Nhị Khóa Hiệp Giải
(Thời khóa tụng
khuya và thời khóa tụng chiều)
Chú giải:
Ngài Quán
Nguyệt
Dịch giả:
HT Thích Khánh Anh
Chương hai:
TỔNG QUÁT Ý NGHĨA HAI THỜI KINH
TỔNG QUÁT Ý NGHĨA KINH THỜI MAI
Người tu phật, trước hết phải
học cho thông suốt cả chữ lẫn nghĩa của trọn thời
khoá tụng, để tiện khi vừa tụng thuộc lòng, vừa xét
hiểu ý nghĩa. Lại trước phải luyện cái tâm tập định
được thuần thục, vì không thì, với cảnh lộn xộn, tâm
phải rối ren, pháp quán tưởng khó thành được ! Nên
với giờ sớm là lúc muôn cảnh chưa đông đạt, tâm ta
còn im lặng, liền dậy súc rửa, thay quần áo, đi niệm
“Chú phật đảnh Lăng Nghiêm tâm”, là để sớm trị cái
bịnh ngũ dục chưa mống mầm, chóng kỳ cho được tâm
hồn phẳng suốt, rỡ bày ngay cái tánhmầu chơn như của
như lai tạng, đó là chỗ gọi rằng “phẳng lặng chẳng
động, hễ có cảm đến đâu là liền suốt thấu đến đó”.
Kế đến gia trì đọc bài “ Ðại bi thần chú” bài “Như ý
Bửu luân vương chú”, đồng để rữa sạch những bụi
phiền não trong tâm ta, hễ bụi lòng đã sạch, thì tỏ
được lòng Ðại Bi đồng thể chuyển đặng xe Pháp luân
Như ý; tụng “Chú tiêu tai cát tường”là tan mất điều
tai ương, đưa đến sự yên lành, xe pháp luân lại càng
được vững chãi; tụng “Chú Công đức Bảo Sơn” thì điều
lành đã hiện nơi tâm, ở núi pháp tánh, đặng ngọc báu
bằng công đức; tụng “Chú Chuẩn Ðề” là còn e pháp
tánh khó tỏ bày, nên phải đọc chú này, cho tan sạch
lý chướng đi thì mới khiến pháp tánh được quả
toại; tụng “Chú Quyết định quang minh vương” thì sự
đắc quả đã toại rồi, liền phải cầu cái tri sống lâu
của đức Quang minh vương Như lai; tụng “Chú Dược Sư
quán đảnh” là trí sống lâu đã phát triển, trí ấy lại
như mặt trăng báu mà trong bình lưu ly hàm tàng nó,
tia sáng nó rọi ngay vào đảnh đầu, nên gọi là quán
đảnh; tụng “Chú Quan âm linh cảm” thì được họp sâu
vào lỗ tai viên thông cả pháp giới của đức Quan Thế
Âm sự linh cảm hay vô cùng, tỷ như trăng soi mà
vắng, vắng mà soi; tụng “Chú Thất phật diệt tội” là
e nghiệp cũ còn mù mờ, mặt nguyệt trí khó tỏ rạng ra
cần phải diệt sạch cái căn nghiệp từ vô thỉ,
nên gọi diệt tội; tụng “Chú vãng sanh”, thì căn bổn
nghiệp chướng đã sạch, mong cầu đức Di Ðà rưới nước
gội vào đảnh đầu, như chứng cảnh tịnh độ. Tụng “Chú
Thiện thiên nữ”, là gom pháp quán mầu nhiệm trên, để
cọng thành diệu dụng của pháp tánh, thì những chỗ
nguyện, đều được kết quả toại lòng; song với sự tụng
các chú mật nhiệm ấy, thì đã tiến vào pháp diệu
quán, phải biết đều là bởi nhứt tâm làm nên, còn e
chấp trước nơi quán cảnh, nên phải tụng thêm “Chú
Bát nhã tâm kinh”, là để chỉ ngay cái tâm thể nó vẫn
không, chẳng có cái cảnh trí khá đặng, vì tâm là cái
“Không” mà cái “tướng” của không ấy cũng không luôn,
thế là 1. Trí cảnh rõ ràng, 2. phi đồng phi dị, 3.
Hai bên tuyệt vời, tức là 3 pháp quán trọn đủ rồi.
Trên đó, cà 12 bài mật chú và một bài hiểu
kinh (tâm kinh), ý nghĩa nó đều gồm thâu lẫn với
nhau; người khoá tụng rồi, lấy công tác hành trì đó,
gom lại đem hồi hướng lên ngôi Tam bảo chứng minh,
để : nguyện và đáp Bát Bộ Thiên Long Hộ Pháp với tất
cả 4 ân, 3 hữu, 8 nạn, 3 đồ, đều nhờ ơn khỏi khổ
nước trị dân an, Ðàn Việt, tín độ thêm phúc huệ; tam
môn là cửa ngõ chùa chế tạo hình tam quan mở 3 cửa,
nên gọi tam môn, tức sơn môn, là nguyện cả các chùa
đều thanh tịnh, để tiến vào 3 cửa giải thoát, thập
địa đốn siêu: là nguyện cho tất cả chúng Tăng ở các
chùa đều chóng tiến lên bực Thập địa Bồ tát, nên kết
thúc về bài kệ hồi hướng; nhiên hậu mới niệm phật,
để cầu cho được thật chứng; phải biết rằng : Niệm
một Phật A Di Ðà, thì cả chư Phật khác, cũng đều hội
hườn lại một.... Vì lẽ phật phật đạo đồng, đồng danh
đồng hiệu, tức là một thân lẫn nhau với nhiều thân,
tự cùng hoà nhau với tha rốt lại lấy 3 tự quy y, là
hoàn toàn thâu cả công đức đã tụng các bài mật chú,
hiểu Kinh trên, là để kết thành ngay ngôi Tam bảo
của tự tánh, chứ chẳng mượn quy y bên ngoài. Như vậy
là trọn rỡ bày của pháp Ðại tổng tưởng của nhứt tâm.
Thế thì gặp những Phật hiệu chi, bài chú gì....chẳng
phải là tự tánh Như lai tạng ư?
TỔNG QUÁT Ý NGHĨA THỜI KINH CHIỀU
Rạng mơi là lấy nghĩa rằng tâm
hồn vẫn còn suốt phẳng làm cốt; còn chiều hôm là
dùng ý rằng hướng ngay về tịnh độ làm chủ.
Chỉnh bởi người ta ai cũng có nghiệp chướng từ kiếp
trước, nên hễ ai mà việc tu hành có công dụng hơi
tiến bộ, thì tức có Ma chướng nó thử thách. Thế, nếu
phi cái tâm cho tinh thành gồm đấy để trấn tỉnh, thì
há dễ gì dẹp điều chướng,xua loài ma. Nên chi, với
lúc mà cảnh còn đương vắng, tâm cũng đương thanh,
bấy giờ ta lo trì chú thì dễ được phần linh nghiệm.
Nhược bằng buổi chiều, với điều nên hơn hết là, gom
góp những việc lành đã làm vừa rồi, để chỉ quy về
Tịnh độ, khá gọi “làm công nơi đầu, gom đức nơi
cuối”. Nên chi, với thời kinh chiều, bắt đầu tụng
“Kinh A Di Dà”, là để chổt được cái cảnh mầu chánh
báo là căn thân, y báo là quốc thổ của nước Cực lạc,
và đặc biệt khuyên người chuyên tâm niệm danh hiệu
Phật để làm “Chánh nhơn”, thế chính là muốn cho
chúng sanh chán lìa cái cảnh toàn uế của thế giới ta
bà, ham lấy cái cảnh toàn tịnh của thế giới thanh
thái.
Tụng “chú Vãng sanh” tức là hy vọng đức A Di Ðà đến
trụ trên đảnh đầu của ta, để gia bị cho ta nhổ trốc
gốc rễ của nghiệp chướng, và chứng nhận cho ta được
giải quyết vãng sanh.
Mặc dầu thế, người hành đạo như chúng ta, tâm lý nó
còn vọng tạp lắm, nên với nghiệp chướng từ vô thỉ,
chẳng dễ gì chỉ tụng chú ấy mà có thể bạt trừ liền
sạch đi được, vì còn những tập khí là hôi há của
nghiệp chướng, thành thử phải y theo văn Hồng danh
Bửu sám mà phát nguyện rằng : “con nay dấy lòng sám
hối đây, là chẳng phải vì cầu cho con sẽ hưởng phước
lớn giàu sang làm người hay trời....mà chỉ nguyện
cho con và cả chúng sanh trong pháp giới đồng đắc
quả phậtmà thôi”. Phát nguyện như thế rồi, xướng lạy
88 hiệu Phật, để sám hối tất cả căn nghiệp từ vô
thỉ.
Kế tụng bài kệ 10 đại nguyện của đức Phổ Hiền, là để
khoách sung lại lời phát nguyện trước,ngõ đặng tục
đế dung thông với chơn đế, cũng như đắc pháp tam
muội của Phật trí, thì tất cả pháp gì đều in hiện
tượng, vào biển trí ấy, tỷ như tất cả sự vật gì,
cũng điều in hiện tượng vào biển cả, nên nói đắc 2
đế dung thông nhau, cũng như hiện tượng in thông vào
biển. Thế là tỏ nghĩa cứu cánh rằng cảnh đẹp hiệp
tâm, tha hiệp tự, vẫn liền in như một.
Ðó rồi tụng bài Mông Sơn, thiết lễ thí thực, để rộng
ra tế độ, các đảng cô hồn nơi âm cảnh. Thế là tỏ
nghĩa rộng lớn rằng : Chẳng những dương thái, mà còn
nguyện âm siêu, kẻ tồn người vong đều được phổ độ.
Kế tụng “Chú Bát Nhã tâm kinh” là để biết rằng : Tỏ
được lẽ, tội phước đều vô chủ, nhơn pháp đều vô
tướng, mới rõ thấu được cái tướng chân thật, vì
“Thật tướng” nó phi như tướng ngã, tướng nhơn, tướng
chúng sanh và tướng thọ mạng, bởi các tướng ấy đều
có diệt, vì có sanh, còn “tướng thật” thì không
diệt, vì nó không sanh, vậy cái bất sanh bất diệt,
mớilà “tướng chơn thật”.
Kế tụng “Chú Vãng sanh” là lặp đi lặp lại để nhờ đức
A Di Ðà rọi hào quang đến đảnh đầu ta để hộ niệm cho
ta, để cho chú vãng sanh đượchiệu lực rằng : Ðổi lục
đạo làm tịnh độ, khiến hữu tình hay chúng sanh liền
chứng lên bực thập địa bồ tát.
Kế đến niệm Phật hồi hướng, để thể thủ lấy lẽ thật
chứng; đến rốt lại cũng kết thúc về tam quy là : Từ
thỉ chí chung, việc công tác nầy có bao phép lành,
mỗi mỗi đều tập trung về ngôi “Tự tánh Tam Bảo” để
nguyện cho pháp giới chúng sanh đồng dấy cái tâm vô
thượng bồ đề, và trí Phật tròn đủ làm biết tất cả
chủng chủng.
Hai thời sóc, vọng làm lễ “Chúc tán”, đó là cầu đảo
đức Hộ Pháp Vi Côn, cả chư thiên Bát bộ, các thần Hộ
giáo Già Lam, để nhờ các Ngài ủng hộ ngôi Tam Bảo,
và ngăn dẹp những Ma chướng khi dễ bên ngoài, đặng
giữ chánh đạo bên trong.
Hỏi : Với pháp quán hoàn toàn vi diệu không thể nghĩ
bàn ấy, chỉ giúp cho những người bực thượng căn, mới
có thể tu học nổi; còn với hạng căn tánh bực trung
hạ thì, phải tu học cách nào?
Ðáp : Chỉ phải chăm một lòng vừa đọc lại vừa tự
nghe, mỗi chữ rõ rành, hoặc quán xét ngay nơi chữ mà
lòng không hôn trầm tán loạn; 2 cảnh sở quán sở văn
có sanh diệt, chứ tánh năng quán, năng văn tỉ như
cái thể sáng của gương vẫn tự tại chẳng dời. Kinh
Thủ Lăng Nghiêm nói : “Với lúc tiếng chuông không
reo, tánh nghe đã chẳng diệt, lúc mà có tiếng chuông
reo, tánh nghe cũng phi sanh; đều lìa hẳn luôn hai
cảnh có sanh diệt, như thế tánh nghe mới thường chơn
thật”. Ðấy cũng chính là nghĩa trên đây bảo thế.
Hỏi : Trong lúc dụng công để tu, muốn vọng tưởng dứt
lặng đi, mà nó lại loạn động lên mãi, thì lấy gì để
đối trị?
Ðáp :mặc kệ cho vọng tưởng sanh khởi, không kể, chỉ
cốt là ta liền nhớ thâu tỉnh tâm lại, chăm chú đừng
cho tâm niệm lững dời đi là được. Tỷ như chủ ý của
con mèo chăm bắt con chuột, hẳn không có một cử chỉ
gì để buông rời. Lúc ta đương dụng công để tu quán
hay tụng niệm gì, dẫu như tâm tu có lững tán
đi, thì phải thâu kéo nó lại, cứ thế thâu tâm về mãi
không thôi. Cái công thâu tâm ấy càng nhiều càng
nhặc, càng dày, thì tự nhiên nó kế tinh lại thành
một thể vô tướng. Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói “ Với cái
động, và tịnh của cảnh, tánh nó chẳng dời, lúc nhớ
lúc quên, tánh vẫn như một, phải từ chỗ đó, để lần
lượt đi sâu vào, mãi cho đến giai đoạn quên cảnh
quên tâm, và với cái “quên” cũng quên luôn đi, đến
tận cảnh tịch diệt, là chứng được pháp tánh”.
Hỏi : những hành giả nào trí lực kém thiếu và thân
thể ốm yếu, hoặc gặp cảnh thiện hay ác quá thạnh,
thì tâm niệm trước dù phải, nhưng tâm niệm sau lại
chẳng phải, nghĩa là với cảnh thiện thì chẳng động
tâm theo thiện, gặp cảnh ác tâm cũng xúc cảm theo
ác, nên nói trước phải sau chẳng phải. Cứ thế, trải
qua nhiều năm chất chồng lắm tháng, mà rốt cũng
chẳng thâu tâmniệm lại được thì sao?
Ðáp : hành giả nào mà tâm trí bất lực, vì không tự
chủ được với hoàn cảnh, là bởi nghiệp chướng từ đời
trước quá nồng hậu ! thì hành giả ấy cần phải phấn
phát chí dũng mãnh, gieo lòng chí thành khẩn thiết,
lạy sám hối theo bổn lớn, cốt đợi cho nghiệp chướng
tiêu diệt, chừng đó, tâm trí mới có phần đắc lực.
Thế nên người xưa đành chịu trụï vào chỗ Tử tâm
(Diệt tận định : diệt ý thức đi, chẳng cho nó hiện
hành hoạt động gì hết; như chết rồi, nên gọi tử tâm:
Chính tổ Ca Diếp thường ở trong “Diệt tận định”
nghĩa là không cho ý thức tư tưởng gì hết là nghĩa
là tử tâm, tức không dùng đến tư tưởng). Tu như thế,
hoặc suốt đời, hoặc một kỳ hạn mấy chục năm, trong
thời kỳ tu tử tâm, mỗi phút đều chẳng rời cái niệm
diệt tư tưởng, nên có thể hẹn ngày minh tâm kiến
tánh được. Người tu đời nay, mới nhúng tay vào việc,
đã muốn thành công liền, há đã dễ lại dễ quá ru?
Chỉn bởi những nghiệp tập từ vô thỉ nhiều như đầy cả
vũ trụ, nếu không cần tu cho lâu xa, thì làm gì thâu
tâm định được? Chính Ngài Dũng Tuyền làm việc tu như
thế suốt 40 năm, ngài Hương Lâm tu 40 năm mới thành
một kết quả v.v...Việc tu ấy, người xưa còn chẳng
làm được dễ dàng thay;huống người bực trung hạ, đâu
mau thành được? nên phải lập chí cho bền, hễ chướng
hết rồi, thì tâm lực tập trung thuần thục, chừng đó,
tự nhiên thành được pháp diệu quán.
|