KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN VII
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG
CHƯƠNG IV:
KHAI
THỊ CÁC ĐỊA VỊ TU CHỨNG
MỤC
MỘT :
KHAI
THỊ HAI CÁI NHÂN ĐIÊN ĐẢO
VÀ BA
MÓN TIỆM THỨ
I. ÔNG ANAN XIN KHAI THỊ NHỮNG DANH MỤC, THỨ BẬC TU
HÀNH
Kinh : Ông Anan liền từ chỗ ngồi đứng lên, đảnh
lễ chân Phật, bạch Phật rằng : “Chúng tôi ngu độn,
thích được đa văn, với các tâm hữu lậu chưa cầu lìa
khỏi. Nhờ Phật từ bi dạy dỗ được sự huân tu chân
chánh, thân tâm khoan khoái an nhiên, được lợi ích
lớn. Thưa Thế Tôn, tu chứng Tam Ma Đề của Phật như
thế, khi chưa đến Niết Bàn thì thế nào gọi là Càn
Huệ Địa ? Bốn mươi bốn tâm thứ lớp đến đâu để được
danh mục tu hành ? Đến nơi chốn nào thì gọi là Nhập
Địa ? Sao gọi là Đẳng Giác Bồ Tát?”
Thưa hỏi thế rồi, năm vóc gieo xuống đất. Đại
chúng nhất tâm chờ từ âm Phật, chiêm ngưỡng không
chớp mắt.
Khi ấy, Đức Thế Tôn khen Ông Anan rằng : “Hay
thay ! Hay thay ! Các ông mới có thể khắp vì đại
chúng và tất cả chúng sanh đời mạt thế tu Tam Ma Đề,
cầu Đại Thừa mà xin Ta nêu bày con đường chánh tu
hành từ phàm phu cho đến Đại Niết Bàn. Nay ông hãy
lắng nghe, sắp vì ông nói”.
Ông Anan và đại chúng chấp tay, chú tâm yên lặng
thọ giáo.
Thông rằng : Ban đầu, Phật bảo Ông Anan : “Tâm
gọi là thẳng. Như thế, từ đầu đến cuối, các địa vị
trung gian vĩnh viễn không có tướng quanh co. Niết
Bàn là cuối, Càn Huệ là đầu, bốn mươi bốn trung gian
là Tín, Trụ, Hướng và Tứ Gia Hạnh, chẳng phải là
không có thứ lớp, đó là danh mục tu hành vậy. Tiến
vào Thập Địa cho đến Địa Thứ Mười Một là Đẳng Giác
Bồ Tát. Đến Đại Niết Bàn mới gọi là Diệu Giác”.
Cái nơi chốn đạt đến này không mượn vào việc tu.
Vậy làm sao được cái tướng không quanh co đây ?
Không quanh co nghĩa là nhất siêu trực nhập, trước
sau không khác, là con đường Diệu Bồ Đề Tối Thượng
vậy. Bởi thế, Phật bảo : “Nêu bày con đường chánh tu
hành Vô Thượng từ phàm phu cho đến Đại Niết Bàn”,
nghĩa là từ phàm phu mà chứng thẳng Diệu Giác, không
mượn gì thứ lớp. Nêu bày, nghĩa là chúng sanh chưa
chứng nên nói trước cho, đại để như vậy.
Tổ Hoàng Bá nói : “Tâm đây tức là cái Tâm Vô Tâm.
Lìa cả thảy Tướng thì chúng sanh cùng Chư Phật không
có chút gì sai khác. Chỉ là Vô Tâm, bèn là rốt ráo.
“Các người học Đạo ! Như chẳng ngay đây Vô Tâm
thì bao kiếp tu hành rốt chẳng nên gì, bị công hạnh
của Tam Thừa ràng buộc, chẳng có giải thoát. Nhưng
chứng Tâm này có mau chậm. Có người nghe pháp một
niệm bèn được Vô Tâm. Có người đến Thập Tín, Thập
Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng mới được Vô Tâm. Có
người đến Thập Địa mới được Vô Tâm. Dầu dài hay
ngắn, được Vô Tâm là trụ, không còn gì có thể tu, có
thể chứng, thật Không Chỗ Đắc, chân thật chẳng hư.
Một niệm mà đắc cũng như Thập Địa mà đắc, công dụng
như nhau không có sâu cạn, chỉ khỏi bao kiếp uổng
công cần khổ vậy”.
Lời dạy của Tổ Hoàng Bá cũng đồng như Phật nêu
bày con đường chánh tu hành Vô Thượng. Ngay đây mà
thấu suốt mới tin khoảng trung gian quả là không các
tướng quanh co.
II. KHAI THỊ HAI CÁI NHÂN ĐIÊN ĐẢO
Kinh : Phật nói : “Anan, hãy biết, cái Diệu Tánh
tròn sáng lìa mọi danh tướng, bổn lai không có thế
giới, chúng sanh. Nhân vọng mà có sanh, nhân sanh mà
có diệt. Sanh diệt thì gọi là vọng, diệt vọng thì
gọi là Chân. Đó gọi là hai danh hiệu chuyển y Bồ Đề
Vô Thượng và Đại Niết Bàn của Như Lai vậy.
Thông rằng : Tánh mà nói là Diệu thì chẳng trệ
nơi Tịch. Minh mà nói là Viên thì chẳng sa vào cái
Sở, mà lìa tướng, lìa danh, không thể nghĩ bàn.
Chứng vào Diệu Tánh này thì thế giới chẳng phải là
thế giới, chúng sanh chẳng phải là chúng sanh, tức
vọng thành Chân, cái sanh diệt chẳng phải là sanh
diệt vậy.
Tổ Mã Minh nói : “Vì chẳng như thật biết Chân Như
Nhất Pháp nên tâm bất giác động mà thành có ra niệm.
Niệm tức là tướng sanh, sanh tức là tướng diệt. Sanh
diệt, danh Tướng đều là vọng. Bằng như thật mà rõ
biết Chân Như Nhất Pháp ắt Vọng vốn không chỗ có.
Giống như người theo phương hướng mà mê lầm, sự mê
lầm nào có tự tướng ! Cho Đông là Tây mà phương
hướng thật nào có xoay chuyển gì đâu. Tỉnh ngộ ra
thì cái phương Tây mê lầm kia đâu có ! Mê thì cho là
tâm động mà thật nào chẳng có động. Như biết cái tâm
động ấy là chẳng sanh diệt, liền vào thẳng cửa Chân
Như”.
Rốt ráo thay lời nói này ! Đây có thể làm lời dạy
chân chánh cho cái “Diệt Vọng thì gọi là Chân” vậy.
Thế nên, chuyển cái bất giác y vào Tánh Giác gọi là
Bồ Đề Vô Thượng; chuyển cái sanh tử y vào Vô Sanh
gọi là Niết Bàn, chứ chẳng phải lìa cái bất giác mà
còn có riêng cái Giác, chẳng phải lìa sanh tử mà có
riêng cái Vô Sanh. Chỉ là cái vọng kiến diệt đi tức
Chân Tánh hiện. Cái bất giác này liền ngay là Chân
Giác; cái sanh diệt này liền thật là Vô Sanh. Tức là
cái thế giới chúng sanh này đây vốn không có chi là
chúng sanh, thế giới. Thế nên mới gọi là Vô Thượng,
đó là Đại !
Chuyển Y thì có sáu thứ : Một là, Tổn lực ích
năng chuyển, nghĩa là tổn giảm thế lực của chủng tử
ô nhiễm và tăng thêm công năng của chủng tử thanh
tịnh, lần lần chế phục sự hiện hành, cũng gọi là
Chuyển Y.
Hai là, Thông đạt chuyển, nghĩa là do thấy Đạo,
đạt Chân, rồi nỗ lực đoạn trừ hai cái Chướng (Phiền
Não và Sở Tri), chứng sơ lược một phần Chân Thật
Chuyển Y.
Ba là, Tu tập chuyển, nghĩa là hàng Thập Địa từng
Địa đoạn dần câu sanh Vô Minh, chứng “Chân Chuyển
Y”.
Bốn là, Quả mãn chuyển, nghĩa là ở địa vị cứu
cánh dùng Kim Cương Định vĩnh viễn đoạn trừ tất cả
Vô Minh thô, tế, đốn chứng Chuyển Y Phật Quả Viên
Mãn.
Năm là, Hạ liệt chuyển, nghĩa là hàng Nhị Thừa
chán khổ ưa tịch lặng, ở chỗ chứng Chân Trạch Diệt,
không có khả năng kham nhẫn thù thắng.
Sáu là, Quảng đại chuyển, nghĩa là địa vị Đại
Thừa, không có cả ưa lẫn chán, thông đạt ngã pháp
đều Không, song đoạn hai Chướng, đốn chứng Vô Thượng
Bồ Đề, bởi có khả năng kham nhẫn thù thắng.
Bồ Đề Vô Thượng và Đại Niết Bàn này Quảng Đại
Chuyển Y Thứ Sáu cùng với Quả Mãn Chuyển Y Thứ Tư
đều là Đốn Chứng. So với hàng Nhị Thừa hạ liệt lần
lượt tu tập hoàn toàn khác hẳn.
Thiền Sư An Dân, ban đầu giảng kinh Lăng Nghiêm ở
thành đô, được hàng nghĩa-học nương về. Thời ấy, Tổ
Viên Ngộ ở chùa Chiếu Giác. An Dân có bạn lành là
Thắng thiền sư nên đến đó. Nghe được Tổ Viên Ngộ vào
lúc tiểu tham nêu ra nhân duyên ba lần kêu thị giả,
thì Triệu Châu có đề ra câu nói “Như người viết chữ
trong tối, chữ tuy chẳng thành mà văn vẻ đã rỡ
ràng”. Trong chỗ nào là văn vẻ đã rỡ ràng ?”
Sư An Dân tâm nghi chuyện ấy, đốt hương xin vào
thất của Tổ.
Tổ Viên Ngộ hỏi : “Tòa chủ giảng kinh gì ?”
Đáp rằng : “Lăng Nghiêm”.
Tổ Ngộ nói : “Kinh Lăng Nghiêm có bảy chỗ trưng
bày Tâm, tám nơi trả về để biện rõ Tánh Thấy, vậy
rốt ráo Tâm ở chỗ nào ?”
Sư An Dân trình bày giải thích lắm thứ, Tổ đều
chẳng chịu, mới bảo hãy ở nơi “Tất cả chốn là văn vẻ
đã rỡ ràng” mà thể hội.
Tình cờ có nhà sư hỏi Tổ về Thập Huyền Đàm(07),
vừa mới nêu ra câu “Tâm ấn của thầy, dáng vẻ thế
nào...”, thì Tổ Viên Ngộ nói lớn : “Văn vẻ đã rỡ
ràng !”
Sư Dân nghe liền có chỗ tỉnh ngộ, bèn xin ấn
chứng.
Tổ dạy : “Lấy bổn sắc mà trui rèn thì vô ích”.
Một hôm, sư thưa với Tổ : “Xin Hòa Thượng thôi
nêu lời, để tôi nói xem sao”.
Tổ chấp thuận.
Sư Dân nói : “Bình thường dơ chùy, dựng phất há
chẳng phải là chỗ trong kinh nói “Hết thảy hình
tướng có trong thế gian đều tức là Bồ Đề Diệu Minh
Chân Tâm” ư ?”
Tổ Viên Ngộ cười, nói : “Ông xưa nay ở trong đó
mà sinh nhai đấy !”
Sư Dân lại nói : “La hét, gõ sàng há chẳng phải
là “Phản văn văn tự tánh, tánh thành Vô Thượng Đạo”
ư ?”
Tổ nói : “Ông há chẳng thấy trong kinh nói :
“Diệu Tánh sáng đầy, lìa các danh tướng” ư ?”
Sư Dân ngay nơi lời nói được tiêu tan vướng mắc.
Tổ Viên Ngộ ra khỏi đất Thục, đến ở Giáp Sơn. Sư
thôi giảng kinh, theo hầu bên Tổ. Tổ ban đêm giảng
thiền cho chúng, nêu ra công án “Buồm xưa chưa
căng”. Sư chẳng khế hội, xin Tổ giải quyết.
Tổ Ngộ nói : “Ông hỏi đi !”
Sư vừa mới cất lời, Tổ Ngộ liền nói : “Trước sân,
cây bách !”
Sư bèn tỏ suốt, nói với Tổ rằng : “Người xưa nói
“Như một giọt nước rớt vào trong ao lớn”, nào chẳng
biết “Biển lớn rớt vào trong một giọt nước” !”
Tổ cười nói : “Kể sá gì lão ấy ! Chưa chi đã
khiến phân tòa giảng !”
Rồi nói bài kệ :
“Thôi khoe Tứ Phận(08), dẹp Lăng Nghiêm
Ở chốn đầu mây, triệt để tham
Chẳng học Lương Công gần Mã Tổ
Mà như Đức Kiểu(09) lễ Long Đàm
Ba thu bay lượn núi Bích Nham
Nay phiền ngồi tạm Nhất Tòa nhé
Giữa chốn trăm hoa, hiện Ưu Đàm”.
Người xưa thực tham, thực chứng, trải qua bao
nhiêu Chuyển Y rồi sau mới được chỗ yên ổn mà ngồi.
Thế biết cái “Diệt Vọng gọi là Chân” chẳng phải dễ
chứng đắc.
Kinh : “Anan, nay ông muốn tu pháp Chân Tam Ma
Địa, thẳng đến Đại Niết Bàn của Như Lai thì trước
hết phải biết hai cái nhân điên đảo này của chúng
sanh cùng thế giới. Điên đảo chẳng sanh, đó là Chân
Tam Ma Địa của Như Lai.
Thông rằng : Chân Tam Ma Địa chẳng phải do tu mà
đắc. Phàm cái gì có thể tu thì không thể nói là Chân
được. Đối với vọng duyên thì trước tiên rõ biết
nguyên nhân, nguyên nhân đã không có thì điên đảo
chẳng sanh ra. Đã không có điên đảo mà chẳng gọi là
Chân thì gọi là gì ?
Tiền trần duyên ra là phân đoạn vọng sanh, tức là
nghĩa của Giới. Giới không có tánh. Trôi dời chẳng
dừng là nghĩa của Thế. Thế cũng không có tự tánh.
Vốn không Tự Tánh, đương thể Không Tịch, đó là Chân
Tam Ma Địa.
Thiền sư Cổ Linh Thần Tán gặp Tổ Bách Trượng được
khai ngộ, bèn về chùa cũ.
Vị bổn sư hỏi rằng : “Ông xa tôi đi ra ngoài, được
sự nghiệp gì ?”
Đáp rằng : “Tuyệt chẳng có sự nghiệp gì cả”.
Thầy bèn khiến làm việc như trước.
Một hôm thầy Ngài tắm, bảo Ngài kỳ lưng.
Ngài bèn vỗ lưng, nói : “Cái Phật đường đẹp mà
Phật chẳng Thánh !”
Thầy quay đầu nhìn, Ngài nói : “Phật tuy chẳng
Thánh mà hay phóng quang”.
Thầy Ngài một hôm ngồi bên cửa sổ xem kinh, lúc
ấy có con ong đang đục giấy cửa sổ định chui ra
ngoài.
Ngài thấy thế, bảo : “Thế giới thênh thang như
kia lại chẳng chịu ra, cứ xoi giấy cũ thì năm Lừa
mới nổi !”
Rồi nói bài kệ :
“Cửa Không chẳng chịu thoát
Chui cửa sổ quá si
Trăm năm dùi giấy cũ
Ngày nào mới xuất đầu !”.
Thầy Ngài để kinh xuống, hỏi rằng : “Ông đi tham
học gặp ai, mà sao trước sau tôi thấy ông ăn nói lạ
thường !”
Sư đáp : “Con nhờ Hòa Thượng Bá Trượng chỉ cho
cái chỗ ngừng nghỉ, nay muốn báo đáp ân đức từ mấy
lâu nay”.
Thầy Ngài bèn bảo chúng thiết trai, mời Ngài
thuyết pháp.
Sư bèn lên tòa, nêu xướng môn phong Tổ Bách Trượng
rằng :
“Linh quang độc rạng
Vượt thoát căn trần
Thể lộ Chân Thường
Chẳng vương văn tự
Tâm Tánh không nhiễm
Vốn tự Viên Thành
Chỉ lìa vọng duyên
Tức Như Như Phật”.
Thầy Ngài nghe xong cảm ngộ, nói : “Ngờ đâu có
duyên được nghe cực tắc sự(10) !”
Đây cũng gọi là “Thẳng đến Đại Niết Bàn của Như Lai”
vậy. Nếu chẳng thế thì ít ai không tùy theo cái điên
đảo của chúng sanh, có lúc nào mới thôi ?
Kinh : “Anan, thế nào gọi là Điên Đảo tạo thành
Chúng Sanh ?
“Anan, do Tâm Tánh vốn Minh, tánh Minh ấy tròn
đầy toàn khắp, nên nhân cái Minh vọng phát hình như
có tánh, cái tánh ấy do vọng kiến mà sanh. Vậy là từ
chỗ “Rốt ráo không” lại hóa thành “Rốt ráo có”. Cái
Có này có được là do cái vốn chẳng có nhân làm nhân.
Tướng Năng Trụ và Sở Trụ từ căn bản không có cội
gốc. Rồi nương nơi cái cội gốc không có chỗ trụ này
mà kiến lập ra thế giới cùng chúng sanh.
“Vì mê Bổn Tánh Viên Minh mà sanh hư vọng, nhưng
tánh của vọng không có tự thể, chẳng có chỗ nương
trụ. Vừa muốn trở lại Chân Tánh thì cái muốn Chân đó
đã chẳng phải là Tánh Chân Như chân thật. Trong cái
chẳng phải Chân mà cầu trở lại Chân thì rõ ràng là
hiện thành những Phi Tướng : Phi Sanh, Phi Trụ, Phi
Tâm, Phi Pháp. Xoay vần phát sanh. Sanh lực phát
minh, huân tập thành Nghiệp. Đồng nghiệp thì cảm
nhau, nhân có cảm nghiệp bèn có sự sanh nhau, diệt
nhau. Do vậy mà có cái Điên Đảo tạo thành Chúng
Sanh.
Thông rằng : Ở trước, kinh nói “Chúng sanh nối
tiếp nhau, lỗi lầm là Giác Minh”. Ở đây nói “Điên
đảo của chúng sanh tức nhiếp hết nghiệp quả, là nhân
cái Minh mà vọng phát hình như có Tính, cái Tính ấy
do Vọng Kiến mà sanh”.
Phàm Tánh Minh sao lại sanh hư vọng ? Đó là nhân
cái Minh tức là có phân biệt, có phân biệt thì sa
lạc thành thức tình, thức tình không có gốc gác nên
gọi là hư vọng. Như không có phân biệt thì tức là
cái Dụng của Trí, thường phân biệt mà không nhiễm
trước, đó gọi là Bạch Tịnh Thức, là Đại Viên Cảnh
Trí. Không rơi vào nơi chỗ nên nói là Minh Viên,
tròn đầy sáng khắp. Một khi lập ra cái Sở, cái Minh
liền chẳng Viên mà hóa thành Vọng Kiến. Cũng như
đoạn trước nêu ra mặt trăng thứ hai và bóng lòe của
đèn đều là bệnh nhặm mắt. Đó là từ rốt ráo không
thành ra rốt ráo có vậy.
Cái Năng Hữu cùng cái Sở Hữu này chẳng phải có
một nguyên nhân gì để hiện ra là Năng hay Sở cả. Đã
không có nhân thì lấy gì mà nương trụ ? Vậy nên
tướng Năng Trụ, Sở Trụ này là tướng hư vọng, rốt ráo
không có cội gốc gì để tìm thấy. Trụ vốn không gốc
gác thì trụ bèn là Không Trụ. Như rõ được cái Vô Trụ
này thì đương thể Vô Sanh. Không nói đó là Không,
chỉ là Vô Trụ. Gốc ở cái Vô Trụ này kiến lập hết
thảy pháp, không ngại gì thế giới, chúng sanh, sắc
sắc kiến lập : trong Tự Tánh Viên Minh vốn không có
chướng ngại. Một tức tất cả. Tất cả tức Một. Tìm cái
Chân còn không có, huống gì là có Vọng ư ? Chỉ vì mê
Tánh Viên Minh này thì phân biệt vọng sanh ra.
Cho rằng phân biệt hư vọng đó là y nơi Chân mà
sanh ư ? Chân chẳng phải là môi giới cho Vọng.
Cho rằng phân biệt hư vọng đó là y nơi Cảnh mà
sanh ư ? Cảnh chẳng phải là nguồn phát xuất của Tâm.
Rõ không có chỗ nương tức là không có tự thể. Vọng
vốn không có tự thể, thì Vọng ấy tức là Chơn ấy,
ngay đó hiện là Chân Tâm, chẳng phải trừ Vọng để có
Chân. Khởi ra cái Vọng phân biệt rồi lại muốn trở về
cái Chân, thì một niệm về Chân này hoàn toàn là
Vọng. Vì sao thế ? Tánh Chân Như chân thật vốn tự Vô
Tâm, cái Chân há có thể đắc để mà muốn được ư ? Hễ
muốn Chân liền chẳng phải Chân. Trong cái chẳng phải
Chân mà cầu trở về thì đó cũng là trở về nơi cái
chẳng phải Chân vậy. Thế thì rõ là chẳng hiện thành
những tướng Phi Chân sao ? Có Vọng, có Chân, Chân
cùng Vọng đối thì Chân đó đã là Vọng rồi vậy. Có thể
cầu, có thể trở lại, ắt thuộc về tạo tác, mà tạo tác
đâu có thể là Chân. Do đó mà nói “Rõ ràng hiện thành
Phi Tướng”.
Cái gọi là Tướng, đó là Sanh Tướng, Trụ Tướng, Tâm
Tướng, Pháp Tướng. Vô Sanh mà cho là Có Sanh thì cái
Sanh ấy là Phi vậy. Vô Trụ mà cho là có Trụ thì cái
Trụ ấy là Phi vậy. Vô Tâm mà cho là có Tâm thì cái
Tâm ấy là Phi vậy. Vô Pháp mà cho là có Pháp thì
Pháp ấy là Phi vậy. Đó là bốn cái Phi Tướng xoay vần
sanh nhau.
Nương nơi pháp mà sanh tâm thì cảnh giới làm
duyên mà sanh ra Trí Tướng, Tương Tục Tướng. Do tâm
trụ vào pháp thì do hai thứ Trí Tướng và Tương Tục
Tướng mà lại khởi ra Chấp Thủ Tướng và Kế Danh Tự
Tướng. Tâm cùng pháp tương sanh thì đó là sanh lực
phát minh. Bốn cái này đều là Hoặc (Mê Lầm) huân tập
thành Nghiệp, bèn khởi ra cái Nghiệp Tướng vậy.
Do có đồng nghiệp cảm ứng lẫn nhau mà sanh diệt
tương tục, đó là nghiệp-hệ-khổ-tướng vậy. Bởi có ba
thứ Hoặc, Nghiệp và Khổ mà thành Điên Đảo của chúng
sanh. Như chẳng mê bổn tánh viên minh thì Sanh chẳng
phải Sanh, Trụ chẳng phải Trụ, Tâm chẳng phải Tâm,
Pháp chẳng phải Pháp, Vọng chẳng phải Vọng, không gì
chẳng phải Chân, Điên Đảo làm sao có ?
Xưa, Đức Văn Thù hỏi Đức Duy Ma : “Thân lấy gì
làm gốc ?”
Đáp rằng : “Tham Dục làm gốc”.
Hỏi : “Tham Dục lấy gì làm gốc ?”
Đáp rằng : “Hư Vọng Phân Biệt làm gốc”.
Hỏi : “Hư Vọng Phân Biệt lấy gì làm gốc ?”
Đáp rằng : “Điên Đảo Tưởng làm gốc”.
Hỏi : “Điên Đảo Tưởng lấy gì làm gốc ?”
Đáp rằng : “Vô Trụ làm gốc”.
Lại hỏi : “Vô Trụ lấy gì làm gốc ?”
Đáp rằng : “Vô Trụ ắt không gốc. Này Ngài Văn Thù Sư
Lợi, từ gốc Vô Trụ lập cả thảy Pháp”.
Có nhà sư hỏi Tổ Pháp Nhãn : “Trong kinh có nói :
“Từ gốc Vô Trụ lập cả thảy Pháp”. Thế nào là gốc Vô
Trụ ?”
Tổ Nhãn nói : “Hình khởi mà chưa là Chất, danh có mà
chưa là danh !”
Ngài Thiên Đồng tụng rằng :
“Hết dấu vết, bặt tin tức
Mây trắng không căn, gió mát không sắc
Tan khắp bầu trời mà chẳng phải tâm
Nắm giữ quả đất mà nào có lực
Rỗng suốt cội nguồn thiên cổ
Đúc nên khuôn mẫu muôn loài
Sát trần đạo hội : chốn chốn Phổ Hiền
Lầu các môn khai : từng từng Di Lặc”.
Tổ Tuyết Đậu đưa cây gậy lên nói rằng : “Đại
chúng ! Cây trụ trượng là hình-danh nêu hết : hình
tức vô hình, danh tức vô danh !”
Chư vị lão túc quả có một đoạn tác dụng viên
minh, chẳng sa vào tri giải. Chốn chốn trần trần tìm
Danh Tướng chúng sanh còn chẳng thể đắc, huống gì là
cái Điên Đảo.
Kinh : “Anan, thế nào là Điên Đảo tạo thành Thế
Giới ?
“Cái Có đó có được là do từng phần từng đoạn vọng
sanh. Do đó mà Giới (Không Gian) kiến lập, chẳng
phải nhân mà làm nhân, không có trụ mà làm trụ. Trôi
dời chẳng trụ, do đó mà Thế (Thời Gian) thành. Bốn
phương ba đời hòa hợp giao thiệp lẫn nhau biến hóa
thành chúng sanh mười hai loài. Thế nên, thế giới
thì nhân động có Tiếng, nhân Tiếng có Sắc, nhân Sắc
có Hương, nhân có Hương có Xúc, nhân Xúc có Vị, nhân
Vị biết Pháp. Sáu vọng tưởng lộn loạn thành nghiệp
tính, bởi thế mà có mười hai Phần Hạn (Loài) xoay
chuyển. Vậy nên trong thế gian, các thứ Thanh,
Hương, Vị, Xúc... biến đổi cùng tột đến mười hai lần
là quay trở lại.
“Dựa theo Tướng Điên Đảo luân chuyển đó mà có ra
Thế Giới, thành những loài : nỗn sanh, thai sanh,
thấp sanh, hóa sanh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, phi
hữu sắc, phi vô sắc, phi hữu tưởng, phi vô tưởng.
Thông rằng : Trong bốn quyển trước thì nói Phương
(Không Gian), Thế (Thời Gian) giao thiệp lẫn nhau,
biến đổi ba lần. Đó là đối với Y Báo (Cõi Giới) hiển
bày Chánh Báo (Chúng Sanh), do vậy mà bảo rằng công
đức của sáu Căn, mỗi cái là một ngàn hai trăm.
Còn ở đây, trong sự giao thiệp lẫn nhau, lấy Y
Báo theo Chánh Báo nên nói biến hóa thành mười hai
loài chúng sanh để bày rõ điên đảo của thế giới. Ở
trước thì nói rằng Công Đức, ở đây thì nói là Điên
Đảo, đều là do sáu căn thành tựu. Chìm đắm tức là
Điên Đảo, siêu việt tức là Công Đức, trong khoảng
trở bàn tay vậy. Sáu Căn, sáu Trần là mười hai phần
hạn. Kiến Phần và Tướng Phần đan dệt với nhau thành
mười hai biến hóa. Thanh, Hương, Vị, Xúc là do bốn
Đại tạo ra. Sáu Vọng Tưởng lộn loạn huân tập thành
chủng tử nghiệp tính. Đây là nguyên do thành lập ra
Kiến Phần của mười hai loài. Tứ Đại nương theo mười
hai phần hạn, luân chuyển cùng tột mười hai lần biến
đổi. Đó là nguyên do thành lập ra Tướng Phần của
mười hai loài. Căn Thân thì gần gũi còn Tướng phần
khí giới là xa lạ. Tướng Phần trọn không ra ngoài
sáu Trần. Chỗ khởi ra của sáu Trần vốn không có
trước sau, mà đây chỉ lấy Thanh đứng trước. Vì sao
thế ? Khi trời đất mới động, Lôi Chấn(11) có ra
tiếng, kinh động vang đến trăm dặm, nghe được rất xa
nên chỗ tiếp xúc của sáu Căn thì Âm Thanh là trước
hết. Còn năm Trần kia thì lần lần đến gần mới biết
được. Đến mùi vị lấy miệng mà biết, pháp thì dùng
tâm mà biết lại càng gần nhất. Nhưng nói tướng nhân
Âm Thanh mà tưởng thấy Sắc, nhân Sắc mà thầm biết
Hương, tiếp xúc Hương mà nhân đó tiếp xúc với Thể,
nhân tiếp xúc với Thể mà biết phân biệt Mùi Vị, nhân
phân biệt Vị mà biết chọn Pháp thì đó là chuyện
tương duyên mà khởi ra, không có trước sau.
Trong hai mươi lăm Viên Thông thì bắt đầu là Âm
Thanh mà xoay lại cái Nghe là kết thúc. Chỗ này cũng
giúp cho thấy cái Căn Nghe là tối tròn vẹn. Nhưng
Căn với Trần đan dệt nhau mà mỗi bên thành ra phần
đoạn, đó là nghĩa Giới. Trôi dời chẳng ngừng, chuyển
vần ba cõi đó là nghĩa Thế. Thế, Giới hòa hiệp, căn
trần đầy lấp. Cái chỗ có mà có được là lấy cái chẳng
phải nhân làm nhân. Vốn không có nguyên nhân gì mà
lại vọng sanh phân biệt nên là cái Điên Đảo tạo
thành Thế Giới. Nếu cả sáu Vọng Tưởng lộn loạn dứt
ngay một lượt, trong chẳng thấy Căn, ngoài chẳng
thấy Trần, thì cái Thế Giới này không có chỗ trụ,
vốn tự vô sanh, thì còn có Điên Đảo gì đâu ?
Thiền sư Sở Nam ban đầu tham hỏi Tổ Phù Dung.
Tổ Dung nói : “Ta chẳng phải thầy ông. Thầy ông
chính là Hoàng Bá !”
Sở Nam bèn đến ra mắt Tổ Hoàng Bá.
Tổ Bá hỏi : “Ông khi chưa hiện hình tượng ba cõi thì
sao ?”
Sư Nam nói : “Vậy nay há là có sao ?”
Tổ Bá nói : “Có, Không hãy để đó. Nay đây thì sao ?”
Sư Nam nói : “Chẳng kim cổ”.
Tổ Bá nói : “Pháp nhãn của ta đã ở nơi thân ông rồi
vậy”.
Về sau, có nhà sư hỏi thiền sư Sở Nam rằng : “Thế
nào là dễ ?”
Sư đáp : “Mặc áo ăn cơm, không cần đọc kinh, học
giáo, không phải hành đạo lễ bái hay đốt hương thiêu
đảnh, thế chẳng dễ ư ?”
Hỏi : “Thế nào là khó ?”
Đáp rằng : “Mảy niệm vừa sanh bèn đủ cả năm ấm !
Sanh tử luân hồi ba cõi đều từ một niệm nơi ông mà
sanh. Bởi thế, Phật dạy Chư Bồ Tát rằng : “Đó là chỗ
hộ niệm của Chư Phật”.
Thật như thiền sư Sở Nam tiền tế, hậu tế đều đoạn là
do biết sợ một niệm động. Đó quả là thấu rõ cái
nguyên nhân của Thế Giới Điên Đảo vậy.
Kinh : “Anan, do nhân thế giới hư vọng luân hồi,
điên đảo về Động, nên hòa hợp với Khí thành ra tám
mươi bốn ngàn loạn tưởng bay lặn. Do đó mà có mầm
trứng trôi lăn trong cõi nước : cá, chim, rùa,
rắn... các loài đầy dẫy.
“Do nhân thế giới tạp nhiễm luân hồi, điên đảo về
Dục nên hòa hợp với Tư (Phong Nhuận, Bổ Báo) thành
ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng ngang dọc. Do đó mà
có bọc thai trôi lăn trong cõi nước : người, súc
vật, rồng, tiên... các loài đầy dẫy.
“Do nhân thế giới chấp trước luân hồi, điên đảo
về Thú (Thú Hướng) nên hòa hợp với Nỗn (Hơi Nóng)
thành ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng nghiêng ngửa.
Do đó mà có Thịt Mềm thấp sanh trôi lăn trong cõi
nước : nhung nhúc, ngọ nguậy.. các loài đầy dẫy.
“Do nhân thế giới biến dịch luân hồi về Giả nên
hòa hợp với Xúc thành ra tám mươi bốn ngàn loạn
tưởng mới, cũ. Do đó có Thịt Cứng hóa sanh trong cõi
nước : lột võ, bay đi... các loài đầy dẫy.
Thông rằng : Các Pháp có trong ba cõi, tất cả do
Tâm tạo. Hết thảy không ngoài Kiến Phần và Tướng
Phần hòa hợp mà thành. Một niệm vừa động thì mới bắt
đầu hư vọng phân biệt. Khi đã sanh ái thủ thì thành
tạp nhiễm. Càng ngày càng nhiễm sâu, bèn thành có
bám chấp. Thế gian chưa từng có chuyện bám chấp hoài
mà không nhả, vì rốt cuộc cũng phải theo biến dịch.
Đây là cái cách thế tự nhiên của tình niệm trôi lăn
vậy.
Cái Động của niệm thì Tưởng nhẹ mà Tình nặng, nên
trứng thì do Tưởng sanh, mà thai thì bởi Tình mà có.
Trứng thì do Khí giao nên tròn và động, mà Tưởng
nhiều thăng trầm nên cảm thành quả có cá, chim...
khác nhau. Thai thì do tinh giao nên phong nhuận và
nhiễm ô, mà tình thì có nghiêng, có ngay nên cảm
thành quả có người, thú... các loại.
Chấp Tình thì xu phụ chẳng rời, cũng là cái ý
rằng mỗi thứ đam mê theo chỗ thú hướng của mình, nên
Thấp (ẩm ướt) nhân vào sự hợp cảm, chờ ngày khô ấm
mới sanh ra. Tình mê thì Khí trệ, chẳng nhờ giao hợp
nên cảm ứng ra loài máy động. Cái chấp Tình đã biến
đổi, lìa nơi đây nương nơi kia, cùng loại với biến
dịch sanh tử, nhưng lại chẳng chân thật nên gọi là
Giả. Biến hóa thì dùng cái giả danh, xúc loại mà
thành, hướng đến cái mới, chuyển đổi cái cũ. Đổi cũ
thì như loài lột vỏ, đến mới thì như loài bay đi nhẹ
nhàng. Tình đổi Khí dời, mỗi thứ ứng với thể trạng
của mình nên gọi là biến dịch luân hồi.
Mầm trứng mới nhập thai là hình thức Thai và
Trứng chưa phân biệt. Bọc thai là hình thức Thai và
Trứng đã dần dần phân biệt. Thịt mềm là hình thức
ban đầu của Thấp Sanh, đã không nhập thai nên không
có hai địa vị trên. Thịt cứng thì thoát vỏ mà thành
hình, không có tướng nhuyễn mềm. Mỗi thứ có cạn sâu
chẳng đồng, nhưng đều do sáu Vọng Tưởng lộn loạn làm
cái Nhân Điên Đảo, cho đến đầy dẫy kết thành Thế
Giới. Thế biết Chân Tánh vô lượng, mà Vô Minh cũng
vô lượng.
Thiền sư Khánh Thiện Năng thượng đường rằng: “Sự
bất đắc dĩ mới cho các ông dây leo bám : hết thảy
chúng sanh chỉ vì tâm, trần chưa chịu thoát, tình
lượng chẳng trừ, thấy sắc nghe thanh, đuổi sóng bôn
ba, trôi lăn ba cõi, lặn hụp bốn loài. Giả như chánh
kiến chẳng minh, thì đụng đâu cũng thành vướng mắc.
Nếu mà thị phi bỏ ráo, thiện ác mất tiêu thì yên
ngồi đầu Báo, Hóa Phật, triệt hết lối nẻo Thánh
phàm. Đến chỗ ấy mới cho là có chút ít tương ứng. Dù
cho như vậy, thì trên phần thầy tu chưa có gì là kỳ
đặc. Vì sao như thế ? Vừa có thị phi thì rối rắm mất
tâm. Ối !”
Có nhà sư hỏi thiền sư Báo Từ Tựï : “Tình sanh, trí
cách; tưởng biến, thể thù (sai khác), chỉ như tình
chưa sanh thì sao ?”
Sư đáp : “Cách !”
Hỏi rằng : “Tình chưa sanh thì cách cái gì ?”
Sư nói : “Cái anh chàng này, chưa gặp người vậy”.
Nếu luận về trên phần thầy tu thì Tình Tưởng
chẳng sanh cũng còn phải đợi kềm dùi, huống chi là
đuổi sóng bôn ba thì sao khỏi hụp lặn bốn loài ?
Kinh : “Do nhân thế giới lưu ngại luân hồi, điên
đảo về Chướng nên hòa hợp với Trước (Bám Níu) thành
ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng tinh diệu. Do đó mà
có yết nam sắc tướng, trôi lăn trong cõi nước : lưu
cữu, tinh minh... các loài đầy dẫy.
“Do nhân thế giới tiêu tán luân hồi, điên đảo về
Cảm, nên hòa hợp với Ám thành ra tám mươi bốn loạn
tưởng âm ẩn. Do đó mà có yết nam vô sắc, trôi lăn
trong cõi nước : không, tán, tiêu, trầm... các loài
đầy dẫy.
“Do nhân thế giới ảo tưởng luân hồi, điên đảo về
Ảnh, nên hòa hợp với Ức (Nhớ) thành ra tám mươi bốn
ngàn loạn tưởng tiềm kết. Do đó mà có yết nam hữu
tưởng, trôi lăn trong cõi nước : thần quỷ, tinh
linh... các loài đầy dẫy.
“Do nhân thế giới ngu độn luân hồi, điên đảo về
Si nên hòa hợp với Ngoan (Ngu Độn, Ngoan Cố) thành
ra tám mươi bốn ngàn loạn tưởng khô cằn. Do đó mà có
yết nam vô tưởng, trôi lăn trong cõi nước : tinh
thần hóa làm đất, cây, sắt, đá... các loài đầy dẫy.
Thông rằng : Sắc thuộc về Tướng Phần. Tưởng thuộc
về Kiến Phần. Tóm lại thì chẳng ra ngoài tứ cú: Có,
Không, cũng Có cũng Không, chẳng phải Có chẳng phải
Không. Vậy là cùng tận sự biến thái của thế giới.
Hữu Sắc thì bám níu nơi Sắc, như sự thờ phụng mặt
trời, mặt trăng, nước, lửa của ngoại đạo. Cái Tưởng
đã kết thành tinh diệu cho nên chỉ có Sắc mà thôi.
Tinh diệu sanh nơi Minh, Minh sanh nơi “Giác”. Giác
không có trụ tướng mà tinh diệu có dính mắc nên gọi
là lưu ngại. Kinh Niết Bàn nói “Tám mươi vị Thần đều
nhận nguồn tưởng lưu ngại mà thành cái tinh diệu
này”. Bởi thế tất cả tinh minh, thần vật đều có thể
dự biết trước, sự cát hung chưa từng rời Giác thể.
Chỉ bởi chướng ngại nên chẳng lưu thông nên gọi là
điên đảo về Chướng.
Vô Sắc thì bám níu nơi Không, như sự chán cái có
quay về cái Không của ngoại đạo, mê cái vô văn
(không nghe) hữu lậu nên gọi là Hoặc (Mê Lầm). Mờ
tối âm ẩn thì vào Vô Sắc Giới. Hạng hữu tưởng Vô Sắc
này chẳng thành cái thân của nghiệp, nhưng sanh Vô
Sắc Giới nên cũng có yết nam tiêu tán.
Thần quỷ tinh linh không có hình trạng thật sự,
hình như có, hình như không nên gọi là ảo tượng. Như
cúng vái cầu đảo thì nương tựa nơi ảnh tượng, hết
lòng cảm mộ ứng thông thì chỉ có nhớ tưởng. Cái hình
trạng tiềm kết chẳng phải có thực sắc nên chỉ có yết
nam hữu tưởng.
Đất, cây, vàng, đá có Sắc mà không có Tưởng,
ngoan không làm nhân nên gọi là Si. Ngoại đạo cho
sắt, đá cứng rắn là vô tình mà hữu mệnh bèn tập định
ngưng đọng như tro tàn, khô khan mê độn, gặp vật
thành Hình, giống như tiên Hoàng Đầu hóa thành đá,
đó là yết nam Vô Tưởng. Đây là do tà kiến ngoại đạo
hóa ra vậy. Hữu Sắc Vô Tưởng không ngu ngoan mà làm
cây, đá thì bám chấp mà làm tinh diệu, đó là Tướng
Phần trổi vượt hóa nên mà làm vật vậy. Hữu Tướng Vô
Sắc chẳng u ẩn mà làm quỷ vật thì tan ra mà làm
không hình thể, đó là Kiến Phần trổi vượt hóa nên mà
làm Thần vậy. Thần Thuấn Nhã Đa (Hư Không) không có
thân mà có cảm giác là thuộc về Vô Sắc Giới.
Những thứ đó đều do sáu Vọng Tưởng lộn loạn mà
ra, chỉ vì đạo nhãn chẳng sáng mà phải như vậy.
Có nhà sư hỏi thiền sư Kim Phong Chí : “Thân này
vô tri, như đất, cây, ngói, đá. Ý này ra sao ?”
Sư bước xuống thiền sàng, vặn tai nhà sư. Nhà sư đau
quá la lên.
Ngài nói : “Ngày nay mới nắm đầu được cái gã vô
tri !”
Nhà sư làm lễ, lui ra.
Ngài gọi : “Xà Lê !”
Nhà sư ngoái đầu lại.
Ngài nói : “Vào trong thiền đường, chớ có nói ra !”
Hỏi rằng : “Sao thế”.
Ngài nói : “Hẳn có người cười tâm lão bà(12) của Kim
Phong này”.
Lại có một hành giả ngồi trong tịnh thất, hào
quang tỏa sáng ra, thiền sư trụ trì e mê hoặc trong
chúng, nên đuổi đi. Đó là tu tập lầm loạn, chẳng rõ
cái chí lý bình thường vậy.
Quan Thiêm Phán Lưu Kinh Thần có viết thiên Minh
Đạo Luận Nho để cảnh tỉnh đời, có câu “Minh Đạo ở
chỗ thấy Tánh. Chỗ ngộ của ta là thấy Tánh mà thôi
vậy”.
Ông viết tiếp : “Mạnh Tử nói : “Miệng ở nơi Vị.
Mắt ở nơi Sắc. Tai ở nơi Thanh. Mũi ở nơi Mùi. Tứ
chi ở nơi Thong Dong. Đó là Tánh vậy”.
Ông Dương Tử nói : “Thấy, Nghe, Nói Năng, Suy
Nghĩ là sở hữu của Tánh vậy. Thấy được như thế ắt là
rõ Đạo.
“Phải biết Đạo chẳng xa người. Người ở nơi Đạo
như cá ở trong nước, chưa hề có khoảnh khắc xa rời.
Chỉ chẳng biết mình, chạy đuổi theo vật nên chung
thân chẳng tự biết. Phật nói Đại Giác; Nho nói Tiên
Giác, là chỗ Giác này vậy. Người xưa có câu “Xưa nay
nào rớt lọt, rõ ràng ngay trước mắt”.
Lại nói : “Đạo lớn chỉ ngay trước mắt. Chính vì
trước mắt nên khó thấy. Muốn rõ Chân Thể của Đạo thì
chẳng rời ngôn ngữ, thanh sắc !”
Lại nói :
“Đêm đêm ôm Phật ngủ
Sáng sáng lại cùng dậy
Đi đứng trọn theo nhau
Nói nín cùng yên ở
Muốn rõ chỗ Phật ư
Chỉ lời, tiếng là đó !”.
“Đó là chỗ nhà Phật nói Đạo là rất thân thiết
vậy.
“Đứng thì thấy sờ sờ trước mắt. Ngồi trên xe liền
thấy dựa nơi đòn ngang của xe. Ngắm xem thì ở trước,
hốt nhiên là ở sau. Nắm qua tả hữu thì ngay đầu
mối”.
“Đó là chỗ nhà Nho nói Đạo thật rất gần vậy.
“Khốn nỗi, Đạo này chỉ có thể tâm truyền, chẳng
lập văn tự. Bởi thế, Đức Thế Tôn đưa hoa lên mà Diệu
Tâm truyền cho Ngài Ca Diếp. Đức Đạt Ma ngó vách mà
tông chỉ phó cho Ngài Thần Quang. Sáu Cánh đã bày
(từ Tổ Đạt Ma đến Lục Tổ) thì ngàn hoa đua nở, phân
Tông khai Phái mà mỗi mỗi môn đình. Thế nên có nháy
mắt, nhướng mày, đưa nắm tay, dựng ngón tay, hoặc
vung gậy, quát hét, dựng phất, dỡ chùy, hoặc cầm
chĩa, dương cung, đá cầu, múa hốt. Hoặc đào đá, ban
đất, đánh trống, thổi lông, hoặc nín hoặc nói, hoặc
hô hoặc cười, cho đến hết thảy phương tiện đều chỉ
thân thiết vì người. Nhưng chỉ vì cực kỳ thân thiết
mà người ta phần đông hoang mang. Chớp mắt là thấy,
chẳng cách mảy tơ ! Giả như trầm ngâm thì xa vời
muôn dặm ! Muốn rõ Đạo này chớ để trợt qua ! Tổ Tổ
truyền nhau đến nay chẳng dứt, quả là đắc cái mà nhà
Nho ta gọi là “Không đâu chẳng đẹp lòng, nghe gì
cũng chẳng trái” đó vậy.
“Chỗ tâm đắc của tôi thật ở môn này. Suy nghĩ lại
thì đạo Nho tự có Đạo ấy. Lành thay lời nói của Đức
Khổng Tử : “Im lặng mà biết đó, một Thể mà suốt
thông”. Cho nên mắt thấy mà Đạo còn, tay chỉ mà ý
dụ. Phàm như thế thì đều hợp với diệu chỉ của Tông
Môn, đắc cái Chân Cơ của giáo ngoại biệt truyền vậy.
Thế mà Đạo của Khổng Tử truyền cho Tử Tư, Tử Tư
truyền cho Mạnh Tử, Mạnh Tử mất mà chẳng có ai để
truyền, nên cái được truyền lại ở đời chỉ là văn tự.
Bởi thế cái học của tôi ắt là cầu tự được mới thôi.
Hạnh phúc cho tôi là một đêm nọ được khai ngộ nên
phàm mắt thấy gì, tai nghe gì, tâm nghĩ gì, miệng
nói gì, tay chân vận động gì đều không gì chẳng là
mầu nhiệm (diệu). Được rồi càng lâu ngày càng thêm
hiện tiền. Có khi đem trao cho người, người chẳng
lãnh nhận, mới biết Diệu Đạo quả chẳng có thể lấy
văn tự mà truyền.
“Hởi ôi, Đạo là vậy, có được người thì truyền, không
có người thì tuyệt mất. Tôi đã được thế, có ai giống
vậy không nhỉ ? Suốt đời tôi có người ư ? Không có
người ư ? Trong chỗ “Chẳng thể đắc” mà biết vậy. Nên
tôi làm lời ký, tụng, ca để lưu truyền việc này, lại
trước tác thiên này để chỉ dạy học trò của tôi đó”.
Kinh : “Do nhân thế giới tương đãi luân hồi, điên
đảo về Ngụy nên hòa hợp với Nhiễm thành ra tám mươi
bốn ngàn loạn tưởng nhân y. Do đó mà có yết nam
“Không phải có Sắc mà có Sắc” trôi lăn trong cõi
nước : những loài sứa lấy tôm làm mắt... các loài
đầy dẫy.
“Do nhân thế giới tương đãi luân hồi, điên đảo về
Tánh nên hòa hợp với Chu” thành ra tám mươi bốn ngàn
loạn tưởng hô triệu. Do đó mà có yết nam “Chẳng phải
Vô Sắc mà Vô Sắc” trôi lăn trong cõi nước : Chú trớ,
yếm sanh... các loài đầy dẫy.
“Do nhân thế giới hợp vọng luân hồi, điên đảo về
Võng nên hòa hợp với Dị thành ra tám mươi bốn ngàn
loạn tưởng hồi hỗ. Do đó mà có yết nam “Không phải
Có Tưởng mà Có Tưởng” trôi lăn trong cõi nước : các
loài tò vò, lấy chất khác thành thân mình... các
loài đầy dẫy.
“Do nhân thế giới oán hại luân hồi, điên đảo về
Sát nên hòa hợp với Quái thành ra tám mươi bốn ngàn
loạn tưởng ăn thịt cha mẹ. Do đó có yết nam “Không
phải Vô Tưởng mà Vô Tưởng” trôi lăn trong cõi nước :
như con thổ kiêu ấp đất cục làm con, hay chim phá
kính ấp quả cây độc làm con, con lớn lên thì trở lại
ăn thịt cha mẹ... các loài đầy dẫy.
“Đó là mười hai chủng loại chúng sanh.
Thông rằng : Sắc, Tưởng là có hay là không, cũng
như nghĩa Âm Dương đủ bao gồm muôn biến hoá. Nhưng
trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, tựa như Âm mà
thật là Dương, hình như Dương mà thật là Âm, sự biến
hóa không lường nổi. Loạn tưởng không cùng, chúng
sanh vô tận, chẳng phải cái Trí Đại Viên Cảnh của
Phật thì ai mà thấu suốt cho nổi ?
Tương đãi luân hồi là nương mượn vật, nên gọi là
Ngụy. Con sứa dùng con tôm làm mắt, nghĩa là chẳng
phải có Sắc mà đợi vật khác để thành Sắc. Đây kia
khác chất nên gọi là hòa hợp với Nhiễm Duyên.
Còn như tà nghiệp dẫn nhau chỉ nhờ Chú Thuật hô
triệu, chẳng phải đây có tánh kia cũng có thể dẫn,
nên gọi là điên đảo về tánh. Bùa Chú trù yếm này
cũng hay biến hiện được, chẳng phải là Vô Sắc Tướng.
Nhưng mượn Âm Thanh mà tạo ra hình chất, không do
sanh lý nên vốn là Vô Sắc. Cái sức Chú này từ con
người làm ra, không có gì lạ lắm.
Con tò vò vốn là sâu lá dâu, chẳng phải có cái
Tưởng con ong mà lại thành cái Tưởng con ong, vì lấy
chất khác nên chẳng phải như thai hay trứng là
truyền mạng trong Tưởng, rốt là thành lẫn nhau. Chú
kia theo ta, lấy Vọng hóa ra Vọng, cái khác mà lấy
cho là của mình, nên gọi là hồi hỗ. Đây là loài khác
nhau mà nương nhau, tuy gọi là hợp vọng cũng chưa là
kỳ quái.
Như con thổ kiêu, phá kính, lấy vật khác làm con,
con lớn lên thì trở lại ăn thịt, mất hết luân thường
đạo nghĩa, chẳng phải là cái lý thường nên gọi là kỳ
quái. Tất cả đều do nhiều đời oán hại nên sanh lẫn
nhau, giết lẫn nhau, đổi thương thành oán, đổi oán
thành thương, vay trả trả vay mà thành ra một chủng
loại.
Con thổ kiêu ăn mẹ, con phá kính ăn cha chẳng
phải là Vô Tưởng, nhưng đất cục và quả độc thì “Có
Tưởng” sao ? Đến như Ghẻ-Mặt-Người(13) của Quốc Sư
Ngô Đạt là mối thù oán nhiều đời giữa Viên Án và
Triệu Thố, nơi một thân mà tự hại nhau, thì loài thổ
kiêu, phá kính cách thân mà hại nhau đâu có thể so
sánh. Viên Án, Triệu Thố chẳng phải là Vô Tưởng, mà
cái Ghẻ-Mặt-Người chẳng phải là Hữu Tưởng. Đây là do
phiền não kết thành, mỗi mỗi có tám mươi bốn ngàn
luân hồi, theo nghiệp đời đời không cùng. Một thời
đầy dẫy, thì không cõi giới nào chẳng có, nhiều kiếp
đầy dẫy thì không đời nào mà chẳng thế ! Không có
chúng sanh Chánh Báo lấy gì mà cảm thọ Y Báo ? Không
có thế giới Y Báo lấy gì mà thành ra Chánh Báo ? Vậy
điên đảo của thế giới chính là điên đảo của chúng
sanh. Cũng đều do phản bội cái Giác, hợp với Trần
chứ chẳng có hai nhân nào hết vậy. Chỗ này đối với
chúng sanh thì chỉ dạy sơ lược về nguồn gốc điên
đảo, còn đối với thế giới thì chỉ rõ thực trạng của
điên đảo. Điên Đảo chính là nghiệp quả mà ở trước
nói là “Ba cái tương tục”, là gồm chung hết vậy.
Nhà sư hỏi Tổ Bách Trượng : “Như nay thọ Giới,
thân khẩu trong sạch, đã đủ muôn thiện, có được Giải
Thoát không ?”
Tổ Trượng nói : “Giải Thoát chút ít ! Nhưng chưa
được Tâm Giải Thoát, cũng chưa được Nhất Thiết
Xứ(14) Giải Thoát”.
Hỏi rằng : “Thế nào là Tâm Giải Thoát và Nhất
Thiết Xứ Giải Thoát ?”
Tổ Trượng nói : “Chẳng cầu Phật, Pháp, Tăng cho
đến chẳng cầu Phước Trí, Tri Giải hết thảy đó. Cái
tình Sạch Dơ hết ráo mà cũng chẳng giữ cái không cầu
này cho là phải. Cũng chẳng trụ nơi chỗ hết này,
cũng chẳng khoái Thiên Đường, sợ Địa Ngục, trói buộc
hay giải thoát đều không ngại. Như thế thì thân tâm
cùng nhất thiết xứ đều là Giải Thoát.
“Ông chớ nói có chút phần Giới Thân, Khẩu, Ý trong
sạch bèn cho là xong, mà chẳng biết hằng sa Giới
Định Huệ, Vô Lậu giải thoát đều chưa ăn nhằm một mảy
lông. Hãy nỗ lực tiến tới, cần dũng mãnh cứu xét
lấy, chớ đợi đến tai điếc mắt mờ, da nhăn tóc bạc,
già khổ đến thân, sầu thương rối buộc, nước mắt lưng
tròng, tâm hồn sợ sệt, hoàn toàn không có chỗ tựa
nương, chẳng biết chỗ về. Đến lúc đó rồi thì sửa
sang lo liệu chẳng được đâu ! Dù có Phước Trí, danh
văn, lợi dưỡng đều chẳng thể cứu.
“Cũng bởi Tâm Nhãn chưa mở ra, chỉ nghĩ nhớ theo
cảnh, chẳng hề chịu soi trở lại, lại không thấy Phật
Đạo. Bao nhiêu nghiệp duyên thiện ác một đời hiện ra
trước mắt, hoặc vui mừng hoặc khủng khiếp. Năm uẩn,
sáu đường cùng lúc hiện ra trước mặt, phô bày nhà
cửa đẹp đẽ, thuyền bè xe cộ tráng lệ huy hoàng. Tất
cả đều từ thân tâm tham ái mà hiện ra. Đường ác mà
mê mờ đều biến thành cảnh tốt đẹp, chỉ tùy theo chỗ
nghiêng nặng của tham ái, sự dẫn dắt của nghiệp
thức, theo chỗ bám níu mà thọ sanh, tuyệt chẳng có
chút gì tự do. Rồng, thú, tốt, xấu mịt mờ đều chưa
định”.
Hỏi rằng : “Như sao là được phần tự do ?”
Tổ Trượng nói : “Ngay đây thì được. Hoặc là đối
với ngũ dục, bát phong, tình không lấy bỏ, tiếc lẩn,
tham ái. Tình ngã sở tuyệt mất, dơ sạch tiêu vong.
Như mặt trời, mặt trăng giữa không chiếu soi không
dính dáng. Tâm tâm như gỗ đá, niệm niệm như cứu lửa
cháy đầu, hay như con hương-tượng vượt sông, chặt
đứt dòng mà qua, không còn nghi ngờ vướng víu. Người
như thế thì Thiên Đường, Địa Ngục làm sao nhiếp
giữ”.
Than ôi, Tổ Bách Trượng đinh ninh răn dạy, chẳng
tiếc từ bi. Cần ở nơi chỗ căn dặn mà dũng mãnh tỉnh
thức, dựng đứng tâm tư, mới hay rằng cái nhân điên
đảo nào có do ai, mới hay cái Chân Tam Ma Địa vốn tự
sẵn đủ xưa giờ. Đến chỗ “Sạch dơ đều mất, Thiên
Đường Địa Ngục làm sao nhiếp giữ” thì còn mười hai
chủng loại nào mà xoay chuyển được ư ?
01
Trầm thủy loại thô, màu đỏ.
02 Nghe thật.
03 Người.
04 Có bốn nghĩa : muối, đồ dùng, nước và ngựa.
05 Sao chổi.
06 Chày báu.
07 Mười bài kệ của thiền sư Đường An Sát.
08 Bốn phần Luật.
09 Đức Sơn.
10 Sự cùng tột của Thiền.
11 Sấm sét, quẻ Dịch.
12 Từ bi.
13 Xem tích Ông Ngô Đạt trong kinh Thủy Sám. Ở đây
sơ lược như sau. Ông Ngô Đạt, kiếp trước tên Viên
Án, có hại một người tên Triều Thố. Kiếp này y đi
theo báo oán: làm một cái mụt ghẻ lồi lên hình mặt
người, hành hạ đau đớn để trả thù.
14 Cả thảy chỗ.