| ||||||
|
|
KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG Nhẫn Tế Thiền Sư -o0o- QUYỂN VI
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG Kinh : “Bạch Thế Tôn, tôi lại dùng Diệu Lực Vô Tác của Kim Cương Tam Muội Văn Huân Văn Tu này, cùng tất cả lục đạo chúng sanh mười phương ba đời đồng một bi ngưỡng, nên khiến các chúng sanh, nơi thân tâm tôi, được mười bốn thứ công đức Vô Úy. Thông rằng : Từ là nói về Lực, Lực đủ ứng khắp, nên gọi là Đại Từ. Bi là nói sự Ngưỡng, đáp ứng với ngưỡng vọng, nên gọi là Đại Bi. Chúng sanh sợ là sợ sanh tử vậy. Dùng cái Diệu Lực Vô Tác chẳng sanh chẳng diệt mà cứu vớt cho, để đến bờ bên kia, công đức ấy nói sao cho cùng !
Kinh Duy Ma Cật, Đức Văn Thù Sư Lợi hỏi : “Sanh
tử đáng sợ, Bồ Tát phải nương chỗ nào ?” Lại có cô cư sĩ Hưu Xá tự nói đắc An Ổn Tràng của Bồ Tát : “Vì chúng sanh chưa lìa sanh tử, nên Bồ Tát chẳng tự mình giữ lấy an ổn. Nếu hay vào sanh tử giáo hóa chúng sanh, thấu đạt sanh tử cho đến chúng sanh mà vẫn thường giáo hoá, thảy đều là hạnh Niết Bàn. Không khởi ra, không chìm mất, mới gọi là “Tràng an ổn, lìa lo”.
Nên Văn Huân Văn Tu, dùng đó tự độ, cũng dùng đó
độ tha, chính là sự an ổn. Kinh : “Một là, do tôi không tự quán cái Âm Thanh, mà quán cái Tánh Quán, nên khiến cho chúng sanh khổ não mười phương kia quán Âm Thanh ấy liền được Giải Thoát. Thông rằng : Cái tâm bức bách đau khổ của chúng sanh, tức là tâm của Bồ Tát. Cái Âm Thanh mà chúng sanh xưng hô danh hiệu tức là cái Âm Thanh của Quan Âm vậy. Nếu quán Âm Thanh ấy thì chưa lìa Thanh Trần, bèn tựa như có khổ não. Nếu quán cái Tánh Quán, chỗ mà các khổ chẳng đến, liền đây Giải Thoát. Đây là cái Cơ Phản Văn Đệ Nhất vậy. Có nhà sư hỏi Trương Châu Lịch Thôn Hòa Thượng : “Như sao là “Quán Âm Thanh ấy mà liền Giải Thoát” ?” Tổ Thôn lấy đũa-gắp-than gõ cây củi, nói : “Ông nghe chăng ?” Đáp : “Nghe”. Tổ Thôn nói : “Nào chẳng giải thoát ?”
Thật là khéo nói chỉ thú vi diệu mầu sâu của Lăng
Nghiêm vậy thay ! Kinh : “Hai là, cái Thấy-Biết đã xoay lại, khiến các chúng sanh dầu vào lửa lớn, lửa chẳng thể đốt. Thông rằng : Cái Thấy-Biết thuộc Hỏa. Thấy-Biết quay về sự trong lặng, tánh trong lặng tròn đầy, nên Lửa chẳng đến được. Thầy Linh Nhuận từng cùng bạn đạo lên núi dạo cảnh. Lửa ma trơi bốn phía hợp lại. Chúng bạn đều chạy tán. Thầy Nhuận một mình yên bước trèo lên, kêu bạn đạo rằng : “Ngoài tâm không có lửa, lửa thiệt tự tâm. Cho là có lửa để tránh, làm sao khỏi lửa ?”
Lửa đến thầy Nhuận thì lập tức tắt mất. Kinh : “Ba là, quán cái Nghe được xoay trở lại, khiến các chúng sanh bị nước lớn cuốn trôi, nước chẳng thể chìm. Thông rằng : Nghe tiếng thuộc về Thủy. Nhà y học cũng cho lỗ tai thuộc Thận. Cái Nghe xoay trở lại thì nước trở về nguồn, nên nước chẳng thể chìm. Ông Cần Na Bạt Đà, nghĩa là Công Đức Hiền, người Trung Thiên Trúc. Năm Thứ Mười Hai hiệu Nguyên Hy đến xứ Kiến Nghiệp, được Nam Tiều Vương Nghĩa Tuyên kính trọng. Vương có mưu nghịch, ông can gián đến chảy nước mắt mà chẳng nghe. Bị bại ở Lương Sơn, rớt xuống dòng sông, ông một lòng niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, tay nắm được cành trúc. Nhìn thấy đồng tử kéo lấy áo, nói : “Đứa con nít này hay vậy ư ?” Lên đến bờ, muốn cởi áo khoác tặng cho, nhưng đồng tử bỗng biến mất tại chỗ.
Có nhà sư hỏi Tổ Bảo Phước : “Như sao là vào lửa
chẳng cháy, vào nước chẳng chìm ?”
Đây thật là được cái mầu nhiệm của việc xoay trở
lại, nên lời nói chặt gọn như vậy. Kinh : “Bốn là, diệt hết vọng tưởng, tâm không sát hại, khiến các chúng sanh vào các nước Quỷ, Quỷ không thể hại. Thông rằng : Yêu tinh, quỷ quái chẳng có thể gặp. Từ xưa, chỗ gọi là quỷ phương cũng là nhiều, nhưng chỉ có nước quỷ La Sát ở biển là hại hơn hết. Người đi biển bị hắc phong trôi dạt đến xứ ấy, thì có nam nữ xinh đẹp đem thức ăn uống đến ủy lạo, khiến cho người vui mà quên trở về. Thuyền sau tới thì bắt người trong thuyền trước ăn thịt hết. Ngày đầu tháng, ngày giữa tháng thì có Mã Vương đến độ thoát đoàn chúng ấy. Nương theo ngựa mà thoát, hoặc ở đầu hoặc ở đuôi, chỉ cần nhất tâm chẳng nhớ đến sự vui kia, thì về nước cũ. Hễ còn chút ít vướng niệm thì rớt xuống biển.
Thầy Chân Tây Sơn làm lời bạt kinh Diệu Pháp Liên
Hoa rằng : “Tôi thuở nhỏ đọc phẩm Phổ Môn, tuy chưa
rõ sâu ý nghĩa, nhưng dùng ý cho rằng “Đây là ngụ
ngôn của nhà Phật”. Sư nói : “Thằng nhỏ Lý Cao, hỏi chuyện ấy làm gì”. Văn Công bỗng chợt phát sân lên mặt. Sư cười nói : “Phát tâm sân nộ thế, đó là “Gió dữ thổi ghe trôi vào nước Quỷ” vậy !” Ôi chao, Tổ Dược Sơn đáng gọi là khéo khai mở cho người vậy. Từ đó suy ra thì biết Lợi Dục bừng bừng đó là hầm lửa. Tham Ái chìm đắm, đó là biển khổ. Một niệm trong sạch, lửa mạnh thành ao mát. Một niệm tỉnh thức, thuyền đến bờ kia. Tai nạn buộc ràng, tùy chỗ mà an. Ta không kinh sợ, gông cùm tự mở. Kẻ dữ xâm lấn, đối đãi ngang ngược, ta không giận ghét, như thú tự bỏ chạy. Người đọc kinh này, hành Quán như thế, ắt biết Đức Đại Sĩ tại núi Phổ Đà chân thật vì người. Chẳng phải lời nói suông.
Căn cứ theo Truyền Đăng Lục thì có câu “Này cái
lão Vu Khoảnh, hỏi điều đó làm gì ?”, thuộc về lời
nói của thiền sư Tử Ngọc. Câu truyện không giống
hẳn, chỉ cốt hiểu được cái ý. Kinh : “Năm là, nơi cái Nghe huân tu thành tựu trong Tánh Nghe, sáu Căn tiêu về bản tánh, đồng như cái tiếng, cái nghe, hay khiến chúng sanh đang khi bị hại, dao gãy từng khúc, khiến cho binh khí, dường như chém nước, như thổi ánh sáng, tánh không chao động. Thông rằng : Tánh Nghe Viên Thông(16), nào có hình trạng. Huân tu nơi cái Nghe, thành tròn vẹn nơi Tánh Nghe, ắt sáu Căn tiêu về bản tánh, hóa thành Tánh Nghe. Ngoại vật được chạm xúc, đều đồng như cái nghe, cái tiếng. Dầu cho binh khí cũng như chặt nước, thổi ánh sáng vậy. Tánh Nghe bất động, bèn không kinh sợ. Đã không kinh sợ, ắt cái người chẳng-thể-hoại ở tại ta, mà dao kiếm gãy từng khúc vậy.
Vua nước Kế Tân, mang gươm đến chỗ Tôn Giả Sư Tử,
hỏi rằng : “Thầy đắc uẩn-không chăng ?”
Tứ Đại nguyên chẳng có Đây có thể nói là Thuần Giác quên thân, tánh không chao động. (Xét bộ Xuân Thu Thập Lục Quốc, sư Triệu đời Tấn niên hiệu Nghĩa Hy Thứ Mười, ở Trường An diệt độ trong điềm lành, không có việc bị hình).
Đời truyền rằng kinh Cao Vương Quan Âm, tụng đến
gông cùm đều thoát sạch, rất là linh ứng, nhưng có
người cho là ngụy kinh. Kinh : “Sáu là, huân tu theo Tánh Nghe thuần sáng, sáng khắp pháp giới ắt các tối tăm chẳng có thể còn, khiến cho chúng sanh tuy có Dược Xoa, La Sát, quỷ Cưu Bàn Trà, cho đến Tỳ Xá Già, Phú Đơn Na... ở gần bên cạnh cũng chẳng thể thấy. Thông rằng : Quỷ Thần lấy sự tối tăm thành tánh. Nhờ nơi tối tăm mà được dịp, còn ở nơi sáng suốt thì không thể hiện ra dấu vết, cho nên nói “Chẳng thể còn”. Huống gì cái tối tăm kia là hữu hạn, mà ánh sáng ta thì vô biên. Ánh sáng thuần túy sáng rỡ, chói rực nơi tối tăm, làm lòa con mắt, nên chẳng thể thấy.
Sư Ngộ Bổn nhậm giữ ở Động Sơn hai mươi năm. Thần
Thổ Địa chẳng nhận thấy được. Thầy Chủ Sự nói : “Hòa Thượng đang dùng bữa tại trai đường, ông lật úp mâm cơm, Hòa Thượng kêu lên, thì ngươi sẽ thấy”. Hôm sau, thần lật úp mâm cơm. Sư kêu lên rằng : “Đáng tiếc vật thường trụ !” Thần mới biết mặt sư một phen.
Ở chỗ Ngài Diêm Quan, có một thầy Chủ Sự, một hôm
bỗng thấy một quỷ sứ đến tìm bắt. Nói xong biến mất. Bảy ngày sau lại đến, tìm mãi nhà sư chẳng được !
Người đời sau nêu hỏi một vị tăng : “Như khi bị
kiếm bắt, làm sao nghĩ định để hắn bỏ đi ?”
Chỗ này cũng giống chuyện Tổ Nam Tuyền đến trang
trại. Thần Thổ Địa báo trước cho trang chủ, ông này
thiết trai cúng dường rất đầy đủ. Kinh : “Bảy là, tiếng tăm tiêu trọn, Thấy-Nghe xoay lại nhập vào, lìa các vọng trần, có thể khiến cho chúng sanh gông cùm, xiềng xích chẳng thể trói buộc. Thông rằng : Có Tiếng, có Trần, chưa vào Tánh Nghe, bèn bị Trần trói. Giờ tiếng tăm tiêu trọn, hai tướng động tịnh rõ ràng chẳng sanh. Cái Thấy Nghe xoay lại nhập vào, đến chỗ chẳng sanh diệt, liền lìa các trần hư vọng, đó gọi là Chân Giải Thoát vậy. Như đảm đương đại pháp, riêng cần sẵn đủ một con mắt lẻ !
Tổ Vân Môn đến trang trại Tổ Tuyết Phong, gặp một
nhà sư bèn hỏi : “Thượng Tọa hôm nay lên núi đó ư ?”
Hai tắc này đáng để xem lẫn nhau. Kinh : “Tám là, dứt cái tiếng, tròn vẹn cái Nghe, khắp sanh sức Từ, có thể khiến cho chúng sanh đi qua đường hiểm, giặc không thể cướp”. Thông rằng : Cảm và Ứng là một Cơ, đây và kia là một Tâm vậy. Trong chẳng ứng, ngoài chẳng làm gì được. Nên tâm không có sự sát hại thì quỷ chẳng thể xâm phạm. Khắp sanh sức Từ, ắt giặc không thể cướp. Bởi vì, diệt cái tiếng thì trọn không có đối đãi. Tròn vẹn cái Nghe tức đồng một Thể, nên không thành thù địch để bị cướp vậy.
Thiền sư Đại Đồng ở Đầu Tử Sơn gặp ổ cướp làm
loạn.
Đây là định nghiệp nên chẳng tránh khỏi. Nhưng
cái của báu của Tổ Tâm Giác và Tổ Nham Đầu há bọn
cướp có thể cướp được sao ? Kinh : “Chín là, huân tu theo Tánh Nghe, lìa các trần tướng, sắc không thể cướp níu, có thể khiến cho chúng sanh nhiều dâm lìa xa tham dục.
Thông rằng : Huân tu theo Tánh Nghe ắt dục ái khô
khan. Bởi do nước về căn nguồn, nên lửa chẳng thể
đốt vậy. Tiếng trần đã tiêu tan, các trần khác đều
thoát. Căn và Cảnh chẳng cướp lẫn nhau, nên hình sắc
chẳng mê hoặc được.
“Lâu trồng sâu căn lành Ngài Cưu Ma La Thập bỗng nghe trên vai có hai đứa con nít khóc. Tổ Thập nói : “Đây là dục chướng vậy”. Ngài nói với vua Tần ban cấp cho bốn người cung nữ, một lần giao hợp mà sanh hai con trai. Dục chướng liền dứt. Đệ tử thấy vậy, chẳng gìn giữ Giới Luật. Tổ Thập bèn túm nắm kim nhai nuốt mà nói : “Có thể như ta nuốt kim, mới có thể hành dục”.
Do đó, hết thảy chúng sợ hãi mà phụng trì Giáo
Pháp.
Kinh : Mười là, thuần Âm không trần, Căn Cảnh viên dung, không năng sở đối, có thể khiến cho tất cả chúng sanh căm giận lìa lòng oán giận. Thông rằng : Sân so với Tham lại càng vi mật, rất khó nhổ khỏi. Nên lìa Trần thì có thể dứt Tham, còn Sân thì phải không có Trần rồi sau mới dứt được vậy. Bên ngoài không có chỗ Sở Đối thì dễ, trong không có cái Năng Đối thì khó. Chẳng được Căn Cảnh viên dung, thuần lại càng thuần, khó nói lời này. Tuy nhiên, cũng có thể dùng sân giận mà làm Phật sự. Như thầy Từ Minh, ở Tổ Phần Dương hai năm, chưa được nhập thất, mỗi lần gặp là bị mắng nhiếc, hoặc chê bai các nơi khác, đến khi dạy bảo thì đều là chuyện phàm tục thô bỉ. Một đêm nọ, thầy than rằng “Từ khi đến học pháp đã hai hạ, chẳng được chỉ bày, chỉ tăng thêm trần lao thế tục; thầm nghĩ năm tháng trôi mau, việc mình chẳng rõ, mất đi sự lợi ích xuất gia”. Lời chưa dứt, Tổ Dương quắc mắt, nói : “Ác tri thức ! Dám nói thêm nói bớt cho ta !” Rồi nổi giận cầm gậy rượt. Thầy Minh định kêu cứu. Tổ Dương bịt miệng, bèn đại ngộ, nói : “Mới biết đạo của Lâm Tế vượt khỏi thường tình”. Từ đó, phục dịch bảy năm mới ra đi. Sau, ở Từ Minh, thầy Hoàng Long Nam thiết tha cần cầu khai thị. Tổ Minh nói : “Ông học thiền Vân Môn ắt rành yếu chỉ. Như nói “Tha Động Sơn ba gậy”, là có hợp phần ăn gậy hay không hợp phần ăn gậy ?”
Thầy Nam đáp : “Có hợp phần ăn gậy”.
“Kiệt xuất tùng lâm thiệt Triệu Châu
Tổ Minh gật đầu. Kinh : “Mười một là, tiêu tan trần tướng, trở lại Tánh Bản Minh, pháp giới thân tâm như ngọc lưu ly, sáng suốt không ngại, có thể khiến cho tất cả các kẻ u mê ám chướng lìa xa vĩnh viễn si tối. Thông rằng : Tánh Nghe chẳng phải là Tánh Thấy, sao lại nói chữ Minh ? Minh tức là Giác vậy. Giác và Sở Giác đều không, nên sáng khắp pháp giới. Không-Giác cùng tột tròn vẹn, nên pháp giới, thân tâm như ngọc lưu ly, sáng suốt không ngại. Mới là sáu Căn dùng lẫn nhau, thấy tức là nghe, nên nói rằng tiêu tan trần tướng, trở lại Tánh Bản Minh vậy. Nghiệp bên trong có mười thứ làm che mất Pháp Thân, trong đó Dâm, Nộ, Si là lớn nhất. Ngài Thiên Thai giải thích ba cái độc thông cả trong ngoài. Bên trong gọi là Tư Hoặc, bên ngoài gọi là Vô Minh. Bậc Nhị Thừa thích khoái Niết Bàn là Tham; chán ghét Sanh Tử là Sân; không biết Trung Đạo là Si. Bậc Bồ Tát thì rộng cầu Phật Pháp là Tham, la đuổi Nhị Thừa là Sân, chưa rõ Phật Tánh là Si. Đều là ba độc, mà Si là gốc rễ, nên rất khó trừ nghiệp Si vậy thay ! Tổ Bách Trượng nói : “Pháp đục là Tham, Sân, Ái, Thủ, cả thảy nhiều tên vậy. Pháp trong là Bồ Đề, Niết Bàn, Giải Thoát cả thảy nhiều tên vậy. Chỉ như nay soi tỏ nơi hai thứ trong đục, các pháp phàm thánh trọn chẳng có được chút tơ hào nào ái thủ. Đã chẳng ái thủ, mà nương trụ cái chẳng ái thủ cho là đúng, đó là Sơ Thiện, là trụ tâm điều phục, là người Thanh Văn, là người yêu thích bè chẳng bỏ, là đạo của Nhị Thừa, là quả của thiền na. Đã chẳng ái thủ, cũng chẳng nương trụ cái chẳng ái thủ, đó là Trung Thiện, là Giáo Pháp nửa chừng, còn là Vô Sắc Giới, tuy khỏi sa vào đạo Nhị Thừa, khỏi sa vào dân Ma, vẫn còn là bệnh của thiền na, đó là chỗ trói buộc của Bồ Tát. Đã chẳng nương trụ cái chẳng ái thủ, chẳng khởi tri giải chẳng-nương-trụ, đó là Hậu Thiện, là Giáo Pháp toàn mãn, khỏi sa vào Vô Sắc Giới, khỏi sa vào bệnh thiền na, khỏi sa vào Bồ Tát Thừa, khỏi rớt vào vị Ma Vương, là các thứ Trí Chướng, Địa Chướng và Hành Chướng. Cho nên thấy Phật Tánh chính mình, như đêm thấy sắc. “Như nói “Phật Địa đoạn dứt cả hai thứ ngu : một là Vi Tế Sở Tri Ngu; hai là Cực Vi Tế Sở Tri Ngu”. Thế nên mới nói, “Có người đại trí phá bể hạt bụi, mở ra cuốn kinh”. Nếu thấu qua “Ba cú”, chẳng bị “Ba đoạn” giam. Hàng giáo điển nêu ví dụ là như nai nhảy ba cái ra khỏi lưới, gọi là người ngoài ràng buộc, không có vật gì móc ràng được hắn. Đó là thuộc về Nhiên Đăng Hậu Phật, là Tối Thượng Thừa, là Thượng Thượng Trí, là địa vị cao thượng trong Phật đạo. Người này là Phật, có Phật Tánh, là Đấng Đạo Sư, là người khiến sử được ngọn gió không chỗ ngại, là Trí Huệ Vô Ngại. Về sau có thể sử dụng được nhân quả, phước trí tự do, làm cái xe chở chuyên nhân quả. Ở nơi sanh chẳng bị sanh lưu giữ, ở nơi tử chẳng bị tử ngăn ngại, ở nơi năm ấm như cửa mở hoác, đi ở tự do. Bằng có thể như thế thì chẳng luận giai cấp, yếu mạnh, chỉ có thể như thế thì cho đến thân kiến trùng thảy là quốc độ diệu tịnh, chẳng thể nghĩ bàn. Đây vẫn là lời nói mở trói. Vốn tự không ghẻ nhọt, chớ làm ra thương tích ! Dù là ghẻ Phật hay ghẻ Bồ Tát các thứ. Hễ nói các pháp có, không v.v... thì đều là thương tích cả”.
Ôi ! Tổ Bá Trượng từ bi, tận lực bày rõ chướng
ngại vi tế của Tâm Tánh. Cần mỗi mỗi thấu qua, mới
gọi là vĩnh viễn đoạn dứt si ám. Kinh : “Mười hai là, viên dung hình tướng, trở lại Tánh Nghe, là đạo trường bất động, thấm vào cõi đời mà không hoại thế giới, hay khắp mười phương, cúng dường Chư Như Lai như số vi trần, bên mỗi mỗi Phật làm bậc Pháp Vương Tử, có thể khiến cho chúng sanh không con trong pháp giới muốn cầu con trai, sanh được con trai trí huệ phước đức. Thông rằng : Đây là Tánh Chân Như thấm nhập thế gian, tùy làm Sắc-Không, khắp mười phương cõi, ấy là Bất Không Như Lai Tạng vậy. Quan Âm Đại Sĩ vốn là Pháp Vương Tử của Đức A Di Đà, mà bên mỗi mỗi vị Phật giúp việc không nhàm mỏi, thật là con giỏi vậy. Cho nên cầu con trai liền ứng.
Tổ Thứ Hai Mươi Ba là Tôn Giả Hạc Lặc, người nước
Nguyệt Thị, cha tên là Thiên Thắng, mẹ là Kim Quang.
Vì không có con, nên cúng cầu nơi đền Phướn Vàng
Thất Phật, bèn mộng thấy trên đỉnh núi Tu Di có một
thần đồng cầm chiếc kim hoàn nói rằng : “Ta đến
vậy”. Tỉnh dậy thì có thai. Lời dứt, hình tượng trong miếu bỗng nhiên đổ sập. Do đó, người làng gọi là ông Thánh Con. Năm hai mươi hai tuổi, xuất gia, ba mươi tuổi gặp Tổ Ma Nả La tôn giả, được phó pháp nối ngôi Tổ. Kinh : “Mười ba là, sáu căn Viên Thông(17), sáng chiếu không hai, trùm mười phương cõi, thành Đại Viên Kính Không Như Lai Tạng, thừa thuận pháp môn bí mật của mười phương vi trần Như Lai, lãnh nhận không sót, có thể khiến cho chúng sanh không con trong pháp giới muốn cầu con gái, sanh được con gái đoan chánh, phước đức, dịu hiền, tướng tốt, mọi người yêu kính. Thông rằng : Một Căn về nguồn, sáu Căn dùng lẫn, đó là Viên Thông. Chỉ bởi tròn vẹn mà sáng chiếu không hai, nên thành Đại Viên Cảnh Trí. Chỉ bởi thông suốt mà trùm mười phương cõi, nên là Không Như Lai Tạng. Thừa thuận Như Lai, nhận lãnh không sót, là đều có cái đạo của người nữ, nên cầu gái được gái.
Cô Nguyệt Thượng Nữ(18) tướng tốt đoan nghiêm,
mọi người yêu kính; kẻ cầu hôn nối gót đến, cô hiện
thần dị(19); chí cầu xuất gia.
Hai cô gái này, sanh đời có Phật, không chỉ đầy
đủ phước đức, hiền dịu, mà còn phát minh việc hướng
thượng. Cũng là kiếp xưa nhận lãnh Pháp Môn Bí Mật
mà thị hiện đó ư ? Kinh : “Mười bốn là, trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới trăm ức mặt trời, mặt trăng này, các Pháp Vương Tử hiện ở thế gian có đến sáu mươi hai hằng sa số, tu Phật Pháp, nêu gương mẫu, giáo hóa chúng sanh, tùy thuận chúng sanh, trí huệ phương tiện, mỗi mỗi chẳng đồng. Do tôi đã được bổn căn Viên Thông phát ra diệu tính của căn Tai, sau đó Thân Tâm vi diệu trùm chứa cùng khắp pháp giới nên có thể khiến cho chúng sanh trì niệm danh hiệu của tôi, so với những người trì niệm danh hiệu của sáu mươi hai hằng sa số Pháp Vương Tử ấy, hai đàng phước đức bằng nhau không khác. “Bạch Thế Tôn, một danh hiệu của tôi cùng với rất nhiều danh hiệu kia không khác, là do tôi tu tập được Chơn Viên Thông. Đó gọi là mười bốn sức Thí Vô Úy, phước sẵn đủ khắp cho chúng sanh. Thông rằng : Ban đầu, hết quán cái Âm Thanh liền được Giải Thoát là để tiếp bậc thượng thượng căn, chỉ soi thấy năm uẩn đều Không tức vượt hết thảy khổ ách. Dùng cái quán Tự Tánh, nếu chẳng phải là Quán Hạnh vi diệu thì không thể hành được vậy.
Chót là chỉ trì niệm danh hiệu, phước sẵn đủ khắp
cho chúng sanh, là để tiếp bậc trung hạ căn. Chúng sanh phương này, căn Tai lanh lợi, nhiều người nhận lãnh được Đạo, bởi thế sự giáo hóa của Đức Quan Âm trổi bật. Các Căn khác chậm lụt, người được Đạo ít, cho nên sự giáo hóa của các vị Thánh khác kém hơn. Viên Thông so với chẳng Viên Thông, như một ngày sánh với một kiếp, nên tự thầm chọn căn Tai làm cái giáo thể phương này vậy. Thiền sư Hoa Lâm Thiện Giác thường cầm tích trượng, ban đêm ra khoảng rừng dưới chân núi, mỗi lần bảy bước dộng gậy một cái mà xưng lên danh hiệu Quan Âm. Sư Giáp Sơn hỏi : “Ở xa nghe Hòa Thượng niệm Quan Âm, có phải chăng ?”
Tổ đáp : “Phải”. Kinh : “Bạch Thế Tôn, do tôi đã được Viên Thông Đạo Vô Thượng Tu Chứng ấy, nên lại khéo được bốn đức mầu vô tác không-nghĩ-bàn. “Một là, do tôi ban đầu được Tánh Nghe Chí Diệu, cái Tâm thuần túy không còn Tướng Nghe; các sự Thấy, Nghe, Hay, Biết chẳng còn phân cách mà thành một Bảo Giác viên dung thanh tịnh, nên tôi có thể hiện ra rất nhiều hình dung mầu nhiệm, có thể nói ra vô biên Thần Chú bí mật. “Trong ấy, hoặc hiện một đầu, ba đầu, năm đầu, bảy đầu, chín đầu, mười một đầu, cho đến một trăm lẻ tám đầu, ngàn đầu, vạn đầu, tám vạn bốn ngàn đầu Kim Cang như thế; hoặc hiện hai tay, bốn tay, sáu tay, mười hai tay, mười bốn, mười sáu, mười tám, hai mươi, hai mươi bốn cho đến một trăm lẻ tám tay, ngàn tay, vạn tay, tám vạn bốn ngàn tay bắt ấn như thế; hoặc hai mắt, ba mắt, bốn mắt, chín mắt, cho đến một trăm lẻ tám mắt, ngàn mắt, vạn mắt, tám vạn bốn ngàn mắt báu thanh tịnh như thế; hoặc Từ hoặc Oai, hoặc Định, hoặc Huệ, cứu độ chúng sanh được đại tự tại. Thông rằng : Đồng Từ Lực Phật, nên có ba mươi hai Ứng Thân, đồng Bi Ngưỡng với chúng sanh, nên bố thí mười bốn sự Vô Úy, đã là Diệu Lực Vô Tác không thể nghĩ bàn; lại còn có bốn Diệu Đức Vô Tác không thể nghĩ bàn, là do tu chứng Vô Thượng Đạo. Cái Đạo Vô Thượng này thần diệu càng chẳng thể đo lường. Ở trước, thuyết pháp cùng xưng danh hiệu, còn có thể suy lường được. Đến đây thì hình dung và thần chú, khiến chúng sanh đắc Đại Tự Tại quả là cảnh giới rất khó nghĩ bàn vậy. Tất cả cũng từ Tánh Nghe Chí Diệu lưu xuất.
Ban đầu, mất hết Căn, Trần, tâm yên định mầu
nhiệm, nhưng cái mầu nhiệm đối với thô này chưa phải
là cái mầu nhiệm tuyệt mọi đối đãi. Kế đó, Trí, Cảnh
đều vong, Năng-Sở tịch diệt, nên nói là Chí Diệu.
Ban đầu là xoay cái Nghe lại, không còn cái Cảnh.
Đến đây tâm thuần túy không còn cái Nghe, cái Nghe
đã bỏ mất, sáu Căn đều hóa. Bởi thế, Thấy, Nghe,
Hay, Biết không còn phân cách, mà thành một Bảo Giác
viên dung thanh tịnh, tức chỗ gọi là Tịch Diệt Hiện
Tiền vậy.
Đức Lục Tổ nói : “Pháp môn này của ta, từ một Trí Huệ Bát Nhã sanh tám vạn bốn ngàn Trí Huệ. Vì sao thế ? Vì người đời có tám vạn bốn ngàn trần lao. Nếu không có trần lao thì Trí Huệ thường hiện, chẳng lìa Tự Tánh”. Quan Đại Phu Lục Tuyên hỏi Tổ Nam Tuyền : “Đức Bồ Tát Đại Bi dùng bấy nhiêu tay, mắt làm chi?” Tổ Tuyền nói : “Chỉ như quốc gia lại dùng Đại Phu làm chi ?” Tổ Ma Cốc hỏi Tổ Lâm Tế : “Đại Bi ngàn tay, ngàn mắt, cái nào là Chánh Nhãn ?” Tổ Lâm Tế nắm đứng, nói : “Đại Bi ngàn tay, ngàn mắt, thế nào là Chánh Nhãn ? Nói mau, nói mau !” Tổ Cốc kéo Tổ Tế xuống thiền sàng, mà lên ngồi. Tổ Tế xá chào, nói : “Chẳng rõ”. Tổ Cốc định nói. Tổ Tế bèn hét, kéo Tổ Cốc xuống thiền sàng rồi lên ngồi. Tổ Cốc bèn bỏ đi.
Lại Tổ Ma Cốc hỏi : “Đức Quan Âm mười hai mặt,
cái nào là mặt chánh ?” Tổ Cốc xoay mình định ngồi. Tổ Tế liền đánh. Tổ Cốc bắt cứng cây gậy, cùng kéo nhau về phương trượng.
Hai vị tôn túc đây, mỗi vị đều hiển lộng thần
thông đại bất khả tư nghì. Thấy được cái cơ đoạt
nhau đó mới cho là đủ tay mắt Quan Âm. Kinh : “Hai là, do sự Nghe, Nghĩ của tôi thoát khỏi sáu Trần, như tiếng suốt qua bức tường, chẳng hề ngăn ngại, nên tôi có thể diệu dụng hiện ra mỗi mỗi hình, tụng mỗi mỗi Chú. Hình ấy, Chú ấy có thể dùng Vô Úy Thí cho chúng sanh. Thế nên mười phương cõi nước như vi trần đều gọi tôi là bậc Vô Úy Thí. Thông rằng : Nghe, Nghĩ viên thông, như tiếng qua tường. Vì vượt thoát sáu Trần, chẳng hề chướng ngại, nên hiện hình tụng Chú, hiện diệu dụng chẳng thể nghĩ bàn. Tánh Nghe chẳng thể nghĩ bàn, nên sức Chú chẳng thể nghĩ bàn. Trước thì dùng một Bảo Giác viên dung thanh tịnh cứu hộ chúng sanh được Đại Tự Tại, ấy là dùng toàn lực mà dẫn dắt cho lên bờ Đạo, nên đầu, tay, mắt hoặc Từ hoặc Oai, hoặc Định hoặc Huệ đều đầy đủ, khiến cho giải thoát. Ở đây, chỉ hiện mỗi mỗi hình dạng, tụng mỗi mỗi Thần Chú, khiến cho chúng sanh không sợ hãi, nghĩa là chỉ không sợ sự khổ sanh tử chứ chưa đến Đại Tự Tại vậy. Xưa, có người bị bẫy để tế cho quỷ ăn, bị trói vào cột trong miếu. Nửa đêm có con mãng xà to lớn đến, sắp sửa ăn. Người ấy ngày thường chỉ thuộc mỗi một Chú Đại Bi, liền trì tụng không ngớt. Mãng xà chẳng thể đến gần, như có vật gì ngăn trở, rốt cuộc bỏ đi. Trời sáng, mở khóa thấy người ấy không bị gì cả. Mọi người làm lạ, hỏi duyên cớ. Người đó nói vì tụng Chú Đại Bi mà được khỏi. Từ đó, cái miếu tà bị bỏ phế. Năng lực Thần Chú có thể ban cho sự không sợ hãi, khái quát là vậy. Thầy Trương Tăng Diêu vẽ tượng hình Ngài Bửu Chí, mới hạ bút, chưa biết định liệu sao. Ngài Bửu Chí liền dùng ngón tay vạch trên mặt, phân ra thành mười hai mặt Quan Âm diệu tướng tốt đẹp, hoặc Từ hoặc Oai. Thầy Tăng Diêu rốt cuộc chẳng vẽ được. Có nhà sư hỏi thiền sư Văn Thù rằng : “Vì sao Tăng Diêu vẽ chân dung Tổ Chí Công chẳng được ?”
Tổ Thù đáp : “Không chỉ Tăng Diêu, mà Chí Công có
vẽ cũng chẳng được”.
“Thân quang rờ rỡ, tướng nguy nguy (sừng sững)
Ngay Chí Công cũng chẳng hay biết thì có thể rõ
là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn vậy. Kinh : “Ba là, do tôi tu tập cái Bổn Căn Thanh Tịnh, vốn diệu viên thông, nên qua mọi thế giới đều khiến cho chúng sanh xả bỏ thân cùng của báu, cầu tôi thương xót. Thông rằng : Cái Bổn Căn Thanh Tịnh vốn diệu viên thông, tức là căn Tai vậy. Xa lìa trần cấu, vốn không phiền não, nên gọi là thanh tịnh. Nhưng chúng sanh trong thế giới khổ vì phiền não, không thể giải thoát, nên thương xót khẩn thiết cứu vớt.
Lục Độ mà Bồ Tát tu, thì Bố Thí là trước hết, nên
dạy làm Bố Thí, bỏ tham bỏ tiếc, lấy đó làm Nhân Tu.
Một Pháp Bố Thí ấy, tức chẳng thấy người cho, chẳng
thấy người nhận, cũng chẳng thấy có vật bố thí, thế
gọi là Bố Thí Ba La Mật. Nếu chẳng được Viên Thông
trong sạch thì chẳng thể rõ sự mầu nhiệm này vậy.
Cho nên Quan Thế Âm Bồ Tát nhận chuỗi ngọc báu của
Bồ Tát Vô Tận Ý(20) lại hiến dâng Phật. Ban đầu
chẳng nhận, có thể thấy Giới Hạnh. Phụng sự Phật
không mỏi mệt, có thể thấy sự Tinh Tấn. Chẳng tự thọ
dụng, có thể thấy cái Nhẫn. Cho và nhận đều vô tình,
có thể thấy Thiền Định. Chỉ cầu phước đầy đủ cho
chúng sanh, có thể thấy cái Trí Huệ. Nêu ra một việc
Bố Thí mà sáu Ba La Mật đủ hết trong đó vậy. Há chỉ
dạy một phép Bố Thí thôi đâu ! Tổ Trượng nói : “Chỉ như giờ đây soi dùng (chiếu dụng) mỗi một Thanh mỗi một Sắc, mỗi một Hương mỗi một Vị, nơi tất cả các Pháp Hữu Vô, trong mỗi mỗi Cảnh đều không có mảy bụi giữ nhuốm (thủ nhiễm), cũng chẳng nương trụ tri giải. Cái người ấy mỗi ngày ăn vạn lượng vàng ròng cũng tiêu hết được. Chỉ như nay soi chiếu tất cả các pháp hữu vô, nơi cửa sáu căn quét ráo mọi tham ái. Có chút mảy lông chẳng xong thì dầu có nhận của thí chủ một hột gạo, một sợi chỉ đều là mang lông đội sừng, kéo cày chở nặng, mỗi mỗi phải bồi thường lại hết mới được. Vậy là chẳng y theo Phật. Phật là người không bám dính, người không cầu kiếm, người không dựa nương. Giờ mà bôn ba tham lam tìm kiếm Phật, đều là nghịch lại vậy”.
Tin lời này, ắt gọi là tu tập Bổn Căn Thanh Tịnh,
mới nên nhận bố thí của người. Kinh : “Bốn là, tôi đắc Tâm Phật, chứng đến rốt ráo, nên có thể dùng đủ thứ quý báu cúng dường mười phương Như Lai. Cả đến chúng sanh sáu đường trong pháp giới, người cầu vợ được vợ, cầu con được con, cầu Tam Muội được Tam Muội, cầu sống lâu được sống lâu, như thế cho đến cầu Đại Niết Bàn được Đại Niết Bàn. Thông rằng : Chứng đến rốt ráo, Trí Huệ tròn đủ vậy, nên có thể ban cho người cái vui xuất thế. Cúng dường Như Lai, phước ấy tròn đủ, nên có thể ban cho người cái phước thế gian. Đều từ trong cái chẳng thể nghĩ bàn mà thành tựu. Nếu thấy có cầu, có đắc, thì chỗ cho ra cũng là nhỏ hẹp. Được phước chẳng bằng được Quả Vị, được Quả chẳng bằng được Cực Quả, nên đắc Đại Niết Bàn là tột bậc. Tổ Bá Trượng nói : “Chỉ như nay có người lấy bốn việc phước trí cúng dường bốn trăm vạn ức a tăng kỳ chúng sanh trong sáu đường thế giới, tùy theo chỗ thích cho đến hết tám mươi năm, lại nghĩ rằng : nhưng các chúng sanh này đều phải già yếu, ta nên dùng Phật Pháp mà dẫn dạy cho, khiến họ đắc quả Tu Đà Hàm cho đến đạo A La Hán. Thí chủ ấy chỉ bố thí cho chúng sanh tất cả vật ưa thích, công đức đã là vô lượng. Huống là khiến cho đắc quả Tu Đà Hoàn, cho đến đạo A La Hán thì công đức vô lượng vô biên. Vậy mà chẳng bằng công đức người thứ năm mươi nghe kinh mà vui theo.
“Kinh Báo Ân nói rằng : Ma Da phu nhân sanh năm
trăm thái tử đều đắc Bích Chi Phật, mà đều diệt độ,
mỗi vị đều được dựng tháp cúng dường. Mỗi một lần lễ
bái, phu nhân than rằng : Chẳng bằng sanh một đứa
con đắc Vô Thượng Bồ Đề, đỡ bớt tâm lực ta. Chỉ như
nay trong trăm ngàn vạn chúng sanh, có một người đắc
Đạo, thưởng bù ngay cho Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới
!”
Kinh : “Phật hỏi về Viên Thông, tôi do theo cửa
Tai, tròn soi Tam Muội, nhân Tâm được tự tại, duyên
theo tướng Nhập Lưu, đắc Tam Ma Địa, thành tựu Bồ
Đề, đó là Đệ Nhất. Thông rằng : Kinh Thư nói rằng “Sáng bốn mắt, thông bốn tai”, là nói lấy tai mắt của bốn phương làm tai mắt vậy. Lại nói rằng “Trời thấy tức là tự dân ta thấy. Trời nghe là tự dân ta nghe”. Đó là nói cái Thấy Nghe của trời vốn không thể thấy mà thấy được ở nơi dân vậy. Đức Quan Âm đã lấy cái Thấy Nghe của mười phương làm cái Thấy Nghe, nên cái Thấy Nghe của mười phương tức là Quan Âm vậy. Danh ấy sao chẳng khắp mười phương ư ?
Tổ Bảo Phước hỏi nhà sư : “Ở đâu lại ?” Tổ Lâm Tế nói : “Có một loại học nhơn, hướng trong núi Ngũ Đài tìm Văn Thù, thật sớm hiểu lầm ! Ngũ Đài không Văn Thù. Ông muốn biết Văn Thù ư ? Chỉ là cái chỗ dùng trước mắt ông, trước sau chẳng khác, chốn chốn chẳng nghi, ấy là Văn Thù sống. Ông một niệm tâm không có ánh sáng sau biệt thì xứ xứ thảy là chân Phổ Hiền. Ông một niệm tâm tự nhiên mở trói, tùy chốn giải thoát, đây chính là Quan Âm Tam Muội Pháp, đắp đổi chủ bạn. Ra thì lập tức ra, một là ba, ba là một. Hiểu được như thế mới xem kinh điển”. Ôi ! Lời này của Tổ Lâm Tế nói ngay tông giáo, thảy không sai biệt. |
|
| ||||||