KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN IV
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG
CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN TÂM
MỤC CHÍN: CHỈ
NGHĨA QUYẾT ĐỊNH
I. CÁC PHÉP TU HÀNH SAU KHI ĐỐN NGỘ, PHÁT BỒ ĐỀ TÂM
Kinh: Ông A Nan và cả đại
chúng nghe lời Phật dạy, nghi lầm tiêu tan, ngộ được
Thật Tướng, thân ý nhẹ nhàng an ổn, được cái chưa
từng có. Rồi lại rơi nước mắt, đảnh lễ chân Phật,
quỳ thẳng, chấp tay mà bạch Phật rằng:
- Đấng Vô Thượng Đại
Bi, Thanh Tịnh Bảo Vương, khéo mở tâm chúng tôi,
dùng đủ thứ nhân duyên như thế, phương tiện dìu dắt
những kẻ chìm đắm trong tối tăm ra khỏi bể khổ.
Bạch Thế Tôn, nay tôi
được vâng nghe Pháp Âm như vậy, biết Như Lai Tạng,
Diệu Giác Minh Tâm cùng khắp mười phương thế giới,
trùm chứa các cõi nước của Như Lai trong mười
phương, các cõi Phật Diệu Giác Vương trong sạch, quý
báu trang nghiêm. Như Lai lại trách tôi đa văn mà
không có công dụng, không kịp thời tu tập. Nay tôi
giống như người long đong phiêu bạt, bỗng nhiên gặp
vị Thiên Vương cho cái nhà tốt; mặc dầu được cái nhà
lớn, nhưng cần yếu phải do cửa mà vào. Xin nguyện
Như Lai, không bỏ lòng đại bi, chỉ bày cho chúng
tôi, những kẻ mờ tối trong hội này, rời bỏ Tiểu
Thừa, đều được con đường Phát Tâm căn bản đến Vô Dư
Niết Bàn của Như Lai, khiến cho hàng Hữu Học biết
theo đâu nhiếp phục các sự bám níu (phan duyên) lâu
đời, được Tổng Trì Đà La Ni, nhập Phật Tri Kiến.
Ông A Nan nói lời ấy
rồi, năm vóc mọp sát đất, trong hội một lòng mong
đợi ý chỉ từ bi của Phật.
Thông rằng: Từ lúc
bắt đầu, phân lựa Chân Vọng để phát minh Tánh Giác,
cho đến chỗ nói lên cái Tánh Chân Thắng Nghĩa trong
thắng nghĩa, để thông suốt các nghi ngờ, vướng mắc
khiến cho tin hiểu Chân Tánh là Tâm Nhân Địa. Cái
Tâm Nhân Địa đã chân thật, mới có thể viên thành quả
địa tu chứng. Thế nên, đoạn trước là phần Kiến Đạo.
Từ đây về sau, riêng nói phần Tu Đạo.
Ông A Nan đã được
Pháp Thân, nhưng vẫn còn Vô Minh vi tế. Nay đã trừ
các điều mê lầm, ngộ Thật Tướng, nhưng lại có lời
than là không kịp thời tu tập. Rốt cuộc là vẫn còn
là ở ngoài cửa. Tuy biết có cái nhà
đẹp
đẽ của Thiên Vương nhưng chưa thể vào. Sở dĩ không
được cái cửa để vào, thứ nhất là, do còn ưa mến Tiểu
Thừa, chẳng rõ con đường Phát Tâm căn bản; thứ hai
là, do sự bám níu, đó chính là cái khổ mà không thể
nhập Tri Kiến Phật. Tuy là do thói quen đa văn khiến
như thế, nhưng cũng là vì hàng Hữu Học trong hội mà
hỏi.
Tổ Mục Châu nói với
đại chúng rằng:
- Tất cả các ông có
được chỗ đầu mối để vào chưa? Nếu chưa được cái chỗ
đầu mối để vào, thì cần phải tìm cho ra chỗ đầu mối
để vào, để sau này khỏi cô phụ lão tăng.
Thiền sư Nghiêu Phong
Xiêm thượng đường dạy:
- Đông qua Thu lại,
cửa lâu đ
ài
mở hoác. Nếu vào được, chớ có chần chờ. Các Thượng
Tọa! Hướng vào trong ấy bước vào được chưa? Như bước
vào được thì đúng như cổ nhân nói “Nơi đây là Di
Lặc. Cửa nào chẳng Thiện Tài”. Nếu bước vào chưa
được, ấy là các Thượng Tọa tự mình chạy điên. Chớ có
đau đáu đứng hoài như vậy! Trân trọng!
Có vị quan hỏi Tổ Mục
Châu:
- Ba cửa đều mở, theo
cửa nào nhập?
Tổ châu gọi lớn:
- Thượng Thơ!
Quan ứng tiếng:
- Dạ!
Tổ Châu nói:
- Theo cửa Tín mà
vào.
Vị quan lại thấy bức
họa trên vách, hỏi rằng:
- Hai vị tôn giả đối
mặt nhau bàn luận chuyện gì?
Tổ Châu đánh cây lộ
trụ, nói:
- Trong Ba Thân, Thân
nào chẳng nói pháp!
Ngài Mục Châu môn
phong cao ngất, đến chỗ này đều bày trọn hết rõ
ràng, như tin đến nơi, bèn chẳng trải qua thứ bực.
Kinh:
Khi ấy, Đức Thế Tôn
thương xót các hàng Thanh Văn, Duyên Giác trong hội
chưa được tự tại nơi Tâm Bồ Đề, cùng những chúng
sanh về sau phát Bồ Đề Tâm trong thời mạt pháp, khi
Phật diệt độ rồi, khai thị cho con đường tu hành
nhiệm mầu Vô Thượng Thừa, mà tuyên giảng cho A Nan
và các đại chúng rằng:
- Các ông quyết định
phát Tâm Bồ Đề, đối với Pháp Tam Ma Đề nhiệm mầu của
Như Lai chẳng sanh lòng mệt mỏi, thì trước hết nên
rõ hai nghĩa quyết định của Sơ Tâm Giác Ngộ.
Thông rằng: Chỗ Ông A
Nan hỏi, có hai nghĩa: Một là, con đường căn bản
phát tâm để đến Vô Dư Niết Bàn của Như Lai. Hai là,
nhiếp phục tâm bám níu, nhập Phật Tri Kiến. Bởi thế,
Đức Thế Tôn nói lên hai nghĩa quyết định.
Muốn biết con đường
Phát Tâm căn bản, phải chọn lựa gốc rễ Sanh Tử, để
được cái Tánh Không Sanh Diệt, lấy đó làm cái Tâm
Nhân Địa, rồi mới viên thành Diệu Đức Niết Bàn chẳng
sanh chẳng diệt. Đây là nghĩa thứ nhất của Sơ Tâm.
Muốn nhiếp phục Tâm
Phan Duyên bám níu, phải xét rõ gốc rễ phiền não,
biết sáu Căn làm môi giới cho giặc, tự làm tự chịu.
Chỉ cần chọn lựa một Căn viên thông, một cửa mà thâm
nhập, thì sáu Căn hay biết kia, đồng thời trong
sạch, đây là nghĩa thứ hai của Sơ Tâm.
Muốn đắc Vô Sanh,
phải diệt sạch phiền não. Hết sạch phiền não, thì
chứng Vô Sanh. Hai cái này chưa từng rời nhau được.
Ở đây nói Diệu Tam Ma Đề, lại nói Diệu Tu Hành Lộ,
là luôn luôn tỉnh thức nơi một chữ Diệu, cần yếu
tương ưng với Diệu Minh, Minh Diệu, mà chẳng chấp
lấy tướng để cầu Bồ Đề vậy.
Các hàng Thanh Văn,
Duyên Giác chưa khỏi được sự chấp nắm lấy tướng, nên
ở trong Bồ Đề chưa được tự tại. Duy chỉ ngộ một cái
Diệu này, chẳng mượn khó nhọc, cần cù tu chứng, mới
gọi là Vô Thượng Thừa vậy.
Sơ Tổ Đạt Ma đến Kim
Lăng, Lương Võ Đế hỏi:
- Trẫm lên ngôi đến
nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng nhiều không kể
xiết, vậy công đức thế nào?
Tổ đáp:
- Đều không có công
đức.
Vua hỏi:
- Vì sao không?
Tổ nói:
- Đó chỉ là quả nhỏ
của trời, người, là cái nhân hữu lậu, như bóng theo
hình, tuy là có mà không thật.
Vua hỏi:
- Thế nào là công đức
chân thật?
Tổ nói:
- Trí trong sạch,
tròn đầy, mầu nhiệm, thể tự không tịch, công đức như
thế không thể lấy thế gian cầu được.
Vua lại hỏi:
- Như thế nào là
Thánh Đế Đệ Nhất Nghĩa.
Tổ nói:
- Rỗng rang như
nhiên, tuyệt không có Thánh.
Vua nói:
- Vậy trước mặt trẫm
đây là ai?
Tổ nói:
- Không phân biệt.
Vua không lãnh hội
được. Tổ biết căn cơ chẳng khế hợp, bèn ẩn qua Giang
Bắc.
Ngài Tuyết Đậu tụng
rằng:
Thánh Đế
rỗng nhiên,
Có đâu nói trúng!
Đối Trẫm là ai?
Lại nói: Không biết.
Bởi thế lặng lẽ qua sông,
Há đâu khỏi sanh gai góc?
Cả nước đuổi theo, không trở lại,
Nghìn thuở, muôn xưa, chẳng nhớ nhau.
Hết nhớ nhau!
Gió mát khắp cùng, đâu chỗ tột?
Ngài nhìn qua trái, qua phải rồi nói:
- Trong ấy lại có Tổ
Sư chăng?
Tự nói:
- Có, thì kêu lại đây
rửa chân cho lão tăng!
Ngài Thiên Đồng tụng
rằng:
Rỗng nhiên
không Thánh,
Căn cơ xa tít.
Đắc, chẳng trúng nhằm mũi mà quơ búa,
Thất, chẳng quày đầu mà rớt vào ống bễ lò.
Lặng lẽ ngồi yên tại Thiếu Lâm,
Nín thinh toàn nêu lên chánh lệnh.
Thu trong, trăng chuyển, sương vần,
Ban đ
êm
sao Bắc Đẩu soi cán.
Y bát truyền con cháu không ngừng,
Từ đó trời người thành thuốc, bệnh.
Nếu luận về con đường Vô Thượng Thừa tu hành mầu
nhiệm, thì Thánh Đế Đệ Nhất Nghĩa còn chẳng chịu
cho, huống là rơi vào nghĩa thứ hai, thứ ba!
II. TÂM NHÂN ĐỊA
Kinh:
- Thế nào là hai
nghĩa quyết định của Sơ Tâm? A Nan, nghĩa thứ nhất
là: Nếu các ông muốn rời bỏ Thanh Văn, mà tu Bồ Tát
Thừa để vào Tri Kiến của Phật, thì nên xét kỹ cái
Nhân Địa Phát Tâm và cái Quả Địa Giác Ngộ là
đồng
nhau hay khác nhau. A Nan! Nếu ở nơi nhân địa mà lấy
cái Tâm Sanh Diệt làm gốc, nhân đó mà tu để cầu quả
Bất Sanh Bất Diệt của Phật Thừa, thì không thể có
chuyện ấy được.
Thông rằng: Đây là
chỉ bày Thấy Tánh Đệ Nhất Nghĩa vậy. Nếu luận về
Thấy Tánh, thì chẳng mượn ở công phu huân tập, mà
chỉ quán xét Chỗ Nhân Địa Phát Tâm cùng với Quả Địa
Giác Ngộ là
đồng
hay khác. Bởi thế, Thánh nhân không nghĩ suy mà
đắc,
không gắng sức mà vẫn trúng. Hạng Xích Tử cũng chẳng
lo nghĩ mà biết, chẳng học hành mà nên. Chẳng học
tập, chẳng lo toan, là cái Nhân; chẳng nghĩ suy,
chẳng cố gắng, là cái Quả vậy.
Nên nói:
- Bậc đại nhân chẳng
hề mất cái tâm xích tử. Nhân và Quả vốn khế hợp,
tuyệt không có tăng, giảm.
Không thấy Tánh, đâu
đủ sức nói lời ấy! Ngài Mã Tổ khi còn tại núi Nam
Nhạc, ở riêng một phòng nơi Viện Truyền Pháp, chỉ
tập ngồi thiền, ai đến thăm hỏi đều không màng đến.
Đại sư Hoài Nhượng đến cũng chẳng để ý. Đại sư thấy
Mã Tổ cốt cách khác thường, bèn nhớ lại lời tiên tri
của Đức Lục Tổ, mới dùng những phương tiện dẫn dạy
cho.
Một hôm, Đại sư lấy
một viên gạch ra trước am mà mài. Mã Tổ cũng không
để ý đến.
Lâu lắm, Ngài Mã Tổ
mới hỏi:
- Làm cái gì thế?
Đại sư đáp:
- Mài để làm cái
gương soi!
Mã Tổ hỏi:
- Mài gạch mà thành
gương được sao?
Đại sư nói:
- Mài gạch đã không
thành gương, thì ngồi thiền hóa lại thành Phật ư?
Mã Tổ bèn rời chỗ
ngồi thiền, nói:
- Như thế nào là
phải?
Đại sư đáp:
- Ví như ngồi xe, xe
chẳng đi, thì đánh xe là
đúng
hay đánh bò là
đúng?
Mã Tổ không đáp được.
Đại sư lại nói:
- Ông học tọa thiền,
hay học tọa Phật? Nếu học tọa thiền thì thiền chẳng
phải là chuyện ngồi, nằm. Nếu học tọa Phật thì Phật
chẳng phải là cái tướng ngồi, nên trong pháp vô trụ,
chẳng có nắm bỏ. Nếu ông tọa Phật tức là giết Phật.
Nếu chấp vào tướng ngồi thì chẳng tỏ suốt được lý.
Mã Tổ bèn lễ bái, và
hỏi:
- Dụng tâm như thế
nào, liền hợp với Vô Tướng Tam Muội?
Đại sư nói:
- Ông học pháp môn
Tâm Địa, như gieo giống xuống. Tôi nói pháp yếu, như
trời mưa thấm. Duyên ông thích hợp nên sẽ thấy Đạo.
Mã Tổ nói:
- Đạo chẳng phải là
sắc tướng, làm sao có thể thấy?
Đại sư nói:
- Pháp nhãn Tâm Địa
thì thấy Đạo. Vô Tướng Tam Muội cũng thế.
Ngài Mã Tổ hỏi:
- Có thành hoại
không?
Đại sư nói:
- Nếu lấy sự thành
hoại, tụ tán mà thấy Đạo, thì chẳng phải là thấy
Đạo. Nghe kệ ta đây:
Tâm địa
ngậm muôn giống,
Gặp mưa mầm đều sanh.
Hoa Tam Muội, vô tướng,
Nào hoại với nào thành.
Mã Tổ nghe qua lời dạy, hoát nhiên khai ngộ. Hầu đại
sư mười năm, ngày càng mật nhiệm, về sau hoằng hóa ở
Giang Tây.
Đại sư Hoài Nhượng
hỏi chúng:
- Mã Tổ Đạo Nhất có
vì chúng nói pháp không?
Chúng đáp:
- Đã nói pháp cho
chúng rồi.
Đại sư nói:
- Chưa thấy có ai
mang tin tức của ông ta đến.
Bèn sai một nhà sư
đi, dặn rằng:
- Đợi lúc ông ta
thượng đường nói pháp, thì chỉ hỏi: Làm sao? Ông ấy
nói thế nào hãy nhớ lấy đem về đây.
Vị sư đến chỗ Mã Tổ,
làm y theo lời đại sư dặn.
Khi trở về, nói với
đại sư rằng:
- Đạo Nhất nói, Từ
sau loạn rợ Hồ, ba mươi năm nay chưa hề thiếu tương
muối.
Đại sư bằng lòng.
Tổ Tuyết Phong gởi
lời cho Tổ Nham Đầu rằng:
- Từ khi ở Ngao Sơn
thành Đạo về sau, cho đến bây giờ no hoài chẳng đói.
Thế thì, cũng tương
tự với câu trên của Ngài Mã Tổ, đều là Nhân Địa Phát
Tâm với Quả Địa Giác Ngộ không có đồng, khác vậy.
Kia học ngồi thiền, có tu có chứng, bèn thuộïc về
Pháp Sanh Diệt, đối trong chỗ Vô Thượng Thừa, xa bao
ngàn dặm!
Kinh:
- Do nghĩa đó, ông
phải thấy rõ các vật của thế gian đều là pháp có thể
làm ra, tất cả đều phải theo sự biến diệt.
A Nan, ông xem các
pháp có thể làm ra trong thế gian, có cái nào là
không hư hoại? Nhưng không hề nghe hư không tan rã.
Vì sao thế? Vì hư không chẳng có thể làm ra, do đó
trước sau không có hoại diệt. Vậy trong thân ông
tướng cứng là Địa Đại, thấm ướt là Thủy Đại, hơi ấm
là Hỏa Đại, động lay là Phong Đại. Do bốn cái ràng
buộc này mà chia cái Diệu Giác Minh Tâm trong lặng
tròn khắp của ông thành ra cái Thấy, cái Nghe, cái
Biết, cái Xét Nghĩ. Từ đầu đến cuối tạo thành năm
lớp bẩn trược.
Thế nào là Trược? A
Nan, ví như nước trong, thanh khiết bản nhiên, còn
bụi đất, tro cát kia bản chất là ngăn ngại. Hai bên
tự thể như vậy thì không hợp nhau được. Có người thế
gian, lấy bụi đất kia, ném vào nước sạch, thì đất
mất đi ngăn ngại, nước mất đi trong sạch, hình trạng
đục vẩn, gọi đó là Trược. Năm lớp bẩn trược của ông
cũng giống như vậy.
A Nan, ông thấy hư
không khắp mười phương thế giới. Hư không và cái
thấy chẳng phân rời nhau. Có cái không mà không có
hình thể, có cái thấy mà không hay biết, đan nhau
giả dối mà thành. Đó là lớp thứ nhất, gọi là Kiếp
Trược.
Thân ông hiện nắm giữ
bốn Đại làm cái thể, Thấy, Nghe, Hay, Biết bị che
bít thành ra ngăn ngại. Còn các thứ Địa, Thủy, Hỏa,
Phong lại thành ra hay biết. Đan nhau hư vọng mà
thành. Đây là lớp thứ hai, gọi là Kiến Trược.
Lại trong tâm ông,
những sự Nhớ, Biết, Học Tập, phát ra tri kiến, dung
chứa hiện ra sáu trần. Rời trần thì không có tướng;
rời hay biết thì không có tánh. Đan nhau hư vọng mà
thành. Đây là lớp thứ ba, gọi là Phiền Não Trược.
Lại tâm ông ngày đ
êm
sanh diệt không ngừng, cái tri kiến thường muốn ở
lại thế gian, nhưng nghiệp xoay chuyển thì lại
thường dời đi các cõi. Đan nhau hư vọng mà thành.
Đây là lớp thứ tư, gọi là Chúng Sanh Trược.
Cái thấy, cái nghe
của ông vốn tánh không khác nhau, mà do các trần
cách trở, không do đâu lại sanh ra khác nhau. Trong
tánh thì biết nhau, mà trong chỗ dùng lại trái ngược
nhau. Cái đồng và cái khác mất chuẩn đích. Xen nhau
hư vọng mà thành lập. Đây là lớp thứ năm, gọi là
Mệnh Trược.
Thông rằng: Nghĩa thứ
nhất là cần rõ con đường phát tâm căn bản, phải xét
xem Nhân Địa Phát Tâm với Quả Địa Giác Ngộ là
đồng
hay khác. Gọi là xét xem thì hẳn phải xét kỹ: Cái gì
là căn bản sanh tử, khác với Quả Địa Giác Ngộ; cái
gì là căn bản Bất Sanh Bất Diệt, đồng với Quả Địa
Giác Ngộ?
Vốn là một cái Diệu
Giác Minh Tâm lặng trong tròn khắp, vốn không có sự
chẳng đồng, lấy đâu có khác? Chỉ vì dán kín tánh
trong lặng mà phát khởi bốn Đại, kết thành sáu Căn.
Căn và Trần làm nhiễm ô nhau, tạo thành năm lớp
Trược, còn cái Diệu Giác Minh Tâm rời cái bản vị của
nó mà chia ra thành Thấy, Nghe, Hay, Biết lưu chuyển
trong vòng sanh tử. Cái Thấy Nghe Hay Biết đó, từ
đầu cho đến cuối, từ Sắc đến Thức, chẳng rời khỏi
phạm vi của năm Ấm, chính là căn bản của sanh tử
vậy. Lấy cái này làm Nhân để cầu Phật Thừa thì không
thể nào được. Vì sao? Các Pháp "có thể làm ra" của
thế gian đều theo biến diệt, nhưng Hư Không chẳng
thể làm ra nên không hư hoại. Độc chỉ Phật không có
làm, nên chẳng sa vào các số, đó là Chân Không. Tuy
cái hư không của thế gian cũng cần tiêu mất, huống
là bốn Đại ở trong thân đều có chỗ để trả về! Cái
Thấy Nghe Hay Biết lìa ngoài trần không có tự thể,
thì cái hay biết sanh diệt của năm lớp Trược đó lại
có thể lấy làm Nhân để tu hành sao?
Nói năm Trược là sao?
Sắc thuộc Tướng Phần, Thức thuộc Kiến Phần; nước ví
dụ cho Thức, đất ví dụ cho Sắc. Cái thấy và hư không
đan kết với nhau, như nước và
đất
hợp lại nên gọi là Trược.
Khi cái Thấy mới vừa
động, chỉ thấy một hư không. Có hư không mà không
hình thể, tức là ngoan không. Có cái Thấy mà không
hay biết, đó là Vô Minh. Đã có Hư Không khắp mười
phương cõi, thì Thành, Trụ, Hoại, Không do đấy mà
bắt đầu, nên gọi là Kiếp. Hư Không và cái Thấy chẳng
phân chia, nghĩa là Kiến Phần và Tướng Phần xen lộn
làm thành Trược, nên gọi là Kiếp Trược, thuộc về Sắc
Ấm.
Cái Thấy, Nghe, Hay,
Biết vốn không ngăn ngại, do bốn Đại lấp bít nên có
ngăn ngại. Đất, Nước, Gió, Lửa vốn không có hay
biết, do sự xoay lại của sáu Căn mà có hay biết. Đó
là Kiến Phần với Tướng Phần trong thân xen lộn mà
thành cái Trược, nên gọi là Kiến Trược, thuộc về Thọ
Ấm.
Ở trước, thu nhiếp
sáu Căn làm Kiến Đại, ở đây cũng tóm gồm sáu Căn làm
cái Thấy. Cái Trược thấy cảnh thì nhận lấy, thu vào,
thuộc về năm Thức trước. Ghi Nhớ, Học Tập thuộc về
Thức Thứ Sáu. Cái Thấy Biết chính là do Chân Tánh
phát khởi, Tánh phát ra mà Biết, cho nên cái Thấy
Biết là Thức, không thể gọi là Tánh. Chính là trong
cái Ý Tưởng, chứa nhận sáu Trần, hiển hiện bóng dáng
gọi là Nội Trần, cũng có thể gọi là tướng. Nội Trần
lìa ngoài sáu Trần, tự nó không có thật tướng, lìa
ngoài cái Hay Biết, tự nó không có chân tánh. Đó là
phiền não, trần lao làm loạn nhiễu cái Tánh Giác
trong lặng. Thế nên, cái Hay Biết và Pháp Trần (Nội
Trần) xen lẫn mà làm thành Trược, nên gọi là Phiền
Não Trược, thuộc về Tưởng Ấm.
Cái Ý Tưởng hiểu biết
thì muốn ở mãi thế gian, luyến níu tam giới, điều
này cũng dễ biết. Luân hồi, nghiệp lực xoay chuyển
thường khiến đổi dời các cõi nước, biến hóa chuyển
dời kín nhiệm, không thể dễ biết. Hết thảy chẳng rời
ngoài Nhân và Quả của chúng sanh. Cái Hiểu Biết của
Ý và hình tướng của chúng sanh lưu chuyển mà thành
ra cái Trược, nên gọi là Chúng Sanh Trược, thuộc về
Hành Ấm.
Hành Ấm thuộc về Thức
Thứ Bảy, cái Trược của nó dễ phân biện ra. Còn Thức
Ấm thuộc về Thức Thứ Tám, cái Trược của nó khó biết.
Cái Thấy, Nghe, Hay, Biết là từ cái nguồn vốn trong
lặng mà phân ra, nên vốn là không khác bản tánh. Sáu
Trần thì chẳng đồng, dẫn dắt mà sanh ra sáu Thức;
mắt chẳng phân biệt được Tiếng, tai chẳng phân biệt
được Sắc, chẳng dùng lẫn cho nhau được, nên sanh ra
khác nhau. Bản tánh thì chẳng khác nhau, nên ở trong
Tánh vốn là biết nhau. Chỉ có các Trần cách trở, nên
ở trong Dụng thì trái nghịch nhau. Tánh vốn chẳng
sanh chẳng diệt nên đồng. Chỗ dùng thì hòa hợp với
sanh diệt, nên có khác. Chưa chuyển được Thức Thứ
Tám thì chưa có Hậu Đắc Trí, nên đối với năm Thức
trước chẳng được viên diệu. Thế nên, ở trong Tánh
thì vốn rõ ràng biết nhau, mà
đến
khi dùng ra, lại ngược trái với cái dùng của Như
Lai. Bởi vì chuyển chẳng tận nên mất chuẩn đích mà
gọi là Thức. Chuyển tận thì không mất chuẩn đích,
nên bình đẳng mà gọi là Tánh. Như Lai Tạng vốn Một
Tánh, không có hai, Đức Phật y vào chuẩn đích đó mà
diệt cái Tâm Sanh Diệt. Còn hàng Nhị Thừa thấy có Tự
Tướng và Cọng Tướng, nên ở trong cái Đồng mà mất
chuẩn đích. Như Lai Tạng tùy duyên mà hiện Sắc,
Không; Đức Như Lai y theo đó mà nói cả hai loại đều
Không. Còn hàng Nhị Thừa giữ lấy cái Chân mà chứng
cái Diệt, nên ở nơi cái Khác mà mất đi chuẩn đích.
Còn một mảy tơ chưa
chuyển hoá, thì mệnh căn vẫn còn, thọ sanh thì đến
trước, chết thì dứt đi sau cùng, làm chủ nhân ông.
Đây là Tánh và Thức, đan lẫn nhau mà thành cái
Trược, gọi là Mệnh Trược, thuộc về Thức Ấm. Năm lớp
Trược này đều chẳng phải thật có, nên gọi là hư vọng
mà thành. Như nước trong sạch, nguyên không có đất
bụi; hay như đất ngăn ngại, nguyên không có nước.
Hai tánh chẳng có hợp theo nhau, vì tâm, cảnh chẳng
có đến nhau. Nếu biết Tánh trong lặng vốn không có
tính dán kín kia, thì biết Vọng tức là Lìa, Lìa Vọng
tức là Giác. Chỉ là một Diệu Giác Minh Tâm vắng lặng
tròn khắp, chẳng sa vào Thấy, Nghe, Hay, Biết như
nước vốn tự sáng trong, Trược nào có được? Ắt phải
rõ suốt cái xưa nay vốn không có Trược, mới có thể
làm cái căn nhân chẳng sanh chẳng diệt về sau vậy.
Có nhà sư hỏi Tổ
Lương Sơn:
- Thế nào là chuyện
trước Không Kiếp?
Tổ Sơn đáp:
Đánh vang
trống Trời Đất,
Người đời lắng chẳng nghe.
Ngài Đơn Hà tụng rằng:
Hư Không làm trống khắp cần đánh,
Người đánh tuy nhiều, ít kẻ nghe.
Nửa đ
êm
sọ khô kinh tan mộng,
Đầy đầu trăng sáng chẳng lo về.
Đức Tứ Tổ Đạo Tín, năm mười bốn tuổi đến lễ Đức Tam
Tổ Tăng Xán, hỏi rằng:
- Xin Hòa Thượng từ
bi, ban cho pháp môn Giải Thoát.
Tam Tổ nói:
- Ai trói buộc ông?
Đáp:
- Không ai trói buộc.
Tam Tổ nói:
- Vậy cầu giải thoát
làm gì?
Tứ Tổ ngay dưới lời
nói đại ngộ. Đây là chỗ gọi là
đại
căn, đại khí vậy.
Thiền sư Tư Không Sơn
Bổn Tịnh làm bài kệ:
Thấy Nghe
Hay Biết không chướng ngại,
Sắc Hương Vị Xúc, thường Tam Muội.
Như chim trong không, chỉ thế bay,
Không nắm, không bỏ, không thương ghét.
Nếu rõ ứng xứ chẳng phải tâm,
Mới được gọi là Quán Tự Tại.
Như Thiền sư Bổn Tịnh ấy thì tuy ở nơi ngũ trược ác
thế mà nào từng chẳng sạch? Kinh:
- A Nan, nay ông muốn
cho cái Thấy, Nghe, Hay, Biết vĩnh viễn khế hợp với
Thường Lạc Ngã Tịnh của Như Lai, thì trước hết phải
lựa bỏ gốc rễ sanh tử, y theo cái Không Sanh Diệt,
thì Tánh trong lặng toàn khắp thành tựu. Dùng cái
trong lặng này, mà xoay các thứ Sanh Diệt hư vọng
trở về Bổn Giác. Được Tánh không sanh diệt của Bản
Giác thuần sáng làm cái Tâm Nhân Địa, như thế mà sau
viên thành Quả Địa Tu Chứng. Như lóng nước đục, đựng
trong một món đồ để yên lặng, để yên lặng thâm sâu
bất động, thì đất cát tự chìm lắng xuống. Nước trong
hiện ra ngay trước mặt, gọi là bắt đầu dẹp phục
phiền não khách trần. Bỏ hết bùn chỉ còn nước trong,
gọi là vĩnh viễn dứt lìa căn bản vô minh. Sáng suốt
tinh thuần, tất cả các biến hiện không còn là phiền
não, đều hợp với diệu đức trong sạch Niết Bàn.
Thông rằng: Sách Đại
Học có câu:
- Biết Chỉ rồi sau
mới có Định. Mấy chữ này là bí quyết của ngàn Thánh.
Đoạn kinh này hợp với
câu nói ấy. Ông Lục Tượng Sơn nói:
- Tâm này Lý này đồng
vậy, cho nên chẳng phải là lời nói hư dối.
Câu: Trước hết phải
chọn ra căn bản sanh tử, y theo cái không sanh diệt,
thì Tánh trong lặng toàn khắp thành tựu. Như lóng
nước đục, đựng trong món đồ để yên, là chỗ nói: Biết
chỉ rồi sau mới định, vậy.
Câu: Dùng cái trong
lặng này mà xoay các thứ Sanh Diệt hư vọng trở về
Bổn Giác, như nước yên lặng thâm sâu không động thì
đất cát tự chìm, nước trong hiện ra ngay trước mắt,
là chỗ nói: Định rồi sau mới tĩnh.
Câu: Nước trong hiện
tiền, gọi là bắt đầu dẹp phục phiền não khách trần,
bỏ hết bùn chỉ còn nước trong, gọi là vĩnh viễn dứt
lìa căn bản vô minh, là chỗ nói: Tịnh rồi sau mới
an.
Câu: Sáng suốt tinh
thuần, tất cả các biến hiện không còn là phiền não,
là chỗ nói: An rồi sau mới gặp việc.
Câu: Đều hợp với Diệu
Đức trong sạch Niết Bàn, là chỗ nói: Ứng đối với
việc rồi sau mới đắc.
Thường, Lạc, Ngã,
Tịnh là bốn Diệu Đức của Niết Bàn, chỉ có Phật với
Phật mới có thể rốt ráo, nay lấy thấy, nghe, hay,
biết mà khế hợp nên gọi là Viễn, lâu dài.
Trước hết, chọn ra
căn bản sanh tử, tuy để chỉ cái nghiệp dụng của năm
Trược, nhưng Thức Ấm chính là gốc rễ sanh tử. Thức
ấy nương theo cái Chẳng Sanh Diệt hòa hợp với cái
Sanh Diệt mà có tên. Nên phải lựa bỏ chủng tử Sanh
Diệt mà y theo tánh trong lặng tròn khắp Chẳng Sanh
Diệt. Thức Ấm lặng trong không lay động, tựa như
chẳng có Sanh Diệt, nhưng trong lặng mà thực ra là
căn bản Sanh Diệt. Còn Tánh trong lặng tròn đầy, vốn
tự viên thành, chẳng phải do tạo tác, tức là Thật Tế
Lý Địa Chân Như vậy. Y theo cái trong lặng tròn đầy
này, thì vốn tự là vô sự, bèn ở nơi cái Tánh tròn
lặng này mà xoay lại các thứ Sanh Diệt hư vọng. Từ
trước kia bao nhiêu công phu Sanh Diệt đều là hư
vọng, tuy đến chỗ Sanh Diệt đều hết, cũng là do công
phu huân tập mà
được,
thì chẳng phải là Bản Giác. Thức Ấm xoay về, thì Bản
Giác hiện tiền. Cái Bản Giác sáng suốt này, vốn là
không có Sanh Diệt, chỉ do phân ra làm Thấy, Nghe,
Hay, Biết mà lọt vào trong phạm vi của Thức Ấm, bị
Thức Ấm che lấp, chẳng hiển lộ ra được.
Nay Thức diệt, Tánh
hiện, bày lại cái Bản Lai Diện Mục của ta. Cái Bản
Giác sáng suốt này tức là Thấy, Nghe, Hay, Biết mà
chẳng phải là Thấy, Nghe, Hay, Biết. Cái Thấy, Nghe,
Hay, Biết có khởi, có diệt, tánh Bản Giác sáng suốt
không có khởi diệt. Bởi thế, chẳng lấy Thấy, Nghe,
Hay, Biết làm Tâm Nhân Địa, mà lấy Bản Giác sáng
suốt làm Tâm Nhân Địa, sau mới viên thành quả vị Bất
Sanh Bất Diệt Như Lai. Bốn đức Niết Bàn tức là cái
quả chẳng sanh chẳng diệt nên nói rằng hay đoạn
khách trần phiền não và căn bản Vô Minh. Nên nói
Tánh Sáng Thuần, là như vàng ròng, chẳng trở lại
thành quặng, tro chẳng lại thành gỗ, chẳng làm ra
phiền não nữa. Bởi thế mà một niệm Vô Sanh, tức là
chứng Niết Bàn, tức Nhân tức Quả, tức ngay một lần
mà
đầy
đủ. Có sự “Lý tuy là
đốn
ngộ, Sự thì dần dần trừ dứt” ấy, là Nhân gồm Thập
Tín, cho đến Quả Địa suốt thông, các phần tròn đủ;
tóm lại là một tánh Giác Nguyên Minh trọn thành mà
thôi vậy.
Tổ Tào Sơn, thấy ông
đạo giả Chỉ Y bèn hỏi:
- Có phải là
đạo
giả Chỉ Y không?
Thầy Chỉ Y rằng:
- Không dám.
Tổ Sơn nói:
- Như thế nào là công
chuyện của Chỉ Y (áo giấy)?
Thầy Y đáp:
- Một cái áo lông vừa
khoác lên thân, vạn pháp thảy đều Như .
Tổ Sơn nói:
- Như thế nào là cái
Dụng của Chỉ Y?
Thầy Y tiến lên, ứng:
- Dạ. Bèn đứng mà
đi
thoát (chết).
Tổ Tào Sơn nói:
- Ông đã biết như thế
mà
đi,
sao lại chẳng như thế mà
đến?
Thầy Y bỗng mở mắt
hỏi:
- Một Chân Tánh nhiệm
mầu, khi không mượn bào thai thì như thế nào?
Tổ Sơn nói:
- Vẫn chưa là Diệu.
Thầy Y nói:
- Thế nào là Diệu?
Tổ Tào Sơn nói:
- Chẳng mượn lấy cái
mượn!
Thầy Y bèn cung kính
xuống tăng đường mà ngồi tịch.
Ngài Tào Sơn có bài
tụng:
Giác Tánh
sáng đầy, không tướng thân,
Chớ đem Thấy Biết vọng sơ, quen.
Niệm khác, ngay trong huyền chỉ, tối,
Tâm sai, với Đạo chẳng chung gần.
Tình phân vạn pháp, chìm tiền cảnh,
Thức soi nhiều mối, mất gốc Chân.
Như thế, trong câu mà hiểu được,
Như nhiên vô sự, bổn lai nhân.
Lại như Ngài Cửu Phong Kiền, ở chỗ Tổ Thạch Sương
làm thị giả. Sau khi Tổ Thạch Sương tịch, đại chúng
muốn mời Ông Thủ Tọa nối tiếp làm trụ trì.
Ngài Cửu Phong không
chịu, nói:
- Đợi tôi hỏi qua đã!
Nếu hiểu ý Tiên Sư, thì xin hầu hạ như Tiên Sư vậy.
Bèn hỏi:
- Tiên sư nói:
- Thôi đi! Hết đi!
Một niệm muôn năm đi! Tro lạnh cây khô đi! Lư hương
cổ miếu đi! Một vóc lụa trắng đi!
Những thứ khác thì
chẳng hỏi, như thế nào là: Một vóc lụa trắng đi!?
Thủ Tọa nói:
- Đó chỉ là nói rõ
một chuyện về bên Sắc.
Ngài Cửu Phong nói:
- Vốn chưa hiểu ý của
Tiên Sư.
Thủ Tọa nói:
- Ông chẳng chấp nhận
tôi ư?
Thủ Tọa bèn thắp
hương mà nói:
- Tôi nếu chẳng hiểu
ý của Tiên Sư, thì khói hương bay lên rồi vẫn không
thoát đi được!
Nói xong liền ngồi mà
tịch.
Ngài Cửu Phong bèn vỗ
vào lưng vị Thủ Tọa mà nói:
- Ngồi tịch, đứng
chết thì chẳng phải là không có, nhưng ý của Tiên Sư
vẫn còn nằm mộng mà thấy!
Ngài Thiên Đồng tụng
rằng:
Một tông
Thạch Sương,
Tự trao Cửu Phong.
Thắp hương đi thoát,
Chánh mạch khó thông!
(Hạc) Lấy trăng làm ổ: ngàn năm mộng!
Nhà tuyết người mê, một sắc công (trình)!
Tọa đoạn mười phương còn bị lộ,
Im dời một bước: ngắm rồng bay.
Thuận Mặc Hòa Thượng tụng rằng:
Ngồi chi uổng mất một cây hương,
Cửu Phong nào có bức cao hiền.
Nếu đem một sắc thừa ngôi vị,
Cô phụ Tiên Sư chẳng cậy duyên.
Tổ Thạch Sương dạy chúng có nói rằng:
- Chưa từng mất cái
chiếu soi, vẫn còn là ngoại thiệu, chỉ là loại bầy
tôi, cũng gọi là mượn. Nếu sanh ra mà mảy lông chẳng
hở, như Thái Tử mới sanh ra thì có thể nối ngôi báu,
gọi là nội thiệu, gọi là dòng dõi nhà vua, chẳng cần
mượn danh cú vậy.
Mượn tức là chuyện
một bên của một sắc. Kia nguyên chưa được cái Tánh
chẳng sanh diệt để làm Tâm Nhân Địa, thế mà muốn
viên thành Quả Địa, cùng hợp với Diệu Đức trong sạch
của Niết Bàn, thì khó vậy.