KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN IV
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG
CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN TÂM
MỤC CHÍN: CHỈ
NGHĨA QUYẾT ĐỊNH
A. XÉT RÕ GỐC RỄ PHIỀN NÃO
Kinh:
- Cái nghĩa Thứ Hai
là, các ông muốn quyết phát tâm Bồ Đề, nơi Bồ Tát
Thừa sinh dõng mãnh quyết định quăng bỏ các tướng
hữu vi, thì phải xét rõ gốc rễ phiền não: những thứ
ấy từ vô thủy đến nay, phát sanh nghiệp và nảy nở
ra, là ai làm ai chịu?
A Nan, ông tu đạo Bồ
Đề mà không xét kỹ cái Căn Bản Phiền Não thì không
thể biết Căn Trần hư vọng điên đảo chỗ nào? Chỗ điên
đảo còn chẳng biết thì làm sao hàng phục được chúng
mà giữ Như Lai Vị?
Thông rằng: Xét xem
cái Nhân Địa Phát Tâm để thể hội cái Chân. Xét xem
căn bản phiền não, để dứt hết cái Vọng. Trong cái
Vọng lại chẳng có Vọng, tức là Vọng tức là Chân vậy.
Căn bản phiền não có
hai thứ: Một là, phát sanh Nghiệp Vô Minh, là phiền
não đời quá khứ. Hai là, nảy sanh Vô Minh, là khi
đầu thai, đối với cha mẹ mà khởi Thức Tình thương
ghét. Cả hai thứ phiền não vốn không có tự tánh. Như
biết là vô tự tánh, trọn không có người làm ra, cũng
không có người lãnh chịu. Đương thể không tịch, cái
gì là phiền não? Người Tiểu Thừa kia, chưa rời công
dụng hữu vi, cho là có thật phiền não, cần nên phá
trừ. Thế là vì chưa rõ Căn Trần là hư vọng. Như Bồ
Tát Thừa thì khác, bước đi ngay trong cái Vô Thượng
Bồ Đề, chỉ ở giữa Căn và Trần, xét biết rõ cái gì
làm ra, cái gì lãnh chịu, bỗng nhiên phá tan Vô Minh
từ vô thủy, lập tức dừng ngay.
Ngài La Sơn Nhàn,
trước hỏi Tổ Thạch Sương:
- Khi khởi diệt chẳng
ngừng thì như thế nào? Tổ Sương nói:
- Ngay giờ tro lạnh,
củi khô đi! Một niệm muôn năm đi! Nắp, rương hợp
nhau đi! Sạch ròng không vết đi!
Ngài La Sơn không
hiểu, qua hỏi Tổ Nham Đầu. Tổ Nham quát rằng:
- Thế cái gì khởi
diệt?
Ngài Thiên Đồng tụng
rằng:
Chặt đứt
dây leo già,
Hang bộng chồn đập phá.
Báo gặp sương mù mà
đổi
vằn,
Rồng nương sấm sét mà thay cốt.
Á!
Khởi diệt lăng xăng đó vật gì?
Ở
đây mà tỉnh thức, thì chẳng hướng về cửa sáu Căn mà
nắm giữ, phân chia quen lạ vậy.
Bàng Cư Sĩ kệ rằng:
Một bầy
sáu tên giặc,
Đời đời lừa giết người.
Ta nay rõ bay rồi,
Chẳng cùng bay gần gũi.
Nếu bay chẳng phục ta,
Đến đâu ta cũng nói.
Dạy người biết hết bay,
Nếu bay chịu phục ta.
Ta bèn chẳng phân biệt,
Cùng bay ở một chỗ.
Đồng chứng Vô Sanh Diệt.
Đây là cái biết chân thật chỗ nào điên đảo, nên hay
hàng phục được mà giữ Như Lai vị vậy.
Kinh:
- A Nan, ông hãy xem
người trong thế gian mở nút. Hễ không thấy chỗ thắt
nút, thì làm sao biết mở? Nhưng không hề nghe nói hư
không bị phá tan. Vì sao thế? Vì hư không không có
hình tướng, không có thắt hay cởi vậy. Thì như ông
hiện giờ, sáu thứ: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt cho đến Thân
Ý đang làm mai mối cho giặc, tự cướp của báu trong
nhà. Do thế mà từ vô thủy, thế giới chúng sanh sanh
ra ràng buộc ở nơi sự vật thế gian, không thể siêu
vượt khỏi.
Thông rằng: Ở trước,
lấy ví dụ hư không chẳng hư hoại, nên chẳng sanh
diệt. Ở đây, dụ hư không không có thắt nút nên không
có phiền não. Hư không còn thế, thì Tự Tánh Chân
Không sao lại có phiền não sanh diệt ư? Như bỏ sanh
diệt, giữ lấy cái Chân Thường, thì cái ánh sáng
thường hằng hiện bày trước mắt, khi ấy Căn, Trần,
Thức tiêu mất, thì thế giới chúng sanh còn thể nào
sanh trói buộc? Bên trong ánh sáng phát ra thì các
trần tướng biến hóa của thế gian tiêu tan như băng
gặp nước sôi; tức thời hóa thành Tri Giác Vô Thượng.
Thế là nơi sự vật thế gian mà siêu vượt khỏi vậy.
Của báu nhà mình là như vậy, sao chẳng tự giữ gìn
thương tiếc.
Sáu Thức ở trong, sáu
Trần ở ngoài, đều do sáu Căn dẫn dắt tự phát sanh
ràng buộc, nên gọi là mai mối cho giặc.
Có nhà sư hỏi Tổ Tào
Sơn:
- Bậc Sa môn há chẳng
phải là người đầy đủ đại từ, đại bi sao?
Tổ Tào Sơn nói:
- Phải.
Hỏi:
- Bỗng gặp sáu tên
giặc cướp đến thì sao?
Tổ Sơ nói:
- Cũng cần đầy đủ đại
từ, đại bi.
Hỏi:
- Thế nào là
đầy
đủ đại từ, đại bi?
Tổ sơ nói:
- Một gươm chém sạch!
Hỏi:
- Sau khi hết sạch
rồi thì sao?
Tổ Sơn nói:
- Mới được hòa đồng.
Lại có nhà sư hỏi Tổ
Bửu Phước:
- Nhà nghèo nàn mà
gặp ăn cướp thì làm sao?
Tổ Phước nói:
- Không thể hết sạch
đâu.
Hỏi:
- Vì sao mà không thể
hết sạch?
Tổ Phước nói:
- Ăn cướp chính là
người nhà.
Hỏi:
- Đã là người nhà,
tại sao lại đổi thành ăn cướp của nhà? Tổ Phước nói:
- Trong đã không có
nội ứng, thì ngoài làm gì được? Hỏi:
- Bỗng nhiên bắt được
ăn cướp thì công về đâu? Tổ Phước nói:
- Thưởng cũng chưa
từng nghe. Hỏi:
- Như thế thì nhọc
nhằn mà không có công ư? Tổ Phước nói:
- Công chẳng phải là
không có, nhưng thành mà không có chỗ ở.
Hỏi:
- Đã thành công vì
sao không có chỗ ở?
Tổ Phước nói:
- Chẳng có nghe nói,
Thái bình vốn chỗ tướng quân mong. Chẳng để tướng
quân thấy thái bình, sao?
Ở chỗ này có thể biết
rằng, mượn công phu để tỏ rõ địa vị thì Tông Môn
chẳng phế bỏ, chứ nào từng một mực nói thiền là vô
sự không tu gì cả sao?
Kinh:
- A Nan, thế nào gọi
là thế giới chúng sanh? Thế là thời gian dời đổi;
giới là không gian phương chốn. Nay ông nên biết
rằng những phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây
Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, phương trên, phương dưới là
giới. Quá khứ, vị lai, hiện tại là thế. Phương chốn
có mười, sự trôi chuyển có ba. Tất cả chúng sanh dệt
cái hư vọng mà hỗ tương thành ra như vậy. Sự đổi dời
là ở trong thân, thời gian và không gian gắn bó với
nhau. Nhưng tính của giới đó tuy thiết lập ra mười
phương, mà rõ ràng có thể xác định nơi chốn của nó.
Thế gian chỉ nhận các phương Đông, Tây, Nam, Bắc;
phương trên, phương dưới thì không có vị trí rõ
ràng; còn phương giữa cũng không có vị trí nhất
định. Số bốn của giới đã rõ rồi, hợp cùng với số ba
của thế, thì ba nhân bốn, bốn lần ba, xoay chuyển
thành số mười hai. Biến đổi ba lớp, từ một chục
thành trăm, thành ngàn. Ở trong sáu Căn trước sau
bao gồm, mỗi thứ có thể có đến một ngàn hai trăm
công đức.
A Nan, ông lại xét
trong sáu Căn đó, hơn kém thế nào?
Như Nhãn Căn xem
thấy, phía sau thì tối, phía trước thì sáng, phương
trước toàn sáng, phương sau toàn tối, trái phải hai
bên, ba phần chỉ được có hai. Tóm lại, công đức của
Nhãn Căn không toàn vẹn, trong ba phần thì một phần
không có, vậy nên biết Nhãn Căn chỉ có tám trăm công
đức.
Như Nhĩ Căn nghe
khắp, mười phương không sót, động thì như có xa, có
gần, tĩnh thì không có bờ bến. Nên biết Nhĩ Căn đầy
đủ một ngàn hai trăm công đức.
Thân Căn biết chạm
xúc, biết các cảm xúc dễ chịu và khó chịu. Khi hợp
thì biết, khi rời thì không biết. Rời chỉ có một
phần, hợp thì có hai phần nên nghiệm nơi Thân Căn ba
phần thiếu một. Nên biết rằng Thân Căn chỉ có tám
trăm công đức.
Ý Căn lặng chứa hết
thảy các pháp thế gian, xuất thế gian trong mười
phương, ba đời. Dù Thánh hay phàm, không có cái gì
chẳng bao dung cùng tột bờ bến. Nên biết rằng Ý Căn
đầy đủ một ngàn hai trăm công đức.
Thông rằng: Hết thảy
chúng sanh dệt cái hư vọng mà hỗ tương thành ra như
vậy. Sự dời đổi là ở trong thân, thế và giới gắn bó
với nhau”, câu ấy nghĩa là thế giới là sự kết thành
của nghiệp lực chúng sanh. Thân là Chánh Báo, thế
gian là Y Báo, chỉ do nghiệp quả mà nên dạng hình,
làm khách trọ đổi dời, trôi nổi không cùng. Giao
thiệp với trần thế, đều do sáu Căn làm môi giới.
Trong sáu Căn, mỗi cái đều có một ngàn hai trăm công
đức, căn cứ trên tánh hiểu biết thì đồng, còn đối
với cái dụng của sáu Căn phân biệt thì có khác, bởi
thế mà có đầy đủ và thiếu kém khác nhau.
Ở trước có nói “Khiến
ông lưu chuyển thì lỗi lầm là Tâm và Mắt”, thế nên
bảy lần hỏi Tâm, tám chỗ trả về, để tỏ rõ cái thấy
hư vọng. Ở đây lại tỏ rõ đủ sáu Căn là môi giới cho
giặc, nên luận bàn rõ ràng sự hơn kém của sáu Căn
ấy. Khiến chọn lấy Nhĩ Căn Viên Thông để làm gốc tu
chứng. Nhãn Căn, Tỷ Căn, Thân Căn thì ba phần thiếu
đi một, không đầy đủ dung lượng của cái Tánh. Thiệt
Căn, Ý Căn, tuy đầy đủ công đức như Nhĩ Căn, nhưng
Thiệt Căn thì rơi vào lời nói, Ý Căn thì rơi vào sự
suy nghĩ. Chẳng bằng được Nhĩ Căn, không hình tướng,
không mùi, rất gần với Tánh Thể, bởi vậy phải nên
theo nó vậy.
Lấy không gian giao
thiệp với thời gian, gọi là nhân thành ba lớp. Thứ
nhất là, bốn phương hướng với ba đời, thành ra mười
hai. Thứ hai là, một phương với ba đời, biến thành
mười, các phương khác cũng thế, cọng thành một trăm
hai mươi. Thứ ba là, một phương từ mười biến thành
một trăm, các phương khác cũng như vậy, cọng thành
một ngàn hai trăm. Số của thời gian là số ba, nên
nhân ba lần. Không gian phương hướng có mười, nên
một biến thành mười. Đó là con số của tự nhiên.
Trong Kinh Dịch, số đại diễn là năm mươi, lấy năm
nhân mười, lấy mười nhân năm, cũng giống như phép
này. Chỗ dùng của Thánh nhân trước sau đồng một
đường lối.
Mỗi phương có hai
trăm công đức, mỗi phương phụ có một trăm công đức.
Tóm lại, mỗi phương có ba trăm công đức. Nay Nhãn
Căn thấy ba phương chính phía trước và hai bên thì
có sáu trăm công đức, cộng với hai phương phụ phía
trước là hai trăm, thành có sáu trăm công đức. Còn ở
phía sau thiếu một phương chính (hai trăm) và hai
phương phụ (một trăm nhân hai) không thấy được. Thật
ra, thì sáu Căn mà trong sạch, có thể dùng thay cho
nhau. Như trong kinh Hoa Nghiêm, y theo kinh mà tu
hành, nếu đã phát ra được cái giải tương tự, thì tuy
nhãn Căn chỉ có tám trăm công đức, cũng đầy đủ bao
nhiêu công đức như năm Căn kia. Còn nếu sáu Căn làm
mối cho giặc, tự cướp của báu trong nhà, thì đan dệt
hư vọng mà
đổi
dời, không còn bờ bến. Cho nên, tu thì công đức vốn
vô cùng, không tu thì nghiệp quả cũng vô cùng vậy.
Tổ Pháp Nhãn thượng
đường nói:
- Người xưa nói “Thế
nào là Thiền? Ba cõi đăng đẳng! Thế nào là Đạo? Mười
phương mênh mông!” Vì sao nói ba cõi đăng đẳng? Đâu
là mười phương mênh mông? Cái đạo lý ấy thể hội được
chăng? Lấp mắt đi, lấp tai đi, lấp hết lưỡi, thân,
ý! Chỗ nào thiếu hụt? Chỗ nào động lay? Các Thượng
Tọa hiểu làm sao? Ngang cũng chẳng được, dọc cũng
chẳng được, bỏ cũng chẳng được, nắm cũng chẳng được,
không có chỗ dụng tâm, cũng không có chỗ bày vẽ! Nếu
hiểu được như thế, mới thấu hiểu pháp môn tuyệt hết
chọn lựa, cả thảy ngữ ngôn dứt rỉ chảy!
Từng có nhà sư hỏi:
- Thế nào là lời
tuyệt hết rỉ chảy? Trả lời cho nhà sư rằng:
- Miệng giống như lỗ
mũi thì rất phải.
Các Thượng Tọa như
hiểu được chỗ này, thì tự nhiên rỗng suốt. Như tỏ
suốt được, thì hết mười phương thế giới là tròng mắt
Kim Cang. Hãy vô sự! Trân trọng.
Lại còn thiền sư
Hoàng Long Chấn thượng đường nói:
- Nêu ra cái nhân
duyên của người xưa hỏi thầy Xà Lê, thầy chẳng được
lấy theo xưa mà hiểu. Nếu lấy theo xưa mà hiểu thì
mất đi con mắt hiện giờ. Nêu ra cái nhân duyên hiện
giờ hỏi thầy Xà Lê, thầy không được lấy theo hiện
giờ mà hiểu. Nếu lấy theo hiện giờ mà hiểu, thì ngăn
che con mắt xưa nay của thầy. Dù cho chẳng mất đi,
chẳng ngăn che, chẳng phải xưa, chẳng phải nay, thì
cũng còn là thuốc với bệnh trị lẫn nhau, là lời nói
dỗ cho hết khóc! Còn như một câu thấu thoát, thầy Xà
Lê nói được chăng? Nếu không nói được, hãy đợi nói
chuyện Thực Tướng với La Hán Phong, rồi sẽ nói cho
mấy thầy.
Các lời nói ở trên,
tuy chỉ riêng tỏ rõ việc hướng thượng, mà lại cùng
kinh này khai phát. Liền được Miệng giống như lỗ
mũi, Mắt tựa lông mày, sáu Căn không chỗ nương gởi,
bèn chứng cái nhiệm mầu của Vô Sanh. Đến khi Hết cả
đại địa là một con mắt lẻ của Sa Môn, thì lại không
còn chỗ nào để nuốt hay nhả. Cái công đức này há có
thể lấy chuyện thế gian mà cầu được ư?
Kinh:
- A Nan, nay ông muốn
ngược dòng Ái Dục sanh tử trở lại cùng tột của sự
lưu chuyển, đến chỗ Không Sanh Diệt, thì phải nghiệm
xét sáu Căn đang thọ dụng đây: cái nào là hợp, cái
nào là lìa, cái nào sâu, cái nào cạn, cái nào viên
thông, cái nào chẳng viên mãn. Nếu ở chỗ đó ngộ được
Căn viên thông, ngược dòng nghiệp từ vô thủy dệt đan
hư vọng, theo được Tánh viên thông, thì so với cái
Căn không viên thông, thật là gấp bội, như một ngày
so với một kiếp. Nay Ta đã hiển bày đầy đủ những
công đức vốn có của sáu Căn trong lặng, tròn sáng,
số lượng là như vậy. Tùy ông chọn cho kỹ, cái nào có
thể vào, ta sẽ phát minh khiến ông tăng tiến.
Mười phương Như Lai,
nơi mười tám giới, mỗi mỗi đều tu hành mà
được
Vô Thượng Bồ Đề tròn đủ, trong các giới đó, không có
chỗ nào hơn kém. Chỉ vì ông có thấp kém, mà ở trong
ấy chưa tròn cái Huệ Tự Tại được. Thế nên, ta nêu
lên khiến ông chỉ cần ở nơi một Căn mà thâm nhập.
Nhập Một thì không có vọng, cả sáu Căn kia cùng lúc
thanh tịnh.
Thông rằng: Cái gốc
của sự lưu chuyển tức là cái Diệu Trạm Bất Động vậy.
Tách ra khỏi cái ấy, thì trôi lăn theo cảnh, gọi là
dòng sanh tử. Nghịch lại mà nhập vào, ngược dòng vẹn
tròn cái Một, gọi là Chẳng Sanh Diệt. Sanh diệt là
vọng, chẳng sanh diệt thì không vọng. Sáu Căn thọ
dụng, tuy là liên quan với vọng mà bày tỏ công đức,
thật vốn là một Tinh Minh phân ra, đồng một Tánh
trong lặng tròn sáng vậy. Chỉ cần thâm nhập một cửa,
đạt thẳng đến chỗ bản nguyên, theo tánh viên thông,
chẳng sanh ràng buộc, nhiếp phục được tâm bám níu
trước kia, nhập Phật Tri Kiến, thì sáu Căn thọ dụng
đều thành diệu dụng.
Đức Lục Tổ dạy:
- Nếu khởi cái chân
chánh Bát Nhã quán chiếu, trong khoảng sát na vọng
niệm đều tan hết. Như biết tự tánh, một ngộ liền đến
Phật địa. Thiện Tri Thức! Trí Huệ quán chiếu, trong
ngoài sáng suốt, thấu suốt từ Bổn Tâm. Nếu thấu suốt
Bản Tâm tức là giải thoát. Giải thoát, đó là Bát Nhã
Tam Muội. Bát Nhã Tam Muội, tức là Vô Niệm. Sao gọi
là Vô Niệm? Như thấy tất cả pháp, tâm chẳng nhiễm
trước, đó là Vô Niệm. Dùng bèn khắp tất cả chỗ, mà
cũng chẳng bám luyến chỗ nào. Trong sạch lấy Bổn
Tâm, khiến sáu Thức ra sáu cửa, ở trong sáu Trần mà
không nhiễm, không lẫn lộn; đến đi tự do, suốt dùng
không mắc vướng, tức là Bát Nhã Tam Muội, tự tại
giải thoát, gọi là Hạnh Vô Niệm.
Lời nói này của Đức
Lục Tổ, theo Ý Căn mà vào, nối tiếp thẳng từ môn
phong của Đức Ca Diếp.
Tổ Ngưỡng Sơn ở Tổ
Quy Sơn, đang chăn trâu trước sườn núi, thấy một nhà
sư lên núi, không bao lâu lại xuống.
Tổ Ngưỡng Sơn hỏi:
- Thượng Tọa sao
không ở lại trong núi?
Nhà sư đáp:
- Chỉ vì nhân duyên
chẳng khế hợp.
Tổ Ngưỡng nói:
- Có nhân duyên nào,
ông thử nêu ra đi!
Đáp:
- Hòa Thượng hỏi tôi
tên gì. Tôi nói Quy Chơn.
Hòa Thượng nói:
- Quy Chơn ở chỗ nào?
Tôi không đáp được.
Tổ Ngưỡng nói:
- Thượng Tọa hãy trở
lại thưa với Hòa Thượng: Tôi nói được.
Hòa Thượng hỏi:
- Nói làm sao?
- Thì chỉ trả lời:
Trong mắt, trong tai, trong mũi!
Nhà sư trở lại, làm
như lời chỉ dặn.
Tổ Quy Sơn nói:
- Gã nói láo buông
tuồng! Đây là lời nói thiện tri thức của năm trăm
người.
Thiền sư Bàn Am Thành
thượng đường nói:
Trong mũi
là tiếng, trong tai hương,
Trong mắt mặn lạt, lưỡi đen vàng.
Ý thì cảm giác, thân phân biệt,
Nhà tuyết như xuân, hạ mát trong.
Thấy được như vậy, mới biết rằng trong thân nam nhập
định thì trong thân nữ xuất định. Hoa quỳ theo mặt
trời mà xoay chuyển, vằn con tê giác do ngắm trăng
mà sanh! Cây Hương Phong thành ông lão; con sâu
thành trái quả -lỏa. Nếu mà chẳng biết, khổ thay cho
Phật! Cho phép các ông đầy đủ: Một con mắt lẻû!
Quả như chỗ thấy của
các vị tôn túc, mới được cái tin tức của sáu Căn
thanh tịnh.
Kinh:
Ông A Nan bạch Phật:
- Thưa Thế Tôn! Làm
sao ngược dòng vào sâu một Căn lại có thể khiến cho
sáu Căn cùng một lúc đều thanh tịnh?
Phật bảo Ông A Nan:
- Ông nay đã đắc quả
Tu Đà Hoàn, đã diệt được Kiến Hoặc của chúng sanh
thế gian ba cõi, nhưng còn chưa biết những tập khí
hư vọng chứa nhóm trong Căn từ vô thủy. Các tập khí
kia cần phải nhờ tu mới đoạn trừ được. Huống chi,
những phân loại, số mục Sanh, Trụ, Dị, Diệt ở trong
đó.
Thông rằng: Kiến Đạo
đoạn tám mươi tám Kiết Sử; Tu Đạo đoạn tám mươi mốt
cái Tư Hoặc. Sơ quả Tu Đà Hoàn tuy đoạn hoặc phân
biệt chỗ thô, vẫn còn tế hoặc câu sanh chưa đoạn,
nên chưa chứng đến biên giới của Khổ. Chứng được Khổ
Biên tế cho đến địa vị Vô Học, thì không những biết
các phân loại, số mục Sanh, Trụ, Dị, Diệt của một
hữu tình, mà còn hành tướng vi tế của hết thảy hữu
tình và vô tình trong tam thiên đại thiên thế giới.
Sự tỏ suốt cùng cực này, hẳn là do sự đoạn trừ do tu
hành mà
được
vậy.
Có nhà sư hỏi Tổ Quy
Sơn:
- Người đốn ngộ lại
còn tu nữa không?
Tổ Quy Sơn nói:
- Nếu thật ngộ được
cội gốc, thì người ấy tự biết, khi ấy tu và không tu
chỉ là lời nói hai đầu. Như nay tuy nhờ duyên mà
được
Sơ Tâm, một niệm đốn ngộ cái Lý ở nơi mình, nhưng
còn tập khí từ vô thủy kiếp, chưa thể nhanh chóng
thanh tịnh. Cần dạy người ấy tịnh trừ các hiện
nghiệp lưu chứa nơi Thức, tức là tu vậy. Không có
riêng pháp nào để dạy người ấy hướng theo tu hành
nữa.
Từ chỗ Nghe nhập vào
Lý, cả cái Nghe lẫn cái Lý đều bày hiện nhiệm mầu,
tâm tự tròn sáng, chẳng ở trong chỗ mê lầm. Dù có
trăm ngàn diệu nghĩa, chế phục đương thời, cũng chỉ
mới được ngồi mà mặc áo, phải tự hiểu làm ra kế sống
mới được. Nói tóm lại, ở nơi Thật Tế chẳng thọ nhận
một mảy trần, nhưng trong cửa muôn Hạnh không bỏ một
pháp. Như một đao xông suốt vào, thì tình phàm ý
Thánh đều hết ráo, thể lộ Chân Thường, Lý Sự không
hai, tức Như Như Phật.
Phàm Lý Sự chẳng hai,
chẳng phải tu, chẳng có chứng. Tổ Quy Sơn hết lời
bày tỏ một đường tối thượng. Nào có quét dẹp hết
tiệm tu, mà lại chẳng cần phương tiện trợ giúp.
Kinh:
- Nay ông hãy xem sáu
Căn hiện giờ là Một hay là Sáu? A Nan, nếu nói là
Một thì sao Tai chẳng thấy, Mắt chẳng nghe, Đầu sao
chẳng đi, Chân sao chẳng nói?
Nếu sáu Căn nhất định
là Sáu, thì như nay trong hội này, ta đang tuyên
dương pháp môn vi diệu cho ông, trong sáu Căn của
ông cái nào đang lãnh nhận?
A Nan thưa:
- Tôi dùng Tai nghe!
Phật dạy:
- Tai ông tự nghe,
thì liên quan gì đến Miệng và Thân, mà Miệng lại hỏi
nghĩa, còn Thân thì lại đứng dậy kính vâng! Thế nên
phải biết, chẳng phải Một mà cuối cùng thành Sáu,
chẳng phải Sáu mà cuối cùng thành Một. Rốt cuộc cái
Căn của ông, vốn chẳng phải là Một, hay là Sáu. Chỉ
vì do từ vô thủy đến nay, điên đảo kết nhóm, nên ở
nơi Tánh trong lặng tròn khắp mà sanh ra cái nghĩa
Một và Sáu. Ông là Tu Đà Hoàn, tuy được cái Sáu đã
tiêu, mà chưa mất hết cái Một.
Như hư không bao la,
tham hợp với các vật dụng, do vật dụng có hình dáng
khác nhau, mà gọi là hư không có khác nhau! Nếu trừ
bỏ các vật dụng mà xem hư không, thì nói là hư không
là một. Hư không bao la kia đâu có vì ông mà thành
đồng hay chẳng đồng, huống gì lại gọi đó là một hay
chẳng phải một. Thế thì sáu Căn thọ dụng hay biết
của ông, cũng lại như thế.
Thông rằng: Chỗ này
chính là giải nghĩa chỗ nghi về “Vào sâu một Căn,
thì sáu Căn đồng thời thanh tịnh”. Nếu sáu Căn
nguyên là một, vốn tự thanh tịnh, thì sao lại là sáu
tên giặc? Nếu sáu Căn nguyên là sáu, chẳng có thể
dùng thay cho nhau, thì làm sao có thể thanh tịnh
cùng một lúc? Nay như hư không vốn là một, mà tham
hợp với những vật dụng thì thành sáu. Do các vật
dụng hình dáng khác nhau mà gọi là có những hư không
khác nhau, rồi gọi đó là sáu chứ không phải là một.
Nếu dẹp hết vật dụng, nhìn xem hư không, thì nói hư
không là một, cho là cái sáu tiêu rồi, chỉ còn lại
cái một. Đây là
để
ví dụ về nghĩa phát sanh của một và sáu. Hư không
bao la kia nào có hòa hợp gì với hình thể của vật
dụng, vốn chẳng phải là
đồng,
là khác. Đã không có chuyện đồng hay khác thì chỗ
nào mà lập ra cái tên sáu với một? Đây là
để
ví dụ vốn chẳng có gì là một hay sáu. Khi thấy ra
vốn chẳng phải là một hay sáu, trong lặng tròn đầy,
xưa nay tịch diệt, thì có chỗ nào mà chẳng thanh
tịnh đâu?
Tu Đà Hoàn, gọi là
Nhập Lưu, vào dòng, mà không có chỗ nhập. Chẳng nhập
vào Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp tức là cái sáu
tiêu tan. Nhưng còn chấp là có Niết Bàn ở đâu đó,
nên chưa mất đi cái Một. Cái Một từ chỗ nào tới? Hư
không từ chỗ nào khởi ra? Thế mới biết đã Hướng
Thượng mà lại còn có chuyện!
Tổ Dược Sơn hỏi Ngài
Vân Nham:
- Ngoài chỗ Bá Trượng
ra, ông còn đến chỗ nào?
Đáp:
- Có từng đến Quảng
Nam.
Tổ Sơn nói:
- Nghe nói ngoài cửa
Đông thành Quảng Châu có một tảng đá bị Quan Châu
dời đi, có thật không?
Ngài Nham nói:
- Không những Quan
Châu, mà hết thảy người trong nước dời cũng chẳng
động.
Tổ Dược Sơn lại hỏi:
- Nghe nói ông biết
giỡn đ
ùa
làm trò với sư tử, có phải không?
Đáp:
- Phải.
Hỏi:
- Làm trò được mấy
xuất?
Đáp:
- Làm trò được sáu
xuất.
Tổ Sơn nói:
- Ta cũng làm trò
được.
Hỏi:
- Hòa Thượng làm trò
được mấy xuất?
Tổ Sơn nói:
- Ta làm trò được một
xuất.
Ngài Nham nói:
- Một tức sáu, sáu
tức một.
Sau Vân Nham đến Tổ
Quy Sơn, Tổ hỏi:
- Có nghe Trưởng Lão
ở chỗ Dược Sơn làm trò giỡn sư tử, có thật không?
Đáp:
- Thật.
Hỏi:
- Giỡn hoài hay có
lúc dẹp bỏ?
Ngài Nham nói:
- Muốn giỡn thì giỡn,
muốn dẹp thì dẹp.
Hỏi:
- Khi dẹp thì sư tử ở
chỗ nào?
Ngài Nham nói:
- Dẹp hết, dẹp hết
vậy.
Cần biết Ngài Vân
Nham giỡn sư tử, chứ không phải giỡn với tinh hồn,
vì Ngài có tảng đá mà người cả nước đẩy xô chẳng
động.
Kinh:
- Do hai thứ Sáng và
Tối bày tỏ lẫn nhau trong Tánh tròn đầy nhiệm mầu,
mà dính che tánh trong lặng, phát ra cái Thấy. Cái
Kiến Tinh dọi ra cái Sắc, kết Sắc thành Căn. Gốc Căn
gọi là bốn Đại thanh tịnh. Nhân gọi là hình thể con
mắt, như trái bồ đ
ào.
Phù căn bốn trần, rong ruổi chạy theo Sắc.
Do hai thứ Động và
Tĩnh đối chọi lẫn nhau trong Tánh tròn đầy nhiệm
mầu, mà làm dính che Tánh trong lặng, phát ra cái
Nghe. Cái Thính Tinh phóng dọi cái Tiếng, cuộn xếp
cái tiếng lại thành Căn. Gốc Căn gọi là bốn Đại
thanh tịnh, nhân gọi hình thể cái tai, như lá mới
cuốn. Phù căn bốn trần, rong ruổi chạy theo Tiếng.
Do hai thứ Thông và
Bít phát hiện lẫn nhau trong Tánh tròn đầy nhiệm
mầu, mà làm dính che Tánh trong lặng, phát ra cái
Ngửi. Cái Ngửi phóng dọi ra Hương, thu nạp cái Hương
thành Căn. Gốc Căn gọi là bốn Đại thanh tịnh, nhân
gọi hình thể cái mũi như hai móng tay rủ xuống. Phù
căn bốn trần, rong ruổi chạy theo Hương.
Do hai thứ Nhạt và Có
Vị xen phát lẫn nhau trong Tánh tròn đầy nhiệm mầu,
mà làm dính che Tánh trong lặng, phát ra cái Nếm.
Cái Nếm phóng dọi ra Mùi Vị, thắt cái Vị thành Căn.
Gốc của Căn gọi là bốn Đại thanh tịnh, nhân gọi hình
thể cái lưỡi như vành trăng non. Phù căn bốn Trần,
rong ruổi chạy theo Vị.
Do hai thứ Lìa và Hợp
so sánh lẫn nhau trong Tánh tròn đầy nhiệm mầu, mà
làm dính che Tánh trong lặng, phát ra cái Biết Xúc
Chạm. Cái Biết Xúc Chạm phóng dọi ra thành Xúc, ôm
nắm cái Xúc lại thành Căn. Gốc Căn gọi là bốn Đại
thanh tịnh, nhân gọi là hình thể cái thân như cái
trống cơm. Phù căn bốn trần, rong ruổi chạy theo
Xúc.
Do hai thứ Sanh và
Diệt, nối tiếp lẫn nhau trong Tánh tròn đầy nhiệm
mầu, mà làm dính che Tánh trong lặng, phát ra cái
Biết. Cái Biết phóng dọi ra thành các pháp, tóm thu
các pháp thành Căn. Gốc Căn gọi là bốn Đại thanh
tịnh, nhân gọi cái Ý như cái thấy trong phòng tối.
Phù căn bốn trần, rong ruổi chạy theo pháp.
Thông rằng: Nguyên
nương y một Tinh Minh, chia thành sáu cái hòa hợp, ở
đây mà thấy rõ. Từ nguyên do kết tạo ra sáu Căn cho
đến cách thế rong ruổi chạy theo Trần, đều đầy đủ
chi tiết. Ở đây cũng như chỗ ví dụ trước về hư không
bao la tham hợp với các vật dụng. Cái Thể Tinh Minh,
Sắc gặp thì thành cái Thấy, Tiếng gặp thì thành cái
Nghe. Thế sao là Tánh tròn đầy mầu nhiệm?
Thật cũng như nước
lặng trong mà bởi có bụi rớt vào mà thành dính che
vậy.
Bốn Đại thanh tịnh tỏ
rõ cái Căn thắng nghĩa, hay soi chiếu Cảnh mà phát
ra cái Thức, là Sắc Căn trong sạch.