vây ngoài núi Tu di.
Phía tột trong bảy
lớp biển ấy, trung tim có núi Tu di sừng sựng đứng
riêng vọt cao tám vạn bốn ngàn dặm, hai phần trên
đảnh dưới chưn đều lớn, phần giữa núi lại rút nhỏ;
chỗ lớn của Tu di bề dọc và ngang đều tám muôn dặm;
phía ngoài bảy núi vàng tức là biển lớn nước mặn
nhẩy đầy cả chu vi bốn phương.
Ðối với núi Tu Di:
giữa biển mặn phía đông có châu Thắng thần, giữa
biển mặn phía nam có Châu Thiệm bộ, giữa biển mặn
phía tây có Châu Ngưu h óa, giữa biển mặn phía bắc
có Châu Cu lô; cứ mỗi một châu lớn ấy đều có hai
châu vừa ở kèm hai bên, cùng với vài trăm châu nhỏ
để làm quyến thuộc (quần châu hệ).
Lại, từ chân núi Tu
di lên đến một vạn dặm, là chỗ của vị thiên thần
kiên thủ ở; lại từ đây lên đến một vạn dặm là chỗ
của vị thiên thần Trì hoa mang ở; lại từ đây lên đến
một vạn dặm là chỗ của thiên thần Thường phóng dật
ở. Ba thiên thần trên đó đều sắp hàng quanh vòng núi
Tu di để ở, mấy thiên thần ấy đều là Quỷ thần Dạ Xoa
mà hưởng phước cũng đồng như các trời ở tứ Thiên
Vương.
Lại từ đó lên đến
một muôn do tuần tức là đúng nửa núi Tu di, thì có
Trời Tứ Thiên Vương đều nương ở theo bốn phía núi;
nhựt nguyệt tinh thần thì ngày lẫn đêm vẫn cứ đi
vòng quanh bốn phương, dù nương nơi trống rỗng để
chuyển vần chớ cũng cùng nhau với mực bình thường.
Lại từ đấy lên cao
bốn vạn hai ngàn do tuần tới đảnh Tu di sơn tức là
chỗ của ba mươi ba nước trời ở, rốt trung ương tức
Ðao Lợi thiên, vị thiên chủ tên là Thích Ðề Hoàn
Nhơn, lại gọi là Ðế Thích, người đời gọi là Ngọc
Hoàng Thượng đế. Những cõi trời Ðao Lợi, Tứ Thiên
Vương v.v...kể trên đều chung gọi là “địa Cư thiên”
vì còn nương nơi núi Tu di, chưn đi cũng còn sát mặt
đất.
Từ trên đảnh Tu di
nhẫn lên cả các trời sẽ kêu sau đây đều gọi là
“Không Cư Thiên” vì đồng nương nơi mây để ở. Số là:
Từ Ðao Lợi thiên bắt đầu kể lên mười sáu vạn do tuần
là chỗ của trời Da ma ở. Lại từ đây lên sáu mươi bốn
vạn do tuần là đến chỗ trời Hóa lạc ở. Lại từ đây
lên một trăm hai mươi tám vạn do tuần là đến chỗ
trời Tha hóa tự tại ở.
Từ lớp “Không cư”
bốn trời xuống lớp “địa cư” có hai trời là Ðao lợi,
Tứ Thiên vương, cọng là sáu trời, nhẫn đến dưới tới
lớp “phong luân” chung gọi là “Dục giới” bởi vì còn
có sự tình dục của hai giống: trai, gái, cái, đực và
trống, mái để tạo tác, sản xuất thân mạng ra do sự
dâm dục là phần chính nên gọi là Dục giới.
Lại từ trên trời
Tha hóa kể lên hai trăm năm mươi sáu vạn do tuần là
tới ranh Sắc giới. Từ đây kể lên là: Sơ thiền có ba
trời; nhị thiền có ba trời, tam thiền có ba
trời; tứ thiền có chín trời, cọng mười tám lớp trời
Phạm Thiên, với số do tuần của mỗi từng lớp cứ gấp
bội bội kể trên.
Lại từ trên trời
sắc cứu cánh là lớp trời thứ chín của Tứ thiền thiên
kể gấp bội tăng lên đến ranh Vô sắc giới cũng như
thượng giới, từ đây kể đi là: Trời không vô
biên xứ, Trời thức vô biên xứ, Trời vô sở hữu xứ, và
trời phi phi tưởng xứ, cọng là bốn trời, bề cao đều
lớp lớp gấp bội nhau. Như thế cả ba giới chung gọi
là hai mươi tám từng trời.
Sách Tỳ đàm luận
ghi lời của Phật dạy: giả sử có người đứng tại nơi
đảnh trời “Sắc cứu cánh” chừa bốn trời của Vô sắc
giới, phóng ra một viên đá lớn, thì trải qua
sáu vạn năm ngàn năm trăm ba mười lăm năm, viên đá
ấy mới rơi tới sát mặt đất Châu diêm phù đề, nếu
chặng giữa không Nhơn đạo, Tu la đạo, Súc sanh đạo,
Ngạ quỷ đạo chung gọi là tam giới lục đạo.
TAM THIÊN ÐẠI THIÊN THẾ GIỚI
Ba ngàn cả ngàn ấy,
như nội dung của bản đồ thứ hai đã bao bọc, bắt đầu
kể tận dưới: từ lớp địa luận, thiết vi, tứ châu,
thất sơn, tu di, nhựt nguyệt, lục dục thiên, cho đến
lớp Sơ thiền, như thế cứ mỗi lớp kể làm một, nghĩa
là: một địa luân, một thiết vi, một tứ châu v.v...
đến một Sơ thiền, cọng làm “một tiểu thế giới”.
Lấy một tiểu thế
giới như trên tính làm một, như thế tính cho đến một
ngàn cái tiểu thế giới, bên ngoài có một cái tổng
Luân vi sơn nó đứng giáp vòng tròn vây bọc núi nầy
cao đến cõi Trời Sơ Thiền, như thế gọi là “một tiểu
thiên thế giới”.
Cứ một tiểu thiên
thế giới, như trên tính làm một, tính như thế cho
đến một ngàn cái Tiểu thiên thế giới, bên ngoài lại
có một đại tổng luân vi sơn vòng vây, núi nầy cao
đến nhị thiền thiên, thế gọi là “một trung thiên thế
giới”.
Mỗi trung thiên thế
giới như trên tính làm một, tính như thế cho đến con
số một ngàn cái trung thiên thế giới, bên ngoài lại
cũng có một vòng núi đại đại tổng luân vi bao vây,
núi nầy cao đến cõi tam thiền thiên, thế gọi là “một
đại thiên thế giới”.
Với trong cõi Ðại
thiên ấy, tổng cọng có: muôn lần ức Núi thiết vi,
muôn lần ức tứ châu, muôn lần ức núi Tu di, nhẫn đến
muôn lần ức cõi Sơ thiền thiên, suốt cả gọi là gấp
ba lần ngàn làm một cõi Phật tức là ta bà thế giới.
Xem đó thì biết:
Với luân vi sơn thấy có đến bốn hạng núi, vì từ nhỏ
thấp đến rộng cao có những phần lượng bội bội nhau;
mà với tam giới thì tổng bao hàm một cõi Ðại thiên,
một đại thiên thiên thế giới như trên tức là một
Phật quốc độ.
Lại, với trong
“Tiểu thế giới” từ trung tim Tu di nầy cách trung
tim Tu di kia là có đén mười hai ức tám vạn
300040050 do tuần; còn cả tám phương từ núi nầy cách
núi nọ bề xa với nhau cũng như số kể trên. Ðấy là
chính thật lời nói của Phật bằng cứ nơi khai thị
Phật tri kiến với “thiên nhãn thông” và “Diệu quan
sát trí” đưa ra, xin chớ hạn lấy trí thức tỷ lượng
của người đời để nghi!
TRỜI THIỀN TRÙM XUỐNG RỘNG HẸP
Bằng bốn châu thiên
hạ; Nhị thiền rộng bằng: 1 Tiểu thiên giới; Tam
thiên rộng bằng như một Trung thiên giới; Tứ thiên
rộng như một đại thiên giới. Lại dưới địa luôn, các
kim luân, thủy luân, phong luân mỗi đều rộng khắp
đại thiên thế giới v.v...
Than ôi! vốn một
tánh chơn không, không sanh diệt, một thể lượng
trong sạch, vắng lặng sáng suốt chiếu soi khắp cõi
pháp giới, và có công năng hiện ra vô biên thần hóa,
viên dung, mà chỉ vì một niệm mê lầm, khiến chơn
minh biến đổi làm vọng minh, chơn không hóa thành ra
ngoan không, đổi diệu sắc làm giả sắc! (chơn minh là
chơn trí, vọng minh là vô minh, chân không là chân
lý, ngoan không là hư không, diệu sắc là cái cảnh
đẹp bằng mỗi vật sắc nầy nó lẫn khắp nhau với vật
sắc kia, giả sắc là cái khí giới luống dối
bằng sáu trần).
Chỉn bởi nơi thể
bổn chơn nó vì một niệm mê lầm mà chẳng biết tự
tỉnh, nên chi từ nơi chơn trí mà khởi lên vô minh,
rồi từ nơi vô minh nó sa đắm nơi ngoan không mà phát
khởi ra vọng tưởng, cái vọng tưởng nó đã hoạt động,
nên chiêu cảm lấy cái lớp phong luân phơi phới giữa
không giới; cái tâm ý nó loạn động mãi chẳng nghĩ
thôi, thì ái tình lại càng tẩm nhuần nữa, thành thử
phong luân nó duy trì thuỷ luân để bao hàm cả mười
phương giới. Chỉ nơi cái si mê với ngã ái, mà cái
vọng tưởng nó càng chấp cứng luôn, tức nhiên có lớp
kim luân để bảo trì quốc thổ. Kẻ nào có cái ác tưởng
quá trọng trược, thì nó kết tinh đọng nơi đại địa ở
trên kim luân, nhơn đấy cả tam đồ liền phát sanh.
Còn ai có thiện tưởng rất khinh thanh, thì nó nổi
bổng nưng cái tịnh thân ở giữa thanh hư, vì vậy mà
cõi trời đều hiện.
Thế nên, những
chúng tạo tác nghiệp thập ác thì sẽ sa chìm đến các
chỗ: A Tu La, Ðịa ngục, Ngạ quỷ và súc sanh; còn
những hcúng thi hành nghiệp thập thiện thì được
thăng lên các chỗ sáu trời dục địa cư; mấy người đã
tu mười lành gồm có tu được chút phần thiền định
như: ngồi tịnh, phàm phu thiền, nghĩa: dù có chánh
tín nhơn quả, mà tu thiền bằng cách chán cái khổ bực
dưới, ham cái vui bực trên, sẽ sanh ở bốn cõi
trời không cư của dục giới. Nếu tu thiền mà rõ
được căn bản định, nghĩa: đè được phiền não
của bực dưới, mà đắc thiền định bực trên, gọi cận
phần, cũng gọi trung gian định: dứt được
phiền não của bực dưới, đắc cái thiền định bực trên,
gọi là căn bản thiền cũng như định, tức là
được sanh lên ở nơi các cõi trời Tứ thiền trung
giới.
Ơû sắc giới lòng đã
lìa được cái dục tình của trời dục giới nên tâmthanh
tịnh, tại đây, lại diệt được cái thân bằng sắc lung
mà vào nơi không định, thì vãng sanh lên cõi vô sắc,
theo thứ lớp mà ở nơi bốn trời không.
Như thế, các các
trời ba giới: với phước vui tuy hưởng được vô cùng,
nhưng chưa khỏi có ngày đọa xuống! Vì với chỗ tu
pháp thập thiện, và các pháp thiền định như thế, nó
đều thuộc pháp hữu lậu,
nên chi các bậc trời ở dục giới khi hết phước, có
năm cái tướng suy hiện ra; các bậc trời ở sắc giới,
đến lúc tuổi sống sắp mãn, thân thể sanh ra đại khổ
não; các bậc trời trên vô sắc giới, đến lúc mạng
chung, thân thể bị đau chết như bị tên bắn.
Thế thì, tam giới,
lục đạo, trời và mọi loài đều bị cái khổ lớn luân
hồi sanh tử! Thí tỷ như nhà bị hỏa hoạn......Sự luân
hồi như thế, một đều bởi si mê vọng hoặc làm nguyên
nhơn; nếu ai lìa được si vọng rồi, thì tự biết tam
giới như ảo thuật, lục đạo vốn không, chính nơi thân
thể chứng ngay chơn như, ca ba giới đâu chẳng là
quốc độ diệu nghiêm, cả ngoan không chẳng chẳng là
tự tánh chơn không, toàn vọng minh đâu chẳng là cái
trí chơn như, như vậy lý trí đều đã hay tuyệt, lẩn
suốt không ngần ngại, thì làm gì có sanh tử ư?
Kinh
mơi nguyện chúng sanh
PHỤ ÐỒ
THỨ BA
Bản đồ thứ ba nầy,
tức làmột phần bằng “hai mươi lớp hoa tạng thế giới”
ở trung tâm điểm giữa bản đồ thứ tư sau kia.
So đó thì biết:
những phần “hai mươi lớp hoa tạng thế giới” nhiều
bằng số những vi trần ở thập phương nào là
hình tượng hoặc lớn hay nhỏ, nào là vị trí sắp đặt
lớp lan cũng đều đồng nhau, chỉ danh từ có khác vậy
thôi.
Trong bản đồ đây,
biển nước thơm tên Phổ Quang ma ni, và hoa sen tên
Nhụy hương tràng tức là “Tổng hải hệ”, trong bản đồ
thứ năm sau.
Trên “Nhụy hương
tràng liên hoa” đầy dẫy trong đó toàn là “vô biên
diệu hoa quang hương thủy hải”, bên ngoài biển nầy
có “Núi Ðại thiết luân vi” giáp vòng tròn bên trong
“Nhụy hương tràng liên hoa” để bao vây bên ngoài “Vô
biên diệu hoa quang hương thủy hải”.
Biển vô biên diệu
hoa quang hương thủy đây, nó có những tên mỗi biển
riêng nhiều bằng số vi trần trong mười lần bất khả
thuyết thể giới; mỗi mỗi biển riêng ấy đều có “Liên
hoa tràng”.
Về “Liên hoa
tràng”; nơi biển riêng rốt trong đó tên là “Ma ni
vương Liên hoa”; bên trong liên hoa nầy có “thế giới
chủng” tên là “Phổ chiếu thập phương”, trên có hai
mươi thế giới trùng điệp nhau để an trụ bằng cách
dưới nhỏ trên lớn: như dưới nhứt là lớp thứ nhứt, có
những thế giới bằng số vi trần của một cõi Phật, để
bao vây giáp vòng ngoài lớp thứ nhứt.
Cứ như thế gấp bội
hơn nhau, đến lớp thứ mười ba có những thế giới
nhiều bằng số vi trần trong mười ba cõi Phật để bao
vây giáp vòng lớp mười ba.
Nhẫn đến thứ ba
mươi có những thế giới nhiều bằng số vi trần trong
hai mươi cõi Phật để bao vây giáp vòng lớp thứ hai
mươi.
Cõi mà hiện nay
chúng ta ở đây là Ta Bà thế giới, nó ở tại trung
ương của lớp thứ mười ba, vậy Ta bà thế giới chính
là con số bằng một mảy trần giữa nhiều vi trần của
mười ba cõi Phật mà thôi. Cực lạc thế giới cũng là
một trần ở giữa lớp thứ mười ba, mà vị trí Cực lạc
nó cùng ngang bằng nhau với Ta Bà.
Hỏi: nói là thế
giới nhiều như số vi trần là nghĩa như thế nào?
Ðáp: một hột bụi
nhỏ tính là một thế giới.
-
Thế giới một hột bụi là nó lớn được chừng bao
nhiêu?
Với bề lớn của nó
là ước chừng cứ một cái tam thiên đại thiên là một
thế giới thì tính làm số một hột bụi. Nghĩa là như
một ta bà thế giới tính làm số một hột bụi. Vì một
ta bà kể có một tam thiên đại thiên, đấy là rất nhỏ;
hoặc đến bằng hai đại thiên, bằng ba đại thiên, và
như kinh Pháp Hoa Phật thụ ký cho ông Phú Lâu Na đa
la Ni tử về cõi nước của ông sau nầy thành Phật là:
lấy tam thiên đại thiên thế giới nhiều bằng số cát
sông Hằng để làm một quốc thổ. Bởi thế, nên quốc độ
của chư Phật hoặc lớn, hoặc nhỏ, hoặc tịnh, hoặc uế,
hoặc viên, hoặc phương, hoặc nghiêng, hoặc ngữa, mỗi
mỗi hình lượng, không nhứt định. Với mỗi mỗi quốc
thổ cũng như thế giới ấy, đều có mỗi một đức Phật
hiện làm giáo chủ, như đức Phật Thích Ca Mâu Ni làm
giáo chủ của Ta bà quốc độ đây.
(hoặc tịnh: cõi
Phật bằng tịnh độ: hoặc uế: cõi Phật bằng uế độ;
hoặc viên: cõi cũng như thế giới hình tròn. Hoặc
phương: thế giới hình vuông. Thế giới hình nghiêng
thì chúng sanh ở đấy đi đứng cái thân cũng nghiêng
mà chúng đâu có biết; thế giới ngữa chúng sanh đi
ngửa...., thế giới úp thì chúng sanh đi úp. Nghĩa là
ở thế giới hình như thế nào, thì chúng sanh cũng do
sức hấp dẫn như thế nấy v.v..
PHỤ
ÐỒ THỨ TƯ
Hữu nhiễu vòng vây
mười thế giới chủng
PHỤ
ÐỒ THỨ NĂM
Bản đồ thứ năm này
là gom chung cả bốn bản đồ trước, mà lại rộng trùm
tất cả những Hoa tạng thế giới nhiều như số vi trần
trong mười phương, đồng ở trên một cái hoa sen lớn,
để chỉ rõ nghĩa của hai câu “Hoa tạng huyền môn, Tỳ
lô tâm hải”.
Xét rằng: Tổng đại
liên hoa tên là “Nhuy hương tràng” với Tràng này
phía rốt dưới có Núi Tu Di và nhiều phong luân bằng
số vi trần, mà lớp dưới hết là lớp phong luân thứ
nhứt tên là “bình đẳng trụ”, lớp này nó duy trì lên
trên tất cả Bửu diệm xí nhiên trang nghiêm.... Cho
đến lớp phong luân rốt trên là “Thù thắng uy quang
tạng”, lớp này nó hay duy trì “Biển Phổ quang ma ni
hương thủy”, biển nầy là “tổng hương thủy hải” ở
dưới Ðại liên hoa nhụy hương tràng.
Trong “biển tổng
hương thủy” mọc lên đại liên hoa tên là “chủng chủng
quang minh nhụy hương tràng” đấy là “tổng đại liên
hoa”.
Trên tràng tổng đại
liên hoa đầy dẫy bên trong là Hương thủy hải; chu vi
bốn p hía có núi Kim cang Luân vi chạy vòng tròn dọc
theo bên trong Tổng liên hoa, để bao vây bên ngòai
Hương thủy hải, đấy là Tổng hương hải trên Tổng liên
hoa.
Trong Tổng hải có
những Hương thủy hải nhiều bằng số vi trần trong
mười lần bất khả thuyết Phật sát, đó là chỉ ngay về
những “biệt hương thủy hải” ở giữa “Tổng hương thủy
hải” trên “Tổng đại liên hoa”.
Mỗi mỗi trong Biệt
hải đều có một thế giới chủng, mỗi trên một thế giới
chủng, để có hai mươi lớp Hoa tạng thế giới, theo
lớp lan sắp đặt xây dựng, đồng gom chung trong một
hoa sen lớn đấy, nên gọi là Hoa tạng thế giới, tức
Tỳ lô tâm hải.
Song le, tổng quát
trong hoa tạng, chỉ sắp bủa ra một trăm, một chục,
một cái Phật sát chủng, là lấy phần giản lược, mà
gồm cả trên hoa tạng những mười lần số “Bất khả
thuyết”thế giới vi trần số thế giới chủng, mỗi mỗi
thế giới chủng đều có hai chục tầng Phật sát. Tỷ như
cái võng bằng ngọc của Thiên đế, nó chia bủa ra mỗi
viên ngọc đều có mỗi chỗ để an trụ.
Mỗi một Phật sát
đều có những vật trang nghiêm nhiều bằng số vi trần;
mỗi một món trang nghiêm đều phóng ra những tia sáng
nhiều nhiều số vi trần; mỗi một ánh sáng đều hiện ra
những Hoa tạng thế giới trên và những sự bất khả tư
nghị trong chốn sát hải cả ba đời. Tỷ như
nghìn mặt gương trung trùng đối diện nhau, lẫn lẫn
chói dọi khắp chiếu suốt nhau.
Song, với Hoa tạng
và Tâm hải ấy, toàn là cái nhứt tâm của người đương
đời, thế thì tâm đủ pháp giới, mà pháp giới tức là
tâm, vì đều rộng lớn hòa lẫn nhau vô cùng vô tận,
chính thật đây bảo: “Hoa tạng huyền môn Tỳ Lư tâm
hải”
THUYẾT NÀY ÐỂ
ÐEM HOA TẠNG
THẾ GIỚI NÊU RÕ
NHỨT TÂM
Không luân ấy là để
nêu nhứt tâm chơn như; tâm ấy làm thể cho pháp giới
bằng đại tổng tướng pháp môn, tức là cái lý căn bản
vô sai biệt; có núi Tu di ấy là để nêu bày cái chơn
trí của nhứt tâm.
Phong luân ấy là để
tiêu biểu rằng từ nơi tâm trí phát khởi ra vô lượng
đại nguyện. Thủy luân ấy là để tỏ ra rằng nước đại
bi tâm trong lóng chảy giáp khắp nhuần Hoa sen lớn
ấy là nêu bày rằng từ nơi bi nguyện mà hành những
công nghiệp bất khả tư nghị. Mười lần bất khả thuyết
ấy là để tiêu biểu rằng với khắp trong pháp giới,
các thánh Bồ Tát trong thập địa thường hành những sự
bất khả tư nghị công đức. Ðiều hai mươi tầng dưới
hẹp trên rộng ấy là biểu hiện ra rằng với bực thập
địa, Bồ Tát tiến lên có phần chánh, phần hướng mà
chánh, hướng cũng đều có phần đặng bởi nhơn quả đền
bù, dần dần càng rộng lớn tốt hơn.
Mỗi tầng có danh
hiệu Phật quả đó là để tỏ ra rằng tùy theo mỗi địa
vị tiến lên hiệu Phật có nhơn có quả. Lại gom chung
đều có những hai mươi tầng Phật quả là đồng thống
nhất nơi căn bổn Phổ quang minh trí để tùy theo mỗi
tiến lên làm lập thành những danh hiệu, chớ thật thì
thể tánh không hề sai khác.
Bên trong núi Kim
Cang luân vi giáp vòng vây đều có mười thế giới
chủng mà trên dưới đều chỉ có bốn trùng là để biểu
rõ tứ nhiếp pháp và tứ vô lượng tâm. Nói tóm lại, từ
nơi cái “Trí chơn không vô phân biệt của Tổng Nhứt
thanh tịnh chơn tâm, mà biến ra cái Trí hiện hành có
sai biệt để thành không luân, phong luân, thủy luân,
kim luân, địa luân”...
Song, đấy là tổng
quát cả trong “tổng liên hoa” nó có những sát độ,
hương hải như bấy nhiêu, mà không một sát hải nào là
chẳng phải cái cảnh báo hóa của mỗi một đức Phật.
Vốn bởi, đối với trí cảnh của nhứt tâm nó đã là vô
hạn, thì với cái cơ để nhiếp hóa lợi sanh nó
cũng vô hạn; với cơ nhiếp hóa lợi sanh đã vô hạn,
nên chi với thân độ báo hóa đều trang nghiêm đâu
chẳng xứng tánh bằng cách cũng vô hạn?
Thế nên, trong kinh
ghi rõ rằng: Những kiếp tu nhơn của Ðức Thích Ca,
đối với trong Hoa tạng đây, không chỗ nào là Ngài
không để dâu vết đến. Bằng cứ là kinh nói: Cả ba
ngàn thế giới, tùy ý ai lấy cây cắm xuống một chỗ
nào, cũng đều trúng nhằm cái tiền thân của ta đã
chôn tại đó, vì mỗi thân đều tử khứ sanh lại như thế
để tu Bồ Tát đạo từ A tăng kỳ kiếp đến nay. Thành
thử nay thành quả đạo, cũng với trong vô hạn sát hải
ấy, khắp nơi hiện ra tam loại hóa thân, để tủy theo
cơ cảm, ứng hiện độ sanh với chúng hữu duyên.
Thế thì, giữa Hoa
tạng có vô lượng chư Phật, mỗi Phật, mỗi Phật đều là
lẫn khắp nhau, lẫn ứng hiện nhau, thì Hoa tạng đây
tức là diệu cảnh diệu tâm của mỗi mỗi đức Phật mà
cũng là những diệu cảnh diệu tâm nơi nhứt tâm của ta
với người vậy thôi.
Nên kẻ tu hành nếu
y theo tổng đồ để quán xét nhìn tưởng, sự quán tưởng
dần dần thuần thục, thì tâm lượng rỗng sáng rộng ra,
thế với Hoa tạng huyền môn, Tỳ lô tánh hải ta tự lẫn
suốt được.
Kinh nói: “Ưng quán
pháp giới tánh, nhứt thế duy tâm tạo”, nghĩa: Nên
xét tánh pháp giới (a lại da thức hay là Như lai
tạng) thì biết tất cả (tứ thánh lục phàm) chỉ cái
tâm tánh ấy tạo ra. Chính là nghĩa đã nói trên.
ÐỊNH DANH NGHĨA
CỦA HOA TẠNG HUYỀN MÔN VÀ TỲ LÔ TÁNH HẢI.
Lời sớ sao kinh Hoa
Nghiêm chép rằng: Với những chỗ mà hoa sen nó ngậm
hột sen đó, thì gọi là “tạng hay tàng” nghĩa là kho
hay chứa; các sát chủng (thế giới chủng), và các
Phật sát (Phật quốc) là tỷ những chỗ hàm tàng của
hoa sen lớn, nên bảo là “Hoa tàng”. Với trong Hoa
tàng có mỗi mỗi cảnh giới, cảnh giới nào cũng đều có
những thanh tịnh công đức nhiều như số sát hải vi
trần, nên nói là “trang nghiêm”. Với thế giới thì:
số nhiều vo âbiên, thể lượng sâu rộng, không thể xét
lường đặng, nên gọi là “Hải”. Chứa nhiều thế giới
chung ở trên một “ma ni vương liên hoa” để thâu
nhiếp các lưu loại, nên gọi là “chủng”. Gôm chung
các hạnh trong hoa tàng đây, tức là nhứt tâm chơn
như của các Phật, trong cõi không: vô cùng đại
nguyện là phong luân để duy trì nước biển đại bi,
nảy nở vô biên hạnh nghiệp rỡ tốt như hoa là Phật
sát (Phật quốc độ)
Vốn bởi, với tâm ấy
sẵn đủ vô biên công đức diệu trí, nếu phi thật hành
vào cửa vạn hạnh vô biên, thì không do đâu để tỏ
rạng ra đức và trí kia, nên chư Phật công hạnh đã
cùng tận, trí đức đã cao cực, thì toàn thể bày ra
những tướng vi diệu của công đức Hoa tàng nhiều đến
vô biên.
Song, với lý lẽ mà
rất vi diệu khó nghĩ suy ấy, thì duy có Phật Thích
Ca và chư Phật mới có thể xét hiểu được cùng tận nên
gọi là “huyền”. Ðối với Hoa tàng, từ trong chí
ngoài với mỗi mỗi mảy trần đều đạt được, với mỗi mỗi
pháp đều thông suốt, nên gọi là “môn”. Chính nơi
huyền môn ấy chúng sanh vốn sẵn đủ, nếu giác ngộ rồi
lo tu, thì toàn thể nó rõ bày ra cái tâm bình đẳng
của chư Phật, nên nói là “đồng đăng Hoa tạng huyền
môn”.
Chỉ nói Hoa tạng
thì, đâu chẳng phải là Tỳ lô tánh hải, vì tánh
hải vô biên đấy nó hàm ở trong cái hư không vô biên,
bởi hư không vô cùng tận, thì ngoài hoa sen lớn ra
hẳn còn có vô cùng tận những bông đại liên hoa tạng
nữa để làm trang nghiêm đủ rõ rồi.
Dường như cái võng
bằng châu ngọc của Ðế thích: mỗi một viên ngọc ánh
chói nó đến với nhiều viên ngọc; như thế mỗi mỗi
viên ngọc ánh chói lẫn nhau, mỗi mỗi viên châu gồm
thâu lẫn nhau, mà vẫn cũng chẳng tăng chẳng giảm,
hòa lẫn hoàn toàn, không hề cùng tận. Thế thì, đâu
chẳng là nói rõ tâm đức rộng lớn vi diệu rất khó suy
nghĩ ru! sao thế?
Kinh Lăng Nghiêm
nói: “Hữu lậu vi trần quốc, giai y không sở sanh,
không sanh đại giác trung, như hải nhứt âu phát”:
Thế giới hữu lậu nhiều như bụi, đều nương sanh khởi
giữa hư không; hư không sanh khởi trong lòng Phật,
ví dường cục bọt nổi giữa biển. Lại, Cổ đức nói: Tâm
dung diệu lý hư không tiểu: Tâm lẫn lẽ mầu hư không
nhỏ. Thế thì, cõi hư không đã vô cùng ta khó nghĩ
được! Mà hư không hãy còn ở trong tâm chơn như của
chúng ta, thì với cái tâm ấy, há chúng sanh chín cõi
khá lường kịp ư?
BIỂU
ÐỒ BÁT NẠN TAM ÐỒ
Ðối với Phật pháp,
những chúng sanh vô duyên thiếu phước, không được
nghe thấy chi hết, gọi là bị cái nghiệp chướng làm
khốn nạn, như các chúng sanh ở vào tám chỗ kể trên.
Thế mà người đời hiểu lầm nói bậy rằng Phật còn mang
nạn tám...
Kinh Duy ma, phẩm
phương tiện nói: Ðến khi Bồ Tát thành Phật, trong
cõi nước chẳng có ba đồ tám nạn.
Sách Tịnh Tâm giới
quán pháp chép rằng: bốn trăm bốn chứng bịnh lấy cái
bữa ăn đêm làm gốc; tám nạn ba đồ đều bởi nữ nhơn
làm gốc, ghê chưa?
Tam đồ: Kinh Tứ
giải thoát nói: Chữ Ðồ nghĩa như chữ Ðạo là đường,
và chữ Thú là đến. 1/ Hỏa đồ, tức địa ngục thú, là
những chỗ phần nhiều chị mãnh hỏa đốt hành tội. 2/
Huyết đồ, tức súc sanh thú, là những chỗ mà chúng cứ
ăn tươi nuốt sống hút máu lẫn nhau để chịu tội đền
trả. 3/Ðao đồ, tức ngạ quỷ thú, là những chỗ mà
chúng sanh này thường dùng đao kiếm gậy để chịu cái
khổ xua đuổi áp bức lẫn nhau.
BIỂU
ÐỒ CỬU HỬU
TAM QUY Y
NƯƠNG VỀ NGÔI
TAM BẢO
Từ trước đến giờ:
Từ tụng kinh, niệm Phật đến đây, để kết thúc hướng
về ngôi Tam Bảo là cốt yếu phổ nguyện cho được tự
tha lưỡng lợi mà thôi chứ không chi khác.
Với Tam bảo là chỗ
để quy y. về bên Sự: thì, các ngôi biệt tướng...Tam
bảo là sờ sờ có thể riêng ngôi; về bên Lý: thì, với
ngôi Nhứt thể Tam Bảo, vẫn sẵn đủ trong nhứt niệm
tâm ta
(xem bản đồ ở Hồng
danh bửu sám)
Lại, với sự thì bảy
bực người phương tiện về: Tạng giáo, Thông giáo,
Biệt giáo đều là chỗ để quy y, còn với Lý thì cả
Viên giáo tự thỉ chí chủng, và thập địa của Biệt
giáo đều là chỗ để quy y.
QUY là nghĩa trở
về; Y là nghĩa nương theo. Nghĩa là bảo tà pháp, về
phụng sự chánh pháp, nương theo chánh pháp để tiến
đến chơn tế, chánh pháp tức là ngôi Tam bảo.
BẢO: báu, Quý báu
của Phật là thuyết đạo; quý báu của pháp là chở đạo;
quý báu của Tăng là vì truyền đạo. Ðối với tam bảo,
nên tôn sùng, khá quý báu, vì giữa pháp thế gian
không mấy có. Nói đúng ra: pháp thế gian là trong
tam giới, làm gì có ba báu ấy, nếu không người chánh
giác ra khỏi mê hoặc ba giới. Ðã có câu “bách thiên
vạn kiếp nan tao ngộ” vậy những người đã gặp và tự
tâm tín thụ, ắt đặng giải thoát hết mê hoặc
sanh tử của tam giới, nên tôn xưng là Bảo. Vua Ðường
Thái Tôn tôn xưng Huyền Trán là quốc bảo, nghĩa là
môn báu bằng người của nước nhà, vì hơn cả bảy báu
kia, bởi biết hoạt động về thuyết pháp, dịch kinh,
chuyển mê khởi ngộ cho cả một quốc dân. Và hơn “dĩ
thiện vi biểu” của nước Sở, vì từ thiện hữu lậu của
thế gian nó lẫn quẩn giữa cõi đời sống say chết ngũ!
Thì thập thiện của Trời còn mê, huống thiện của nước
Sở ở sát đất cái!
BIỂU
ÐỒ
Tự quy y Phật;
đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô
thượng tâm.
Tự quy y pháp,
đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí
huệ như hải
Tự quy y Tăng,
đương nguyện chúng sanh, thống lý địa chúng, nhứt
thế vô ngại.
Tự về nương Phật;
phải nguyện chúng sanh, noi hiểu đạo cả (Phật bảo),
dấy lòng không trên.
Tự về nương Pháp;
phải nguyện chúng sanh, sâu vào kho Kinh (Pháp Bảo),
trí huệ như biển.
Tự về nương Tăng;
phải nguyện chúng sanh, gôm trị chúng lớn (Tăng
bảo), tất cả không ngại.
Ba bài kệ đấy, đều
mỗi câu đầu (tự quy y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y
Tăng) là nói: quy y ngôi Nhứt thể Tam bảo. Mỗi ba
câu kế (đều từ “đương nguyện chúng sanh” sắp xuống”
là nói: quy y ngôi biệt tướng Tam bảo).
Tự quy y Phật
là chính nối trí của tự tánh; quy y ngay noi Phật
của tự tánh, cũng quy y nói pháp của tự tánh, và
cũng quy y nơi Tăng của tự tánh. Phật giác,
nghĩa là Biết, tỉnh và sáng suốt, tức là trí huệ của
tự tánh. Pháp: phép tắc, mẫu mực, tức là lý
lẽ của tự tánh. Tăng: hòa họp, tức là lý trí
nhứt như của tự tánh.
Lại, Phật là bát
nhã đức; Pháp là pháp thân đức; Tăng là giải thoát
đức. Ba đức lẫn tròn, tức là tự tánh Tam bảo: Tự
tánh thanh tịnh, vẫn giáp pháp giới, thì pháp giới
và chúng sanh đều lẫn nhau ở trong tự tánh của ta,
mà ta đã tự quy y với ngôi Vô tận Tam bảo của bản
tánh ta rồi, thì ta cũng cần phải nguyện cho pháp
giới chúng sanh thảy đều quy y về ngôi Vô Tận Tam
bảo của tự tánh.
Song, biệt tướng
Tam bảo dù nhiều, mà thành phần thì cũng do nơi Nhứt
thể Tam bảo, tự tánh Tam bảo dẫu một, chứ biệt tướng
Tam bảo riêng rõ sờ sờ, nên tự tánh Tam bảo đã hòa
lẫn, thì cùng Biệt tướng nhứt như cũng khá biết.
Thể:
thể cửu, là: noi xét. Giải: rõ nhớ. Ðại
đạo: đạo cả của nhứt Phật thừa. Nghĩa là cầu
nguyện cho khắp cả chúng sanh đều noi theo để tỏ nhớ
đạo Phật vô thượng, phát ngay cái tâm lớn vô thượng,
để mong cho chóng thành Phật quả vô thượng.
Thâm nhập kinh
tạng:
Kinh điển của địa thừa đều đủmười hai bộ, kinh điển
của tiểu thừa đều đủ chín bộ “Tạng “: có ba tạng,
là: Tạng Kinh, Tạng luật, Tạng luận. Với ba tạng
đây: đều lẫn nhau đủ cả mười hai bộ và chín bộ, chín
và mười hai cũng đều đủ cả trong Tam Tạng (Tạng Kinh
đều đủ chứ mười hai bộ, tạng luật tạng luận đều đủ
nghĩa của mười hai bộ).
Với “thập giới pháp
môn” không kinh nào là chẳng trọn bao quát, nên nói
là kinh tạng.
Lại, Kinh: trung
đế; Luật: tục đế; Luận: chơn đế. Một mà đều đủ cả
ba, ba một chẳng phải là hai, bởi thế, nói ba tạng
đâu chẳng là ba đế, nên phổ nguyện pháp giới chún
sanh tỏ sâu vào lý tam đế, khắp vào cái tâm pháp
giới, thì nhứt tâm tức là tam trí, ba trí vẫn là một
tâm, tỷ như đại hải vô nhai.
Tam trí: 1/ Nhứt
thế trí, là trí của các thánh Thinh văn Duyên giác,
vì biết cái tổng tướng của tất cả pháp; tổng tướng
tức là không tướng. 2/ Ðạo chủng trí, là trí của các
đức Bồ Tát, vì biết tất cả đạo pháp mỗi mỗi sai
khác. 3/ Nhứt thế chủng trí, là trí của chư Phật, vì
Phật có trí hoàn toàn sáng suốt, biết thấu pháp của
tất cả chủng: từ tổng tướng đến biệt tướng để dạy
đạo lý, dứt hoặc tập. Ba trí tròn sáng, tức là Chơn
như tánh hải.
Thống:
gôm, lý: sửa, điều trị. Ðại chúng: Nguyên
tiếng Phạm là Sangha (tiếng Việt đọc Tăng già) dịch
chữ là Hòa họp chúng, hay là chúng hòa hội, nghĩa
theo Tiếng Việt là các vị Bí Xu đồng nhiều hòa thuận
nhóm họp. Tức là các hàng quả vị trong tứ giáo, bảy
bực hiền giữa Tam thừa, và hạng thật sự Tăng chúng
giữa phàm phu (như đã thấy bản đồ ở văn sám
của ngài Duy Sơn Nhiêu Thiền Sư).
Phổ thông nguyện cả
chúng sanh: đều gom pháp lục hòa, đủ tam quán, để
dứt tuyệt những mê vọng của tam hoặc, trọn rỡ cả
chơn giác của tam trí, cùng vào biển của tất cả Hiền
Thánh, mà đặng lẽ viên dung vô ngại
Hòa nam:
dịch là lễ bái. Thánh chúng: tức là các Thánh
chúng cả Tam thừa giữa Tứ giáo. Ý nghĩa là: lạy chào
các Thánh, chúng con xin lui
BIỂU
ÐỒ
Xét rằng: Tam đế là
tam đức tánh thiên nhiên, vì Trung đế là gom tất cả
pháp; chân đế là bặt hẳn hết thảy pháp; Tục đế là
thành lập đủ các pháp. Lại, lúc tâm tánh chẳng động,
mượn đấy để lập cái tên Trung; lúc mất bặt cõi tam
thiên, mượn lập tên không; lúc mà tuy mất còn, mượn
lập tên giả,
BIỂU
ÐỒ
Với Trường hàng,
Trùng tụng, Cô khởi thì theo nơi chữ, một câu để
thành lập danh từ; do nơi Sở để nêu bày cái tên
Phương Quảng. Còn mấy phần kia là đều theo nơi Sự để
xưng hô.
Vã lại, chỉ ngay
nơi một bộ kinh Pháp Hoa nó gồm đủ mười hai phần hay
bộ, để rõ rằng: các bộ kinh đại thừa bộ nào cũng đều
có đủ mười hai phần, mà cũng có đại thừa không đủ
mười hai phần ấy, như Kinh A Di Ðà chẳng có ba nghĩa
Trùng tụng, Cô khởi, Thụ ký. Ngoài ra, các Kinh khác
so đó khá biết; còn với chín bộ của Tiểu thừa đủ hay
chẳng đủ mười hai phần giáo, cũng so với Ðại thừa
như trên khá biết.
BIỂU
ÐỒ
Với ba ấy đều xưng
là Tạng (là kho hay chứa vô kho) đó, là cả mười pháp
giới nào tứ Thánh nào Lục phàm đều có bao nhiêu công
đức đâu đều chẳng đủ, nên nói là Tạng: nếu mỗi người
đều năng học tập, dần dần đi sâu vào chỗ thâm diệu
của bao nhiêu kho ấy, thì tất nhiên trí huệ rộng sâu
như biển khơi.
|