Nhị Khóa Hiệp Giải
(Thời khóa tụng
khuya và thời khóa tụng chiều)
Chú giải:
Ngài Quán
Nguyệt
Dịch giả:
HT Thích Khánh Anh
Chương 5:
KỆ HỒI HƯỚNG – PHÁT NGUYỆN HỒI HƯỚNG
BÀI KỆ HỒI HƯỚNG
Hồi hướng Tam Bảo
chúng Long thiên, thủ hộ già lam chư Thánh chúng :
Hồi hướng : Tam bảo,
các Rồng, Trời...., cả thánh chúng giữ giúp vườn
chùa.
Từ đây sắp xuống mười
câu kệ, là dâng công đức trên, để hồi hướng về cả
mười giới. Yù nghĩa của hai chữ hồi hướng nó đi ngay
suốt xuống cả mười câu kệ, nên hơi đọc là ý tưởng
đều chẳng đặng dứt giữa khoảng nhịp mõ. Hai câu trên
đây là hồi hướng lên ngôi Tam Bảo và các Hộ pháp.
Với nghĩa của Tam Bảo sẽ rõ ở văn Sám hối sau. Trời,
rồng là gồm chung thuộc bát bộ thần Hộ Pháp. Với
nghĩa của Già Lam, sẽ thấy rõ ở văn chúc tán. Các vị
Thần : Trời, Rồng....Già Lam, phần nhiều là có các
đức Bồ tát ẩn hình thị hiện và trong đó, nên xưng là
thánh chúng. Chừ ở đây hồi hướng lên Tam Bảo là để
nguyện cầu gia hộ cho ; hồi hướng về các vị : Thiên,
Thần....là để cầu ủng hộ ngôi Tam Bảo.
Tam đồ bát nạn cu li khổ, tứ ân tam hữu tận triêm
ân, quốc giới an ninh binh cách tiêu, phong điều vũ
thuận dân an lạc.
Ba đồ tám nạn điều lìa khổ, bốn ân ba hữu trọn nhờ
ơn, nước cõi an ninh binh cách (giặc cướp) tan, gió
hòa mưa thuận dân yên vui.
Bốn cây đây là hồi
hướng cho cả pháp giới chúng hữu tình từ chốn u là
khuất mắt, đến chốn hiểu rõ thấy, điều được chung
nhờ lợi ích.
“tam đồ bát nạn” sẽ rõ
thấy nơi “văn lẽ Phật phát nguyện” của ngài Di Sơn
Nhiên Thiền Sư.
“Tứ ân” có ba điểm 1/
ơn của Thiên Ðịa che chở; 2/ ơn của Nhựt Nguyệt soi
đến (là ơn của cõi đời thiên nhiên bố thí cho ta
bằng cách tự nhiên) 3/ ơn của các đấng mở mang đất
nước; 4/ ơn của Cha Mẹ dưỡng dục. Ðólà tứ ân của thế
gian. Kinh Chánh Pháp niệm chép : 1/ ơn của Cha; 2/
ơn của Mẹ; 3/ ơn của Như Lai đại sư; 4/ ơn thuyết
pháp của các pháp sư. Ðây là tứ ân của thế gian,
xuất thế gian. Tâm địa phẩm nói : 1/ ơn Phụ Mẫu, 2/
ơn chúng sanh (nhơn quần xã hội và thú lực) : Vì
luân hồi lẫn nhau làm cha mẹ, và giúp đỡ lẫn nhau về
các phương diện : ăn, mặc, ở và công việc làm, dẫu
ta ra tiền mua mướn : 3/ ơn Quốc gia 4/ ơn Tam Bảo,
đây là tứ ân nghĩa rộng gồm cả thế gian và xuất thế
gian.
Tứ ân dù có nhiều
thuyết, song ta phải kỷ niệm, báo đáp tận tâm bình
đẳng.
“Tam Hữu” : ba có, tức
là ba giới; vì có những nhơn quả của thập thiện,
hoặc của thập ác, bởi ý chí có chấp trước lấy sự
tướng vật chấp để tưởng nhớ mãi chẳng quên, nên gọi
là “Hữu: có”. Chữ Triêm, nghĩa : thấm nhuần, chịu
ơn.
“Quốc giới” : Cõi nước
; với xa thì so cả đại thiên thế giới, sa số thế
giới; so với gần, thì có năm châu, chín châu ( 5
châu lớn, là : 1/ Châu á tế, 2/ Châu âu la ba, 3/
Châu a phi ly gia, 4/ Châu á mặc ly gia, 5/ châu úc
tước ni á. Với năm châu ấy tức kinh Phật kêu làm một
là thiệm bộ châu phía nam núi tu di, nay đây bất quá
cũng tùy theo thuyết của thế gian để quyền tạm mà
nói là năm châu lớn đấy thôi, chớ thật ra thì năm
châu ấy đâu có thể gồm hết đặng nam thiên bộ châu ?
Với vị trí của chín châu kia, sẽ thấy rõ ở trong văn
chúc tán sau).
“Bình” : Những món đồ
vũ khí của quân nhung. Thuở xưa, ông Xuy Vu dùng các
loại kim thiết để chế tạo ra năm món binh khí : 1/
Cây cung, 2/ Cây đầu, 3/ Mũi mâu, 4/ Mũi qua, 5/ Mũi
kích ; cũng gọi là ngũ nhung tức ngũ binh đây, thật
thế.
“Cách” : da thú đã
thuộc chín ; cách là áo giáp bằng da. Lại, xe bọc da
(nay bọc sắt) tức là xe nhà binh. Nước nhà nào mà
lắm cơn loạn lạc, thì nạn binh cách (giặc giã, hay
giặc cướp) nổi lên lung tung, như lũ kiến, chòm ong
: cắn hút thịt máu của dân chúng ! lúc nào có minh
chủ trị đời, thì giữa nước, ngoài cõi đều được an
ninh : nên nguyện cho nước nhà đồng được như đời vua
Nghiêu, vua Thuấn : năm ngày thì có một ngày gió mát
mười ngày có một ngày mưa, tan hẳn binh cách, thiên
tai nhơn họa đều không, ách nước nạn dân chẳng có,
sĩ thứ đồng an cư lạc nghiệp.
Nay dùng công tu phúng tụng này, để hồi hướng cho
pháp giới quần sanh đồng hưởng phước vui vô vi như
trị ấy.
Ðại chúng huân tu hi
thắng tấn, thập địa đốn siêu vô nan sự :
Ðại chúng huân tu mong
hơn tới, chóng lên thập địa không việc khó.
Hai câu kệ đây, là
nguyện cho bạn đồng tu đều được thắng tiến cả.
“Huân tu” xông, rèn,
trau, sửa “Hy” cầu, trông.
“Thắng tấn” có hai
nghĩa : 1/ cứ xét theo ngôi thứ để mà tiến, nghĩa :
người tu pháp Tiệm giáo, thì y theo vị thứ của 55
bực mà tiến, đó là trình độ độn căn của đại thừa. 2/
tiến triển bằng cách vượt lớp, tức là thắng tấn.
Nghĩa : Người tu pháp đốn giáo, đối với năm mươi lăm
ngôi, vượt lớp mà tiến, đó là hạng lợi căn của đại
thừa.
Lại, từ nơi vị trí của
phàm phu, vừa phát tâm tu học liền chóng vượt lên
bực Sơ địa Bồ Tát....nhẫn đến bực thập địa Bồ Tát;
hoặc từ nơi sơ địa tu học, mà đốn siêu bực
thập địa : như đức Quán Thế Âm nghe Phật Thiên quang
vương Tịnh trụ Như lai nói thần chú đại bi, từ sơ
địa mà siêu ngay lên bát địa, đó là thế.
Lại, bên biệt giáo, từ
sơ địa về trước, đều là hạng duyên tu, thì chẳng gọi
là thắng tấn được, vì duyên tu là tu bằng cách phải
chuyển theo trải qua mỗi sự mỗi cảnh; nếu lên được
bực Sơ địa, thì mới được thuộc về hạng chưon tu, thế
mới gọi là niệm tự nhiên để tiến tới, chứ chẳng cần
mượn công tu bằng cách tác ý.
Tam bảo, và kẻ có quy y thụ giới, đều vâng nhờ công
đức hồi hướng đấy, để tăng thêm chánh phước và chánh
huệ.
Ba bài kệ trên đó (từ
“Thượng lai hiện tiền thanh tịnh chúng.....” đến
“đàn tín quy y tăng phước huệ” cọng 12 câu, phân là
ba bài) của tác giả : Chơn yết Thanh Liễu thiền sư
đời Tống (960 – 1.276), sanh trưởng ở đất Thục, con
nhà họ Ung xứ Miên Châu, đệ tử của Tổ Ðan Hà Thuần
thiền sư; đến sau năm Thiệu Hưng thứ 21 (đinh vị
1,151) nhận lời chiếu của Vua Tống Cao Tôn thỉnh,
lãnh trụ trì nơi chùa mới núi Cao Ðình, xứ Hàng
Châu.
Nam mô ta bà thế giới,
tam giới đạo sư, tứ sanh từ phụ, nhơn thiên giáo
chủù, thiên bách ức hóa thân, Bổn Sư Thích Ca Mâu ni
Phật.
Nam mô Bổn sư
Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô đại trí Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát.
Nam mô đại hạnh Phổ
Hiền Bồ Tát
Nam mô Hộ Pháp chư
thiên Bồ Tát
Nam mô đạo tràng hội
thượng Phật Bồ Tát.
(Trong lúc niệm Phật
đi hữu nhiễu đó có 2 ý nghĩa : 1/ Là một, lễ kính
bằng cách vừa miệng thì xưng tụng hiệu Phật, và thân
thì đi vòng quanh hầu tượng của Phật; đó là cái lễ
rất kính của xứ Ấn độ đối với Phật. Kinh vô lượng
thọ nói : “Cúi lạy chơn Phật, hữu nhiễu 3 vòng”. Thế
gọi là hữu nhiễu. 2/ Là phương pháp tiêu dưỡng :
hoặc đứng tụng lâu, hoặc ngồi thiền lâu, gân máu
ngưng trệ, hay ma buồn nó phá, hoặc mới ăn cơm
rồi.....đều phải đi vòng hay đi thẳng tới lui, là để
cho gân máu chạy đều, hết lừ đừ ngũ, tiêu thực, vệ
sinh dưỡng thân. Thế thì gọi là : Hành đạo hay kinh
hành. Truyện ký qui cuốn thứ ba chép : Ði hữu nhiễu
Phật điện, đi vòng quanh ngôi tháp, là cốt vì cầu
phước cho tự tha, nên tỏ cái nghi cung kính : còn
kinh hành là cái phép tiêu thực tán bô, ý nghĩa ở
dưỡng thân trừ bịnh).
HỒI HƯỚNG VĂN
Quỳ đọc bài để hồi
hướng
Phàm làm việc Phật, rốt phải hồi hướng là để cho
công hạnh có chỗ ký thác : như sau kia là riêng hồi
hướng về cực lạc tịnh độ : còn chính đây là tổng
(chung) hồi hướng về Tam Bảo giữa pháp giới. Nhưng,
hoặc riêng hay chung gì đều phát cái tâm tự lợi lợi
tha, nguyện cho đồng đắc thật chứng.
“Hồi hướng cũng như
phát nguyện” : Số là, có hành mà không nguyện, thì
chí hướng bất định. Như người ra đi đâu đó mà không
có cái sở nguyện gì, chí hướng chi, thì ra đi phóng
mạng cũng như lãng mạn giữa đường có gặp
chuyện chi xảy đến, tất nhiên theo với cảnh ngộ mà
đổi dạ sang đàng ! Hễ nguyện hải đã sâu, công hạnh
đã đầy, thì đạo quả thành tựu. Nên phàm là kẻ tu
hành hễ có công tác chi, đều phải hồi hướng :
hồi hướng có bốn cách
:
1/ Hồi nhơn hướng quả,
nghĩa là tu các hạnh là nhơn đều có thể được để
thành Phật là Quả. Chính như nay tu tịnh độ là nhơn,
hồi hướng về Cực lạc là quả, lẽ phải như vậy.
2/ Hồi tiểu hướng đại,
nghĩa : Những kẻ học Phật bằng pháp tiểu thừa, và tu
thập thiện của nhơn thiên thừa, đều nên hồi hướng
lên đại thừa, mà nay thì với những chỗ tu các pháp
thiện đều hồi hướng về đài sen thượng phẩm, thật
thế.
3/ Hồi tự hướng tha,
nghĩa ta nay phát tâm tu Phật đây, là chẳng vì để
mưu cầu riêng cho mình, mà ít nhứt việc lành bằng
mảy tơ sợi long gì cũng đều phải hồi hướng thí cho
pháp giới chúng sanh, bây giờ thì nguyện cho chóng
phát triển trí huệ của Phật tánh, để quảng độ chúng
sanh, thật như vậy.
3/ Hồi tự hướng tha,
nghĩa : ta nay phát tâm tu Phật đây, là chẳng vì để
mưu cầu riêng cho mình, mà ít nhất việc lành bằng
mảy tơ sợi lông gì cũng đều phải hồi hướng thí cho
pháp giới chúng sanh, bây giờ thì nguyện cho chóng
phát triển trí huệ của Phật tánh, để quảng độ chúng
sanh, thật như vậy.
4/Hồi sự hướng lý, nghĩa : Lạy Phật, tụng Kinh, tham
thiền, học đạo, bố thí, làm phước, thay chúng làm
việc, nhẫn đến giúp bầu nước, quét chỗ đất, việc
lành bằng mảy lông, với các việc làm kể trên, nếu ta
để ý trước tướng, thì đều thuộc về sự tướng : trái
lại, nếu ta hiểu rằng : với năng niệm, năng tác,
tánh cách nó đã không, thì với sở niệm sở tác, tánh
cách nó cũng không mà cái cái không nó chẳng
có bờ mé, tức nhiên toàn sự chính là lý, thì mỗi mỗi
sự gì cũng đều bao trùm pháp giới, mỗi mỗi tâm niệm
chi, cũng đều tròn bọc thái hư, như thế xét kỹ
ra, nó đều thuộc về lý tánh cả. Chính chỗ gọi : sự
thiện bằng hữu tướng, nó lẫn thành ra lý thiện bằng
vô tướng. Sự lý dung hiệp lẫn nhau, tức là cảnh tam
đế ; năng niệm năng tác chính là tâm tam quán. Tâm
vẫn tức là cảnh, cảnh vẫn tức là tâm, thế là chơn
tịnh độ. Với sự hành động và khi yên lặng trong hằng
ngày của ta cùng người, đều phải quán xét như thế
đó, thì, chính nơi chỗ ta đương ở đâu, cũng thành
ngay được tự tâm tịnh độ liền tại đó.
Bài phát nguyện hồi
hướng sau đây, là Ngài Duy Sơn Nhiên thiền sư chép
ra, để tổng hồi hướng về pháp giới Tam bảo ; hoặc ai
không thích, thì đổi đọc văn tịnh độ. Như “Khể thủ
tây phương an lạc quốc....” “Thập phương tam thế
Phật.....” “Nhứt tâm quy mạng.....” tùy ý, và tùy
chí nguyện. Nhưng phải biết là tổng hồi hướng hay
biệt hồi hướng ? chớ đừng phân biệt cố chấp mà thành
ra cái bịnh xuyên tạc của kẻ tu học
-
quy mạng thập phương
điều ngự sư ;
-
Diên dương thanh
tịnh vi diệu pháp ;
-
Tam thừa tứ quả giải
thoát tăng ;
-
Nguyện tứ từ bi ai
nhiếp thụ ;
Lạy cả : “Ðiều ngự
sư” mười phương ;
Giảng bày “pháp”
thanh tịnh vi diệu ;
Ba thừa bốn quả
“tăng” giải thoát ;
Xin đồng thương xót
thâu nạp cho.
Bốn câu trên : Câu đầu
là kính lạy ngôi Tam Bảo ; câu thứ hai là lạy ngôi
Pháp bảo; câu thứ ba lạy ngôi Tăng bảo ; câu thứ tư
là tổng quát để nguyện Tam Bảo chiếu ánh Từ Quang
đến chứng nhận lời phát nguyện hồi hướng này.
Quy mạng
: Cúi đầu kính
lạy, là một nghĩa trong tiếng Nam mô (Namoahnamo.
Như : Namo Buddhàya, dịch quy mạng ư Phật, nghĩa :
Kính lạy đức Phật v.v.......)
Thập phương điều
ngự tức là
các đức Phật ở mười phương. 10 phương là : Ðông, Tây
Nam, Bắc, bốn góc (đông nam, Tây nam, tây bắc, đông
bắc) thượng phương, và hạ phương.
Ðiều
: trị, sữa. Ngự
: gom dùng ; ngăn dẹp; điều khiển. Lý cho, để đặng
phước có vui vô sanh; với chúng sanh còn có tánh
cang cường, Phật cấm hẳn đi, khiến cho được đạo quả
xuất thế gian. Số là : sức lành lan khắp, gôm giáp
pháp giới để sửa đổi, giáo hóa, đó là Phật bảo ; với
một mảy bụi không nhiễm lìa bốn điều quá (chấp có,
chấp không, chấp phi có phi không, chấp cũng có cũng
không), dứt hẳn trăm món quấy, đó là Thanh Tịnh
; tròn rỗng khắp giáp, lẽ nó tuyệt nói năng suy
nghĩ, đó là Vi diệu ; nghĩa với pháp vi diệu
thanh tịnh như thế duy chỉ có Phật mới có thể chứng
và biết đựơc, rồi ra, khắp vì chúng sanh để giảng
nói diệu pháp ấy mà nêu bày giáo hóa, thế mà chúng
sanh còn phần nhiều vì mê mà chưa biết hết
được pháp ấy ! còn các thánh giữa tam thừa thì, tùy
theo mỗi trí của mình mà chứng biết lần hồi từ mỗi
phần, thế nên ta cần phải quy mạng để mà nghiên cứu
kỳ cho được “ly dục thanh tịnh” đó là Pháp bảo.
Tam thừa
: bốn quả Thánh Thinh Văn là Tiểu thừa ; các Thánh
Duyên giác, Ðộc giác là Trung thừa; các Thánh Bồ Tát
là đại thừa. Tứ quả : tức là bốn quả Thánh
Thinh văn như sơ quả Tu Ðà Hoàn, Nhị quả Tư Ðà
Hàm, Tam quả A Na hàm, tứ quả A la hán. Các quả ấy
đều là địa vị thánh nhơn, vì đã giải thoát hết sanh
tử rồi nên xưng là Tăng bảo.
Ðối với Pháp
Ba thừa tùy
phận mà biết
|
Thánh Thinh
văn chênh lệch biết
Thánh Duyên
giác chênh lệch biết
Thánh Bồ Tát biết từ phần
|
chớn đế pháp
Tục đế pháp
Pháp trung đế
|
Người học Phật, đối
với pháp “Tam đế” nếu chỉ biết bằng cách chênh lệch
riêng về “chơn đế”mà thôi, thì chẳng gọi là biết
đúng pháp vi diệu; vì pháp tiểu thừa thuyết ra cái
chơn lý đó là nó lệch về một bên “không” nên nói các
thánh Thinh văn biết pháp bằng cách lệch về chơn đế.
Nghĩa : Chân, tránh cái khổ sanh tử trong tam giới,
riêng hưởng lấy cái vui niết bàn ngoài ba cõi. Còn
những người học Phật mà biết cả ba Ðế bằng cách trọn
vẹn vẫn một chẳng hai, vì với pháp sanh tử đã giác
ngộ rồi hết mê hoặc, thì, pháp sanh tử tức là niết
bàn. Biết như vậy mới gọi là biết đúng pháp vi diệu,
nên Ma ha tát, dịch : đại giác hữu tình, nghĩa : Bồ
Tát lớn đã giác ngộ mình và chúng.
Ðản...... tự vi chân tánh, uổng nhập mê lưu, tùy
sanh tử dĩ phiêu trầm, trục sắc thinh nhi tham
nhiễm. Thập triền, thập sử tích thành hữu lậu chi
nhân ; lục căn, lục trần vọng tác vô biên chi tôi.
Mê luân, khổ hải thâm nịch tà đồ; trước ngã đam
nhơn, cử uổng thố trực. Lụy sanh nghiệp chướng, nhứt
thế khiên vưu...
Chín vì.....chúng con từ trái tánh giác, luồng
vào dòng mê, xuôi theo biển sanh tử để trôi chìm,
rượt với cuộc sắc thanh làm hám đắm. Mười
triền, mười sử, chứa nên cái nhơn hữu lậu; sáu căn,
sáu trần, quấy tạo cái tội vô biên. Mê man lội bể
khổ, đi sâu vào đường tà, lòng chấp ngã đắm
nhơn, việc bỏ ngay làm vạy. Chồng chất đời nghiệp
chướng tất cả quấy lỗi.
Ðoạn đây là nêu lên
cái nhơn của nghiệp sanh tử. Ba cân đầu là : Từ nơi
chơn tánh, phát sanh ra vọng nghiệp ; Nghĩa : Từ
trái tánh giác, là điều hoặc ; luống vào dòng mê, là
cái nghiệp; xuôi theo biển sanh tử, là khổ quả.
Chính rằng : mê quên nơi chơn tánh, mà dấy ra vọng
hoặc, từ nơi vọng hoặc để gây ra nghiệp nhơn, do nơi
nghiệp nhơn rồi chịu khổ quả giữa tam giới, thực như
vậy.
Câu thứ tư sắp
xuống là : Từ nơi một thứ vọng này rồi chất chứa bao
vọng khác. Là nói : bởi sáu căn là nhãn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân, ý nó rượt theo với sáu trần là : sắc,
thinh, hương, vị, xúc, pháp, sáu trần làm hoen ố sáu
căn. Căn thuộc về tâm, Trần thuộc về cảnh; cảnh kéo
trì nhau với tâm, tâm bị hoàn cảnh lôi cuốn, lẫn
nhau phát khởi ra phiền não là mười triền mười sử,
lắm lúc tạo những tội chướng nhiều đến số lượng !
Thì lẽ tất nhiên, với ba giới sáu đạo, cứ luân hồi
mãi trong vòng tròn sanh tử và đắm chìm nơi bể khổ
hữu lậu đã sâu lại càng sâu !
Ðường tà tức là năm
lợi sử trong mười sử ; nhơn ngã là năm độn sử trong
mười sử : hễ sa đắm đường tà, thì, chẳng có cái
chánh tri kiến để ra khỏi thế gian ; còn chấp nhơn
ngã, thì gây tội lỗi ở thế gian : không có lòng nhơn
từ bình đẳng, sanh khi điều nhận thấy lầm lệch bằng
ái và ố ! Thì cũng như chỗ đức Khổng Tử nói :
“Làm những việc cong quẹo, bỏ các điều ngay thẳng”
thật không công bình gì hết ! lấy mà dùng là nghĩa
chữ Cử, bỏ đi chẳng dùng là Thố; mưu tam hạn chế
việc làm trái với chánh lý là Uổng ; để ý ngăn làm
thuận theo chánh lý là Trực. Nghĩa : với chỗ ta yêu,
dù nó là kẻ gian tham ngu bạo trái với chánh lý, thế
mà ta cũng cất nhắc nó lên, để tín dụng ; với chỗ ta
ghét, tuy nó là kẻ nhơn trí hiền lương thuận chánh
lý, vậy mà đành ém gạt bỏ đi. Như thế thì, cái chánh
lý tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ nó rối
hẳn rồi ! Bất luận quân chủ hay dân chủ, chánh khách
hay thứ nhơn....hễ một phen đã do nơi lòng ái, ố làm
chướng ngại rồi, thì mối dây oan nghiệt cứ cột gút
mãi chẳng thôi, mà với cái khiên vưu giữa ác đạo
càng gấp nặng gấp sâu luôn !
Mười Sử làm thể, mười
Triền làm nghiệp dụng, do mười sử làm tiên phong,
thì có nghiệp dụng của thập triền nó làm cho chúng
sanh mê muội chơn tâm, buộc ràng nơi sanh tử, không
lúc nào buông ra được, nếu chẳng xuất gia tu hàng
giải thoát.
Bốn sử tham, sân, si,
mạn đều là mê chấp lấy sự vật giữa thế gian và khởi
ra những quan niệm vọng hoặc của bốn ấy, tánh phận
nó trì độn, nên gọi là độn sử; còn cái Nghi sử là
đối với chơn lý của tứ đế mà sanh ra điều vọng hoặc
này, tánh nó là do dự không quyết định gì được, thì,
tánh phận cũng không tinh nhuệ chi, nên đồng loại
với tham, sân, si, mạn, là ngũ độn sử.
Năm sử bén : Bởi mê
muội cái lý tánh của pháp tứ đế mà khởi ra ngũ lợi
sử nầy với giữa những điều vọng hoặc ; năm cái
hoặc này tánh nó lanh lợi cũng như bén sước hơn hết
nên gọi là ngũ lợi sử, tức cũng là ngũ kiến : 1/
Thân kiến, tức là cái ngã kiến cà cái ngã sở
kiến. Nghĩa : chẳng biết cái thân ta đây nó là vật
giả dối bẵng ngũ uẩn hòa họp, mà lại kể chấp làm
thật có cái thân của ta (ngã kiến : nhận thấy có ta)
; với những sự vật ở chung quanh bên thân ta lại
chẳng biết nó là vật không có chủ sở hữu nhứt định,
mà kể chấp cho là thật vật sở hữu của ta (ngã – sở –
kiến : nhận thấy vật sở hữu của ta) ; nhập
chung hai cái ngã kiến và ngã sở kiến lại làm một là
thân kiến. Mà thường thường với cái ngã sở kiến, chỉ
gọi tắt là ngã kiến. 2/ Biên kiến : Một phen
sau khi chấp có cái ngã thân dấy cái ngã kiến, thì
với cái ngã, hoặc kể chấp rằng sau khi chết rồi, cái
ngã (hồn) nó đoạn tuyệt hẳn ; hoặc kể chấp sau khi
chết rồi nó cũng vẫn thường còn mãi chứ không dứt
mất, vì hai nghĩa ấy là cái vọng kiến (thấy bậy) dấy
ra ở bên sau cái thân kiến, nên gọi là biên kiến (đó
là nghĩa cuả Duy thức học). Còn chấp lệch về một
bên đoạn hay thường nên gọi là biên kiến (đó là
nghĩa của Câu Xá Luận) 3/ Giới thủ tức giới
cấm thủ kiến : do nơi cái “kiến thủ kiến” dưới đây,
bèn thủ lấy cái giới cấm “phi lý, phi quá” để làm
đầu, dùng lấy mỗi mỗi hành pháp kia, để làm cái nhơn
sanh về các cõi Trời, hoặc để làm cái đạo Niết bàn.
Trong đây có hai thứ : a/ Giữ các giới ngưu, giới kê
(ăn những vật của con trâu ăn, gà ăn, hoặc ăn bằng
cách như trâu gặm gà mỗ) dùng làm cái để sanh lên
Trời, thế là cái
giới cấm thủ kiến bằng cách phi nhơn mà
chấp làm nhơn) b/Tu các giới khổ hạnh bằng cách
: hoặc lấy tro tô phết vào thân thể, hoặc tịch cốc,
nhịn đói, ăn rau..... dùng khổ hạnh đó để làm cái
đạo Niết bàn, thế là cái giới cấm thủ kiến bằng các
phi đạo mà kể làm đạo. 4/ Kiến thủ kiến :
dùng cái tri kiến hạ liệt làm đầu, thủ lấy các hạ
liệt khác, để tư tưởng làm một thứ rất tốt đẹp hơn
hết. Nghĩa chữ “kiến” trên : dầu chỉ về chỗ nhận
thấy cửa thân kiến, biên kiến, song chữ “kiến” ấy
nghĩa nó còn hàm những mỗi sự vật khác nữa. 5/ Tà
kiến : với đạo lý có nhơn có quả, lại bác
bỏ đi cho là không có nhơn có quả gì hết, như : cho
rằng ở đời không có cái nguyên nhơn nào đem lại cái
kết quả, cũng chẳng có cái kết quả nào do nguyên
nhơn mà sanh, thành thử với các chúng chẳng
sợ, với thiện chúgn cũng không ham, cái lối nhận
thấy lầm lạc ấy, chính là đã tà kiến mà lại tà kiến
hạng nặng ! nên tặng cho cái danh là “tà kiến”
Nhẫn trên năm điều
kiến thức đó, là một phần ác tri huệ, với ngôi kiến
đạo, đồng thời dứt hết năm điều ấy. Nhà Cựu
dịch gọi là “Ngũ lợi sử”
Ngưỡng Tam Bảo dĩ Từ
bi, lịch nhứt tâm nhi sám hối.
Ngữa cầu Tam bảo duỗi từ bi, cúi nhỏ nhứt tâm xin
sám hối.
Ðây là chung ngửa kính
ngôi Tam bảo để cầu sám hối. Chữ “ngưỡng” là ngữa
mặt trông lên trên để mà cầu xin. Chữ “Lịch” là nước
nhỏ từ giọt có tiếng, tức là : Nghiên tận đáy lòng
để lộ trần những điều tội lỗi không còn sót giấu.
Như nghiêng bình rót nước ra hết chảy từ vòi đến từ
giọt không còn sót một điểm nào.
Sở nguyện năng nhơn
chứng bạt, thiện hữu đề huề, xuất phiền não chi thâm
uyên, đáo bồ đề chi bỉ ngạn :
Cúi xin đức Năng nhơn cứu vớt, các thiện dắt dìu,
lên khởi vực sâu phiền não, tiến đến ngàn giác bồ
đề.
Ðây cho đến rốt bài
điều dùng vâng Tam Bảo trên cầu chứng sám hối, để
riêng dấy cái nguyện tự lợi lợi tha. Bốn câu ở trên
đây : là chính tự mình nguyện nhờ cứu dắt tiến lên
cảnh giới cực điểm là vô thượng chánh đẳng chánh
giác tức quả vị Phật.
Hai chữ “Sở nguyện”
nghĩa nó trùm suốt xuống cuối bài.
“Năng nhơn” : tức là
đức Thích Ca giáo chủ.
“Thiện hữu” : bạn
lành, người có đủ kiểu mẫu làm đạo, có công giúp ích
mở trí. Chỉn bởi từ vô thỉ cũng như từ đời kiếp mà
không biết đầu cuối là đâu, đã chứa chất dưới vực
sâu phiền não, nay đây nếu phi Thánh giáo thì k hông
thể đắc độ nổi ; lại bởi trí lực ta qua suy vi, với
ngàn giác đạo, nếu phi thiện hữu thì chẳng thể tự
mình chóng lên đặng. Tổ Quy Sơn nói :
“Ði đường xa, cốt
nương bạn lành, để thường được trong sạch nơi tai
nghe, mắt thấy; đến trụ chỗ nào, ắt phải chọn bạn,
để mỗi giờ được nghe chỗ mà bấy lâu chưa nghe”.
Nên chi, với đạo cả,
nếu muốn nghe nhiều hiểu rộng, thì lẽ tất nhiên là
trước nhứt ta nên thân cận thiện hữu, đó chính trên
đây bảo thế.
Thử thế phước cơ
mạng vị các nguyện xương long ; lai sanh trí chủng
linh miêu đồng hy tăng tú.
Ðời này : với nền phước ngôi mạng, đều nguyện chung
được thanh cao; kiếp sau, giống trí mạ linh, đồng
cầu cùng nhau thêm tốt.
Ðây là nguyện khắp cả
người với ta đồng đặng phúc huệ. Kiếp trước đã đắp
xây nền phước, đời nay ngôi mạng thanh cao; hiện nay
đem giống trí của Phật gieo vào ruộng Tâm ta, mai
sau này mầm linh chồi đạo mỗi giờ càng thêm tốt; mãi
đến sau khi đã hoàn toàn kết quả bồ đề rồi, mà với
mục đích chí nguyện ấy từ thỉ chí chung phi riêng vì
đề cầu cho một cá nhân mình, mà chính vì phổ nguyện
cho pháp giới chúng sanh đồng đắc như thế.
Sanh phùng Trung quốc trưởng ngội minh sư, chánh tín
xuất gia, đồng chơn Phật đạo; lục căn thông lợi, tam
nghiệp thuần hòa, bất nhiễm thế duyên, thường tu
phạm hạnh; chấp trì cấm giới, trần nghiệp bất xâm,
nghiêm hộ uy nghi quyên phi vô tổn :
Với đời sau, nguyện sanh ngay ở Trung châu quốc
độ, lớn lên liền gặp đức thầy sáng suốt, ta do lòng
chánh tín đi xuất gia từ tuổi đồng chơn đã vào
đạo; lục căn đều sáng dạ, tam nghiệp lẫn trọn lành,
chẳng nhượm duyên đời, thường tu hạnh sạch; giữ gìn
giới cấm, với nghiệp trần chẳng xâm, dè dặt nết na,
với một con vi trùng nhỏ bay cũng không nở làm tổn
nó.
Ðây là nguyện sau khi
sanh ra đời liền gặp ngay vị thiện tri thức, vào đạo
giữ giới cấm do thầy đã truyền trao.
Những xứ ở nơi biên
cương (bìa ranh) ít có văn hóa của Thánh hiền phổ
cập thì phần nhiều là kẻ ngu ngoan bạo ác và tự
cường; dầu sao cũng còn dã man; còn Trung ương quốc
độ, thường có Thánh hiền xuất thân, tiếp tục lấy văn
tự, giáo pháp, lễ nghĩa, tiết hạnh và đức độ để dạy
bảo khuyên răn. Nên chi hễ muốn vào đạo Thánh hiền,
ắt phải sanh ở trung độ của nước. Xin chớ hiểu
lầm hai chi chữ “Trung quốc” là nước Tàu mà thàh ra
biệt ngại bất thông
Từ thiện của thế gian,
không thể gọi là chánh đặng, vì còn phân biệt lệch
về chấp ngã, chấp nhân; tịnh thiện của xuất thế gian
mới gọi là chánh, vì hai chấp đã không, ba vòng
chẳng có. Nên chỉ dùng kẻ chơn chánh học Phật là
chánh tín, chánh thiện, bởi không tham nhiễm và chấp
trước.
“xuất gia” : ra khỏi
nhà, có ba nghĩa
-
Xuất hồng trần gia :
ra khỏi nhà bụi hồng. Là lòng xa lìa trần cấu
phiền não, chữ gia là gia thất, nó hàm có những
nghĩa ân ái, phiền lụy, nên Tỳ bà sa luận
nói : “gia là phiền não nhơn duyên, kẻ xuất gia
là vì dứt trừ cấu lụy, nên phải xa lìa”. Kinh Tứ
Thập Nhị Chương nói : “Qua khỏi cửa này, là La
hán ra khỏi trần”.
-
Xuất tam giới gia :
Ra khỏi nhà tam giới. Ðại thừa Bồ Tát, đại thừa
cư sĩ như Duy ma cật, vì tâm đã dứt hết cửu p
hẩm mê hoặc cả tam giới tức A la hán, đều là
hạng “tâm xuất gia”. Tâm giải thoát ngoài tam
giới.
-
Xuất vô minh gia :
ra khỏi nhà không sáng. Nghĩa là : Cái tâm ám
độn không có ánh trí chiếu rõ sự lý của các
pháp. Vô minh tức là tên riêng của si mê, vô
minh nó hòa hợp nhau với tham mà sanh ra ta; vô
minh tỷ là cha, tham ái tỷ là mẹ Kinh Lăng Già
cuốn 3 nói : “Tham ái gọi là mẹ, vô minh thì là
cha, người xuất gia trước phải diệt cha mẹ ấy”.
Tứ giáo nghi nói “Từ biệt (diệt) hẳn cha mẹ vô
minh, cứu cánh lên đảnh núi Niết bàn”. Nên nói
ra khỏi nhà vô minh.
Vã lại, thân xuất
gia : các Bý su bên tiểu thừa, và Bồ Tát
tăng bên đại thừa; tâm xuất gia : cư sĩ tu Bồ
Tát bên đại thừa. Như các ông : Duy ma, Hiền Hộ
v.v..lại nữa,1/ thân xuất gia tâm chẳng xuất gia
: thân tuy ở giữa tăng chúng, tâm còn nhớ tưởng
người nhà. 2/ thân dù ở nhà, mà tâm đã ra khỏi
nhà
: mặc dầu thụ dụng với thê tử, mà lòng chẳng mê đắm
ái ân. 3/ Thân tâm đều xuất gia : Với bao
cảnh tham dục, tâm không đoái hoài quyến luyến. 4/
Thân tâm đều chẳng xuất gia: Vẫn còn nguyên
thụ dụng với vợ con, lòng quá ư mê đắm điều kia việc
nọ (rút ở Pháp uẩn túc luận)
Ðồng chân nhập đạo.
Ðồng : trẻ, son, một mình. Nghĩa : kẻ tuổi trẻ chưa
có thất gia (vợ chồng) đúng hơn là trinh tiết, thì
gọi là Ðồng, vì ngươn tình còn nguyên vẹn, chưa hề
bị hành dâm tan mất, người mà ít biết gì đến ái
tình, mới để xuất gia nhập đạo, bởi tự bảo đảm khỏi
mèo na, hổ bắt !
Lục căn thông lợi :
Nhơn vì đời trước, với giữa Tam bảo đã có công
rất sâu dày về siêng tu tìm học, nên nay đủ căn tánh
đi hành đạo xuất thế gian, thành thử, vừa thấy nghe
đạo Phật là, đã tín thụ thông lợi liền.
Tam nghiệp thuần
hòa : Cái thân chẳng làm nghiệp ác là : sát
sanh, thâu đạo và tà dâm; cái khẩu không nói lời ác
là : vọng ngôn khỉ ngữ, lưỡng thiệt và ác khẩu; các
ý chẳng niệm điều ác là : Tham lam, sân hận và si
mê. Với khi hành động,, lúc yên nghĩ, đều chỉ một
niềm tinh tịnh, gặp sự gì cũng không bạo động tàn
ngược, nên gọi là thuần hòa.
Bất nhiễm thế
duyên:
Nhiễm : nhượm, dơ. Thế duyện, tức là các : ngũ
dục (tiền của, sắc đẹp, danh vọng, an sang, ngũ
sướng), sáu trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp)
sanh và diệt. Ðối với sáu trần, thì, sáu căn (mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ý), nó thường ưa sanh ra gây
nhiều tội lỗi, nên phải cấm, giữ lấy phạm hạnh là
hạnh kiểm thanh tịnh, mà dứt hẳn những điều tập quán
tham nhiễm để ngăn dứt cái nghiệp nhân của thân khẩu
ý, nên gọi là bất nhiễm.
Phạm hạnh : cái
tâm hạnh trong sạch không ô nhiễm. Nghiêm cấm mà
chẳng phạm gọi là giới. Trần nghiệp tức là thế
duyên. Xâm : lấn tổn, nhiễu nhương. Lòng tin thành
gìn giữ, là nghiêm hộ. Vì nghiêm chính, nên khiến
người kính nể, là UY. Vì hạnh vuông vức (đúng đắn),
khiến người khá noi gương lấy mực, là nghi. Chính
rằng cái cách thức hay gương mẫu để làm chánh đạo.
Cấm giới : mười
điều răn của Sai di và các giới của Bí xu, Bí xu ni,
thức xoa ma na; lại, trong giới Bí xu đủ có 3000 uy
nghi, tám vạn hạnh vi tế.
Quyên phi : các
loài trùng rất nhỏ mà có tánh cách biết hay như :
muỗi, mòng v.v... vô tổn : Tức chẳng nở giết hại,
rằng : với các loài chỉ biết bò biết bay mà thân
mạng nó rất nhỏ, nhà tu sĩ còn thường phải
năng thương giữ hộ thay, huống chi với tất cả vật có
sanh mạng lớn ư ?
Bất phùng bát nạn,
bất khuyết tứ duyên, bát nhã trí dĩ hiện tiền, bồ đề
tâm nhi bất thoái; tu tập chánh pháp, liễu ngộ
đại thừa, khai lục độ chi hạnh môn, việt tam kỳ chi
kiếp hải :
Chẳng gặp tám nạn, không thiếu bốn duyên, trí bát
nhã hiện tức thời, lòng bồ đề không lui sụt; học tu
chánh pháp, rõ chứng đại thừa, mở cửa hạnh sáu độ,
vượt k iếp lớn ba kỳ.
Ðây là ngoài thì phụ
giúp, trong thì tự dấy để đủ về công viên tu thì quả
mới viên chứng đặng.
Với điển bát nạn sẽ
chỉ rõ ra cái biểu đồ sau kia, vì tám chỗ ấy
vẫn chẳng được gặp Tam Bảo nên nói là nạn : Bị
chướng ngại !
Tứ duyên có hai điển :
1/ duyên thấy, duyên nghe, duyên hộ pháp, và có cái
duyên để phát tâm; vì bốn cái duyên ấy đều hay để
giúp ích cho cội bồ đề được tăng trưởng. 2/ có bốn
cái duyên về bốn sự ; y phục, ngọa cụ, ẩm thực, và
thang dược đó là những dưỡng liệu bên ngoài để giúp
cho sắc thân đủ sức khỏe để giúp bên trong phát khởi
tiến triển, nghĩa là : Ngoài nhờ sự, sống bằng bốn
duyên, trong đấy trí khôn của bát nhã. Hễ trí bát
nhã đã sáng suốt, thì tâm bồ đề tự nhiên tăng tiến
chứ không lui, hằng giừ tu chánh pháp, mỗi ngày nâng
cao giáo thừa lên.
Ðại thừa là :
Nhứt Phật thừa. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phật nói
rằng : chỉ có pháp nhứt thừa là đúng, còn hai
thừa kia là nhị thừa, tam thừa đều là phi chơn. Vì
là pháp phương tiện, bỡi tạm quyền nhứt thời chi
dụng, chớ phi cứu cánh.
Lục độ : Ta tu
pháp bố thí là để độ cái tánh tham lam bón rít của
ta, tu pháp trì giới là để độ cái tánh (tật, nghiệp)
phá trai phạm giới ; tu pháp nhẫn nhục để độ cái
tánh sân nhuế phẩn hận; tu pháp tinh tiến để sữa
chữa cái tật trễ nãi; tu pháp thiền định là để cải
biến các nghiệp tán tâm loạn tưởng ; tu pháp trí huệ
là để độ lành cái bịnh ngu si của ta. Chữ Việt là
Vượt bổng qua.
A tăng kỳ :
Phạm ngữ là : “Asamkhya” theo lớp cựu dịch mà ta đọc
là a tăng kỳ, dịch chữ : vô số, nghĩa : Nhiều vô số
kể. Lớp tân dịch mà ta đọc la a tăng sí da, phạm ngữ
là : “A Sanikhyeya” dịch chữ : Vô ương số, “vô ương”
cũng như “vô lượng” nghĩa như trên. Trí độ luận chép
là : a tăng kỳ dịch là vô số, sách Huyền ứng âm
nghĩa cuốn 24 chép là : A Tăng sí da, dịch là vô
ương số, a tăng kỳ là con số cực lớn của toán học
xưa ở Ấn đọ : Dùng muôn lần làm một số ức; muôn lần
ức làm một số triệu mãi như thế bội bội tính lên,
thì một a tăng kỳ kể có : một ngàn, muôn muôn muôn
muôn muôn triệu.
Như bên Tạng giáo :
Mang nghiệp chịu sanh trải qua ba a tăng kỳ kiếp tức
là vô số kiếp tu hành theo đạo nghiệp của Bồ Tát làm
những hạnh khổ mà người đời chủa làm được, Bồ Tát tu
nhiều kiếp như thế kia, để hành lắm việc khó làm như
thế nọ mới chứng đắc quả vô thượng là Phật.
Nay đây, bên Viên giáo
: Trọn phần thành lập bản chương trình tu nhơn chứng
quả cho chúng sanh, đến bực tứ địa mà với phần quả
địa rồi là trọn phần nhơn chơn tu, để trọn phần dứt
vọng hoặc, với lý thì chứng ngộ không sai, nên nói
là vượt tam kỳ kiếp hải. (quả địa, là : Y theo vị
trí nơi “Nhơn” nào để tu hành, thì đắc cái địa vị
chứng ngộ về pháp gì là kết quả nấy ; cả 3 thừa đều
có quả địa khác nhau, giữa Thinh văn thừa lại còn có
bốn quả riêng biệt. Kinh Lăng Nghiêm chép : chỗ nhơn
địa phát tâm là đồng hay là dị nhau với chỗ quả địa
giác. Trên cuốn thứ sáu, sách Huyền ứng chép : Quả
địa đã tròn tột rồi, thì chẳng còn nhơn vị.
Kiến pháp tràng ư xứ xứ, phá nghi võng ư trùng
trùng, hàng phục chúng ma, thiệu long Tam bảo; thừa
sự thập phương chư Phật, vô hữu bì lao, tu học nhứt
thế pháp môn, tất giai thông đạt; quảng tác phước
huệ, phổ lợi trần sa; đắc lục chủng chi thần thông,
viên nhứt sanh chi Phật quả.
Dựng cờ chánh pháp khắo nơi nơi, xé lưới tà nghi
luôn lớp lớp, dẹp thắng bốn quân Ma, tiếp rân ba
ngôi báu ; vâng thờ mười phương chư Phật không biêt
nhọc nhằn, tu học tất cả pháp môn thảy đều thông
suốt ; rộng ra làm đủ phước đức và trí tuệ, để lan
khắp lợi cho nhiều chúng lắm loài; đều đắc phép thần
đủ sáu món đồng tròn quả Phật ngay một đời,
Ðoạn đây là : Với
trên, cầu đắc pháp mầu, với dưới dạy tu chung tròn
quả Phật. Dựng cờ chánh pháp là : thuyết pháp độ
sanh; kiến : dựng lên ; cờ túc là phướng : cao sáng.
Nghĩa : Thí tỷ chánh pháp của Phật rất cao sáng,
khiến cho đâu đâu cũng đều trông thấy mà nảy lòng
kính tin. Lại nữa, còn nghĩa là tồi tà phụ chánh :
Thí tỷ việc thuyết pháp là khiến cho thính giả xả tà
quy chánh. Vì có hai nghĩa trên, nên bảo là Pháp
tràng (cờ chánh pháp hay là cây phướng). Ði nói
pháp khắp pháp giới để tùy theo trình độ của
mỗi loại mà tế độ chúng sanh, nên gọi là xứ xứ (nơi
nơi).
Chúng Ma : Ma nó hay
cướp đoạt cái mạng của kẻ tu hành chánh đạo. Phạm
ngữ là Ma ra, dịch nghĩa là : hay cướp mạng, làm
chướng ngại, làm rối rắm, làm phá hoại, làm não hại.
Ðức chúa trời ở cõi trời thứ sáu của Dục giới là Ma
vương quyến thuọc của ông là dana Ma, người Ma. Các
kinh luận của cựu dịch viết bằng chữ Ma là mùi.
Lương Vũ Ðế đem chữ Quỷ thay vì chữ Thạch thành ra
chữ Ma là ma quỷ. Nay xét : Chữ Ma, bằng bộ thạch là
đúng theo danh từ đọc đủ tiếng phạm là Ma, ra, vì
dịch âm chứ đâu phải dịch nghĩa ; còn Vũ đế thay,
chữ Quỷ vào thành chữ Ma bằng bộ Quỷ, là dùng theo
nghĩa rằng nó hay phá hoại cướp hại mạng người tu.
Ma có bốn thứ : 1/
phiền não ma, vì các điều phiền não là tham, sân,
si, mạn, nghi v.v..Nó hay làm tổn thương não hại nơi
thân tâm, nên bảo là Ma. 2/ Ấm ma. Lại kêu rằng ngũ
chúng ma, tan dịch là uẩn ma, vì năm món sắc, thụ,
tưởng, hành, thức nó hay sanh ra mỗi mỗi điều khổ
não nữa, nên gọi là ma. 3/ Tử ma : Vì cái chết nó
hay dứt dứt cái căn (gân máu) sanh mạng của người
nên nói nó là Ma. 4/ Tha hóa tự tại thiên tử ma, tân
dịch rằng tự tại thiên tử ma : Ðức Chúa Trời Ba
Vương tên là Ba Tuân ở từng trời thứ sáu (tức là
trời tha hóa tự tại) cõi Dục giới. Trời ba tuần đây
chính là nghĩa của chữ Ma Ra. Còn Tử Ma mới thật là
đoạt mạng. Thấy trí độ luận và nghĩa lâm dương đồng
nói như thế. Mà Bồ Tát hay dùng sức trí huệ để chiến
thắng tất cả Ma quân, La hán cũng có một nghĩa là
sát tặc : giết cả sáu giặc.
Lục thần thông : Thần
: chẳng thể xét lường được, như thần kỳ, thần diệu,
nghĩa là lạ lùng lắm : thông : Suốt không chi ngần
ngại. Các thánh trong ba thừa đắc sáu món trí huệ
rất tự tại rất thần diệu chẳng thể xét lường, không
chi làm trở ngại, nên gọi sáu phép thần thông :
1/ Thần túc thông :
Ðắc phép thông lực, lội đi qua lại rất tự tại núi
sông không làm trở ngại. 2/ Thiên nhãn thông :
Ðắc con mắt trời sắc giới, chiếu lâu không ngại 3/
Thiên nhĩ thông : đắc lỗ tai trời sắc giới, nghe
suốt không ngại, 4/ Tha tâm thông : Biết tất cả nghề
nghiệp. Từ nhiều đời trước của ta và chúng sanh đều
không ngại. Với năm thông trên, đều do tu pháp thần
hữu lậu hoặc nương nơi sự thuốc. Sức thần chú mà
chứng đặng, nên các người tu tiên bên ngoại đạo cũng
có thể chứng được, cả năm ấy đều gọi là trí chứng
thông nữa, là : Bởi y nơi trí mà chứng được thông
lực ấy trong Cu xá luận chép như thế. Sáu lậu tận
thông : Tu pháp tam thừa tiến ngần ngại. Duy
có các thánh tam thừa mới chứng được cái thông nầy
mà thôi, chứ trời, tiên ngoại đạo đều chẳng có, vì
tâm phiền não hãy còn !
lại chia 3 hạng : 1/
Báo đắc thông : Các ông trời ở ba giới đều có năm
phép thần thông; nhẫn đến quỷ, thần cũng có một hai
thông, vì thần thông ấy đều nương nơi quả báo nên
nay cảm đặng bằng cách tự nhiên. 2/ Tu đắc thông lực
: Nguyên các thánh trong tam thừa do tu pháp tam học
mà đắc lực thần thông; người tiên bên ngoại đạo do
tu thiền định mà hiện đặng năm phép thần thông, biến
hóa thông lực. Các thánh trong tam thừa dùng sức
thần thông để biến hóa ra mỗi mỗi phép thần. Lại,
chư Phật, Bồ Tát, duyên giác, thinh văn và ngoại đạo
tiên nhơn do tu đắc thì đều gọi là “thần thông”, mặc
dầu khác nhau bằng năm thông sáu thông : còn những
thông lực của các loại : Thần, Quỉ, Chồn Cáo sở đắc
đó, thì đều gọi là “Nghiệp thông”, vì các loại ấy do
nơi nghiệp lực mà đắc thông.
Thành quả Phật ngay
một đời : tức là bực Ðẳng giác ngôi nhứt sanh bổ xứ
; từ ngôi đây phát khởi ra cái tánh trí kim
cang để chiếu phá hết một phần sanh tướng vô minh,
tức là bực Diệu giác Cực quả, để chứng cái tánh tâm
viên mãn pháp giới.
Nhiên hậu bất xả pháp giới, biến nhập trần lao, đẳng
quan âm chi từ tâm, hành phổ hiền chi nguyện hải ;
tha phương thử giới trục lại tùy hình, ứng hiện sắc
thân, diễn dương diệu pháp :
Sau nầy, chẳng rời
tánh pháp giới, khắp vào cõi trần lao, đồng với lòng
từ của đức Quan Âm, làm cả biểu nguyện của đức Phổ
Hiền; cõi nầy phương nọ, theo loại hiện tình, để ứng
hiện sắc thân, đặng diễn nêu pháp nhiệm.
Ðoạn nầy là nói : Sau
khi chứng quả, tùy theo căn cơ của chúng sanh, để
phổ hiện hóa thân ra mà thuyết pháp dạy tu.
Nhiên hậu là lời thừa
tiếp đoạn trên, phát khởi xuống đoạn dưới.
Tánh pháp giới, là cái
danh thủ đô của nhứt tâm, cũng chỗ qui thú của vạn
pháp. Số là, tự tâm đã thanh tịnh, thì thể nó khắp
trùm mười phương, nên chi chẳng rời cái tâm pháp
giới của Phật quả, mà vẫn khắp vào những cảnh trần
lao giữa lục đạo. Như : Ðức Quán Thế Âm có ba mươi
hai ứng thân để thị hiện khắp nơi các cửa nhà đó lại
như đức Phổ Hiền có nguyện lớn sâu như biển cả vô
cùng, lan khắp pháp giới để làm lợi ích chúng sanh,
vì cũng hóa hiện ra nhiều thân hình bằng cách tùy
theo các cơ cảm, để thuyết đủ pháp mầu.
Hỏi : Ứng thân có đồng
hay không đồng nhau với hóa thân ?
Ðáp : cứ theo kinh
Ðồng tánh và Kinh Kim Quang Minh, thì : Ngoài ứng
thân, có thành lập ra hóa thân nữa, thế là hai thân
ấy sai khác nhau. Luận khởi Tín thì với ngòai ứng
thân, không thành lập hóa thân nữa. Ðến như các bộ
Duy thức luận, Pháp hoa luận, thì ngoài hóa thân,
chẳng thành lập ứng thân. Thế thì Hóa thân tức là
ứng thân.
Nê Lê khổ thú, ngạ quỷ đạo trung, hoặc phóng đại
quang minh, hoặc hiện chư thần biến : Kỳ hữu kiến
ngã tướng, nãi chí văn ngã danh, giai phát bồ đề
tâm, vĩnh xuất luân hồi khổ :
Với cảnh địa ngục khổ, trong đường Ma quỷ đói,
hoặc buông ra ánh chiếu sáng lớn, hoặc hiện phép
thần biến hóa nhiều : Những chúng thấy cái tướng
tôi, nhẫn đến nghe danh tôi, đều dấy lòng bồ đề, ra
khỏi khổ luân hồi.
Ðây nói cứu khổ cho ba
ác đạo bằng cách tổng quát : Nê Lê tức là địa ngục
đạo, vì bị tội khổ hành chịu không phút nào ngừng !
Chúng sanh trong giới ngạ quỷ giờ chịu mãi cái tội
khổ đói khát !
Giữa súc sanh đạo :
thì lại thường ăn tươi nuốt sống lẫn nhau, như kiến
ăn cá cá ăn kiến, rắn nuốt nhái, loài lớn ăn loài
nhỏ, thứ mạnh ăn thứ yếu v.v...những chúng sanh
trong ba đường ấy là hạng chịu cực kỳ thống khổ !
Nay đây các Bồ Tát sau
khi đắc quả rồi, hoặc phóng hào quang chiếu
đến khiến cho chúng kia được giải thoát ! hoặc hiện
thần biến tướng ra khiến cho chúng nọ sanh tâm kính
tín, để cùng nhau vẫn khỏi cái phổ luân hồi, siêu
sanh về nước cực lạc.
Hỏa hoạch băng hà chi
điạ, biến tác hương lâm, ẩm đồng thực thiết chi đồ,
hóa sanh tịnh độ :
Những chỗ vạc lửa
hừng, sông giá lạnh, đổi làm rừng thơm : mấy loài ăn
sắt nướng, uống đồng sôi, hóa sanh cõi tịnh.
Trên kia nói bằng cách
tổng quát ; giờ đây nói bằng cách riêng biệt : để
hóa độ các sở địa ngục.
Vạc lửa, là : tám sở
địa ngục nóng. Sông giá, là : tám chỗ địa ngục lạnh.
Nay đều nương ánh từ quang chiếu đến thảy cả liền
hóa thành cảnh tịnh độ.
Phi mao đới giác, phụ trái hàm oan, tận bãi tân
toan, hàm triêm lợi lạc.
Các loại : mang lông đội sừng, thiếu nợ ngậm hờn,
đều thôi những khổ đắng cay, đồng hưởng lắm vui lợi
ích.
Ðây cũng nói riêng
biệt cảm hóa về súc loại ; nay chỉ nói một loài tẩu
thú là để gồm thâu hết tất cả các loài súc sanh ở :
trên không, mặt đất, và dưới nước rồi.
Thiếu nợ ngậm hờn, là
: Súc sanh đều chuyên lấy sự ăn nuốt lẫn nhau đó, là
cũng cốt vì để đền trả lại cái thiếu nợ bằng cách ăn
thịt nó từ kiếp trước, nên kiếp nầy phải bồi thường
túc trái bằng cách để cho nó ăn thịt lại mà trừ, kêu
rằng : tham tha nhứt luyến luyến hườn tha, nghĩa là
kiếp trước ta ăn một miếng thịt của nó, thì đời nay
phải trả lại cho nó ăn một miếng thịt của ta. Nhưng
chúng ta đương bị cái hôn mê giữa thân này cách với
thân trước, nên ấm muội mà không thấy biết gì được !
chứ nếu chứng được cái tri túc mạng thông, thì tự
phá tan cái mù hôn mê tức thấy biết được những việc
mấy đời trước như việc trong giấc nằm mộng và lúc đã
thức dậy ; với sự gì từ bữa hôm qua.... Và hôm nay
vậy thôi.
Lại nữa, chúng sanh
giữa lục đạo, đều có túc trái, đời đời cứ kết dây
oan trái với nhau mãi chẳng thôi như thế kia, nay
đều thôi dứt hết những điều cay đắng, và cùng nhuần
thấm lợi ích yên vui giải thoát.
Tật dịch thế nhi hiện
vi dược thảo, cứu liệu trầm kha, cơ cẩn thời nhị hóa
tác đạo lượng tế chư bần nổi :
Với thời có tai tật dịch, hiện ra làm thuốc men để
cứu lành bịnh trầm kha; với cơn xảy nạn đói ngu, hóa
ra làm lúa bắp, để giúp yên vùng bần nổi.
Ðây là đức Từ hóa hiện
ra để cứu khổ tai nạn Thân nhướm điều dữ nổi lên là
nghĩa chữ Tật; cái tật ấy nó quá lắm, là nghĩa chữ
Bịnh. Loài Quỷ nó hay thừa dịp có khí độc để làm cơn
ôn hoàng dịch lệ. Dân chúng đều cái tai bịnh ấy, là
nghĩa chữ Dịch tả. Trị cái chứng bịnh ấy lành là
nghĩa chữ Liệu. Trầm kha là bịnh rất trầm trọng.
Khônglúa thóc là nghĩa chữ Cơ; không cải rau là
nghĩa chữ Cẩn. Lúa hột còn ở ngoài ruộng là
nghĩa chữ Ðạo ; đã thâu hoạch về nhà vựa là nghĩa
chữ Cốc. Thóc ra trấu rồi là nghĩa chữ Mễ chữ
Lương là thứ bắp cao giàn. Chung gọi thì có sáu
giống thóc, là : Ðạo, lượng, thục, mạch, thử, tắc.
Nổi : đói, với các
điều tai hại như nạn tật dịch nạn cơ cẩn, thì trong
bốn phương thiên hạ không chỗ nầy tất chỗ nọ thường
thường có xảy ra đều bởi chúng sanh đồng tạo một thứ
nghiệp từ đời trước mà nay đến ngày giờ đủ điều kiện
gây nên.
Còn nếu như tiểu tam
tai của kiếp giảm kia : đến cái thời nó nỗi thì cùng
khắp cả trái đất, loài người đều bị tai ấy, là bởi
những chúng sanh đồng nghiệp đã tạo phần nhiều ác
ấy.
Tiểu tam tai – Trong
một kiếp trụ, có hai chục lần tăng giãm như hai chục
tiểu kiếp cái mà nó nổi lên ở phần rốt kiếp giảm đó
gọi là tiểu tam tai : 1/ Ðạo binh tai, vì loài người
bấy giờ làm nhiều điều phi pháp, tâm sân độc càng
thạnh, hễ vừa thấy nhau là liền dấy cái lòng tàn hại
rất mãnh liệt, nên tùy theo tay cầm vật gì thì nó
liền hóa thành gươm đao, nghĩa là tùy ý người muốn
chi là nó hóa nấy, đặng để mà tàn sát lẫn
nhau. 2/ Tật dịch tai, vì loài người bấy giờ cũng
gây các điều tội ác như trên, nên ai ai cũng thở cái
độc khí ác nộ ấy ra như khói un cùng khắp, các
loài ôn hoàng lợi dụng những hơi độc đó đem đi làm
tật dịch mỗi nơi hễ ai xuông đụng độc khí bị quỷ
hành đó, thì thổ tả chết liền. 3/ cơ cẩn tai, vì
thôi nhơn cũng bởi lòng ác nghiệt như trên đó, nên
các vị thiên long không điều khiển chừng mực, thành
thử mưa gió nắng tạnh không điều hòa, mùa màn thất
lợi, thế gian bị đói lâu, nên phần nhiều bị mạng
chung.
Cu Xá Luận cuốn 12 nói
: từ lúc mà các chúng sanh do thân khẩu ý dấy đủ
mười ác nghiệp, lần lần lại càng tăng trưởng đến bực
thập ác hạng nặng ; bấy giờ loài ở châu diêm phù nầy
tuổi sống giảm giảm lần lần mãi đến cái thời mà mỗi
người chỉ còn mười tuổi là trọn đời, thì có cái tiểu
tam tai hiện ra. Tiểu tam tai ấy nó hiện vào khoản
rốt kiếp trụ. Ðao binh tai lưu hành chỉ có bảy ngày
đêm ; tật dịch tai lưu hành bảy tháng ngày : cơ cẩn
tai lưu hành bảy năm bảy tháng bảy ngày. Qua khỏi là
hết kiếp trụ.
Ðối với cái thời tật
dịch, cơ cẩn ấy, lòng từ bi bắt buộc, nên các Bồ Tát
hoặc hiện ra làm các thứ dược thảo, đem cứu khắp nơi
lành bịnh trầm kha; hoặc biến hóa làm các lúa bắp,
để giúp đỡ cả vùng cơ cẩn, sau rồi cảm hóa chúng vào
đạo Phật.
CUỐI KIẾP GIẢM TIÊU TAM TAI
Tuổi sống người giảm
xuống
Chỉ còn 30 tuổi là mãn
đời, thân lượn dài còn 3 thước, bấy giờ có cơ cẩn
tai nôi lên suốt bảy năm đại hạn
Chỉ còn 20 tuổi là mãn
đời, thân lượng dài còn 2 thước, bấy giờ có tật dịch
tai nổi lên suốt bảy tháng mới dứt.
Chỉ còn 10 tuổi là
trọn đời, thân dài còn chỉ 1 thước, có đao binh tai
nổi lên luôn 7 ngày mới chấm dứt.
Ðản hữu lợi ích, vô
bất hưng sùng :
Hễ việc làm mà có ích cho người lẫn ta, thì đâu
chẳng chấn hưng sùng bái.
Ðây kết thúc về chỗ
rộng ra dấy làm việc Phật. Sùng cao, chủ : Số là tu
theo bực nhị thừa thì, trí thức chỉ lệch mạnh về
phần tự lợi, mà yếu sút về phần lợi tha, nên chi các
nhà tu sĩ bên nhị thừa thường ưa trốn tránh cảnh ồn
áo, để ngắm xem chốn vắng lặng. Trái lại, người hành
Bồ Tát đạo chẳng phải thế : bởi cơ quan đại
tác dụng không ngần ngại, vì đối với việc chí, cảnh
ngộ trường hợp nào hễ có ích lợi cho người lẫn ta,
thì đâu chẳng tiến tới mau lên ra công tác ư ?
Thứ kỳ lủy thế oan
thân, hiến tồn quyến thuộc : xuất tứ sanh chi cốt
một, xả vạn kiếp chi ái triền, đẳng dữ hàm
sanh, tề thành Phật đạo.
Kế đó, nguyện cho
kẻ thân người thù từ lắm kiếp, và những đáng quen
thuộc hiện còn : đều lên khỏi cái khổ chìm nổi tứ
sanh, đồng dứt buông cái dây ái ân vùng vạn kiếp, cả
đến mọi loài, chung thành Phật đạo.
Ðây lại phát ra cái
nguyện bình đẳng. Lũy là chồng chất. Thứ kỳ là lời
thừa tiếp văn trên để lập lại dấy xuống văn dưới.
Cốt một là vừa nổi vừa chìm mà người ta gọi là giả
gạo, tùy theo mực nước cạn sâu, mà trồi lên hụp
xuống có mau chậm. Hàm sanh : phàm là loài có thể
cục cựa nhúc nhích được đó là chúng nó đều có linh
thức và tánh biết của nó ; đã tánh biết thì đều có
thể có ngày nó hồi đầu lại để tự tỏ ngộ bổn
tánh Phật của nó. Số là :
Từ kiếp vô thỉ
(không đầu, là không biết đầu từ đâu ? ) từ thuở có
sanh loài người lại nay, tất cả người thân thuộc, kẻ
oai gia, đều chìm nổi cũng như đầu vào trôn ra nơi
bể tứ sanh là : Noãn, Thai, Thấp, Hóa, từ tình ái
nầy đến tình ái nọ, cứ thế vấn vương riết chặt
với nhau mãi trong cuồng tơ vô hình là sanh tử vạn
kiếp ; nay ta nguyện cho tất cả chúng hữu tình kia
với chúng ta đây đồng thành Phật đạo.
Hư không hữu tận,
ngã nguyện vô cùng, tình dữ vô tình, đồng viên chủng
trí :
Cõi hư không có
hết, lòng nguyện tôi chăng cùng, chúng hữu tình và
chúng vô tình, đồng tròn giống trí Phật.
Bốn câu chót đây là
kết thúc về tâm nguyện vô cùng vô tận.
Tình tức là loài có
tình thức, cả chánh báo chúng sanh ; vô tình tức là
phần vô tri vô giác cả cõi y báo thế giới.
Giống trí là giống
Phật tánh ; nguyên nó là căn bản thật trí; từ một
niệm trái với chơn đó, thì toàn thể giống trí ấy nó
biến thành ra cái vọng niệm, nếu biết quày đầu khiến
chơn tánh tự sáng tỏ lại, thì toàn thể vọng niệm vô
minh vẫn là giống trí Phật.
Hỏi : Với nghĩa
rằng hữu tình thành Phật thì, tôi có thể biết được;
còn chúng vô tình thì, làm gì cũng thành Phật ư ?
Ðáp : Y báo là quốc
thổi, chánh báo là căn thân, đều do nơi nhứt tâm tạo
tác ra. Kinh Lăng Nghiêm nói : tưởng trừng thành
quốc thổ, tri giác nãi chúng sanh : phần tư tưởng
nếu không hoạt động nữa mà ngưng lóng lại thì nó
thành ra quốc thổ, là những vật vô tri vô giác; còn
phần mà vẫn còn hoạt động, tri giác thì, nó thành ra
chúng sanh, là những chúng có cảm tình
tri thức. Thế biết rằng : hễ khi mà nhứt niệm mê,
thì chánh báo nó cách ngại nhau với y báo; còn lúc
mà nhứt niệm giác, thì thân căn lẫn rỗng nhau với
quốc thổ. Lý do là hễ tâm niệm thanh tịnh tất nhiên
Phật thổ tự thành tịnh; một bằng chứng hiển nhiên
nầy nữa : hễ tâm của nhơn loại đều thanh tịnh, thì
quốc thổ cũng đều bình tịnh yên vui; còn khi mà tâm
loài người đồng bạo động chiến tranh, thì quốc thổ
cũng đồng uế ác loạn khổ. Vậy biết : hễ nhơn sanh mà
được vui hay bị khổ, là bởi nhơn tâm thiện tịnh hay
ác động, mà đến nước nhà cây cỏ cũng chịu ảnh hưởng
chung số phận. Thế thì, niệm mê niệm ngộ tự tâm, thì
ra, với giữa vạn hữu vũ trụ, tùy ý bốc lên một cái
gì đó nó đâu chẳng phải là cái của thanh tịnh diệu
tâm, vì hễ còn tưởng trừng tức quốc độ, hết tưởng
trừng tức tri giác. Nên bên cực lạc tịnh độ : nước,
chim, cây, rừng....đều thường ngày hằng giờ vẫn đồng
thuyết pháp vì loài ngươì bên ấy đều đồng giác ngộ
rồi, nên quốc độ tức chúng sinh, chúng sanh tức quốc
độ, cũng như nói : cảnh tức tâm, tâm tức cảnh cho
nên nói tình dữ vô tình đồng viên chủng trí.
|