KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
PHẦN THỨ NHẤT:
PHẦN TỰA
DUYÊN KHỞI CỦA KINH LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Đề
tựa: Núi Nam Nhạc, Quan Trương Kim Giản tên là
Tăng Phụng Nghi, Thuấn Trưng Phụ.
Xưa, Ngài Thiên
Thai Trí Giả theo học Đạo thiền sư Huệ Tư ở núi
Nam Nhạc, đắc Pháp Hoa Tam Muội, thấy được pháp
hội Linh Sơn nghiễm nhiên chưa tan. Từ đó xem
Kinh, Luật hoát nhiên thông suốt. Đến khi Ngài
giải thích ý nghĩa sáu Căn trong sạch trong kinh
Pháp Hoa thì trầm ngâm rất lâu. Có một vị tăng
người Ấn nói với Ngài: Chỉ có kinh Thủ Lăng
Nghiêm là nói rõ ràng công đức của sáu Căn, đủ
để y chứng. Từ đó, Ngài Trí Giả khao khát ngưỡng
mộ. Suốt mười sáu năm, mỗi sáng tối hướng về
phương Tây lễ bái. Ở phía trái chùa Thiên Thai ở
núi Nam Nhạc vẫn còn Đài Kinh. Sau Ngài hơn một
trăm năm, kinh Lăng Nghiêm mới vào Trung Quốc.
Kinh do Tể Tướng
Phòng Dung ghi chép, văn tự tao nhã, bởi thế các
bậc học sĩ đại phu đều tụng kinh này. Tôi từng
ba lần đến Bái Kinh Đài, lần nào cũng bồi hồi
chẳng muốn về, thầm than:
- Người xưa ngưỡng
mộ kinh này hơn mười mấy năm mà chẳng được thấy.
Nay Lăng Nghiêm bày đầy thì người ta lại chẳng
hề xem! Tại sao thế?
Nhơn đó, tôi bèn
phát tâm viết bộ Lăng Nghiêm lên đá, thuê thợ
chạm rồi xếp thành một tòa thạch thất, khiến
người đến viếng Bái Kinh Đài sẽ đọc được mà
đều
nói: Kinh đã đến đây rồi! Như là vì Ngài Trí Giả
mà bổ sung cho một sự thiếu sót. Vừa cầm bút
định viết, chợt nghĩ: Chỗ ta viết đây là chữ,
chẳng phải là nghĩa vậy!
Ngài Trí Giả mong
bộ Kinh này đến đây là mong người người hiểu
nghĩa của Kinh. Như Ngài Huyền Sa Sư Bị, nhân
đọc Lăng Nghiêm mà phát minh tâm yếu, đó là thâm
nhập vào nghĩa vậy. Cho đến thiền sư Linh Nham
An, Trường Thủy Tuyền, Trúc Am Khuê, Hoàng Long
Nam, Thiệu Long An Dân... đều do Lăng Nghiêm mà
ngộ. Như vậy là các Ngài đã không cô phụ sự
truyền sang của bộ kinh này. Nếu theo văn mà
giải nghĩa, chú thích câu chữ, đến mấy mươi nhà
mà nghĩa kinh càng ngày càng xa, đó là lỗi lầm
do chẳng cầu ở tâm mình. Nếu tỏ ngộ tự tâm, thì
tuy là kinh này chưa đến, mà chỗ y giáo lập
nghĩa của Ngài Trí Giả, mỗi mỗi đều hợp với Lăng
Nghiêm. Không ngộ được tự tâm, tuy là có kinh
Lăng Nghiêm trước mặt, thì cũng như kinh ở tại
Ấn vậy. Tức là kinh điển đầy nhà mà nào có ích!
Việc nhà của các thiền sư là quét sạch văn tự
kiến giải cho là chẳng đủ để sùng thượng, thật
có lý lắm thay! Nhưng khi tiếp dẫn hàng sơ cơ,
xuất lời thổ khí, lời lẽ ý tứ thật tợ Lăng
Nghiêm. Cho đến sự phát minh hướng thượng, chứng
nhập Bồ Đề, thì cùng với hai mươi lăm chỗ chứng
viên thông, cơ duyên không khác. Tức là chẳng
tụng Lăng Nghiêm, mà Lăng Nghiêm đã sẵn đủ hiện
giờ. Tức là Lăng Nghiêm chưa đến cõi này, mà cõi
này chẳng phải là chưa có Lăng Nghiêm.
Tôi chẳng biết tự
lượng sức, góp khắp lời của Tông Môn, phối hợp
vào kinh văn. Hoặc để thầm hợp, hoặc để cùng
thấy, hoặc suy rộng ý kinh, hoặc bày tỏ chỗ chưa
bày tỏ. Tôi cũng không ngờ mình làm nổi. Trong
khoảng trời đất làm sao có được thứ nghị luận
này. Âu cũng do túc nguyện nhiều đời vậy.
Đây là tôi nhờ các
vị Lão Túc để làm rõ nghĩa kinh chứ chẳng phải
tự do tôi, và lấy Thiền Tông để soi sáng kinh
chớ chẳng phải lấy văn tự kiến giải mà giảng.
Bèn đặt tên là Tông Thông. Tông Thông cùng với
Thuyết Thông. Phải tự đắc Bản Tâm thì mới cùng
với các bậc Lão Túc mặc áo gặp nhau. Chẳng những
một hội Lăng Nghiêm nghiễm nhiên chưa tan, mà
Ngài Trí Giả đến nay cũng vẫn còn đó.
Bài văn tán ngợi
rằng:
Sáu vạn
ba ngàn lời mười trang,
Giáo, Hạnh, Lý, Không, Giả, Trung quán.
Viên thông hoa tạng Tín Hạnh Giải,
Chứng rồi Định Huệ xứ Niết Bàn.
Phá Vọng hiển Chân, Chân Nhất thật,
Phản văn nung Ấm, Ấm tiêu tan.
Tội lỗi vô minh mười phương ngục,
Tội ấy băng tiêu, tọa Phật tràng.
Nam mô Lăng Nghiêm Hội Thượng Chư Phật, Chư Đại
Bồ Tát, Chư Thánh HiềnTăng