Nhị Khóa Hiệp Giải
(Thời khóa tụng
khuya và thời khóa tụng chiều)
Chú giải:
Ngài Quán
Nguyệt
Dịch giả:
HT Thích Khánh Anh
Chương 3: Yếu nghĩa kinh
Lăng Nghiêm
THỜI KINH KHUYA
ÐẠI PHẬT ÐẢNH, THỦ LĂNG NGHIÊM KINH
THẦN CHÚ
Thích nghĩa “Thần chú của kinh Ðại Phật đảnh Thủ
Lăng Nghiêm”.
Y theo ý kinh mà lập ra danh đề, vì nêu tên chỉ là
“Pháp”. Bằng đủ theo kinh đề, thì 19 chữ đều
nêu lên cả Nhân và Pháp.
“Ðại Phật đảnh” là tánh đủ 3 đức: “Thủ Lăng
Nghiêm” là ngôi tu 3 nhân. Chừ đó về Ðại Phật đảnh
đều đủ 3 đức đó, thì “Ðại” đủ 3 nghĩa : 1/
Pháp thân là Thể Ðại (lớn), vì tâm tánh khắp
giáp tròn đủ. 2/ Bát nhã là Tướng Ðại (lớn),
vì trí huệ suốt thấu tỏ soi. 3/ giải thoát là
Dụng Ðại, vì lan rộng ứng hiện không ngần ngại “Phật”
đủ 3 nghĩa 1/ giác tự (giác ngộ lấy mình) thì biết
tự tánh vẫn thanh tịnh, dứt hẳn những danh nghĩa còn
đối đãi hai bên, tức là nghĩa Bát Nhã Ðức 2/
Giác Tha (giác ngộ cho người), thì khiến cho chúng
hữu tình được sáng suốt lòng dạ, tức là nghĩa
Giải Thoát Ðức 3/ giác mãn (với 2 điều giác ngộ
ấy làm đã hoàn toàn), thì chứng được cái thể và
tướng của “pháp giới tánh” là tánh Phật, mà ta với
người đều đồng bực, tức là nghĩa Pháp Thân Ðức
“Ðảnh” là đảnh đầu, cũng đủ có 3 nghĩa 1/ là
nghĩa tối tôn, vì thể tướng của pháp thân rất quý,
tức đức của pháp thân 2/ là nghĩa chẳng khá thấy, vì
với cái “đảnh tột cao của Pháp thân, huệ nhãn, pháp
nhãn hãy còn chẳng thấy được, duy có Phật nhãn mới
thấy tận nơi, tức đức của Bát nhã. 3/ Là nghĩa phóng
quang hiện hoá Phật, vì tại nơi đảnh đầu của Phật
Thích Ca phóng hào quang ra, trong hào quang có đức
hoá Phật nói thần chú Lăng Nghiêm, tức đức của giải
thoát. Nói bằng cách dón tắt : Ðại tức là pháp thân;
Phật tức là bát nhã; Ðảnh tức là giải thoát. Nghĩa
là : Pháp thân là cái lý tánh thanh tịnh chu viên,
vốn sẵn đủ Trí bát nhã là vắng lặng mà
tỏ soi. Trí đó vẫn chiếu ngay vào Lý
pháp thân, chứ hẳn không có trí nào riêng
ngoài
lý mà có thể chiếu được lý ấy, cũng
không có cái
lý nào riêng ngoài Trí mà bị
trí nó chiếu, Lý Trí vẫn như như, phi đồng
nhau, cũng phi dị nhau, vừa tròn sạch, vừa tròn tột,
tức là đại giải thoát. Thế nên “Ðại Phật đảnh” là
cái tánh kho mầu nhiệm để chứa 3 đức kia. Chư Phật
chính đã giác ngộ tánh ấy, còn chúng sanh chính
đương mê muội tánh ấy; mặc dầu đương mê, chứ nó cũng
có tánh sẵn đủ ấy đồng với chư Phật. Bởi lẽ
ấy, nên chúng sanh y nơi tánh đức sẵn đủ đó, có thể
phát triển ra cái tu đức Thủ Lăng Nghiêm, ngõ hầu
khá huờn nguyên lại tự chứng lấy tánh đức ấy.
“Thủ Lăng Nghiêm” là tên một “tam muội” chính
một pháp đứngđầu cả một trăm lẽ tám (108) pháp tam
mụội mà là một cái tên chung của tất cả pháp đại
định.
Tiếng Phạm là “Suramgam” theo Cựu dịch, thì tiếng
Việt đọc là “Thủ Lăng Nghiêm” Tân dịch, thì tiếng
Việt đọc là “Thủ Lăng Gam”. Thủ Lăng Nghiêm, đổi
nghĩa là “tất cả việc ráo rốt bền chắc”, rằng “tất
cả sự” ấy, tức là cái của sáu phàm bốn thánh giữa
mười cõi, chữ sự tức là chữ pháp. Với pháp của lục
phàm, tứ Thánh trong thập giới, chỉ dùng hai chữ
“Sắc Tâm” bao quát được hết thảy. Sắc, tức là khí
giới và căn thân; tâm, tức là 8 thức tâm vương, tâm
sở.
Ðối với sắc tâm, nhơn tuỳ theo mỗi căn cơ, mà Phật
hoặc mở ra hoặc họp lại. Phân làm bốn hạng :
-
Vì những kẻ mê Tâm
nhiều, mê Sắc ít, Phật nói pháp ngũ ấm, đó là
đối với Tâm thì mở, với Sắc thì hiệp.
-
vì mấy người mê sắc
phần nhiều, mê Tâm phần ít, Phật nói pháp lục
nhập và 12 xứ. Ðó là mở Sắc ra, hiệp tâm lại.
-
chúng nào với Tâm sắc
đều mê cân nhau, thì vì họ mà Phật thuyết
ra pháp 18 giới, thế là Tâm sắc đều mở ra cả.
-
Các đứng nào với Tâm
sắc đều chẳng mê, thì Thế Tôn vì nói ngay 2 chữ
Sắc Tâm ra, là họ tức thời rõ liền.
Ba hạng người trước, là căn cơ đều chậm chạp tối
tăm; hạng thứ tư là những người có căn tánh nhanh
chóng sáng suốt. Người mà mê tâm thì ngu nơi tâm, kẻ
nào mê sắc thì ưa chấp cảnh. Bởi thế, sắc và tâm của
Thánh phàm 10 giới, tức là 5 ấm, 6 nhập, 12 xứ và 18
giới, mà ấm, nhập, xứ, giới tức là Sắc tâm của thánh
phàm 10 giới, gọi chung là “tất cả sự”, cũng tên là
“hết thảy pháp”.
Người tu nếu có thể quán xét ấm, nhập, xứ, giới mỗi
mỗi đều là tại đâu sanh, với diệt thì cũng tại xứ
nào diệt ở xứ nấy (như nhãn thức thì sanh tại nơi
nhãn căn, mà diệt cũng tại nơi nhãn căn; cả đến các
căn thức kia cũng tại đâu vẫn sanh diệt đó như thế),
người nào tu quán được như thế, tức tỏ chứng Thủ
Lăng Nghiêm tam muội bằng “Chân đế”, thì đắc cái
“Liễu nhơn huệ tánh” hiển hiện ra; người mà quán xét
ấm, nhập, xứ, giới mỗi mỗi cái nào cũng đều là xứng
nhau với cái tướng huyễn hoá hư vọng, tu quán được
như thế tức là chứng rõ Thủ Lăng Nghiêm tam muội
bằng “Tục đế” thì đắc cái “duyên nhân thiện tánh” nó
hiển ra; người nào tu quán các pháp; ấm, nhập, xứ và
giới, nhận thấy cái tánh của các pháp ấy thật là cái
thể sáng của diệu giác, người ấy liền rõ ngay Thủ
Lăng Nghiêm tam muội bằng “Trung đế”, đặng cái
“chánh nhân lý tánh” tỏ bày ra.
Nói lên một Thủ Lăng Nghiêm tam muội, tức là ba đế,
nói ba đế tức gồm một Thủ Lăng Nghiêm; mà ba với một
chẳng phải là hai. Song tu tam đế tam muội ấy, toàn
do nơi tánh Ðại Phật đảnh để khởi sự, ngay nơi cái
tánh Phật đảnh ấy. Thế là chính chỗ bảo : “Từ tánh
dấy tu, mà không tu chi khác hơn là tu tại tánh ấy,
vì tánh và tu chẳng phải hai riêng nhau.”
Chính rõ trì chú : Mỗi chữ đều do nơi tự tâm
để đưa ra, mỗi câu lại cũng từ nơi tự tâm để rút
vào,là chỗ bảo rằng đâu chẳng do nơi “pháp giới
tánh” để lưu thông ra, rồi phải chăng chẳng trở lại
về nơi “pháp giới tánh” thật thế. Ðã là Nhứt thiết
sự gì cũng đều do ở tánh Ðại Phật đảnh để làm thể,
nên mỗi mỗi sự pháp đều nói rốt ráo bền chắc cả.
Song, chừ với cả trong thần chú, phân ra làm 5 hội,
mỗi hội đều có danh : Hội thứ nhất là “ Tát đác
đa bát đác lam”
Hội thứ nhì là “Tác đác tha bát lẫtá tất đa”
Hội thứ ba là “Tô ba la noa ma ha bát thu bác đác
dạ”.
Hội thứ tư là “Tát đát đa bát đác ra”
Hội thứ năm là “Tất đác đa bát đác ra”
Hoặc nhập 5 hội làm một, kêu chung một tên là “
Phật đảnh quang minh ma ha tát đác đa bát đác ra vô
thượng thần chú”. Ðối với tất cả nhơn bí mật,
nghĩa hiển nhiên, thì nội trong đầu đề Kinh, nó gom
trùm trọn vẹn hết thảy.
Rằng “Hào quang đảnh Phật” tức là trên đảnh
đầu của đức Thích Ca phóng hào quang ra, trong ánh
sáng có đức hoá Phật nói thần chú của Kinh này.
“ma ha” dịch nghĩa là lớn : đủ 3 nghĩa lớn như trên
đã nói, tức là “Ðức pháp thân”; “tát đác đa” dịch
nghĩa là trắng: cái tướng nó khác hẳn các màu nhuôm
trí tánh nó đủ sạch sẽ trọn vẹn, tức là “Ðức Bát
Nhã” “Bát đác ra” dịch nghĩa là Lọng tàn : dùng che
mắt muôn loài, tức là “Ðức giải thoát”. “Vô thượng”
rất sáng tột cao, đứng sựng chót vót, không chi
ngang sánh. Với uy linh không thể lường xét được,
với cảm ứng cũng khó nghĩ bàn, nên gọi là “Thần
chú”.
“Tàn lọng trắng lớn” toàn thể nó là “Chủng trí” chư
Phật, mà là “diệu tánh” của chúng sanh, chủng trí là
quả, diệu tánh là nhơn, mà nhơn trùm quả suốt, vừa
đủ lý tánh, vừa đủ giáo nghĩa. Nên thần chú này :
người tụng đến, sẽ trừ hết nghiệp chướng từ đời
trước; người trì đến, khá chứng quả Phật.
Lại nữa, thần chú đây, cũng có tên là Chú tâm, cũng
có tên là Tâm chú, cũng có tên là Như lai đảnh, bởi
vì thần chú đây là pháp sở thuyết của đức Hoá Phật
hiện ra trong hào quang trên đảnh đầu của đức Thích
Ca : hoá Phật tức là biểu tướng của như lai tạng
tâm.
Song, y nơi kinh, để lập danh đề, đó là nghĩa của
hiển giáo; còn y theo chủ để lập danh đề, đó là
nghĩa của Mật giáo. Mà đồng thời vừa hiển vừa mật
lẫn tròn chẳng phải riêng làm hai, thế nên đều có
thể lập danh đề bằng cả Mật lẫn Hiển được nốt.
Chỉn bởi chúng sanh tự mê muội quên lửng Như Lai
tạng tâm là tánh Phật của mình đi, nên đức Hoá Phật
trên đảnh của đức Thế Tôn ngài nói thần chú ra vậy
là, chính muốn cho chúng sanh giác ngộ ngay nơi Như
Lai Tạng của mình vốn sẵn đủ.
Chú đã Phật tâm, nên với công dụng của nó, người ta
khó nghĩ suy gì được ! đối với chú, người tu hành
phải cần trì tụng mới đặng. Kinh nói “Nguyên các đức
Như Lai, ở mười phương, nhơn nơi chú tâm đáy, mà đắc
đạo quả Phật”.
Kinh lại nói “các người là bực Hữu học chưa hết cái
khổ sanh tử luân hồi, thì các người nên dấy cái tâm
chí thành để tu tụng chú tâm đặng chừng lấy quả Vô
học là A La Hán. Nếu chẳng tu trì chú này, thì không
thế nào ngồi chốn đạo tràng mà khiến cho thân tâm xa
tránh được các điều Ma chướng làm hại được”.
“Dón nghĩa” là với Chú, không thể giải nghĩa
ra đặng, vì đã là ý nghĩa vô cùng, lại không nhứt
định, bởi người tu tâm thành đến đâu, cầu nguyện đến
gì, là được đến đó, nên chẳng dịch ra được là vậy.
Nhưng chỉ dón theo nghĩa của Chú, xin bày ra ít lời
sơ lược thôi.
Họp cả toàn văn của hai thời khoá tụng, phân làm ba
tiết :
Tiết thứ nhứt, thời sớm, thời chiều, đều từ bắt đầu
cho đến niệm Phật và bồ tát, đó là chính việc tu
pháp khoá tụng.
Tiết thứ nhì, tức là văn hồi hướng của hai thời sớm
và chiều, với văn tam quy y, là phần hồi hướng bằng
kết cuộc phổ độ chúng sanh.
Tiết thứ ba, tức là hai thời chúc tán sóc, vọng, là
để chúc cầu các vị Thần Hộ pháp, an tăng quốc thái,
dân khương. Âm siêu, dương thới.
NAM MÔ LĂNG NGHIÊM
HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT
Kính lạy Phật và bồ tát trên hội Thủ Lăng Nghiêm
Ðây là kính vì ngôi “Tổng tướng Tam Bảo” số là, với
tất cả việc Phật đều lấy “Tam Bảo” làm chỗ quy y,
nên phải xướng lên trước nhứt.
Lăng Nghiêm tức là ngôi pháp bảo Phật
tức là ngôi Phật bảo; Bồ tát tức là ngôi tăng
bảo; giữa Tam Bảo, các Thánh phàm đều nhóm họp là
Hội: Một hội như thế : Phật là Giáo Chủ, để gồm
cả chư Phật trong hội đồng cùng phóng quang quán
chiếu vào đảnh lẫn nhau. Bồ tát là bạn (đối với chủ)
để chung gồm cả các Thánh 3 thừa tại hội và, các
Thánh từ 10 phương qua lại. Chính là gọi : chủ bạn
hội đồng, cơ giáo phù hiệp, đấy là một trường hợp
Tổng tướng mà là “Tự tánh Tam Bảo” vậy.
Từ câu “Diệu trạm tổng trì bất động tôn” đến câu
“thước ca ra tâm vô động chuyển” cả 18 câu kệ ấy, là
lời kệ tán đối kinh Lăng Nghiêm, nhơn vì A Nan giác
ngộ rồi, phát thệ ngụyện ấy để khen ngợi Phật.
Bởi A Nan tỏ ra bị sa ngã về cái nạn của nàng Ma
Ðăng Già..... Ðức Như Lai phóng quang thuyết thần
chú, sai ngài Văn Thù đem thần chú đến cứu hộ A
Nan.....khi A Nan về đến chỗ Phật, lạy khóc và cầu
hỏi về giáo pháp.... “tối sơ phương tiện” là ông có
ý như muốn lên đường về nhà mong được đạo lực
hoàn toàn, thì, cốt phải biết trước cái căn bản của
sanh tử đã. Nên chi Phật bảo rằng : Sỡ dĩ bị sanh tử
tiếp tục mãi, là đều bởi tất cả chúng sanh chẳng tự
biết cái chân tâm hằng còn, tánh thể nó vẫn sáng
sạch, lại dùng lầm lấy cái vọng tưởng làm tâm, thành
thử cứ lăn tròn theo sanh tử, vì cái tưởng ấy không
phải tâm !
Cái lẽ mà quên chân tâm, rượt theo vọng tưởng, là
đều bởi tâm, mục gây nên tội lỗi, nghĩa là bởi mắt
thấy lòng động, mới có điều ân ái, do ân ái, mới có
sanh tử; nên Phật dùng 7 chỗ để gạn hỏi cái Tâm, là
khiến cho biết rằng : đối với mỗi chỗ, Tâm và Mục
không nhứt định ở một chỗ nào cả.
Khai thị về hai thứ căn bổn 1/ vô thỉ sanh tử căn
bổn là vọng tâm 2/ vô thỉ bồ đề Niết bàn là chân tâm
thì Phật dạy rằng : vọng tâm không có tánh riêng của
nó : còn bồ đề tâm thì nguyên lai vân chân thật. Các
pháp mà được phát sanh, là do nơi tâm A lại da biến
hiện.
Với căn 10 phen chỉ rõ cái tánh thấy, thì, Phật
khiến cho biết rằng : chạm đến đâu, chỗ nào chăng
chẳng đều là chân cả.
Lại, hội về các văn : 5 ấm, 6 nhập, 12 xứ, 18 giới,
phi nhơn duyên, phi tự nhiên, thì Phật nói rõ về đạo
lý trung bình, là tánh Như Lai Tạng.
Rốt sau, tiêu dung luôn địa, thuỷ, hoả, phong đều là
cái thể thanh tịnh sẵn sàng, cái dụng khắp giáp pháp
giới. Nghĩa là : trong với thân tâm, ngoài với vũ
trụ, chỉ một đại mà thành pháp giới, phi thiếu, gồm
7 đại mà thành pháp giới, cũng phi dư; vì đối với
vạn pháp, thì Như Lai tạng tánh nó vẫn nhứt như, mà
dù tuỳ theo nghiệp tịnh hay nhiễm của chúng sanh,
tánh nó phát hiện ra tợ hồ có thiên sai vạn biệt,
thành thử có những cái danh tướng của thất đại đó,
là chỉ vì với thể dụng xưng hô mà có khác vậy thôi.
Chân không là cái thể của “Nhứt Như”, nên với thất
đại, đều gọi là chân không; còn thất đại là cái dụng
theo nghiệp tịnh hay nhiễm nên nói “Tạng tánh, sắc
tướng tức là chân không; tạng tánh chân không cũng
tức chân sắc”. Nhẫn đến nói “tánh biết rõ hay, là
biết hay đều do nơi tánh mình; biết sáng cũng chân
thức, là thức nó tuy là lỗi vì “giác minh” nhưng thể
nó vẫn thiệt chơn, vì lẽ diệu giác trạm nhiên, thể
dụng chẳng hai, nên điều được nương nhau lẫn nói.
Bấy giờ, A Nan được cái sáng suốt không còn chi ngăn
ngại, vì thân tâm đều rổng rang, nên thấy mười
phương trống không, như xem thấy lá cây hay vật gì
đương cầm trong bàn tay, nghĩa là thấy rằng : tất cả
những vật sở hữu giữa cõi đời, đều nguyên là cái
giác tâm diệu minh đồng một cả thể như nhau. Oâng tự
chứng biết được cái bổn tâm diệu giác của ông rất rõ
ràng. Ðối với thâm ân của Phật, vì quá ư cảm động,
nên A nan chính nơi miệng mình thốt lời nói bài kệ
để tán thán Phật bằng nguyện lớn rằng :
-
Diệu trạm tổng trì
bất động tôn
-
Thủ Lăng Nghiêm
vương thế hy hữu.
Ðức “Diệu Trạm Tổng Trì Bất Ðộng Tôn”; Pháp “Thủ
Lăng Nghiêm lớn nhứt”, vì thế gian ít có.
Câu thứ nhứt là khen cả ba thân, Phật, đấy là người
chứng quả năng thuyết; câu thứ hai : bốn chữ “Thủ
Lăng Nghiêm vương” và pháp sở thuyết; ba chữ “thế hy
hữu” đấy là khen chung cả Nhơn, Pháp đều ít
có.
Sau khi đã nghe rồi được ba cuốn trước kinh Thủ Lăng
Nghiêm, ông A Nan mới biết chỗ sở thuyết của Phật,
lý nó cực diểm, lý ấy không sai khác một mảy giữa
tâm sẵn có của mình (A Nan) với chúng sanh, nên
chính nơi miệng ông thốt hai câu ấy ra để tán thán
Nhơn hy hữu là Phật, Pháp ít có là Lăng Nghiêm.
Diệu Trạm : Trí thanh tịnh đã viên mãn, thể
nó thì vắng lặng, dụng thì không ngần ngại; đó là
tán thán về nghĩa “Báo thân Phật”.
Tổng trì : Tánh Như Lai Tạng nó tuỳ theo
duyên nhiễm hay tịnh của thức biến, để phổ ứng ra
thất đại, lợi ích không bỏ sót một vật nào; đó là
tán thán về nghĩa “Ứng thân hoá thân Phật”
Bất động: Tâm tánh nó thường vắng lặng, vì vô
thỉ vô chung; đó là khen ngợi về nghĩa “pháp thân
Phật”
Lại, cả ba thân đều diệu trạm (mầu trong), vì ba mà
tức là một. Cả ba thân đều là tổng trì (gom giữ), vì
một mà tức là ba. Cả ba thân đều là bất động (chẳng
động), vì ba và một chẳng phải là hai riêng gì.
Lại, sách Văn Cú nói : Diệu trạm là nghĩa tuỳ duyên
mà thường chẳng biến; Tổng trì là nghĩa chẳng biến
mà thường tuỳ duyên ; bất động là nghĩa theo duyên
chẳng đổi, bất biến tuỳ duyên, vì không hai thể.
Kinh đề đủ 20 chữ
“Ðại Phật đảnh Như Lai mật nhơn tu chứng liễu nghĩa
chư Bồ tát vạn hạnh Thủ Lăng Nghiêm kinh”.
Như lai mật nhơn tu chứng liễu nghĩa gọi là Diệu
trạm chư bồ tát vạn hạng Thủ Lăng Nghiêm gọi “Tổng
trì” Ðại Phật đảnh gọi là “Bất động” đều được nói
một mà tức là ba, nói ba gồm một, vì 3 với 1 chẳng
phải là 2.
Rút lại để nói : “Diệu trạm tổng trì bất động” nghĩa
nó bao gồm cả toàn bộ Lăng Nghiêm kinh; cũng thâu
gồm cả Thánh giáo của một đời Phật thuyết, cho đến
tông chỉ mầu nhiệm của tất cả chư Phật ba đời, mười
phương, sáu chữ ấy nó gom thâu hết không sót một chỗ
nào. Ðủ như các lời sớ của sách Phật đảnh văn cú đã
giải ai có cần hiểu rộng, phải tìm sách ấy để
xét....
Tôn : Cao nhứt giữa bốn bực Thánh, vì cả ba
thân đều là vô thượng tôn cực.
Thủ Lăng Nghiêm vương :Tên chung của pháp đại
định, vì định này nó gồm thâu hết các pháp tam muội
(định) khác; lại tên là “Vương tam muội”
Nay lấy ngũ ấm, lục nhập, thập nhị xứ, thập bát
giới, cả thất đại làm tất cả sự; các sự ấy đều là
cảnh sở hiện của tâm. Chính là bảo : kẻ nào quên cái
“Như lai tạng tâm” thì nó biến thành ra các sự :
thất đại, thập bát giới, thập nhị xứ, lục nhập, ngũ
ấm, tạp nhiễm sanh diệt của chúng sanh; trái lại, kẻ
nào nhớ được cái “tâm Như Lai Tạng” thì các sự (ấm,
nhập, xứ...) kia đều trở thành lại bằng viên diệu
thanh tịnh của chư Phật, như ngũ ấm thành ngũ phần
thân hương, lục nhập thành lục thần thông....tức là
tâm tịnh độ tịnh. Nghĩa là nhứt thế sự thanh tịnh
viên diệu..
Thế nên biết rằng : các sự ngũ ấm, lục nhập.....đâu
chẳng là pháp được sanh bằng nhơn duyên, cũng
như đủ điều kiện mới phát hiện. Ðã do nhiều nhơn
duyên mới phát sanh ra các pháp là ấm, nhập.....các
sự , thì các sự tỷ như hoa đóm giữa hư không, vì cái
thể nó vốn không, bởi nguyên nó là Như lai tạng tâm,
mà tạng tâm ấy đương thể nó là Diệu trạm tổng trì
bất động.
Thế thì, nói nhứt thế sự đều là tạng tâm, nên bảo
rằng “cứu cánh”. Mỗi sự mà là Diệu trạm tổng trì bất
động, nên bảo rằng “kiên cố”. Thủ Lăng Nghiêm, dịch
là : Nhứt thế sự cứu cánh kiên cố. Nghĩa là suốt
thấu nguồn đây các pháp, mà, không động không hoại,
thật thế. Người mà tu pháp quán ấy, thời, các pháp :
Tam đề, Tam quán, Tam đức, Tam thân, đâu chẳng đều ở
nơi pháp Thủ Lăng Nghiêm tam muội này.
Hy hữu : ít có. Thế : thế gian của cửu
giới, tất cả Thánh phàm trong chín cõi đều chưa
chứng ngộ được “tạng tâm”. Chưa rõ được Phật đức,
nên chưa có thể nói được pháp tam muội ấy, cũng
không thể nghe nổi được pháp tam muội ấy nên nói
“thế hy hữu” nghĩa là cả chín thế gian ít có người
nói pháp ấy. Nay ông A Nan đã nghe và đã chứng ngộ
được, nên thuật rõ lời tán thán để cảm ơn sâu của
Phật.
-
Tiêu ngã ức kiếp
diên đảo tưởng
-
bất lịch
tăng kỳ hoạch pháp thân :
Dứt tưởng đảo điên từ vạn kiếp, chẳng trải nhiều
kiếp chứng pháp thân.
Ðấy là ông kể bày chỗ đã chứng ngộ. Kiếp,
tiếng phạn là kalpa, dịch là thời phần, nghĩa là năm
tháng ngày giờ rất lâu dai. Ưùc, ức có 4 số
1/ mười vạn; 2/ trăm vạn ; 3/nghìn vạn ; 4/
muôn vạn. Nói “tưởng điên đảo từ vạn kiếp” : sau khi
chứng ngộ ròi, mới nhận thấy từ vô thỉ đến nay những
vọng tưởng mê tình. Nương nơi vọng tưởng ấy, để kiến
thiết ra những khổ cảnh sanh tử giữa chín thế giới,
mà sở chấp của chúng sanh trong của giới không ngoài
các pháp nhơn duyên tự nhiên hoà hiệp, bất hoà hợp,
hữu, vô, đoạn, thường, mỗi mỗi đều là pháp sanh diệt
hý luận, thật vậy. A Nan đã biết được cái tánh : Tuỳ
duyên bất biến, bất biến tuỳ duyên, nêu bao điều hý
luận vọng tưởng liền tiêu tan, mà với pháp thân bổn
hữu mới thâu hoạch lại đặng.
A tăng kỳ, tiếng phạn là Asrinkhya, dịch : vô
số ; Bồ tát muốn thành Phật, phải trải qua số năm
bằng tam A tăng kỳ kiếp, để tu đủ phước đức
trí huệ, gây các tướng tốt, mới kết tinh pháp thân
bằng “Ngũ phần hương” (quả Phật bên tạng
giáo).....nhẫn đến được “pháp thân cứu cánh thanh
tịnh” (quả Phật (diệu giác) bên (viên giáo). Ơû đây,
A Nan liền chứng ngộ được tạng tánh trong ngày giờ
chẳng trải qua kiếp số tăng kỳ, mà đã đắc pháp thân.
Ðã rằng pháp thân, tất phải đủ 2 đức nữa là bát nhã
và giải thoát, thì pháp thân đây chẳng đồng nhau với
“tố pháp thân” bên biệt giáo nói (Tố : dùng nghĩa
theo loại như Tố Vương, Tố Phong). Còn như muốn chỉ
rõ ra, thì, chỗ mà điên đảo vọng tưởng tiêu tan hết
đó là đức giải thoátl cái trí hay làm cho điên tưởng
tiêu tan đó là đức bát nhã.
Song, khi chúng ta còn mê muội, với va đức ấy không
phải ta bị giảm bớt, mà chỉ là ta chẳng giác ngộ đó
thôi; nghĩa là như bỏ quên mất, nên chỉ gọi là “Lý
tức Phật”.
Ngũ trụ hoặc – tức là ba hoặc vọng tưởng. Cả kiến
hoặc của tam giới, họp làm một Trụ; cả tư hoặc của
ba giới, phân làm tam Trụ, gọi là tứ trụ địa phiền
não, thế là vọng hoặc trong tam giới. Người tu đã
chứng quả La Hán, ra khỏi lớp vọng hoặc của tam
giới, còn có nhị phiền não hoặc là Trần sa và vô
minh, hợp làm một Trụ, chung với trên cộng là ngũ
trụ. Phá hết ngũ trụ tức là chứng cực quả Phật bên
viên giáo; thô cấu là kiến hoặc, tư hoặc, đoạn hết
kiến hoặc, thì chứng bực Sơ tín, đoạn hết tư hoặc
chứng bực thất tín đều của viên giáo. Xem biểu ngũ
trụ địa :
Phiền não gốc rễ nó hay nảy ra phiền não ngọn nhánh,
nên gọi là Trụ địa. Gốc nó làm chỗ cho ngọn nương,
nên nói là Trụ ; gốc hay nảy ngọn, nên gọi là Ðịa.
Năng sanh là Ðịa, khiến cho sở sanh được thành lập,
nên gọi là Trụ.
Từ trong mê mà giác ngộ, mới biết có công hiệu, thì
gọi là Hoạch cũng như đắc hay chứng, mà có năm địa
vị chẳng đồng nhau : 1/ Với cái trí chỉ mới đủ hiểu
được pháp thân, thì gọi là Danh Tự hoạch ; 2/ Từ chỗ
đã hiểu biết rồi khởi sự tu niệm, dẹp hết ngũ trụ
hoặc, gọi là Quán hạnh hoạch; 3/ tha hồ hai thô cấu
rụng hết trước gọi là Tương tự hoạch; 4/ phá một
phần vô minh, chứng một phần pháp thân, trong thời
đương phá, pháp thân hoàn toàn hiển hiện, gọi là Cứu
cánh hoạch.
A Nan là bực trong ẩn cái hạnh Bồ tát, ngoài bày cái
tưóng Thinh Văn, thì cái chỗ gốc tích của ông
là “Bí mật hoạch” hạng phàm không thể nhận xét được
! nay căn cứ nơi danh tích là Hiển hiện hoạch của
ông, thì, ông ở về bực Sơ tín bến Viên giáo, địa vị
ngang hàng với bực Sơ quả thánh nhơn bên Tạng giáo.
-
Nguyện kim đắc quả
thành bảo vương,
-
Huờn độ như
thị hằng sa chúng
-
Tương thử thâm tâm
phụng trần sát,
-
Thị tắc danh vi
báo Phật ân
-
phục thỉnh Thế Tôn
vi chứng minh,
-
ngũ trược ác thế
thệ tiên nhập,
-
như nhứt
chúng sanh vị thành Phật
-
chung bất y thử
thủ Nê Hoàn
5/Nguyện đắc ngay quả Diệu giác (Phật) liền thành
ngôi bửu vương vô thượng giữa mười phương; 6/ trở
lại đây để độ chúng sanh số hằng sa trong chín cõi;
7/ đem cái tâm nguyện “Cầu Phật quả, độ chúng sanh”
đây thờ chư Phật trong cõi số vi trần; 8/ được thế
mới là đền ơn sâu của Phật độ tôi; 9/ lại cầu đức
Thế Tôn chứng minh cho lời nguyện của tôi; 10/ Với
đời dữ ngũ trược thề vào trước, để độ tận chúng cang
cường khó dạy; 11/ Như một chúng sanh nào chưa được
thành Phật; 12/ vẫn không bỏ nó, vội thành Phật
riêng để diệt độ mình.
Bốn câu trên là nghĩa của pháp bốn thệ nguyện rộng
lớn. Bài kệ dưới là nghĩa thệ nguyện tăng thượng.
Chữ Bửu là nghĩa tôn quý. Chữ Vương là nghĩa tự tại.
Là nói : Phật đã sạch hết ba hoặc
vẫn không hai tử
địa vị là vô thượng, nên gọi
là Tôn Quý; pháp thân giáp tròn, tột cõi hư không,
hoá độ vô cùng vô ngại, nên gọi là Tự tại.
Sách Văn Cú nói : Nguyện Kim đắc thành bửu vương, là
muốn chứng Ðạo đế, Diệt đế của mười pháp giới, chính
gọi “Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành” và gồm
thâu “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Hườn độ như
thị hằng sa chúng, là muốn dứt Khổ đế, Tập đế của
mười pháp giới, chính gọi “Chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ”, kiêm luôn “phiền não vô tận thệ nguyện
đoạn”.
“Thâm tâm” là nương nơi Vô tác tứ đế của “Viên
giáo”, để phát khởi ra Tứ Hoằng thệ nguyện. Kế đó là
lời thệ nguyện tăng thượng. Hai câu : Phục thỉnh Thế
Tôn vi chứng minh, ngũ trược ác thế thệ tiên nhập,
là dõng mãnh tăng thượng, số là với chúng sanh ở đời
ngũ trược cang cường lắm nên khó dạy bảo. Nay ông A
Nan đã đắc cái tạng tánh bình đẳng, phát được cái
tâm đại bi, đối với chúng ấy, như mẹ thương con, nên
mới có thể cấp cứu chúng đặng. Hai câu : Như nhứt
chúng sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ nê
hoàn, là hoằng nghị tăng thượng, bởi đã đạt đến tạng
tánh; nó dọc thấu ba đời, ngang giáp mười phương,
nên với việc hoá độ, không bỏ sót một chúng sanh, dù
tột hết qua nhiều đời sau, với hạnh khổ khó làm đến
đâu, cũng không chán sợ.
Nguyện vì chúng sanh có khổ, Bồ tát có bi, bởi bi
cùng đồng thể với khổ : Tỷ như cái tánh thiêng
liêng nó quan thiết nhau giữa mẹ con; con có khổ, mẹ
ắt bi cứu. Thế nên chúng sanh có cảm, lòng Thánh
phải ứng.
“Nê Hoàn” cũng gọi Niết bàn, dịch là Diệt độ; diệt
phiền não, độ sanh tử, tức là chứng đặng pháp thân
diệu tánh, là tâm cảnh không còn phiền não sanh tử
nữa.
-
Ðại hùng đại lực
đại từ bi
-
hy cánh thẩm trừ
vi tết hoặc
-
Linh ngã tảo đăng
vô thượng giác
-
ư thập phương giới
toạ đạo tràng
13. Ðức Ðại hùng Ðại lực đại từ bi ; 14. Mong
thêm xét dứt lầm nhỏ nhít ; 15.Khiến tôi sớm lên
Phật không trên ; 16. Với mười phương cõi ngồi đạo
tràng.
Ðây là lời Phật gia hộ, để mong dứt những vọng hoặc
quá vi tế, mà kỳ cho được chứng lên bực tột cao
thượng.
Thể theo chứng lên ngôi Vô thượng làm thầy cả chín
cõi, nên nói là Ðại Hùng. Có cái Trí Tuệ phá
tan được nghiệp chướng mê hoặc của phiền não
nơi ta và chúng, nên nói là Ðại lực. Cứu hết
cái khổ sanh tử của chín cõi, cho chúng đều được cái
vui Niết bàn của cõi Phật, nên nói là Ðại từ bi,
Sách văn cú nói : Ðại lực là đức tốt “Diệu trạm”
(tinh thần mạnh sáng). Ðại từ bi là đức tốt “Tổng
trì” (nghị lực gom giữ). Ðại hùng là đức tốt “Bất
động” (uy nghi tự tại). Lại nói : Chứng được cái lý
thể “Diệu trạm tổng trì bất động” gọi là “Ðại Hùng”;
đủ cái trí chiếu “Diệu trạm tổng trì bất động” gọi
là “Ðại lực” dấy cái diệu dụng “Diệu trạm tổng trì
bất động” gọi là “Ðại từ bi”. Lẫn nhau để nghĩ xét,
là cái cớ : Ba và Một chẳng phải là hai lẽ.
“Hy cánh thẩm trừ vi tế hoặc”, Hy : trông,
cầu. Vi tế hoặc : chính là cái vô minh của
bực đã ra ngoài tam giới. Kinh nói : “Ngươi (A Nan)
nay đã đắc quả Thánh Tu đà hoàn, đã dứt diệt rồi đều
mê hoặc bằng nhận thấy sai lầm giữa thế gian chúng
sanh trong tam giới”. Chính là bài kệ trước kia đã
nói : “Tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng”.
Kinh lại nói : “Song, bởi chưa biết trong Căn tánh
nó chứa chất cái thói quen giả dối từ vô thỉ đến
nay, với cái thói quen ấy, cốt phải do công tu mới
đoạn trừ được nó”. Cái “thói quen” đó là chỉ cho sự
lo nghĩ lầm sai (tư hoặc) của chúng sanh trong tam
giới.
Kinh lại nói : “phương chi trong đời nay đây, với
mõi bốn giai đoạn : Sanh, Trụ, Dị, diệt của mỗi ý
niệm, chia chẻ mỗi mỗi con số ......”, những ý niệm
sanh diệt đó, là chỉ cho cái vọng hoặc riêng của
những bực đã ra ngoài tam giới, mà chính ở đây bảo
là “vi tế hoặc”.
Vô thượng giác tức là ráo rốt quả Phật Diệu
giác, nếu người tu Phật đã đoạn hết cái mê hoặc vi
tế thì liền tiến lên quả Diệu giác, chính rằng ba
giác đã sáng suốt cực điểm tức là Như Lai.
Mười phương cõi cần đủ ngang và dọc để luận.
Ngang tức là Ðông, Tây, Nam, Bắc, bốn góc và trên,
dưới; như đối với phương đông : Ðể xét cõi hư không,
thấy nó vô cùng vô tận, mà thế giới cũng không tột
không hết. Thế thì mỗi phương đều như vậy cả. Bàn về
bề dọc, thì với giữa thế giới nhiều vô tận, thế giới
nào cũng đủ bốn quốc độ. Ðối với chúng sanh hoặc căn
cơ nào đoạn hoặc chứng chơn đã viên mãn bình đẳng,
thanh tịnh, thì Phật ngồi nơi đạo tràng cõi tịch
quang, để thị hiện cho chúng ấy được thấy “pháp thân
Phật”. Hoặc có trình độ tu đoạn đã được bình đẳng
tự lợi lợi tha, thì Phật ngồi nơi đạo tràng cõi thật
báo, để thị hiện cho họ thấy được “ Báo thân Phật”.
Hoặc có hạng vừa tu chứng bực Nhị thừa, thì Phật
ngồi nơi Ðạo tràng giữa phương tiện độ, để thị hiện
cho chúng thấy được “Ứng thân Phật”. Hoặc có hạng
người tu bằng cách trước tướng chán khổ bỏ khổ, thì
Phật ngồi nơi Ðạo Tràng đồng cư độ, để cho chúng ấy
được thấy thân Phật bằng cách “biến hoá’. Song, tạng
tánh của Phật là tròn bọc cõi hư không; chính chỗ
bảo rằng : đến khi mà một người thành Phật, đầy dẫy
pháp giới đều là y báo chánh báo của một đức Phật
chính là đây vậy.
-
Thuấn nhã đa tánh
khả tiêu vong
-
Thước ca la tâm vô
động chuyển
17/Tánh Thuấn Nhã đa có thể mất
18/ Tâm Thước ca la không hề nao.
Ðây là tỷ dụ : Với cái tâm nguyện không lui mất.
Thuấn nhã đa là : cái hư không. Thước Ca la
: bền chắc. Nghĩa là những vật chất như địa cầu còn
có ngày tiêu diệt, vì hữu hình hữu hoại ; chớ nên
không là vô tướng, thì bao giờ tiêu mất được, vì nó
là thể tánh bất sanh bất diệt. Thế mà bảo rằng : “Nó
có thể tiêu vong” đó, là ý nghĩa rất sâu để tỷ lại
với cái “tâm nguyện” rất kiên cố, rốt ráo không hề
thối chuyển.
Hỏi : Kinh nói : Với cái hư không, phi ai có
thể làm gì nó được, nên nó không hoại diệt. Lại nói
: “phát minh được cái chơn qui ngươn (chơn tâm) rồi,
thì hư không liền tiêu mất”. Thế với hai nghĩa trên
nói sao cho xuôi ?
Ðáp : Bằng nói pháp thế tục đế, thì với “hư
không” chẳng đó thể diệt nó đặng, nên trong kinh
sách Phật, một phần cũng dùng cái hư không để tỷ dụ
cái chân tánh, vì là nghĩa bất sanh bất diệt bởi vô
hình vô động; còn cứ nơi pháp Ðệ nhất nghĩa đế thì
cái không nó nguyên bởi nơi vô minh làm mê mất cái
Chơn không mà biến đổi làm ra cái Ngoan không.
Nếu phá được vô minh rồi, thì toàn thể nó chính là
Như lai tạng tâm, ngay nơi Ngoan không mà làm Chơn
không, giữa hư không cả đại địa cũng là cái Diệu
hữu. Kinh lại nói : Cái hư không sanh trong tâm đại
giác, tỷ như một cục bọt nổi giữa biển cả, bọt tan
cũng như cái “không vốn chẳng có, hư không đã chẳng
có, huống đâu còn tam giới. Chính rằng nghĩa trên
đây, kêu bằng hư không (Thuấn Nhã Ða) hữu tận, ngã
nguyện (nguyện tâm) vô cùng (Thước ca la : kiên cố).
Nam mô Thường trụ thập phương Phật
Nam mô Thường trụ thập phương pháp
Nam mô Thường trụ thập phương Tăng.
Cúi lạy ngôi Phật bảo thường ở đời nơi mười
phương.
Cúi lạy ngôi Pháp bảo thường ở đời nơi mười
phương.
Cúi lạy ngôi Tăng bảo thường ở đời nơi mười
phương.
Ðấy là lạy chung tất cả các ngôi Tam bảo hiện trụ
trong thập phương thế giới. Với ba triệu trên sẽ
thấy giải thích ở nơi văn sám hối sau.
Nam mô Thích Ca Mưu Ni Phật
Nam mô Phật đảnh thủ lăng nghiêm
Nam mô Quán thế Âm Bồ tát.
Kính lạy ngôi Phật là đức Thích Ca Mâu Ni.
Kính lạy ngôi Pháp là Phật đảnh Thủ Lăng Nghiêm
Kính lạy ngôi Tăng là đức Quán Thế âm Bồ tát và Ngài
Kim Cang Tạng Bồ Tát.
Ðây là lạy riêng về Ngôi Tam Bảo của Kinh Lăng
Nghiêm; Thích Ca Giáo Chủ là “Phật bảo”; Lăng Nghiêm
kinh chú là “Pháp bảo”; hai vị Bồ tát thuộc “Tăng
bảo”. Thích Ca (Sẽ giải rõ ở văn Ðại sám hối
là Hồng danh bửu sám. Quán Thế Âm : đích là
với Kinh này về chánh tông kén chọn “nhĩ căn viên
thông” vì Bồ tát Ngài bắt đầu từ nơi nhĩ căn đi sâu
vào mà đắc quả viên thông. Ðức Văn Thù chấm lấy nhĩ
căn, vì nó rất thích hợp với căn cơ của thính giả ở
thế giới ta bà này. Nên vắn tắt rằng : “Thử phương
chơn giáo thể, thanh tịnh tại âm văn”; phương
đây thiệt giáo thể, trong sạch ở tiếng nghe. Nghĩa
là với thể lãnh giáo đúng chơn thật của chúng nhơn
thế giới ta bà đầy, được thanh tịnh nhứt là ở tai
nghe của thính giả đối với tiếng nói của đấng thuyết
pháp.
Lại bởi Nhĩ căn (thính giác) nó đủ cả ba cái thể
chơn thật là : Viên thông, và Thường. Kinh nói “Dụ
như người ở chỗ yên lặng, mười phương đều có kẻ đánh
trống, đồng thời cũng đều nghe được cả”. Ðó là Viên
chơn thật. “Cách vách nghe tiếng vang, xa gần cũng
nghe được”. Ðó là Thông chơn thật “Với lúc không
tiếng động, tánh nghe đã chẳng diệt; với khi có
tiếng vang; thính giác cũng phi sanh” đó là thường
chơn thật.
Vậy, người tu Phật : Chính khi nghe, cốt chớ nghe
nơi ngoài cảnh, vì tiếng bên ngoài là thuộc về trần;
lại cũng đừng nghe bên trong, vì cái động cảm bên
trong lòng là thuộc về thức. Bởi nếu nghe nơi trần
thì bị nhiễm ô, còn nghe nơi thức thì bị phân biệt,
vì thức cùng trần đều phi tự tánh. Nay chỉ nghe mà
thôi, nghĩa là cái nghe chỉ nghe lấy tự tánh của nó.
Ðã được quày cái nghe để nghe lại tự tánh, là đi
ngược dòng mê vọng của sanh tử khổ hải, để tiến vào
dòng giác. Chơn của pháp tánh linh nguyên, nghĩa là
: “mất cái tướng động tướng tịnh, hết cái nghe bằng
có nghe, không cái biết rằng có biết, diệt cái không
bằng không suông” (bởi cái không ấy nó còn đối với
cái có), mà đắc cái cảnh giới “tịch diệt” hiện tiền,
liền siêu việt lên trên cái tri thức của lục phàm ở
thế gian, và tri giác của tam thừa xuất thế gian; vì
tri thức của thế gian là vọng trần cũng như vật chất
hay duy vật khách quan, còn trí giác của xuất thế
gian là phân biệt cũng như ham tịnh ghét nhiễm chỉ
lo phần tự giác tự độ, Duy thức chủ quan. Ðối trên
thì đồng họp với “Từ dữ lạc” của chư Phật, đối dưới
thì đồng cảm với “Bi bạt khổ” cho chúng sanh. Thế
thì đã trọn phá rồi cái vọng thân ngũ ấm trọn
vượt khỏi rồi cái vọng kiếp ngũ trược trọn dứt rồi
ba cái vọng hoặc, trọn rỡ ràng ba cái đức tốt.....
nhẫn đến chứng được rốt ráo quả vị Phật.
Trong những thời ta đương trì tụng chú Lăng Nghiêm,
nên biết mỗi chữ đều do nơi tự tâm đưa ra, trở lại
đến nghe nơi dòng tự tánh, miệng thì tụng, tâm thì
soi, chăm chăm như như rót nước chẳng sai dời, cũng
không cho tâm thần (ý thức) nó hôn trầm và tán loạn.
Vậy, ta liền khế họp ngay nơi “lẽ viên thông” của
đức Quán Thế Âm, cũng dù thi vi gì gì nữa đâu chẳng
là tánh tạng bí mật ư ? ( xin xem kinh Lăng Nghiêm
quyển thứ 6 vàlời chú giải sẽ được tường tận cả
nghĩa trên).
Ngài Kim Cang Tạng là chủ tịch bên bộ Mật bộ,
vì Ngài năng hộ trì những người tu trì chú Lăng
Nghiêm, khiến cho tu sĩ ấy được chóng thành tựu công
đức.
Nhĩ thời Thế Tôn, tòng nhục kế trung, dũng bách
bửu quang, quang trung dũng xuất, thiên diệp bửu
liên, hữu hóa Như Lai, tọa bửu hoa trung, đảnh phóng
thập đạo, bách bửu quang minh, nhứt nhứt
quang minh, giai biến thị hiện, thập hằng hà sa, Kim
Cang mật tích, kinh sơn trì xử, biến hư không
giới, đại chúng ngưỡng quan, úy ái kiêm bảo, cầu
Phật ai hựu, nhứt tâm thính Phật, vô kiến đảnh
tướng, phóng quang Như Lai, tuyên thuyết thần chú.
Lúc bấy giờ, từ trong tướng nhục kế nơi đảnh của Thế
Tôn vọt ra một hào quang bằng trăm ánh báu; trong
hào quang hiện ra một hoa sen nở hàng nghìn cánh, có
một Hóa Phật ngồi trong hoa sen báu ấy, trên đảnh
Hóa Phật phóng ra mười đạo hào quang bằng những ánh
của trăm ngọc báu, mỗi mỗi tia sáng ấy đều chiếu
khắp nơi để thị hiện ra 10 hằng hà sa thần Kim
Cang Mật Tích : ông thì bưng núi, ông thì cầm xử
v.v... khắp cõi hư không, đại chúng đều ngữa mặt
trông nhìn, ôm lòng vừa kinh sợ vừa mến yêu để xin
Phật thương giúp, nên đều chăm lòng đợi nghe Phật
dạy, đức hóa Phật trong hào quang mà nơi tướng vô
kiến đảnh phóng ra đó tuyên nói thần chú như sau.
Ðây là đức Thế Tôn Ngài thị hiện cái tướng biến hóa
ra để thuyết thần chú (tức là năm hội thần chú sẽ
thấy sau kia).
Lời Sớ giải thích rằng : Với cái tướng tốt nhục
kế, so theo Vô thượng y Kinh nói, thì : Cái đảnh
đầu của Phật có xương óc nổi cao lên tự nhiên nó
thành như cái “đầu tóc bới”, tức kinh đây bảo là
“Ðại Phật đảnh”, cũng tên là Vô Kiến đảnh, để tỏ bày
là cái thể bất động trí. Bách Bửu quang : hào
quang bằng ánh sáng của trăm thứ báu, là để tiêu
biểu cái dụng sáng suốt vô lượng trí chiếu khắp trăm
thế giới, vì đúng với tánh khắp giáp. Thiên diệp
bửu liên : hoa sen báu nở nghìn cánh, là trưng
ra rằng ngàn lần vẫn đúng như một. Hữu hóa Như
lai tọa bữu hoa trung: Bửu hoa là Nhơn,
Như Lai là Quả, để tỏ rằng : Nhân trùm biển quả, Quả
thấu nguồn nhơn, mà Nhơn quả vẫn đồng thời. Ðảnh
phóng thập đạo..... thập hằng hà sa : Trên đảnh
hóa Phật phóng 10 tia sáng......10 số hằng hà sa, là
để nêu rõ rằng : Các pháp “Thập giới, thập như
v.v....” mà pháp thì có sai biệt, còn hào
quang thì không lệch khác, pháp và quang đều là cái
diệu dụng của “Như lai tạng tánh”, nhưng pháp và
quang đều khắp giáp thị hiện ra đó là : Chính để tỏ
rằng tạng tánh ấy bản thể nó sẵn sàng thanh tịnh
khắp giáp pháp giới.
Kim Cang Mật Tích : Tiếng Phạm là Sanda,
tiếng Ta đọc là Tán na. Lại Phạm ngữ Pancika, ta đọc
là Tán chi ca, dịch là Mật chủ, vì đủ bốn nghĩa Mật
: Danh, Hành, Trí và Lý, làm vị thần Hộ pháp chủ,
bởi sự tích thị hiện làm Kim Cang thần, nên gọi là
Mật Tích : danh tích bí mật. Nghĩa là Bửu
quang ấy thể nó như kim cương; không chi phá hoại
được, mà nó phá hoại được số hằng sa phiền não của
thập giới (10 cõi), khắp hiện ra số hằng sa diệu
dụng trong mười cõi, nên nói là biến hư không giới.
Uùy ái : Sợ thương, vì đủ uy đức, để bẻ dẹp,
nên đại chúng đều sợ, đủ từ bi để dung thâu, nên đại
chúng đều mến yếu. Cũng như nói : Uùy kỳ oai, hoài
kỳ đức. Ðức Hóa Phật trong hào quang trên đảnh
là nêu rõ rằng : “Cái thể kín nhiệm” nó chẳng mượn
công tu và chứng, vì tâm với Phật vẫn đều là vô vị.
Ðức Hóa Phật nói thần chú là để tỏ bày “cái
diệu dụng kín nhiệm” chẳng khá nghĩ bàn. Phóng hào
quang hóa Phật nói chú, thì Hóa Phật thuyết chú đều
là hào quang, là để tỏ “cái tướng kín nhiệm” vô ngại
thanh tịnh. Từ nơi đảnh Phật là để tỏ tức là Hiển,
tức là Mật, vì pháp nó không khác nhau. Vô Kiến
: không thấy, là nêu rõ rằng chẳng phải Hiển, chẳng
phải Mật, vì pháp nó vẫn vắng lặng. Ðây chính là cái
trọn chứng của Như Lai, và tức là cái thể mà chúng
sanh đồng đủ. Song, Lý nó nhơn nơi Sự để tỏ bày, còn
pháp là theo nơi Cơ để cảm hóa. Vì A Nan trước nhờ
Ngài Văn Thù đem thần chú đến cứu hộ rồi dẫn về, đó
là chỉ mới đặng sự lợi ích của pháp Mật mà thôi, chớ
chưa được rõ nghe về pháp Hiển. Về đến pháp hội, đã
nhờ đức Như Lai mỗi tầng chỉ vẽ....A Nan mới tờ ngộ
đặng lý Viên đốn, rõ được sự viên tu. Còn với những
điều mà ông muốn thâu tâm vào định Thủ Lăng Nghiêm
để tránh xa các sự ma chướng, thì còn phải nhờ 4
giới Trọng cấm giữ được như giá trong tuyết trắng.
Chí như những thói quen của mấy đời trước rất khó
trừ, thì cần phải tụng “Phật đảnh Thủ Lăng Nghiêm
thần chú” mới trừ đặng. Thế nên trong cuốn thứ 7, A
Nan lập lại cầu Phật phóng quang hiện đức Hóa Như
Lai tuyên thuyết thần chú.
Trong bộ Du Già dạy có 4 cách niệm tụng : 1/ niệm
tụng có âm thinh, là niệm bằng cách đọc ra tiếng. 2/
Kim Cang niệm tụng : ngậm miệng niệm thầm, cuống
lưỡi hơi cử động. 3/ Niệm tụng bằng phép Tam ma đề :
là niệm trong tâm tưởng. 4/ Chơn thật nghĩa niệm :
tu hành đúng với chữ Nghĩa.
Lại hoặc phân làm 5 cách niệm tụng : 1/ Xuất nhập
tức tụng, là lòng tưởng theo tiếng chữ chú, tùy theo
hơi thở ra hút vào, hễ hơi ra thì tưởng chữ ra, hơi
vào thì tưởng chữ vào, mỗi chữ rõ rành, như xâu
chuỗi ngọc, trước sau khong hở xen. 2/ Du Dà trì
tụng : tưởng nơi trái tim ta nó tròn như mặt nguyệt,
trong ngoài phân minh, tưởng như thứ lớp chữ thần
chú trước quanh qua bên hữu, mỗi chữ khắp bủa chạy
theo cái bìa vòng tròn của mặt trăng ấy, rốt rồi trở
lại như trước. 3/ Kim Cang trì tụng : ngậm môi,
trong miệng niệm nhỏ nhỏ lầm thầm nơi đầu cuống
lưỡi. 4/ Vị thinh trì tụng: đọc mỗi chữ cho rõ ràng,
tiếng đọc chỉ vừa lỗ tai mình nghe được mà thôi, chớ
đừng đọc lớn đến người ở gần nghe. 5/ Cao Thinh trì
tụng : cao giọng niệm tụng lớn tiếng để cho người
nghe, hầu dứt ác sanh thiện.
Trong Như ý bửu kinh, ông Diệu Trụ Bồ
Tát hỏi : Có người cũng niệm tụng bài thần chú đây,
nhưng tại sao không thấy được tam thế chư Phật ?
Phật đáp rằng : Bởi vì lòng còn trụ trước nơi nghiệp
thiện hay ác, lòng nghi ngại chưa đoạn, lòng chấp
hữu vi, và không có phương tiện; nếu có thể tâm
không nghi hoặc, quyết định chuyên chú, thế mới gọi
là chơn thực trì tụng được.
Lại, ông Diệu Tý Bồ Tát hỏi : trì tụng thần chú mà
không thể kết quả, là phải chăng pháp lực vô hiệu ?
Hay là những thời tu niệm trái giờ ? Hoặc nữa, chủng
tánh nó chẳng phải Phật tánh ư? Hoặc Thần chú
còn khuyết điểm lợi ích ? Kẻ tu trì tự ý khinh mạn ?
Hay là lễ vậtcúng dường chẳng đủ ? Kim Cang thủ bồ
tát trả lời rằng : Người mà tu chép chơn ngôn cũng
như thần chú, muốn cho được thành tựu, thì cần phải
lìa hẳn các phiền não, dấy nơi đức tin sâu, phát tâm
bồ đề, kính trọng Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo, xa lìa
mười nghiệp ác, bỏ thói tàkiến, hành pháp thập
thiện; vào đàn niệm chú, nương theo vị A xà lê,
quyết chí mạnh tiến, sám hối nghiệp chướng từ đời
trước, giúp bạn đồng tu, vật cúng tinh khiết, thì
phép tu chơn ngôn nó không sai ngoa. Trái lại, người
tu chứng đúng phép thì chắc chắn được linh cảm. Ðời
nay người tu trì không được ứng nghiệm, đã không tự
trách lỗi mình mà trở lại phiền trách kinh chú vô
hiệu. Thật là vô lý ! Nếu do đó mà sanh tâm
nghi ngờ chê bai, tất phải chịu quả báo tội ác, với
hạng người tu tụng như thế đó, than ôi khá tiếc !
Phuï : Sau đây là năm đệ thần chú (đối
với Phạm ngữ là tiếng của Aán Ðộ, tôi chưa học nói
được nên chỉ dịch bằng tiếng việt đọc, chữ Nho của
Việt xưa mà thầy Tổ đã vẫn truyền dạy bấy lâu. Tổ
Vân Thê cũng đã phán : “Không biết tiếng Phạm thì
đọc ngay tiếng thổ âm của mình cũng đặng, vì không
cần tiếng mà cần ở tâm, bởi thần chú, nghĩa : Uy
linh bất trắc gọi là Thần, tùy tâm sơ nguyện gọi là
Chú”. Lại : linh tại ngã, bất linh tại ngã; thế cần
gì tiếng Phạm?
ÐỆ NHỨT HỘI :
Nam mô tát đát tha tô già đa da a la ha đế tam miệu
tam bồ đà tỏa. Tát đát tha Phật đà cu tri sắc ni
sam.
Nam mô tát bà bột đà bột địa, tát đa bệ tệ.
Nam mô tát đa nẩm tam miệu tam bồ đà cu tri nẩm. Ta
xá ra bà ca tăng già nẩm.
Nam mô lo kê a la hán đa nẩm.
Nam mô tô lô đa ba na nẩm.
Nam mô ta yết rị đà già di nẩm.
Nam mô lô kê tam miệu già đa nẩm. Tam miệu già ba ra
để ba đa na nẩm.
Nam mô đề bà ly sắc nỏa.
Nam mô tất đà da tỳ địa da đà ra ly sắc nỏa. Xá ba
noa yết ra ha ta ha ta ra ma tha nẩm.
Nam mô bạt ra ha ma ni.
Nam mô nhơn đà ra da.
Nam mô bà già bà đế. Lô đà ra da. Oâ ma bát đế, ta
hê dạ da.
Nam mô bà già bà đế. Na ra dả noa da. Bàn giá ma ha
tam mộ đà ra.
Nam ô tất yết rị đa da.
Nam mô bà già bà đế.
Ma ha ca ra da. Ðịa rị bát lặc na già ra. Tỳ đà ra
ba noa ca ra da. A địa mục đế. Thi ma xá na nê bà
tất nê. Ma đát rị già noa.
Nam mô tất yết rị đa da.
Nam mô bà già bà đế.
Ða tha già đa cu ra da.
Nam mô bát đầu ma cu ra da.
Nam mô ma ni cu ra da.
Nam mô già xà cu ra da.
Nam mô bà già bà đê,s đế rị trà du ra tây na, ba ra
ha ra noa ra xà da, đa tha già đa da.
Nam mô bà già bà đế.
Nam mô a di đa bà da, đa tha dà đa da, a ra ha đế,
tam miệu tam bồ đà da.
Nam mô bà già bà đế, a sô bệ da, đa tha già đa da, a
ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da.
Nam mô bà già bà đế, tam bổ sư bí đa, tát lân nại ra
lặc xà da, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam
miệu tam bồ đà da.
Nam mô bà già bà đế, xá kê dã mẫu na duệ, đa tha già
đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da.
Nam mô bà già bà bà đế, bệ sa xà da cu lô phệ trụ
trị đa, bác ra bà ra xà đa, đa tha già đa da.
Nam mô bà già bà đế, tam bổ sư bí đa, tát lân nại ra
lặc xà da, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam miệu
tam bồ đà da.
Nam mô bà già bà đế, xá kê dã mẫu na duệ, đa tha già
đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da.
Nam mô bà già bà đế, lặc đác na kê đô ra xà da, đa
tha dà đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da, đế
biều nam mô tát yết rị đa, ế đàm bà già bà đa, tát
đát tha già đô sắc ni sam, tát đát đa bác đác lam
Nam mô a bà ra thị đam, bác ra đế dương kỳ ra, tát
ra bà bộ đa yết ra ha, ni yết ra ha yết ca ra ha ni,
bạc ra bí địa da sất đà nể, a ca ra mật rị trụ,
bác rị đát ra da nảnh yết rị, tát ra bà bàn đà na
mục xoa ni, tát ra bà đột sắc tra đột tất phạp bát
na nể phạt ra ni, giả đô ra thất đế nẩm, yết ra ha
ta ha tát ra nhả xà, tỳ đa băng ta na yết rị, a sắc
tra băng xá đế nẩm, na xoa sát đác ra nhả xà, ba ra
tát đà na yết rị, a sắc tra nẩm, ma ha yết ra ha nhả
xà, tỳ đa băng tát na yết rị, tát bà xá đô lô nể bà
ra nhả xà, hô lam đột tất phạp nan giá na xá ni, bí
sa xá tất dác ra, a kiết ni ô đà ca ra nhã xà, a bác
ra thị đa cu ra, ma ha bác ra chiến trì, ma ha điệp
đa, ma ha đế xà, ma ha thuế đa xà bà ra, ma ha bạt
ra bàn đà ra bà tất nể, a rị da ba ra tỳ rị cu tri,
thệ bà tỳ xà da, bạt xà ra ma lễ để, tỳ xá lô đa,
bột đằng võng ca, bạt xà ra chế hắt na a giá, ma ra
chế bà bác ra chất đa, bạc xà ra thiện trì, tỳ xá ra
giá, phiến đa xá bệ đề bà bổ thị đa, tô ma lôba, ma
ha thuế đa, a rị da đa ra, ma ha bà ra a bác ra, bạt
xà ra thương yết ra chế bà, bạt xà ra cu ma rị, cu
lam đà rị, bạt xà ra hắc tát đa giá, tỳ địa gia kiền
giá na ma rị ca, khuất tô mẫu bà yết ra đá na, bệ lô
giá na cu rị da, dạ ra thố sắt ni sam, tỳ chiết lam
bà ma ni giá, bạt xà ra ca na ca ba ra bà, lô xà na
bạt xà ra đốn trì giá, thuế đa giá ca ma ra sát xa
thi ba ra bà, ế đế di đế, mẫu đà ra yết noa, ta bệ
ra sám quật phạm đô, ấn thố na mạ mạ tỏa.
ÐỆ NHỊ HỘI
Oâ hồng rị sắc yết noa, bác lặc xá tất đa, tát đát
tha già đô sắc ni sam. Hổ hồng. Ðô lô ung, chim bà
na. Hổ hồng, đô lô ung tất đam bà na. Hổ hồng, đo lô
ung ba ra sắcđịa da tambác xá nao yết ra. Hổ hồng,
đô lô ung, tát bà dược xoa hắc ra sát ta,yết ra ha
nhã xà, tỳ đừng băng tát na yết ra. Hổ hồng, đô lô
ung, giả đô ra thi để nẩm, yết ra ha ta ha tát ra
nẩm, tỳ đằng băng. Tát na ra, hổ hồng, đô lô ung, ra
xoa, bà già phạm tát đát tha già đô sắc ni sam, ba
ra điểm xà kiết rị, ma ha ta ha tát ra, bột thọ ta
ha tát ra thất rị sa, cu tri ta ha tát nê đế lệ, a
tệ đề thị bại đa, tra tra anh ca ma ha bạt xà lô đà
ra, đế rị bồ bà na, man trà ra, ô hồng, ta tất đế
bạc bà đô, mạ mạ, ấn thố na mạ mạ tỏa.
ÐỆ TAM HỘI
Ra xà bà dạ, chủ ra bạt dạ, a kỳ ni bà dạ, ô
đà ca bà dạ, tỳ xa bà dạ, xá tát đa ra bà dạ, bà ra
chước yết ra bà dạ, đột sắc xoa bà dạ, a xá nể bà
dạ, a ca ra mật rị trụ bà dạ, đà ra ni bộ di kiếm ba
già ba đà bà dạ, ô ra ca bà đa bà da, lặc xà đàng
trà bà dạ, na già bà dạ, tỳ diều đát bà dạ, tô ba ra
noa bà dạ, dược xoa yết ra ha, ra xoa xoa tư yết ra
ha, tất rị đayết ra ha, tỳ xá giá yết ra ha, bộ đa
yết ra ha, cưu bàn trà yết ra ha, bổ đơn na yết ra
ha, ca tra bổ đơn na yết ra ha, tất kiền độ yết ra
ha, a bá tất ma ra yết ra ha, ô đàn ma đà yết ra ha,
xa dạ yết ra ha, hê rị bà đế yết ra ha, xả đa ha rị
nẫm, yết bà ha rị nẩm, lô địa ra ha rị nẩm, man ta
ha rị nẩm, mê đà ha rị nẩm, ma xà ha rị nẩm, xà đa
ha rị nữ, thị tỷ đa ha rị nẩm, tỳ đa ha rị nẩm a du
giá ha rị nữ, chất đa ha rị nữ, đế sam tát bệ sam,
tát bà yết ra ha nẩm a du ha rị nữ, chất đa ha rị
nữ, đế sam tát bệ sam, tát bà yết ra ha nẩm, tỳ đà
dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, kê ra dạ di, trà
diễn ni hất rị đởm tỳ đà dạ xà sân đà dạ di,
kê ra dạ di, ma ha bác du bác đát dạ, lô đà ra hất
rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, na ra
dạ noa hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra
dạ di, đát đỏa già lô trà tây hất rị đở, tỳ đà dạ xà
sân đà dạ di, kê ra dạ di, ma ha ca ra ma đát rị già
noa hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ
di, ca ba rị ca hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ
di, kê ra dạ di, xà dạ yết ra, ma độ yết ra tát bà,
ra tha ta đạt na hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ
di, kê ra dạ di, giả đốt ra bà kỳ nễ hất rị đởm, tỳ
đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, tỳ rị dương hất
rị tri, nan đà kê sa ra dà noa bác đế sách hê dạ hất
rị đơ,r tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, na
yết na xá ra bà noa hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà
dạ di, kê ra dạ di, tỳ rị dương hất rị tri, nan đà
kê sa ra dà noa bác đế sách hê dạ hất rị đởm, tỳ đà
dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, na yết na xá ra bà
noa hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ
di, a la hán hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di,
kê ra dạ di, tỳ đa ra già hất rị đởm, tỳ đà dạ xà
sân đà dạ di, kê ra dạ di, bạt xà ra ba nể, cu hê
dạ, cu hê dạ ca địa bát đế hất rị đởm, tỳ đà dạ xà
sân đà dạ di, kê ra dạ di, ra xoa vỏng, bà dà phạm,
ấn thố na mạ tỏa.
ÐỆ TỨ HỘI
Bà già phạm, tát đát đa bác đát ra. Nam mô tý đô đế,
a tất đa na ra lặc ca, ba ra bà tất phổ tra, tỳ ca
tát đát đa bát đế rị, thập Phật ra, thập Phật ra, đà
ra đà ra, tần đà ra tần đà ra, sân đà sân đà.
Hổ hồng hổ hồng, phấn tra, phấn tra, phấn tra, phấn
tra, phấn tra, ta ha, hê hê phấn, a mâu ca da phấn,
a ba ra đề ha đa phấn, ba ra bà ra đà phấn, a tố ra
tỳ đà ra ba ca phấn, tát bà đề bệ tệ phấn, tát bà na
già tệ phấn, tát bà bổ đơn na tệ phấn, ca tra
bổ đơn na tệ phấn, tát bà đột lang chỉ đế tệ phấn,
tát bà đột sáp tỷ lê hất sắc đế tệ phấn, tát bà thập
bà lê tệ phấn, tát bà a bá tất ma lê tệ phấn, tát bà
xá ra bà noa tệ phấn, tát bà địa đế kê tệ phấn, tát
bà đát ma đà kê tệ phấn, tát bà tỳ đà da ra thệ giá
lê tệ phấn, xà dạ yết ra ma độ yết ra, tát bà
ra tha ta đà kê tệ phấn, tỳ địa dạ giá lê tệ phấn,
giả đô ra phược kỳ nể tệ phấn, bạt xà ra cu ma rị,
tì đà dạ ra thệ tệ phấn, ma ha ba ra đinh dương xoa
kỳ rị tệ phấn, bạt xà ra thương yết ra dạ, ba ra
trượng kỳ ra xà da phấn, ma ha ca ra dạ, ma ha mạt
đát rị ca noa.
Nam mô ta yết rị đa dạ phấn, tỷ sắc noa tỳ duệ phấn,
bột ra ha mâu ni duệ phấn, a kỳ ni duệ phấn, ma ha
yết rị duệ phấn, yết ra đàn trì duệ phấn, miệc đát
rị duệ phấn, lao đát rị duệ phấn, giá văn trà duệ
phấn, yết la ra đát rị duệ phấn, ca bát rị duệ phấn,
a địa mục chất đa ca thi ma xá na, bà tư nể duệ
phấn, diện kết chất , tát đỏa bà tỏa, mạ mạ ấn thố
na mạ mạ tỏa.
ÐỆ NGŨ HỘI
Ðột sắc tra chất đa, a mạt đát rị chất đa, ô xà ha
ra, già bà ha ra, lô địa ra ha ra, ta bà ha ra ma xà
ha ra, xà đa ha ra, thị tỷ đa ha ra, bạc lược dạ ha
ra, kiền đà ha ra, bố sử ba ha ra, phả ra ha ra, bà
tỏa ha ra, bác ba chất đa, đột sắc tra chất đa, lao
dà ra chất đa, dược xoa yết ra ha, ra sát ta yết ra
ha, bệ lệ đa yết ra ha, tỳ xá giá yết ra, bộ đa yết
ra ha, cưu bàn trà yết ra ha, tất kiền đà yết ra ha,
ô đát ma đà yết ra ha, xa dạ yết ra ha, a bá tất ma
ra yết ra ha, trạch khê cách trà kỳ ni yết ra ha, rị
Phật đế yết ra ha, xà di ca yết ra ha, xá cu ni yết
ra ha, lao đà ra nan đại ca yết ra ha, a lam bà yết
ra ha, kiền độ ma ni yết ra ha, thập phạt ra yên ca
hê ca, trị đế dược ca, đát lệ đế dược ca, giả đột
thác ca, ni đề thập phạt ra tỷ sam ma thập phạt ra,
bạc để ca, tỷ đế ca thất lệ sắt mật ca ta nể bác đế
ca, tát bà thập phạt ra, thất lô kiết đê,s mạt đà bệ
bạt lô chế kiếm, a ỷ lô kiềm, mục khê lô kiềm, yêt
rị đột lô kiềm, yết ra ha yết lam, yết noa du lam,
đản đa du lam, hất rị du lam, mạt mạ du lam, bạt rị
thất bà du lam, tỷ lật sắc tra du lam, ô đà ra du
lam, yết tri du lam, bạc tất đế du lam, ô lô du lam,
thường già du lam, hắc tất đa du lam, ta phòng án
già bác ra trượng già du lam, bộ đa tỷ đa trà, tra
kỳ ni thập bà ra, đà đột lô ca kiếm đốt lô
kiết tri, bà lộ da tỳ, tát bác lô ha lăng già, du sa
đát ra, ta na yết ra tỳ sa dụ ca, a kỳ ni ô đà ca,
mạt ra bệ ra kiến đa ra, a ca ra mật rị đốt đát liểm
bộ ca, địa lật lặc tra, tỷ rị sắc chất ca, tát bà na
cu ra, tứ dẫn già tệ yết ra rị dược xoa đác ra sô,
mạt ra thị phệ đế sam ta bệ sam, tất đát đa bác đát
ra, ma ha bạc xà lô sắc ni sam, ma ha bác lặc trượng
kỳ lam, dạ ba bột đà xá dụ xà na, biện đát lệ noa,
tỳ đà da bàn đàm ca lô di, đế thủ bàn đàm ca lô di,
bát ra tỳ đà bàn đàm ca lô đi đác điệc tha.
Aùn, a na lệ, tỳ xá đề, bệ ra bạc xà ra đà rị, bàn
đà bán đà nển, bạt xà bàn ni phấn. Hổ hồng, đô lô
ung phấn, ta bà ha. (hết chú Lăng Nghiêm)
Năm hội thần chú trên nói đề “tánh Như lai tạng” một
cách rất kín nhiệm (pháp mật), còn kinh Lăng Nghiêm
cũng nói về “tánh Như Lai tạng” mà nói một cách rất
rõ ràng (Pháp hiển). Bởi vì có chúng sanh nghe
thuyết pháp “mật giáo” rồi tự tỏ ngộ vào chơn lý;
hoặc có chúng sanh nhơn nghe nói pháp “Hiển giáo” mà
tự nhận rõ được chơn lý. Thế đủ biết rằng : hoặc
hiển thuyết, hoặc mật thuyết...đâu chẳng phải là
phương pháp của Phật giáo hóa chúng sanh ? Ngài có
đủ phương tiện bằng ba pháp luận bất khả tư nghị như
thế.
Phép thần chú của TiênPhạm thiên làm rối loạn tâm
tánh của A nan, đến khi nó gặp chú Lăng Nghiêm do
Hóa Phật ở trong hào quang trên đảnh đức Thế
Tôn nói, thì thần chú Trời bị thần chú Phật đánh
tiêu, chẳng những giải cứu được cái lụy “kiết
hoặc” cho A Nan, mà cũng khiến cho nàng Ma Ðăng Già
liền chứng được quả thánh thứ ba (A Na Hàm).
Bởi vì sức thần chú ác pháp tỷ như lửa của con đôm
đốm, ánh sáng của thần chú thiện pháp như ngàn mặt
nhựt ; lửa đốm kia gặp một ngọn đèn còn không rõ
sáng đặng, phương chi với nghìn mặt nhựt ư ? Thê nên
với thiện chú đây người tụng cũng đắc công đức bất
khả tư nghị. Tức là “Sità tapatra” “Tất đát đa bát
đát ra “ tên của chú “đại Phật đảnh”, dịch : “Bạch
tán cái” nghĩa : Cây tàn trắng tức là chỉ cái “tạng
tâm”, vì rằng; chẳng cùng họp nhau với điều vọng
nhiễm, nên nói là “Bạch : Trắng”, bởi như cây tàn
trắng che mát chúng sanh.
Quỷ quái các chất độc địa, tám hoạnh, chín nạn, sao
tai ương, chiêm bao ác đều không nhiễm trúng tai hại
gì được; chư Thiên chư Thần thường đến phù hộ.
Dẫu lỡ phạm tội ngũ nghịch, tứ trọng, cũng đều được
sám hối. Xa lìa các điều Ma chướng, rốt được thành
đạo Phật. Hễ có cầu nguyện gì, thì tùy muốn thế nào
đều kết quả thế nấy. Xin xem cuốn Lăng Nghiêm thứ 7.
|