KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN V
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG
CHƯƠNG II: NƯƠNG CHỖ NGỘ MÀ TU
MỤC MỘT: NÊU
RA CÁI CĂN ĐỂ CHỈ CHỖ MÊ
I. XIN KHAI THỊ CÁCH CỞI NÚT
Kinh: Ông A Nan bạch Phật
rằng:
- Thưa Thế Tôn, tuy
Như Lai đã dạy Nghĩa Quyết Định Thứ Hai, nhưng nay
tôi xem những người mở nút trong thế gian, nếu không
biết đầu mối của nút ở đâu, thì tôi tin là người ấy
rốt cuộc không thể mở được. Thưa Thế Tôn, tôi và
hàng Thanh Văn Hữu Học trong hội cũng giống như vậy.
Từ vô thủy đến nay, chúng tôi cũng với các thứ Vô
Minh cùng sanh cùng diệt. Tuy được căn lành đa văn
như thế này, mang tiếng là xuất gia nhưng cũng như
người sốt rét cách nhật! Xin nguyện Đức Đại Từ
thương xót kẻ chìm đắm mà chỉ bày cho, giờ đây chính
nơi thân tâm thế nào là nút, do đâu mà mở? Cũng
khiến cho chúng sanh khổ nạn đời vị lai được khỏi
luân hồi, không rớt vào ba cõi.
Nói lời ấy rồi, Ông A
Nan và cả đại chúng năm vóc gieo xuống đất, khóc lóc
thành khẩn, mong chờ lời khai thị vô thượng của Như
Lai.
Thông rằng:
Đoạn trước, Ông Phú
Lâu Na đã hỏi:
- Hết thảy chúng
sanh, do đâu mà có vọng khiến tự mình che khuất tánh
Diệu Minh, mà chịu sự chìm đắm? Ở đây Ông A Nan hỏi:
Giờ đây, chính nơi thân tâm, thế nào là nút, thế nào
là mở? Đó là
đều
muốn đi đến cùng cực cái vọng căn, nghiên cứu nhỏ
nhiệm cái vô minh câu sanh, mới biết đầu gốc thắt
nút mà phá trừ đi vậy.
Đoạn trước, đáp rằng:
Biết rõ cái Mê là không có nguyên nhân, thì cái Vọng
cũng không có chỗ nào nương dựa. Còn không có chỗ
sanh ra, muốn diệt dứt chỗ nào? Ở đây thì đáp: Tướng
Phần và Kiến Phần không có tự tánh, cũng như các
nhánh lau gác lên nhau. Xét cái tánh giao nhau đó,
thì không và có đều là chẳng phải.
Trước nói, “Tánh điên
tự hết, hết tức Bồ Đề”. Đây nói, “Thấy biết mà không
có thấy biết, đó chính là Niết Bàn”. Trước sau suốt
thông như một. Chỉ là ở trước thuộc về Kiến Đạo,
biết Vọng tức là Giác, Giác tức Bồ Đề. Còn đây là
phần Tu Đạo, lìa cái Thấy tức là Không, Không tức là
Niết Bàn.
Nút là sự trói buộc
nơi Căn Trần do mê, nên chìm sâu sanh tử. Mở là sự
thoát khỏi Căn Trần do ngộ, nên thấy biết cái Diệu
Thường. Đây là theo căn Tai mà nghe ngược trở lại,
thoát khỏi sự dính kết mà quay về bên trong, nhiếp
phục tâm bám nắm, nhập Tri Kiến Phật, thuộc về công
phu tu tập, nên gọi là Nghĩa Thứ Hai.
Có nhà sư hỏi Tổ
Thạch Đầu:
- Như thế nào là Giải
Thoát?
Tổ Đầu nói:
- Ai trói buộc ông?
Hỏi:
- Như thế nào là Tịnh
Độ?
Tổ Đầu nói:
- Ai làm dơ ông?
Hỏi:
- Như thế nào là Niết
Bàn?
Tổ Đầu nói:
- Ai đem sanh tử lại
cho ông?
Nếu nơi đây mà
được
liền cái chỗ an lạc, thì còn hướng chi đến cái đệ
nhị đầu mà làm kế sanh nhai!
II.
MƯỜI PHƯƠNG NHƯ LAI ĐỒNG MỘT LỜI CHỈ THỊ:
SÁU CĂN LÀ ĐẦU NÚT SANH TỬ VÀ NIẾT BÀN
Kinh: Bấy giờ, Thế Tôn
thương xót Ông A Nan và hàng Hữu Học trong hội, và
cũng vì tất cả chúng sanh đời vị lai mà tạo cái nhân
xuất thế, làm cái đạo nhãn tương lai. Ngài lấy tay
sáng ngời xoa đỉnh đầu Ông A Nan. Tức thời, trong
khắp các thế gian của Chư Phật mười phương rung động
sáu cách. Các Đức Như Lai nhiều như vi trần trụ các
thế giới, mỗi Ngài đều có ánh sáng báu từ đỉnh đầu
phóng ra. Các hào quang đó cùng lúc từ các cõi kia
đến rừng Kỳ Đà, chiếu soi đỉnh đầu Như Lai. Tất cả
đại chúng liền được cái chưa từng có.
Trong lúc đó, Ông A
Nan và cả đại chúng đều nghe các Đức Như Lai nhiều
như vi trần trong mười phương, vô số miệng khác nhau
đều dùng một lời, dạy Ông A Nan:
- Lành thay, A Nan!
Ông muốn biết cái câu sanh vô minh, khiến ông lưu
chuyển, cái căn mối nút sanh tử. Đó chính là sáu Căn
của ông, chứ chẳng phải vật gì khác! Ông lại muốn
biết Bồ Đề Vô Thượng, khiến chóng chứng Tánh Diệu
Thường an lạc, giải thoát, tịch tịnh thì cũng chính
là sáu Căn của ông, chứ chẳng phải vật gì khác.
Ông A Nan tuy nghe
pháp âm như thế, tâm còn chưa rõ, cúi đầu bạch Phật:
- Làm sao cái khiến
cho tôi luân hồi sanh tử hoặc an lạc diệu thường
cũng chính là sáu Căn, chứ không phải vật nào khác?
Thông rằng: Trước
kia, Ông A Nan có nói, Tâm tôi nào chỉ cúng dường
Như Lai, mà cho đến ứng khắp hằng sa quốc độ, phụng
sự Chư Phật và các thiện tri thức, phát tâm đại dũng
mãnh làm tất cả những sự việc khó làm, là
đều
dùng tâm này. Cho dù hủy báng pháp mà vĩnh viễn lui
sụt thiện căn, cũng là do cái tâm này.
Tâm đã không hai như
thế, thì sáu Căn cũng không hai, cớ sao lại sáng ở
nơi kia mà tối ở đây ư? Chỉ là sáu Căn này đấy thôi.
Thuận theo đó mà xuất ra, thế là trái với Giác hợp
với Trần: liền vào ngay dòng sanh tử. Nghịch lại mà
nhập vào, trái với Trần hợp với Giác: tức là ở trong
cái chẳng sanh diệt. Giống như sấp tay, ngửa tay!
Xưa nay Như Lai không hề nói khác!
Thiền sư Bàn Am Thành
thượng đường nói:
Một niệm
tâm thanh tịnh,
Phật ở Ma Vương điện.
Một niệm tâm ác sanh,
Ma Vương vào Phật điện.
Thiền sư Hoài nói rằng:
- Chỉ như thế mà tin
lấy. Đó gọi là chân dẫm lên Thật Địa mà
đi,
rốt là không có pháp nào khác, cũng không có đạo lý
nào khác. Lão tăng bày thẳng ra như thế, chỉ sợ rằng
các ông thấy thỏ thả ưng, khắc thuyền tìm kiếm! Sao
vậy? Thần lành, quỷ ác thì chủ nhân có trí đều không
lãnh thọ.
Nhưng thiền sư Đại
Mai Thường nghe tiếng kêu của con sóc cánh, bèn nói:
- Tức là vật ấy,
chẳng phải vật nào khác. Tất cả các ông hãy khéo tự
hộ trì.
Nói xong, thị tịch.
Thiền sư Vĩnh Minh Thọ ca ngợi rằng:
Sư khi mới
đắc Đạo,
Thì, tức Tâm là Phật.
Sau rốt dạy đồ chúng.
Vật ấy, không vật khác,
Cùng tột nguồn vạn pháp.
Thấu đến xương ngàn Thánh,
Chân vốn chẳng đổi dời.
Ngại gì chuyện còn, mất.
Tin được rằng Ngài Đại Mai cùng tiếng kêu của con
sóc cánh không khác, thì còn có sanh tử Niết Bàn nào
khác nhau ư?
III.
THẤY RÕ TÁNH CỦA MỐI NÚT ĐỂ TỨC THỜI GIẢI
THOÁT
Kinh: Phật bảo Ông A Nan:
- Căn, Trần cùng
nguồn. Trói mở không hai. Tánh của Thức là hư vọng,
cũng như hoa đốm giữa hư không. A Nan, do cái Trần
mà phát ra cái biết, nhân cái Căn mà có cái Tướng.
Cả Tướng Phần và Kiến Phần đều không có tự tánh,
giống như các nhánh lau gác lên nhau.
Thông rằng: Căn thuộc
về Kiến Phần, Trần thuộc Tướng Phần. Chỉ đều do một
niệm vô minh làm dính kín tánh trong lặng mà phát
khởi, nên gọi là
đồng
nguồn. Chỉ ở nơi đầu nguồn mà xem thấy, thì Kiến
Phần và Tướng Phần chưa thành hình, lúc ấy Căn, Trần
ở đâu mà có?
Từ lúc Căn hợp với
Trần mà trôi xuôi thì gọi là buộc. Từ lúc Căn ngược
với Trần mà trở về nguồn, thì gọi là mở. Cái trói
chính là sáu Căn, chứ không phải vật gì khác. Cái mở
cũng là sáu Căn, chứ không còn vật gì khác. Thể vốn
không hai vậy. Trong cái Thể không hai này mà soi
xét, thì trói buộc chẳng là dơ, cởi mở chẳng là
sạch. Nơi Thể không hai đó, chưa từng có thêm bớt,
đó là Căn, Trần vốn đồng nguồn vậy, ai thấy là khác
được? Trói, mở vốn không hai, ai thấy được là hai?
Sở dĩ phân biệt chia
tách, là do cái Thức vậy. Thức này hư vọng mà phân
biệt, cũng như dụi mắt mà vọng thấy có không hoa.
Vốn nào có Căn, Trần lại vọng thấy Căn, Trần. Vốn
nào có trói, mở mà vọng thấy trói, mở. Biết rõ cái
Thức này, có cũng như do dụi mắt, bèn chuyển Thức về
nguồn, thì con mắt trong sáng, nên chóng chứng an
lạc giải thoát, Tịch Tịnh Diệu Thường. Chẳng phải ở
nơi Căn mà quay lại, nhưng ở nơi Thức mà chuyển. Sao
gọi là Thức hư vọng giống như hoa đốm? Chẳng phải
bảo là lìa cái Thức tánh hư vọng mà riêng có cái gọi
là Tịch Tịnh Diệu Thường đâu. Chỉ cần tin cái Thức
là hư vọng, thì Diệu Thường ở ngay nơi Thức. Chỉ cần
tin hoa đốm không tự tánh, thì con mắt sáng trong ở
ngay tại không hoa.
Bởi thế, do Trần mà
phát ra Thức, chứ Thức chẳng tự sanh. Nhân Căn mà có
Tướng, chứ Tướng không tự có. Ba cái Căn, Trần, Thức
giao nhau mà lập, mà hợp, như lau gác lên nhau, vốn
không tự tánh. Cho tánh giao nhau là có thật, thì
khi chưa giao nhau sao lại không có?
Cho tánh giao nhau là
không có, thì khi đã gác lên nhau, làm sao lại có?
Đã chẳng phải là tánh Không, lại chẳng phải là tánh
Có, nên nói là không có tánh. Tướng Phần và Kiến
Phần, cả hai đều không có tự tánh, hiện thể bèn là
vô sanh. Cho nên, biết rằng trong cái Căn mối nút
sanh tử tự sẵn đủ Tịch Tịnh Diệu Thường vậy. Thế,
chẳng đủ để tin rằng trói buộc hay cởi mở là không
hai sao?
Tổ Thạch Đầu dạy
chúng rằng:
- Pháp môn của ta,
Phật trước truyền thọ, chẳng luận thiền định, tinh
tấn, độc chỉ thấu đạt Tri Kiến của Phật. Tức Tâm là
Phật. Tâm, Phật, chúng sanh, Bồ Đề, phiền não: tên
khác mà một thể. Các ông phải biết, cái Tự Kỷ tâm
linh, thể lìa thường đoạn, tánh nó chẳng dơ sạch,
lặng tròn đủ như nhiên. Phàm Thánh đồng đều, ứng
dụng khắp cả, lìa tâm, ý, thức. Ba cõi, sáu đường,
duy tự tâm hiện. Trăng dưới nước, bóng trong gương,
nào có sanh, diệt? Các ông mà biết được nó thì có
chỗ nào mà chẳng đầy đủ?
Đây là Đệ Nhất Nghĩa
Tối Thượng vậy.
Chỗ nói: Bồ Đề, phiền
não, khác tên mà một thể, chẳng phải là Căn, Trần
đồng nguồn, ư? Chỗ nói, Thể lìa đoạn thường, tánh nó
chẳng dơ sạch, chẳng phải là chỗ nói: Trói Mở Không
Hai, đấy sao? Chỗ nói, Ba cõi sáu đường, duy tự tâm
hiện; trăng trong nước, bóng trong gương, nào có
sanh diệt, chẳng phải là chỗ Tướng Phần, Kiến Phần
không có tánh, cũng như hình cây lau gác nhau, đấy
sao? Hình lau gác nhau, hoa đốm giữa hư không, cũng
không có sanh diệt. Thế nên biết rằng Thức tánh là
hư vọng, bèn An Lạc Giải Thoát đó.
Kinh:
- Thế nên, giờ đây
chính nơi Thấy Biết mà lập ra Tướng có Thấy Biết, đó
là cội gốc Vô Minh. Chính nơi Thấy Biết mà chẳng có
Tướng Thấy Biết, đó là Niết Bàn chân tịnh, vô lậu.
Làm sao trong ấy lại còn có vật gì khác!
Khi ấy, Thế Tôn muốn
lập lại nghĩa này mà nói bài kệ:
Thông rằng: Trong
thấy biết mà lập ra tướng thấy biết, nghĩa là Nhân
cái Minh mà lập ra cái Sở. Do đó, biết rằng cái căn
bản Vô Minh, cái gốc của sự thắt nút, cái căn mối
nút sanh tử chính là cái Thức vậy, mà chẳng phải chỉ
là Căn. Thấy biết mà không có tướng thấy biết, tức
là: Thấy do lìa cái thấy, Thấy ấy là siêu việt. Thế
nên, phải biết rằng giải thoát khỏi cái thấy biết đó
là cái quả vô lậu, đó là Tịch Tịnh Diệu Thường, là
chuyển Thức thành Trí vậy, chứ cũng chẳng phải chỉ
là Căn. Bởi thế, trong bài kệ ở sau tụng rằng: Thức
A Đà Na vi tế, hiển bày đầy đủ Căn và Thức không
hai.
Thiền sư Thùy Lộc An
thường đọc kỹ càng chỗ này:
- Tri Kiến lập Tri,
tức Vô Minh bổn. Tri Kiến Vô Kiến, ấy tức là Niết
Bàn. Rỗng nhiên khai ngộ, thường đọc tụng luôn.
Học trò bảo rằng:
- Nên lấy bốn chữ làm
câu!
Ngài nói:
- Đây là chỗ ngộ của
ta, không thể chuyển đổi!
Thời ấy gọi Ngài là
An Lăng Nghiêm.
Khi thị tịch, đọc kệ
rằng:
Chẳng thể
đầu non mang lại được,
Há từ Kê Túc truyền mai sau.
Từ xưa Hiền Thánh đều như thế,
Há nay đặt chuyện với ông đâu?
Phó chúc xong, tự mình bước vào trong hòm, nằm
nghiêng bên hữu.
Trải qua ba ngày, đệ
tử mở quan tài khóc lóc, bèn trỗi dậy lên tòa thuyết
pháp, quở trách răn dạy:
- Còn mở nắp hòm của
ta thì không phải là
đệ
tử của ta.
Rồi bước vào trong
hòm đi luôn.
Nếu chẳng được vô lậu
chân tịnh, làm sao đến đi tự do như thế?
IV. KỆ
TỤNG
Kinh:
(Trong)
Chân Tánh, hữu vi (là) không,
Duyên sanh nên Như Huyễn.
Vô vi, không khởi diệt,
Chẳng thật, như Không Hoa.
Thông rằng: Hữu vi tùy theo duyên mà khởi diệt, đó
là Pháp Sanh Diệt. Vô Vi không có chuyện khởi diệt,
đó là Pháp Niết Bàn. Trong Chân Tánh vốn không có
Tướng Sanh Tử hay Niết Bàn. Nút buộc do đâu mà khởi?
Cởi mở từ đâu mà có tên? Thế nên, Hữu Vi là Như
Huyễn, Vô Vi cũng là dụi mắt mà sanh, cả hai đều hư
vọng. Ở đây, là tụng Căn và Trần đồng nguồn, trói và
mở không hai. Ở trong chỗ đồng nguồn, không hai, thì
thấy được hữu vô đều là hư vọng.
Tổ Bách Trượng nói:
- Phật là người không
cầu, tìm cầu tức là trái. Lý là Lý không cầu, hễ cầu
là mất. Nếu bám lấy sự không cầu, thế cũng lại giống
với có cầu. Nếu bám lấy Vô Vi, thì đó cũng lại là
Hữu Vi.
Nên kinh Kim Cang
nói:
-Chẳng nắm giữ nơi
pháp, chẳng nắm giữ cái chẳng phải là pháp, chẳng
nắm giữ cái không phải là chẳng phải pháp.
Ngài lại nói:
- Chỗ đắc pháp của
Như Lai, Pháp ấy không thật, cũng không hư. Chỉ suốt
một đời tâm như gỗ đá, chẳng bị Ấm, Giới, Nhập, Ngũ
Dục, Bát Phong chìm đắm, thì cái nhân sanh tử đoạn
trừ, đi hay ở đều tự do, không bị tất cả nhân quả
hữu lậu móc níu. Lúc ấy mới lấy sự không trói buộc
làm nhân mà
đồng
sự lợi ích cho người. Lấy tâm không trụ trước mà ứng
với hết thảy vật. Dùng cái Huệ Vô Ngại mà cởi mở tất
cả trói buộc, nên cũng nói là theo bệnh cho thuốc.
Ở đây, Tổ Bách Trượng
chỉ thẳng cái Chân Tánh chẳng sa vào hữu vi, đều chỉ
bày phương tiện giải thoát, đó là chỗ nói: Phát minh
tức thành giải thoát vậy.
Kinh:
Nói Vọng
để hiển Chơn,
Vọng, Chơn đều là vọng.
Còn không (phải) Chơn, Phi Chơn,
Lấy đâu Kiến, Sở Kiến?
Thông rằng: Các pháp Hữu Vi duyên theo Căn Trần mà
sanh, nên gọi là hư vọng. Còn pháp Vô Vi thoát khỏi
Căn và Trần, lìa tướng khởi và diệt, cớ sao lại gọi
là chẳng thật như hoa đốm? Nói sanh diệt là Vọng là
để
hiển cái Chân của Niết Bàn, mà
đã
nói có Chân để đối với Vọng, thì Chân cũng thành
Vọng, nên nói cả hai thứ đều Vọng. Vì sao thế? Vì có
cái Chân để đắc vậy. Như ở trong Chân Tánh, thì Chân
với chẳng phải Chân đều bất khả đắc. Tức là Chân mà
chẳng phải Chân, tức là Tánh mà không Tánh, còn làm
sao có được cái Căn năng kiến và cái Cảnh sở kiến ư?
Thấy là Có, là cái
thấy huyễn. Thấy là Không, cũng là dụi mắt sanh ra.
Phàm là có thấy, liền rơi vào nơi chốn, cho nên thấy
có Niết Bàn để thành, tức là hư vọng đó vậy. Cái gọi
là Chân, vốn nào có hư vọng, huống là cái chẳng phải
Chân hay chẳng Chân, trong ấy Chân còn không thể có,
thì Vọng từ đâu mà sanh?
Có nhà sư hỏi Tổ
Hoàng Bá:
- Vọng hay chướng
ngại tự tâm, chưa rõ nay lấy gì để bỏ Vọng?
Tổ nói:
- Khởi lên cái Vọng
để bỏ Vọng cũng thành ra Vọng. Vọng vốn không gốc,
chỉ nhân phân biệt mà có. Ông chỉ nơi hai đầu phàm
Thánh chớ khởi suy lường, nhớ nghĩ, thì tự nhiên
không có Vọng. Lại toan tính đuổi bỏ nó là thế nào?
Tuyệt chẳng có được một mảy tơ nương bám, thì gọi là
buông bỏ cả hai tay, ắt hiện thành Phật.
Nhà sư hỏi rằng:
- Đã không có chỗ
nương bám, thì lấy gì trao truyền?
Tổ nói:
- Lấy tâm truyền tâm.
Nhà sư hỏi:
- Nếu lấy tâm trao
truyền, sao lại nói tâm cũng là không?
Tổ Bá nói:
- Không đắc một pháp
gọi là truyền Tâm. Nếu ngộ Tâm này, liền thật không
thấy Tâm, không thấy Pháp.
Nhà sư hỏi:
- Nếu không có Tâm,
không có Pháp, làm sao gọi là truyền?
Tổ Bá nói:
- Ông nghe nói truyền
Tâm, bèn cho là có thể đắc. Bởi thế, Tổ Sư dạy:
Khi nhận
được Tâm Tánh,
Mới là chẳng nghĩ bàn.
Rõ ràng không chỗ đắc,
Khi đắc chẳng nói tri.
Chỗ này mà muốn dạy tỏ hiểu, làm sao được! Một chữ
Tri còn chẳng tự mang lấy, mới có thể nói là Chân.
Kinh:
Ở giữa,
không thật tánh,
Nên giống lau gác nhau.
Buộc, mở đồng một nhân,
Thánh phàm không hai lối.
Hãy xem tánh giao nhau,
Có, Không đều chẳng phải.
Mê lầm là Vô Minh,
Phát minh liền Giải Thoát.
Thông rằng: Ở giữa là ở giữa Năng Kiến và Sở Kiến.
Do Trần mà phát ra cái Biết, thì cái Biết ấy là
Thức, thuộc về Năng Kiến. Nhân Căn mà có Tướng,
Tướng là Trần, thuộc về Sở Kiến. Ba cái Căn, Trần,
Thức này nương nhau mà có, vốn không có thật tánh,
cũng như cây lau gác nhau, nương nhau mà
đứng,
nguyên không có tự tánh. Thử xem cái tánh của lau
gác nhau, nếu cho là không thì khi nương nhau lại
tựa hồ như có. Nếu cho là có, thì khi nương nhau lại
vốn là không. Chẳng phải là có chẳng phải là không,
đó là không có tánh. Buộc đó, cũng là sáu Căn này mà
chẳng phải có chỗ bớt đi; mở đó, cũng là sáu Căn này
mà cũng chẳng có chỗ tăng thêm, lấy đâu mà gọi mở ra
là Thánh, buộc lại là phàm ư?
Vì chẳng thấu cái ý
chỉ vô sanh, một niệm tự mình không biết, trong thì
thấy có Năng Kiến, ngoài thì thấy có Sở Kiến, nên bị
Căn Trần ràng buộc, không còn cái vốn liếng tự do.
Cái mê mờ đó tức là cội gốc Vô Minh, cái chỗ cột
buộc do đó mà khởi sanh vậy. Nếu như thật thấy được
chỗ không có tánh, mà thoát khỏi sự dính kín, phát
ra cái sáng chói vốn có của mình, khi ấy thì ánh
sáng không theo Căn và thấy chẳng cần mượn Duyên.
Sáu Căn dùng thay nhau, siêu việt các hình tướng thế
gian. Đó là cái nhân của Phát Minh Liền Giải Thoát,
là cái do đó mà có tên là cởi mở vậy. Cột nút là câu
sanh Vô Minh, cái Căn mối nút sanh tử, nên là phàm
phu, đó là do sáu Căn này chứ không phải vật gì
khác. Cởi mở chóng chứng an lạc, tịch tịnh diệu
thường, gọi là Thánh Nhân, đó cũng do sáu Căn này,
nào có vật gì khác! Đồng sáu Căn này, đâu có hai
đường. Kia thì ràng buộc nơi hữu vi, giống như tánh
Có của cây lau gác nhau, mà tánh thật ra chưa từng
có. Nọ thì ràng buộc nơi vô vi, giống như tánh Không
của cây lau gác nhau, mà tánh thực ra chưa từng
không. Thấu đạt cái chẳng phải có, chẳng phải không
này, cái thấy không phàm không Thánh, mới có thể nói
đến Chân Tánh vậy.
Có nhà sư hỏi Tổ
Hoàng Bá:
- Vốn đã là Phật, sao
có bốn loại sanh, sáu đường, đủ thứ hình tướng chẳng
đồng?
Tổ Hoàng Bá nói:
- Chư Phật thể vốn
tròn đủ, nào có tăng giảm. Trôi vào sáu đường, chốn
chốn đều tròn đủ. Trong muôn loài ấy, mỗi mỗi đều là
Phật. Thí như một cục thủy ngân, phân tán các nơi,
mỗi hột đều tròn đủ. Như khi chẳng chia, chỉ là một
khối. Đó là một tức tất cả, tất cả là một. Đủ thứ
hình tướng ví như nhà cửa. Bỏ Nhà của lừa, vào Nhà
của người; bỏ thân người để đến thân của Chư Thiên;
cho đến Nhà của Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và
Phật, đều là do chỗ nắm, bỏ của ông mà có ra khác
biệt. Tánh vốn xưa nay nào có khác biệt?
Rốt ráo thay lời nói
này! Ở ngay đây mà phát sáng được, thì có thể khiến
hạng bạc địa phàm phu bước vào Thánh vị.
Kinh:
Mở nút
theo thứ lớp,
Sáu mở, một cũng mất.
Nơi Căn, chọn Viên Thông,
Vào dòng, thành Chánh Giác!
Thông rằng: Phát minh liền giải thoát, đây là Đốn
Môn, sao còn có lời nói, "Mở nút theo thứ lớp"?
Đốn mà chẳng bỏ Tiệm
nên mới là pháp môn Viên Đốn vậy. Nếu là người đại
căn, đại khí, một ngộ liền đến Phật địa, còn mượn gì
đến tu chứng. Kế đó là hạng mà không gì bằng là chọn
Nhĩ Căn Viên Thông, một Căn trở về nguồn thì sáu Căn
liền giải thoát. Trước là tiêu mất sáu Căn, kế đó
mất luôn cái Một. Đó là Pháp Môn của Đức Quán Thế
Âm, nhập vào Dòng, mất cái Sở, rốt ráo tịch diệt
hiện tiền mà thành Chánh Giác. Ngay trong Đốn Môn,
có đại ngộ tiểu ngộ, kể không xiết, đâu phải không
từng có thứ lớp?
Xưa, thiền sư Quán
Khê Nhàn ban đầu tham vấn Tổ Lâm Tế.
Tổ Lâm Tế nắm đứng
Ngài hồi lâu.
Ngài nói:
- Lãnh hội vậy.
Tổ Lâm Tế buông ra
nói:
- Tha cho ông một gậy
đó.
Sau, thiền sư Quán
Khê trụ núi, mới dạy chúng rằng:
- Ta gặp Tổ Lâm Tế,
không có ngôn ngữ gì, mà cho đến nay no mãi chẳng
đói!
Sau, Ngài đến Tổ Mạt
Sơn, trước tự giao ước rằng:
- Tương đương thì ở,
còn không thì lật ngược thiền sàng.
Khi vào nhà giảng, Tổ
sai thị giả hỏi:
- Thượng Tọa đến thăm
núi, hay vì Phật Pháp mà
đến?
Ngài đáp:
- Vì Phật Pháp mà
đến.
Tổ Sơn bèn lên tòa
giảng, Ngài Quán Khê vẫn chẳng làm lễ.
Tổ Sơn hỏi:
- Hôm nay rời chỗ
nào?
Ngài đáp:
- Lộ Khẩu.
Tổ Sơn nói:
- Sao chẳng che lại
đi!
Ngài Khê không có lời
đáp.
Tổ Mạt Sơn thay thế
nói rằng:
- Sao đến trong ấy
được!
Ngài Quán Khê mới lễ
bái, rồi hỏi:
- Như sao là Mạt Sơn?
Tổ Sơn nói:
- Chẳng lộ đỉnh.
Ngài Khê hỏi:
- Như sao là chủ của
Mạt Sơn?
Tổ Sơn nói:
- Chẳng phải tướng
nam nữ.
Ngài Khê hỏi:
- Sao chẳng biến hóa
đi?
Tổ Sơn nói:
- Chẳng là Thần,
chẳng là Quỷ, biến cái gì?
Ngài Quán Khê chịu
phục, làm người giữ vườn ba năm.
Tổ Lâm Tế tha cho
Ngài một gậy, đến đây mới liên tục.
Sau, Ngài nói:
- Tôi ở chỗ Lâm Tế,
được một lần thoát, tôi ở chỗ Mạt Sơn được một lần
thoát.
Ngài lại nói:
- Mười phương không
tường vách, bốn mặt cũng không cửa. Bày trần trụi,
sáng rực rỡ, không thể nắm!
Ngài Thiên Đồng nêu
ra rằng:
- Ngài Quán Khê nói
như thế, thì thử nói ở chỗ Lâm Tế được hay ở chỗ Mạt
Sơn được? Mặc dầu một mũi tên mà hai con chim. Nhưng
có lúc chạy đi, có lúc ngồi lại. Làm sao cho hợp?
Tóm lại, mở ra đều ở ta, cầm đến, ném đi nào do ai
khác?
Ở chỗ này mà thấu
suốt được, mới mất cái Một, lúc ấy mới gọi là Chân
Giải Thoát!
Kinh:
Thức Đà Na
vi tế,
Tập khí thành dòng xiết.
Sợ lầm Chân, Phi Chân,
Ta thường chẳng khai diễn.
Thông rằng: Sáu Căn chẳng có thể làm phàm, làm
Thánh, mà cái làm chủ là Thức vậy. Sáu Thức đã tiêu
mất, mà cái Ngã Kiến vẫn còn, đó là cảnh giới của
Thức Thứ Bảy. Sáu mở, Một mất, là trở về biển Như
Lai Tạng, đó là cảnh giới của Thức Thứ Tám.
Ngài Mã Minh dạy:
- Y vào Như Lai Tạng,
có cái tâm sanh diệt hòa hợp với cái chẳng sanh
diệt, chẳng phải là một, chẳng phải khác, gọi là
Thức A Lại Da. Thức này rất là vi tế, ngậm chứa
chủng tử làm tập khí, chẳng biết được chỗ ẩn núp của
nó. Tích chứa sanh ra sóng Thức thành dòng chảy
xiết, mà chẳng biết được chỗ sanh của nó. Thế nên
gọi là vi tế. Vì y vào cái chẳng sanh diệt, nên gọi
là Như Lai Tạng xuất triền, tợ hồ như là Chân vậy.
Vì y vào tâm sanh diệt, nên gọi là Như Lai Tạng tại
triền, hình như chẳng phải Chân vậy. Nhưng Chân và
chẳng phải Chân, đều là cái Thức ấy, cho nên khó mà
phân biệt. Gọi đó là Chân, thì sợ rằng nhận giặc làm
con! Mà gọi đó chẳng phải Chân, thì e rằng nhận con
cho là giặc. Do vậy, Đức Thế Tôn chẳng khinh xuất mà
bàn đến vậy.
Nếu có thể chuyển
Thức Thứ Tám thành Đại Viên Cảnh Trí, chẳng phải
Chân, chẳng phải không Chân, mới có thể nói đến Chân
Như, Phật Tánh, Vô Thượng Bồ Đề vậy. Sau này không
rõ được Tánh Tông, đó chỉ vì không thấu đáo Tướng
Tông, lấy cái Ngã Kiến trong Thức Thứ Bảy mà cho là
Phật Tánh, lấy cái tướng sanh diệt trong từng sát
-na của Thức Thứ Tám
làm Chân Như, nên gọi là: Mập mờ Phật Tánh, lầm lạc
Chân Như. Nhận định chỗ đứng yên không chao động cho
là cứu cánh, thế là một chưa tiêu mất vậy.
Có nhà sư hỏi Tổ
Trường Sa Sầm:
- Thức Thứ Sáu, Thứ
Bảy và Thứ Tám, rốt ráo không có tự thể, thì sao lại
nói là chuyển Thức Thứ Tám thành Đại Viên Cảnh Trí?
Tổ Sa chỉ dạy bằng
bài kệ:
Bảy sanh y
một diệt,
Một diệt giữ bảy sanh.
Một diệt, diệt cũng diệt,
Sáu, bảy rốt không động.
Dịch:
Thất sanh y nhất diệt,
Nhất diệt trì thất sanh.
Nhất diệt, diệt diệc diệt,
Thất lục vĩnh vô thiên.
Do đây mà xem, thì không những Sáu mở, Một mất, mà
lại còn Bảy mở, Một mất. Vi diệu thay, vi diệu thay!
Kinh:
Tự tâm nắm
tự tâm,
Chẳng huyễn, thành pháp huyễn.
Không giữ: không Chẳng Huyễn,
Chẳng Huyễn còn không sanh.
Pháp huyễn làm sao lập?
Thông rằng: Trong Chân Tánh, hữu vi là không. Do
Duyên sanh nên như Huyễn”. Chân Tánh vốn là Không,
sao lại có Huyễn sanh ra? Do vì Thức Thứ Tám, trong
thì duyên với Chân Như, ngoài sanh ra các pháp hữu
vi, nên là như Huyễn vậy.
Kinh Giải Thâm Mật
nói :
- A Lại Da Thức rất
vi tế. Hết thảy chủng tử như dòng xiết. Ta chẳng
khai diễn với phàm ngu. E họ phân biệt chấp làm Ngã.
Đây là tự tâm chấp
lấy tự tâm, chính là tự phân biệt mà chấp làm cái
Ngã. Một khi đã chấp làm Ngã, thì ở trong cái chẳng
phải huyễn lại sanh khởi pháp huyễn. Tánh trong lặng
do đó mà phân, nút buộc do đó mà bắt đầu. Từ đó sáu
Căn đuổi theo sáu Trần mà thành luân chuyển. Chẳng
chấp lấy làm Ngã, thì cái "chẳng phải huyễn" còn
không có, huống là cái huyễn do đâu mà lập? Lặng
trong hợp vào lặng trong, đồng nguồn không hai, do
đó mà sáu Căn thanh tịnh cùng mất đi cái Một vậy.
Sáu Căn thuộc về huyễn, cái Một thuộc về "chẳng phải
huyễn". Một và Sáu đều tiêu mất, nên nói: Chẳng
huyễn còn không sanh, Pháp huyễn làm sao lập?
Đây là sự chuyển Thức
thành Trí, ở giữa khoảng nắm lấy và chẳng nắm lấy
vậy.
Kinh Lăng Già nói:
- Phân biệt là Thức,
vô phân biệt là Trí. Sanh diệt là Thức, Chẳng sanh
diệt là Trí. Chỉ không phân biệt thì đó là Chân Tánh
bất sanh diệt. Do thế mà không bị Thức Ấm che
chướng.
Nhà sư hỏi Tổ Hoàng
Bá:
- Ngài Văn Thù cầm
kiếm ở trước Đức Cù Đàm là thế nào?
Tổ Hoàng Bá nói:
- Năm trăm vị Bồ Tát
đắc Túc Mạng Trí, thấy nghiệp chướng đời quá khứ.
Năm trăm ấy là Ngũ Ấm của ông sanh ra đó. Bởi thấy
cái nghiệp chướng túc mạng này, nên cầu Phật, cầu
Niết Bàn Bồ Tát. Do đó, Ngài Văn Thù dùng Kiếm Trí
Giải giết cái tâm có thấy Phật này vậy. Nên mới nói,
Ông khéo giết.
Nhà sư hỏi:
- Cái gì là kiếm?
Tổ Bá nói:
- Tâm Giải Thoát là
kiếm.
Nhà sư hỏi:
- Tâm Giải Thoát đã
là kiếm, dứt lìa cái tâm có thấy Phật, thì như cái
hay dứt lìa cái tâm có thấy, làm sao trừ nó được?
Tổ Bá nói:
- Lại dùng cái Trí vô
phân biệt của ông mà dứt lìa cái tâm có thấy phân
biệt này.
Nhà sư hỏi:
- Như khởi ra cái tâm
có thấy, có cầu Phật thì lấy kiếm Vô Phân Biệt Trí
mà
đoạn
dứt; thế còn cái kiếm Trí ấy thì sao?
Tổ Bá nói:
- Nếu thật là Trí vô
phân biệt giết được cái thấy có, thấy không, thì Trí
vô phân biệt ấy cũng bất khả đắc.
Nhà sư hỏi:
- Không thể lấy Trí
lại đoạn Trí, không thể dùng gươm để đoạn kiếm sao?
Tổ bá nói:
- Kiếm tự hại kiếm,
kiếm kiếm hại nhau, tức là kiếm cũng bất khả đắc.
Trí lại tự hại Trí, Trí Trí hại nhau, tức là Trí
cũng bất khả đắc. Mẹ con chôn nhau, cũng là như thế.
Các luận bàn vi diệu
này, không những ở chỗ Nắm lấy không được phép ló
đầu, mà ngay chỗ Chẳng nắm lấy cũng không có dấu
vết. Nhỏ nhiệm càng nhỏ nhiệm thay? Cần thấu rõ như
thế, mới có thể nói tới việc chuyển Thức Thứ Tám
thành Đại Viên Cảnh Trí.
Kinh:
Đó là Diệu
Liên Hoa,
Bảo Giác Kim Cương Vương.
Như huyễn Tam Ma Đề,
Gẩy móng (tay) vượt Vô Học.
Đây là pháp Vô Thượng,
Một đường đến Niết Bàn,
Của mười phương Chư Phật.
Thông rằng: Ban đầu, Ông A Nan nói rằng từ vô thủy
đến nay cùng với các thứ Vô Minh cùng sanh cùng
diệt, không thể hàng phục được sắc nạn của Cô Ma
Đăng Già, mới ân cần cầu xin cái phương tiện đầu
tiên là Xa Ma Tha, Tam Ma và Thiền Na để đắc thành
Bồ Đề của mười phương Như Lai. Nay, mười phương Như
Lai khác miệng đồng một lời rằng: Ông muốn biết cái
câu sanh Vô Minh khiến ông lưu chuyển, cái căn mối
nút sanh tử đó, chính là sáu Căn của ông, không phải
vật gì khác. Ông lại muốn biết cái Bồ Đề Vô Thượng
khiến ông chóng chứng an lạc giải thoát, tịch tịnh
diệu thường, thì cũng là sáu Căn của ông chứ không
phải vật gì khác.
Như thí dụ ở trước về
băng và nước. Nước đông lại thành băng, đâu có vật
gì khác để làm thành băng? Băng tan thành nước, đâu
có vật gì khác để làm ra nước?
Sáu cái làm môi giới
cho giặc, tự cướp của báu nhà mình, đó là sáu Căn
này vậy. Sáu mở Một mất, liền thành Chánh Giác, cũng
là sáu Căn này vậy. Tức Vọng tức Chân, tức Chân tức
Vọng, trong ấy có diệu ngộ. Một chữ Diệu rất khó
dùng ngôn ngữ để hình dung, phải chuyển Thức thành
Trí. Tương ưng với Tánh Giác Diệu Minh, Bổn Giác
Minh Diệu mới có thể nói đến Bồ Đề Vô Thượng. Ví như
hoa sen, mọc ra từ bùn mà chẳng dơ nhiễm. Hoa sen
thường còn vậy, huống là hoa Ưu Đàm, khác hẳn tướng
thế gian, gọi là hoa ứng điềm lành, để chỉ cho sự
phát minh một con đường tối thượng. Nhập chỗ thấy
biết của Phật mới lãnh nhận nổi.
Bảo Giác Kim Cương
Vương, tức là Sơ Càn Tuệ Địa trong Tâm Kim Cương
vậy. Kim Cương có thể phá hủy tất cả. Hàng Thập Địa
đều gọi là Tâm Kim Cương, cũng vì là phá hủy cái Địa
trước, tức cái gọi là gươm Huệ vậy. Một khi cái Giác
này hiện ra, thì không những Vô Minh từ vô thủy diệt
ngay, mà cái Phật Kiến, Bồ Tát Kiến cũng không có
chỗ nào ló đầu ra nữa.
Tam Ma Đề là Chánh
Định. Nói là như huyễn vì như người huyễn đang làm
mà vốn không có chỗ nào làm. Tức là Tịch mà Chiếu,
tức là Chiếu mà Tịch, quên Tình bặt Thức, không thể
nghĩ bàn, tức là chỗ gọi là Kim Cương Tam Muội, văn,
huân, tu vậy. Các pháp Xa Ma Tha, Tam Ma, Thiền Na
nhiệm mầu này, độc chỉ bởi một phen ngộ. Một khi ngộ
liền đến Phật địa, nên trong khoảng khảy móng tay mà
vượt hàng Vô Học Nhị Thừa. Hàng Vô Học còn rơi vào
công phu tu tập, còn chấp nơi Vô Kiến. Cái Chân Tánh
này hiện tiền, thì hữu, vô đều lìa hết, vượt lên một
lần là vào thẳng, chẳng còn mượn công phu thứ bậc,
là Đốn Môn vậy. Như Thái Tử còn ở trong thai, đã quý
hiển hơn hàng quan, hay như chim Tần Đà trong trứng,
tiếng đã vượt hơn các loài chim. Há các loại thiền
định, quán hạnh tầm thường có thể so sánh sao? Nên
nói: Pháp không gì sánh này chóng chứng Tịch Thường
vậy.
Nhà sư hỏi Tổ Càn
Phong:
- Một đường vào Niết
Bàn của mười phương Chư Phật, chưa rõ đầu đường ở
chỗ nào ?
Tổ Phong lấy cây gậy
vạch một nét, bảo! Ở trong ấy.
Nhà sư xin Tổ Vân Môn
chỉ thêm.
Tổ Môn cầm cây quạt
đưa lên nói:
- Cây quạt nhảy tót
lên tầng Trời Thứ Ba Mươi Ba, xây đắp các lỗ mũi của
Đế Thích. Đánh con cá Lý Ngư ở biển Đông một gậy,
mưa như cầm chậu đổ! Hiểu chăng? Hiểu chăng?
Tổ Hoàng Nam nói:
- Càn Phong một phen
chỉ đường, giúp đỡ kẻ sơ cơ. Vân Môn thông suốt chỗ
biến hoá, nên khiến người sau không mỏi mệt!
Ngài Trúc Am tụng
rằng:
- Càn Phong khỏi dùng
sự chỉ bày. Vân Môn thôi đánh đồ vặt vãnh. Tự nhiên
con Lý Ngư ở biển Đông xây đắp lỗ mũi của Đế Thích.
Ngài Thiên Đồng tụng
rằng:
Vào tay
phương thuốc để cứu đời,
Hương hoàn hồn, muốn cứu nguy ngay.
Một mai toát mồ hôi khắp hết,
Mới tin ai chẳng tiếc lông mày.
Đây là việc gì mà há nên nói lý giải thoát khiến
người vào được? Cần phải tự mình khai ngộ thấu suốt
mới được cái kỳ diệu.