| ||||||
|
|
KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG Nhẫn Tế Thiền Sư -o0o- QUYỂN VIII
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG Kinh : “Anan, người thiện nam ấy, Dục Ái cạn khô, Căn Cảnh chẳng phối hợp, cái Thân Tâm hiện tại không còn sanh tiếp nữa. Nắm lấy Tâm rỗng sáng, thuần là Trí Huệ. Tánh Huệ toàn sáng tỏ sáng mười phương thế giới. Mới có cái Huệ khô khan, gọi là Càn Huệ Địa. Thông rằng : Dục Ái thấm nhuần thành nghiệp, Căn và Cảnh tạo nghiệp nên sanh tử nối tiếp, mê muội chẳng quay về. Nay lòng Dục khô cạn, Cảnh lui đi, nên cái Thân Tâm nhân thế chẳng còn sanh tiếp. Ngược dòng toàn nhất ắt giữ lấy cái Tâm rỗng sáng. Sáu Dụng chẳng hiện hành tức thuần là Trí Huệ. Chẳng dùng gì nơi Dục Ái thì Huệ chẳng lìa ngoài Tự Tánh, như ánh sáng viên ngọc không dùng soi chiếu vật mà chỉ tự chiếu cái Thể của nó. Đây là cái sáng suốt cho đến chỗ không lập ra cái Sở, thì cái sáng toàn vẹn vậy. Mười phương cõi nước rỗng sáng thanh tịnh, ví như lưu ly ở trong treo trăng sáng, nên gọi là “Tỏ sáng”. Đây là Dục Ái cạn khô nên phát Huệ, mới gọi là Càn Huệ. Lại chỉ mới có cái Huệ khô khan, chưa đến chỗ Diệu Viên, nên là Sơ Địa. Trong Thập Địa của kinh Đại Phẩm thì Địa đầu tiên gọi là Càn Huệ. Trong Viên Giáo của Ngài Thiên Thai, trước Thập Tín lập ra Ngũ Phẩm Vị, gọi là nghĩa Thôi(02) cũng giống như Càn Huệ Địa của kinh Đại Phẩm. Kinh này chưa đến đây mà chỗ lập ra danh vị của Ngài Thiên Thai đã thầm hợp với Tâm Phật. Chẳng phải là bậc tự thân đến được hội Linh Sơn thì làm sao có được như thế ! Quan Đại Phu Lục Tuyên thưa với Tổ Nam Tuyền : “Đệ tử cũng hiểu sơ sơ Phật Pháp”. Tổ Tuyền bèn hỏi : “Trong mười hai thời, ông làm gì ?” Đáp : “Chẳng dính mảy lông”. Tổ Tuyền nói : “Còn là kẻ dưới thềm”. Lại nói : “Ông há chẳng nghe “Quân Vương có Đạo chẳng thu bầy tôi có Trí” ư ?” Về sau, có nhà sư hỏi thiền sư Kim Phong Chí rằng : “Khi “Ngàn núi không mây, ngàn dặm tuyệt ráng” thì sao ?” Tổ Chí nói : “Ngọn Phi Thiên Lãnh, phía nào mà chẳng mửa hết ra !” Quả là cùng Tổ Nam Tuyền trước sau một vết bánh xe. Thế biết Càn Tuệ Địa cũng là chỗ tạm nghỉ. Bằng như cùng tận Diệu Giác thì cái ý rốt ráo phải tự riêng khác. II. THẬP TÍN Kinh : “Cái tập khí của ngũ dục mới khô cạn chưa tiếp thông được với dòng nước pháp của Như Lai. Tức nhân tâm này, ngay giữa lần vào Viên Diệu mở bày, theo Diệu Giác Viên chân thật, càng phát ra chân diệu. Diệu Tín thường trụ, tất cả vọng tưởng hết sạch chẳng còn. Trung Đạo thuần Chân, gọi là Tín Tâm Trụ. Thông rằng : Ngay giữa lần vào, chẳng nghiêng về Không, chẳng nghiêng về Giả, đó là Trung Đạo Diệu Quán vậy. Vừa mới vào Quán, Tam Đế viên dung, như ba điểm của chữ Y () nên gọi là Viên Diệu, đây là chỗ sức người có thể làm. Nơi Quán đã thành, theo cái Chân phát ra Diệu, khế hợp với lý Viên, nên gọi là Diệu Viên, đây là chỗ sức người không thể đáp ứng nổi. Trung Đạo thì y nơi Chân, Diệu thì có cái chẳng phải do Chân. Từ Chân phát ra Diệu thì Diệu đó là Chân Diệu. Diệu mà chẳng phải do Chân nên chẳng thể Thường. Trung Đạo thuần Chân nên Diệu ấy thường trụ. Cái Diệu đã thường trụ thì hết thảy vọng tưởng không còn đất để chân vậy. Cái gọi là Diệu ấy chỉ riêng người ấy rõ biết ý thú của Diệu này, không thể dùng lời nói chỉ bày cho người được. Đức tin này rất chân thật nên gọi là Tín Tâm Trụ. Tổ Quy Sơn nói với Ngài Ngưỡng Sơn : “Ông nên riêng tự hồi quang phản chiếu, người khác không biết chỗ tri giải của ông. Ông thử đem cái kiến giải chân thật trình lão tăng xem !” Ngài Ngưỡng Sơn nói : “Như dạy con tự xem thì vào trong ấy không có viên vị, cũng không có một vật, một giải nào để trình Hòa Thượng”. Tổ Quy nói : “Chỗ không có viên vị là chỗ kiến giải của ông thì chưa rời tâm, cảnh”.
Ngài Ngưỡng Sơn nói : “Đã không viên vị, chỗ nào
có pháp ? Lấy không vật làm cảnh” Ngài Ngưỡng đáp : “Dạ, phải”. Tổ Quy nói : “Nếu như thế thì đầy đủ tâm, cảnh lẫn pháp, chưa thoát khỏi tâm Ngã-Sở. Nguyên vì có kiến giải trình tôi. Cho ông rõ được Tín Vị, còn Nhân Vị thì chưa !” Về sau, Ngài Ngưỡng Sơn hỏi Ngài Song Phụng : “Sư đệ, gần đây chỗ thấy thế nào ?” Đáp rằng : “Theo chỗ thấy của tôi, thật không có một pháp để lưu tình”. Ngài Ngưỡng nói : “Kiến giải của ông còn ở trong Cảnh”. Đáp rằng : “Tôi chỉ như vậy. Sư huynh thì sao ?” Ngài Ngưỡng nói : “Ông há chẳng biết “Không có một pháp để lưu tình” ư ?” Tổ Quy Sơn nghe được, nói : “Một câu của Huệ Tịch e giết hết người trong thiên hạ”.
Xét nghiệm như vậy, chẻ bửa như vậy mới biết
“Theo Tánh Chân Thật, Diệu Viên càng phát ra Chân
Diệu”. Cái chỗ Chân Tín cách nhau xa hẳn với con
đường tri giải vậy. Kinh : “Chân Tín sáng rõ, hết thảy viên thông. Ba thứ Ấm, Xứ, Giới không thể ngăn ngại. Như vậy cho đến trong vô số kiếp quá khứ, vị lai tất cả tập khí bỏ thân, thọ thân đều hiện ra trước mắt, người thiện nam này đều có thể nhớ tưởng không quên mất, gọi là Niệm Tâm Trụ. Thông rằng : Niệm Tâm Trụ ở trong Thập Tín này là Túc Mạng Thông. Trước có nói “Cấm Giới thành tựu, sáu Căn thanh tịnh không cần Thiên Nhãn, xem thấy mười phương túc mạng thanh tịnh, được không khó khăn nguy hiểm, cũng lần lần ra khỏi ngăn ngại” Ở đây, cả quá khứ, vị lai trong vô số kiếp đều có thể tưởng nhớ, ắt viên thông sáng rõ. Đây là trong Chân Tín phát khởi, Tánh Không đâu chẳng toàn khắp, nên suốt thông không đâu chẳng thấu đến. Đây là đã chứng Chân nên địa vị “Tương Tự” chẳng thể sánh được. Không chứng Chân thì Ấm, Xứ, Giới làm ngăn ngại, nên không thể thông suốt. Nay nắm giữ cái tâm rỗng sáng; căn, cảnh chẳng dính nhau, lâu ngày thì Chân Diệu một mình bày lộ, siêu vượt lên căn, cảnh. Do đó, tất cả tập khí do Tư Hoặc kết thành như quá khứ bỏ thân, vị lai thọ thân đều rõ ràng trước mắt, mà không quên mất. Cái Niệm Tâm vốn thuộc sanh diệt, nay lấy Chân Tín mà nắm giữ nó thì niệm cũng an trụ, tức niệm tức Chân, lấy Chân, Vọng dung nhau thành một. Túc Mạng Thông từ bậc A La Hán cho đến cõi Phi Phi Tưởng, các ngoại đạo thì biết trước sau đến tám vạn kiếp. Nhưng vô số kiếp tức là A Tăng Kỳ kiếp thì ngoài Phật không ai chứng được. Xứ này, người biết quá khứ thì cũng đã có, còn người biết vị lai thì không nhiều.
Thiền sư Huệ Trung ở núi Ngưu Đầu nghe thiền sư
Uy ra đời bèn đến thăm. Một hôm, thiền sư Uy thấy cây Lăng Tiêu nơi Viện Cụ Giới gặp mùa Hạ nên héo úa. Có người muốn chặt đi, Ngài bảo : “Đừng chặt, khi Huệ Trung về, nó sẽ sống lại !” Sau, Ngài Huệ Trung trở về, quả như lời nói, bèn giao Sơn Môn cho Huệ Trung. Lại như Ngài Linh Thọ, suốt hai mươi năm không có Thủ Tòa. Ngài thường nói : “Thủ Tòa của ta đã sanh rồi ! Thủ Tòa của ta đang chăn trâu ! Thủ Tòa của ta đang hành cước !” Một hôm, bảo đánh chuông, ra ngoài tam môn tiếp đón vị Thủ Tòa. Đại chúng ra đón thì quả là Ngài Vân Môn đến, bèn mời thẳng vào liêu Thủ Tòa. Mở gói hành lý xong, trình thơ cho Tổ Linh Thọ, viết rằng : “Đây là vị Thủ Tòa trong chùa, con mắt của trời, người”. Ngài bèn mời Tổ Vân Môn khai đường.
Hai vị tôn túc trên, có thể nói là đắc Niệm Tâm
Trụ. Kinh : “Diệu Viên thuần Chân, Chân Tinh phát hóa ra, các tập khí vô thủy thông thành một Tinh Minh. Chỉ nhân Tinh Minh ấy tiến đến chỗ Chân Tịnh, gọi là Tinh Tiến Tâm. Thông rằng : Từ Chân Tín lần vào nên có thể tưởng nhớ. Từ Thuần Chân lần vào nên được cái Tinh Minh. Chân hay chuyển hóa cái Vọng thì Chân Tinh phát hóa là không thể nghĩ bàn, nên tập khí từ vô thủy hóa thành Tinh Minh. Ở trước nói “Tập khí hiện tiền”, đến đây hóa thành Tri Giác Vô Thượng vậy. Tịnh mà đối với nhiễm thì chưa là Chân Tịnh. Chẳng dơ, chẳng sạch mới là Chân Tịnh. Nhân dùng cái Tinh Minh này tiến đến Chân Tịnh, ấy là muốn dẹp bằng dấu vết của cái “Thông thành một Tinh Minh” mà đều chuyển hóa hết vậy. Sự chuyển hóa này chẳng thể làm được thì sự Tiến cũng chẳng Tinh vậy. Nhà sư hỏi Tổ Hoàng Bá : “Thế nào là Tinh Tiến?” Tổ Bá nói : “Thân tâm chẳng khởi, đó là Tinh Tiến mạnh mẽ đệ nhất. Vừa khởi Tâm hướng ngoài tìm cầu thì gọi là “Vua Ca Lợi ưa đi săn bắn”. Tâm chẳng đi rong ở ngoài tức là “Tiên nhơn nhẫn nhục”. Thân tâm đều không, đó là Phật đạo”. Kinh Pháp Cú nói : “Nếu khởi tâm Tinh Tiến, đó là vọng chứ chẳng phải Tinh Tiến. Nếu Tâm thường chẳng vọng, đó là Chân Tinh Tiến”. Ngài Thiên Thai Trí Giả tụng kinh Pháp Hoa ở núi Nam Nhạc đến chỗ phẩm Dược Vương : “Đó là Chân Tinh Tiến, đó gọi là Chân Pháp cúng dường Như Lai”, ngay đó ngộ nhập Pháp Hoa Tam Muội, được gọi là Toàn Đà La Ni, thấy Pháp Hội Linh Sơn rõ ràng chưa tan. Đây có thể nói là tập khí vô thủy thông thành một Tinh Minh vậy. Hẳn là tiến đến chỗ thân tâm đều Không, mới gọi là Chân Tịnh. Lìa ngoài Chân Tịnh mà riêng cầu chuyện tinh tiến đó là vọng vậy. Kinh : “Tâm Tinh hiện tiền, thuần dùng Trí Huệ, gọi là Huệ Tâm Trụ. Thông rằng : Càn Huệ Địa ở trước sao không gọi là Huệ Tâm Trụ ? Trước nói : “Nắm giữ Tâm rỗng sáng”, là còn có nắm giữ vậy. Đây nói : “Tâm Tinh hiện tiền”, tức là cái nắm giữ đã chuyển hóa rồi vậy. Trước nói : “Thuần là Trí Huệ”, tức còn mang lấy cái “Là”. Đây nói : “Thuần dùng Trí Huệ”, tức đâu đâu cũng là cái dùng của Trí Huệ, đều mất cái Là vậy. Chỗ này nếu chẳng phải Tinh Minh rõ suốt, linh quang hiển hiện thì chưa dễ nói ra được. Ban đầu thì nói có cái Trí Huệ ấy. Đến chỗ thuần là Trí Huệ thì có mà an trụ rồi, lại tiến thêm một bước.
Trong thiền môn thuần dùng Trí Huệ, duy chỉ có
một tay Lâm Tế thật khó gặp một người thứ hai. Ngài
thường nói : “Sơn tăng chốn này đoán định ba thứ Căn
Khí : như hàng căn khí trung hạ đến, ta bèn đoạt
Cảnh nó mà chẳng trừ Pháp nó. Nếu là hàng căn khí
trung thượng đến, ta bèn Cảnh, Pháp đều đoạt. Như có
người căn khí thượng thượng đến, ta bèn Cảnh, Pháp,
Người đều đoạt. Như có người kiến giải xuất cách đến
thì sơn tăng chốn đây bèn toàn thể tác dụng, chẳng
cần Căn Khí. Các Đại Đức, đến trong ấy mà chỗ nỗ lực
của học nhơn chẳng thông rõ phong đại, lửa đá, chớp
xẹt tức qua liền vậy. Người học mà con mắt định nếu
động, liền mất giao thiệp.
Linh âm phó chúc bên tai, như chẳng có tin uổng
nhọc trăm năm lần lữa. Như tin được “Sống sờ sờ ra
đó” thì với Huệ Tâm Trụ đâu có xa ! Kinh : “Nắm giữ Trí sáng, lặng trong cùng khắp, lặng lẽ nhiệm mầu thường lắng đọng, gọi là Định Tâm Trụ.
Thông rằng : Đã thuần dùng Trí Huệ thì Huệ Tâm
thường trụ, sao lại còn dùng sự nắm giữ ? Nói nắm
giữ ý là quên cơ bỏ trí. Trí Huệ thường dùng, dùng
tức ứng vật, bèn ở trong thể lặng trong chẳng được
Tổng Trì. Nay gom lại ánh sáng rực rỡ, giữ mà chẳng
dùng. Như Tổ Lâm Tế nói : “Kiếm xuy mao dùng xong
cần mài ngay !”, tức là trong Tánh Diệu Trạm được
Tổng Trì vậy. Cái Định Tâm Trụ này là “Khi Định thì Huệ ở tại Định”, hoàn toàn chẳng liên can gì với cái thuyết “Trước Định sau Huệ, trước Huệ sau Định” do sức người tu trì.
Ngài Trí Hoàng ban đầu ra mắt Ngũ Tổ, sau đó ở
trong am ngồi thiền suốt hai mươi năm. Đáp : “Nhập định”. Ngài Sách nói : “Ông nói nhập định, là có tâm nhập hay không có tâm nhập ? Nếu không tâm nhập thì tất cả vô tình cỏ cây, ngói đá cũng là đắc định. Nếu có tâm nhập thì tất cả hữu tình các loài hàm thức cũng đều đắc định”. Ngài Hoàng nói : “Chính khi tôi nhập định chẳng thấy có tâm “Có-Không”. Huyền Sách nói : “Chẳng thấy có cái tâm Có-Không, đó là thường định, nào có xuất nhập ! Nếu có xuất, có nhập ắt chẳng phải là Đại Định”. Trí Hoàng không đáp được. Giây lâu hỏi rằng : “Thầy ông là ai ?” Ngài Sách đáp : “Thầy tôi là Lục Tổ”. Trí Hoàng hỏi : “Ngài Lục Tổ lấy gì làm thiền định ?” Huyền Sách đáp : “Thầy tôi nói rằng : “Cái Diệu Trạm Viên Tịch, thể dụng như như. Năm Ấm vốn Không, sáu Trần chẳng có. Chẳng xuất chẳng nhập, chẳng định chẳng loạn. Tánh thiền không trụ, lìa trụ thiền tịch. Tánh thiền vô sanh, lìa sanh thiền tưởng. Tâm như hư không, cũng không có cái lượng hư không””. Ngài Trí Hoàng nghe nói vậy, bèn đến ra mắt Lục Tổ, kể lại hết sự việc. Lục Tổ nói : “Quả đúng như vậy. Ông chỉ Tâm như hư không, chẳng giữ không kiến, ứng dụng không ngại, động tĩnh vô tâm, tình phàm Thánh mất, Năng Sở đều tiêu. Tánh Tướng như như, không lúc nào mà chẳng là Định”. Trí Hoàng ngay đó đại ngộ, cái tâm sở đắc trong hai mươi năm trọn chẳng có ảnh hưởng gì. Đêm ấy ở Hà Bắc(03), quan dân nghe trên không có tiếng nói “Hoàng Thiền Sư ngày nay đắc Đạo !” Ngài trở về Hà Bắc khai hóa cho bốn chúng. Lại có vị tăng hỏi thiền sư Hiển Đoan : “Lắng đọng lặng trong thì như thế nào ?” Tổ Đoan nói : “Chẳng phải là chỗ an thân lập mạng của thầy Xà Lê”. Hỏi : “Như sao là chỗ an thân lập mạng của học nhân này ?” Đáp : “Mây có thế ra núi, nuớc không tiếng vào khe”.
Ngay đây hiểu được thì hằng vắng lặng mà chẳng
lìa hằng tỏ soi. Đủ biết Định Huệ là pháp môn không
hai vậy.
Kinh : “Ánh sáng của Định phát ra vào sâu tánh sáng, chỉ có tiến chớ không lui, gọi là Bất Thối Tâm. Thông rằng : Do Huệ vào Định, Định ấy chân chánh. Do Định phát sáng, cái sáng đó thâm sâu. Cái sáng không do định lực sanh thì nông cạn, không có gốc nên chẳng thể vào sâu. Nay Định Huệ giúp nhau nên tánh sáng càng thấu suốt, có chỗ nhỏ nhiệm nào mà chẳng soi, có chỗ mật nhiệm nào mà chẳng tột, cho nên có thể tìm đường hướng thượng. Tiến tới không thôi, chỉ có tiến không có lui, đủ để thấy ánh sáng ấy là sâu xa vậy. Nếu có chút chẳng sáng thì phải có ý thối lui. Địa vị chẳng thối này do Vô Minh từ vô thủy bị đào thải gần hết, không thể bị chao động lầm lạc, cho nên chẳng thể lui sụt vậy. Ngài Càn Phong thượng đường rằng : “Pháp Thân có ba loại bệnh, hai loại ánh sáng. Mỗi mỗi cần phải thấy suốt mới hiểu việc về nhà ngồi yên. Cần biết lại còn có hướng thượng nhất khiếu nữa”. Ngài Vân Môn bước ra hỏi : “Người trong am cớ sao không biết chuyện ngoài am ?” Tổ Phong ha hả cười lớn.
Vân Môn thưa : “Đó cũng là chỗ nghi của kẻ học
nhơn này.”
Tổ Phong nói : “Ngay đây cần cái gì thêm nữa mới hiểu chỗ ngồi yên ?” Ngài Vân Môn cất tiếng : “Dạ, dạ”. Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Ngồi kẹt, bệnh hết thuốc chữa. Dùng kẹt, ánh sáng chẳng thấu thoát. Dầu cho tung hoành ngang dọc, toàn chuyển nhất-cơ cũng là chưa biết còn một cái Hướng thượng nhất khiếu. Còn được cái địa vị ngồi yên đấy chăng ? Rốt cùng, sương trăng tối, mặc nhiên rớt đầu khe”.
Vân Môn thật là người trong cửa, còn chẳng biết
việc ngoài cửa bởi vì đắc “Địa vị ngồi yên”. Nếu
chưa đến chỗ phần hạn của Vân Môn thì phải hướng về
câu nói của Tổ Càn Phong nhai nhấm một phen mới rõ
đường mạch chân thật của Bất Thối Tâm. Kinh : “Tâm an nhiên tiến tới, giữ gìn chẳng mất, giao tiếp với khí phần của mười phương Như Lai, gọi là Hộ Pháp Tâm. Thông rằng : Định Huệ dung nhau vào bất sanh diệt. Tâm mà không cái tâm, tiến mà không chỗ tiến. Một niệm tương ưng, không có tạo tác nên nói là an nhiên. Chưa đến chỗ an thì còn mượn sự nỗ lực gìn giữ. Đã đến chỗ an thì gìn giữ chẳng mất vậy.
Nói rằng chẳng mất là chẳng mất vật gì ? Giữ gìn
là giữ gìn việc gì ? Đây là mạng mạch của Chư Phật,
xuyên suốt mười phương. Nay ta đã được Tổng Trì, ắt
mạng mạch của Chư Phật là ở ta, tinh thần có thể
thông nhau, khí phần tự nhiên giao tiếp. Khí phần
của ta giao tiếp với Phật, đó là ta hộ trì Chánh
Pháp của Như Lai. Khí phần của Phật giao tiếp với
ta, đó là Phật hộ trì Chánh Pháp của ta. Đến chỗ này
thì Tư Hoặc về ba cõi hết sạch, ấy là Chánh vị của
sáu Căn thanh tịnh vậy. So với Đại Phẩm là tương
đương với Phật Địa, nên nói là “Chỗ hộ niệm của Chư
Phật”.
Lục Tổ bèn đưa cho xem.
“Chỗ tối châu ngời vô giá treo
Nhà nghề gặp nhau thì chưa từng chẳng lấy sự hộ
trì trân trọng mà khuyên gắng. Chỗ này cũng có thể
thấy tâm hộ pháp của chư vị vậy. Kinh : “Giữ gìn tâm giác sáng có thể dùng diệu lực xoay Từ Quang của Phật lại nơi mình và hướng về Phật mà an trụ, như hai tấm gương ánh sáng đối nhau, trong ấy các bóng nhiệm mầu trùng trùng tương nhập, gọi là Hồi Hướng Tâm. Thông rằng : Xoay Từ Quang của Phật lại là xoay Quả mà hướng về Nhân vậy. Hướng về Phật mà an trụ là xoay Nhân mà hướng về Quả vậy. Quả, Nhân một niệm khế hợp thì ánh sáng giao nhau, nhập vào nhau, chỗ nhiệm mầu này khó dùng lời lẽ tỏ bày. Chỉ có cái diệu lực chứ chẳng liên quan đến công phu. Ánh sáng nhân tâm Từ mà hiển, chẳng cần phương tiện. Chỗ trụ đồng với Phật, nên không còn thứ bậc. Bổn Giác và Thủy Giác hai cái Giác dung hòa lẫn nhau, ví như ánh sáng đối nhau trong hai tấm gương. Có cái diệu lực này mới có diệu ảnh này. Giữ gìn tâm Giác sáng, không trở lại cái biết hư vọng thì cái Minh này là Diệu Minh vậy. Diệu Minh minh diệu, một tức tất cả, tất cả tức một, diệu ảnh trùng trùng dung nhập vào nhau. Nói là diệu ảnh thì chẳng phải ảnh của tiền trần hay pháp trần. Ở đây, ảnh trộn lẫn trong ánh sáng, ánh sáng cũng hòa lẫn nơi ảnh, tương tự Một Trí Đại Viên Cảnh vậy. Xoay Trí Phật làm trí mình, xoay trí mình về trí Phật, tâm tâm chế nhau, gần như đồng với Phật há chỉ có khí phần giao tiếp thôi ư ! Tổ Quy Sơn một hôm bảo các học trò trình ra chỗ hiểu biết. Tổ nói : “Ngoài Thanh-Sắc, cùng ta thấy nhau”. Ngài Ngưỡng Sơn qua ba lần trình lời đều nói : “Như hai mặt kính soi nhau, trong đó không có hình tượng”. Tổ Sơn nói : “Lời này chân chánh nhưng ta phải mà ông chẳng phải, vì đã sớm lập hình tượng rồi”. Ngưỡng Sơn lại hỏi Tổ : “Con tinh thần tối tăm, đối đáp vụng về. Chưa rõ Hòa Thượng khi ở với Sư Ông Bách Trượng trình lời ra sao ?” Tổ Quy Sơn nói : “Khi ở với Tiên Sư Bách Trượng, ta trình lời như vầy : “Như trăm nghìn gương sáng soi hình tượng, bóng sáng chiếu nhau, trần trần, sát sát, mỗi mỗi chẳng mượn nhau””. Ngài Ngưỡng Sơn liền lễ tạ. Hai vị tôn túc khéo nói Lăng Nghiêm. Một đằng như hai tấm gương ánh sáng đối nhau. Một đằng như diệu ảnh trùng trùng tương nhập. Hợp lại mà nói, ý nghĩa mới đầy đủ. Tổ Tuyết Phong thượng đường : “Cần rõ việc này, như gương xưa trên đài, (người) Hồ đến Hồ hiện, Hán đến Hán hiện”. Ngài Huyền Sa ra khỏi chúng, nói : “Bổng gặp gương sáng đến thì thế nào ?” Tổ Phong nói : “Hồ, Hán đều ẩn”. Ngài Huyền Sa nói : “Gót chân lão Hòa Thượng còn chưa chấm đất !”
Biết được vì sao Ngài Huyền Sa không chịu lời Tổ
Tuyết Phong thì biết ngay chỗ Ngài Ngưỡng Sơn lễ tạ
Tổ Quy Sơn vậy. Kinh : “Tâm quang thầm xoay lại, được chỗ thường lắng đọng Vô Thượng Diệu Tịnh của Chư Phật, an trụ vô vi, được không bỏ mất gọi là Giới Tâm Trụ. Thông rằng : Tâm quang thầm xoay lại, hướng về Phật mà an trụ được thường lắng đọng tịch diệu của Chư Phật, đối cảnh mà chẳng động. Được chỗ Vô Thượng Diệu Tịnh của Phật thì giao thiệp với trần mà chẳng nhiễm. Đây là Tự Tánh Thiên Chân Phật, vô vi chân thật vậy. An trụ trong đó thì không tạo không làm, không chứng không đắc. Phàm có được ắt có mất, không được thì không mất. Có mất thì cần dùng Giới. Không mất thì đâu cần dùng Giới. Tự Tánh vô vi, tức đó là Giới. Giới mà không có chỗ Giới, đó là Chân Giới. Giới này tại tâm quang, chỗ âm thầm xoay lại mà gọi là mật vì không thể lấy ý thức đo lường, há có thể nói đồng với Giới Luật tầm thường sao ? Tức Giới tức Định, tức Giới tức Huệ, chỉ một thể mà khác danh thôi.
Xưa, Ngài Thạch Đầu ban đầu đến Tổ Thanh Nguyên
tham lễ.
Ngài Đơn Hà tụng rằng :
“Huyền vi cùng tận vốn an nhiên
Xem chỗ nói “Chẳng làm” của Ngài Dược Sơn, chỗ
nói “Chẳng mất” của Ngài Thạch Đầu thì rốt ráo chẳng
thể đo lường hiểu biết, ấy khá mật nhiệm vậy. Có thể
qua cửa ải này bèn được chỗ thường lắng đọng vô
thượng diệu tịnh của Phật, có thể gọi là Giới Tâm
Trụ. Kinh : “Trụ giới tự tại có thể dạo khắp mười phương, đến đâu tùy nguyện, gọi là Nguyện Tâm Trụ.
Thông rằng : Trụ Giới tự tại thì quên luôn cái gì
là Giới. Thường lắng đọng nơi Chân Tịnh, thích gì mà
chẳng được, nên có thể đi dạo khắp mười phương, đến
đâu tùy nguyện. Trong Viên Giáo của Thiên Thai Tông,
nếu chưa đoạn Vô Minh thì sanh sang cõi Đồng cư, gọi
là Nguyện Sanh, quả là phù hợp với đoạn kinh này.
Thiên Thai Tông lại nói hàng Thập Tín ra khỏi Giả
Quán mà làm lợi ích cho chúng sanh. Đoạn này nói
“Dạo khắp mười phương” thì cũng hợp với nghĩa ấy.
“Năm nay sáu mươi bảy Đến ngày tháng của năm sau không sai chạy, thượng đường từ biệt đại chúng, rồi nói bài kệ :
“Thế giới bạch ngân vàng sắc thân Rồi an tọa mà tịch. Đệ tử của Ngài Phần Dương Chiểu có tình cố cựu với Dỗn Lý Hầu ở phủ Long Đức. Hầu sai người đến chùa Thừa Thiên mời Ngài. Sứ giả ba phen mời không được, bị phạt nên muốn được Ngài cùng đi. Ngài cười rằng : “Cái nghiệp của lão tăng là chẳng ra khỏi chùa ba mươi năm nay rồi. Nếu đi thì phải có trước sau, cần gì cùng một lúc !” Rồi bảo thiết trai, chuẩn bị hành lý và bảo đại chúng : “Lão tăng đi đây, người nào theo được ?”
Một vị tăng bước ra thưa : “Con theo được”. Đây chẳng phải là “Đến đâu tùy nguyện” ư ? Chẳng phải đã chứng Thập Tín thì chưa dễ đến chỗ này. Tin là chân thật không hư vọng, vì tương ưng với Thật Tế Lý Địa vậy. Nên có câu : “Chỉ một sự thật này, dư hai ắt chẳng Chân”. Ban đầu ắt Dục Ái cạn khô, giữ tâm rỗng sáng rồi sau mới có thể vào Chân Tánh Diệu Viên. Chân Tánh phát hóa, tập khí nhỏ nhiệm đều dung thông. Lại nhờ Định Huệ mà giữ gìn, lấy sự Hộ Trì mà tiến tới; xoay Từ Quang của Phật, được Tịnh Giới của Phật. Từ đó, sanh vào nhà Như Lai, mà chỗ đi tùy nguyện vậy. Thập Tín chẳng phải là Thập Trụ nhưng tại sao đều gọi là Trụ ? Bồ Tát Vô Trước lập ra mười tám địa vị, phán định địa vị trước sau của kinh Kim Cương, do đó bậc Sơ Trụ cũng được gọi là Trụ, vì y vào Trí Vô Trụ, vĩnh viễn chẳng bị thối chuyển, nên được cái tên Trụ. III. THẬP TRỤ Kinh : “Anan, người thiện nam đó dùng phương tiện chân thật phát được mười cái tâm ấy. Tâm tinh phát huy mười cái Dụng xen lẫn vào nhau, viên thành một tâm, gọi là Phát Tâm Trụ. Thông rằng : Từ Chân Diệu Viên trùng phát Chân Diệu, đây gọi là phương tiện chân thật. Dùng phương tiện chân thật mà phát được mười thứ Tín Tâm này. Tin ấy là Chân. Chân ấy là Tin, không dung chứa niệm nào khác xen tạp vào, thì cái Tâm ấy tinh thuần vậy. Sự tinh minh của tâm tự phát ánh sáng. Hoặc Định hoặc Huệ, hoặc Giới hoặc Nguyện, mười cái Dụng xen lẫn vào nhau : ngay trong Định mà Huệ, Giới đều sẵn đủ, ngay nơi Giới mà Định, Huệ đều tròn đầy. Tóm lại, là phát minh cái Bổn Lai, hướng nơi Phật mà an trụ, nên gọi là “Viên thành một tâm”. Mười cái Dụng chưa tròn thì tâm lượng chưa đầy, hẳn phải mười cái Dụng viên thành mới có thể gọi là Phát Tâm Trụ. Ngài Thiên Thai Trí Giả lấy mười Tâm Anh Lạc (chuỗi ngọc) đối với mười quán pháp Đại Thừa, ước định Sơ Trụ của Viên Giáo, tỏ đủ mười Đức thì ý nghĩa cũng phù hợp nhau. Xưa, Đức Lục Tổ canh ba vào thất, Đức Ngũ Tổ lấy áo cà sa che quanh không để người thấy, nói cho kinh Kim Cang, đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”(05), Lục Tổ ngay nơi lời nói đại ngộ, rõ tất cả muôn pháp chẳng lìa Tự Tánh, bèn bạch cùng Ngũ Tổ:
“Nào ngờ Tự Tánh vốn tự thanh tịnh
Đức Ngũ Tổ biết đã ngộ Bổn Tánh, nói rằng :
“Chẳng rõ Bổn Tâm, học pháp vô ích. Như rõ Bổn Tâm
mình, thấy Bổn Tánh mình thì gọi là trượng phu, thầy
của Trời, Người, là Phật”. Kinh : “Trong tâm phát sáng, như ngọc lưu ly trong sạch, ở trong hiện chói sắc vàng ròng. Dùng cái diệu tâm trước kia bước đi thành địa vị, gọi là Trị Địa Trụ. Thông rằng : Chỗ thấy rõ ràng mới có thể bước đi. Chỗ thấy không rõ ràng dầu có cất bước đi nữa cũng chẳng phải là un đúc Tự Tánh, chỉ là chạy theo việc ngoài, ví như cất nhà trên đất người khác, đối với ta có dính dáng gì ? Cái “Trong tâm phát sáng” đây tức là Vô Sư Trí, Tự Nhiên Trí, từ trong Pháp Giới Tánh mà hiện bày, như ngọc lưu ly trong sạch, ở trong hiện chói sắc vàng ròng. Thấy rất chân thật, ngộ rất thấu suốt, chỗ thấy cùng pháp không hai nhưng chỗ hành chưa tới. Từ đây gìn giữ, từ đây bước đi. Dùng mười thứ tâm mầu nhiệm trước kia, mỗi mỗi tự thân hành đạo, thân tâm như nhất, bước bước vững vàng như đất. Hễ cất nhà thì trước sửa sang nền đất. Đây là chỗ bắt đầu khởi bước, nên gọi là Trị Địa Trụ. Thiền sư Vân Cư Ứng thượng đường : “Người xưa nói “Muốn kham giữ việc này cần hướng về đảnh núi chót vót mà đứng, đáy bể thăm thẳm mà đi mới có đôi chút hơi hám”. Bằng các ông chưa rõ đại sự hãy nên dẫm bước trên đường huyền”. Có nhà sư hỏi : “Thế nào là chỗ bước đi của người hướng thượng ?” Tổ Cư nói : “Thiên hạ thái bình”. Lại có nhà sư hỏi thiền sư Quảng Pháp Viện Nguyên : “Từ xưa các Thánh hướng chỗ nào mà đi ?”
Tổ Nguyên nói : “Đầu đường chữ thập ()”.
Cho nên lấy cái chỗ mà các vị tôn túc gọi là dẫm
bước thì rõ Trị Địa Trụ. Cái dẫm bước này thật nhiệm
mầu vậy. Kinh : “Tâm địa biết khắp, đều được tỏ rõ, dạo đi mười phương, được không ngăn ngại, gọi là Tu Hành Trụ. Thông rằng : Tâm, do đâu mà biết là Địa ? Địa, do đâu mà biết là Tâm ? Tâm ấy là Diệu Tâm. Hạnh ấy là Diệu Hạnh. Trí ấy là Diệu Trí vậy. Lý, Hạnh, Trí ba Đức viên dung mới có thể nói là Tâm Địa biết khắp, sáng tỏ chẳng mờ, rõ ràng thường biết. Tâm tức là Hạnh, Hạnh tức là Tâm, dạo đi mười phương, có gì ngăn ngại. Đã không ngăn ngại nào cần dùng đến tu hành, mà ở đây gọi là Tu Hành Trụ ? Một là dẫm bước trên Thật Tế, không giữ bám chấp, nên lấy sự dạo đi làm Tu. Một là nắm chặt cái tâm sáng tỏ bèn là ngăn ngại, nên lấy sự không ngăn ngại làm Tu. Thật ra, là Hành mà không chỗ Hành, Tu mà không chỗ Tu vậy. Thiền sư Thạch Sương chỉ dạy đại chúng rằng : “Hàng sơ cơ chưa rõ đại sự trước cần biết nắm cái đầu thì cái đuôi tự đến”.
Ngài Sơ Sơn bước ra, hỏi : “Thế nào là đầu ?”
“Quy thì tròn, củ(06) thì vuông
Bài tụng này đầu đuôi tương xứng. Phải Tu như
thế, Hành như thế mới có thể tương ưng cùng pháp môn
Viên Đốn.
Kinh : “Hạnh đồng với Phật, lãnh nhận khí phần của Phật, như thân trung ấm tự tìm cha mẹ. Cái âm tín thầm thông vào dòng giống Như Lai, gọi là Sanh Quý Trụ. Thông rằng : Hạnh đồng với Phật là từng phần Chân Trí bình đẳng với Cứu Cánh Trí. Nhận khí phần của Phật là từng phần Chân Lý bình đẳng với Cứu Cánh Lý. Đoạn trước nói : “Khí Phần giao tiếp” thì còn là hai, Đến đây, vào dòng giống Như Lai thì cơ hồ hợp làm một vậy. Thân Trung Ấm là cái Ấm này đã hết mà cái Ấm kia chưa sanh, ở khoảng giữa hai cái Ấm này, lơ lững giữa hư không bốn mươi chín ngày tự tìm cha mẹ. Nghiệp Duyên tương tự thì đến thai sanh. Chỗ này là âm tín thầm thông, chẳng phải do suy tính tìm cầu. Quyền trí như cha, thực trí như mẹ, nhậm vận tương hợp, chẳng mượn công sức, cái quả đức âm thầm bằng nhau. Đâu thể biết sự tự nhiên nhi nhiên, do đó như âm như thầm mới có thể vào dòng giống Như Lai. Nói là Sanh Quý cũng giống như Vương Tử còn trong thai mà ngôi vị đã khác thường dân, nên nói rằng Quý. Quý ở chỗ đốn chứng Vô Thượng Đệ Nhất Pháp Môn vậy.
Tổ Động Sơn có họa đồ Ngũ Vị Vương Tử. Một là Đản
Sanh. Hai là Triều Sanh. Ba là Mạt Sanh. Bốn là Hóa
Sanh. Năm là Nội Sanh. Tất cả đều dùng để phát minh
cơ duyên hướng thượng. Một là Đản Sanh :
Sang cả tự nhiên vốn chẳng công Hai là Triều Sanh
Khổ học tình đời luận khó bì Ba là Mạt Sanh
Nương lâu hang hốc dụng công phu Bốn là Hóa Sanh
Nương phần đế mệnh để truyền trì Năm là Nội Sanh
Thẳm chốn cửu trùng há lại tuyên
Có nhà sư hỏi Tổ Thụy Nham : “Thế nào là Vương Tử
Đản Sanh ?”
“Quý lạ thiên nhiên hẳn có thì
Cho nên một đường Sanh Quý là tông phong của Tào
Động, rất là miên mật. Chẳng vào thất này khó cùng
nói năng. Kinh : “Đã vào Đạo Thai, chính mình nhờ được sự nuôi sống của Tánh Giác, như Thai đã thành, tướng người không thiếu gọi là Phương Tiện Cụ Túc Trụ. Thông rằng : Thánh Thai đã thành thì không chỉ nhận cái khí phần mà chính mình còn được sự nuôi sống của Tánh Giác, tiếp nối mạng mạch của Phật, ứng cơ tiếp vật, đủ đầy phương tiện. Tuy chưa đến chỗ viên mãn, nhưng cũng cụ thể chi tiết, như người ở trong thai, tướng mạo đầy đủ. Tướng mạo hiển bày để có thể thấy được, đó thuộc về phương tiện ứng dụng, nên gọi là Phương Tiện Cụ Túc Trụ. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đại sư, người ở xứ Hoàng Mai Kỳ Châu. Kiếp trước là đạo giả Tài Tùng ở Phá Đầu Sơn, từng hỏi Đức Tứ Tổ : “Có thể nghe được đạo pháp chăng ?” Tổ đáp : “Ông đã già, có nghe được rồi làm sao rộng hóa ? Nếu sanh lại được thì tôi còn chờ ông”. Đạo giả bèn đi, đến bờ sông, thấy một cô gái đang giặt áo, chắp tay hỏi rằng : “Ở nhờ được chăng?” Cô gái nói : “Tôi có phụ huynh, có thể đến đó mà xin”. Nói rằng : “Đồng ý tôi mới dám đi”. Cô gái gật đầu ưng chịu. Đạo giả bèn quay gậy mà đi. Cô gái là con út nhà họ Châu, khi về nhà thì có thai. Cha mẹ rất xấu hổ, đuổi đi. Cô gái không chỗ nương tựa, ngày thì quay tơ mướn trong xóm, tối thì ngủ nhờ trong quán tiệm. Rồi sanh ra một đứa con trai, cho đó là chẳng lành, nên đem ném xuống một rạch nước đục. Sáng ngày thấy trôi ngược trở lên, khí phách tươi tốt, rất kinh sợ, vớt lên nuôi nấng. Đứa bé theo mẹ đi xin ăn, người làng gọi là thằng bé không họ. Có hôm, gặp một vị trí giả than rằng : “Đứa bé này thiếu mất bảy tướng tốt nữa, nên chẳng bằng Như Lai”. Sau này, gặp Đức Tứ Tổ, Tổ hỏi : “Cậu bé tánh (họ) gì ?” Đáp rằng : “Tánh (họ)ï thì có, nhưng chẳng phải tánh (họ) thường”.
Tổ hỏi : “Là tánh (họ) gì ?” Tứ Tổ biết là pháp khí, bảo thị giả đến chỗ ở bà mẹ để xin cho Ngài xuất gia. Bà mẹ vì duyên cũ, nên không cản trở, cho theo làm đệ tử, về sau nối ngôi Tổ. Ngài Thiên Đồng tụng rằng :
“Hoàng Mai quả chín, sen trắng hoa khai Ngài Thủy Am tụng rằng :
“Hẹn đi, Tài Tùng, ấy lão nhơn
Nếu đạo giả chưa đến Phương Tiện Cụ Túc Trụ thì
làm sao đến đi tự do, gần được đầy đủ tướng tốt Như
Lai ?
Kinh : “Dung mạo như Phật, tâm tướng cũng đồng, gọi là Chánh Tâm Trụ. Thông rằng : Dung mạo ví dụ cho sự ứng dụng, tâm tướng ví dụ cho Chân Trí. Dù cho bề ngoài giống nhau mà bên trong hơi khác thì chẳng phải Chánh Tâm vậy. Chánh Tâm cũng khó nói ra, vì phải phàm Thánh đều quên, Tình hết sạch, Thể hiện bày, mới có thể nói là Chánh. Thiền sư Nam Tháp Quang Dũng lên miền Bắc gặp Tổ Lâm Tế rồi trở lại hầu Tổ Ngưỡng Sơn.
Tổ Sơn hỏi : “Ông đến làm gì ?” Kinh : “Thân Tâm hợp thành, ngày càng tăng trưởng, gọi là Bất Thối Trụ. Thông rằng : Địa vị Bất Thối Tâm(07) ở trước chỉ sự vào sâu trong Tánh Sáng, có tiến không có lùi, thì chỉ mới nói về phương diện Tâm. Còn địa vị Bất Thối Trụ ở đây là Thân Tâm hợp thành, ngày càng tăng trưởng, là tiến tới gồm cả trong lẫn ngoài. Tức là ở địa vị trước đây, dung mạo, tâm tướng thoải mái, nhàn hạ mà chờ tự tăng trưởng, chứ chẳng phải chứa công dồn hạnh mà so sánh được. Có nhà sư nêu lên bài kệ của thiền sư Ngọa Luân :
“Ngọa Luân có tài khéo
Đức Lục Tổ nghe xong, nói rằng : “Kệ này chưa rõ
Tâm Địa, nếu nương theo đó mà tu hành thì càng thêm
trói buộc.
“Huệ Năng không tài khéo Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Hoa Quỳ hướng nhật, tơ liễu tùy phong”.
Ôi, một khiếu hướng thượng, chẳng tăng chẳng
giảm, chỉ vì thức tình tiêu ma chưa hết nên thấy có
tăng trưởng, có thối sụt đó thôi. Nếu có cái Thấy
nơi chỗ chẳng tăng chẳng giảm mà xu hướng theo đó,
liền đồng như hoa Quỳ hướng theo mặt trời. Nếu có
cái Thấy nơi chỗ chẳng tăng chẳng giảm mà bỏ quên
đi, liền đồng như tơ liễu tùy theo gió. Như vô tâm
đối với cả hai, tùy thời ăn cơm mặc áo, nuôi lớn
Thánh Thai, mới được gọi là Bất Thối Trụ. Kinh : “Linh tướng của mười thân, cùng lúc đầy đủ, gọi là Đồng Chân Trụ. Thông rằng : Mười Thân là Bồ Đề Thân, Nguyện Thân, Hóa Thân, Lực Thân, Trang Nghiêm Thân, Uy Thế Thân, Ý Sanh Thân, Phước Thân, Pháp Thân và Trí Thân vậy. Linh Tướng đầy đủ so với “Tướng người không thiếu” ở trước thì đã viên mãn. Tuy cả hai đều đầy đủ cái Thể mà ở đây đã thành đứa bé, nên gọi là Đồng Chân Trụ. Thiền sư Phần Dương Chiêu thượng đường rằng : “Phàm thuyết pháp, cần phải đủ mười Trí Đồng Chân. Nếu không đủ mười Trí Đồng Chân thì tà chánh chẳng rõ, tăng tục chẳng rành, không thể làm bậc tai mắt cho trời, người để quyết đoán phải quấy. Như chim bay giữa không mà gãy cánh, như bắn tên mà đứt dây cung. Cánh gãy chẳng thể bay lên không, dây cung đứt bắn chẳng trúng đích. Dây cung chắc, cánh cứng thì đích bắn hay hư không đều thấu suốt. Thế nào là mười Trí Đồng Chân ? Xin chỉ ra cùng quý Thượng Tọa. Một là Đồng Nhất Chất(08). Hai là Đồng Đại Sự(09). Ba là Tổng Đồng Tham(10). Bốn là Đồng Chơn Chí(11). Năm là Đồng Biến Phổ(12). Sáu là Đồng Cụ Túc(13). Bảy là Đồng Đắc Thất(14). Tám là Đồng Sanh Sát. Chín là Đồng Âm Hống(15). Mười là Đồng Đắc Nhập(16). Ngài lại nói : “Cùng với người nào Đồng Đắc Nhập ? Cùng với ai Đồng Âm Hống ? Thế nào là Đồng Sanh Sát ? Vật gì Đồng Đắc Thất ? Cái gì Đồng Cụ Túc? Cái gì là Đồng Biến Phổ ? Người nào Đồng Chân Chí ? Ai có thể Tổng Đồng tham ? Cái gì Đồng Đại Sự ? Vật nào Đồng Nhất Chất ? Có chỉ ra được chăng ? Chỉ ra được thì chẳng tiếc từ bi. Chỉ không ra thì chưa có con mắt tham học vậy. Cần thiết chọn lấy, biết rõ phải quấy cái mặt mũi hiện tại. Chẳng thể đứng lâu, trân trọng!”
Mười Trí Đồng Chân này chỉ bày tỏ sự việc bên
phía Trí Thân. Mười thân mà đầy đủ lại phải càng
nhập vào chỗ vi diệu. Tuy thế, tất cả chỉ là một thể
Bồ Đề, tùy chỗ khác tên mà thôi. Như riêng có chỗ
đặc sắc thì làm sao có thể “Cùng Lúc Đầy Đủ” ư ? Kinh : “Thành đủ hình hài, ra khỏi thai, chính mình là Phật Tử, gọi là Pháp Vương Tử Trụ. Thông rằng : Tự mình thọ nhận khí phần của Phật, vào dòng giống Như Lai, lần hồi thành thai, tiến tới “Dung Mạo”, tiến tới “Tăng Trưởng”, tiến tới “Đồng Chân” mới được hình thể hoàn thành mà ra khỏi thai làm Pháp Vương Tử. Đã nhập Phật Tri Kiến mà còn được bảo nhậm như thế mới càng sáng càng suốt, thay Phật hoằng hóa. Sự thành tựu quả là không dễ dàng vậy. Ngài Xá Lợi Phất tự miệng Phật sanh, từ Pháp hóa sanh làm trưởng tử của Phật. Ngài là Trí Huệ Đệ Nhất, từ nhiều kiếp đến nay chứ chẳng phải là sức lực một sớm một chiều vậy.
Tổ Quy Sơn đang ngủ, Ngài Ngưỡng Sơn đến thăm
hỏi. Tổ bèn quay mặt vào vách. Kinh : “Cốt cách đã thành người lớn, như vị Quốc Vương phân công ủy nhiệm các việc nước cho vị Thái Tử, khi vị Thế Tử trưởng thành, Sát Lợi Vương kia bày ra lễ Quán Đảnh, gọi là Quán Đảnh Trụ. Thông rằng : Vị Pháp Vương Tử vì phương tiện, tâm tướng đều giống như Phật, đủ sức nối tiếp địa vị Phật, thay Phật làm việc cho nên lấy ví dụ Quốc Vương và Thái Tử, cũng như Sát Lợi Vương và thế tử bày ra lễ Quán Đảnh. Con Quốc Vương gọi là Thái Tử, con Chư Hầu gọi là Thế Tử. Cốt cách đã thành người lớn, sắp được phó thác ngôi vua, cũng tương tự như Lễ Đội Mũ. Dùng nước biển lớn rưới trên đầu để biểu trưng rằng làm vua thì nên dùng các bậc Trí, như biển thu nạp trăm sông. Dùng nước biển là dùng tất cả nước vậy. Đây chỉ lấy việc nước nhà phân công ủy nhiệm, khiến nắm lấy mà lo liệu chứ chẳng phải chánh thức giao phó ngôi báu để được “Tức Chân” vậy. Bởi địa vị này thầm đủ các đức, đủ sức phân hóa mười phương mà làm Phật sự nên gọi là Quán Đảnh Trụ. Đến hàng Thập Địa, hạnh viên mãn, gần với bực Đẳng Giác, mới có thể chánh thức được giao phó chức vị Phật. Vì thế, Pháp Vân Địa gọi là Quán Đảnh Bồ Tát, đó là Tức Chân vậy, chẳng còn trụ nơi trụ.
Vị Tăng hỏi Tổ Tào Sơn : “Thế nào là sư tử ?” Đây là từ trong Thể khởi ra cái Dụng, đó gọi là Diệu Trạm vậy.
Ông Tư Mã Đầu Đà từ Hồ Nam đến, thưa với Tổ Bách
Trượng rằng : “Vừa rồi ở Hồ Nam, tôi có tìm được một
ngọn núi tên là Đại Quy. Đó là chỗ ở của vị Thiện
Tri Thức của một ngàn năm trăm đồ chúng vậy”.
Ngài Quy Sơn bèn sang núi kia ở, hoằng hóa thịnh
hành đất Hồ Nam, gọi là Quy Ngưỡng Tông. IV. THẬP HẠNH Kinh : “Anan, người thiện nam đó đã thành Phật Tử, đầy đủ Diệu Đức của vô lượng Như Lai, tùy thuận mười phương, gọi là Hoan Hỷ Hạnh. Thông rằng : Diệu Đức của Như Lai là “Tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên”. Ở chốn trần ai mà chẳng nhiễm nên gọi là Diệu. Đã thành con Phật đầy đủ Diệu Đức. Can gậy tùy thân, gặp trường sân khấu thì làm trò múa men, nên có thể tùy thuận với mười phương, lấy cái vui thích của thiền mà tự vui chơi. Hoan Hỷ Hạnh này tùy thuận với chúng sanh, phương tiện mà tiếp dẫn chính là muốn hiển phát Diệu Đức của Như Lai vậy. Còn cứ một bề nương bám thì Diệu sao được ?
Tổ Triệu Châu trên tám mươi tuổi mà vẫn còn hành
cước. Một hôm đến chỗ Ngài Vân Cư.
Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Đắm không, vướng
vết; tay chạm mũi đâm đều chưa phải là chỗ nạp tăng
tựu đến. Liền phải : chớ vào hàng quán của người,
chớ ngồi giường phản ai khác. CHÁNH chẳng lập huyền,
THIÊN chẳng nương vật, mới có thể nắm-ở, buông-đi,
có phần tự tại ! Kinh : “Khéo hay lợi ích cho hết thảy chúng sanh, gọi là Nhiêu Ích Hạnh. Thông rằng : Sự lợi ích cho chúng sanh tuôn ra từ Tâm Từ Bi. Có Tâm Từ Bi thì có khả năng ấy, mà lại khéo làm được. Trí đã soi khắp, Dụng cũng viên dung. Lòng Từ cứu độ chúng sanh mà không có ý. Chẳng kể là tài thí hay pháp thí, chỉ cốt quy về sự lợi ích cho chúng sanh hữu tình mà thôi, nên gọi là Nhiêu Ích Hạnh.
Thiền sư Ngưu Đầu Dung đã được Đức Tứ Tổ thọ ký,
từ đó hoằng pháp rất thịnh hành. Vào niên hiệu Vĩnh
Huy đời Đường, đồ chúng thiếu lương thực, Ngài sang
xứ Đơn Dương quyên gạo, cách núi tám mươi dặm. Tự
mình vác bao gạo một thạch tám đấu, sáng đi chiều về
cung cấp cho ba trăm vị tăng hai bữa ăn mỗi ngày.
Đây thật là hay hành Nhiêu Ích Hạnh vậy. Kinh : “Tự giác, giác tha, được không-chống-trái, gọi là Vô Sân Hận Hạnh.
Thông rằng : Tự giác để giác tha. Có Trí thế
gian, có Trí xuất thế gian, có Trí xuất thế gian
thượng thượng để đem ra nói cho người, được không có
sự chống trái, như đá thả xuống nước. Đó là chỗ nói
“Gặp rồi nối truyền, cùng đẹp lòng để hiểu rõ”, nên
không có sân hận. Cái sân hận này chẳng phải tình
phàm có thể so sánh. Hận là hận tất cả chúng sanh
đều có Trí Huệ, Đức Tướng của Như Lai mà chẳng tự
biết; mà sân là giận rằng ta chưa độ thoát cho hết.
“Muốn định hóa độ người
Thế nên dùng Trí Thế Gian mà giác tha đó là cái
nhân Trời, Người; dùng Trí Xuất Thế Gian mà giác tha
là nhân Bồ Đề. Độc chỉ cái Vô Thượng Bồ Đề, cả hai
đều phá bỏ mới gọi là Thượng Thượng Trí. Dùng cái
Trí ấy mà giác tha là cái nhân Đẳng Giác, Diệu Giác
vậy.
Kinh : “Theo loài mà sanh ra, cùng tột vị lai, ba đời đều bình đẳng, mười phương đều thông suốt gọi là Vô Tận Hạnh. Thông rằng : Theo loài mà sanh ra, được Ý Sanh Thân, tùy theo loài mà dạy dỗ, dọc cùng ba đời, ngang khắp mười phương, không đâu chẳng phải là chỗ tự giác, giác tha. Đó là chỗ nói “Hư không có tận, nguyện ta vô cùng” vậy. Vào đời Thái Bình, niên hiệu Hưng Quốc, ở Kiện Dương có nhà sư tên Biện Thông dạo chơi vùng núi Ngũ Đài. Vị Thượng Tọa chùa này đã già, bị trong chúng khinh rẻ, riêng một mình Biện Thông vẫn cung kính hầu hạ. Khi Biện Thông sắp về kinh sư, vị tăng già đó đưa cho ông một bức thơ, bảo tìm Bộc Hạ ở phía Bắc thành đưa giùm. Giã từ đi, Ông Thông lén mở ra xem thì không viết gì khác, chỉ có mấy chữ : “Độ chúng sanh xong, gấp gấp trở lại, nếu gượng ở lại sợ rằng tạo nghiệp”. Biện Thông rất kinh hoảng, vội dán thơ lại. Khi đến xứ Quảng Tế, bên bờ sông nghe trẻ kêu Bộc Hạ.
Ông hỏi : “Bộc Hạ ở đâu ?” Ông bèn lấy thơ đưa cho nó, con heo ăn liền rồi bỗng đứng lên như người mà chết.
Do đây mà xét, thì Ứng Thân phân hóa theo loài
làm sao mà suy lường được ? Giới hạn nào cho cùng ?
Chúng sanh vô tận, sự độ thoát cũng vô tận, nên gọi
là Vô Tận Hạnh. Kinh : “Tất cả hợp thành đồng nhất, thảy thảy pháp môn đều không sai lầm, gọi là Ly Si Loạn Hạnh. Thông rằng : Đã đầy đủ Diệu Đức của vô lượng Như Lai, tự giác, giác tha ích lợi cho đời vô tận, nào có đến nỗi si loạn sai lầm ư ? Bởi thảy thảy pháp môn thì có đủ thảy thảy tam muội, nên chẳng đủ con mắt pháp phân biệt thì chẳng thể phân biện. Nay tất cả đều hòa đồng mà dung hội, được sự không sai lầm. Như Khổng Tử đại thành Tập, Thanh, Nhiệm, Hòa mà đúng thời đưa ra, thì vốn lấy cái Trí làm đầu. Trí ví như sự khéo giỏi, chẳng phải là sự gắng sức có thể so sánh, nên không có si loạn, ở ngay sau Vô Tận Hạnh vậy. Tướng Quốc Bùi Hưu đề tựa cho cuốn thiền Nguyên Chư Thuyên Đô Tập của Ngài Khuê Phong Tông Mậât rằng : “Những môn hạ trong các tông đều có người thấu đạt, nhưng mỗi tông đều theo chỗ tu tập của mình nên dung thông thì ít mà hạn cục thì nhiều, nên mấy mươi năm nay pháp Tổ càng băng hoại. Lấy chỗ học được làm cửa nẻo, mỗi mỗi tự khai trương, lấy kinh luận làm giáo mác công kích lẫn nhau. Tình theo cung tên mà biến cải. Pháp vào nhân ngã mà thấp cao. Phải quấy lăng xăng chẳng thể nào phân biện. Nếu các tông phái mà tranh luận nhau thì người hậu học càng tăng thêm bệnh phiền não, nào có lợi ích chi đâu ! “Đại sư Khuê Phong đã lâu than rằng : “Tôi ở thời này không thể làm thinh vậy !” “Ngài bèn lấy ba thứ giáo nghĩa của Như Lai để ấn chứng cho ba loại pháp môn của thiền tông. Nung chảy thau, mâm, vòng thành độc một thứ vàng ròng, khuấy tô lạc, đề hồ thành một vị. Nắm giềng lưới đưa lên thì mọi chỗ đều thuận theo. Căn cứ vào yếu lý dung hội thì người đến cùng theo. Còn sợ hàng học giả khó minh bạch nên lại chỉ thẳng gốc ngọn của nguồn thiền, chỗ hòa hợp của chân vọng, chỗ ẩn hiển của Không Tánh, chỗ sai khác của giáo nghĩa, chỗ khác của đốn tiệm, chỗ hỗ tương đắp đổi của che đậy và bày tỏ, chỗ sâu cạn của quyền thực, chỗ phải quấy của hạn cuộc và dung thông. “Như Thầy tôi (Khuê Phong) quả là nâng mặt trời Phật mà soi chiếu mọi ngóc ngách thì các nghi ngờ, che khuất đều trừ sạch. Thuận tâm Phật mà ban rải Đại Bi, tột kiếp đều được lợi ích. Vậy thì Đức Thế Tôn là giáo chủ khai mở giáo pháp, Thầy tôi là người dung hội giáo pháp, gốc ngọn phù hợp nhau, xa gần soi rọi nhau. Có thể nói là “Hoàn tất cái công việc một đời truyền giáo của Như Lai” vậy. “Hoặc có người hỏi : “Từ Đức Như Lai chưa hề có tổng hợp mà thông suốt, nay một phen làm trái với tông thú mà chẳng chịu giữ, bỏ sự quan phòng mà chẳng chịu trông nom thì há chẳng trái với Đạo bí tàng thầm hợp ư ?” “Xin đáp rằng : “Đức Như Lai tuy ban đầu nói riêng ba thừa, về sau mới thông thành một Đạo. Bởi thế trong kinh Niết bàn, Bồ Tát Ca Diếp thưa : “Chư Phật có mật ngữ, không có chỗ chứa giấu bí mật !” Đức Thế Tôn mới khen rằng : “Lời nói của Như Lai mở tỏ rõ ràng, thanh tịnh không che lấp. Người ngu chẳng hiểu, gọi đó là bí mật chứa giấu. Người trí rõ thông thì chẳng gọi là chứa dấu”. Đây là chứng cớ vậy. Bởi thế Vương Đạo hưng thịnh, thì cửa nẻo chẳng phải đóng, chỉ cần giữ chốn biên cương. Phật đạo đầy đủ thì các pháp tự tổng trì mà chỉ đề phòng ma ngoài. Chẳng nên giữ lấy tình chấp, mà tranh cãi lẫn nhau vậy”.
Như Ông Bùi Hưu, đắc pháp nơi Tổ Hoàng Bá, rõ
việc hướng thượng mà lại không bỏ một lối cát đằng
của Ngài Khuê Phong quả có thể nói là “tất cả hòa
đồng, được không sai lầm” vậy. Là người sanh trở lại
ư ? Kinh : “Ở ngay trong cái Đồng mà hiện ra các cái Khác. Mỗi mỗi Tướng Khác đều mỗi mỗi thấy Đồng, gọi là Thiện Hiện Hạnh. Thông rằng : Đã lìa Si Loạn ắt Lý Sự vô ngại. Tức Lý, tức Sự ắt Đồng chẳng ngại Khác vậy. Tức Sự, tức Lý ắt Khác chẳng ngại Đồng. Ở trong thể hòa đồng, chẳng ngại hiển ra cái Khác. Ở trong chỗ khác tướng, lại mỗi mỗi thấy Đồng. Hiện Đồng, hiện Khác cả hai đều chẳng ngăn ngại nhau. Đó chỉ vì không si loạn, tách bạch rõ ràng cùng cực mảy tơ mới có thể biến hiện như thế, nên gọi là Thiện Hiện Hạnh.
Tổ Quy Sơn đang cho quạ ăn, quay đầu thấy Ngài
Ngưỡng Sơn, bèn nói : “Hôm nay vì nó mà thượng đường
một phen”. Kinh : “Như thế cho đến mười phương hư không đầy khắp vi trần, trong mỗi mỗi vi trần hiện mười phương thế giới. Hiện vi trần, hiện thế giới, không ngăn ngại nhau, gọi là Vô Trước Hạnh. Thông rằng : Đây là từ Thiện Hiện Hạnh mà mở rộng ra. Không những Đồng, Khác hỗ tương hiển lộ mà Một, Nhiều cũng hỗ tương dung thông, hiện vi trần, hiện thế giới, trong mười phương giao thiệp lẫn nhau. Trong một vi trần hiện bày mười phương cõi, gọi là hiện thế giới. Ngay chỗ hiện ra cõi không phá hoại hình tướng vi trần, gọi là hiện vi trần. Tương tự lưới ngọc Đế Thích trùng trùng, cảnh tượng của sự sự vô ngại. Mới bắt đầu vào cảnh giới này, nên chỉ gần với Vô Trước, chứ chưa đến chỗ nhiệm mầu của tất cả thần hóa giải thoát thuần ròng chẳng thể nghĩ bàn. Hạnh Vô Trước này thì Vô Trước cũng không, nên so với cái Vô Trước ở đoạn Bảy Chỗ Trưng Tâm hoàn toàn khác hẳn. Nếu có chút tơ hào cái chẳng bám trước chưa hết sạch thì không thể gọi là Vô, vì đã có đối đãi làm sao khỏi ngăn ngại nhau ư ?
Ngày khai đường, có vị tăng hỏi thiền sư Đại Huệ
Tông Cảo : “Trời, người tụ hội, trường tuyển Phật
mở, Tổ lệnh đang hành, rao bảo thế nào ?” Lại có vị tăng giành bước ra, Tổ Cảo ngăn đứng lại mà nói : “Giả sử nghiền nát trái đất thành vi trần, mỗi mỗi hạt bụi có một cái miệng. Mỗi mỗi miệng đầy đủ tướng lưỡi rộng dài vô ngại, phát ra vô lượng sai biệt ngôn từ. Mỗi mỗi ngôn từ có vô lượng sai biệt diệu nghĩa. Hàng nạp tăng nhiều như số vi trần trên, mỗi vị đều đầy đủ miệng như thế, lưỡi như thế, âm thanh như thế, ngôn từ như thế, diệu nghĩa như thế, cùng lúc đưa ra trăm ngàn vấn nạn, mỗi mỗi vấn nạn khác nhau, chỉ như một tiếng ho hen của lão tăng là đáp xong hết một lượt. Thừa khi ở tại giữa ấy, làm vô lượng vô biên Phật sự rộng lớn cùng khắp pháp giới. Đó là chỗ nói “Trong một mảy lông hiện thần biến, tất cả Phật cùng thuyết, trải khắp vô lượng kiếp không cùng ngằn mé”. Bèn như thế là xong. “Còn làm náo nhiệt trong môn đình, đứng trong chánh nhãn mà xem, đó chính là nghiệp thức mang mang không gốc rễ. Môn hạ của Tổ Sư một điểm cũng chẳng có dùng, huống là gai góc cú chương, đối đáp giỡn đùa. Chẳng những làm mai một tông thừa từ xưa, mà còn cười giỡn lỗ mũi nạp tăng. Bởi thế mà nói “Tơ hào vướng niệm, là nhân nghiệp của ba đường. Thoáng chút sanh tình là muôn năm bị trói buộc”. Danh Thánh, hiệu phàm đều là tiếng tăm giả dối. Tướng tốt, hình hèn đều là huyễn sắc. Các ông cầu theo đó làm sao khỏi mang lụy ? Mà chán bỏ đi lại càng đại hoạn. Hãy xem Thánh xưa bảo dạy như vầy : “Như binh khí quốc gia, bất đắc dĩ mới dùng”. Trên “Việc bổn phận”, không làm gì có chuyện ấy. “Hôm nay sơn tăng rao bày như vậy, thật cũng giống như không mộng mà nói mộng, da thịt lành mà khoét cho thành ghẻ. Bậc hiểu biết mà đến thì quả đáng ăn gậy. Chỉ vì nay không có tay hạ được độc thủ ư ? Nếu có thì có thể báo đáp cái ân không thể báo đáp, cùng chung hoằng hóa vô vi. Như không làm ngược lệnh này, tốt rồi vậy.” Bổng đưa cây gậy lên, nói : “Đưa ngang kiếm thần toàn chánh lệnh. Thái bình hoàn vũ, chém si ngoan !” Dộng gậy một cái, hét một hét, liền xuống tòa.
Theo chỗ thấy của Ngài Đại Huệ thì hiện vi trần,
hiện thế giới cũng chưa là kỳ đặc. Đáng nói là “Vô
Trước cũng không”. Kinh : “Mọi thứ trước mắt đều là Đệ Nhất Ba La Mật Đa, gọi là Tôn Trọng Hạnh. Thông rằng : Hiện vi trần, hiện thế giới, hiện thân thể, hiện thuyết pháp đều chẳng ngăn ngại nhau, đều từ trong Tâm Bát Nhã tuôn ra. Sáu Ba La Mật gọi là Đáo Bỉ Ngạn(18), chỉ có Bát Nhã là tối cao Đệ Nhất. Bát Nhã là Đại Trí Huệ, vượt tất cả những gì tôn quý nhất nên gọi là Tôn Trọng Hạnh. Nếu chỉ nhận thấy, nghe, hay, biết, đuổi theo trần trôi lăn mà cho là diệu dụng, đó là việc phía “Con tôi cái tớ”, “Trước lừa sau ngựa”, chẳng có gì là tôn quý. Tổ Cư nói : “Như người nơi mỗi thứ đều rõ. Nơi mỗi vật đều thông thì chỉ gọi là người rõ chuyện, rốt cuộc chẳng thể gọi là Tôn Quý. Hãy biết Tôn Quý là một đường tự khác. Tức đó là vật cực quý cực trọng, chẳng được rồi đem hướng về phía Tôn Quý. Hãy biết cái đó chẳng thể nghĩ bàn, chẳng đợi tâm mong. Bởi thế, người xưa nói : “Giống như hai tấm gương, ánh sáng mỗi bên đối nhau, quang minh cùng chiếu, chẳng hề thêm bớt há chẳng phải là một thứ sao ?” Còn gọi là chuyện phía bên ảnh tượng. Như mặt trời mọc, chiếu sáng thế gian, một phần là sáng tỏ còn phần nửa kia gọi là gì ? Như nay người chưa rõ được bóng sáng ở nơi đầu cửa, là chuyện nông cạn bên ngoài, mà cho là chuyện trong nhà thì sao được ?” Vị tăng hỏi Tổ Vân Cư : “Như sao là chỗ tôn trọng của Sa Môn ?” Tổ Cư nói : “Chỗ tâm thức chẳng đến”. Có vị tăng hỏi thiền sư Quảng Lợi Dung : “Ngàn đường bặt nẻo, nghĩ nói chẳng thấu thì thế nào ?”
Đáp rằng : “Vẫn còn là kẻ dưới thềm”. Rồi nói : “Thế nào là người tôn quý ấy ? Thử nói xem ! Chớ có ngồi mãi trên thiền sàng, gặp người khác thì chẳng chịu đâu. Bổng bị bậc sáng mắt bức bách liền hướng về trong núi Thiết Vi ẩn mình. Nếu đến cửa Quảng Lợi này phải nói cho được Đệ Nhất Cú, liền mở một mối Đạo, cùng huynh đệ thương lượng”. Khi ấy có một vị tăng bước ra lễ bái.
Ngài nói : “Sắp nói ấy là chủ tàu bè nước khác,
nào hay là người buôn bán xứ này !” Kinh : “Như thế viên dung, thành tựu Quy Tắc của mười phương Chư Phật, gọi là Thiện Pháp Hành. Thông rằng : Ở địa vị trước hiện vi trần hiện thế giới, mọi thứ diệu dụng đều là Đệ Nhất Ba La Mật Đa từ trong chỗ Bất Từ Nghì tuôn ra, nên viên dung vô ngại, thành tựu Quy Tắc lợi sanh của mười phương Chư Phật. Quy Tắc ấy là Pháp vậy. Viên dung không dấu vết, đó là Thiện Pháp. Chẳng phải Thiện Pháp thì không thể độ chúng sanh. Hạnh này đã viên mãn, dần dần hướng về Bi Nguyện vậy. Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo thượng đường : “Muốn rõ nghĩa Phật Tánh phải xem thời tiết nhân duyên. Thời tiết đến, Lý ấy tự sáng”. Ngài dựng đứng cây phất tử mà nói : “Có thấy không ?” Gõ thiền sáng nói : “Có nghe không ? Thấy, nghe rõ ràng là cái gì thế ? Như hướng vào trong ấy đưa ra được thì ơn vua ơn Phật một lúc đền xong. Nếu chưa như thế thì Kính Sơn(19) phá dây leo cho”. Lại đưa cây phất tử lên mà nói : “Xem đây, xem đây ! Phật Vô Lượng Thọ trên đầu cây phất tử của Kính Sơn, phóng đại quang minh chiếu soi không thể nói, không thể nói, lại ở nơi cõi Phật số vi trần thế giới không nói hết chuyển đại pháp luân, làm vô lượng vô biên Phật sự rộng lớn.
Trong đó, dầu phàm dầu Thánh, dầu chánh dầu tà,
dầu cỏ dầu cây, dầu hữu tình dầu vô tình gặp ánh
sáng ấy đều đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề. Do đó,
Chư Phật ở đây mà đắc thì đầy đủ Nhất Thiết Chủng
Trí. Chư Đại Bồ Tát ở đây mà đắc thì thành tựu hết
các Ba La Mật. Bậc Bích Chi, Độc Giác ở đây mà đắc,
ra đời không có Phật, hiện thần thông quang minh.
Các vị chúng Thanh Văn kịp tới nghinh đón năm trăm
vị A La Hán, ở đây mà đắc, được tám Giải Thoát, đủ
sáu Thần Thông. Trời, Người ở đây mà đắc thì tăng
trưởng Thập Thiện. Tu La ở đây mà đắc thì trừ bỏ
kiêu mạn. Địa ngục ở đây mà đắc thì đốn siêu Thập
Địa. Ngạ quỷ, bàng sanh cùng bốn loại sanh, chín
cách sanh, tất cả hữu tình ở đây mà đắc thì tùy theo
căn tánh đều được thọ dụng. “Phật Vô Lượng Thọ có thần thông như thế, có tự tại như thế, có oai thần như thế, vào trong ấy, còn có biết ân, báo ân hay chăng ? Nếu có, đưa ra cho Kính Sơn này cùng xem. Nếu không, hãy nghe lấy một bài tụng :
“Pháp giới mười phương trong miệng người
Đoạn cát đằng dây leo này của Ngài Đại Huệ hiển
bày đầy đủ quy tắc của mười phương Chư Phật, đủ làm
nghi thức Thiện Pháp cho khắp nơi. Chỉ tiếc là lúc
ấy không có một tri âm tương kiến để liền lật ngược
thiền sàng, xem coi Ngài còn lời nào chỉ dạy ! Kinh : “Mỗi mỗi đều là Nhất Chân vô vi thanh tịnh vô lậu, vì Tánh Bổn Nhiên là như thế, gọi là Chân Thật Hạnh. Thông rằng : Toàn Tánh là Tu, nên thành Quy Tắc. Toàn Tu là Tánh, nên vốn Vô Vi. Rõ được Tánh vốn Vô Vi bèn chẳng hướng đến Bồ Đề, vì vốn tự trong sạch. Chẳng trừ phiền não, vì vốn tự Vô Lậu. Nhậm vận liền liền, trọn gọi là Thật Hạnh. Nếu một niệm dính vào hữu vi thì trọn chẳng phải Chân vậy. Hữu vi thuộc về tạo tác, làm sao được là Bổn Nhiên. Đức Mã Tổ khai thị cho đại chúng rằng : “Đạo chẳng dùng tu, chỉ không ô nhiễm. Sao là ô nhiễm ? Hễ có tâm sanh tử tạo tác hướng theo đều là ô nhiễm. Như muốn hội thẳng vào Đạo thì bình thường tâm là Đạo. Sao là bình thường tâm ? Không tạo tác, không thị phi, không nắm bỏ, không đoạn thường, không phàm không Thánh. Kinh nói “Chẳng phải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh Thánh Hiền đó là hạnh Bồ Tát”. “Chỉ như nay đi, đứng, nằm, ngồi, ứng cơ tiếp vật trọn hết là Đạo. Đạo chính là Pháp Giới, cho đến hằng sa diệu dụng chẳng lọt ra ngoài Pháp Giới. Nếu chẳng như thế sao nói được là Tâm Địa pháp môn ? Sao nói là Vô Tận Đăng ? Tất cả pháp đều là tâm pháp. Tất cả danh đều là tâm danh. Muôn pháp đều từ tâm sanh. Tâm là nguồn gốc của vạn pháp. Kinh nói “Rõ Tâm, thấu suốt nguồn gốc, nên gọi là Sa Môn”. “Danh bình đẳng, nghĩa bình đẳng, tất cả các pháp đều bình đẳng thuần nhất không tạp. Nếu ở trong giáo môn được tùy thời tự tại, kiến lập pháp giới thì trọn cả là pháp giới, nếu lập Chân Như thì trọn cả là Chân Như, nếu lập Lý thì tất cả pháp trọn là Lý, nếu lập Sự thì tất cả pháp trọn là Sự. Đưa lên thì một thì ngàn theo, Lý-Sự không khác, trọn hết thảy là diệu dụng, không còn Lý nào khác, tất cả đều do sự xoay chuyển ứng dụng của Tâm. Thí như bóng trăng có biết bao nhiêu mà mặt trăng chỉ là một cái. Các loại nước có biết bao nhiêu mà Tánh nước vốn là một. Mọi thứ lập thành đều do Nhất Tâm vậy. Kiến lập cũng được, quét sạch cũng được, trọn cả là diệu dụng, đều là nhà mình, chẳng có lìa Chân Như mà có được chỗ lập. Chỗ kiến lập tức Chân, trọn cả là Chân Thể của nhà mình. Nếu chẳng như thế lại là ai khác ? Tất cả pháp đều là Phật Pháp. Hết thảy các pháp, đó là giải thoát. Giải thoát tức là Chân Như. Các pháp chẳng ra ngoài Chân Như. Đi, đứng, nằm, ngồi chính là hoạt dụng Bất Khả Tư Nghì, nào đợi thời tiết. Kinh nói “Chốn chốn, nơi nơi ắt đều có Phật”. “Phật là Năng Nhân, tròn trí huệ, khéo cơ quyền, hay phá trừ lưới nghi của hết thảy chúng sanh, khỏi ngoài trói buộc của hữu, vô, tình phàm Thánh hết tận, Nhân-Pháp đều Không, chuyển pháp luân vô đẳng, siêu vượt số lượng, chỗ làm không ngại, Sự-Lý suốt thông. Như trời nổi mây, thoạt có liền không, chẳng lưu dấu ngại. Cũng như vẽ nước thành chữ, chẳng sanh chẳng diệt. Đó là Đại Tịch Diệt. “Trong trói buộc(20) có tên là Như Lai Tạng. Khỏi trói buộc(21) gọi là Thanh Tịnh Thân. Pháp Thân vô cùng, thể không tăng giảm, lớn được nhỏ được, vuông được tròn được. Ứng vật hiện hình, như trăng trong nước, làu làu vận dụng chẳng gieo mầm rễ. Chẳng hết hữu vi, chẳng trụ vô vi. Hữu vi là cái thường dùng của vô vi. Vô vi là chỗ nương của hữu vi. Không trụ vào chỗ nương nên gọi là Như Không Vô Sở Y. “Nghĩa tâm sanh diệt cũng là nghĩa Tâm Chân Như. Tâm Chân Như là như gương sáng soi hình tượng. Gương ví dụ cho Tâm, hình tượng ví dụ cho các Pháp. Nếu tâm bám nắm Pháp tức là dính líu với nhân duyên ở ngoài, đó là nghĩa sanh diệt. Chẳng bám nắm các Pháp đó là nghĩa Chân Như. “Thanh Văn thì nghe thấy Phật Tánh; Bồ Tát thì mắt thấy Phật Tánh. Rõ thấu Vô Nhị gọi là Tánh Bình Đẳng. Tánh nào có khác nhau, Dụng thì chẳng đồng. Ở mê là Thức, ở ngộ là Trí. Thuận với Lý là ngộ, thuận với sự là mê. Mê tức là mê Bổn Tâm chính mình. Ngộ tức là ngộ Bản Tánh chính mình. Liền ngộ thì vĩnh viễn là ngộ, chẳng trở lại mê. Như mặt trời mọc chẳng hợp với tối. Mặt trời Trí Huệ hiện ra thì chẳng còn tối tăm phiền não. “Tỏ suốt tâm cùng cảnh giới, vọng tưởng liền chẳng sanh. Vọng tưởng đã chẳng sanh đó là Vô Sanh Pháp Nhẫn. Xưa có, nay có, chẳng mượn tu Đạo, tọa thiền. Không tu, không tọa đó là Như Lai Thanh Tịnh Thiền. “Như nay mà thấy lý chân chánh này thì chẳng tạo các nghiệp, tùy phận qua một đời, một thân một áo, ngồi đứng có nhau, Giới Hạnh tăng huân chứa trong nghiệp sạch. Chỉ là như thế, lo gì chẳng thông. Các người đứng đã lâu. Trân trọng !” Đại sư Mã Tổ nói về cái Bản Lai Chân Thật, không mượn tu làm, mà lại không phế bỏ Giới Hạnh tăng huân chứa trong nghiệp sạch. Quả là đắc pháp yếu Viên Đốn. Mười Hạnh như vậy chẳng rời Mười Trụ ở trước, tùy theo địa vị tiến tới thêm, không Hạnh nào mà chẳng khai thác Tánh Giác, đó là thành thục quả Phật mà thôi. Trụ, tiếp theo đó là Hạnh chính là muốn chẳng trụ vào chỗ nương-y mà hành Bồ Tát Hạnh, rõ ràng như Đại Sư Mã Tổ chỉ bày. Đó mới là một vị (mùi) Chân Thật Hạnh vậy. V. THẬP HỒI HƯỚNG Kinh : “Anan, người thiện nam ấy đầy đủ thần thông, thành tựu Phật sự rồi, thuần khiết tinh chân, xa các lỗi nạn. Hiện độ chúng sanh mà diệt dứt các tướng hóa độ. Quày tâm vô vi hướng lối Niết Bàn, gọi là Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sanh, Ly Chúng Sanh Tướng Hồi Hướng. Thông rằng : Mười Hạnh đã đủ, hiện trần, hiện sát, Một là Vô Lượng, Vô Lượng là Một, đó là Thần Thông. Hay thành tựu quy tắc của mười phương Chư Phật, đó là Phật sự. Thuần khiết tinh chân chỉ một cái Chân Thật duy nhất, trong sạch không phiền não, xa lìa các lỗi nạn ngăn ngại, có thể nói là người tự độ vậy. Cứ thế mà một đường nhắm hướng Vô Vi thì gọi là người rõ xong, cho nên đảm đương việc độ thoát chúng sanh. Giả sử khi độ chúng sanh mà hình tướng hóa độ chưa diệt tức là bám mắc vào Ngã, Nhân, Chúng Sanh, Thọ Giả. Cho nên phải diệt dứt những sự làm vẻ có cứu độ, quày cái tâm vô vi của ta, hướng về hết thảy chúng sanh kia mà cùng bước vào con đường Niết Bàn Tịch Diệt. Tự chứng Niết Bàn, Tánh vốn Vô Vi. Hiện dẫn dắt chúng sanh hướng bước chốn Niết Bàn cũng chỉ là Vô Vi. Nên suốt ngày độ thoát chúng sanh mà thật không có tướng độ nào để đắc. Nếu thấy có người để cứu độ liền dính lấm hữu vi, trái ngược với đường Niết Bàn Tịch Diệt, chẳng trở về được cội gốc quyết định chẳng sanh chẳng diệt vậy. Nên diệt dứt các tướng hóa độ tức gọi là Ly Chúng Sanh Tướng Hồi Hướng. Tướng độ thoát còn không có, tướng chúng sanh nào đâu có được ? Có nhà sư hỏi Tổ Hoàng Bá : “Phật có độ chúng sanh chăng ?” Tổ Bá nói : “Thật không có chúng sanh để Như Lai độ. Ngã chẳng thể đắc, phi ngã nào đâu để đắc ? Phật, chúng sanh đều chẳng thể đắc”. Nhà sư hỏi : “Hiện có ba mươi hai tướng cho đến việc độ chúng sanh, sao nói được là không ?” Tổ Bá nói : “Phàm hễ có tướng đều là hư vọng. Như thấy các tướng chẳng phải tướng liền thấy Như Lai”. Ông Sơn Nhân tên Sử hỏi thiền sư Khuê Phong : “Các kinh đều nói độ thoát chúng sanh, mà chúng sanh tức phi chúng sanh thì cớ sao phải nhọc nhằn độ thoát ?” Tổ Phong đáp : “Chúng sanh nếu là thật có thì độ thoát hẳn là nhọc nhằn. Còn đã tự nói “Tức phi chúng sanh” thì nào chẳng khác độ mà không độ”. Hợp hai chuyện trên là đủ để chú giải đoạn kinh này.
Lại như Nam Nhạc Huệ Tư đại thiền sư khi nghe
Ngài Chí Công sai người đến bảo rằng : “Sao chẳng
xuống núi giáo hóa chúng sanh mà cứ một mực làm kẻ
“Đưa mắt trông mây” là sao ?” Ngài Bảo Giác Nhất tụng rằng :
“Mắt nhìn hơi khói, nằm mây trắng Ni sư Nhàn Lâm An tụng rằng :
“Một miệng nuốt luôn Phật, chúng sanh
Như đại sư Huệ Tư(22) thật đắc Ly Chúng sanh
Tướng Hồi Hướng vậy. Há chỉ chứng địa vị Thiết Luân
mà thôi ư ? Kinh : “Hoại diệt cái có thể hoại diệt, xa lìa các sự lìa, gọi là Bất Hoại Hồi Hướng. Thông rằng : Hoại diệt cái có thể hoại diệt tức là lìa chúng sanh tướng. Xa lìa các sự lìa tức là chỗ lìa tướng cũng lìa bỏ. Hoại diệt các tướng là Sở Không, xa lìa sự lìa là Năng Không. Năng Sở đều Không mà Bản Giác chẳng hoại, nên gọi là Bất Hoại Hồi Hướng. Nói là Bất Hoại để mà phân biệt với cái Ngoan Không của Nhị Thừa và Đoạn Kiến của ngoại đạo. Tuy hoại diệt các tướng mà cái Bất Hoại vẫn thường tồn, thế mới là Bất Hoại Hồi Hướng vậy. Chân thiền sư hỏi Bổn Tịnh thiền sư : “Đạo đã vô tâm thì Phật có tâm chăng ? Phật và Đạo là một hay là hai ?” Tổ Tịnh nói : “Chẳng một, chẳng hai”. Thiền sư Chân hỏi : “Phật độ chúng sanh vì là có tâm. Đạo chẳng độ chúng sanh vì là vô tâm. Một độ, một chẳng độ sao lại không hai ?” Đáp rằng : “Nếu nói Phật độ chúng sanh, Đạo thì không độ : đó là Đại Đức vọng sanh nhị kiến. Như sơn tăng thì chẳng thế. Phật là hư danh, Đạo cũng vọng lập, cả hai đều không thực, toàn là giả danh. Trọn trong một cái giả, làm sao phân hai ?” Hỏi : “Phật và Đạo nếu là giả danh thế ngay khi lập danh đó là ai lập ? Nếu có người lập sao lại nói không ?”
Đáp : “Phật và Đạo nhân tâm mà lập. Suy cho cùng
cái tâm lập ra này thì cũng là không. Cả hai đều
chẳng thực, biết như mộng huyễn liền tỏ ngộ cái Bổn
Không. Gượng lập hai danh Phật, Đạo đó là kiến giải
hàng Nhị thừa”.
“Thấy Đạo mới tu Đạo
Hình gỗ múa rối có thể hoại diệt, nhưng người làm
cho hình gỗ múa rối chẳng thể hoại diệt, nên khi
tướng chúng sanh hoại thì đó là hư không chẳng hoại,
chứ chẳng phải lìa ngoài cái tướng bị hoại diệt mà
riêng có cái gọi là chẳng hoại. Ngay hoại là chẳng
hoại, nên gọi là Bất Hoại Hồi Hướng. Kinh : “Bản Giác lặng trong như nhiên, Giác ấy bằng cái Giác của Phật, gọi là Đẳng Nhất Thiết Phật Hồi Hướng. Thông rằng : Hành tướng có thể hoại diệt, nhưng cái Biết sự hoại diệt thì chẳng hoại. Cái lìa có thể lìa, nhưng cái Biết sự lìa thì chẳng có lìa. Đây là Bổn Giác vậy. Lặng trong hợp vào lặng trong, Thức tức là Trí, cũng có thể gọi là lặng trong như nhiên. Chỗ này nói “Bản Giác lặng trong như nhiên” thì chẳng phải là chỗ không dao động của Thức lặng yên vậy. Chỉ vì cái Bổn Giác này chẳng phải là Thức, nên có thể ngang bằng cái Giác của Phật. Tình phàm Thánh giải tất cả tiêu tan, chỉ còn một cái Chân thật, nên có thể bằng ngang với tất cả Chư Phật. Tuy ngang với cái Giác của tất cả Chư Phật, nhưng không phải là Đẳng Giác vì còn sự hồi hướng trong đó, còn có sự tiến đến ở trong đó, nên gọi là Đẳng Nhất Thiết Phật Hồi Hướng. Tổ Hoàng Bá nói : “Bậc Thanh Văn là do âm thanh mà đắc ngộ nên gọi là Thanh Văn. Chỉ là chẳng rõ Tự Tâm, ở trên Thanh Giáo(23) khởi ra hiểu biết, hoặc do thần thông, hoặc nhờ tướng tốt, ngôn ngữ vận động, nghe có Bồ Đề Niết Bàn, trải qua ba tăng kỳ kiếp tu thành Phật Đạo, đều thuộc về đạo Thanh Văn, gọi là Thanh Văn Phật. Độc chỉ ngay đây tức thời rõ suốt Tự Tâm, xưa nay là Phật, không một pháp khá đắc, không một Hạnh để tu, đó là Vô Thượng Đạo, đó là Chân Như Phật. “Này người học Đạo, chỉ sợ một niệm có : liền cách xa Đạo. Niệm niệm Vô Tướng, niệm niệm Vô Vi, tức đó là Phật. Này người học Đạo, như muốn thành Phật thì tất cả Phật Pháp đều chẳng dùng đến chuyện học, độc chỉ học không cầu, không bám mắc. Không cầu thì tâm chẳng sanh, không bám mắc thì tâm chẳng diệt. Chẳng sanh chẳng diệt, tức đó là Phật. “Tám vạn bốn ngàn pháp môn để đối với tám vạn bốn ngàn phiền não,, đó chỉ là cửa dẫn dắt giáo hóa, vốn thật chẳng có pháp nào. Lìa tức là pháp; biết lìa, đó là Phật. Chỉ lìa tất cả phiền não thì liền chẳng có pháp nào để đắc”. Nếm được mùi vị “Biết lìa là Phật” của Tổ Hoàng Bá thì rõ ràng cái ý kinh “Bản Giác lặng trong như nhiên, Giác ấy bằng cái Giác của Phật”. Lại như Ngài Huệ Siêu hỏi Tổ Pháp Nhãn : “Như sao là Phật ?” Tổ Nhãn nói : “Ông là Huệ Siêu”. Vị tăng hỏi Tổ Sơ Sơn : “Như sao là Phật ?” Tổ Sơn nói : “Sao chẳng hỏi cái lão già Sơ Sơn ?”
Như lời đáp ấy là quá chừng nhiều. Thảy cốt đề
tỉnh Bản Giác, thì ngay đây bình đẳng với Phật. Kinh : “Tinh Chân phát sáng, địa như Phật Địa, gọi là Chí Nhất Thiết Xứ Hồi Hướng. Thông rằng : Cái Tinh Chân của Bản Giác chẳng phải chỉ là linh nhiệm sáng suốt vững bền mà thôi, lại có thể phát sáng rải bày, bước đi để thành Địa Vị. Địa Vị như Phật Địa, đối với Trị Địa Trụ ban đầu thật khác xa vậy. Có cái Thể của Chân Như toàn khắp pháp giới như thế thì cũng cùng ngay cái Dụng của Chân Như toàn khắp pháp giới như thế. Cho nên, cái Giác của Phật cùng khắp tất cả chỗ thì cái Hành của Phật cũng cùng khắp tất cả chỗ. Có chỗ chưa khắp thì chẳng phải là Phật Địa. Đây chỉ mới có thể như Phật chứ chưa có thể là một với Phật, nên gọi là Chí Nhất Thiết Xứ Hồi Hướng. Vị tăng hỏi Tổ Lâm Tế : “Thế nào là Tam Nhãn Quốc Độ ?” Tổ Lâm Tế nói : “Ta cùng ông vào trong quốc độ Tịnh Diệu, mặc áo thanh tịnh, thuyết nói Pháp Thân Phật. Lại vào trong quốc độ Vô Sai Biệt, mặc áo không sai biệt, thuyết nói Báo Thân Phật. Lại vào trong quốc độ Giải Thoát, mặc áo quang minh, thuyết nói Hóa Thân Phật. Tam Nhãn Quốc độ này đây đều là Y Báo biến hóa. Theo các kinh luận gia thì lấy Pháp Thân làm căn bản, Báo Thân, Hóa Thân là Dụng. Chỗ thấy của sơn tăng thì Pháp Thân chẳng mượn đến lời nói. Bởi thế cổ nhân nói “Thân (Pháp, Báo, Hóa) y theo nghĩa mà luận, Độ căn cứ nơi Thể mà luận”. Pháp Tánh Thân, Pháp Tánh Độ rõ ràng là pháp kiến lập. Quốc độ y-thông là nắm tay không, là chiếc lá vàng để dối gạt trẻ nít. Trái tật lê, củ ấu sừng hột khô queo thì tìm nước gì đây ? Ngoài tâm không pháp, trong còn chẳng thể đắc thì cầu vật gì ? Thiền sư Thiên Y Hoài thượng đường : “Vô biên cõi Phật, đây kia chẳng cách hở mảy lông. Hãy nói Bất Động Như Lai thế giới Diệu Hỷ thuyết pháp gì đó? Bao đời xưa nay thủy chung chẳng lìa Đương Niệm. Vậy như trong một hội tối sơ Phật Oai Âm Vương độ người nhiều ít ? Như thật là người suốt khắp thử nói xem !” Giây lâu, Ngài nói : “Đường đi khó ! Đường đi khó ! Đầu núi muôn tầm ông tự thấy !” Bởi thế, ngộ Pháp Tánh Thân, Pháp Tánh Độ cốt yếu là quay về Vô Vật(24), đó là Chân Phật Địa.
Nếu có chỗ đắc thì đã có nơi chốn, làm sao “Đến
khắp tất cả chỗ(25)” ?” Kinh : “Thế giới, Như Lai hỗ tương, dung nhập, được không chướng ngại, gọi là Vô Tận Công Đức Tạng Hồi Hướng. Thông rằng : Thế giới tức là Chân Như Pháp Giới, thuộc Tướng Phần. Như Lai tức là Chân Như Bản Thể, thuộc Kiến Phần. Kiến Phần và Tướng Phần vốn đồng một nguồn nên tuy Căn Trần phân minh, mà đây kia vẫn là dung nhập. Nêu Kiến Phần thì Tướng Phần ở ngay trong đó. Nêu Tướng Phần thì Kiến Phần ở ngay trong đó. Tức Kiến không gì chẳng phải là Tướng, tức Tướng không gì chẳng phải là Kiến. Thế nên, Thế Giới, Như Lai hỗ tương dung nhập. Vốn không chướng ngại mà chẳng khỏi có chướng ngại, là cái thấy chưa dung thông vậy. Tinh chân phát sáng đến khắp mọi chốn nhưng vẫn còn ở mọi nơi chốn thấy có hai. Nay hỗ tương dung nhập, tinh chân là tất cả mọi chốn, tất cả chốn chính là tinh chân. Tâm, cảnh trọn dung thông, cả hai không ngăn ngại. Lý chẳng ngại Sự, Sựï chẳng cản Lý, đầy ắp tất cả chỗ, nên gọi là Vô Tận Công Đức Tạng. Vô Lượng Công Đức của mười Hạnh trước chỉ đủ đức ở thân, còn Vô Tận Công Đức Tạng này là kho công đức không cùng, dùng mà chẳng hết, lấy ra chẳng cạn, ấy là chỉ cái Biển Tạng Thức Như Lai vậy. Hầu như ngang bằng với Hư Không Tạng Bồ Tát, thân và cõi dung nhập mà hay rộng làm Phật sự, tùy thuận chúng sanh.
Ngài Ngũ Tổ Diễn thượng đường rằng : “Ngàn núi
bày xanh, bến liễu rủ vàng, lão tiều ca hát, ngư ông
nhảy múa, sênh phách rộn ràng, chim hát líu lo,
người đẹp phấn hồng, công tử phong lưu, mỗi mỗi đều
vì các ông mà phát tỏ cái thượng thượng cơ, mở ra
Chánh Pháp Nhãn. Nếu hướng trong ấy mà tiến cử được
thì Kim Sắc Đầu Đà(26) không chỗ dung thân. Nếu
chẳng am hiểu, ăn cháo, nhai cơm, chịu cho ông bảy
hang tám lỗ(27)!”
“Ai tin Thiên Chân Phật ?
Đây là Thế Giới, Như Lai chung thành một phiến.
Theo đây mà ngộ nhập gọi là Chân Giải Thoát. Dùng
công đức này tiếp dẫn chúng sanh, vì thế giới vô tận
nên công đức cũng là vô tận. Kinh : “Ở nơi đồng với Phật Địa, trong ấy mỗi mỗi sanh nhân thanh tịnh. Nương nhân ấy mà phát huy, giữ lấy đạo Niết Bàn, gọi là Tùy Thuận Bình Đẳng Thiện Căn Hồi Hướng. Thông rằng : Đồng Phật Địa, đồng thanh tịnh, đồng Niết Bàn sao lại nương nơi nhân mà phát huy mỗi mỗi chẳng đồng ? Đó là do các thiện căn đã trồng trong những đời trước, mỗi cái do sự huân tập mà có đặc tánh riêng. Tánh thiện tuy bình đẳng mà do căn (rễ) nảy mầm, nương Nhân chứng Quả mà muôn vật chẳng đồng. Dầu chẳng đồng vẫn không ngại sự tự tu tự ngộ, chứng lấy Niết Bàn. Đúng là chẳng cần cố chấp một pháp môn, mỗi mỗi phải đều theo một lối. Nói tùy thuận nghĩa là tùy theo căn cơ mà tiếp dẫn, chứ chẳng miễn cưỡng làm chỗ không thể được. Đây mới là quyền nghi lớn để độ khắp chúng sanh vậy.
Ngài Tuyết Phong ở nơi Tổ Động Sơn làm đầu bếp. Ngài Đầu Tử nêu ra rằng : “Này đại chúng ! Tổ Động Sơn nói như vậy là đạo lý gì thế ? Tuy là một sắc Càn Khôn, khốn nỗi núi cao sông rộng. Bởi thế lão dã này nói “Công phu chẳng tới, chẳng vuông tròn. Ngôn ngữ không thông chẳng phải bà con””. Bèn thay thế, nói : “Đãi cát bỏ gạo, đãi gạo bỏ cát : Cây quế trường sanh không ảnh, trải qua sương tuyết kết trái đều”.
“Đại chúng lấy gì ăn : Chim Kim Phụng hái bông
ngậm chẳng hết, Ngọc Sô(28) ăn nhụy lá tươi hoài”.
“Hiện đầy bình bát : không một vật
Ngài Đầu Tử rất rành ý chỉ của Tổ Động sơn, biện
biệt rất rõ ràng. Ở đây, thiện căn của năm Tông, mỗi Tông đều có chỗ khế hợp riêng. Chẳng phải chỉ có Tổ Động Sơn chỉ dạy Ngài Tuyết Phong đến Tổ Đức Sơn mà thôi.
Từ Tổ Huệ An ở Tung Sơn chỉ cho Ngài Nam Nhạc
Hoài Nhượng đến ra mắt Đức Lục Tổ, Tổ Thạch Đầu chỉ
Ngài Dược Sơn ra mắt Đức Mã Tổ, rồi Đức Mã Tổ chỉ
Ngài Đơn Hà đến Ngài Thạch Đầu đều là tùy thuận
thiện căn bình đẳng, khiến nương nơi nhân mà phát
huy, giữ lấy đường Niết Bàn. Nào có từng cố chấp
theo riêng một pháp môn để chứng Cực Quả đâu? Kinh : “Chân Căn đã thành, mười phương chúng sanh đều là Bản Tánh của mình. Tánh tròn vẹn tựu thành, không bỏ sót một chúng sanh, gọi là Tùy Thuận Đẳng Quán Nhứt Thiết Chúng Sanh Hồi Hướng. Thông rằng : Thiện căn là cái thiện căn ai cũng sẵn đủ. Nương thiện căn này, giữ lấy đường Niết Bàn thì thiện căn hóa thành Chân Căn vậy. Không còn cái Thiện nào để chỉ ra, độc chỉ một cái Chân Thật, Thể Tánh viên dung toàn khắp Pháp Giới, nên chúng sanh mười phương đều là Bản Tánh của mình. Bản Tánh đã tròn vẹn, đã tự thành tựu, nên gọi là Viên, không ngại mà hội với chúng sanh thành một Thể, nhưng cũng chẳng bỏ mất tướng chúng sanh. Chúng sanh chưa hẳn mỗi mỗi đều thành tựu, nhưng Tánh ta tròn vẹn thì không một chúng sanh nào chẳng phải là Phật Tánh. Bởi thế Tánh tròn vẹn thông suốt tựu thành, cho đến không bỏ sót một chúng sanh nào cả. Sự Tùy Thuận Đẳng Quán Nhất Thiết Chúng Sanh này thì chẳng kể người, vật, thiện, ác... dưới đến các loài xuẩn động hàm linh đều có Phật Tánh. Không chỉ tùy thuận bình đẳng thiện căn mà thôi, như Ngài Thường Bất Khinh Bồ Tát, gặp ai cũng lễ lạy mà nói : “Tôi chẳng dám khinh các người. Các người đương nhiên sẽ thành Phật”, thật hợp ý chỉ này. Thiền sư Dục Vương Dụ thượng đường : “Trọn khắp đại địa là con mắt của Sa Môn, khắp mười phương là ánh sáng của tự mình. Vậy thì cớ sao ở Đông Phất Du Đãi đánh trống thì Tây Cù Da Ni chẳng nghe ? Nam Thiệm Bộ Châu đốt đèn, Bắc Uất Đơn Việt vẫn tối. Dù cho hướng vào trong ấy nói được đầy đủ thì vẫn còn ở trong bóng dáng mà làm kế sanh nhai !” Ngài rung cây phất tử, nói : “Trăm thứ tạp nhạp nát rồi, sao là một đường thoát thân ?” Ném cây phất tử đi, nói : “Hãy tham ! Chuyện này mà chẳng thực tham, thực chứng, làm sao trộm thấy tin tức của Chân Căn ?”
Ngài Tuyết Phong dạy rằng : “Ở đình Vọng Châu đã
cùng các ông tương kiến rồi ! Ở đỉnh Ô Thạch đã cũng
các ông tương kiến rồi ! Trước tăng đường đã cùng
các ông tương kiến rồi vậy !” Kinh : “Tức cả thảy pháp, lìa cả thảy tướng. Cả Tức và Lìa đều không chỗ dính mắc, gọi là Chân Như Tướng Hồi Hướng. Thông rằng : Ở trước, nói “Lìa cả thảy tướng, tức cả thảy pháp” ấy là nơi tướng mà lìa tướng, vẫn còn có tướng của pháp vậy. Ở đây, nói “Tức cả thảy pháp, lìa cả thảy tướng” ấy là nơi pháp mà lìa pháp, quên mất cả pháp tướng vậy. Có Tức có Lìa thì tuy không có pháp tướng nhưng chẳng phải không có cái không pháp tướng, đó cũng còn là sự trừ bỏ pháp tướng. Ở đây thì đồng đều là không có, mảy tơ hết sạch, chỉ một Chân Thể như như bất động. Đó gọi là Chân Như Tướng, chẳng thể lấy các thứ tướng như Tướng, Pháp Tướng cho đến sự trừ bỏ Pháp Tướng mà so sánh được. Chỗ nói “Lìa cả thảy tướng” tức xem sự lìa Tướng chúng sanh là nhiệm mật. Chỗ nói “Cả hai đều không dính mắc” tức xem sự xa lìa các thứ Lìa là nhiệm mật. Đến đây thì Sở Tri Chướng đã được trong sạch, cái Chân Tánh hiện tiền, đến không từ đâu, đi không về đâu, vốn tự như như, nên gọi là Chân Như. Thiền sư Dục Vương Dụ thượng đường : “Khi hành bặt mất dấu của hành, khi thuyết không có vết của thuyết. Hành, thuyết mà có chỗ đến ắt có đích sanh ra thì tên liền tới. Hành, thuyết chưa sáng rõ ắt mũi kiếm linh quyết đoán vạch rõ. Dù cho thuyết không có sấm lậu, hành chẳng mê nơi chốn thì vẫn còn vướng mắc ở xác thân. Nếu là đại bàng cánh vàng thì vút lên trăm ngàn do-tuần. Nếu là ngựa Thần Câu thập ảnh thì ruổi nhanh bốn phương tám cõi, chẳng cần thứ lớp ăn uống, chẳng theo chốn mà chôn thân. Tóm lại, chẳng có dựa nương thì lại có cái phần dẫm bước, thực hành không nhỉ ? Chốn chốn, mảy mảy, chính là Bờ Giác !”
Lời dạy này có thể nói là đắc cốt tủy Chân Như.
Chỗ đó mà được siêu thoát bèn khế hợp Như Như. Kinh : “Thật đắc Như Như, mười phương không ngại, gọi là Vô Phược Giải Thoát Hồi Hướng.
Thông rằng : Xa lìa các tướng, chỉ một Chân Như
thì gọi là Vô Phược, không trói buộc. Còn cái Tướng
Chân Như, ấy là còn bị cái Vô Phược trói buộc, chưa
thể Vô Ngại, nên chưa là Chân Giải Thoát. Ngài Lạc Phổ ban đầu làm thị giả của Tổ Lâm Tế. Tổ thường giữa chúng khen Ngài rằng : “Ấy là mũi tên chiếc trong môn hạ Lâm Tế, ai dám đối đầu với mũi nhọn ấy ?” Ngài Lạc Phổ tự cho là đã đầy đủ, từ giã Tổ đi du phương về Nam. Tổ Lâm Tế nói : “Môn hạ Lâm Tế có con lý ngư sạch chút đỉnh, ngoảy đầu quạt đuôi hướng về phía Nam, chẳng biết hướng về trong hũ dưa muối nhà nào mà chết vùi đây ?” Ngài Lạc Phổ đi du phương xong đến thẳng Giáp Sơn dựng am, suốt năm không hỏi thăm Tổ Giáp Sơn. Tổ bèn viết thơ bảo một vị tăng đưa sang. Lạc Phổ tiếp thơ bèn cất luôn, lại đưa tay đòi nữa, vị tăng không đáp được. Ngài Lạc Phổ bèn đánh mà nói : “Về nói y lại cho Hòa Thượng”. Vị tăng về kể lại cho Ngài Giáp Sơn, Tổ nói : “Ông tăng ấy mà mở thơ ra thì trong ba ngày phải đến đây. Còn chẳng mở thơ thì không cứu nổi ông ta rồi”. Ba ngày sau, quả Ngài Lạc Phổ đến ra mắt Tổ Giáp Sơn, không lễ bái, ngay trước mặt Tổ mà đứng.
Tổ Sơn nói : “Gà nương ổ phụng, chẳng cùng đồng
loại. Lui ra !”
Tổ Sơn : “Chớ có hấp tấp vội vàng ! Phải biết
mây, trăng thì đồng, mà núi, khe mỗi khác. Cắt đứt
đầu lưỡi thiên hạ thì chẳng phải là không có, còn
làm sao dạy người không có đầu lưỡi mở lời ?” Tổ Sơn bèn đánh. Lạc Phổ bèn khuất phục. Quả nhiên là hướng vào trong hũ dưa muối của Giáp Sơn mà chết vùi. Ngài Đầu Tử nêu lên rằng : “Đến trong ấy, làm sao đây ? Nói được một câu thì đồng thân, cùng mạng, một hơi thở, liền lá cành !”
Rồi nói thay : “Đôi phụng không mắt đủ năm màu.
Vọt lên trời không thấu mây xanh !”
“Người đá không bạn đêm vào núi
Hai câu đầu tụng ý chỉ : Dứt hết đầu lưỡi người
trong thiên hạ, chỗ ẩn thân, mất dấu vết.
Cái ông Lạc Phổ lộn xộn, chỉ được một cái hàm
thiết, đã bị Tổ Lâm Tế khám phá. Giả sử không gặp Tổ
Giáp Sơn thì cơ hồ bị cái Vô Phược trói buộc mà tống
táng một đời vậy. Kinh : “Tánh Đức viên thành, hạn lượng về Pháp Giới diệt mất, gọi là Pháp Giới Vô Lượng Hồi Hướng. Thông rằng : Từ Chân Như Tánh phát khởi cái Đức Dụng. Ba Đức Lý, Trí, Hạnh đều tròn vẹn. Lý, Sự vô ngại, Không, Có đều chẳng phải. Thành tựu thuần nhiên Một Tánh, rốt ráo không còn dấu vết. Ở trước nói “Đến tất cả chỗ” là dường còn cái thấy có hạn lượng(32), nên Pháp Giới Tánh chưa lìa hữu lượng. Nay hạn lượng về Pháp Giới diệt mất(33), nên gọi là Vô Lượng(34).
Tổ Phật Quả Khắc Cần gặp cư sĩ Trương Vô Tận, đàm
luận ráo riết về yếu chỉ kinh Hoa Nghiêm.
Tổ Khắc Cần bèn hỏi : “Đến chỗ này thì cùng với ý
Tổ Sư từ Tây sang là giống hay khác ?” Tổ cười nói : “Chẳng phải ! Chính vì còn trong cái suy lường về Pháp Giới nên hạn lượng về Pháp Giới chưa diệt mất. Nếu vào đến Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới, hạn lượng về Pháp Giới diệt mất, mới nên nói Thiền ! Như sao là “Phật là que cứt khô” ? Như sao là “Phật là ba cân gai” ? Thế nên Tổ Chân Tịnh có kệ rằng :
“Sự Sự vô ngại Cư sĩ : “Chỗ luận bàn tuyệt thay ! Há dễ được nghe ư ?” Như diệu nghĩa này, chẳng bàn luận sâu xa như vậy thì không thể giãi bày hết yếu chỉ. Mười địa vị Hồi Hướng ở trên là hồi Chân, hướng Tục, hồi Trí hướng Bi khiến Chân - Tục viên dung, Trí - Bi bất nhị. Đến đây hạn lượng, tình kiến đều đã hồn hóa, mới có thể đăng địa, chứng quả Bồ Tát vậy. VI. TỨ GIA HẠNH Kinh : “Anan, người thiện nam đó tu hết bốn mươi mốt tâm thanh tịnh ấy rồi, tiếp đến thành tựu bốn thứ Gia Hạnh Diệu Viên : tức lấy Phật Giác dùng làm tâm mình, như ra mà chưa ra, cũng như dùi cây cho ra lửa để đốt cái cây, gọi là Nỗn Địa. Thông rằng : Bốn mươi mốt tâm ở trên, từ Càn Huệ đến Mười Hồi Hướng lần hồi sửa trị, lần hồi điều phục, đào thải phàm tình, đã thành cùng cực thanh tịnh. Nhưng Thánh vị khó lên, Thánh quả khó chín muồi. Đến miếng đất này, Thần không thể xét đến, “Hóa chẳng thể giúp tăng trưởng. An nhiên mà thong dong, chờ cái tự nó đến mà thôi vậy. Đức Thế Tôn nhiều kiếp tu hành, suốt thấu rõ ràng chỗ huyền vi, ở đây lại lập ra bốn thứ Gia Hạnh Diệu Viên. Giữa khoảng sắp thành tựu và chưa thành tựu, quả thực là có bốn địa vị này, chẳng phải là Phật nhãn thì ai mà biện biệt ra được ? Ở trước, nói “Giác bằng cái Giác của Phật”, ấy là ở trong tâm rõ ràng mà chưa thể dùng được. Đến đây thì “Lấy Phật Giác dùng làm tâm mình”, đưa lên xem ngắm mà chẳng ra, giống như dùi cây cho ra lửa mà cây chưa cháy, nên gọi là Nỗn(35) Địa. Lửa có ra thì cũng vô tâm, dùi lâu thì cây tự cháy. Giác mà dùng thì cũng vô ý, Định lâu thì Huệ tự hiện, trong khoảng ấy chẳng để cho sức người góp vào vậy. Tổ Thúy Nham Chân thượng đường, nêu lên bài tụng của Tổ Long Nha rằng : “Học đạo như dùi lửa, thấy khói chưa thể ngừng, chờ đến Kim Tinh hiện, về nhà mới đến nơi !” Và bài tụng của Tổ Thần Đỉnh rằng : “Học Đạo như dùi lửa, thấy khói có thể dừng, chớ chờ Kim Tinh hiện, cháy cẳng lại cháy đầu !” Tổ Chân nói : “Nếu luận Đốn thì Long Nha quả ở nửa đường ! Nếu luận Tiệm thì Thần Đỉnh mới ngộ ít. Ở đây thì thế nào ? Này các nhân giả, năm nay nhiều lá rụng, chỗ nào quét về nhà ?”
Theo chỗ thấy của Ngài Thúy Nham, cháy chẳng hết
thì hiện củi, dùng chẳng hết thì hiện lửa, thế dùng
sự dùi làm chi ? Tuy thế, phải là người xuất cách
mới xong ! Kinh : “Lại lấy tâm mình thành chỗ hành vi của Phật. Hình như nương mà chẳng phải nương, như lên núi cao, thân đã vào hư không mà bên dưới còn chút ngăn ngại, gọi là Đảnh Địa. Thông rằng : Chỗ thấy cùng Phật không khác, nhưng còn phải quý trọng hành vi cho tương xứng. Nếu đã có thể lấy cái Giác của Phật dùng làm tâm mình thì có thể lấy tâm mình thành chỗ hành vi của Phật. Ở nơi hỗ tương đối đãi mà nói thì vì còn có cái thấy của Phật, của mình nên hình nhưng nương mà chẳng phải nương, là thấy có quy tắc của Phật. Hình như nương nơi Phật thì đó chỉ là quy tắc của mình. Nếu không có chỗ nương, đó là hành vi của Phật không vết tích. Nay có chút so nghĩ, tính toán, bởi vì lằn vết chưa mất. Giống như lên núi cao, thân đã vào hư không mà bên dưới còn chút ngăn ngại. Cho là Nương thì thân ở hư không nên chẳng phải nương vậy. Cho là Chẳng phải nương thì chân còn dẫm trên đảnh nên chẳng phải là Không nương. Sắp vào chỗ Thần Hóa mà còn chút đầu lông chưa tiêu dung, nên hình như có ngăn ngại. Kinh Đại Bát Nhã cho sự chấp trước hư không là Pháp Thân gọi là Đỉnh Đọa, rơi nơi đỉnh, chính thật tương đương với chỗ này.
Nhà sư hỏi Tổ Triệu Châu : “Như sao là cô đỉnh
Diệu Phong ?”
“Diệu Phong cô đảnh cỏ dẫy đầy Tôn Công Trường Khánh khá tiếc cho chính là sợ rớt trên đất bằng. Nếu rớt nơi đất bằng mà thương lượng thì trước sọ khô thấy quỷ ma vô số !
Lại như Tổ Động Sơn hỏi nhà sư : “Chỗ nào đến?” Như nhà sư này, đến đỉnh chẳng trụ thì còn gì ngăn ngại ? Tức là cái hoạn nạn Đỉnh Đọa còn không có, lo gì tai họa Đất Bằng ư ? Kinh : “Tâm, Phật cả hai đồng, khéo được Trung Đạo, giống như người biết nhẫn nhịn, chẳng phải ôm ấp, chẳng phải phát ra, gọi là Nhẫn Địa. Thông rằng : Tâm mình và hành vi Phật, cả hai dấu vết đều dung thông, hòa thành một thể, không còn ngăn ngại. Đã không phải Tức Tâm tức Phật, cũng không phải Phi Tâm phi Phật, chỉ nói là “Chẳng phải vật”, đó chỗ gọi là Trung Đạo. Ban đầu thì ngay chính giữa mà lần vào, cho đến khi Trung Đạo thuần chân. Thứ lớp Tín, Trụ, Hạnh, Hướng đến đây mới có thể khéo được Trung Đạo. Gọi là Khéo được thì chẳng phí mảy lông công lực, ấy là đắc cái Không-chỗ-đắc. Đã không chỗ đắc thì cũng không chỗ thuyết. Như người nhẫn nhịn, đã không ôm ấp lòng nghi mà cũng không nói ra, chỉ có im lặng ẩn chứa mà thôi, nên gọi là Nhẫn Địa. Quan Long Đồ tên là Vương Tiêu, tự là Quan Phục, một hôm ở chùa Chiêu Giác, nghe tiếng bản ra thiền mà có tỉnh ngộ. Bèn hỏi Tổ Nam Đường : “Tôi có cái chỗ-thấy, bỗng bị người hỏi, lại mở miệng chẳng được, chưa rõ lỗi ở đâu ?”
Tổ Đường nói : “Lỗi tại có cái chỗ-thấy”. Ông Vương Long Đồ tương tự chứng Nhẫn Địa, nhờ vài câu của Tổ Nam Đường mà chỗ-thấy liền mất. Nhưng cũng có trường hợp đã siêu quá Nhẫn Địa mà chưa thấu thoát. Như Ngài Ngũ Tổ Diễn được Ngài Phù Sơn Viễn chỉ đến ra mắt Tổ Bạch Vân Đoan. Ngài Ngũ Tổ Diễn đem chuyện nhà sư hỏi Tổ Nam Tuyền về ngọc ma-ni để xin bày dạy yếu nghĩa. Tổ Đoan liền quát nạt cho. Ngài Diễn lãnh ngộ, trình bài kệ Đầu Cơ rằng :
“Trước non một mảnh đất đai nhàn Tổ Đoan đặc biệt ấn khả, cho làm tri sự trong chùa. Chẳng bao lâu, Tổ Đoan đến nói rằng : “Có mấy vị thiền khách ở Lư Sơn tới, đều có chỗ ngộ nhập. Bảo y nói, cũng nói được có mối manh. Nêu nhân duyên hỏi y, cũng bày tỏ được. Bảo y hạ một câu chuyển ngữ, cũng buông ra được. Chỉ có điều là chưa ở trong đó”. Ngài Diễn ở chỗ này phát đại nghi, tự suy nghĩ rằng : “Đã ngộ rồi thì cũng nói được, rõ cũng đã rõ, thế sao lại chưa ở trong đó ?” Bèn tham cứu lâu ngày, bỗng nhiên tỉnh ngộ, lòng tiếc của báu trước kia một phen buông bỏ hết, chạy đi tìm Ngài Bạch Vân Đoan. Tổ Đoan dậm chân múa tay. Ngài Diễn cũng cười xòa một tiếng mà thôi. Tổ Diễn về sau nói với người ta rằng : “Tôi nhờ đó mà ra khỏi một xác chết, liền rõ được cái việc chở gió trong”.
Thế nên biết, mảy tơ chưa hóa thì vẫn còn Lý
Chướng. Bốn thứ Gia Hạnh diệu viên như thế, đâu chỉ
có bốn mối ư ? Kinh : “Số lượng tiêu diệt, sự Mê, Giác và Trung Đạo cả hai đều không danh mục, ấy là Thế Đệ Nhất Địa. Thông rằng : Tâm, Phật cả hai đồng, là đã quên đây, kia; khéo đắc Trung Đạo là đã lìa hai bên. Nhưng có hai cái đồng nhau, thế là còn tin tức trong đó. Đó là số lượng, đó là danh mục vậy. Số lượng là chỗ thế nhân có thể đo lường, danh mục là chỗ thế nhân có thể chỉ ra, tức là chẳng vượt khỏi thế gian.
Phật Thân là vô vi, chẳng rơi vào số lượng. Tiêu
diệt số lượng đo đếm đi thì chẳng có việc rơi vào
vậy. Sao gọi là tiêu diệt ? Cái gì có Đồng, có Khác,
có Mê, có Giác, có Được, có Mất đều thuộc vào số
lượng, đều có thể xếp thành danh mục. Hiện nay độc
chỉ khéo đắc Trung Đạo, nên không thể cho đó là Mê,
lại sắp cùng với chỗ sở đắc mà quên mất, nên không
thể cho đó là Giác. Chẳng thể suy đoán, chẳng thể
hình dung, chính là chỗ chân thực tiêu diệt mọi số
lượng vậy.
Có nhà sư hỏi Tổ Động Sơn : “Trong ba Thân, Thân
nào chẳng sa vào số lượng ?” Ngài Thiên Đồng tụng rằng :
“Chẳng nhập thế, chưa theo duyên Bài tụng này ở chỗ chẳng rơi vào số lượng lại càng thân thiết.
Thiền sư Đồng An Chí kế thừa Tổ Đồng An Phi. Khi
sắp thị diệt, Tổ Phi thượng đường nói : “Trước Đa Tử
tháp(36) toàn con cháu tuấn tú, việc của năm vị
trưởng lão tiền bối là thế nào ?” Cuối cùng Ngài Đồng An Chí bước ra, nói : “Đêm sáng ngoài rèm bày trải vững, muôn dặm vui ca đạo thái bình”.
Tổ Phi nói : “Phải là cái tên lừa ấy mới được”.
“Mé kia bờ nọ khó tương phùng Chỗ này thì Mê-Giác và Trung Đạo, cả hai đều không chỗ chỉ gọi, chính là chỗ hai cơ duyên chẳng đến nơi. Nhưng Ngài Đồng An Chí thì hai bên chẳng lập, Trung Đạo chẳng dừng, sắp Trung Đạo cũng chẳng ở. Thế mới là Chân Tông Vô Trước(37), trong tông môn là cao tột thứ nhất. Đâu phải chỉ là Thế Đệ Nhất Địa mà thôi sao ? VII. THẬP ĐỊA Kinh : “Anan, người thiện nam đó trong Đại Bồ Đề, khéo được thấu suốt. Giác thông với Như Lai, suốt hết cảnh giới Phật, gọi là Hoan Hỉ Địa. Thông rằng : Nói Đại Bồ Đề đó chính là “Một đường hướng thượng”, chỗ quan yếu của mệnh mạch Chư Phật. Nơi đây mà thấu suốt, đắc đại triệt ngộ, “Thấy các tướng chẳng phải tướng, bèn thấy Như Lai”. Đã thấy Như Lai, nên suốt hết cảnh giới Phật. Cảnh giới Phật thì chỉ Phật cùng với Phật mới có thể thông suốt cùng tột, đó là cảnh giới không thể nghĩ bàn. Lấy ba Đế(38) viên dung để tương ưng cũng chưa cùng tột. Trung Đạo thuần chân dường như không khác Bồ Đề, nhưng biết cái Trung Đạo chẳng an trụ, đó là Đại Bồ Đề vậy. Địa vị Hoan Hỉ Hạnh ở trước đầy đủ vô lượng diệu đức, mười phương đều tùy thuận, lấy chỗ công đức mà nói, nên thuộc về Hạnh. Ở đây bèn thấu suốt Vô Thượng Bồ Đề, vượt phàm vào Thánh, đã rảo bước trong cảnh Phật, đã lên quả vị nên gọi là Địa.
Bắt đầu được sự hoan hỉ của Pháp, hỉ là do thấu
suốt, đắc không có gì chướng ngại, mà thật là đắc
không chỗ đắc, hỉ không chỗ hỉ, chẳng phải là cái
hoan hỉ của thế tình có thể suy lường nổi. Khi đến kinh sư, ra mắt thiền sư Huệ Lâm Xung, gặp lúc vị tăng hỏi Tổ Tuyết Đậu : “Như sao là bổn nguyên Chư Phật ?” Đáp rằng : “Sắc lạnh ngàn núi”. Lời dứt, có tỉnh ngộ. Hơn năm trời chờ bổ nhậm, ông tham học với Ngài Thiều Sơn Cảo. Khi sắp đi nhậm chức, từ giã Ngài, Ngài căn dặn rằng : “Ông cứ thế mà dụng tâm, lo gì chẳng ngộ. Về sau hoặc có cái cảnh giới phi thường, hoan hỉ vô lượng thì thu thập cho mau. Nếu thu thập được liền thành pháp khí. Nếu thu thập chẳng được, liền có bệnh chẳng an mà thành cái lỗi lầm thất tâm đó”.
Chẳng bao lâu ông lại đến kinh sư, theo thiền sư
Chánh Giác Dật mà thưa hỏi nhân duyên. Một đêm vào thất, Tổ Dật đem chỗ trong Truyền Đăng Lục : “Quốc Vương Hương Chí hỏi Tổ Ba La Đề Tôn Giả : “Cái gì là Phật ?” Tổ Đề nói : “Tánh Thấy là Phật”, ra mà hỏi ông. Ông không nói năng được, càng nghi dữ. Bèn về chỗ ngủ, ngủ say.
Đến canh năm, tỉnh giấc, vừa chợt nhớ lại thì
thấy đủ thứ tướng lạ, trong ngoài thông suốt, sáu
căn chấn động, trời đất cùng quay, như mây mở trăng
hiện, vui không gì hơn. Bỗng nhớ lại lời dặn dò của
Tổ Thiền Sơn khi từ biệt mà nén lại, đợi đến sáng
mới thuật lại chỗ biết được. Tổ Dật nói : “Cái ấy là việc gì mà lại nói đến thực hành ?” Ông lặng im khế hợp. Về sau, có viết Phát Minh Tâm Địa Tụng tám bài, và thiên Minh Đạo Dụ Nho để cảnh tỉnh thế gian.
Như chỗ chứng của Ông Lưu, đối với Sơ Địa chưa
biết ra sao, nhưng cái hoan hỉ phi thường là đã
chẳng cô phụ sự thọ ký của Ngài Thiều Sơn. Cũng là
việc hiện thân Tể Quan mà đến đó ư ? Kinh : “Tánh Khác nhập vào Đồng, tánh Đồng cũng diệt, gọi là Ly Cấu Địa. Thông rằng : Ở trước thì Tâm, Phật hai cái đều Đồng, số lượng tiêu diệt là chỉ quy về một cái Tánh Thiện của ta mà luận. Nay thì tánh Khác nhập vào Đồng là nêu bày chúng sanh, quốc độ đồng một Tánh đây. Rắn, rồng lẫn lộn, phàm Thánh xen nhau, đó là cảnh giới của Bồ Tát. Nếu chẳng giác thông suốt ý chỉ chẳng dơ chẳng sạch của Như Lai thì chưa dễ thấu đạt chỗ này. Nếu thấy Tánh chúng sanh là khác, tức thấy chúng sanh dơ. Nay đã nhập vào Đồng là đã lìa cái dơ của bờ mé dơ vậy. Nếu thấy chúng sanh tánh Đồng thì tánh Đồng chưa mất, ấy là pháp dơ. Nay tánh Đồng cũng diệt mất, tức là lìa cái dơ của bờ mé sạch vậy. Cái Ly Cấu Địa này là chỗ tôn trọng trong địa vị Bồ Tát : dứt lìa cái dơ của bờ mé thanh tịnh, trở về Bản Thể vốn không dơ của Như Lai, chứ chẳng phải lấy sự lìa cái dơ của bờ mé dơ mà có thể bàn đến. Nhà sư hỏi Tổ Thụy Nham : “Như sao là Phật ?”
Đáp : “Trâu đá”. Tổ Thụy Nham khéo nói cái Đồng, Tổ Tào Sơn khéo nói cái Khác. Hợp hai tắc trên mà xem, ắt biết tánh Khác nhập vào Đồng thì không có cái Đồng nào để đồng. Lìa dơ thì thành khác, hóa ra là Khác ở trong Khác. Ở đây há có thể lấy sự nông cạn mà nhìn vào được ư ? Kinh : “Thanh tịnh cùng tột, sáng suốt sanh ra, gọi là Phát Quang Địa. Thông rằng : Như tấm gương tròn lớn bụi bặm không còn, đã gọi được là thanh tịnh, nhưng chẳng phải thanh tịnh cùng tột vì còn Pháp Cấu(39). Pháp Cấu đã lìa, cái Sở Tri Chướng sạch, rồi sau cái sáng suốt của Bổn Giác sanh ra, từ Định phát Huệ, tự có một phần ánh sáng rực rỡ, chẳng phải sự Giác Chiếu tầm thường có thể so sánh. Bài kệ ở trước đã nói : “Tịnh cực, sáng thông suốt. Lặng chiếu trùm hư không”, cảnh giới như thế thì mỗi mỗi đều tự sáng tỏ, vật vật đều tự suốt thông, há chỗ ấy còn có sự lờ mờ ư ?
Tổ Động Sơn hỏi Ông Mật Sư Bá : “Làm gì thế?”
“Đại địa lửa phát
Đó là chỉ ra cái Chân Ngộ đã phát, liền cùng
Phật, Tổ tâm tâm ấn nhau. Cái Phát Quang Địa này
chẳng thể dễ dãi đàm luận.
“Ba gian nhà lá xưa nay ở
Chỗ Ngài nói chẳng phải là “Thanh tịnh cùng tột,
sáng suốt sanh ra” đó ư ? Kinh : “Sáng suốt cùng tột, Giác đầy khắp, gọi là Diệm Huệ Địa. Thông rằng : Sáng suốt đã cùng tột, Giác đã đầy khắp, giống như đống lửa lớn, đụng vào là cháy thiêu, cả thảy bóng duyên (duyên ảnh) đều thiêu tuyệt. Không chỉ nói là Huệ mà nói Diệm Huệ(40) là Huệ đến tột mức vậy. Cái ấy chẳng thể gần, tức là Bát Nhã Trí. Như con trùng rất nhỏ nhặt, chỗ nào cũng đậu vào, nhưng không thể đậu trên ngọn lửa cháy sáng. Cái thức lự(41) chốn chốn đều duyên ra, nhưng không thể duyên ra trên Trí Bát Nhã, nên gọi là Diệm Huệ Địa. Tổ Bàn Sơn thượng đường : “Cái tâm-nguyệt một mình tròn vẹn kia, ánh sáng nuốt muôn tượng. Ánh sáng chẳng phải chiếu cảnh, cảnh cũng chẳng còn. Ánh sáng và cảnh đều mất, đó là vật chi ?” Tổ Động Sơn riêng nói rằng : “Ánh sáng và cảnh chưa mất, đó là vật gì ?” Tổ Bửu Phước đem ra hỏi Ngài Trường Khánh : “Theo hai vị thì rốt cuộc chưa tuyệt hết, vậy làm sao tuyệt hết đây ?” Ngài Trường Khánh lặng im giây lâu. Tổ Phước nói : “Rõ ràng ông hướng vào trong hang quỷ mà sanh nhai !” Ngài Khánh hỏi : “Ông lại làm sao ?” Tổ Phước nói : “Hai tay đỡ con trâu nước cao quá đầu gối !” Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Đều mất, chưa mất, đoạt người, đoạt cảnh. Vì sao Tổ Bảo Phước không chịu Ngài Trường Khánh ? Thái bình vốn do tướng quân đem lại, chẳng để tướng quân thấy thái bình”.
Theo chỗ thấy của Tổ Bửu Phước thì Diệm Huệ Địa
cũng không cho yên níu, huyền lại càng huyền vậy. Kinh : “Hết thảy có Đồng, có Khác không thể đến được, gọi là Nan Thắng Địa. Thông rằng : Trí của bậc chưa vào Địa gọi là Khác, Trí của bậc Đăng Địa gọi là Đồng, tức như trong chỗ vốn Đồng lại có Đồng, Khác. Lìa dơ (Ly Cấu) là thanh tịnh, mà thanh tịnh cùng tột thì sáng suốt sanh ra. Phát ra ánh sáng (Phát Quang) là sáng suốt, mà sáng suốt cùng cực thì Giác đầy khắp. Chưa đến hết mười phần thì còn có Đồng và Khác để nói; đã đến hết mười phần thì không còn Đồng, Khác để chỉ ra. Như vàng đã có màu như cũ thì đâu còn thêm bớt, theo đâu mà chỉ ra đó là Đồng, nương đâu mà chỉ ra đó là Khác ? Đã không có cái Khác để chỉ, tức phàm tình không thể đến. Đã không có cái Đồng để chỉ, tức Thánh giải không thể đến. Phàm tình có thể đến, ắt cái phàm được hơn thắng. Thánh giải có thể đến, ắt cái Thánh được hơn thắng. Nay thì hết thảy Đồng, Khác, Thánh, Phàm, Trí, Lự đều chẳng thể đến. Cái đến đã không có thì cái gì vượt thắng đây ? Nên gọi là Nan Thắng Địa. Đức Phật nói : “Nếu như có một pháp hơn cả Niết Bàn, ta cũng nói là như mộng huyễn”. Niết Bàn như thế là Pháp Tối Nan Thắng vậy.
Tổ Lâm Tế đến Ngài Phụng Lâm.
“Đại đạo bặt đồng Tổ Quy Sơn hỏi Ngài Ngưỡng Sơn : “Lửa đá chẳng kịp, điện quang không thông thì từ xưa Chư Thánh lấy gì mà vì người ?”
Ngài Ngưỡng nói : “Ý Hòa Thượng thế nào ?” Đại để, Lâm Tế cùng Phụng Lâm tương kiến, tuy là điển quang, lửa đá không thể thí dụ cho nổi, mà Ngưỡng Sơn lại cho là riêng thông xe, ngựa. Chính đó là chỗ nói là “Ngộ thì Ca Diếp chẳng che giấu, chẳng ngộ thì Như Lai có mật ngữ” vậy.
Cái chỗ “Hết thảy Đồng, Khác không thể đến được”
này nếu chẳng phải khế ngộ chân thực thì ai rõ được
chỗ Nan Thắng của nó ư ? Kinh : “Tánh Chân Như vô vi thanh tịnh bày lộ rõ ràng, gọi là Hiện Tiền Địa. Thông rằng : Đồng, Khác chẳng đến được, không thể tạo tác. Đã không tạo tác, đó là Chân Như. Tánh Chân Như này, nơi mê chẳng giảm bớt, nơi ngộ chẳng tăng thêm. Chỉ vì Tình Kiến ô nhiễm mà chẳng bày lộ rỡ ràng. Duy chỉ thanh tịnh cùng tột, sáng suốt cùng tột liền “tròn vo vo, sáng rỡ rỡ, trong leo lẻo” không thể cầm nắm. Cái thể tịch diệt liền được hiện tiền, nên gọi là Hiện Tiền Địa. Ngài Đại An sắp qua đất Hồng Châu, trên đường qua khỏi huyện Thượng Nguyên thì gặp một ông già bảo rằng : “Ông sang Nam Xương sẽ có chỗ đắc”.
Ngài An bèn đến Tổ Bá Trượng, làm lễ mà hỏi : “Kẻ
học nhơn muốn cầu biết Phật, cái ấy là gì ?” Ngài An ngay nơi lời nói có tỉnh ngộ, hỏi rằng : “Biết được rồi thì như thế nào ?” Tổ Trượng nói : “Cũng giống cỡi trâu về nhà”. Ngài An nói : “Chưa rõ trước sau giữ gìn thế nào?” Tổ Trượng rằng : “Như người chăn trâu cầm roi trông coi, khiến chẳng động đến lúa mạ của người”. Ngài Đại An từ đó lãnh nhận ý chỉ, chẳng còn tìm kiếm, sau kế pháp trụ trì ngọn Quy Sơn.
Ngài thượng đường, nói : “Hết thảy các ông đều
tìm đến An này, để tìm kiếm cái gì thế ? Như muốn
làm Phật, chính ông tự là Phật. Vác Phật chạy qua
nhà người, khác nào con nai khát nước đuổi theo bóng
nắng, bao giờ mới được tương ưng đây ? Ông muốn làm
Phật, chỉ việc không có những thứ điên đảo, bám níu,
vọng tưởng, ác giác, dơ sạch là cái tâm chúng sanh,
thì đó bèn là Sơ Tâm Phật Chánh Giác. Còn hướng đi
đâu nữa mà toan tính ? Bởi thế mà An này ở Quy Sơn
ba mươi năm, ăn gạo Quy Sơn, đi phân Quy Sơn mà
chẳng học thiền Quy Sơn. Chỉ trông coi một con trâu
đực, nếu lạc đường vào cỏ liền nắm mũi kéo lui, vừa
phạm đến lúa mạ người liền roi vọt ngay, đã lâu điều
phục. Khá thương kiếp sanh ra chịu lời lẽ của người,
như nay hóa thành con trâu trắng bày lộ rỡ ràng,
thường ngay trước mặt, suốt ngày bày hiện sờ sờ ra
đó, đuổi chẳng chịu đi.
Có nhà sư đến hỏi Ngài Đại Ninh Khoan : “Như sao
là trâu trắng sờ sờ ? Kinh : “Cùng tột bờ cõi Chân Như, gọi là Viễn Hành Địa. Thông rằng : Thanh tịnh chưa cùng tột, sáng suốt chưa cùng tột, cái Đồng, Khác có thể đến thì chẳng thể gọi là bờ cõi Chân Như. Đồng, Khác đã mất, sanh diệt đã diệt, Chân Như vô vi đã bày lộ rõ ràng đã lâu, trong ngoài rỗng suốt, tột mười phương thế giới đều là bờ cõi Chân Như, khắp hư không, đầy Pháp Giới, toàn thể trình bày hiển lộ thì chẳng chỉ có hiện tiền mà thôi vậy. Lý vốn không bờ mé, cái bờ cỏi không bờ mé kia mới là bờ cõi Chân Như. Chân Như không bờ mé thì hành cái Hành của Chân Như, há có xa gần ư ? Gọi đó là Viễn Hành là để rõ rằng sức người chẳng thể đến được. Hễ cái mà hành có thể đến được thì tuy tích lũy qua năm tháng, cũng chẳng gọi là Viễn(43). Chỉ cái mà hành không thể đến được mới gọi là Chân Viễn. Giống như thí dụ của Trang Tử, ở nước Kiến Đức, trông ra chẳng thấy bến bờ, đi khắp mà không chỗ cùng tột. Tiễn đưa người đi, đều đến bến bờ rồi lui, từ đây người xa vậy. Thí dụ đủ hình dung cái Địa này. Có nhà sư hỏi Thượng Lam Hòa Thượng : “Đồng tử Thiện Tài sau khi ra mắt đức Văn Thù, vì sao lại qua phương Nam ?” Ngài nói : “Học ở nơi nhập thất. Biết mới khắp suốt thông”. Nhà sư hỏi : “Đến thành Tô Ma vì sao Đức Di Lặc trở lại bảo ra mắt Đức Văn Thù ?” Ngài nói : “Đạo rộng không bờ, gặp người bất tận”.
Ngài Đầu Tử nêu ra rằng : “Đạo không mê, ngộ;
Pháp chứng do thầy. Chẳng trụ Thánh, phàm; trang
nghiêm diệu hạnh. Bởi thế Văn Thù khiến đi lên núi
Tu Di, bờ biển gặp thầy, chợ triền lễ bạn. Hoặc núi
đao, phường điếm, tù tội, cung ma. Hoặc đồng nữ,
đồng nam, Cù Di Thánh Hậu. Di Lặc khảy móng tay, Phổ
Hiền đích thân chiêm ngưỡng. Trở lại ra mắt Văn Thù
lại có chuyện gì đây ? Tin thì biết : khắp nơi là
bạn, đạo rộng không bờ, chẳng mờ dấu sáng, khắp chốn
cùng tột nhiệm mầu. Này các nhân giả, lại biết chăng
còn có một người mà vì sao Thiện Tài chẳng đến ra
mắt (tham) ? Thử nói đó là người nào ?”
“Đầy đầu tóc bạc lìa hang núi Tụng rằng :
“Mặt trời lên không, khắp thấp cao
Đây có thể làm khuôn mẫu của Viễn Hành Địa, vì
thấu suốt hết thảy pháp, cùng tột bờ cõi Chân Như
vậy. Kinh : “Một Tâm Chân Như gọi là Bất Động Địa. Thông rằng : Cùng tột bờ cõi Chân Như, phóng ra thì khắp cùng vũ trụ. Một Tâm Chân Như, cuốn lại thì không vết. Hành không vết tích, đó gọi là Viễn Hành. Đã cùng tột bờ cõi Chân Như tức là tròn vẹn cái thể, ứng hiện muôn loài mà Chân Như chẳng động.
Cái Bất Động Địa này là trong chỗ Viễn Hành mà
thấy vốn chẳng động vậy. Bờ cõi (tế) chính là Tâm,
Tâm chính là bờ cõi. Mé (tế) trước, mé giữa, mé sau,
ba bờ mé đều bất khả đắc. Quá khứ, hiện tại, vị lai,
ba tâm đều bất khả đắc. Rốt đây toàn một Chân Như
thì có cái gì là đi, gì là dừng, gì là động, gì là
bất động ư ? Tuyệt không động tịnh, thế mới có thể
nói là Chân Bất Động vậy.
Tổ hỏi : “Đêm qua ngụ chốn nào ?” Tổ Tịnh Từ Phật Hạnh thượng đường, nói : “Nhạn qua trời không, ảnh lồng nước lạnh. Nhạn không có ý để lại dấu vết, nước không có tâm lưu giữ bóng hình. Được là như thế mới nên mua giày cỏ du phương. Bởi vậy, mới nói “Động thì bóng liền hiện, biết tức thì băng sanh” Còn chẳng động, chẳng biết thì thật ở trong Nước Chết(44). Ông Lão Tiến Phúc(45) xuất đầu chẳng được thì hãy để đó, thế ông A Dục Vương ngày nay lại làm sao ?”
Hướng đạo, chớ đi đường dưới núi
Bất Động Địa đây cần phải tự thân thấu đến một
lần mới được. Chẳng thế thì mấy ai không ngồi trong
Nước Chết mà làm kế sống ! Kinh : “Phát cái Dụng Chân Như, gọi là Thiện Tuệ Địa. “Anan, các vị Bồ Tát đó từ đây về trước công hạnh tu tập đã xong, công đức viên mãn. Cũng gọi Địa này là Tu Tập Vị.
Thông rằng : Từ Tâm Chân Như phát cái Dụng Chân
Như. Đó là Vô Sư Trí, Tự Nhiên Trí, Nhất Thiết Trí,
Tứ Vô Ngại Trí diễn nói vô lượng a tăng kỳ các nghĩa
không có cùng tận. Làm đại pháp sư khắp độ sanh
linh, Trí Bi đồng vận dụng, ứng thời hợp tiết, nên
gọi là Thiện Huệ. Từ Viễn Hành Địa đến Bất Động Địa thì đã chứng Tịch Diệt, Vô Công Dụng Đạo sao còn gọi Địa này là Tu Tập Vị ? Vì sau Thập Địa công đức viên mãn mà so ra thì còn thiếu đôi phần nên gọi Địa này là Tu Tập Vị. Nghĩa là bắt đầu phát cái Dụng của Huệ, chưa quên cái Huệ, so với Pháp Vân Địa trùm khắp không thiếu không dư, thì hình như còn khoảng cách vậy. Lại nữa, đây tu mà không tu, tập mà không tập, như thuyền sắp đến bờ, sào, chèo chẳng dùng mà vẫn còn trong sự vận hành vậy. Ngài Ngưỡng Sơn một hôm đang nằm, mộng thấy vào nội viện của Đức Di Lặc, mọi vị trí đều đủ người, chỉ có tòa Thứ Hai còn trống. Ngài Ngưỡng Sơn bèn đến ngồi. Có một vị Tôn Giả bạch chùy(46), nói : “Nay là Đệ Nhị Tòa thuyết pháp”. Ngài đứng lên bạch chùy, nói : “Đại thừa pháp, lìa Tứ Cú, tuyệt Bách Phi, nghe kỹ, nghe kỹ !” Đại chúng giải tán. Khi tỉnh dậy, Ngài kể lại cho Tổ Quy Sơn nghe. Tổ nói : “Ông đã vào Thánh Vị”. Ngài bèn làm lễ. Ngài Thiên Đồng tụng rằng :
“Mộng về được dịp thăm kỳ cựu
Ngài Ngưỡng Sơn trong mộng phát cái Dụng Chân
Như, nào mượn tu tập. Tổ Quy Sơn tự mình ấn chứng
cho. Do đó mà biết : Nhân Vị thì đã liễu, còn Tín Vị
không đủ nói vậy. Kinh : “Bóng Từ mây Diệu trùm biển Niết Bàn, gọi là Pháp Vân Địa. Thông rằng : Công đức Trí Huệ viên mãn, không còn tự lợi, thuần ròng lợi tha nên bóng mát của đại từ đầy ắp khắp Pháp Giới. Vô Tâm, Vô Duyên mà ứng với tâm duyên tất cả. Ban rải lợi ích thấm nhuần mà vốn tịch diệt không tạo tác. Như mây trùm trải vô tâm, che khắp tất cả. Bảo rằng mây Diệu tức cái Diệu của Tánh Giác diệu minh. Từ vốn là tự Diệu, chẳng mượn tu tập nên gọi là che trùm biển Niết Bàn vậy. Tự Tánh Niết Bàn, vốn không sanh diệt, mây từ của biển Giác xứng Tánh mà khởi ra, cũng không sanh diệt. Tất cả chúng sanh vốn ở trong Niết Bàn, lại khiến chúng sanh chứng quả Niết Bàn : như thế mà che, như thế mà trùm, không thiếu không dư mới có thể xưng là Diệu vậy. Pháp mà thí dụ như mây vì Pháp vốn vô tâm. Mây mà tương hệ với Pháp thì tức mây tức Pháp, nên chẳng nói là cái Dụng của Huệ mà chỉ nói là mây. Vì đã hồn đồng tạo vật, chẳng còn cái Thấy có hai. Pháp Vân Địa này gần với Phật Địa, gọi là quán Đảnh Bồ Tát Vị. Đức Lục Tổ khai thị đại chúng rằng : “Này các thiện tri thức, nếu muốn thể nhập pháp giới thậm thâm cùng Bát Nhã Tam Muội, hãy tu hạnh Bát Nhã, trì tụng kinh Kim Cang Bát Nhã liền được thấy Tánh. Phải biết kinh này công đức vô lượng vô biên, trong kinh rõ ràng tán thán không thể nói hết. Pháp môn đây là Tối Thượng Thừa, vì người đại trí mà nói, vì người thượng căn mà nói. Người ít căn, ít trí nghe qua sanh lòng chẳng tin. Vì sao thế ?
“Ví như rồng lớn làm mưa ở cõi Diêm Phù Đề thì
thành, ấp, xóm làng thảy đều trôi hết như cỏ lá trôi
dạt, nhưng mưa ở biển lớn thì chẳng thêm chẳng bớt.
Như người Đại Thừa, như người Tối Thượng Thừa nghe
thuyết kinh Kim Cang thì Tâm khai tỏ ngộ. Do đó mà
biết Bổn Tánh tự có Trí Bát Nhã, tự dùng Trí Huệ
thường quán chiếu, không mượn nhờ văn tự. Ví như
nước mưa, “Này các thiện trí thức ! Người căn ít nghe qua Đốn Giáo này đây thì cũng như cỏ cây, căn tánh nhỏ mà bị mưa lớn ắt đều nghiêng ngã, chẳng thể tăng trưởng. Người ít căn cũng như vậy đó, vốn có Trí Bát Nhã không khác gì người đại trí, vậy cớ sao nghe pháp chẳng tự khai ngộ ? Bởi vì tà kiến nặng nề ngăn ngại, gốc rễ phiền não sâu dày. Giống như đám mây lớn che mặt trời, nếu không được gió thổi đi thì ánh sáng mặt trời chẳng hiện. “Cái Trí Bát Nhã vốn không có lớn, có nhỏ. Chỉ vì tất cả chúng sanh tâm họ mê ngộ chẳng đồng. Mê lầm cái Tâm, ở ngoài mà thấy, tu hành tìm Phật, chưa ngộ Tự Tánh tức là căn ít. Như khai ngộ Đốn Giáo, chẳng chấp vào bên ngoài mà tu, chỉ trong Tự Tâm thường khởi chánh kiến, trần lao phiền não thường chẳng có thể nhiễm dính, tức là Thấy Tánh. “Này các thiện trí thức, trong ngoài chẳng trụ, đến đi tự do, hay trừ tâm bám nắm, thấu suốt không ngại. Thường tu hạnh này thì cùng với kinh Bát Nhã vốn không có gì sai khác”. Đức Lục Tổ chẳng biết một chữ mà thuyết pháp như mây, như mưa. Lại có thể phân biệt chỗ khác nhau của căn khí lớn, nhỏ nơi người nghe pháp, cũng đủ bổ sung chỗ chưa nói rõ thêm về Bậc Thập Địa vậy. VIII. ĐẲNG GIÁC VÀ DIỆU GIÁC Kinh : “Như Lai ngược dòng, còn vị Bồ Tát như thế thuận dòng mà đến. Ranh giới của Giác thể nhập vào nhau, gọi là Đẳng Giác. “Anan, từ Tâm Càn Huệ đến Đẳng Giác rồi, cái Giác này mới được Sơ Càn Huệ Địa trong Tâm Kim Cương. Thông rằng : Quyền Trí (Hậu Đắc Trí) của Như Lai, xuống tùy theo cơ cảm nên ngược dòng mà ra. Thực Trí của Bồ Tát (Căn Bản Trí) lên mà hợp với Giác Tâm nên thuận dòng mà vào. Kinh Anh Lạc nói : “Đẳng Giác chiếu tịch, Diệu Giác tịch chiếu”, tức là nghĩa này. Ranh giới của hai Giác nên gọi là nhập vào nhau. Thể nhập vào nhau tức là tiếp hợp với dòng nước pháp của Như Lai vậy. Bèn ở chỗ này gọi là Đẳng Giác Vị, tức nói cái Giác cùng Như Lai bình đẳng không sai khác, chỉ chưa cùng tột trong chỗ Diệu đó thôi. Tức thời từ biển Đại Tịch Diệt ngược dòng mà ra, Diệu đồng khắp vạn vật, mới gọi là Diệu Giác. Sơ Càn Huệ Địa trong Tâm Kim Cương tức là Tâm Càn Huệ ở trước, sao đến đây mới được ư ? Chưa cùng dòng nước pháp tiếp hợp thì chỉ mới có cái Không Kiến về Thể. Đã cùng dòng nước pháp tiếp hợp mới là chứng nghiệm cái Thật. Như ánh sáng của trăng non đã lộ ít nhiều hình tướng tròn sáng, vốn chẳng phải thiếu kém, rồi đến lưỡi liềm, rồi đến trăng rằm mới đầy đủ tướng tròn sáng. Đó cũng chỉ là tướng tròn sáng lúc mới đầu, chẳng phải là hai vậy. Kim Cương là nói do phá tan các pháp mà có tên. Các pháp có thể phá hoại, độc chỉ cái Huệ Kim Cương này không thể phá hoại. Ở trước là muốn tu tập cái Sơ Càn thuần là Trí Huệ, Trí Huệ đó không hai, chỉ có cái khô(47) là không cùng tận. Từ địa vị Thứ Mười trở về trước, cứ lấy một địa để phá hoại một địa, cho đến khi không có một pháp nào để đắc, nên nói : “Cái Giác này mới được Sơ Càn Huệ Địa trong Tâm Kim Cương”. Kinh Niết Bàn nói “Phát tâm và rốt ráo, hai cái chẳng khác nhau”, là nói chỗ này ư ?
Nhà sư hỏi Tổ Hoàng Bá : “Tâm xưa nay đã là Phật
lại còn tu Lục Độ Vạn Hạnh không ?” “Từ Phật đến Tổ, đều chẳng luận bàn việc gì khác. Độc chỉ luận Nhất Tâm, cũng gọi là Nhất Thừa. Bởi thế, mười phương cầu Chân Thật thì không còn Thừa nào khác. Chỉ những người Chân Thật đó mới không lạc vào cành lá rườm rà. Thế nên ý này khó tin !” Đức Đạt Ma qua đất này, đến hai nước Lương, Ngụy chỉ có một mình Khả đại sư thầm kín tin lấy Tự Tâm, ngay nơi lời nói liền trực nhận tức Tâm là Phật, thân tâm đều không, ấy là Đại Đạo. Đại Đạo xưa nay bình đẳng, do vì tin sâu trọn hết sanh linh đồng một Chân Tánh. Tâm với Tánh chẳng khác nhau, tức Tánh tức Tâm. Tâm chẳng khác Tánh, gọi đó là Tổ. Bởi thế nói rằng “Khi nhận được Tâm Tánh có thể nói là không thể nghĩ bàn. Chính cái Tâm chẳng khác Tánh ấy gọi đó là Tổ”.
Có thể thấy rằng khi cái cảnh tượng Ranh giới
Giác Ngộ thể nhập vào nhau thì mọi thềm bậc trước
kia hoàn toàn không liên quan gì nữa, chỉ là Nhất
Tâm, cùng Phật không khác. Kinh : “Lớp lớp như vậy, đơn hay kép mười hai địa vị, mới cùng tột Diệu Giác, thành Vô Thượng Đạo. Thông rằng : Đơn có bảy địa vị, đó là Càn Huệ, Nỗn, Đảnh, Nhẫn, Thế Đệ Nhất, Đẳng Giác và Diệu Giác. Kép có năm địa vị, đó là Tín, Trụ, Hạnh, Hướng và Địa. Mỗi địa vị lại có mười bậc nên gọi là kép. Lớp lớp như vậy, tiệm tu tiệm chứng, gồm tất cả mười hai tầng bậc mới đến Diệu Giác mà thành Vô Thượng Đạo. Nên bậc Đẳng Giác vẫn còn ở địa vị Thứ Mười Một nên chưa cùng tột, chỉ có địa vị Thứ Mười Hai mới cùng tột vậy. Cái Diệu này há có thêm cho Càn Huệ ư ? Thật ra chỉ là Càn Huệ nhưng chà xát lau chùi cho rực rỡ trong trẻo thì hiển bày cái Diệu. Hiệp Luận nói : “Ba đời Chư Như Lai trao truyền cái pháp thức tu chứng cho tất cả Bồ Tát : Chọn lựa lực dụng sâu cạn, phân biệt các chỗ sai biệt của các địa vị. Bắt đầu từ Thập Tín nhưng vì cái Tín này còn thuộc sanh diệt nên phải trụ tâm, bèn lập ra Thập Trụ. Lại vì Trụ còn thiếu vốn liếng để phát khởi cái Dụng của phương tiện nên thành tựu hạnh tâm, bèn lập ra Thập Hạnh. Lại vì Hạnh này mới chỉ tự lợi, chưa phổ cập đến chúng sanh, nên bày việc Hồi Hướng, bèn lập ra Thập Hồi Hướng”. Từ Thập Tín cho đến Trụ, Hạnh, Hồi Hướng là địa vị Tam Hiền. Lại từ Tam Hiền thì lên Sơ Địa, vì Đại Từ Đại Bi phát sanh, được nuôi dưỡng sum xuê tươi tốt cho thành tựu mà có tên là Địa. Ở Sơ Địa mới cho là chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, cho đến hết Thập Địa, do công hiệu mài xát, tôi luyện các tập khí còn sót bèn đồng đẳng với Chân Như Bản Giác, nên gọi là Đẳng Giác. Giống như Kinh Dịch nói “Cùng Thần tri hóa” vậy. Đến khi nhập Diệu Giác thì chỉ Một mà thôi, không có tướng nào nữa. Như chỉ nói là Thần thôi vậy. Chỗ đặc biệt của kinh này là trước Thập Tín có thêm Càn Huệ Địa ; trước Thập Địa lại thêm Nỗn, Đảnh, Nhẫn, Thế Đệ Nhất Địa. Kinh Hoa Nghiêm, ở Thập Trụ nói là chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Các kinh khác thì nói chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn ở Thập Địa. Tất cả còn ở trong số năm mươi lăm địa vị. Đức Thế Tôn ở chỗ này bèn lập ra ba món tiệm thứ, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Ba món tiệm thứ là phương tiện an lập, ra ngoài số năm mươi lăm kia. Ý của Đức Thế Tôn là muốn khai thị theo phàm phu để có thể thật chứng Pháp vậy. Tổ Hoàng Bá nói với Ông Bùi Hưu rằng : “Phật cùng chúng sanh thật không sai khác. Chỉ vì chúng sanh bám tướng cầu ngoài. Càng cầu càng thêm mất, đem Phật mà tìm Phật, lấy Tâm mà bắt Tâm, cùng kiếp hết đời, rốt chẳng thể được. Chẳng biết là dứt nghĩ quên suy thì Phật tự hiện tiền. Tâm đây chính là Phật. Phật tức là chúng sanh. Khi là chúng sanh, Tâm đây chẳng giảm. Khi là Phật, Tâm đây chẳng thêm. Cho đến hằng sa công đức, Lục Độ, Vạn Hạnh vốn tự sẵn đủ, chẳng nương mượn tu để có thêm. Gặp duyên thì bày trải, hết duyên thì lặng yên. “Nếu chẳng quyết định tin đây là Phật mà muốn bám tướng tu hành để cầu công dụng, đó đều là vọng tưởng, cùng với Đạo tự trái. Tâm đây tức là Phật, chẳng có Phật nào khác, cũng chẳng có Tâm nào khác. Tâm này sáng sạch, dường như hư không, không có một điểm tướng mạo. Khởi tâm, động niệm liền trái Pháp Thể, tức liền bám tướng. Từ vô thủy đến nay không có Phật bám tướng ! Tu Lục Độ, Vạn Hạnh muốn cầu thành Phật tức là thứ lớp. Từ vô thủy đến nay không có Phật thứ lớp ! Chỉ ngộ Nhất Tâm, rốt không chút pháp gì khá đắc, đó là Chân Phật. “Phật cùng chúng sanh, Một Tâm không khác. Giống như hư không, không xen tạp, không hư hoại. Như mặt trời chiếu khắp bốn thiên hạ. Khi mặt trời lên cao, sáng khắp thiên hạ, hư không chẳng hề sáng. Khi mặt trời lặn, tối khắp thiên hạ, hư không chẳng hề tối. Cảnh sáng cảnh tối tự lấn đoạt nhau, cái tánh của hư không rỗng nhiên chẳng đổi. Tâm của Phật cùng chúng sanh cũng như thế. Nếu xem thấy Phật cho là cái tướng trong sạch, sáng rỡ, giải thoát; xem thấy chúng sanh cho là tướng dơ bẩn, tối tăm, sanh tử, khởi cái thấy hiểu như vậy thì trải qua hằng sa kiếp rốt cuộc chẳng nắm được Bồ Đề, vì bám tướng vậy. Độc chỉ Nhất Tâm đây, ngoài ra chẳng có vi trần pháp nào có thể đắc. Tức Tâm là Phật !” Nhiệm mầu thay ! Nhiệm mầu thay ! Chẳng phải Tổ Hoàng Bá thật chứng Diệu Giác, không rơi vào tầng bậc thì làm sao thông suốt như thế ? Đã lời dạy này mà lưu lại, để gần với ý chỉ Viên Đốn của kinh này bởi cả hai chẳng ngại nhau vậy. Kinh : “Các thứ Địa này đều dùng Trí Kim Cương quán sát Như Huyễn mười thứ ví dụ sâu xa. Trong Xa Ma tha (Chỉ) dùng Tỳ Bà Xá Na (Quán) của Chư Phật mà thanh tịnh tu chứng, lần lượt tu nhập. “Anan, như thế đều dùng ba tiệm thứ tăng tiến, khéo có thể thành tựu năm mươi lăm Vị của con đường Bồ Đề Chân Thật. “Làm cái Quán như vậy, gọi là Chánh Quán. Nếu Quán khác đi gọi là Tà Quán. Thông rằng : Mười thứ thí dụ sâu xa là nên Quán rằng :
1. Hết thảy nghiệp như huyễn; Tất cả đều không thể nắm, bỏ bởi vì tất cả Không vậy. Thâm nhập cái Không này mới gọi là Thật Tướng. Đây chẳng phải là cái Pháp làm ra nên vốn không hoại diệt. Nếu khác với cái Quán này tức là pháp sanh diệt. Ở đây không chỉ Quán Pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt nước, bóng dáng mà cho đến Quán Pháp Thân Phật cũng như mộng, huyễn, bọt nước, bóng dáng nên là ví dụ thâm sâu. Quán sát như thế thì chẳng phải Quán Pháp của Tiểu Thừa có thể so được, mà đó là Diệu Quan Sát Trí của Như Lai, sẵn đủ Kim Cương Huệ : do Tịch nên Chiếu, do Chỉ nên Quán. Giống như nước thật trong chẳng nhiễm một chút bẩn, như gương tột sạch chẳng dung một hạt bụi. Lấy đó mà tu thì tu mà không tu. Lấy đó mà chứng thì chứng mà không chứng. Nên do Càn Huệ lần lượt thâm nhập cho đến Diệu Giác, đều chẳng rời cái Trí Kim Cương quán sát này. Địa địa đều hoại, pháp pháp đều khô(49) nên hợp với Diệu Giác. Thí dụ sâu xa như thế, thâm nhập như thế, đâu có ra ngoài ba tiệm thứ tăng tiến, nghịch dòng toàn nhất, chờ đến được Vô Sanh Pháp Nhẫn. Theo đó tiệm tu, tùy chỗ hành phát mà an lập Thánh Vị, khéo thành tựu năm mươi lăm địa vị của con đường Bồ Đề Chân Thật. Tín, Trụ, Hạnh, Hướng, Địa là năm mươi, cọng với Càn Huệ và bốn Gia Hạnh là năm mươi lăm. Không nói đến hai Địa vị Đẳng Giác và Diệu Giác, vì hai Giác chính là Chân Bồ Đề, là Giác chứ chẳng còn là con đường. Năm mươi lăm địa vị là nguyên do, là con đường nhập Giác vậy. Mười phương Như Lai thành tựu Bồ Đề đều có phương tiện ban đầu là Xa Ma Tha, Tam Ma Bát Đề, Thiền Na mầu nhiệm. Cho đến Trí Kim Cương Quán Sát, Như Huyễn Tam Muội thì chỉ Đức Quán Thế Âm là Đệ Nhất. Do đó, năm mươi lăm Vị của con đường Bồ Đề cũng do trong ba tiệm thứ tăng tiến, ngược dòng toàn nhất. Bắt đầu là xoay lại cái Nghe, cái phương tiện tối sơ này cũng là Như Huyễn Quán Sát theo thứ lớp : hết Nghe cũng chẳng trụ, Giác và Sở Giác đều Không; Không, Sở Không diệt, sanh diệt đã diệt đó là Tịch Diệt Hiện Tiền.
Làm cái Quán như thế đó là Một đường vào Niết Bàn
của mười phương Chư Phật. Nếu Quán khác đi, chẳng
trụ trong mười thứ thí dụ sâu xa của Kim Cang Quán
Sát tức thuộc về sanh diệt, tức là Tà Quán vậy.
“Tu tập “không hoa” vạn hạnh Cũng nói lên vắn tắt mười thứ ví dụ sâu xa. Tổ Giáp Sơn thượng đường : “Từ khi có Tổ đến nay, người đời lầm hiểu. Cùng nhau thừa thọ cho đến nay, cứ lấy lời lẽ của Phật, Tổ làm kiểu mẫu cho người. Nếu mà như thế tức thành người cuồng, là người không có Trí vậy.
“Kia chỉ bày dạy rằng : “Ông không có pháp, cái
không có pháp đó là Đạo. Đạo không có pháp gì, không
có Phật để thành, không có Đạo để đắc, không có pháp
để nắm, không có pháp để bỏ.
“Nhọc giữ pháp sanh tử Chỗ này có thể làm cái cân để định Chánh Quán hay Tà Quán vậy. |
|
| ||||||