Nhị Khóa Hiệp Giải
(Thời khóa tụng
khuya và thời khóa tụng chiều)
Chú giải:
Ngài Quán
Nguyệt
Dịch giả:
HT Thích Khánh Anh
Chương một: Lời thuyết chỉ
bảo
CHỈ LẼ CỐT YẾU
Xét ra, tánh pháp giới, tâm tri giác, chỉ thật là
một tướng, tùy chúng sanh mỗi cơ cảm, nên pháp
phương tiện có nhiều môn. Bởi thế, đức Như Lai
thuyết pháp 49 năm, nói kinh hơn 300 hội, đều do từ
trong tâm của “Pháp thân vô tướng” lưu thông ra, để
thích hợp khắp suốt tất cả tầng lớp giữa muôn loại
chúng sanh.
Nguyên vì, tâm Phật vẫn thanh tịnh, bao hàm, dung
nạp cả tánh pháp giới, mà chúng sanh thì chỉ mê mẩn
ở trong pháp giới tánh để sanh diệt lưu chuyển; chớ
có biết đâu, tâm thể của chúng sanh cũng vẫn thanh
tịnh, bao trùm mười phương, thì chư Phật cũng
vẫn ở trong tâm ấy của chúng sanh để vãng lai thị
hiện. Nên Quán Kinh nói:“cái Pháp thân (pháp giới
tánh của chư Phật Như Lai), nó lẫn vào trong lòng
tưởng của tất cả chúng sanh, nghĩa là trong khi lòng
chúng sanh tưởng Phật, thì tâm ấy tức là Phật, đã là
Phật thì tức là 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp cũng đồng
nghĩa trên.
Mặc dầu thế, lúc mà chúng sanh còn đương mê, chính
là khi chư Phật đã ngộ, nếu phi có chư Phật xuất
hiện nơi đời, thì chúng sanah làm gì tự biết được
mình sẵn có đủ “tánh trí huệ” là tánh igác của Phật?
Mà với sanh tử phiền não, không thể cùng tận đặng,
nếu “tánh trí huệ” còn đương trầm mê!
Bởi thế, sau khi đức Thế Tôn thành đạo, nói năm thời
giáo pháp :
Tại
nơi trường tịch diệt, Phật thì hiện ra cái thân đủ
tướng tốt viên mãn, nói rộng ra cái trí mầu, đầy
nhảy pháp giới; bực Bồ Tát là căn cơ Ðại thừa nghe
rồi liền chứng vào pháp viên đốn.
Kế đến Lộc Dã, Phật thuyết pháp Tứ đế, hạng căn cơ
Tiểu thừa nghe rồi chứng đặng cái lý chơn không, ra
khỏi cảnh giới ba cõi luân hồi (chứng A La Hán, ra
khỏi sanh tử luân hồi tam giới).
Kế nói thời Phương Ðẳng, nêu bày 4 giáo pháp, hạng
người bực Tam thừa, tùy trình độ thé nào, được đắc
đạo thế nấy.
Kế diễn thuyết pháp Bát Nhã, nói rõ cái tánh không,
khiến cho căn cơ của tam thừa tiêu tán hết 2 cái
tướng chấp ngã, chấp pháp, rộng ra hành pháp lục độ,
kêu bằng “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”
Kế đến A) Phật cùng đại chúng vân tập tại non Linh
Thứu, để rao bày “Ðại thừa diệu pháp” nghĩa là:mở
pháp quyền đã nói từ 4 thời trước, để rõ pháp thật
chỉ nhứt thừa ngày nay; bởi thế, cả tam thừa đều nhờ
được Phật thụ ký, đén cả 6 cói phàm đều đặng lần vào
cảnh giới diệu huyền, tỷ như trăm sông đều dồn về
biển, các sao đều rỡ giữa trời B) sau Phật thuyết
kinh Niết bàn, là vì chúng sanh đời mạt pháp mà Phật
ngài nhắc đi nhắc lại, để dựng đỡ giới luật lên, nói
rõ pháp chơn thường là chơn thường, chơn lạc, chơn
ngã và chơn tịnh; với cả 5 trên, gọi là “Ngũ thời
thuyết”
Tóm lại, đâu chẳng vì cái lẽ bởi nhơn duyên của một
việc lớn, mà Phật ngài phải xuất hiện nơi thế giới
này, để khai thị cho chúng sanh giác ngộ vào tri
kiến của Phật, phổ độ cho đều đắc viên mãn quả Phật
mới thôi.
Song căn tánh của mỗi người mỗi khác, nên pháp môn
cũng phải nhiều. Sở dĩ pháp Phật lưu truyền qua
Trung Hoa từ Ðông Hán đến đời Ðường từ trước đến
sau, tiếp tục có các Tổ Sư, riêng lập ra 8 tông
phái; về pháp tu tịnh độ vãng sanh, Ðức Thiện đạo
ngài phân ra làm 2 chánh hạnh; một:chánh hạnh Di Ðà
pháp có 5 cách tu, như đọc tụng, quán tưởng v.v..
hai là tạp hạnh:ngoài 5 hạnh trên, gồm tu tất cả
việc lành, đều hồi hướng về Tịnh độ. Còn ngài Huệ
Viễn đời Tấn dựng Liên Tông tại Lư Sơn (tỉnh Chiết
Giang). Có cả các đấng đại Nho, đại tiên đều vào
Liên xã, để chuyên tuniệm Phật. Nối dõi theo sau.
Thì có những nhơn sĩ đều được giải thoát là phần
nhiều ở các tông khác nữa. Mà tông nào cũng lấy nhị
thời khóa tụng đây để làm như dường ấy là lễ tụng
không đời.
Lại may nữa là đời Ðường, đời Tống dều có các Tổ
thay nhau biên tập các văn trong Hiển giáo, Mật giáo
vào nữa, cho nên 2 thời công khóa hôm mai rất đầu
đủ. Nhưng với Tông tuy đều lập riêngm mà chung nhau
chưa vượt bỏ nhị khóa nầy vậy. Vì khiến cho kẻ trễ
phải siêng, người cần lại càng tiến. Vậy thì đường
đạo được lan rộng ra khắp giáp nhơn gian, để thích
hợp các cơ bằng cách phổ thông như kia, là mối đầu
đích ở tại nơi 2 đường khóa tụng đây chăng?
Con người ta từ vừa lọt lòng mẹ ra, tức nhiên đã có
những hột giống nghiệp nhơn rồi, do nghiệp nhơn đó,
sẽ chiêu cảm lấy quả báo.
Kinh Ðịa Tạng chép rằng:“Mới mống ý động niệm, đã
đều là tội rồi, huống nữa miệng nói, than ra làm “
bởi nhơn giống trước, nảy nhơn giống sau, do quả
nghiệp cũ chứa quả nghiệp mới đã lắm trước sau mới
cũ, tiếp tục dồn chất, là những điều kiện tội chướng
để luân hồi mãi trong sáu đường, khong khi nào cùng
tận, thì chẳng có ai có thể làm cho tiêu trừ giống
nghiệp ấy đặng, nếu phi nhờ tự mình tham thiền, tụng
Kinh lạy Phật, niệm Phật để sám hối cho thân khẩu ý
được trong sạch.
Huống nữa, bọn tri lưu ta ở vào giới Phật tử, là kẻ
đã chẳng phụng sự Vương Hầu nơi Triều đình chánh
phủ, lại phần nhiều là không dệt, cày nơi hãng
xưởng, điều trừ, mà chỉ nhờ ở phái ngoại hộ, thì rất
khó bề tiêu rỗi của tín thí tứ sự cúng dường nếu
chẳng tận tâm gia công hành đạo!
Tổ Triệu Châu dạy rằng:“đời nay nếu chẳng rõ được
đạo lý (minh tâm kiến tánh), thì đời sau phải đạo
làm loài mang lông đội sừng là trâu ngựa, để trả nợ
thí chủ”
Lại xét các Kinh Phật, thấy nhiều lời cảnh tỉnh như
trên, đâu chẳng là Phật, Tổ vì thương xót, mới để
lời răn nhắc, thậtlà lấy làm rùng rợn lo sợ nếu là
kẻ có trí thức xem xét đến.
Nên biết rằng:với nhị thời khóa tụng, công quả ấy
không những chỉ là tự lợi, mà lại cùng với pháp giới
chúng sanh đồng đắc quả chánh giác của Phật nữa là
khác; vậy các ngài xem đó nên nhớ lấy, dè chứ cho là
việc thiển cận mà khinh dễ đa!
Với những lời niệm Phật, tụng kinh, cái thân phải
cho đoan nghiêm, chớ dãi đãi, cái miệng cốt niệm
tụng cho suốt thấu, cái ý nên chăm chú đừnglững dời;
thế thì ba nghiệp cùng họp nhau với ba chỉ. Ðến như
thân nghiệp siêng kinh chẳng trễ, đâu liền tưởng xét
đến đó; thế thì ba nghiệp cùng hiệp nhau với ba
quán. Với tam chỉ, tam quán tỷ như đem gương soi
hình tượng vẫn không phân biệt chọn lựa gì.
Song khi niệm tụng mà cả ba nghiệp đều dùng đủ như
thế, chẳng xót mảy mún, thì tâm ta với tâm Phật lẽ
cảm ứng lẫn nhau, tỷ như đem nước trong trút vào
nước trong, và lấy cái không hiệp với cái không, khá
gọi công đức khắp giáp pháp giới, hạn lượng đồng với
hư không.
Trong lúc mà ta để cái tâm (ý thức) nó buông thả tứ
tán ra, thì ta đâu có tự biết tâm ta nó động hay
chẳng động; còn trong giờ ta tham thiền hay tụng
niệm gì, ta mới tự biết được tâm ta nó hiện hành ra
những vọng niệm quá ư phức tạp lăng xăng. Với những
tưởng niệm bậy bạ, ta muốn cho được tịnh chừng nào
thì nó lại càng vọng động nổi lên chừng nấy. Chẳng
khác nào như chai nước Lave khui nút rồi có những
tâm bồng bột nổi lên hoài; dù nhục nhãn không thấy,
chớ cái vọng niệm dấy lên hình dung cũng thế.
Chỉn bởi từ vô thỉ, những vọng hoặc là thất tình,
lục dục nó thành những cái tập khí, cái chủng tử đều
ẩn núp trong tàng thức (A lại da), rồi phát hiện ra
trong hằng giờ. Với sự phát hiện tập khí, chủng tử
đó, chỗ thì bảo là vọng niệm, hoặc kêu vọng tưởng
cũng gọi là vọng tâm, trong giờ loạn động, ta không
để ý nên không biết, với giờ yên tịnh, ta mới xét
thấy nó dấy niệm lên. Với những tập khí, chủng tử đã
chất chứa từ nhiều kiếp như số vi trần kia, nay há
dễ vội trừ hết liền đặng! Cần phải chăm chú tâm vào
một cảnh, như:hoặc quán xét vào một chữ, hay một câu
gì; hoặc tự nghe lại tiếng của mình tụng niệm
v.v.... . . hễ để tâm vào một cảnh nào, thì từ thỉ
chí chung, mỗi phút không rời không trễ, như viên
tướng canh giác giữ trại. Giữ cái chánh niệm
như thế, để tự giác ngộ, tự trị lấy mình, dù có một,
hai cái tư tưởng xằng dấy lên, cũng có thể lần hồi
tiêu trừ được, mà từ hữu niệm (chánh niệm) sẽ tiến
vào cảnh vô niệm.
Hoặc người nào có trí huệ khá, liền có thể vừa tùy
theo miệng đọc chữ đến đâu, vừa tùy theo tâm tưởng
đến đó, tâm năng quán, cảnh sở quán, thể nó đều tức
là thật tướng.
Lại nữa, có thể tự giác ngộ lại xét những cái vọng
hoặc là tapạ khí chủng tử kia, nó đều không có từ
nơi chỗ nào cả, cái tập cái chủng phi có, thì tâm
năng niệm, cảnh sở niệm, thể nó cũng đều tự vắng
lặng. Ðương khi niệm mà tức là lìa nơi niệm.
Thế nên, hoặc kẻ trí hay người ngu, chỉ khứng thâu
cái tâm vào một cảnh nào (như câu niệm Phật chẳng
hạn), lâu lâu sau rồi tự đặng tinh thần, do đó thêm
sáng suốt, cảm ứng bằng huyền cách mà khế họp nhau.
Kinh Diệu Túy Bồ Tát sở vấn chép rằng:“các nhà tu
niệm nếu muốn cái phép trì tụng cho đặng mau thành
tựu kết quả, linh nghiệm, thì với những nghi thức lễ
pháp gì, chẳng đặng làm thiếu hay phạm môt mãy mún
nào, vì hễ thiếu sót và trái phạm là, khiến cho các
điều Ma chướng nó thừa dịp đặng tiền bề phá hại! Thế
nên hành giả phải chăm lòng trì tụng, hằng giờ không
xen hở, để cho 1/ là quán tưởng 2/ là chân ngôn 3/
là tự chủng, mỗi mỗi đều tinh thục nằm lòng, mỗi sự
đều xứng nhau, thế mới thành được cái thể “vô tác
diệu hạnh” của pháp Du Già, gọi là “tam mật tương
ưng” Tam mật 1/tay kiết ấn 2/ miệng đọc chú 3/ tâm
quán tưởng, cả ba đều xứng họp nhau, mới thành pháp
mật nhiệm.
Lại người trì tụng: chẳng đặng để tâm nó leo qua
cảnh khác (không phải chỗ mà mình đương tu trì) cùng
nói chuyện khác với người. Việc tụng nếu gián đoạn,
thì bất thành nghĩa tất địa là kêt quả chẳng nên gì!
Lại nữa, tụng niệm mà chẳng y theo nghi pháp, hoặc
chẳng trì giới cấm, hay có giữ giới mà không được
thanh tịnh, thì chẳng những pháp tu chẳng được thành
tựu, mà người tu cũng phải rước lấy điều tổn hại là
khác!
Các vị chủ trưởng trong 8 bộ Hộ Pháp, các vị Minh
Vương kia, đều là chư Phật Bồ Tát hiện thân, thì
trọn không làm giận làm hại, chứ các vị theo hầu là
Thiên Long, Mãnh quỷ, Ðộc thần, thấy người tu có
lỗi, thì mấy vị ấy vì lòng hộ pháp, phải tức giận
làm hại liền!
Kinh Kim Cang đảnh Du Dà niệm tụng chép rằng:“Phàm
là người tu theo pháp Du Dà, phải đủ trí huệ, trước
rõ pháp tam muội và pháp chân ngôn, 3 nghiệp đều an
trụ giới Bồ Tát, phát tâm bồ đề, đã có công đức như
thế, mới cho người đó tụng niệm pháp Du Dà”.
Kinh Bồ Tát thiện giới nói:“người tu tụng pháp thần
chú, phải kiêng 5 điều chẳng đặng phạm đến 1/ ăn
thịt, 2/ uống rượu, 3/ năm thứ rau củ cay hôi, 4/sự
dâm dục, 5/chẳng đặng ăn uống ở trong nhà không
thanh tịnh. Hành giả giữ đủ 5 điều giới cấm ấy, mới
có thể làm được lợi ích lớn cho chúng sanh, vì hay
trị được ác thần làm bịnh độc cho dân”.
Sách Pháp Uyển chép rằng:“Kẻ đạo (phái xuất gia)
người tục (phái tại gia) tụng kinh, trì chú mà không
được công hiệu đó, là tự họ không trung thành với 8
điều pháp giái, rồi lại chê là không hiệu nghiệm: 1/
hoặc văn tự sai sót, 2/ hoặc tiếng đọc không trúng
sách, 3/hoặc uống rượu ăn thịt, 4/ hoặc ăn tạp những
vị cay hôi nồng nàn, 5/tay dơ dáy cầm đến cuốn kinh
vật cúng, 6/miệng nói chuyện phím, tiếng tục, 7/
quần áo không sạch, 8/chỗ ở chẳng nghiêm tịnh, thành
thử khiến cho quỷ thần tiện bề phá hại, mà phải trở
lại bi tai ương!
Nếu muốn hành trì tu luyện, trước mỗi giờ vào đàn,
đều phải tắm rửa, miệng thường ngậm chất hương vị,
lòng chí thành thận trọng, khapứ vìlục thú chúng
sanh, nên phát tâm tinh tiến, đừng trễ nãi. Người tu
luyện mà chí ý được như thế chắc được thật nghiệm
ngay.
Sách Hiển Mật viên thông biên rằng :
“Trong các Kinh:Kinh Kim Cang đảnh tô tất địa, Chuẩn
Ðề v.v.. đều nói người tu dùng công trì tụng, hoặc
nằm mộng thấy chư Phật, Bồ Tát, vị Thánh Tăng, các
thiên tướng, hoặc thấy tự thân mình đi lửng trên hư
không, cỡi ngựa lội qua sông...mỗi ánh sáng của mỗi
thứ hương, và các cái tướng lạ lùng; nếu người tu mà
đặng ứng nghiệm như thế, thì lại cần gắn dấy 3
nghiệp, gia công tụng niệm, chẳng đặng phô bày những
cảnh giới trong thần chú, để lòe bán rao với người,
chỉ với người đồng đạo mà ta chẳng vì danh lợi, kính
khen, mới được tiến bề trình bày chút đỉnh thôi”.
Kinh Ðại Bi dạy rằng:“Nếu người tu niệm mà trong khi
đương tụng khẩn thiết, bỗng xảy ra gặp những điều mà
nó hiện lên, để làm chướng ngại, hoặc thoạt nhiên
trong thân tâm nó giớn giác chẳng an, hoặc chẳng
sanh chứng hay giận hờn, ưa buồn ngủ mà khó bề trì
chú tụng kinh được, hoặc mơ thấy những hình tướng kỳ
lạ, hoặc với thần chú mà sanh tâm nghi ngờ, hoặc
sanh nhiều điều phân biệt tư tưởng, hoặc bị say mê
chấp về pháp có...... với các điều trên, nếu muốn
đối trị, thì nên quán tưởng nhìn vào chữ Lam là chữ
viết bằng cách chữ Phạm như thế nầy
, hoặc quán tưởng nhìn vào chữ A như vầy, cứ chăm
lòng nhìn riết, thì tự nhiên các cảnh Ma chướng kia,
nó tiêu diệt mất, sẽ biết phép nhơn duyên nó vốn là
không có, vì chữ A ấy nghĩa là không, Lam:Sạch”.
Vì người tu niệm mà trước tướng chấp có, thì kết quả
sẽ thành ra hưởng phước lành hữu lậu ở cõi người cõi
trời: tu mà chấp không, công chỉ ích lợi cho mộtmình
mình, thì sẽ thành hưởng phước thiện vô lậu của các
thánh ở hị thừa; tu bằng cách lợi ích cho mình và
ngowif, sẽ thàh được phước lành của vô lậu pháp
tánh; tu bằng cách:Năng niệm, sở niệm đều không,
mình và người bình đẳng, tâm không phân biệt, thể
trùm cõi hư không, lượng giáo cả pháp giới số hà sa,
thì kết quả thành được phước thiện đạo Phật vô
thượng. Thế nên người tu trì cốt phải tâm quảng đại
khắp giúp ích nhau: nên văn sám hối nói:“Ta nay phát
tâm tu đây, chẳng vì chỉ cầu riêng cho phần mình”.
Chínhlà nghĩa đấy vậy
Các bài trong hai thời khóa tung, đều thuộc về
TạngÐại Thừa thâu cả, như chú Lăng Nghiêm là cái ấn
báu tột bực do nơi Hóa Phật thuyết ra tại nhóm hào
quang trên đảnh của Phật Thích Ca; chú Ðại Bi và cả
mười thần chú, đều là nghĩa kín mầu hay lạ, có lợi
ích cho tất cả chúng sanh; kinh A Di Ðà là nghĩa
trọn ba cõi thanh tịnh, để thâu nạp chúgn sanh có
niệm Phật; bổn Hồng Danh bửu sám, là để rửa sạch
giống nghiệp từ vô thỉ cho chúng sanh trong chín
cõi; văn Mông sơn thí thực, là siêu độ cho các linh
hồn của lục đạo giữa pháp giới; pháp niệm Phật là
gồm thâu cả công đức của những chỗ trì tụng, để đều
hồi hướng về tịnh độ. Tỷ như nước ở từ trăm sông,
đều gom về biển cả. Người mà xét hiểu được như thế,
thì giữa hai thời khóa tụng, mỗi câu đều trọn gồm,
mỗi bài cũng lẫn thâu, nguyện chí lại chẳng được ích
lợi ư?
Mỗi chùa ở các nơi với hai thời công phu, đều có hơi
khác nhau chút đỉnh đó là bởi các Tổ sư kia thành
lập ra mỗi Tông chủ chẳng đồng, nhưng đâu chẳng cốt
đem chúng tăng mau giải thoát để làm việc cần kíp.
Hoặc có những người bực tríkẻ ngu đồng đối với việc
tu niệm, mà kẻ siêng tụng thêm bài, vì tâmmộ đạo
khẩn thiết; kẻ biếng đọc giảm bớt, vì chí quên
xuất ly. Lại có người đến thời khóa tụng đọc giảm
bớt, vì kiêm có thêm việc cúng đám gì đó; hoặc có sự
tuy đã xuất gia mà hai đường công khóa chưa đọc
thuộc hết. Thậm chí có sư để bàn Phật bụi bám, nhện
giăng, nhang tàn khói lạnh, tuyệt không đèn lửa, có
gìkệ kinh! chao ôi! Ðời rốt dòng hèn, hình giống
tướng Sư, lòng nhuộm màu tục, làm hoại pháp Phật!
Xuất gia như thế, chẳng những phụ phàng Phật tánh,
vã còn tự rước tội thêm là khác, vậy các học giả
nghĩ lấy!
Công khóa: Ðạo Nho xưa bảo:với sự làm có thành hiệu
là công, với việc thì kể trình hạn là khóa. Lại
rằng:quy định ra cái khóa trình để làm việc, để kỳ
cho thành tích, là “công khóa”
Song, nói về “công khóa” của họ Thích Ca ta thì như
thế nầy:kể công về trình độ nơi Tam Bảo, để làm cái
ni thức hằng ngày. Xét rằng:với việc học tu mà phi
nghi quỉ thì dễ sanh ra đãi đạo, với việc hành đạo
mà phi khóa trình, cũng khó thể nghiệm rõ ràng.
Chính vì chúng ta từ vô thỉ lại, nghiệp duyên chồng
chất làm chướng cản ngăn, tất không khỏi có cái vọng
tình lui ngã, thếnếu phi trình hạn, để làm chừng
mực, buộc phải nhớ phải lo, thì đâu có tiến tới đạo
mầu? bởi thế, các Tổ đặc biệt lập ra hai thời tảo
khóa, vãn khóa, để cho các nhà học giả dầu có bận
việc gì, chớ với thời khóa tụng chẳng thể sai; nếu
vị nào tâm quán tưởng đã tinh thuần, thì cây đạo bồ
đề ngày càng tăng trưởng, mà Phật quả cũng ngày một
kết tinh thêm.
|