KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN V
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG
CHƯƠNG II: NƯƠNG CHỖ NGỘ MÀ TU
MỤC HAI: CỘT
KHĂN ĐỂ CHỈ MỐI NÚT VÀ CÁCH MỞ NÚT
I. CỘT NÚT
Kinh: Khi ấy, Ông A Nan và
cả đại chúng nghe lời dạy từ bi vô thượng của Phật,
kệ tụng cốt tủy, diệu lý trong suốt, mắt tâm mở tỏ,
tán thán là Pháp chưa từng có.
Ông A Nan chấp tay
đảnh lễ, bạch Phật:
- Nay tôi nghe Phật
mở lòng đại bi dạy cho những câu Pháp về tánh chân
thật thanh tịnh diệu thường, nhưng tâm còn chưa rõ
thứ lớp mở nút của việc Sáu Mở Một Mất. Xin Phật rủ
lòng đại bi thương xót hội này cùng với đời sau, bố
thí cho pháp âm, để rửa sạch những cấu nhiễm nặng nề
của chúng tôi.
Liền khi ấy, Đức Như
Lai nơi sư tử tòa, sửa áo Niết Bàn Tăng, vén áo Tăng
Già Lê, dựa ghế thất bảo, đưa tay lên ghế, lấy cái
khăn hoa do Trời Dạ Ma dâng cúng, rồi ở trước đại
chúng, cột thành một nút, đưa cho Ông A Nan xem và
bảo rằng:
- Cái này gọi là gì?
Ông A Nan và
đại
chúng đều bạch Phật rằng:
- Cái ấy gọi là nút.
Lúc ấy, Như Lai lại
cột khăn hoa thành một nút nữa và hỏi Ông A Nan:
- Cái này gọi là gì?
Ông A Nan và
đại
chúng lại bạch Phật rằng:
- Cái ấy cũng gọi là
nút. Phật tuần tự cột khăn hoa như vậy, tất cả sáu
nút. Mỗi khi cột xong một nút, đều lấy cái nút vừa
cột xong trong tay, đưa hỏi Ông A Nan:
- Cái này gọi là cái
gì?
Ông A Nan và
đại
chúng cũng tuần tự đáp lại Phật:
- Cái ấy gọi là nút.
Phật bảo Ông A Nan:
- Khi Ta mới cột khăn
thì ông gọi là nút. Cái khăn hoa này trước đây chỉ
có một cái, cớ sao lần thứ hai, lần thứ ba, các ông
cũng gọi là nút?
Ông A Nan bạch Phật
rằng:
- Thưa Thế Tôn, cái
khăn hoa thêu dệt quý báu này vốn chỉ một thể. Nhưng
theo ý tôi nghĩ, Như Lai cột một lần, thì được gọi
là một nút, nếu cột trăm lần, thì rốt phải gọi là
trăm nút; huống gì cái khăn này chỉ có sáu nút,
chẳng lên đến bảy, cũng không dừng ở năm. Sao Đức
Như Lai chỉ cho cái đầu tiên là nút, còn cái thứ
hai, thứ ba thì không gọi là nút?
Phật bảo Ông A Nan:
- Cái khăn hoa báu
này, ông biết nó vốn chỉ có một cái, đến khi Ta cột
sáu lần thì ông gọi là có sáu nút. Ông xét kỹ xem,
thể của khăn là
đồng,
nhân vì cột mà có ra khác. Ý ông thế nào? Cột nút
đầu tiên thì gọi là nút thứ nhất, như vậy cho đến
cột lần thứ sáu thì gọi là nút thứ sáu. Nay Ta muốn
gọi nút thứ sáu là nút thứ nhất, được không?
- Bạch Thế Tôn,
không. Cả sáu nút mà còn, thì cái gọi là thứ sáu
nhất định không phải là cái thứ nhất. Cho dù tôi có
biện giải suốt đời cũng không làm sao cho sáu nút
đổi tên được.
Phật bảo:
- Thế đấy, sáu nút
không đồng nhau. Xét theo bản nhân thì do một cái
khăn tạo ra, nhưng rốt cuộc không thể làm cho sáu
nút lẫn lộn với nhau. Sáu Căn của ông cũng là như
thế. Trong chỗ rốt ráo đồng nhau, sanh ra rốt ráo
khác nhau.
Phật bảo Ông A Nan:
- Chắc là ông không
muốn thành ra sáu nút, và trông mong chỉ thành một
thể, thì phải làm sao?
Ông A Nan thưa:
- Nếu còn những nút
này thì sự phải trái nổi lên, trong đó tự sanh ra
nào là nút này không phải nút kia, nút kia không
phải là nút này. Nếu giờ đây, Như Lai cởi bỏ tất cả,
thì nút chẳng sanh ra, ắt là không có đây, kia. Như
thế còn không có cái gọi là một, thì lấy đâu có sáu?
Phật dạy:
- Sáu mở, một mất
cũng như vậy đó. Do từ vô thủy, tâm ông cuồng loạn,
mà cái Thấy Biết vọng phát ra. Vọng phát chẳng
ngừng, nên cái thấy mệt mỏi phát sanh trần tướng. Ví
như mắt mỏi thì có hoa đốm. Trong Tánh trong lặng
sáng suốt, không đâu mà lăng xăng sanh khởi tất cả
thế gian, núi sông, đất đai, sanh tử, Niết Bàn...
hết thảy đều là những tướng hoa đốm điên đảo mê dại
cả.
Thông rằng: Vốn y nơi
một Tinh Minh mà chia ra thành sáu cái hòa hợp,
trước đã nói rõ rồi, sao lại có ví dụ này?
Ở đoạn trước thì do
các Trần sáng, tối, động, tĩnh... làm dính che Tánh
trong lặng mà phát khởi ra sáu căn, từ ngoài vào
trong, cho nên chỉ cần chẳng theo các tướng sáng,
tối, động, tĩnh... thì thoát khỏi sự che dính, ẩn
phục vào trong, liền phát ra cái sáng chói vốn có,
thì được sáu Căn dùng thay nhau. Đó là ngược dòng mà
toàn nhất, để chế phục cái bên ngoài vậy.
Nay đây thì do tâm
cuồng loạn, cái thấy mệt mỏi phát ra trần tướng, là
từ trong ra ngoài. Nên trừ được cái Căn cột buộc thì
trần tướng tự diệt mất. Ban đầu đắc Nhân Không, cho
đến đắc Vô Sanh Nhẫn. Đây là mở tan tâm bị cột trói,
để viên dung cái bên trong vậy. Trong Tánh lặng
trong sáng suốt, không do đâu mà sanh khởi lăng
xăng. Cái Mê vốn chẳng có nguyên nhân, gốc gác gì;
nhân nơi cái Minh lập nên cái Sở. Cái Thấy Biết vọng
phát ra này, là nguyên do của sự phát sanh mối nút.
Cái trong lặng bỗng xoay ra có hư vọng sanh diệt.
Sanh diệt ấy mà
đã
diệt, đó là tịch diệt hiện tiền. Sáu cái dùng này
chẳng hiện hành, đó là nghĩa mở tan vậy.
Còn bị cột, thì nghe
chẳng ngoài tiếng; thấy chẳng vượt sắc. Nút này
chẳng phải nút kia, nút kia chẳng phải nút này. Như
mắt mệt mỏi thấy riêng hoa đốm. Đến khi cởi mở được,
thì cái Sáu đã tiêu, cái Một cũng mất. Cái Một còn
không có tên gì để gọi, huống là thành sáu sao? Như
mắt trong sáng, vốn tự không có hoa đốm. Nên cột đó,
thì gọi là sanh tử, mà chẳng hề tổn giảm. Mở đó, gọi
là Niết Bàn, mà chẳng hề thêm lên. Như hoa đốm khi
không mà khởi, diệt ; hư không có chỗ nào thêm bớt?
Thế nên, biết sanh tử là
điên
đảo thì sáu liền được mở. Biết Niết Bàn là hoa đốm,
thì cái Một liền tiêu vong. Ngược dòng toàn vẹn Một,
cái Một dường chưa mất, đến khi Một cũng mất thì tâm
trói buộc liền mở thoát.
Nhà sư hỏi thiền sư
Phong Huyệt Chiểu:
- Một tức Sáu, Sáu
tức Một. Một và Sáu đều mất thì như thế nào?
Tổ Duyệt nói:
- Một mũi tên bắn hai
chim.
Hỏi:
- Ý chỉ thế nào?
Tổ Duyệt nói:
- Thân mất, dấu tiêu.
Ông Tú Tài Trương
Chuyết ra mắt Tổ Thạch Sương.
Tổ Sương hỏi:
- Tên gì?
Ông Chuyết đáp:
- Họ Trương, tên
Chuyết.
Tổ Sương nói:
- Tìm cái khéo còn
chẳng được thay, cái vụng từ đâu mà lại?
Ông Trương Chuyết
ngay dưới lời nói khế ngộ, bèn trình kệ:
Sáng trưng
lặng chiếu khắp hà sa,
Phàm Thánh sinh linh chung một nhà.
Một niệm chẳng sanh: toàn thể hiện,
Sáu căn vừa động bị mây mờ,
Đoạn trừ vọng tưởng, càng thêm bệnh.
Hướng tới Chân Như, ấy cũng tà,
Tùy thuận duyên đời, không chướng ngại,
Niết Bàn, sanh tử thảy không hoa.
Quang minh tịch chiếu biến hà sa,
Phàm thánh hàm linh cọng nhất gia.
Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện,
Lục Căn tài động bị vân già.
Đoạn trừ vọng tưởng trùng tăng bệnh,
Thú hướng Chân Như diệc thị tà.
Tùy thuận thế duyên vô quái ngại,
Niết Bàn, sanh tử đẳng không hoa.
Như Ông Chuyết, quả là thâm đắc ý chỉ Sáu Mở Một
Tiêu. Nào do thứ lớp mà
đến
đó sao?
II.
CÁCH MỞ NÚT
Kinh: Ông A Nan thưa:
- Cái bệnh mệt mỏi
kia giống như cái nút, làm sao cởi bỏ?
Đức Như Lai dùng tay
cầm cái khăn có cột nút, kéo riêng mối bên trái rồi
hỏi Ông A Nan:
- Như thế này mở được
không?
-Thưa Thế Tôn, không
thể.
Đức Thế Tôn lại dùng
tay kéo mối bên phải rồi hỏi Ông A Nan:
- Như thế này mở được
không?
-Thưa Thế Tôn, không
thể.
Phật bảo Ông A Nan:
- Nay Ta lấy tay kéo
mối bên phải, bên trái mà rốt cuộc chẳng mở được,
vậy ông dùng cách nào mà mở ra?
Ông A Nan thưa với
Phật rằng:
- Thưa Thế Tôn, phải
ở ngay nơi trung tâm của nút, thì mở ra ngay.
Phật bảo Ông A Nan:
- Đúng thế, đúng thế!
Nếu muốn hết cái nút, thì phải ở ngay nơi tâm của
mối nút.
Thông rằng: Các nhà
chú giải xưa nói, Kéo mối bên trái, bên phải là dụ
cho sự nương y vào hai bên không, có, nên không thể
mở nút. Nên cần phải ở trong Viên Quán, nơi Căn
không sanh phân biệt, nơi Cảnh không sanh bám nắm,
thì nút mở ra. Phàm đợi Quán rồi mới mở ra được, thế
vẫn chỉ là kéo mối phải, mối trái mà thôi, nơi chỗ
tâm của mối nút có ăn nhằm gì? Chẳng như lời lẽ của
nhà Thiền rất kín đáo nhiệm mầu vậy.
Tổ Thọ Thánh nói:
- Nửa tháng trước
dùng móc, nửa tháng sau dùng chùy.
Nhà sư bèn hỏi:
- Hiện ngay đang giữa
tháng thì thế nào?
Tổ Thánh nói:
- Trâu đất đạp vỡ
trăng trên đầm trong.
Ngài Thiên Đồng nêu
ra:
- Hai đầu đều có chỗ
dùng, ấy là Thọ Thánh! Liền quên công sức, có ai để
đắc? Tha đi ấy: đổi làm khách quý. Nắm đứng lại:
Chẳng còn dấu vết. Còn có đắc gì chăng? Đêm khuya
ngọc nữ vất bỏ gấm dệt nơi nhà Tây!
Lại Tổ Vân Môn dạy
chúng rằng:
- Ngày Mười Lăm về
trước thì chẳng hỏi, ngày Mười Lăm về sau, thử nói
một câu xem?
Rồi Ngài tự nói:
- Ngày nào cũng là
ngày tốt.
Ngài Thiên Đồng nêu
ra rằng:
- Người tuổi Dần bổn
mạng. Người tuổi Thân tương xung!
Tổ Thạch Môn Thông
nói:
- Ngày Mười Lăm về
trước, Chư Phật sanh. Ngày Mười Lăm trở về sau, Chư
Phật diệt. Ngày Mười Lăm về trước Chư Phật sanh, ông
không được lìa cái Trong Ấy của ta. Nếu lìa cái
Trong Ấy, ta lấy móc móc ông. Ngày Mười Lăm về sau
chư Phật diệt, ông không được trụ cái Trong Ấy của
ta. Nếu trụ cái Trong Ấy của ta, ta lấy dùi dùi ông.
Thử nói hiện nay ngày Mười Lăm, dùng móc là phải hay
dùng dùi là phải?
Rồi tụng rằng:
Hiện ngay
ngày Mười Lăm,
Móc dùi đồng thời dứt.
Vừa định hỏi thế nào,
Quay đầu (mặt) trời lại mọc.
Tổ Vân Môn thì chẳng thế:
- Ngày Mười Lăm về
trước, Chư Phật vốn chẳng từng sanh. Ngày Mười Lăm
về sau, Chư Phật vốn chưa từng diệt. Ngày Mười Lăm
về trước, nếu ông lìa cái Trong Ấy của ta, ta cũng
chẳng dùng móc móc ông. Cứ thế vác ngang cây trụ
trượng, dẫm nát đôi giày cỏ. Ngày Mười Lăm về sau,
nếu ông trụ nơi Trong Ấy của ta, ta cũng chẳng lấy
dùi dùi ông. Cứ việc bẻ gãy cây trụ trượng, treo cao
đãy bát. Thử hỏi ngay ngày Mười Lăm, phải làm sao?
Bèn nói:
- Trước, sau ngày
Mười Lăm. Móc dùi dùng làm gì? Sáng nay ngày Mười
Lăm. Đúng lúc dùng dùi, móc! Nhưng dùng làm sao đây?
Rắn chết giữa đường,
đừng đập đánh,
Giỏ không đáy ấy,
đựng mang về.
Nếu nơi cái tắc này
mà
được
ra manh mối, thì cái tâm buộc trói bấy lâu tức thời
mở thoát.
Kinh:
- A Nan, Ta thuyết
Phật Pháp, từ nhân duyên sanh, chẳng phải giữ lấy
các tướng hòa hợp thô phù của thế gian. Như Lai phát
minh các pháp thế gian và xuất thế gian, đều biết rõ
cái Bổn Nhân của chúng, theo duyên gì mà có ra. Như
vậy cho đến một giọt mưa ở ngoài hằng sa thế giới
cũng biết số mục. Hiện trước mặt đủ thứ: cây tùng
thẳng, con hộc trắng, con quạ đen đều rõ nguyên do.
Thông rằng: Phật biết
pháp thế gian và xuất thế gian đều do nơi tâm. Tùy
theo nhiễm duyên thì có ra chín cõi. Tùy theo tịnh
duyên thì có được Phật Giới. Cái nhân duyên này mà
hiểu được thì cho đến hằng sa giọt mưa cùng các thứ
hiện tiền Nhân gì, Duyên gì đều biết nguyên do. Phật
có hai Trí: Quyền Trí và Thật Trí. Thật Trí thì rõ
Lý; Quyền trí thì soi chiếu Sự Vật. Thế nên, biết
được các thứ nguyên do là do Quyền Trí soi chiếu sự
vật vậy. Pháp Thân Như Lai tròn đầy toàn khắp, không
có một vật nào ở ngoài Pháp Thân, vậy có gì mà Như
Lai không biết ư?
Tổ Động Sơn thượng
đường nói:
- Bảo sơn tăng này
nói gì thì được? Cổ tức kim, kim tức cổ.
Vì thế kinh Lăng
Nghiêm nói:
- Cây tùng thẳng, cây
gai cong, con hộc trắng, con quạ đen.
Có biết không? Tuy
nhiên như thế, chưa chắc là cây tùng cứ một mực
thẳng, cây gai một mực cong, con hộc thì cứ trắng,
con quạ thì cứ đen.
Động Sơn này nói:
-Trong ấy cũng có cây
tùng cong, cũng có cây gai thẳng, cũng có con hộc
đen, cũng có con quạ trắng. Đứng lâu rồi, trân
trọng!
Hãy nói xem, Động Sơn
chuyển Lăng Nghiêm hay bị Lăng Nghiêm chuyển? Rốt
cuộc làm sao hiểu lời nói đó?
Kinh:
- Thế nên, A Nan, tùy
nơi tâm ông mà chọn lựa trong sáu Căn. Nếu trừ được
cái nút của Căn, thì Trần Tướng tự diệt, các Vọng
tiêu mất, còn đợi cái Chân nào nữa? A Nan, nay Ta
lại hỏi ông:
- Cái khăn hoa này
hiện có sáu nút, có thể cũng một lúc mở ra tất cả để
trừ hết được không?
- Thưa Thế Tôn,
không. Những nút ấy vốn theo thứ lớp cột lại mà
sanh, thì nay cũng phải theo thứ lớp mà mở. Sáu nút
ấy tuy là
đồng
thể, nhưng cột lại không đồng thời, thì khi cởi nút,
làm sao cùng một lúc mà trừ hết được ?
Phật dạy:
- Cởi trừ sáu Căn
cũng như vậy. Căn ấy khi mới mở, thì trước hết được
Nhân Không, đến khi Tánh Không tròn sáng thì giải
thoát được Pháp Chấp. Giải thoát khỏi Pháp Chấp rồi,
thì cả hai Nhân Không và Pháp Không đều chẳng sanh.
Đó gọi là Bồ Tát do Tam Ma Địa mà
đắc
Vô Sanh Pháp Nhẫn.
Thông rằng: Một Căn
đã trở lại nguồn, sáu Căn thành giải thoát. Thật rõ
ràng như thí dụ này. Mê thì sáu Căn cùng cột nút,
ngộ thì sáu Căn dùng thay nhau, có thứ lớp gì đâu?
Chỉ vì mê lại càng tích chứa thêm mê, mà có từ tinh
tế đến thô phù; ngộ thì càng ngộ, mà từ thô phù
đến
tinh tế. Chẳng phải là không có thứ lớp, nhưng chẳng
phải nhổ thoát một Căn rồi các Căn kia theo thứ tự
nhổ thoát theo. Lời Phật viên dung, vốn nào có vướng
mắc. Như gọi là nút thứ nhất, thì nút thứ hai, thứ
ba cũng đồng là nút mà không thể gọi là nút thứ nhất
được. Tên thì khác nhau mà
đồng
là nút, thì cái thứ nhất là cái thứ sáu, cái thứ sáu
là cái thứ nhất.
Người ta sanh ra, từ
trong thai cho đến khi đầy đủ hình thể, sáu Căn
chẳng phải không có trước sau. Đến khi mười tám giới
đã thành, thì Căn có cái viên thông, cái chẳng viên
thông. Theo cái viên thông, dư sức chứng Đạo một
ngày. Chẳng theo cái viên thông, trăm kiếp tu Đạo
chẳng đủ. Ngày và kiếp khác xa nhau, thì sáu Căn có
cái nhanh, chậm chẳng đồng. Thế nên, Căn có cái dễ
nhổ dứt, có cái khó nhổ dứt.
Khổng Tử nói
- Sáu mươi tuổi thì
lỗ tai tùy thuận. Đó là nhĩ căn đã chuyển hóa rồi
vậy.
Lại nói:
- Bảy mươi tuổi tùy
theo tâm, mà chỗ muốn không ra ngoài khuôn phép. Đó
là ý căn đã chuyển hóa rồi, cũng có ít nhiều thứ
lớp.
Cái cột nút này chẳng
tích chứa trong một ngày, thì cởi mở cũng không phải
trong khoảng khắc mà trừ được. Ban đầu, được Nhân
Không, cho đến đắc Vô Sanh Nhẫn, tức là thứ lớp Vào
dòng mất cái Sở, để ám chỉ Xoay lại cái nghe là Viên
Thông Đệ Nhất, chờ Ông A Nan tự chọn đó. Nhân Không
là phá cái giả danh của năm Ấm, nghĩa là
đoạn
được Kiến Hoặc vậy. Pháp Không là phá cái thật pháp
của năm Ấm, nghĩa là
đoạn
được Tư Hoặc. Cho đến phá cái pháp trong sạch là
Niết Bàn, thì vĩnh viễn đoạn dứt căn bản Vô Minh. Cả
hai cái không ấy chẳng sanh, tức là Tánh Không bình
đẳng. Cái Sở Không đã dứt thì cái Năng Không cũng
diệt, Cảnh và Trí đều tiêu mất, Năng và Sở đều tịch
diệt, đó tức là cái Định Thủ Lăng Nghiêm, Diệu Trạm
Tổng Trì Bất Động Tôn, vậy. Thế nên nói là
đắc
Vô Sanh Nhẫn.
Nhà sư hỏi Tổ Bách
Trượng:
- Như thế nào là pháp
yếu Đốn Ngộ của Đại Thừa?
Tổ Bá Trượng nói:
- Các ông trước dứt
hết các duyên, ngừng thôi muôn sự. Thiện cùng chẳng
thiện, thế gian cùng xuất thế gian, hết thảy các
pháp đều không nhớ nghĩ, đều không dính líu. Buông
bỏ thân tâm, bèn được tự tại. Tâm như gỗ đá, không
có chỗ biện biệt. Tâm không chỗ động. Tâm Địa nếu
Không, mặt trời Trí Huệ tự hiện. Cũng như mây tan
thì mặt trời hiện ra vậy. Chỉ hết tất cả bám níu,
Tham, Sân, Yêu, Giữ, thì các Vọng Tình sạch dơ đều
dứt, trước năm Dục, Bát Phong chẳng động, chẳng bị
Thấy, Nghe, Hay, Biết buộc ràng, thế là tự nhiên đầy
đủ thần thông diệu dụng, đó là người Giải Thoát.
Trước hết thảy cảnh, tâm không tịnh hay loạn, chẳng
thu nhiếp, chẳng tán loạn, suốt qua tất cả thanh
sắc, không có chỗ vướng ngăn, gọi là Đạo Nhơn. Thiện
ác, phải trái đều chẳng vận dụng. Chẳng lấy mà cũng
chẳng bỏ tất cả pháp, gọi là người Đại Thừa. Chẳng
bị tất cả thiện ác, có không, dơ sạch, hữu vi vô vi,
thế và xuất thế, phước đức trí huệ buộc ràng, thế
gọi là Phật Huệ. Phải trái, tốt xấu, điều đúng điều
sai, hết thảy thức tình thấy biết dứt sạch, không gì
trói buộc được, chốn chốn đều tự tại an nhiên, gọi
là Bồ Tát Sơ Phát Tâm, tiện bề chứng Phật Địa.
Tổ Bách Trượng lời lẽ
nói ra thầm hợp với ý chỉ của kinh. Chẳng phải là
người đại giải thoát làm sao có được lời giải thoát
này?