KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN IV
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG
CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN TÂM
MỤC CHÍN: CHỈ
NGHĨA QUYẾT ĐỊNH
B. ĐÁNH CHUÔNG ĐỂ THỂ HIỆN TÍNH THƯỜNG
1.
NGHI CĂN TÁNH KHÔNG CÓ TỰ THỂ
Kinh: A Nan bạch Phật
rằng:
- Thưa Thế Tôn, như
lời Phật dạy, muốn cầu được thường trụ, thì phải ở
từ Nhân Địa là Giác Tâm, và những danh mục tu chứng
phải cần tương ưng với quả vị. Thưa Thế Tôn, như
trong quả vị đó, thì bảy danh hiệu là Bồ Đề, Niết
Bàn, Chân Như, Phật Tánh, Am Ma La Thức, Không Như
Lai Tạng, Đại Viên Cảnh Trí, tuy tên gọi khác nhau,
nhưng Thể Tánh là trong sạch tròn đầy, vững chắc như
Kim Cương Vương, thường trụ chẳng hoại.
Nếu cái Thấy Nghe này
lìa ngoài cái sáng, cái tối, cái động, cái tĩnh, cái
thông bít thì rốt ráo không có tự thể; cũng như cái
tâm niệm rời ngoài Tiền Trần vốn không chỗ có, thế
thì tại sao lại lấy cái rốt ráo là
đoạn
diệt này mà làm Nhân Địa để tu cho được bảy quả đức
Thường Trụ của Như Lai? Thưa Thế Tôn, nếu lìa ngoài
sáng và tối, thì cái thấy của tâm niệm diệt mất. Tới
lui qua lại, suy xét chín chắn, thì vốn không có Tâm
tôi và cái Tâm Sở của tôi, vậy lấy gì làm Nhân Địa
để cầu Vô Thượng Giác? Đức Như Lai trước kia có nói
cái Tánh trong lặng tròn đầy thường trụ, nay lời nói
khác nhau, hóa thành hý luận. Đâu là lời chân thực
của Như Lai. Xin Thế Tôn rủ lòng đại từ, mở chỗ mê
chấp cho tôi.
Thông rằng: Ông A Nan
cho cái Nhân là Nhân Thực, cái Quả là Quả Thực, nên
cho là lìa ngoài Trần không có tự thể, lìa ngoài
Niệm không có Tâm: nghi là
đoạn
diệt. Đó là vì ông chưa từng biết rằng cái Tâm đối
với Cảnh nguyên thuộc về sanh diệt, là sanh diệt thì
có thể đoạn, còn cái Tâm lìa Cảnh, không thuộc sanh
diệt, nên chưa từng đoạn được. Cái Tánh trong lặng
tròn đầy thường trụ rốt ráo là vô sở đắc, xem xét
nhặt nhiệm thì vốn không có Tâm ta, cùng với Tâm Sở
của ta. Lấy cái ấy làm Nhân, thì đó là Chánh Nhân;
lấy cái ấy chứng quả, thì đó là Chân Quả. Cái Tánh
trong lặng tròn đầy thường trụ vốn là như thế, sao
lại nghi ngờ là mâu thuẫn ư? Vốn là một Tánh mà có
bảy thứ tên gọi.
Kinh Bảo Tích nói:
- Không Như Lai Tạng
lìa tất cả phiền não của tâm thức không giải thoát.
Bất Không Như Lai Tạng đầy đủ hằng sa Pháp không thể
nghĩ bàn của Phật Trí giải thoát. Không Bất Không
Như Lai Tạng tùy hiện sắc không, ứng khắp tất cả.
Không Như Lai Tạng là
Quả Thường Trụ. Đại Viên Cảnh Trí thấy rõ tất cả mà
không phân biệt. Am Ma La Thức phân biệt tất cả mà
không nhiễm trước. Vì rõ ràng thấu suốt nên gọi là
Phật Tánh. Rõ ràng thấu suốt là cứu cánh Giác, nên
gọi là Bồ Đề. Cứu cánh Giác, Thể vốn Tịch Diệt, nên
gọi là Niết Bàn. Tịch Diệt nên hết thảy vọng tâm
không chạm tới được, nên gọi là Chân Như. Bảy quả
đức vốn là một Thể vậy.
Sơ Tổ Đạt Ma chỉ dùng
tám chữ bao quát đầy đủ hết. Đó là: Tịnh Trí Diệu
Viên, Thể Tự Không Tịch. Tịnh là Bạch Tịnh Thức. Trí
là Đại Viên Cảnh Trí. Không là Không Như Lai Tạng.
Tịch là Niết Bàn. Còn Chân Như, Bồ Đề, Phật Tánh,
không ngoài hai chữ Diệu Viên. Hai chữ Diệu Viên tức
là phân biệt mà chẳng phân biệt, sanh diệt mà chẳng
sanh diệt, đó là Tánh Giác Như Như tròn khắp vậy.
Có nhà sư hỏi Tổ
Hoàng Bá:
- Thế nào là Đạo? Thế
nào là tu hành?
Tổ Bá đáp:
- Đạo là vật gì mà
ông muốn tu hành?
Hỏi:
- Tông sư các nơi
truyền nhau tham thiền học đạo như thế nào?
Tổ Bá nói:
- Lời tiếp dẫn hạng
độn căn, chưa thể nương dựa được.
Hỏi:
- Ấy đã là lời tiếp
dẫn hạng độn căn, còn chưa rõ là tiếp hạng thượng
căn thì nói pháp gì?
Tổ Bá nói:
- Nếu là người thượng
căn, thì chỗ nào mà
đến
Đạo, tìm Đạo? Cái Tự Mình còn bất khả đắc, huống là
có riêng pháp để tìm cầu? Chẳng thấy trong kinh nói
Các pháp có hình trạng gì?, sao?
Hỏi:
- Nếu như thế kia, ắt
chẳng cần tìm kiếm gì hết thảy?
Tổ Bá nói:
- Như thế ấy thì
chẳng hao tâm lực.
Hỏi:
- Nếu như thế thì
thành đoạn diệt, chẳng phải là không có ư?
Tổ Bá nói:
- Ai bảo cái ấy không
có. Nhưng cái đó là gì mà ông định tìm kiếm nó?
Hỏi:
- Đã chẳng cho tìm
kiếm, cớ sao lại còn nói chẳng đoạn lìa nó?
Tổ Bá nói:
- Chẳng tìm kiếm, tức
bèn thôi nghỉ. Ai bảo ông đoạn lìa? Ông thấy hư
không trước mắt đó, làm sao đoạn lìa nó?
Hỏi:
- Có phải pháp ấy
đồng như hư không chăng?
Tổ Bá nói:
- Hư không có bao giờ
nói với ông là
đồng
hay khác gì đâu. Ta mới tạm nói thế, ông lại ngay
liền ở trong ấy mà sanh tri giải.
Hỏi:
- Vậy nên chẳng cho
người sanh tri giải ư?
Tổ Bá nói:
- Ta không hề ngăn
chướng ông. Nhưng tri giải là thuộc Tình, Tình sanh
thì Trí cách.
Hỏi:
- Hướng vào trong ấy
mà chẳng sanh tình, thế có đúng không?
Tổ Bá nói:
- Như chẳng sanh
tình, thì ai nói là
đúng?
Thế mà hơn ngàn năm
rồi, vẫn còn có cái nghi như của Ông A Nan, nếu được
vài lời của Ngài Hoàng Bá, bèn cùng trùng tuyên cái
chỉ thú sâu xa!
2. CHỈ BÀY TÁNH NGHE LÀ THƯỜNG TRỤ
Kinh:
Phật bảo Ông A Nan:
- Ông học đa văn,
chưa dứt hết sạch các lậu. Trong tâm chỉ biết suông
cái nhân điên đảo, mà cái điên đảo thật sự ở trước
mắt, lại chưa biết được. E rằng ông thật sự còn chưa
tin phục, nay ta thử đem các chuyện trần tục để giải
trừ cái nghi của ông.
Liền đó, Như Lai ra
lệnh cho La Hầu La đánh một tiếng chuông, rồi hỏi
Ông A Nan:
- Nay ông có nghe
không?
Ông A Nan và
đại
chúng đều nói:
- Có nghe.
Chuông hết kêu, không
còn tiếng. Phật lại hỏi:
- Nay ông có nghe
không?
Ông A Nan và
đại
chúng đều nói:
- Không nghe.
Khi ấy La Hầu La lại
đánh một tiếng chuông.
Phật lại hỏi:
- Nay ông có nghe
không?
Ông A Nan và
đại
chúng lại đều nói:
- Có nghe.
Phật hỏi Ông A Nan:
- Theo ông, thế nào
là nghe, thế nào là không nghe?
Ông A Nan cùng đại
chúng đều bạch Phật rằng:
- Tiếng chuông nếu có
đánh thì chúng tôi được nghe. Đánh lâu hết tiếng, âm
vang đều không còn, thì gọi là không nghe.
Như Lai lại bảo Ông
La Hầu La đánh chuông, rồi hỏi Ông A Nan:
- Theo ông, hiện giờ
có tiếng không?
Ông A Nan và
đại
chúng đều nói:
- Có tiếng.
Ít lâu tiếng hết,
Phật lại hỏi rằng:
- Theo ông, hiện giờ
có tiếng không?
Ông A Nan và
đại
chúng đều đáp:
- Không có tiếng.
Lát sau, Ông La Hầu
La lại đánh tiếng chuông; Phật lại hỏi:
- Theo ông nay có
tiếng không?
A Nan và
đại
chúng đều nói:
- Có tiếng.
Phật hỏi Ông A Nan:
- Theo ông, thế nào
là có tiếng, thế nào là không tiếng?
Ông A Nan và
đại
chúng đều bạch Phật rằng:
- Chuông nếu có đánh
thì có tiếng chuông. Đánh lâu tiếng hết, âm vang đều
không còn, thì gọi là không tiếng. Phật bảo Ông A
Nan và
đại
chúng rằng:
- Nay cớ sao các ông
nói trái ngược, lộn xộn thế?
Đại chúng và Ông A
Nan cùng bạch Phật:
- Cớ sao giờ đây
chúng tôi bị gọi là trái ngược, lộn xộn?
Phật dạy:
- Ta hỏi ông sự Nghe,
thì ông bảo là Nghe. Hỏi ông cái Tiếng, thì ông nói
là Tiếng. Chỉ có sự Nghe và cái Tiếng mà trả lời
không nhất định, như thế không gọi là trái ngược lộn
xộn sao được?
A Nan! Tiếng kêu
không còn vang, thì ông nói là không Nghe. Nếu thật
không Nghe, nghĩa là Tánh Nghe đã diệt, giống như
cây chết khô, vậy khi tiếng chuông lại đánh lên, làm
sao ông còn biết được? Biết rằng có, biết rằng
không, đó là cái Tiếng của Trần hoặc có hoặc không,
chứ Tánh Nghe đó, há vì ông mà có hoặc không ư? Tánh
Nghe nếu thật là không có, thì còn cái gì biết là
không có?
Thế nên, A Nan, cái
Tiếng ở trong cái Nghe tự có sanh có diệt, không
phải vì ông nghe cái Tiếng Sanh cái tiếng Diệt, mà
khiến cho Tánh Nghe ông ông thành có, thành không.
Ông còn điên đảo, lầm cái Tiếng là cái Nghe, lạ gì
chẳng mê mờ mà lấy cái thường làm cái đoạn. Trọn
chẳng nên nói rằng, lìa ngoài các thứ động tịnh,
đóng bít, mở thông thì cái Nghe không có tự tánh.
Như người ngủ mê trên
giường gối, khi ấy trong nhà có người giã gạo. Người
ấy trong mộng, nghe tiếng giã gạo, lầm cho là vật gì
khác, hoặc cho là
đánh
trống, hoặc cho là
đánh
chuông. Ngay trong khi mộng, người ấy cũng lấy làm
lạ sao tiếng chuông lại vang lên như tiếng vang của
cây, của đá. Khi chợt tỉnh dậy, liền biết là tiếng
chày, bèn nói với người nhà: Khi tôi đang nằm mộng,
lầm tiếng chày này là tiếng trống”. Này A Nan, người
ấy ở trong mộng nào còn nhớ các thứ động tĩnh, mở
đóng, thông bít. Thế thì thân thể tuy ngủ mà tánh
Nghe chẳng mờ. Dầu thân ông có tiêu tan mất, thân
mạng đổi dời, Tánh ấy làm sao vì ông mà tiêu diệt
được?
Bởi vì chúng sanh từ
vô thủy đến nay, đeo đuổi theo hình theo tiếng, chạy
theo niệm mà lưu chuyển, không từng khai ngộ Bản
Tánh trong sạch, nhiệm mầu, vĩnh cửu. Không theo cái
thường còn ấy, mà chạy tìm các thứ sanh diệt, bởi
thế đời này sang đời khác cứ dơ trộn mà lưu chuyển.
Chỉ bỏ đi chuyện sanh diệt, giữ lấy Tánh Chân
Thường, thì cái ánh sáng thường trụ hiện ngay trước
mắt, mọi thứ căn, trần, tâm thức tức thì tiêu mất.
Tướng vọng tưởng là
trần, thức tình là cấu. Hai thứ ấy một lúc xa lìa,
thì con mắt Pháp của ông ngay liền trong sáng. Thế
thì sao không thành Tri Giác Vô Thượng?
Thông rằng: Đức Phật
dạy, Thoát Khỏi Sự Dính, Phục Vào Bên Trong, tức là
Tánh lặng trong tròn đầy, thường trụ vậy. Ông A Nan
nghi rằng lìa ngoài tiền trần thì không có tự tánh,
sợ là
đồng
với đoạn diệt, bởi vậy, ngay nơi tiếng chuông mà
hiển Tánh Nghe. Cái Tiếng tan mất không còn âm vang,
thì chỉ là không có Tiếng chứ thật không phải là
không có cái Nghe. Cái Tiếng thì có sanh diệt, cái
Nghe thì không có sanh diệt. Nếu nói cái Nghe do cái
Tiếng mà sanh, do cái Tiếng mà diệt, thì đang khi
không nghe, ai biết là không nghe? Do đó, cái hoặc
có hoặc không thì có thể diệt, còn cái Biết Có Biết
Không ấy chưa từng diệt vậy. Chẳng những khi tỉnh
thức đối cảnh thì chẳng diệt, mà ngay khi ngủ nằm
mộng, lìa tiền cảnh cũng chẳng có sanh diệt. Chẳng
những khi ngủ nằm mộng căn vẫn còn thì chẳng diệt,
mà khi thân thể mất rồi, căn tiêu tan hết cũng chẳng
có diệt. Chỗ này so với Cái Thấy Sông, ở đoạn trước
cũng tương tự. Ở trước, hiển bày cái Thấy, là ý
nghĩa về chỗ chẳng sanh chẳng diệt. Còn ở đây hiển
bày cái Nghe, ý để chỉ cái Nhĩ Căn viên thông vậy.
Xoay ngược lại cái
Nghe để nghe tự tánh, tức là khai ngộ Bản Tánh trong
sạch, nhiệm mầu, thường hằng. Ánh sáng thường trụ
hiện ngay trước mặt, tức đó là cái Tịch Diệt hiện
tiền. Da thịt lột thoát hết, chỉ có một cái Chân
Thực. Như thế mới có thể gọi là con mắt Pháp sáng
trong, thành Vô Thượng Giác.
Ông Đỗ Hồng Tiệm hỏi
thiền sư Vô Trụ ở chùa Bảo Đường rằng:
- Đệ tử nghe Hòa
Thượng Kim nói: Không nhớ, không niệm, chớ vọng.
Pháp môn ba câu, có phải không?
Sư đáp:
- Phải.
Ông Đỗ hỏi:
- Ba câu ấy là một
hay ba?
Sư nói:
- Không nhớ là giới,
không niệm (vô niệm) là Định, chớ vọng là Huệ. Một
Tâm chẳng sanh, đó là Giới Định Huệ, chẳng phải một,
chẳng phải ba.
Ông Đỗ lại hỏi:
- Thầy có dùng ba câu
ấy để tiếp người không?
Sư nói:
- Người học nhân sơ
tâm, thì còn khiến họ dứt niệm, dừng làn sóng thức,
nước trong thì cảnh hiện, ngộ cái Thể Vô Niệm, Tịch
Diệt hiện tiền, lúc ấy vô niệm cũng chẳng còn lập.
Khi ấy, trên cây
trước sân có tiếng quạ kêu.
Ông Đỗ hỏi:
- Thầy có nghe không?
Sư nói:
- Nghe.
Quạ bay đi mất, lại
hỏi:
- Thầy có nghe không?
Sư nói:
- Nghe.
Ông Đỗ nói:
- Quạ bay đi rồi, đâu
còn tiếng, sao nói là nghe?
Thiền sư bèn dạy cả
đại chúng rằng:
- Đời Phật khó gặp,
Chánh Pháp khó nghe! Mỗi người hãy lóng nghe kỹ! Có
nghe, không nghe, đều chẳng liên quan gì đến Tánh
Nghe. Xưa nay chẳng sanh, sao từng có diệt? Khi có
Tiếng, đó là cái Tiếng của Trần tự sinh, khi không
có tiếng, đó là cái Tiếng của Trần tự diệt, nhưng
cái Tánh Nghe này, chẳng theo Tiếng mà sanh, chẳng
theo Tiếng mà diệt. Ngộ Tánh Nghe này thì khỏi tiếng
tăm của Trần ràng buộc. Phải biết cái Nghe không có
sanh không có diệt, cái Nghe không có chuyện đến,
đi.
Ông Đỗ và
đại
chúng cúi đầu vâng lãnh.
Ông Đỗ lại hỏi:
- Sao là chẳng sanh,
sao là chẳng diệt, như thế nào được giải thoát?
Thiền sư nói:
- Thấy Cảnh, tâm
chẳng khởi là chẳng sanh. Chẳng sanh tức là chẳng
diệt! Đã không sanh diệt thì nào có bị tiền trần
trói buộc? Ngay đây là Giải Thoát. Chẳng sanh là vô
niệm, vô niệm thì không sanh diệt. Vô niệm là không
buộc, vô niệm là không thoát. Rốt ráo là: Biết Tâm
là lìa Niệm, Thấy Tánh là giải thoát. Ngoài Biết
Tâm, Thấy Tánh mà lại có pháp môn chứng Bồ Đề Vô
Thượng, thật không thể có.
Ông Đỗ hỏi:
- Sao gọi là Biết
Tâm, Thấy Tánh?
Thiền sư nói:
- Hết thảy người tu
học, theo niệm mà trôi dạt, đều vì chẳng biết Chân
Tâm. Cái Chân Tâm ấy, niệm sanh cũng chẳng thuận
theo mà sanh, niệm diệt cũng chẳng nương theo mà
mất. Chẳng đi chẳng đến, chẳng định chẳng loạn,
chẳng nắm chẳng bỏ, chẳng nổi chẳng chìm. Vô vi, vô
tướng, sống động lưu thông, bình thường, tự tại. Tâm
Thể ấy rốt ráo bất khả đắc, không thể lấy tri thức
mà biết, chạm mắt đều là Như, không có gì là chẳng
phải thấy Tánh.
Ông Đỗ và
đại
chúng làm lễ, xưng tán, vui mừng hớn hở mà
đi.
Ngài Bảo Đường, diễn
lại Lăng Nghiêm, xét xem lời nói như cùng một miệng
thuyết ra.
Chỉ có Tổ Vân Môn,
chỗ thấy lại khác. Tổ thượng đường, nghe tiếng
chuông, liền nói:
- Thế giới rộng rãi
thế kia, cớ sao nghe tiếng chuông lại mặc áo thất
điều?
Đối với chỗ này mà
chẳng có chút nghi, mới gọi là Pháp Nhãn thanh tịnh.