KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN III
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG
CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN TÂM
MỤC BẢY: TÓM
THU VỀ NHƯ LAI TẠNG
F. THU SÁU NHẬP
Kinh:
- Lại nữa, A Nan, như
sao là Lục Nhập vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như
Tánh?
Thông rằng: Lục Nhập
cũng gọi là Lục Xứ, là cái chỗ để cho Cảnh do đó mà
Nhập vào vậy. Ở đây chỉ lấy Căn làm Nhập. Lục Căn
sao lại là Diệu Chân Như Tánh? Chẳng phải là “Một
Căn đã trở về nguồn thì sáu Căn đều thành Giải
Thoát” sao? Bởi thế, sáu Căn tức đó là Phật Tánh
vậy.
Vua Dị Kiến hỏi tôn
giả Ba La Đề:
Cái gì là Phật?
Tổ đáp:
-Thấy Tánh là Phật.
Vua hỏi:
- Thầy thấy Tánh
chăng?
Tổ đáp: Tôi thấy Phật
Tánh.
Vua hỏi: Cái Tánh ở
chỗ nào?
Tổ nói:
- Tánh ở trong tác
dụng.
Vua hỏi:
- Ấy là tác dụng nào
mà tôi không thấy?
Tổ nói:
- Nay hiện là tác
dụng mà vua tự chẳng thấy.
Vua hỏi: Hiện nơi tôi
có chăng?
Tổ nói:
- Vua mà tác dụng thì
không có gì chẳng phải là
đó;
vua mà chẳng dùng, Thể ấy khó thấy. Vua hỏi:
- Như khi đang dùng
thì xuất hiện mấy chỗ?
Tổ đáp: Như khi xuất
hiện thì hiện có tám chỗ.
Vua nói:
Xin vì tôi nói ra tám
chỗ xuất hiện ấy.
Tổ Ba La Đề nói bài
kệ:
Ở thai làm
Thân,
Ở đời làm Người.
Ở mắt là Thấy,
Ở tai là Nghe.
Ở mũi Ngửi mùi,
Ở miệng Đàm Luận.
Ở tay Cầm Nắm,
Ở chân Đi Chạy.
Hiện khắp đồng đều pháp giới,
Thâu lại trong một vi trần.
Tỏ hiểu, biết đó là Phật Tánh,
Không hiểu, lại gọi là tinh hồn.
Vua nghe xong bài kệ, tâm liền khai ngộ.
Ông Trình Minh Đạo
đọc Trung Dung có câu thơ “Diều bay tận trời. Cá
nhảy trong vực”, nói rằng “Trên dưới đều rõ ràng
vậy”. Đây là Ông Tử Tư quả là vì người mà gắng sức.
Biết được thì đời sống quá đổi tự do. Chẳng biết,
thì chỉ là “Đùa giỡn với tinh hồn”. Những lời nói
ấy, người học vẫn thường nghe. Vì sao vua Dị Kiến
lại tỏ ngộ, nhỉ?
Thiền sư Phật Nhật
Tài thượng đường:
- Gió mưa tiêu điều
lấp kín Tai ông! Lá rụng lại qua lấp kín Mắt ông!
Hương mùi loạn xạ lấp kín Mũi ông! Lạnh nóng, ngọt
bùi lấp kín Lưỡi ông! Áo gấm ấm mát lấp kín Thân ông
! Vọng tưởng điên đảo lấp kíp ý ông! Này chư vị
thiền đức, cho dù các ông có lật lại được chăng nữa
thì cũng là
đống
xương đất bằng! Tham!
Chỗ này chẳng tham
thì không được!
Kinh:
- A Nan, tức nơi
tròng mắt kia, ngó sững sanh ra mỏi lòa. Cả hai cái:
con mắt và sự mỏi lòa đều là cái tướng sinh mỏi lòa
do nhìn chăm chăm của Bồ Đề.
Nhân nơi hai thứ vọng
trần sáng và tối phát ra cái Thấy ở bên trong, thu
nạp các trần tướng mà gọi là cái Thấy. Cái Thấy này
rời ngoài hai Trần sáng và tối, rốt ráo không có tự
thể.
Thật vậy, A Nan, phải
biết rằng cái Thấy đó chẳng phải từ nơi sáng, nơi
tối mà
đến,
chẳng phải từ căn mắt mà ra, chẳng phải từ hư không
mà sanh. Vì sao thế? Nếu từ cái sáng mà
đến,
thì khi tối đã theo cái sáng mà diệt, lẽ ra không
thấy được cái tối! Nếu từ cái tối mà
đến
thì khi sáng phải theo cái tối mà diệt, lẽ ra không
thấy được cái sáng! Nếu do căn mắt mà sanh, hẳn
không có sáng, có tối thì cái Thấy như vậy vốn không
tự tánh. Nếu do hư không mà ra thì ngó tới trước
phải thấy các trần tượng, quay về phải thấy con mắt!
Lại nữa, hư không mà tự thấy nào có liên quan gì đến
chỗ thâu nhập của ông.
Thế nên, phải biết
Nhãn Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tính Nhân
Duyên, chẳng phải tính Tự Nhiên.
Thông rằng: Ngó sững
chặp lâu thì mắt mỏi mà phát lòa, nên thấy hoa đốm
loạn xạ, cái căn mắt phân biệt cũng là cái tướng lòa
ở trong Giác Tánh Bồ Đề, nên nói “Cả con mắt và cái
lòa đều là cái tướng mỏi sanh ra lòa của Bồ Đề”.
Mượn con mắt lòa tạo thành sắc ấm để ví dụ là Nhãn
Nhập hư vọng vậy. Nếu mắt chẳng mỏi, tướng lòa tự là
không, nguyên một Tinh Minh lấy đâu mà vọng? Cái
Thấy này lìa ngoài hai trần sáng, tối rốt ráo không
tự thể. Rõ ràng hiển bày cái Chân Kiếân Vô Sanh,
chẳng vì thấy sáng, thấy tối mà có, chẳng vì lìa
sáng, tối mà không. Chân Kiến là Chân Thật, còn cái
Thấy này là hư vọng, có thể thấy rõ ràng vậy.
Đoạn trước nói “Hoa
đốm chẳng phải từ hư không sanh, chẳng từ con mắt
sanh ra” chỉ thẳng sắc ấm vốn không. Ở đoạn này, nói
“Tánh Thấy chẳng từ hư không sanh cũng chẳng do con
mắt sanh ra” để chỉ bày Nhãn Nhập là hư vọng. Vọng
vốn không tự tánh, Đương Thể tức Chân. Nên nói “Tức
là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh” vậy.
Tổ Triệu Châu nói:
- Cầm chắc Càn Khôn
Nhãn, làu làu chẳng lọt mảy lông. Mong ông hiểu
thấu, ông lại làm gì nữa?
Ngài Thiên Đồng nêu
ra rằng:
- Trở lại đầu mối
được chưa? Dù cho ông ở trong ấy hiểu được bảy lỗ,
tám hang đi nữa, ta cũng biết ông chẳng ra khỏi cái
nôi mây kết tróùi của Tổ Triệu Châu đâu!
Lại có nhà sư hỏi Tổ
Cửu Phong Kiền:
- Như thế nào là con
Mắt Càn Khôn?
Tổ Phong nói:
- Càn Khôn ở trong
ấy!
Nhà sư hỏi:
- Con Mắt Càn Khôn ở
đâu?
Tổ Phong nói:
- Chánh đó là con Mắt
Càn Khôn.
Sư hỏi:
- Lại có chiếu sáng
không?
Tổ Phong nói:
- Chẳng nhờ đến thế
lực của ba loại ánh sáng.
Sư hỏi:
- Đã chẳng nhờ sức
của ba loại ánh sáng thì nhờ vào đâu mà chiếu sáng,
mà gọi là con Mắt Càn Khôn ?
Tổ Phong nói:
- Nếu chẳng như thế
thì trước sọ khô thấy quỷ ma vô số!
Hợp hai tắc này lại
mà xem xét, nếu mà có nương nhờ thì đó chính là chỗ
rỉ giọt, cho dù có hiểu được cũng là trước mắt thấy
quỉ. Chỉ nơi một câu “Con Mắt Càn Khôn ở tại chỗ
nào?” mà trộm thấy suốt được thì mới nắm chắc. Tướng
mỏi sanh lòa từ chỗ nào mà khởi ra thế?
Kinh:
- A Nan, ví như có
người lấy hai ngón tay bịt chặt lỗ tai, do căn tai
mỏi, trong đầu hóa ra có tiếng. Cả hai cái: lỗ tai
và cái mỏi mệt, đều là tướng lâu mà sanh ù mỏi của
Bồ Đề.
Nhân nơi hai thứ vọng
trần động và tĩnh phát ra cái Nghe ở trong, thu nạp
cái trần tượng đó mà gọi là cái Nghe. Cái Nghe đó
rời hai trần động tĩnh rốt ráo không có tự thể.
Thật vậy, A Nan, ông
nên biết cái Nghe đó không phải từ nơi động, nơi
tĩnh mà
đến,
không phải từ lỗ tai mà ra, không phải nơi hư không
mà sanh. Tại sao thế? Nếu cái Nghe ấy từ nơi tĩnh mà
đến
thì khi động phải theo cái tĩnh mà diệt, lẽ ra không
nghe được cái động. Nếu từ nơi động mà
đến
thì khi tĩnh sẽ theo cái động mà diệt, lẽ ra không
nghe thấy cái tĩnh. Nếu do lỗ tai mà sanh, hẳn là
không có động, không có tĩnh, thì cái Nghe như vậy
vốn không có tự tánh. Nếu do hư không mà ra, thì đã
có tánh nghe, chắc không phải là hư không nữa. Lại
nữa, hư không mà tự nghe nào có liên quan gì đến chỗ
thâu nhập của ông?
Vậy, nên biết rằng
Nhĩ Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh Tự Nhiên,
chẳng phải tánh Nhân Duyên.
Thông rằng: Từ Nhãn
Nhập đến Ý Nhập đều như hoa không, nên nói “Đều là
cái tướng mỏi mệt sanh ra của Bồ Đề”. Căn Tai mỏi ù,
thì trong đầu có ra tiếng. Giác Tánh Bồ Đề phát sanh
mỏi, ắt trong tai thành có cái Nghe. Cái Nghe này hư
vọng mà sanh ra, cũng như hoa không vậy. Cái Nghe
này rời hai vọng trần động và tĩnh thì rốt ráo không
có tự thể. Trần đến thì có, trần đi thì không. Cái
Nghe ấy vốn không gốc gác nên gọi là hư vọng. Cái
Nghe hay phân biệt được động, tĩnh nên chẳng từ cảnh
mà sanh. Cái Nghe thật linh mẫn, còn hư không thì
trơ trơ, nên chẳng phải từ hư không mà ra. Như cái
Thể Nghe của Nhĩ Căn, mỗi mỗi đều có mặt, sao lại
nói là không tự tánh? Vì lìa ngoài tiền trần ắt là
vô phân biệt. Nếu có phân biệt, đáng lẽ phải chỉ ra
được. Nay không thể chỉ ra, thì biết là không tự
tánh. Nghiệm xét cái Nghe ở nơi cảnh, ở nơi căn, ở
nơi hư không đều không có cái Thể nhất định để tìm
ra được, tức là cái Nghe hư huyễn này vốn chẳng phải
tính Nhân Duyên, chẳng phải tính Tự Nhiên, bèn là
tức huyễn tức chơn vậy. Nếu mà có Nhân Duyên hay Tự
Nhiên khá được thì cái Nghe ấy bèn là pháp sanh
diệt, sao có thể gọi đó là Diệu Chân Như Tánh?
Có vị tăng hỏi Ngài
Huyền Sa:
- Nhờ Hòa Thượng dạy
“Cái Tánh Nghe cùng khắp pháp giới”. Ngài Tuyết
Phong đánh trống ở trong ấy vì sao chẳng nghe?
Tổ Sa nói:
- Ai biết chẳng nghe?
Lại có vị tăng hỏi Tổ
Tào Sơn:
- Gần bạn đạo nào để
được hằng nghe chỗ chưa nghe?
Tổ Sơn nói:
- Cùng chung nhau một
cái trùm che khắp hết.
Hỏi:
- Cái này cũng như là
Hòa Thượng được nghe. Như sao là hằng nghe ở chỗ
chưa nghe?
Tổ Sơn nói:
- Chẳng đồng với gỗ
đá.
Hỏi:
- Cái nào là trước,
cái nào là sau?
Tổ Sơn nói:
- Chẳng thấy nói
“Hằng nghe ở chỗ chưa nghe” sao?
Thế mới biết, hằng
nghe ở chỗ chưa nghe thì cái Nghe này cùng khắp vậy.
Kinh:
- A Nan, ví như có
người bịt gấp hai lỗ mũi. Bịt lâu thành ra mỏi mệt,
thì ở trong mũi nghe có cảm giác lạnh. Nhân những
cảm xúc như vậy mà phân biệt được là thông, là bít,
là rỗng, là
đặc
cho đến các mùi thơm, thối. Cả hai cái: Ngửi và cái
mỏi mệt, đều là cái tướng bịt lâu phát mỏi của Bồ
Đề.
Nhân nơi hai thứ vọng
trần thông và bít phát ra cái Ngửi ở trong, thu nạp
các trần tượng mà gọi là cái Ngửi. Cái Ngửi đó rời
ngoài hai trần thông và bít rốt ráo không có tự thể.
Thế nên, phải biết cái Ngửi ấy chẳng phải từ thông,
bít mà
đến,
chẳng phải nơi căn mà ra, chẳng từ hư không mà phát
sanh. Tại sao thế? Nếu từ cái thông mà
đến
thì khi bít, cái Ngửi đã mất rồi làm sao mà biết
được cái bít? Nếu nhân cái bít mà có thì khi thông,
không còn cái Ngửi làm sao biết được các mùi thơm,
thối? Nếu từ lỗ mũi sanh ra hẳn không có cái thông,
cái bít thì cái Ngửi như vậy vốn không tự tánh. Nếu
do hư không mà ra thì cái Ngửi đó phải xoay lại ngửi
được lỗ mũi của ông! Lại nữa, hư không mà tự ngửi
được nào có liên quan gì đến chỗ thâu nhập của ông?
Vậy, nên biết rằng Tỷ
Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải là tánh Nhân Duyên,
chẳng phải là tánh Tự Nhiên.
Thông rằng: Bịt mũi
là bịt ngừng hơi thở, khí không ra vào. Cái lạnh
nhân nín thở mà có, không nín thì không có. Nhân nín
thở mà biết có thông, bít, rỗng, đặc. Nhân thông,
bít mà phân biệt các mùi thơm, thối. Cái Ngửi đó, rõ
ràng nhân hư vọng mà có vậy. Như chẳng có cái thông,
bít, cái Ngửi thấy đó hiện đang ở chỗ nào? Ở tai thì
gọi là cái Nghe thấy, ở mũi thì gọi là cái Ngửi
thấy. Công năng lớn nhỏ có thể thấy được. Cái Nghe
thì đâu cũng khắp, cái Ngửi thì phát ra do tiếp xúc
với tiền trần. Tuy nhiên, căn mũi là hư vọng, vốn
không có chỗ chỉ ra được, huống là cái việc hướng
thượng nằm ngay trên mũi mình, lại càng khó sờ nắm!
Có vị tăng hỏi thiền
sư Hải Yến ở chùa Chửng Mê rằng:
- Như thế nào là chùa
xưa một lư hương?
Tổ nói:
- Qua nhiều đời không
có người ngửi.
Hỏi:
- Người ngửi như thế
nào?
Tổ nói:
- Sáu Căn đều chẳng
đến.
Ngài Ba Lăng Giám ban
đầu ra mắt Tổ Vân Môn.
Tổ Vân Môn nói:
- Hòa Thượng Tuyết
Phong nói “Mở cửa ra thì Đạt Ma đến”, tôi hỏi ông
làm sao đây?
Ngài Giám nói:
Ở trên lỗ mũi Hòa
Thượng!
Tổ Môn nói:
- Địa Thần nổi dữ,
cầm núi Tu Di đập một cái, nhảy tót lên trời Phạm
Thiên, bứt phá lỗ mũi của Đế Thích. Ông vì sao mà
hướng về trong nước Nhật Bản ẩn mình?
Ngài Giám nói:
- Hòa Thượng không
lừa dối người thì tốt.
Tổ Môn nói:
- Ở trên lỗ mũi của
lão tăng, lại làm sao?
Ngài Giám không có
lời đáp. Tổ Môn nói:
- Hãy biết ông chỉ là
phường “Học nói”.
Nếu tham suốt được
lời nói của Tổ Vân Môn thì thật như nửa đ
êm
rờ trúng lỗ mũi, xưa nay chỉ ở trên mặt!
Kinh:
- A Nan, ví như có
người dùng lưỡi liếm mép, liếm mãi sanh ra mỏi. Nếu
người đó đang bệnh thì thấy có vị đắng, còn người
không bệnh thì có chút vị ngọt. Do cảm xúc ngọt,
đắng mà hiện ra có căn lưỡi, khi không động thì vẫn
có tánh nhạt. Cả cái Nếm cùng cái Mỏi đều là cái
tướng lâu mà sanh mỏi của Bồ Đề.
Nhân hai thứ vọng
trần nhạt và ngọt đắng phát ra cái Nếm ở bên trong,
thu nạp các trần tượng đó mà gọi là cái Nếm Biết.
Cái Nếm Biết này ngoài hai vọng trần nhạt và ngọt
đắng kia, rốt ráo không có tự thể.
Thật vậy, A Nan, phải
biết rằng cái Nếm Biết được đắng, nhạt như vậy không
phải từ ngọt đắng mà
đến,
không phải nhân tánh nhạt mà có, cũng không từ căn
lưỡi mà ra, cũng không từ hư không mà sanh. Vì sao
thế?
Nếu từ các vị ngọt,
đắng mà
đến
thì khi nhạt, cái Nếm Biết đã diệt mất làm sao biết
được vị nhạt? Nếu từ cái nhạt mà ra, thì khi ngọt,
cái Nếm Biết đã mất rồi làm sao biết được vị ngọt
đắng? Nếu do cái Lưỡi sanh ra, hẳn không có những vị
ngọt, đắng và nhạt, thì cái Căn Biết Mùi Vị đó rõ là
vốn không tự tánh. Nếu do hư không mà ra thì hư
không tự nếm biết, chẳng phải lưỡi ông biết được vị.
Hơn nữa, hư không mà tự biết thì có liên quan gì đến
chỗ thâu nhập của ông đâu?
Vậy, nên biết rằng,
Thiệt Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải là tánh Nhân
Duyên, chẳng phải là tánh Tự Nhiên.
Thông rằng: Cái Căn
biết Mùi đây, biết ngọt, biết đắng, biết nhạt. Vị
ngọt, đắng, nhạt không thường còn nên cái Căn Nếm
Biết cũng tùy theo mà thay đổi. Cái Biết Vị này
không phải từ ngọt, đắng, nhạt mà
đến,
không phải từ hư không mà ra thì còn dễ biết, nhưng
tại sao không từ lưỡi mà sanh? Cái lưỡi vốn không
mùi vị, nên không có tự tánh khá được. Chỉ do tiếp
xúc với mùi vị mà nếm biết sanh ra, mùi vị hết thì
phải diệt, vốn đều là hư vọng. Bám chấp mà cho là có
thì không biết nó ở đâu ra! Bám chấp mà cho là không
thì lại rõ ràng ra đó! Cho nên mới nói là Diệu. Ở
đây mà chẳng biết mùi vị là cái gì thì không có đủ
sức để bàn luận vậy.
Ngài Sam Sơn đang lựa
rau quyết, Tổ Nam Tuyền nhặt lên một cọng, nói:
- Cái này dùng rất
tốt.
Ngài Sơn nói:
- Không những cái này
mà món ngon trăm vị hắn ta cũng chẳng thèm đoái tới.
Tổ Tuyền nói:
- Tuy là như thế, mỗi
cái phải nên nếm qua mới được.
Ngài Huyền Giác nói
rằng:
- Đó là lời tương
kiến hay không phải là lời tương kiến?
Ngài Thiên Đồng nói:
- Hỏi lấy Nam Tuyền
Vương Lão Sư, ai ai cũng chỉ ăn một cọng rau”.Có thể
nói là biết mùi vị vậy.
Kinh:
- A Nan, ví như có
người dùng bàn tay lạnh rờ bàn tay nóng. Nếu bên
lạnh nhiều hơn thì bên nóng lạnh theo. Nếu bên nóng
nhiều hơn thì bên lạnh thành nóng lên. Như vậy, do
cảm xúc nhận biết trong lúc hợp lại mà rõ sự nhận
biết lúc rời ra. Cái thế chênh lệch giữa nóng và
lạnh này thành là do mỏi mệt mà có ra cảm xúc.Cả hai
thứ: Thân biết cảm xúc và cái Mỏi đều là cái tướng
sanh mỏi do chăm chú của Bồ Đề.
Nhân nơi hai thứ vọng
trần lìa và hợp phát ra cái Hay Biết ở bên trong,
thu nạp các trần tượng đó mà gọi là cái Biết Cảm
Xúc. Cái Biết như vậy lìa ngoài hai trần lìa và hợp,
trái và thuận kia, rốt ráo không có tự thể.
Thật vậy, A Nan, phải
biết rằng cái Cảm Xúc đó không phải từ cái lìa, cái
hợp mà tới, không phải từ nghịch thuận mà có, chẳng
phải do nơi thân căn mà ra, cũng không phải do hư
không mà sanh ra. Vì sao thế?
Nếu từ hợp mà
đến,
thì khi lìa, cái biết đã mất rồi, làm sao biết được
cái lìa. Đối với hai tướng nghịch thuận thì cũng như
thế. Nếu từ thân căn mà có ra, hẳn không có những
tướng lìa, hợp, nghịch, thuận thì cái Biết Cảm Xúc
của thân vốn không có tự tánh. Nếu từ hư không mà
sanh ra thì hư không tự biết lấy, nào có liên quan
gì đến chỗ thâu nhập của ông?
Thế nên, phải biết
Thân Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân
Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông rằng: Cái Biết
do hợp lại mà có thì khi lìa ra bèn không có. Nhưng
lìa ra rồi mới biết Cảm Xúc là Thuận hay Nghịch. Cái
Biết do đụng chạm với thân này, hơi khác với cái
Biết ở lưỡi. Tùy theo cái thế tương quan mà có hơn
thua. Ví như cái nóng chạm cái lạnh, mà nóng mạnh
hơn, thì cái lạnh nóng lên và ngược lại. Lạnh và
nóng can thiệp nhau, hai tướng thành ra, chẳng có
cái cảm xúc mỏi nhọc thì chẳng có việc nóng lạnh ấy.
Cảm xúc dễ chịu thì nói là thuận, cảm xúc nghịch với
thân thì gọi là trái nghịch. Nếu không có bốn tướng:
lìa, hợp, thuận, nghịch, chỉ còn mỗi cái thân thì
cái Biết Cảm Xúc này ở tại nơi nào? Cho nên mới nói
vốn là không tự tánh. Tức là cái Biết của thân này
không do trần mà sanh, không do căn thân mà có ra,
hẳn chẳng phải phân biệt mà biết. Không phải từ hư
không mà sanh ra, hẳn chẳng phải là Tự Nhiên. Chẳng
phải Nhân Duyên, chẳng phải Tự Nhiên, gọi đó là Diệu
Chân Như Tánh. Cái chuyện Thấy, Nghe, Hay, Biết ở
trên là năm cái Thức bên ngoài, do đối với Cảnh mà
biết, chẳng phải là cái Biết của ý thức phân biệt.
Tất cả đều là chỗ bày biện của Như Lai Tạng Tánh
vậy.
Có nhà sư hỏi Tổ Động
Sơn:
- Lạnh, nóng đến làm
sao mà trốn tránh?
Tổ Động Sơn nói:
- Sao chẳng ở trong
chỗ không nóng lạnh?
Hỏi:
- Như thế nào là chỗ
không hề nóng lạnh?
Tổ Sơn nói:
- Lạnh thì lạnh chết
Xà Lê, nóng thì nóng chết Xà Lê!
Lại Tổ Tào Sơn hỏi
một nhà sư:
- Nóng như thế này,
hướng về chỗ nào trốn tránh?
Sư đáp:
- Trốn vào trong vạc
nước sôi, lò lửa!
Tổ hỏi:
- Trong vạc nước sôi,
lò lửa làm sao trốn tránh?
Sư đáp:
- Các khổ không thể
đến!
Đây là những lời
trong nhà, như ra từ một miệng.
Ngài Tuyết Đậu tụng
rằng:
Buông tay
lại đồng vách núi muôn tầm,
Chánh, Thiên nào cần đến việc an bài.
Cổ điện lưu ly trăng chiếu sáng,
Nực cười binh mạnh bắc thang lên không!
Dịch:
Thùy thủ hoàn đồng vạn nhận nhai,
Chánh Thiên hà tất tại an bài.
Lưu ly cổ điện chiếu minh nguyệt,
Nhẫn tuấn hàn lư không thượng giai.
Rõ được ý này thì Thõng tay vào chợ cũng đồng là Núi
cô riêng đứng một mình. Về nguồn rõ Tánh và Sai Biệt
Trí đều chẳng khác nhau. Chẳng khế hợp sâu xa với
Tông Tào Động, chưa dễ nói được chỗ này.
Kinh:
- Ví như có người mỏi
mệt thì ngủ. Ngủ chán thì thức dậy. Xem trần cảnh
thì nhớ, hết nhớ thì quên. Các thứ Sanh, Trụ, Dị,
Diệt điên đảo này hấp thu những kết tập thói quen
đưa vào bên trong, mỗi mỗi liên tục, gọi đó là Ý
Căn. Cả hai cái: Ý và Mỏi Mệt, đều là tướng phát mỏi
do chăm chú của Bồ Đề.
Nhân hai thứ vọng
trần sanh và diệt kết tập cái Biết ở bên trong, thu
nhóm nội trần, dùng thấy, nghe chảy ngược vào trong,
chảy không chỗ đến, mà gọi là cái Ý Hay Biết. Cái Ý
Hay Biết này rời ngoài hai trần thức và ngủ, sanh và
diệt rốt ráo là không có tự thể.
Thật vậy, A Nan, nên
biết rằng cái Căn Hay Biết đó chẳng từ thức hay ngủ
mà
đến,
chẳng phải từ sanh diệt mà có, chẳng phải nơi căn ý
mà có ra, cũng chẳng phải hư không sanh. Tại sao
thế?
Nếu từ nơi thức mà
đến,
thì khi ngủ đã theo cái thức diệt mất, lấy gì để
thành ra cái ngủ mê? Nếu quả là lúc sanh mới có, thì
lúc diệt đã không còn, lấy ai mà thọ cái diệt? Nếu
từ cái diệt mà có, thì khi có cái sanh: cái diệt
không có, có ai để biết cái sanh? Nếu từ căn mà ra
thì hai tướng thức và ngủ theo thân mà có mở, có
khép. Nếu rời ngoài hai tướng thức, ngủ này thì cái
Ý Hay Biết đó cũng giống như hoa đốm trên không, rốt
ráo là vô tự tánh. Nếu từ hư không mà sanh ra, thì
hư không tự biết lấy, dính dáng gì đến chỗ thâu nhập
của ông?
Vậy, nên biết rằng: Ý
Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên,
chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông rằng: Trong
mộng hiện cảnh, bởi ngủ nên có ra, cái thân thơ thới
mà là hư giả. Đã tỉnh thức, chẳng rõ là giả, rồi
nhận mà tưởng nhớ đến, cho là chân thật, chuyện ấy
là
điên
đảo vậy. Các hình tướng hữu vi cũng thế. Động tâm
thì sanh ra cảnh, đã là hư vọng lại do cái thức phân
biệât nhớ giữ mà cho là thật có, thì đều là
điên
đảo. Nhớ đến thì sanh ra, quên đi thì diệt mất, nên
bốn tướng sanh, trụ, dị, diệt rõ ràng, rời rạc trôi
ra chẳng ngừng, sát na sát na liên tục nối tiếp, đó
là Ý Căn.
Khi ý chẳng duyên ra,
thức ngủ là một. Cầu lấy cái tướng thức ngủ còn
chẳng thể có, huống là có các tướng Sanh, Trụ, Dị,
Diệt sao? Ngay khi cái ý cùng theo pháp tướng duyên
ra, thu nạp các tập khí vào trong đã thành ngay cái
tướng mỏi mệt. Thế nên cái Bồ Đề mà bất giác khởi
động để thành ra cái ý, thế là lọt vào chỗ mỏi nhọc
của thế trần.
Bộ Tông Cảnh Lục nói
rằng: “Các giác quan níu giữ lấy Cảnh bên ngoài,
niệm niệm chảy vào cõi ý”.
Từ ngoài đưa vào
trong nên gọi là chảy ngược dòng. Cái ý đã có chỗ
duyên, tức “Thức xem trần cảnh thì nhớ”, gọi làm cái
sanh. Còn câu “Chảy không chỗ đến” là nói trong khi
ngủ mê, các căn không duyên với trần thì không có
ngoại trần chảy vào trong đất ý, ý cũng không có chỗ
duyên gặp, nên kinh nói “Khi ngủ thì hết nhớ mà
quên”, đó là sự diệt vậy.
Phân ra như thế hình
như là gượng ép, bởi vì trong ngủ cũng có mộng,
trong thức cũng có quên, nghĩa là thức hay ngủ đều
có hai tướng sanh và diệt, làm sao mà cho là khi
thức chỉ thuộc về sanh, còn ngủ chỉ thuộc về diệt ư?
Theo ngu ý của tôi: cái Thấy, Nghe của tai, mắt thì
thuận chiều ra đến bên ngoài; còn cái Thấy, Nghe của
ý căn thì ngược chiều chảy vào trong. Khi ý căn hấp
thu nội trần, mắt như có thấy, tai như có nghe, ẩn
hiện dường như không dấu vết, chảy vào chỗ mà thấy,
nghe không đến được, chỉ có ý căn biết được mà thôi,
chẳng phải là chỗ tai mắt đến được vậy. Bởi thế, năm
căn mỗi cái đều có vị trí của nó, mà ý căn thì vô
hình, chỉ nương gởi vào các tướng thức, ngủ, sanh,
diệt mà thôi. Lìa ngoài thức ngủ, sanh diệt không
lấy gì thấy cái ý được. Do đó, ở kinh không nói “Nếu
từ căn sanh thì hẳn không có thức, ngủ, sanh, diệt”,
mà lại nói “Nếu từ căn sanh thì hai tướng thức, ngủ
tùy theo cái ý mà có mở, khép”. Cái ý mà
đã
lìa ngoài hai tướng này thì cái Ý Hay Biết này tuy
có sanh, có diệt cũng giống như không hoa, có chỗ
nào để nương vào mà tỏ bày cái ý! Ý đã lìa hình
tướng, hình tướng cũng rời ý, rốt chẳng có tướng
thức, ngủ, sanh, diệt làm sao có tự tánh ư? Nên mới
nói do căn sanh ra là chẳng đúng vậy. Mở Khép, hai
chữ này hình dung hai tướng thức, ngủ rất kỳ diệâu.
Thức thì Hình mở ra, ngủ thì Hình khép lại. Cái
thức, ngủ, sanh, diệt này là cái chỗ ở của ý. Cho
nên kinh mới nói là “Lấy gì để làm ra cái ngủ mê?”,
“Lấy ai mà thọ cái diệt?”, thật chẳng phải là Trí
vậy. Thế là cái Ý Hay Biết này chẳng phải từ Nhân
Duyên sanh, chẳng phải từ Tự Nhiên mà sanh, tức đó
là cái Bản Thể của Vô Trụ, mà không gọi ấy là Diệu
Chân Như Tánh thì gọi là cái gì?
Ban đầu, Tổ Ngưỡng
Sơn hỏi Tổ Quy Sơn:
- Như sao là Trụ Xứ
Chân Thật của Phật? Tổ Quy Sơn nói:
- Hãy suy nghĩ chỗ
nhiệm mầu của cái Vốn Không Suy Nghĩ, trở lại suy
nghĩ chỗ Vô Cùng Linh Diệu, niệm hết bèn đó là
Nguồn, Tánh Tướng đều thường trụ, Sự Lý không hai là
Chân Phật Như Như.
Ngài Ngưỡng Sơn ngay
dưới lời mà
đốn
ngộ.
Sau này, có vị sư tên
Tư Ích hỏi Tổ Ngưỡng Sơn:
- Thiền tông đốn ngộ,
rốt ráo cái ý vào cửa là như thế nào? Tổ Ngưỡng nói:
- Ý ấy rất khó. Nếu
thật là môn hạ của Tổ Tông, thượng căn thượng trí,
một nghe ngàn ngộ, đắc Đại Tổng Trì. Còn căn nhỏ,
trí hèn nếu chẳng ở trong thiền định thì đến vào
trong ấy ắt phải hoang mang!
Hỏi:
- Ngoài một đường ấy
ra, lại còn có chỗ khác để vào không?
Tổ Ngưỡng đáp:
- Có.
Hỏi:
- Như sao là phải?
Tổ nói:
- Ông là người xứ
nào?
Đáp:
- Người xứ U Châu.
Hỏi:
- Ông còn nghĩ đến xứ
ấy chăng?
Đáp:
- Thường vẫn nhớ
nghĩ.
Tổ Ngưỡng nói:
- Cái suy nghĩ ấy là
tâm, cái chỗ suy nghĩ là cảnh. Xứ ấy nào nhà cửa,
vườn rừng, ngựa xe... đầy dẫy. Ông hãy xoay sự suy
nghĩ trở lại để suy nghĩ cái tâm ấy, thật có bao
nhiêu thứ đó chăng?
Đáp:
- Tôi đến trong ấy
toàn chẳng thấy có gì!
Tổ Ngưỡng nói:
- Tín vị thì phải,
nhưng nhân vị thì chưa phải.
Hỏi:
- Ngoài cái ấy ra,
riêng còn có ý hay không? Tổ nói:
- Riêng có, riêng
không thì chẳng kham được vậy.
Hỏi:
- Đến trong đó, làm
gì là phải?
Tổ Ngưỡng nói:
- Cứ theo chỗ ông
hiểu, chỉ được một cái huyền, được an nhiên mặc áo,
về sau tự xem.
Ngài Thiên Đồng tụng
rằng:
Không có
ngoài, nên dung chứa,
Không có ngại, nên an hòa.
Tường vách chất ngất,
Cửa khóa trùng trùng.
Rượu thường vui mà dẹp khách,
Cơm tuy no mà chẳng cày.
Độât nhiên ra khỏi hư không, hề, cánh mầu cuốn gió,
Đạp lật lại biển cả, hề, sấm tiển rồng chơi.
Bài tụng này là Đầu sào trăm thước cần tiến bước.
Không thể chấp bám cảnh giới của ngộ, tự cho là
đủ.
Nếu chỉ tuyệt không thấy có một lời, chỉ làm rỗng
không ý căn, thì đối với cái chỗ Chân Phật Như Như
còn rất xa lắm lắm.
G. THU
MƯỜI HAI XỨ
Kinh:
-Lại nữa, A Nan, như
sao là mười hai Xứ vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như
Tánh? Thông rằng: Mới đầu, ở trong năm Ấm thì dùng
phép tỷ dụ để phá tình chấp, vì ngũ Ấm vốn không,
nếu không so sánh thì khó hiển bày. Tiếp đến, ở
trong sáu Nhập chỉ ra cái sự việc giả để hiển bày
cái vọng tướng của chúng. Sáu Nhập vốn vọng, nên
dùng vọng để dẫn đến vọng, có thể suy ra mà thông
hiểu. Đoạn này nói đến Mười Hai Xứ cho đến đoạn sau
là Bảy Đại thì lấy ngay cái cảnh thấy, nghe trước
mắt mà chỉ bày cái Như Lai Tạng Tánh của chúng. Thật
là mỗi cõi Phật độ, mỗi hạt trần rành rành không hở
sót vậy.
Đức Tam Tổ Tăng Xán
nói:
- Chẳng ghét sáu
trần. Liền đồng Chánh Giác, là
đã
thấy sâu xa chỗ này vậy.
Thiền sư Kim Sơn
Thiện Minh thượng đường nói với đại chúng rằng:
- Người xưa nói: Ở
mắt là thấy, ở tai là nghe, ở mũi là ngửi hương, ở
lưỡi là bàn luận, ở thân là cảm xúc, ở ý là bám níu.
Tuy nhiên như thế là chỉ thấy đầu dùi nhọn, chẳng
thấy đầu đục vuông!
Nếu là Kim Sơn tôi ắt
chẳng phải thế: Có mắt mà nhìn chẳng thấy, có tai mà
lắng chẳng nghe, có mũi mà chẳng biết mùi, có lưỡi
mà chẳng hề đ
àm
luận, có thân mà chẳng biết cảm xúc, có ý mà chẳng
bám níu. Một niệm tương ưng, sáu căn liền giải
thoát. Dám hỏi các vị thiền đức: Thử nói xem là
đối
với lời trước là
đồng
hay khác? Nếu có bậc cụ nhãn thì xin bước ra làm cho
rõ thông tin tức. Còn nếu không có, xin vì các ông
mà giải nghĩa trùng trùng. Buông mở ra thì riêng
thông xe, ngựa. Nắm tóm lại thì mảy lông cũng chẳng
còn. Nếu là bậc thiền gia cự phách thì kham hết mọi
trái phải, phân chia.
Một đoạn chỉ bày này
quả là cùng đoạn kinh trên trùng trùng giải thích.
Kinh:
- A Nan, ông hãy xem
rừng cây Kỳ Đà và các suối ao đó. Ý ông thế nào? Như
thế là sắc trần sanh ra cái Thấy hay là cái Thấy
sanh ra sắc tướng?
A Nan, nếu Nhãn Căn
sanh ra sắc tướng, thì khi thấy hư không không có
sắc tướng lẽ ra cái tánh của sắc đã tiêu mất rồi. Mà
đã
tiêu mất thì tỏ rõ hết thảy đều không. Sắc tướng đã
không thì lấy gì rõ được tướng hư không? Đối với hư
không thì cũng như vậy.
Lại nếu sắc trần sanh
ra cái Thấy, thì khi thấy hư không bèn không có sắc,
cái Thấy hẳn tiêu mất. Tiêu mất thì tất cả đều
không, lấy gì mà rõ được hư không và sắc tướng?
Thế nên, phải biết
cái Thấy cùng với sắc, không đều không có xứ sở. Tức
Sắc Trần và cái Thấy, cả hai Xứ đó đều hư vọng, vốn
chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự
Nhiên.
Thông rằng: Ở đoạn
trước dựa trên sáu Nhập để phá sáu căn thì tuy dùng
sáu trần để đối biện mà ý chánh vẫn ở tại căn. Hiện
đây là nói về Mười Hai Xứ, thì tuy là phá cả căn lẫn
trần, mà chánh là phá cái trần. Sau này, nói về Mười
Tám Giới, thì chỉ chuyên phá cái Thức. Đoạn trước về
sáu Nhập thì luôn luôn có câu “Đều là tướng phát mỏi
do chăm chú của Bồ Đề”, đó là từ trên Căn mà nói.
Đoạn này nói “Hãy xem rừng Kỳ Đà và các suối ao” là
từ trên Sắc mà khởi nói.
Nếu nói là sắc sanh
ra cái Thấy, thì chắc hư không chẳng sanh ra cái
Thấy. Vậy lấy cái gì giúp thấy sắc, lại rõ thấy hư
không? Nếu nói là con mắt sanh ra sắc tướng, thì
chắc là nó không thể sanh ra tướng hư không, thì cái
gì giúp hiển bày sắc, lại hiển bày hư không? Do đây
mà nói: Con mắt không thể sanh ra sắc, con mắt vốn
tự tịch diệt, nào cùng với sắc ư? Sắc không thể sanh
ra con mắt, sắc vốn tự tịch diệt, đâu cùng với mắt
ư? Chỉ lấy hư không mà hình dung ra sắc thì sắc trần
tự phá. Cái Thấy cùng với sắc, không đều không có xứ
sở. Sắc là Không mà cái Thấy cũng Không đó vậy. Sắc
và cái Thấy đều Không, lấy gì làm Nhân Duyên, lấy gì
làm Tự Nhiên, thì chẳng gọi đó là Tánh Chân Như sao?
Xưa, Tổ Ngưỡng Sơn
chỉ con sư tử ở ngoài tuyết nói:
- Có vượt qua được
cái sắc này không, nhỉ?
Tổ Vân Môn nói:
- Hiện giờ nên cùng
nhau đẩy ngã cho xong.
Ngài Tuyết Đậu nói:
- Chỉ biết đẩy ngã,
chẳng biết đỡ dậy.
Ngài Phật Giác tụng
rằng:
Một sắc
không qua chỉ bày người,
Trong cõi bạc trắng luống than van.
Vượt ngoài “xô ngã” và “đỡ dậy”,
Cũng tựa gió Đông đón sáng Xuân.
Dịch:
Nhất Sắc vô quá chỉ thị nhân,
Bạch ngân thế giới lý tần thân.
Siêu nhiên thôi đảo hoàn phù khởi,
Tranh tợ Đông phong hú nhật tân.
Ngài Thiên Đồng tụng rằng:
- Một ngã một dậy, sư
tử sân tuyết. Khéo không phạm đến nhưng chứa lòng
nhân. Mạnh mẽ ở chỗ làm mà thấy nghĩa. Ánh sáng
trong suốt soi mắt mà tựa người mê. Rõ ràng đổi thân
sa vào địa vị. Là kẻ thầy tu, rõ không nương gởi,
cùng tử cùng sanh, nào đây, nào đó? Tin ấm nứt cây
mai, hề, Xuân đến lạnh cành. Gió mưa lay rụng lá,
hề, Thu lặng mưa đầy.
Tổ Vạn Tùng nói:
- Đã kêu là Sắc ắt
cùng với con mắt mà
đối
nhau. Cái Sắc vượt qua màu trắng, chỉ là một Vô Sắc,
nên không có với mắt đối nghịch.
Tổ Vân Môn nói:
- Sở dĩ nói “Hiện nên
cùng đẩy ngã”, vì nếu hướng về chỗ trắng, chỗ không
trắng mà nhận lấy thì thật đã rơi vào trong cõi Vô
Sắc. Ngài Tuyết Đậu sở dĩ riêng chỉ ra một con đường
để sống lại, ấy là hướng về chỗ xô ngã mà dạy đỡ
dậy.
Tổ Phật Nhãn nói:
- Nếu ở trong ấy mà
giúp đỡ nâng cho đứng dậy thì liền sanh có thứ lớp.
Như các vị tôn túc
đối với một sắc tướng nhỏ nhặt mà còn cần phá sạch
hết ráo, huống gì là trước mắt thấy có đủ thứ sao?
Kinh:
- A Nan, ông lại nghe
trong vườn Kỳ Đà này, khi thức ăn dọn rồi thì đánh
trống, khi chúng nhóm lại thì đánh chuông. Tiếng
chuông, tiếng trống trước sau nối tiếp nhau. Ý ông
thế nào? Như vậy là cái Tiếng đến bên cái Nghe hay
cái Nghe đến chỗ cái Tiếng?
A Nan, nếu như cái
tiếng đó đến bên cái Nghe, thì cũng như ta khất thực
trong thành Thất La Phiệt, ở rừng Kỳ Đà không có ta
nữa. Cái tiếng đó đã riêng đến bên cái Nghe của Ông
A Nan, thì lẽ ra Ông Mục Liên, Ông Ca Diếp không
cùng nghe được một lần. Huống gì trong này có một
ngàn hai trăm năm mươi vị Sa môn, một khi nghe tiếng
chuông thì đồng đến chỗ ăn cơm cả.
Lại như cái Nghe của
ông đến chỗ cái tiếng, thì cũng như ta đã về rừng Kỳ
Đà rồi, trong thành Thất La Phiệt không còn ta nữa.
Vậy, khi ông nghe tiếng trống, cái Nghe của ông đã
đến nơi tiếng trống rồi, thì khi có lúc tiếng chuông
phát ra, đáng lý ông không thể cùng nghe, huống nữa,
ông còn nghe được cả tiếng voi, ngựa, bò, dê và
nhiều tiếng khác. Còn nếu chúng không đi đến với
nhau thì lại là không có nghe gì cả.
Thế nên, phải biết
rằng cái Nghe và cái Tiếng đều không có xứ sở. Tức
cái Nghe và Thanh Trần, hai Xứ đều hư vọng, vốn
chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự
Nhiên.
Thông rằng: Câu “Cũng
như Ta khất thực trong thành Thất La Phiệt, tại rừng
Kỳ Đà không có Ta nữa” để thí dụ cho cái Tiếng đến
bên cái Nghe, thì các chỗ khác không còn có cái
tiếng, vậy sao một ngàn hai trăm năm mươi vị Sa môn
lại còn cùng nghe? Câu “Cũng như ta đã về rừng Kỳ Đà
rồi, trong thành Thất La Phiệt không còn có ta nữa”
để thí dụ cho cái Nghe đến chỗ cái tiếng thì các chỗ
khác phải không còn cái Nghe, vậy thì tại sao lại
nghe tiếng voi, ngựa, bò, dê và nhiều tiếng khác
nữa? Câu “Nếu không đi đến với nhau” tức là rơi vào
ngoan không. Nghĩa Nghe không thành lập được, thì
cái Tiếng và cái Nghe đều không có dấu tích. Uyển
chuyển mà cùng khắp, gặp chỗ đều thông suốt, có xứ
sở nào đâu? Cho là Nhân Duyên, thì không có chỗ
Duyên. Cho là Tự Nhiên, thì cũng chẳng có chỗ nào mà
Tự. Ngay ấy là hư vọng, bèn là không có gì chẳng
phải là Chân Thể, nên gọi đó là Tánh Chân Như Nhiệm
Mầu vậy.
Tổ Huyền Sa nhân có
người đang tham học, nghe thấy tiếng chim én, bèn
nói:
- Bàn sâu Thật Tướng,
khéo thuyết Pháp Yếu!
Liền xuống tòa giảng.
Khi ấy, có một vị sư
hỏi thêm:
- Thưa, tôi chẳng
hiểu.
Tổ Sa nói:
- Đi đi, ai tin được
ông!
Lại có Tổ Báo Từ lên
tòa giảng, nghe chim tu hú kêu, bèn hỏi nhà sư:
- Tiếng gì thế?
Sư đáp:
- Tiếng chim tu hú.
Tổ Từ nói:
- Nếu muốn không
chiêu vô gián nghiệp, chớ báng Như Lai Chánh Pháp
Luân.
Rồi xuống tòa.
Tất cả âm thanh là
Phật Thanh. Thế còn hiểu được.
Còn, Tổ Huyền Sa nói:
- Trong chuông không
có tiếng trống, trong trống không có tiếng chuông,
chuông trống chẳng có xen lẫn nhau, mỗi mỗi không
sau trước.
Hiểu thế nào? Đây là
ý chỉ Vô Sanh Duyên Khởi. Ngộ đó thì cái chỗ nói là
Thật Tướng, là Pháp Yếu, có thể thấy rồi. Kinh:
- A Nan, ông hãy ngửi
mùi hương chiên đ
àn
trong lư này. Hương ấy, nếu đốt đến một thù thì cả
thành Thất La Phiệt, trong bốn mươi dặm đều đồng
thời ngửi được mùi thơm. Ý ông thế nào? Mùi thơm ấy
sanh ra do cây chiên đ
àn,
do nơi mũi ông, hay sanh từ hư không?
A Nan, nếu mùi thơm
ấy sanh ra do mũi ông, đã nói là từ mũi sanh ra, tất
phải từ lỗ mũi mà ra, lỗ mũi không phải chiên đ
àn,
làm sao trong lỗ mũi lại có được mùi thơm chiên đ
àn?
Lại đã gọi rằng ông ngửi mùi thơm, thì mùi thơm phải
vào trong lỗ mũi; còn nói là trong lỗ mũi phát ra
mùi thơm, nói thế là không đúng nghĩa. Nếu sanh ra
do nơi hư không, thì tánh hư không là thường còn,
mùi thơm lẽ ra cũng phải thường có, cần gì phải đốt
cây chiên đ
àn
khô trong lư rồi mới có? Nếu mùi thơm sanh ra từ cây
chiên đ
àn,
thì cái chất thơm ấy nhân đốt mà thành khói, nếu mũi
ngửi được là do khói xông đến mũi. Tại sao khói đó
xông lên khoảng không chưa được bao xa mà trong vòng
bốn mươi dặm đều đã ngửi thấy?
Thế nên, phải biết
Hương Trần và cái Ngửi đều không xứ sở. Tức cái Ngửi
và Hương Thơm, cả hai Xứ ấy đều hư vọng, vốn chẳng
phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông rằng: Cái Ngửi
này cùng với Hương Thơm, chẳng phải mũi, chẳng phải
hư không, chẳng phải gỗ chiên đ
àn,
tức là cái Hương Xứ không có thật vậy. Thế nào mà
trong vòng bốn mươi dặm đồng thời ngửi thấy, thì cái
sức đặc biệt của mùi thơm cũng là không thể nghĩ
bàn.
Táo Bách Luận:
- Cây chiên đ
àn
Ô Lạc Ca: Ô Lạc Ca là tên con rắn. Chiên đ
àn
là cây thơm. Rắn này rất độc, nó hay sợ nóng độc,
thường quấn quanh cây thơm này thì độc khí hết. Ý
nói rằng nếu có chúng sanh nghe nói cái Hương mà Tâm
Cảnh đều không, vốn không thể tướng, không xứ sở,
không một pháp khá được, tin mà ngộ nhập thì tất cả
phiền não, độc khí tự nhiên đều thanh tịnh.
Thiền sư Hương Nghiêm
Trí Nhàn có bài kệ:
Có một
lời, toàn quy củ,
Định suy lường, theo bọn xấu.
Đạp lên mà chẳng lầm, bèn tỉnh ngay xứ sở,
Một đời tham học, sự không thành.
Ân cần ôm được gốc chiên đàn.
Bài kệ này từ đây mà ra vậy.
Tổ Chí Công nói:
- Trọn ngày lấy hương
chọn lửa. Không hay thân tức Đạo Tràng.
Ngài Thiên Đồng nêu
ra:
- Kẻ giỡn tinh hồn
nào có giới hạn?
Ngài Huyền Sa nói:
- Suốt ngày lấy hương
chọn lửa. Chẳng hay Chơn Thật Đạo Tràng.
Ngài Thiên Đồng nêu
ra:
- Thật kỳ quái: tám
mươi ông vào trường ốc, chẳng phải là trẻ nhỏ giỡn
chơi? Thử nói cái lợi cái hại ở chỗ nào? Có Trí hay
chẳng có Trí, so ra trong ba mươi dặm đều đồng một
tác dụng Vô Sanh, mới là có chút hào ly biện biệt ở
đây.
Người có trí hãy biện
biệt.
Kinh:
- A Nan, ông thường
hai thời ở trong chúng cầm bình bát khất thực. Trong
đó, hoặc gặp những món tô lạc đề hồ, gọi là vị quý.
Ý ông thế nào? Vị ấy sanh ra ở trong hư không, do
nơi cái lưỡi hay do nơi đồ ăn?
A Nan, nếu cái Vị ấy
sanh ra do nơi cái lưỡi của ông, thì ở trong miệng
ông chỉ có một cái lưỡi. Cái lưỡi lúc ấy đã thành vị
tô rồi, nếu gặp cục đường phèn, lẽ ra cái Vị không
thay đổi. Nếu chẳng thay đổi thì không gọi được là
biết Vị. Còn nếu thay đổi thì cái lưỡi không có
nhiều tự thể, thì làm sao một cái lưỡi lại biết được
nhiều Vị Thể thế?
Nếu Vị ấy sanh ra do
nơi đồ ăn, thì đồ ăn không có sự Biết, làm sao tự nó
biết Vị? Lại như đồ ăn tự biết, thì cũng giống như
người khác ăn, nào có dính dáng gì đến ông, mà nói
là ông biết Vị?
Nếu Vị ấy sanh ra từ
hư không, thì ông hãy nếm hư không xem là Vị gì. Nếu
hư không đó mà có Vị mặên, làm mặn lưỡi ông, chắc
cũng làm mặn cái mặt ông và mọi người trong cõi này:
cũng giống như cá biển, đã thường thọ nhận cái mặn
thì không còn biết cái vị nhạt là gì nữa. Nhưng nếu
không biết nhạt thì lại cũng không biết mặn. Tức là
không có chỗ Biết, sao gọi là biết Vị?
Thế nên, phải biết:
các Vị và Lưỡi Biết Nếm đều không xứ sở. Tức cái
Biết Nếm và các Vị, cả hai Xứ đều hư vọng, vốn chẳng
phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông rằng: Đoạn này
chứng minh cái tánh của Vị, chẳng sanh ra do nơi hư
không, chẳng sanh ra do nơi Lưỡi, thì còn dễ biết.
Nhưng sao lại nói chẳng do món ăn sanh ra? Vì, món
ăn chẳng có Thức, nó chẳng tự nói: Vị của tôi ngon,
Vị tôi dở. Phân biệt ngon, dở là thuôïc về căn lưỡi.
Mà căn lưỡi thì không có định thể, theo Vị mà dời
đổi. Đủ biết rằng: Vị tự là vị, lưỡi tự là lưỡi. Cả
hai đều lặng nhiên. Biết lưỡi cùng vị đều vắng lặng,
thì thật tin là chúng chẳng phải là Nhân Duyên,
chẳng phải là Tự Nhiên mà chính là Như Lai Tạng Diệu
Chân Như Tánh.
Thiền sư Thần Đảnh
Nhân có lần cùng với chúng Tăng đến miền Tương Miện.
Có một vị sư khởi bàn về Thiền rất trôi chảy. Trong
quán Dã Phạn Sơn đã bày xong thức ăn, mà nhà sư luận
nói vẫn chưa xong.
Tổ Đảnh nói:
- Ba cõi duy chỉ một
Tâm, muôn pháp duy chỉ là Thức. Duy Thức, duy Tâm,
mắt thanh, tai sắc là lời của ai thế?
Nhà sư nói:
- Lời của Tổ Pháp
Nhãn.
Tổ Đảnh hỏi:
- Nghĩa ấy như thế
nào?
Sư đáp:
- Duy Tâm nên Căn và
Cảnh không đến nhau. Duy Thức nên Thanh, Sắc khua
đánh.
Tổ Đảnh nói:
- Cái Lưỡi, cái Vị có
phải là Căn và Cảnh không?
Nhà sư đáp:
- Phải.
Tổ Đảnh lấy đũa gắp
rau bỏ vào miệng, giỡn cợt nói rằng:
- Nào gọi là tương
nhập sao?
Người ngồi chung
quanh đều kinh hãi. Nhà sư chẳng thể đáp lại.
Tổ Đảnh nói:
- Cái vui dọc đường
rốt cuộc chưa đến nhà. Kiến giải dầu vi diệu cũng
chẳng gọi là thấy đạo. Tham, cần thật tham. Ngộ, cần
thật ngộ. Diêm Vương chẳng sợ chuyện nói nhiều.
Vị sư làm lễ mà cáo
từ.
Tổ Huyền Sa có lần ăn
trái vải, hỏi đại chúng:
- Trái vải này cho là
màu hồng ư? Cho là màu đỏ ư? Các ông làm sao đây?
Nếu nói là một màu lại là mông lung; nói là nhiều
màu thì chỉ thành cái đoạnthường. Các ông làm sao
đây?
Sư Ngạn Thao nói:
- Đó chỉ vì Hòa
Thượng phân biệt.
Tổ Sa nói:
- Ngu si mơ hồ như
thế có giao thiệp gì đâu?
Sư Xung Cơ nói:
- Hết thảy xưa nay
chỉ là một màu.
Tổ Sa nói:
- Đều là mơ hồ hết,
có khi nào mà hiểu được?
Bèn quay qua hỏi sư
Kiểu Nhiên: Ông nói thế nào?
Sư Kiểu Nhiên nói:
- Không thể không
biết đó là trái vải.
Tổ Sa nói:
- Thật chỉ là trái
vải.
Lại nói:
- Các ông như lâu nay
ở trong Giá Lý (Tâm Pháp) của tôi, cùng nói gì mà
chẳng biện nổi trắng đen, không biết lành dữ. Tôi
luôn nói với các ông là: Dụng xứ chẳng hoán cơ. Nhân
sao chỉ lo đối đáp, có giao thiệp gì đâu!
Người xưa nơi một
miếng ăn, một thức uống đều cốt phát minh chuyện
hướng thượng. Mỗi mỗi đều như thế, há phải ở chỗ đối
đáp lưu loát. Cần phải thực ngộ mới cùng người sáng
mắt tương kiến vậy.
Kinh:
- A Nan, buổi sớm mai
ông thường lấy tay xoa đầu, ý ông thế nào? Trong
việc biết xoa đó, lấy cái gì làm cái Biết Cảm Xúc?
Cái Biết ấy ở nơi tay hay ở nơi đầu?
Nếu nó ở nơi tay, mà
cái đầu không biết, làm sao thành ra Cảm Xúc? Nếu
nói ở nơi đầu, mà cái tay lại vô dụng thì làm sao
gọi là Cảm Xúc? Nếu đầu lẫn tay mỗi cái đều có cái
Biết, thì một mình A Nan lại có hai cái thân hay
sao? Nếu đầu và tay đều do một Cảm Xúc sanh ra thì
tay và
đầu
phải là một tự thể. Mà nếu chỉ có một tự thể thì Cảm
Xúc không thành được. Còn nếu là hai thể thì Cảm Xúc
ở phía nào? Ở bên Năng thì không ở bên Sở, ở bên Sở
thì không có ở bên Năng. Chẳng có lẽ là hư không tạo
thành Cảm Xúc cho ông?
Thế nên, phải biết:
Cảm Xúc và Thân Căn đều không xứ sở. Tức cái Thân
biết Cảm Xúc và cái Cảm Xúc, cả hai đều hư vọng, vốn
chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự
Nhiên.
Thông rằng: Ở đây,
chỉ rõ tánh Xúc là hư vọng, ở năng thì chẳng ở sở, ở
sở thì chẳng ở năng. Năng sở đều chẳng phải, thì Xúc
tức là Tánh Chân Như.
Kinh Hoa Nghiêm nói:
- Như thế, tự tánh
như huyễn, như mộng, như bóng dáng rốt chẳng thành
tựu. Trong Tánh Chân Như các pháp tùy duyên. Tuy là
tùy duyên, các pháp quy tánh. Khi tùy duyên thì hình
như có hiện ra. Như xem làm huyễn thuật: không có mà
có. Như nhìn cảnh mộng: không thấy mà thấy. Như xem
ảnh trong nước: chẳng phải sanh ra, chẳng phải nhập
vào. Như nhìn bóng trong gương: chẳng trong, chẳng
ngoài. Vì Vô Tánh mà tùy duyên, nên Lý chẳng thành
tựu. Vì tùy duyên mà vô tánh, nên Sự chẳng thành
tựu. Lý Sự không thành tựu thì tất cả các pháp đều
không thành. Cũng như trong chiêm bao mộng thấy đánh
võ với người: cũng có cảm nhận xúc chạm, nhưng rốt
ráo ai là người đánh, ai cảm thấy bị đánh? Thế nên,
tất cả các pháp đều như thế cả.
Tổ Bửu Phước thấy có
vị tăng đi lại, lấy cây gậy đánh vào cây cột lộ trụ,
rồi đánh vào đầu ông tăng. Vị này buông tiếng kêu
đau.
Tổ Phước nói:
- Cái ấy vì sao chẳng
đau?
Vị tăng không đáp
được.
Tổ Huyền Giác nói
thay rằng:
- Ham đi thì chống
gậy.
Lại còn Tổ Bửu Giác
có lần hỏi Ông Chuyển Vận Phán Quan là Hạ Ỷ rằng:
- Ông nói Hữu Tình
với Vô Tình đều cùng một thể phải không?
Khi ấy, có con chó
nằm dưới bàn hương án, bèn lấy cây thước đập xuống
bàn hương án rồi lại đập con chó, nói:
- Con chó Hữu Tình
thì chạy đi, bàn hương án Vô Tình thì vẫn còn đó.
Như thế nào là một thể được?
Ông Hạ Ỷ không thể
đáp.
Tổ Bửu Giác nói:
- Vừa mới tư duy liền
thành dư pháp!
Cái hiểu biết của chư
vị Thánh đời trước trao truyền cho nhau đều là ý chỉ
này. Kinh:
- A Nan, ông thường
trong Ý duyên với ba tánh thiện, ác và vô ký sanh ra
có các pháp trần. Những pháp trần đó tức nơi tâm mà
sanh ra, hay là rời ngoài tâm mà có riêng nơi chốn?
A Nan, nếu tức nơi
tâm thì các pháp không phải là trần cảnh, như thế
thì chúng không phải là cái sở duyên của tâm, làm
sao thành một Xứ được?
Nếu rời ngoài cái tâm
có riêng nơi chốn, thì bản tánh của pháp trần là có
biết hay không có biết? Nếu có biết thì gọi là tâm,
nhưng nếu nó khác với ông và không phải là trần
cảnh, thì cũng như là cái tâm của người khác. Còn
nếu nó tức là ông và cũng tức là tâm, thì làm sao mà
cái tâm ông lại trở thành hai ở nơi ông?
Nếu không có biết thì
cái pháp trần đó đã không phải là sắc, thanh, hương,
vị, ly, hợp, lạnh, nóng và tướng hư không, thì nó
hiện ở chỗ nào? Hiện nay, ở nơi Sắc Không, không thể
chỉ ra nó được, chẳng lẽ trong nhân gian lại có cái
ngoài hư không? Không có cảnh sở duyên thì ý căn do
đâu mà lập thành một Xứ được?
Thế nên, phải biết:
Pháp trần cùng ý căn đều không xứ sở. Tức ý căn và
pháp trần cả hai xứ đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh
Nhân Duyên, cũng phải tánh Tự Nhiên.
Thông rằng: Ba sự
thiện, ác, vô ký ngay khi đối đãi với căn thì các sự
ấy đều thật, nên gọi là Thật Cảnh. Còn khi không đối
đãi với cảnh, chỉ có một mình ý thức duyên mà thôi,
bèn là bóng dáng của Thật Cảnh, nên gọi là Nội Trần.
Nội trần không ra ngoài ba tánh thiện, ác, vô ký
duyên ra Sắc Không, hết thảy pháp, nên cũng gọi là
Pháp Trần. Từ vô thủy đến nay, trong và ngoài huân
tập lẫn nhau, nên nói là “Sanh thành”.
Nếu nói “Pháp tức nơi
tâm”, thì tâm là năng duyên, pháp là sở duyên làm
sao mà tức được. Điều này dễ biện rõ. Nếu nói “Pháp
lìa ngoài tâm”, thì cái pháp này thật ở đâu? Cho
pháp là có biết, thì đồng với tâm, mà
đã
đồng với tâm bèn chẳng phải là trần cảnh vậy. Chẳng
phải trần mà lại khác với ông, mà vẫn phải gọi là
tâm, tức là cũng như tâm của người khác. Chẳng phải
trần mà không khác với ông, thì sao tâm ông lại
thành hai ở nơi ông, mà gọi đó là pháp trần vậy sao?
Do đó, lấy sự Có Biết mà làm nơi chốn thì không thể
được. Còn cho là Không Biết thì pháp trần ấy lấy cái
gì mà bày tỏ ra được?
Pháp trần đã chẳng
phải là các tướng Sắc Không, lại chẳng phải rời
ngoài Sắc Không mà có riêng chỗ chứa lập. Ngoài sắc
có hư không, hư không thì chẳng có gì ở ngoài. Nếu
pháp trần có cái Xứ để cho tâm duyên được thì chắc
là hư không đã có cái ở ngoài nó. Nhưng hư không làm
gì có cái ở ngoài nó, thì tâm duyên vào đâu? Sở dĩ
tâm mà duyên với pháp, nghĩa là Sắc Không thì vô
tri, do tri mà hiển bày. Tri thì có phân biệt, bèn
gọi đó là pháp. Nay pháp đã vô tri, lại không nơi
chốn, thì tâm tuy là có biết, mà biết cái gì? Do đó,
lấy vô tri làm nơi chốn cho pháp trần thì cũng không
được. Chẳng phải có biết, chẳng phải không có biết,
thì Xứ do đâu mà lập được? Tức nơi tâm chẳng có
pháp, lìa ngoài tâm cũng chẳng có pháp, nên pháp
trần không có tự tánh vậy. Thế thì chẳng phải hư
vọng sao? Pháp không xứ sở thì ý căn là không. Nên
gọi đó là Diệu Chân Như Tánh vậy.
Thiền sư Thanh Châu
Pháp Bổn thượng đường, nói:
- Khởi lên âm thanh
mà muốn bặt tiếng vang, đâu biết âm thanh là gốc của
tiếng vang. Giỡn bóng mà muốn trốn hình, đâu biết
hình là gốc của bóng. Lấy pháp hỏi pháp, chẳng hay
pháp vốn chẳng phải pháp. Lấy tâm truyền tâm, nào
hay tâm vốn vô tâm. Tâm vốn vô tâm, biết tâm như
huyễn. Ngộ pháp chẳng phải pháp, biết pháp toàn như
mộng. Tâm, pháp không thực, chớ giả dối truy cầu.
Mộng huyễn, Không hoa nhọc gì nắm bắt! Đến vào trong
ấy thì ba đời Chư Phật, một Đại Tạng Giáo, lời lẽ Tổ
Sư, Tôn Túc trong thiên hạ đều lộ bày là
đám
dây leo, chùm gởi, trọn chẳng còn bám chấp. Tại sao
thế? “Thái bình vốn chỗ tướng quân mong. Không để
tướng quân thấy thái bình”.
Bài kệ trong kinh Tạp
Hoa nói:
Nhãn, Nhĩ,
Tỷ, Thiệt, Thân,
Tâm, Ý các Tình Căn.
Bởi đó thường lưu chuyển,
Mà thật không người chuyển.
Pháp Tánh vốn không sanh,
Thị hiện mà có sanh.
Trong ấy không Năng hiện,
Cũng không vật Sở hiện.
Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân,
Tâm, Ý các Tình Căn.
Cả thảy: Không, Vô Tánh,
Vọng tâm phân biệt: Có.
Như thế mà quan sát
Tất cả đều Vô Tánh.
Đại ý đoạn này thật cùng với kinh mà hiển phát.
H. THU
MƯỜI TÁM GIỚI
Kinh:
- Lại nữa, A Nan, như
sao là Mười Tám Giới vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân
Như Tánh? Thông rằng: Đối với Trần thì gọi là Căn,
Căn ở trong vậy. Đối với Căn thì gọi là Trần, Trần ở
ngoài vậy. Ở khoảng giữa, mỗi mỗi phân biệt là cái
Thức. Ba cái Căn, Trần, Thức nương nhau mà thành
lập, như cây lau gác lên nhau, nên có tên là Mười
Tám Giới. Ba cái ấy, có thì cùng có, không thì cùng
không, vốn không tự tánh. Đã không tự tánh, bèn vốn
là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh vậy.
Thiền sư Thùy Lộc Bổn
Tiên thượng đường, nói:
- Chỗ các Pháp sanh
ra là chỗ hiện bày của tâm. Lời nói ấy thật là cửa
nẻo để vào. Thử hỏi các ông: mắt thấy hết thảy sắc;
tai nghe hết thảy thanh; mũi ngửi hết thảy mùi; lưỡi
nếm hết thảy vị; thân chạm hết thảy các thứ mềm,
trơn; ý phân biệt hết thảy các pháp. Vậy thì cái vật
đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý chỉ duy là tâm
các ông hay chẳng phải là tâm các ông? Nếu nói là
duy chỉ tâm các ông, sao chẳng cùng thân các ông làm
thành một khối cho rồi? Vì sao các vật đối đãi ấy
lại ở ngoài các Căn của các ông? Các ông nếu nói vật
đối với mắt, tai, mũi, lưỡi... chẳng phải là tâm các
ông thì tại sao có câu “Chỗ các pháp sanh ra là chỗ
hiện bày của tâm” lưu truyền tại thế gian, ai cũng
nêu bày? Các ông nghe lời yếu lý ấy, có hiểu không?
Nếu không hiểu, hãy dụng tâm thương lượng để được
dạy cho mà hiểu, ở trong ấy chớ có lười biếng học
hỏi. Vô sự, hãy lui.
Có vị tăng hỏi Tổ Vân
Cư:
- Khi sáu cửa chẳng
rõ thì như thế nào?
Tổ Cư nói:
- Chẳng giao thiệp
với duyên.
Vị tăng hỏi:
- Thế nào là chuyện
hướng thượng?
Tổ Cư nói:
- Người cẩn thận thì
không giữ gìn.
Ngài Đầu Tử tụng
rằng:
Xuân đến,
người đá nhìn núi xa,
Oanh kêu, hoa gỗ sóng xanh nhàn.
Nên biết, ngoài mây, tùng, núi đẹp,
Nghìn xưa đón gió mặc năm hàn.
Hai câu đầu tụng về "Chẳng giao thiệp với duyên."
Hai câu sau tụng về "Chuyện hướng thượng." Cần rõ
được sự hướng thượng mới tin Mười Tám Giới vốn là
Tánh Chân Như vậy.
Kinh:
- A Nan, như chỗ ông
bày tỏ: Nhãn căn và sắc trần làm duyên, sanh ra Nhãn
Thức. Cái Thức này là nhân nhãn căn sanh ra, lấy
nhãn căn làm Giới; hay nhân sắc trần sanh ra, lấy
sắc trần làm Giới?
A Nan, nếu nhân nhãn
căn sanh ra, mà không có Sắc, có Không, thì không
thể phân biệt, dầu cho có cái Thức của ông cũng
chẳng làm gì. Cái Thấy của ông mà không có xanh,
vàng, trắng, đỏ thì không thể biểu hiện ra được, vậy
do đâu mà lập ra Giới?
Nếu nhân sắc trần
sanh ra, thì khi ở hư không, chẳng có sắc, lẽ ra cái
Thức của ông phải diệt mất, làm sao mà biết đó là hư
không? Nếu khi sắc trần biến đổi, ông cũng biết sắc
tướng biến đổi, mà cái Thức của ông chẳng biến đổi,
thế thì do đâu mà lập sắc trần làm Giới? Nếu theo
sắc mà biến đổi thì cái Giới không thành. Nếu không
biến đổi, tức là thường hằng, cái Thức đã từ sắc
sanh ra, lẽ ra không biết hư không ở chỗ nào.
Nếu do cả hai thứ
nhãn căn và sắc trần chung nhau sanh ra, thì hợp lại
ắt ở giữa phải có chỗ lìa; còn như lìa, ắt hai cái
có thể hợp lại. Như thế, thể tánh xen lộn, làm sao
thành được Giới?
Thế nên, phải biết:
Nhãn căn, sắc trần làm duyên sanh ra Nhãn Thức Giới,
cả ba chỗ đều không. Tức là cả ba thứ Nhãn Giới, Sắc
Giới và Nhãn Thức Giới vốn chẳng phải tánh Nhân
Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông rằng: Cái Mười
Tám Giới này, chỉ phá sáu Thức. Nói cái Thức này
chẳng phải từ mắt sanh ra mà lấy mắt làm Giới, vì
Thức thì phân biệt, nhưng nếu không có Sắc, Không
thì phân biệt dùng vào đâu?
Cái Thức này chẳng
phải từ sắc sanh ra mà lấy sắc làm Giới, vì sắc thì
có biến diệt, Thức thì không đổi thay, nếu chỉ từ
sắc mà ra thì làm sao biện "không"?
Thức ấy cũng không
nhân nhãn và sắc hợp lại mà làm ra Giới. Vì một bên
"có Biết" (nhãn căn) hợp với một bên "không Biết"
(sắc trần) ắt chống nhau, làm sao mà tương nhập? Nên
nói “Ở giữa phải có chỗ lìa”.
Bảo rằng lìa ngoài
nhãn và sắc mà sanh ư? Lìa căn tức là hợp với cảnh,
lìa cảnh tức phải hợp với căn, vậy Thức thuộc bên
nào? Thế nên mới nói “Xen lộn”.Ba chỗ đồng chẳng
phải, thì Giới ở đâu mà có?
Tổ Pháp Nhãn chỉ cây
tre, hỏi vị tăng:
- Thấy không?
Vị tăng đáp:
- Dạ, thấy.
Tổ Nhãn nói:
- Tre đến trong mắt
hay mắt đến bên tre?
Vị tăng nói:
- Đều chẳng phải như
thế.
Sau này, Tổ Pháp Đăng
riêng nói:
- Khi ấy, chỉ nên bửa
mắt ra mà ngó thầy.
Tổ Quy Tông Nhu riêng
nói rằng:
- Hòa Thượng chỉ là
chẳng tin hai chuyển ngữ của tôi lại có hơi thở của
thiền tăng.
Lại có vị tăng hỏi Tổ
Thiên Đồng Khải:
- Như thế nào là con
mắt ứng dụng không thiếu hụt?
Tổ Đồng nói:
- Vẹn giống như mù
một thứ!
Ngài Đơn Hà tụng
rằng:
Mù, ngọng,
điếc, câm xa Thiên Chân,
Mắt tợ lông mày: Đạo mới gần.
Đông Quân đ
êm
trước ngầm ban lệnh,
Chốn hoàng oanh hót liễu xanh xuân.
Ở
chỗ này mà tin được thấu đáo thì mặc tình ứng dụng
không thiếu hụt.
Kinh:
- A Nan, lại như chỗ
ông bày tỏ: Nhĩ căn và thanh trần làm duyên, sanh ra
Nhĩ Thức. Thức ấy nhân nhĩ căn sanh ra, lấy nhĩ căn
làm Giới, hay nhân thanh trần mà sanh ra, lấy thanh
trần làm Giới?
A Nan, nếu nhân nhĩ
căn sanh ra mà không có mặt hai tướng động, tĩnh thì
cái biết của căn chẳng thành. Mà
đã
không biết gì thì cái Biết còn không thành huống là
cái Thức phân biệt còn có hình dạng gì?
Nếu nhân lỗ tai nghe,
mà không có động, tĩnh cái Nghe cũng không thành,
làm sao lấy hình tướng lỗ tai trộn lẫn sắc trần, mà
gọi được là Nhĩ Thức Giới. Cái Nhĩ Thức Giới ấy do
đâu mà thành lập?
Nếu nhân thanh trần
mà sanh ra, thì cái Nhĩ Thức nhân thanh trần mà có,
bèn chẳng liên quan gì đến cái Nghe, mà
đã
không nghe, thì cũng không biết các tướng thanh trần
ở đâu. Nhĩ Thức mà do thanh trần sanh ra, dầu cho
rằng thanh trần do cái Nghe mà có tướng, thì cái
Nghe lẽ ra phải nghe được Nhĩ Thức. Nếu không nghe
được Nhĩ Thức thì thanh trần chẳng phải là Giới của
Nhĩ Thức. Còn nếu nghe được, thì Nhĩ Thức cũng đồng
với thanh trần. Nhĩ Thức đã bị nghe, thì cái gì biết
sự nghe được cái Nhĩ Thức đó? Còn nếu không ai biết
thì rốt cuộc giống như cỏ cây.
Chẳng lẽ thanh trần
và cái Nghe trộn lẫn thành ra cái Giới ở giữa? Giới
không có ở giữa thì các tướng nội căn, ngoại trần do
đâu mà thành?
Thế nên, phải biết:
Nhĩ căn, thanh trần làm duyên sanh ra Nhĩ Thức Giới,
cả ba chỗ ấy đều không. Tức là ba thứ Nhĩ Giới,
Thanh Giới và Nhĩ Thức Giới vốn chẳng phải là tánh
Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông rằng: Tiểu thừa
cho rằng “Nhân Duyên sanh ra pháp”, lấy đó làm thật
có, chẳng hiểu được “Tức Không” nên Phật căn cứ vào
chỗ Nghe, Thấy thường ngày ấy mà phá bỏ.
Nếu nhân nhĩ căn mà
sanh ra, thì nhĩ căn có Thắng Nghĩa Căn và Phù Trần
Căn. Thắng Nghĩa Căn biết phân biệt, nhưng nếu không
có thanh trần tiếp xúc thì cái Biết còn không có,
huống là có hình tượng gì? Phù trần căn thì dù có
xen tạp với sắc trần, mà nếu không có hai tướng
động, tĩnh thì cái Nghe còn không có, huống là có
Thức Giới! Cho nên, nếu nói “Nhĩ Thức nhân Nhĩ Căn
sanh ra”, là sai lầm.
Nếu nhân thanh trần
mà sanh ra, thế thì thanh trần đã tự có Nhĩ Thức,
cần gì đến tai nghe? Đã không có người nghe, thì ai
phân biệt được các thanh trần? Nếu nói nương nhau mà
sanh, cho là thanh trần nhân cái Nghe mà có tướng,
thì cũng phải cho rằng cái Nghe nhân thanh trần mà
nghe được Nhĩ Thức. Nhĩ Thức đã bị nghe, thì cũng
chỉ là thanh trần, thì còn cái gì làm năng tri để
biết rằng đã nghe Nhĩ Thức? Nếu cùng cái Biết, thì
thành ra có hai cái Thức! Còn nếu không có cái Biết,
thì đồng với cỏ cây. Nên nói “Thức sanh ra nơi Thanh
Trần” là sai lầm vậy.
Nếu nói rằng “Thanh
Trần và cái Nghe hòa hợp mà sanh ra Nhĩ Thức”, thì
một bên là có Biết, một bên là không có Biết, giữa
khoảng Biết và Không Biết đó, làm sao mà trộn lẫn để
thành ra cái Giới? Cái Giới ở giữa đã không có, thì
Thức không chỗ nương, thế thì nội căn, ngoại trần do
đâu mà thành lập? Nên nói “Thanh Trần và cái Nghe
hòa hợp mà sanh” là sai lầm vậy.
Ba chỗ đều không, thì
Nhĩ Thức chẳng sanh, nên biết cái Nhĩ Thức vô sanh
ấy tức là Tánh Chân Như vậy.
Có lần, Đức Thế Tôn
đang ngồi dưới cây Ni Câu Luật, có người đi buôn
hỏi:
- Ngài có thấy xe đi
qua không?
Ngài nói:
- Chẳng thấy.
Lại hỏi:
- Lại có nghe chăng?
Đáp:
- Chẳng nghe.
Hai người đi buôn
hỏi:
- Không thiền định
sao?
Đáp:
- Không thiền định.
Hỏi:
- Không phải ngủ sao?
Đáp:
- Không ngủ.
Người đi buôn tán
thán:
- Lành thay! Lành
thay! Thế Tôn thường biết mà chẳng thấy!” Bèn cúng
dường lên hai cây vải trắng.
Có vị sư hỏi thiền sư
Hà Trạch Thần Hội:
- Khi cái thấy, nghe
chiếu thanh, sắc thì đồng thời hay có trước sau?
Tổ Hội nói:
- Đồng thời hay trước
sau hãy để đó. Rốt ráo, ông lấy cái gì làm thanh,
sắc?
Vị sư nói:
- Như chỗ chỉ bày của
thầy, thì không có thanh, sắc nào khá được.
Rồi quỳ lạy mà
đi
ngay hôm đó. Sau sư ở ẩn tại núi Mông.
Có vị Tam Tạng xứ
Thiên Trúc tên là Thanh Minh đến xứ Mân. Vua xứ Mân
mời Ngài Huyền Sa đến để nghiệm luận.
Tổ Sa lấy chiếc đũa
sắt gắp lửa gõ vào cái lư đồng, rồi hỏi:
- Đó là tiếng gì?
Vị Tam Tạng đáp:
- Tiếng đồng sắt.
Tổ Sa nói:
- Đại Vương chớ để
người ngoại quốc lừa dối!
Vị Tam Tạng không đáp
được.
Ngài Thiên Đồng nêu
ra rằng:
- Hợp với Lý thì đó
là Thần: gã nghèo được viên ngọc trong tay áo. Bị
Tình gói kín thì đó là Vật: người lực sĩ mất viên
ngọc trên trán! Vị Tam Tạng chỉ biết nhìn tới trước.
Ngài Huyền Sa lại chẳng thể ngó lui. Hiểu được
chăng? Đặt bày điều tội cho người thì tội càng lớn.
Cái tắc công án này,
các vị tôn túc nói rất nhiều.
Vị Tam Tạng nói:
- “Tiếng đồng sắt”
thì rõ ràng đuổi theo thanh trần rồi vậy.
Tổ Pháp Nhãn riêng
nói:
- Thỉnh Đại Sư làm
Đại Vương.
Tổ Pháp Đăng riêng
nói:
- Hãy nghe Hòa Thượng
hỏi!
Tổ Tuyết Đậu nói:
- Chớ lừa dối người
ngoại quốc thì tốt.
Ở chỗ vị Tam Tạng
không trả lời được, Ngài Pháp Nhãn thay thế mà nói
rằng:
- Đại Sư đã hưởng thọ
lâu rồi sự cúng dường của Đại Vương. Tổ Pháp Đăng
nói thay:
- Ấy là Hòa Thượng
lừa dối Đại Vương!” Câu nói này rất có ý vị, đó là
chỗ Ngài Thiên Đồng nói “Đặt bày điều tội cho người
thì tội lại càng lớn” đó vậy.
Cứ theo ý Tổ Huyền Sa
thì gọi cái gì là tiếng đồng sắt? Còn theo ý vị Tam
Tạng thì gọi cái gì chẳng phải là tiếng đồng sắt?
Hai lời này rất dễ lừa người. Phải mỗi mỗi đều nhìn
thấu mới chẳng bị người lừa.
Kinh:
- A Nan, lại như chỗ
ông bày tỏ: Tỷ căn và hương trần làm duyên, sanh ra
Tỷ Thức. Thức ấy nhân tỷ căn sanh ra, lấy tỷ căn làm
Giới, hay nhân hương trần sanh ra, lấy hương trần
làm Giới?
A Nan, nếu nhân tỷ
căn sanh ra, thì trong tâm ông, lấy cái gì làm tỷ
căn? Lấy cái hình tướng mũi thịt như hai móng tay,
hay lấy sự ngửi biết lay động làm tỷ căn?
Nếu lấy cái hình
tướng mũi thịt, thì chất thịt là thân và cái biết
của thân là cái cảm xúc. Đã gọi là thân thì không
phải là lỗ mũi, gọi là cảm xúc thì thuộc về trần.
Vậy còn không có gì để gọi là tỷ căn, làm sao mà
Giới được thành lập?
Nếu lấy cái Ngửi Biết
làm tỷ căn, thì trong tâm ông lấy cái gì làm cái
biết? Nếu lấy lỗ mũi thịt, thì cái biết của chất
thịt là xúc trần, chứ không phải là tỷ căn. Nếu lấy
hư không làm cái Biết, thì hư không ắt tự biết, còn
xác thịt lẽ ra chẳng biết. Như thế, lẽ ra hư không
phải là ông! Thân ông mà chẳng biết, thì Ông A Nan
hiện giờ chẳng còn ở đâu nữa.
Nếu lấy cái hương làm
cái biết, thì cái biết thuộc về hương trần, nào dính
dáng gì đến ông?
Nếu mùi thơm, mùi
thối sanh ra do tỷ căn của ông, thì hai mùi thơm,
thối kia không sanh ra do cây y lan và cây chiên đ
àn,
hai vật đó không đến, thì ông tự ngửi lỗ mũi là thơm
hay thối! Thối thì chẳng phải thơm; thơm thì không
phải thối. Nếu cả hai mùi thơm, thối đồng ngửi được
cả, thì một người ông phải có hai tỷ căn, đứng trước
Ta hỏi đạo lại có hai A Nan, thế thì ai mới là cái
thể của ông? Nếu tỷ căn là một, thì thơm, thối không
hai. Thối đã thành thơm, thơm đã thành thối, hai
tánh đó đã không có, thì Giới do đâu mà thành lập?
Lại nếu nhân hương
trần mà sanh, thì Tỷ Thức đã nhân hương trần mà có,
cũng như như nhân con mắt mà có Thấy, thì không thể
thấy con mắt: Tỷ Thức nhân hương mà có, lẽ ra không
biết được hương trần. Nếu biết được hương trần thì
không phải do hương trần sanh ra, còn nếu không biết
được hương trần thì không phải là Tỷ Thức. Hương
trần mà không biết là có, thì cái Giới của hương
không thành. Tỷ Thức mà không biết hương trần, thì
cái Giới của nó không phải do hương trần mà lập. Đã
không có cái Thức ở khoảng giữa thì nội căn, ngoại
trần cũng không thành, thì các thứ Ngửi Biết kia rốt
ráo là hư vọng.
Thế nên, phải biết tỷ
căn và hương trần làm duyên, sanh ra Tỷ Thức Giới,
cả ba chỗ đều không. Tức là ba thứ Tỷ Giới, Hương
Giới và Tỷ Thức Giới vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên,
chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông rằng: Cái Mũi
là Căn. Hương là Cảnh. Ở giữa hai cái ấy là Thức.
Phàm nói Giới là chuyên để chỉ Thức. Cái Thức này
không ở nơi Căn mà sanh, không ở nơi Hương mà sanh,
đại ý tương tợ, nhưng văn nghĩa có hơi phức tạp.
Mượn cảnh để phá căn,
thì Thức chẳng phải do hư không sanh, mà là ở giữa.
Ngay nơi cảnh mà phá căn, thì Thức chẳng do hòa hợp
mà sanh ra, cũng là dễ thấy. Ban đầu phá phù trần
căn, cái mũi thịt chẳng phải là cái Biết. Rồi phá
thắng nghĩa căn, lại không phải hư không là cái
Biết. Nếu cái Biết ở hương, thì can dự gì đến lỗ
mũi? Mà
đã
sanh ở lỗ mũi thì cần gì đến vật? Nếu đồng ngửi được
cả thơm thối, thì phải có hai mũi, vậy thì cái căn
đâu có đủ để căn cứ. Đã chỉ một cái mũi, sao lại có
hai mũi, vậy cái cảnh cũng không đủ làm bằng cớ. Do
đó, nói “Tỷ Thức do nơi Căn sanh”, là sai vậy.
Nếu nói “Tỷ Thức do
hương trần sanh ra”, thì đáng lẽ không biết được
hương, cũng như cái thấy do con mắt mà có ra thì
không thể trở lại thấy con mắt. Nếu nói là Biết, thì
hương trần tự có Thức, nào cần phải nói là sanh ra?
Nếu nói là không Biết, thì không thể gọi là Thức,
thì Giới do đâu mà lập? Do đó, nói rằng “Thức do
Hương Trần sanh”, là sai lầm vậy.
Hương trần đã không
thể tự biết mùi của nó, thì căn với trần lìa nhau,
chứ không thể hợp được. Mà Thức nếu từ hương trần
sanh ra, thì chẳng thể biết hương trần. Còn biết
được hương trần, thì hẳn là chẳng phải từ hương sanh
ra. Đó là căn, cảnh lìa nhau, vốn chẳng nương nhau
vậy. Nên nói rằng “Tỷ Thức do Căn và Cảnh hợp nhau
mà sanh”, là sai lầm vậy.
Cái Giới của hương
không thành, thì không thể ở giữa. Đã không có cái
giữa, lấy đâu có trong, có ngoài! Rõ là Tỷ Thức hư
vọng, vốn không xứ sở, bèn hiểu tánh Ngửi Biết là
Không, chẳng có tánh Nhân Duyên hay Tự Nhiên nào khá
được.
Phẩm Pháp Giới của
kinh Hoa Nghiêm:
Trưởng giả Chúc Hương
Ưu Bát La Hoa khéo phân biệt mà biết tất cả mùi
hương, cũng biết điều hòa tất cả Hương Pháp, cho đến
nơi chốn bay ra của Hương Vương. Lại khéo biết trị
các bệnh của hương, đoạn trừ các hương xấu, mà sanh
ra Hoan Hỷ Hương, tăng Trí Huệ Hương, diệt Phiền Não
Hương. Khiến ở Vô Vi mà sanh Ưa Luyến Hương, ở nơi
Hữu Vi mà sanh Chán Lìa Hương, xả bỏ các Kiêu Dật
Hương, phát tâm Niệm Phật Hương, chứng Giải Thoát
Pháp Môn Hương, Thánh Sở Thọ Dụng Hương, Nhất Thiết
Bồ Tát Sai Biệt Hương, Nhất Thiết Bồ Tát Địa Vị
Hương.
Ngài dạy:
- Ta chỉ biết môn
Điều Hòa Hương Pháp này, cũng như các Bồ Tát lìa xa
hết thảy các ác tập khí, chẳng nhiễm thế dục, cầu
cắt lìa lưới phiền não của bọn ma, vượt khỏi các nẻo
luân hồi. Lấy Trí Huệ Hương mà tự trang nghiêm, nơi
mọi thế gian đều không nhiễm trước, thành tựu đầy đủ
Giới “Không Chỗ Bám”, làm trong sạch Trí “Không
Bám”, Hành cái “Không Bám Cảnh”, nơi hết thảy chốn
đều không chỗ bám níu, tâm đều bình đẳng, không bám,
không nương”.
Xưa, có một tôn giả
đi qua hồ sen. Vị Thần sen trách rằng:
- Không được trộm
hương thơm của tôi.
Vị tôn giả bèn hỏi:
- Người đời qua lại,
ai chẳng ngửi mùi thơm, đâu chỉ một mình ta ngửi
trộm sao?
Vị Thần nói:
- Người đời tán loạn
tâm, nên chẳng gọi là trộm. Tôn giả đây tâm trong
sạch, nên có chút bám dính thì chẳng được!
Tỷ Thức chưa dễ hàng
phục vậy! Thế nên, hộ trì cái Tâm Vô Trước mà ngao
du cõi đời, đó là “Khéo phân biệt mà biết tất cả mùi
hương”, thì không gì mà chẳng có thể.
Kinh:
- A Nan, lại như chỗ
ông bày tỏ: Thiệt căn và vị trần làm duyên, sanh ra
Thiệt Thức. Thức ấy nhân thiệt căn sanh ra, lấy
thiệt căn làm Giới, hay nhân vị trần sanh ra, lấy vị
trần làm Giới?
A Nan, nếu nhân thiệt
căn sanh ra, thì trong thế gian mía ngọt; mơ chua;
hoàng liên đắng; muối mặn; tế tân, gừng, quế hết
thảy đều không có Vị. Ông tự nếm cái lưỡi, là ngọt
hay đắng? Nếu cái lưỡi là
đắng,
thì lấy cái gì để nếm cái lưỡi? Lưỡi chẳng thể tự
nếm, thì lấy gì mà có hay biết? Nếu lưỡi không đắng,
vị tự chẳng sanh ra, làm sao lập thành Giới?
Nếu nhân vị trần mà
sanh ra, thì Thiệt Thức đã là vị rồi, đồng như thiệt
căn, không thể tự nếm, làm sao mà biết là vị hay
chẳng phải vị? Lại tất cả các vị chẳng phải do một
vật sanh ra. Các vị đã do nhiều vật sanh ra, thì cái
Thiệt Thức nếu do vị trần sanh, cũng phải có nhiều
tự thể. Nếu Thiệt Thức là một thể và thể đó do vị
sanh ra, thì các vị mặn, nhạt, chua, cay, các tướng
khác nhau này phải chỉ là một vị, không thể phân
biệt. Không có phân biệt, thì không có Thức, làm sao
còn gọi là Thiệt Thức Giới? Chẳng lẽ hư không sanh
ra cái Thức Phân Biệt của ông?
Thế thì cái Thức ở
giữa do thiệt căn và vị trần hòa hợp mà sanh, vốn
không tự tánh, làm sao mà cái Giới có được?
Vậy nên phải biết:
Thiệt căn, vị trần làm duyên, sanh ra Thiệt Thức, cả
ba Xứ đều Không. Tức là Thiệt Giới, Vị Giới và Thiệt
Thức Giới vốn chẳng phải Tánh Nhân Duyên, chẳng phải
tánh Tự Nhiên.
Thông rằng: Ban đầu,
bác bỏ “Nhân thiệt căn sanh”, là phá cái lý Tự Sanh.
Thứ hai là bác bỏ “Nhân vị trần sanh”, là phá cái lý
Cái khác sanh. Thứ ba là bác bỏ “Hư không sanh”, là
phá cái lý Không nguyên nhân mà sanh. Thứ Tư bác bỏ
“Lưỡi và vị hòa hợp mà sanh”, là phá cái lý Chung
nhau sanh. Tức ở trong đó, vốn không tự tánh, thiệt
căn chẳng thể tự nếm mùi, mùi vị cũng chẳng tự nếm
biết, thì Thức do đâu mà sanh? Chính là hiển bày ý
chỉ Vô Sanh. Biết Thiệt Thức vốn Vô Sanh, thiệt căn
vốn tự trong sạch, tức là Diệu Chân Như Tánh vậy.
Xưa, có vị thiền sư
ăn uống hỗn tạp, không chọn lựa, nhiều đệ tử bắt
chước theo. Một bữa nọ, bày một bữa cúng ở chỗ thiêu
xác người chết, rồi lấy thịt thiêu còn sót, gồm
chung vào rồi ăn. Đệ tử đều ói mửa, chạy mất. Sư bèn
nói:
- Ta nhiều đời thanh
tịnh, nên mới không chọn lựa. Các ông có thể cùng
với ta ăn món này, mới nên duy trì việc ăn uống.
Từ đó, cả chúng sợ
hãi mà lo vâng giữ Giới Luật.
Tổ Tào Sơn cũng ưa
rượu.
Có vị tăng hỏi:
- Áo linh không khoác
thì như thế nào?
Đáp:
- Tào Sơn này trọn
hiếu! Hỏi:
- Trọn hiếu rồi thì
như thế nào?
Tổ đáp:
- Tào Sơn khoái rượu
từ Tôn Đảnh.
Có đệ tử tên là Thuế
Thanh, bạch hỏi:
- Đệ tử cô bần, xin
thầy cứu giúp.
Tổ Sơn gọi lớn:
- Thuế Xà Lê!
Sư Thuế ứng tiếng:
- Dạ!
Tổ Sơn nói:
- Rượu Thanh Nguyên
trắng trong, uống rồi ba chén sao còn bảo chưa thấm
môi! Tổ Huyền Giác nói:
- Ở chỗ nào mà cho là
có uống! Ba tắc này là: Tánh của Vị vốn Không, Thiệt
Thức cũng vốn Không. Liễu đạt mới gọi rằng “Biết mùi
vị”. Kinh:
- A Nan, lại như chỗ
ông bày tỏ: Thân căn và xúc trần làm duyên sanh ra
Thân Thức. Thân Thức này do thân căn sanh ra, lấy
thân căn làm Giới, hay nhân xúc trần sanh ra, lấy
xúc trần làm Giới?
A Nan, nếu nhân thân
căn sanh ra, mà không có hai cảm xúc hợp và lìa, thì
thân căn còn biết gì? Nếu nhân xúc trần sanh ra, mà
không có thân căn của ông, thì có ai chẳng có thân
mà lại biết chuyện hợp, lìa được?
A Nan, vật thì không
biết cảm xúc, thân căn có biết mới có cảm xúc. Tức
nơi cảm xúc, biết có thân. Tức nơi thân căn, mà biết
cảm xúc. Nhưng nơi Xúc, thì không phải là thân, nơi
thân thì không phải là Xúc. Hai tướng thân và xúc,
vốn không xứ sở. Nếu Xúc hợp với thân, thì làm thể
tánh của thân. Lìa thân thì chẳng có thể tánh nào,
bèn như tướng hư không. Nội căn, ngoại trần đã không
thành, cái Thức ở giữa làm sao mà lập? Giữa chẳng
lập được, trong ngoài đều là Tánh Không, thì cái
Thân Thức của ông do đâu mà lập thành Giới?
Thế nên, phải biết:
Thân căn và xúc trần làm duyên, sanh ra Thân Thức,
cả ba chỗ đều Không. Tức là cả ba thứ Thân Giới, Xúc
Giới và Thân Thức Giới vốn chẳng phải Tánh Nhân
Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông rằng: Câu “Vật
thì không biết cảm xúc”, nghĩa là vật có thể chạm
biết. Vật thì thật, cái Biết thì hư. Cái thật với
cái hư chẳng có tiếp xúc với nhau. Cho nên, vật thì
chỉ tiếp xúc với vật, không thể tiếp xúc với cái
Biết. Một chữ Biết này bày rõ ràng ra cái Pháp Thân
trong sạch, chẳng phải là chỗ mà sự chạm xúc có thể
tới được. Cái Thân biết có cảm xúc là do sắc thân
phân biệt mà Biết, lấy hai chỗ hợp, lìa làm duyên.
Cảm xúc không lìa thân căn, thân căn cũng không lìa
cảm xúc. Nhưng nói cảm xúc thì chẳng phải là thân
căn, nói thân căn thì chẳng phải là cảm xúc, hai cái
ấy thật là không thể xác định. Do đó, nếu hợp lại
thì chỉ có một thân thể, mà cái Cảm Xúc ở tại đâu?
Nếu lìa nhau, thì Xúc không còn, đồng như hư không
vậy. Cả hai đều không có ở đâu, trong ngoài đều
không thành tựu. Thân và Xúc đều không nơi chốn, thì
Thân Thức do đâu mà thành lập? Đã không có cái Thức
ở giữa, thì căn và cảnh rốt ráo là không. Thế nên
biết cái Thân Thức Giới chỉ là hư vọng.
Thiền sư Nam Nhạc Huệ
Tư đã đắc túc mạng thông, bỗng nhiên lại bị nghiệp
chướng khởi lên, tay chân rũ liệt, không thể đi
đứng. Ngài tự nghĩ rằng: “Bệnh từ nghiệp sanh,
nghiệp từ tâm khởi. Nguồn tâm vốn chẳng khởi, ngoại
cảnh đâu có hình trạng gì? Bệnh, nghiệp và thân đều
như bóng mây!” Quán như thế, tướng điên đảo diệt,
nhẹ nhàng yên ổn như xưa. Như Ngài mới có thể nói là
rõ thấu Thân Thức là hư vọng vậy.
Thiền sư Hưng Dương
Phẩu nằm bệnh.
Ngài Đại Dương đến
thăm, hỏi:
- Thân này như bọt
huyễn, mà có ở trong bọt huyễn mới thành biện xét.
Nếu không có cái bọt huyễn này, thì chuyện đại sự
chẳng do đâu mà nghiệm xét. Nếu muốn xét chuyện đại
sự, thì Thức lại giữ lấy cái bọt huyễn này, làm sao
đây?
Tổ Phẩu nói:
- Vẫn còn là chuyện
bên này.
Đại Dương hỏi:
- Thế chuyện bên kia
thì làm sao?
Tổ Phẩu nói:
- Quanh đất vừng hồng
đẹp, đáy biển chẳng trồng bông.
Đại Dương cười nói:
- Ông còn tỉnh táo
không?
Tổ Phẩu quát:
- Sắp nói ta quên mất
à!
Rồi liền tịch.
Như Tổ Hưng Dương
Phẩu có thể nói là thấu rõ cái Pháp Thân Hướng
Thượng Sự vậy.
Có vị sư hỏi Ngài Đại
Long:
- Sắc thân thì hư
hoại, như thế nào là cái Pháp Thân kiên cố?
Tổ Long nói:
- Hoa núi nở dường
gấm. Nước khe trong như lam.
Ngài Tuyết Đậu tụng
rằng:
Hỏi, từng
chẳng biết,
Đáp, lại chẳng hiểu.
Trăng lạnh gió cao, đỉnh xưa thông lạnh,
Cười vui thay.
Giữa đường gặp được người đắc đạo,
Chẳng lấy nói, im đối đãi cùng.
Tay cầm roi bạch ngọc đánh vụn ngọc Ly Châu,
Đánh chẳng nát, thêm dấu vết!
Nước có hiến chương, thêm ba ngàn điều tội!
Theo bài tụng này thì cái Kiên Cố Pháp Thân còn phải
đập cho nát, huống là cái Sắc Thân đó ư?
Kinh:
- Lại như chỗ ông bày
tỏ: Ý căn và pháp trần làm duyên, sanh ra Ý Thức.
Thức đó là nhân ý căn sanh ra, lấy ý căn làm Giới,
hay nhân pháp trần sanh ra, lấy pháp trần làm Giới?
A Nan, nếu nhân ý căn
sanh ra, thì trong ý ông chắc phải có chỗ suy nghĩ
mà phát rõ ra cái ý của ông; nếu không có các pháp
trần thì ý không có chỗ sanh ra. Lìa các duyên trần,
ý căn còn không có hình tướng, thì cái Thức đem dùng
vào chỗ nào?
Lại cái Thức Tâm của
ông cùng các sự nghĩ suy, các sự rõ biết là
đồng
nhau hay khác nhau. Nếu đồng với ý căn, tức là ý căn
rồi, làm sao lại do ý căn sanh ra? Nếu khác mà không
đồng với ý căn, thì lẽ ra không có biết gì. Nếu
không có chỗ Biết, thì làm sao lại do ý căn sanh ra?
Còn nếu có chỗ Biết, làm sao biết được ý căn? Khi
hai tánh đồng nhau và khác nhau đều không thành,
Giới do đâu mà lập?
Nếu Ý Thức do pháp
trần sanh ra, thì các pháp trong thế gian không
ngoài năm Trần. Ông hãy xem các pháp sắc, thanh,
hương, vị, xúc đối với năm căn đều có hình tướng rõ
ràng, chẳng phải chỗ thu nhiếp của ý căn. Nếu Ý Thức
của ông quyết định nương nơi pháp trần mà sanh ra,
thì ông hãy xem xét kỹ, mỗi pháp có hình trạng gì?
Nếu lìa ngoài sắc không, động tĩnh, thông bít, lìa
hợp, sanh diệt, vượt ngoài các tướng này, rốt ráo là
không chỗ đắc. Sanh thì các pháp Sắc Không đều sanh
ra, diệt thì các pháp Sắc Không đều diệt. Các nguyên
nhân đã không, thì cái thức có là do chúng sanh ra,
nào có hình tướng gì đâu? Tướng trạng không thể có,
Giới do đâu mà sanh?
Thế nên, phải biết: Ý
căn, pháp trần làm duyên, sanh ra Ý Thức, ba chỗ này
đều không. Tức là ba thứ Ý Giới, Pháp Giới và Ý Thức
Giới vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh
Tự Nhiên.
Thông rằng: Cái Ý
Thức Giới này là Tánh Hiểu Biết, Phân Biệt của Thức
Thứ Sáu. Đã lấy sự Biết do Phân Biệt làm tánh, thì
lìa ngoài pháp hẳn không có duyên, ý bèn chẳng sanh.
Lìa Duyên thì vô hình, vậy Ý Thức dùng vào đâu? Thế
thì cái Thức duyên theo pháp này, rõ ràng không sanh
ra nơi ý căn. Nếu nói ý căn hay phân biệt mà sanh ra
Ý Thức, vậy thì Thức Thứ Bảy làm chỗ nương cho sự
nhiễm, tịnh và Thức Thứ Tám là Thức Tâm làm chỗ
nương dựa căn bản của mọi Thức, đối cùng Thức Thứ
Sáu có tánh hiểu biết do phân biệt là
đồng
hay là khác?
Kinh Lăng Già nói:
- Tâm (Thức Thứ Tám)
hay tích nhóm Nghiệp Ý (Thức Thứ Bảy), hay mở rộng
sự tích nhóm, hiểu biết do phân biệt gọi là Thức,
đối đãi với hiện cảnh thì có năm Thức.
Luận Duy Thức nói:
- Tập Khởi gọi là
Tâm, suy lường gọi là Ý, hiểu biết cảnh gọi là Thức.
Chỉ là một pháp mà khác tên. Đã duy chỉ một pháp,
đều có thể gọi là Tâm, đều có thể gọi là Ý, đều có
thể gọi đó là Thức. Nhưng sự tinh vi ấy có thể biện
biệt, có nhiều thứ ấy mà
đặt
tên vậy.
Ở trong Thức Thứ Tám,
Ý và Thức đều không còn, nên chỉ có thể gọi là Tâm.
Ở Thức Thứ Bảy, chẳng
phải Tâm, chẳng phải Thức, chỉ có thể gọi là Ý.
Ở Thức Thứ Sáu, thì
Tâm và Ý đều đối đãi với Cảnh, nên gọi là Thức Phân
Biệt sự vật.
Kỳ thật chỉ là một.
Như biển khởi sóng: không khác cũng không không
khác. Thức Thứ Sáu đuổi theo Trần sanh ra Gió Cảnh
Giới, liền khởi động các sóng Suy Lường của Thức Thứ
Bảy, mà thật chẳng rời cái biển lặng chứa của Thức
Thứ Tám. Ba Thức này chẳng phải đồng, chẳng phải
khác, cứ hãy tạm để đó.
Bây giờ, nói về
chuyện Ý sanh ra Thức. Nếu nói Thức đồng với Ý thì
Thức là Ý, làm sao gọi Ý là cái Năng Sanh và Thức là
cái Được Sanh? Nói là
đồng
thì không được vậy. Nếu nói Thức khác với Ý, hoàn
toàn chẳng đồng thì một cái thuộc hữu tình, một cái
thuộc vô tình, lẽ ra không có chỗ Biết, vậy bảo khác
nhau thì không thể được. Nếu không có chỗ Biết, thì
chắc chẳng phải do Ý sanh. Ý phân biệt được cái chỗ
Sở Sanh thì phải có cái Thức ở trong ấy. Nếu có chỗ
để biết, thì khi Ý sanh mà không có pháp nào để
duyên, thì chỉ có cái Ý làm sao mà tự biết cái Ý?
Nếu cho là Biết cái Ý, thì cái Ý trở lại thành cảnh,
không còn là căn được. Nếu không biết cái Ý, lại
giống như không có Thức, thì sao nói là Ý sanh Thức?
Rời ngoài pháp mà tìm
cái Thức, rất khó hình dung: nếu nói là
đồng,
thì không còn có thể gọi là Sanh ra; nếu gọi là khác
thì không thể gọi được là Thức. Thế là hai tánh đồng
nhau, khác nhau đều không thành tựu. Thức không có
chỗ định, Giới làm sao lập thành? Do đó mà nói Thức
do căn sanh là hư vọng vậy.
Nếu nói Thức duyên
với pháp trần mà hiện, nhân pháp mà có sanh ra, thế
thì phải có pháp khá hình dung ra được rồi mới có
thể làm Nhân. Nay các pháp của thế gian chẳng thể
ngoài năm trần, đối đãi năm căn, và làm cái sở nhân
của năm Thức. Ý có thể lìa ngoài năm Trần này mà
riêng có tướng trạng của các pháp để làm sở nhân
không? Cái nội cảnh mà Ý tự duyên, tuy không nhờ năm
căn bên ngoài nhưng rốt cuộc không thể ra khỏi bóng
dáng của Sắc Không, sanh diệt... các pháp. Dầu có
duyên các pháp xuất thế gian là Phi Sắc, Phi Không,
Bất Sanh Bất Diệt nhưng cái phi sắc phi không cũng
do Sắc Không mà hiển, cái bất sanh bất diệt cũng do
sanh diệt mà bày. Rốt là chẳng có thể rời ngoài Sắc
Không, sanh diệt mà có riêng được cái pháp trần để
làm nhân sanh Thức. Ở nơi năm Trần mà tìm pháp thì
Trần là nhân của ngũ căn, chẳng phải là nhân của Ý.
Mà rời năm Trần để cầu pháp, thì không có pháp nào
để được. Đã không thể đắc, thì không có Nhân vậy.
Nhân mà không có, lấy gì sanh ra? Nếu không có Nhân
mà nói là có Thức sanh ra, thì Thức này chẳng thể
nào phân biệt các pháp. Còn nếu phân biệt được các
pháp thì tạo ra được tướng trạng gì? Tướng trạng
không có, Thức thật chẳng sanh. Nên nói là nhân pháp
mà Thức sanh là sai lầm vậy. Đã chẳng phải Ý sanh,
lại chẳng phải Pháp sanh, thì Ý Thức ở tại chốn nào?
Không có nơi chốn, tức là chốn Chân Thật vậy.
Xưa, Thượng Tọa Quốc
Thanh Tịnh hỏi Tổ Trường Sa:
- Như trong kinh dạy:
không thể lấy cái tâm có chỗ biết mà
đo
lường nổi cái Tri Kiến Vô Thượng của Như Lai, thế
thì làm sao?
Tổ Sa nói:
- Ông hãy nói xem:
cứu xét cho cùng cái tâm có chỗ biết này, lại có đo
lường nào được nổi chăng? Theo đó mà tin nhập.
Sau này, có vị tăng
hỏi:
- Đệ tử mỗi đ
êm
ngồi thiền, tâm niệm tán loạn, chưa biết cách nào
nhiếp phục. Xin thầy chỉ bảo.
Ngài Quốc Thanh Tịnh
trả lời:
- Nếu ban đ
êm
ngồi tịnh mà niệm niệm lăng xăng, thì lấy cái tâm
lăng xăng đó cứu xét cái chỗ lăng xăng. Thấy là nó
không có xứ sở, thì cái tâm niệm lăng xăng đó đâu
còn! Cứ xét ngược lại cái tâm, thì cái tâm cứu xét
đó đâu có tại chỗ nào. Trí chiếu soi vốn không, cái
cảnh để duyên cũng tĩnh lặng vậy. Chiếu mà chẳng
chiếu, tuyệt không có cảnh để chiếu soi vậy. Cảnh,
Trí đều tịch diệt, tâm lượng an nhiên. Ngoài chẳng
tìm cầu lấy sự tán loạn, trong chẳng trụ nơi định
tĩnh. Hai đường dứt bặt, một Tánh suốt nhiên. Đây là
yếu đạo về nguồn vậy.
Tổ Dược Sơn đang
ngồi, có vị tăng hỏi:
- Ở cái chỗ bằng
phẳng, suy nghĩ cái gì?
Tổ Sơn nói:
- Suy nghĩ cái thật
chẳng có suy nghĩ.
Hỏi:
- Cái chẳng suy nghĩ
đó, làm thế nào suy nghĩ?
Tổ Dược Sơn nói:
- Tuyệt chẳng suy
nghĩ!
Có vị tăng hỏi thiền
sư Thục Châu Tây:
- Thế nào là chỗ Phi
Tư Lượng?
Ngài đáp:
- Ai thấy một chấm
trong đ
êm
tối giữa hư không?
Ngài Đơn Hà tụng
rằng:
Một điểm
linh minh, sáu chẳng thâu,
Rõ thay, nào phải sững mắt vào.
Tin tức trong kia, người khó rõ,
Chỉ có hư không một điểm mù.
Dịch:
Nhất điểm linh minh lục bất thâu,
Chiêu nhiên hà dụng cánh ngưng mâu.
Cái trung tiên tức nhân nan ủy,
Độc hữu hư không ám điểm đầu.
Cho nên, rõ được chỗ Tâm Thức chẳng thể đến được,
bèn thấu suốt nguồn cội của Thức vậy.
I. THU
BẢY ĐẠI
Kinh: Ông A Nan bạch Phật:
- Thưa Thế Tôn, Như
Lai thường nói về Nhân Duyên Hòa Hợp rằng tất cả các
thứ biến hóa trong thế gian đều do bởi bốn Đại hòa
hợp mà phát hiện ra. Thế sao Như Lai đều bài bác cả
hai nghĩa Nhân Duyên và Tự Nhiên? Nay tôi không biết
nghĩa ấy thế nào, xin Phật rủ lòng thương xót khai
thị cho chúng sanh nghĩa rốt ráo của Trung Đạo,
không còn các pháp hý luận.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn
bảo Ông A Nan rằng:
- Trước ông đã chán
lìa các pháp Tiểu Thừa Thanh Văn, Duyên Giác mà phát
tâm quyết cầu Bồ Đề Vô Thượng, nên ta nay vì ông mà
khai thị cái Đệ Nhất Nghĩa Đế, sao ông lại còn đem
những thứ vọng tưởng Nhân Duyên, hý luận của thế
gian mà tự trói buộc? Ông tuy là nghe nhiều mà như
người nói tên vị thuốc, đến khi thuốc thật ở trước
mắt lại chẳng hề phân biệt được. Như Lai bảo thế
thật là
đáng
thương xót! Nay ông hãy nghe kỹ, ta sẽ vì ông phân
biệt khai thị. Cũng để cho những người tu Đại Thừa
mai sau thông đạt cái Thật Tướng.
Ông A Nan lặng yên,
kính vâng Thánh Chỉ của Phật.
Thông rằng: Ông A Nan
mong Thế Tôn khai thị Trung Đạo. Nếu cho thật tại là
Nhân Duyên Hòa Hợp của thế gian, thì mắc vào Có
(Hữu). Nếu bài bác cả hai thứ Nhân Duyên và Tự Nhiên
thì lại chìm đắm vào Không. Cái chẳng phải Có, chẳng
phải Không mới là Trung Đạo. Ông không biết cái Bồ
Đề Vô Thượng là cái Trung Đạo không chỗ bám nắm, mới
là Đệ Nhất Nghĩa Đế vậy. Cái Đệ Nhất Nghĩa Đế này
siêu khỏi mọi Ấm, Nhập, Xứ, Giới chẳng phải phải
tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên. Thấy các
Tướng chẳng phải Tướng, tức đó là Đại Thừa Thật
Tướng.
Ông A Nan muốn rời bỏ
Tiểàu Thừa mà cầu cái Bồ Đề Vô Thượng. Nay chỉ cho
đó là Tánh Diệu Chân Như, thì hoang mang ngơ ngác,
chẳng hiểu ra sao, như người nói ra tên thuốc, mà
cái chơn dược ở ngay trước mắt lại chẳng có hay.
Thật đáng thương xót! Than ôi, thuốc nào có dễ biết!
Bồ Tát Văn Thù một
ngày nọ bảo đồng tử Thiện Tài đi hái thuốc.
Ngài nói:
- Cái gì là thuốc hãy
hái mang về.
Thiện Tài xem khắp
đại địa không có gì chẳng phải là thuốc, trở về bạch
rằng:
- Không có cái gì mà
chẳng phải là thuốc.
Ngài Văn Thù nói:
- Cái gì là thuốc hái
mang về đây.
Thiện Tài bèn ngay
trên mặt đất ngắt lên một cọng cỏ, đưa cho Ngài Văn
Thù. Ngài Văn Thù cầm lấy, đưa lên cho đại chúng
xem, rồi nói:
- Thuốc này cũng hay
giết người, cũng hay cứu người.
Tổ Vân Môn nói:
- Thuốc và bệnh hiện
hữu vì nhau, khắp cõi đất là thuốc, cái gì là tự kỷ?
Ngài Tuyết Đậu tụng rằng:
Khắp cõi
đất là thuốc.
Xưa nay sao quá lầm,
Đóng cửa chẳng làm xe (để dùng).
Đường thông tự trống rộng,
Lầm, lầm!
Lỗ mũi xa trời cũng xuyên suốt!
Theo ý bài tụng ngày thì chân dược hiện tiền ấy cũng
cần mửa ra hết, huống là cái chuyện chẳng thể phân
biệt của A Nan!
Kinh:
- A Nan, như chỗ ông
nói: Tứ Đại hòa hợp phát hiện ra các thứ biến hóa
trong thế gian. A Nan, nếu các Đại ấy tánh chẳng
phải hòa hợp thì không thể trộn lẫn với các Đại
khác, cũng như hư không không thể hòa hợp được với
các sắc. Nếu tánh của các Đại là Hòa Hợp, thì cũng
đồng như các thứ biến hoá, trước sau hóa thành lẫn
nhau, sanh diệt nối nhau, sanh rồi diệt, diệt rồi
sanh, sanh sanh diệt diệt như vòng lửa quay tròn,
chưa hề ngừng nghỉ. A Nan, như nước thành băng, băng
trở lại thành nước.
Thông rằng: Nếu nói
tứ Đại chẳng phải hòa hợp, thì chẳng phải nghĩa Chân
Như tùy duyên, đồng như ngoan không mà thôi. Nếu nói
tứ Đại nhất định phải hòa hợp, thì chẳng phải là
nghĩa Chân Như bất biến, giống như biến hóa mà thôi.
Như nước thành băng, băng trở lại thành nước, tứ Đại
vốn là Như Lai Tạng Tánh, chẳng phải ngoài nước mà
có băng. Nước hòa với cái gì mà thành băng? Băng hòa
với cái gì mà thành nước?
Vốn chỉ là một vật,
không có cái gì khác hòa lẫn vào. Tìm cầu tướng hòa
hợp rõ là chẳng thể có, do đó, thật chẳng phải hòa
hợp mà cũng chẳng phải không hòa hợp. Chỉ vì mê thì
Chân Như là bốn Đại: như nuớc thấy thành băng. Ngộ,
thì tứ Đại là Chân Như: như băng vốn là nước. Nước
vốn là một mà thôi vậy.
Có vị tăng hỏi Tổ Lâm
Tế:
- Thế nào là bốn cảnh
vô tướng?
Tổ Lâm Tế nói:
- Ông khởi một niệm
tâm Nghi, bèn bị Đất ngăn ngại. Ông khởi một niệm
tâm Ái, bèn bị Nước nhận chìm. Ông khởi một niệm tâm
Sân, liền bị Lửa cháy thiêu. Ông có một niệm tâm Hỷ,
liền bị Gió thổi bay. Nếu hay rõ ràng được như thế,
Cảnh nào trói buộc nổi? Chốn chốn đều dùng được
Cảnh: Đông mọc Tây lặn, Nam mọc Tây chìm, giữa nổi
bên chìm, bên nổi giữa chìm. Đi trên nước như trên
đất, vào đất như nước. Do sao mà vậy? Vì thấu suốt
bốn Đại như mộng như huyễn vậy. Này các đạo lưu! Nay
đây cái nghe pháp là ông, chẳng phải là tứ Đại của
ông, mà hay dùng tứ Đại của ông. Thấy được như thế,
thì bèn đi hay ở đều tự do.
Xem như lời Tổ Lâm Tế
thì đi đâu cũng là nước, làm gì có băng đâu?
Tổ Dược Sơn nhân có
thí chủ cúng dường bộ thường phục. Đưa ra trước
chúng, nói rằng:
- Pháp Thân có đủ bốn
Đại hay không? Nói được, thì cho một áo lá.
Ngài Đạo Ngô nói:
- Tánh đất chẳng phải
là Không. Không chẳng phải là tánh đất. Đó là Đại
Địa. Ba Đại kia cũng thế.
Tổ Sơn nói:
- Cho ông một cái áo
lá. Chỗ thấy của Ngài Đạo Ngô sao lại trái ngược với
kinh này? Thử tham xem!
Kinh:
- Ông hãy xét cái
tánh của Địa Đại: thô lớn thì làm đất liền, nhỏ nhặt
thì làm vi trần, cho đến lân hư trần, do chia chẻ
cái sắc cực vi nhỏ nhất làm bảy phần mà thành. Nếu
chẻ lân hư trần nữa, thì thật là tánh hư không.
A Nan, nếu cái lân hư
trần đó chẻ ra thì thành hư không, vậy thì biết hư
không sanh ra sắc tướng. Nay ông hỏi rằng: Do hòa
hợp mà sanh ra các tướng biến hóa trong thế gian,
thì ông hãy xét một cái lân hư trần dùng bao nhiêu
hư không hòa hợp lại mà có? Không lẽ lân hư trần hợp
lại thành lân hư trần? Mà lân hư trần đã chẻ ra được
thành hư không, thì dùng bao nhiêu sắc tướng để hợp
thành hư không? Nếu sắc hợp lại thì hợp sắc không
thể thành hư không. Nếu hư không hợp lại, thì hợp hư
không làm sao ra thành sắc? Sắc có thể chẻ ra được,
chứ hư không làm sao mà hợp lại được?
Ông vốn chẳng biết,
trong Như Lai Tạng: Tánh Sắc là Chân Không, Tánh
Không là Chân Sắc, bản nhiên thanh tịnh, tròn khắp
pháp giới, tùy tâm chúng sanh ứng ra chỗ hay biết,
theo nghiệp mà hiện bày. Thế gian không biết, lầm
cho là Nhân Duyên hay Tự Nhiên. Đó đều là thức tâm
phân biệt, đo lường: chỉ có lời nói, danh tự, toàn
không có thật nghĩa.
Thông rằng: Bài tụng
Pháp Giới rằng:
Có ai muốn
biết lý Chân Không,
Chân Như trong tánh hiện khắp ngoài.
Tình với vô tình chung một thể,
Chốn chốn đều đồng Pháp Giới Chơn!
Đây là yếu chỉ của bảy Đại.
Chân Không là cái Thể
Nhất Như vậy. Bảy Đại là cái Dụng duyên theo nghiệp
vậy. Thể, Dụng không hai, nương nhau mà hiển, chẳng
lìa Diệu Tánh, nên mỗi mỗi đều là Tánh. Duy chỉ một
Tánh. Không là Tánh Không, Sắc là Tánh Sắc, bèn Tức
Không, Tức Sắc, đó là Diệu Hữu, đó là Diệu Chân Như
Tánh vậy. Không sa vào Hữu, Vô nên nói là thanh
tịnh, mà chưa từng chẳng Hữu, Vô nên gọi là Bản
Nhiên. Là trong sạch, tức nhân duyên chẳng thể ô
nhiễm. Là Bản Nhiên, tức chẳng phải hòa hợp mà
thành. Cái gì mà từ nhân duyên hay hòa hợp sanh, đó
chỉ là hình tướng, có nơi chốn làm sao mà
đầy
khắp pháp giới? Duy chỉ chẳng từ nhân duyên hay hòa
hợp mà sanh thì không hình tướng, không xứ sở nên
toàn khắp pháp giới. Toàn khắp pháp giới là Tánh,
thì có gì chẳng phải là Thất Đại? Toàn khắp pháp
giới là Thất Đại thì có gì chẳng phải là Tánh?
Tâm Như Lai chỉ một
vị Thanh Tịnh, chỉ một vị Bản Nhiên, chỉ một vị Toàn
Khắp nên không thể biết, không thể lường. Tâm của
chúng sanh thì ở nơi cái Thanh Tịnh ấy lại có thời
gian mà ô nhiễm. Ở trong cái Bản Nhiên ấy lại có
thời gian mà chẳng như nhiên. Ở trong cái Toàn Khắp
ấy, lại có thời gian mà hạn hẹp. Tùy cái tâm năng
tri, xứng vừa với cái lượng sở tri. Biết cho lắm thì
tích tụ thành nghiệp, nghiệp tích tụ thành quả, có
thiện, có ác mà biến tạo ra cái Y Báo, Chánh Báo
mười cõi. Tâm của chúng sanh tán loạn không bờ nên
nghiệp của chúng sanh cũng đầy dẫy không bờ. Tâm ấy
nếu không có cái Tánh Toàn Khắp pháp giới làm Thể
thì làm sao tùy nghiệp mà phát hiện, để càng phát ra
thì càng vô cùng ư?
Nghiệp lực của chúng
sanh mỗi mỗi chẳng đồng. Nhưng đồng ở trong cái
Thanh Tịnh Bổn Nhiên, một mảy lông cũng chẳng hề
thêm bớt, nên nói rằng xuẩn động hàm linh đều có
Phật Tánh. Thế gian mê lầm chẳng ngộ Tam Giới Duy
Tâm, Vạn Pháp Duy Thức. Thế nên, ở nơi những sự việc
phát hiện ra theo nghiệp, thấy ra là có nhân duyên
sanh, mà lầm cho là tánh nhân duyên; còn thấy ra là
không có nhân duyên sanh thì lầm cho là tánh Tự
Nhiên. Chẳng rõ cái Thanh Tịnh Bổn Nhiên thì sự Có
Không đều lìa, cả Nhân Duyên hay Tự Nhiên đều không
có ở nơi nào để bám níu.
Nói là Nhân Duyên
sanh ư? Thế thì lân hư duyên với cái gì để sanh ra
hư không, hư không duyên với gì mà sanh ra lân hư?
Chỉ có hư không duyên với hư không, chỉ có sắc mới
duyên với sắc. Dù cho lân hư chẻ ra thành hư không,
thì phải bao nhiêu hư không để hiện thành lân hư.
Lân hư chẳng phải do hư không mà có, thì hư không
cũng chẳng phải nhân lân hư chẻ thành. Sắc, Không đã
chẳng thể sanh lẫn nhau, thì sự sanh ra của Đại Địa
là vô tự tánh.
Thế nên, nói Nhân
Duyên hòa hợp sanh là sai lầm vậy.
Nói là Tự Nhiên sanh
ư? Hư không nào có vô cớ mà có hư không, sắc nào có
vô cớ mà có sắc. Chẳng có nhân chẻ lân hư, thì nào
có thấy được hư không? Chẳng nhân gom tụ lân hư, làm
sao thành Đại Địa? Thế thì sự sanh ra của Đại Địa
nào phải không có nguyên nhân mà tự nhiên bỗng có
đâu?
Do đó, nói Tự Nhiên
sanh là sai lầm.
Cả hai thuyết đều là
do Thức Tâm phân biệt suy lường, không phải Nhân
Duyên mà gượng nói Nhân Duyên; không phải Tự Nhiên
mà gượng cho là Tự Nhiên, chỉ là lời nói, toàn là hý
luận không có căn cứ. Nào có biết rằng Như Lai Tạng
Tánh chẳng có khởi lên đối với cái thấy, chẳng bám
vào cái tướng. Không khởi nơi cái thấy, cho nên suy
tính không thể tới nổi. Không bám nơi cái tướng nên
lời nói không thể thấu đến. Đó là cái chỗ mà tâm
hành xứ diệt, ngôn ngữ hết đường”, ấy mới là Thật
Tướng, mới là Đệ Nhất Nghĩa Đế vậy.
Thiền sư Tần Bạt Đà
hỏi pháp sư Sanh:
- Thầy giảng kinh
luận gì?
Thầy Sanh đáp:
- Kinh Đại Bát Nhã.
Sư Đà nói:
- Làm thế nào nói
nghĩa Sắc Không?
Thầy Sanh đáp:
- Các vi trần tụ lại
là Sắc, các vi trần vô tự tánh là Không.
Sư Đà nói:
- Vi trần chưa tụ,
gọi là gì?
Thầy Sanh không giãi
bày được.
Thiền sư Đà lại hỏi:
- Còn giảng kinh nào
khác nữa?
Thầy Sanh đáp:
- Kinh Đại Niết Bàn.
Sư Đà nói:
- Nói nghĩa Niết Bàn
như thế nào?
Thầy Sanh đáp:
- Niết mà chẳng sanh,
Bàn mà chẳng diệt, nên gọi đó là Niết Bàn.
Sư Đà nói:
- Cái ấy là Niết Bàn
của Như Lai, cái gì là Niết Bàn của pháp sư?
Thầy Sanh đáp:
- Nghĩa của Niết Bàn
há có hai sao? Tôi chỉ như thế này, chưa hiểu thiền
sư nói Niết Bàn như thế nào?
Sư Đà
đưa
cây hốt như ý lên, rồi nói:
- Thấy chăng?
Đáp:
- Thấy.
Sư Đà nói:
- Thấy cái gì?
Đáp:
- Thấy cái hốt như ý
trong tay thiền sư.
Sư Đà ném cái hốt như
ý xuống đất, rồi hỏi:
- Thấy không?
Đáp:
- Thấy.
Sư Đà nói:
- Thấy cái gì?
Đáp:
- Thấy cái hốt trong
tay thiền sư rớt xuống đất.
Thiền sư chê rằng:
- Xem qua chỗ thấy
hiểu của ông, chưa ra khỏi đám thường tình, sao gọi
được là làm ồn náo vũ trụ.
Rồi phất tay áo bỏ
đi.
Các đệ tử của pháp sư
nghi ngờ chưa dứt, bèn chạy theo níu thiền sư Đà
lại, hỏi:
- Thầy tôi nói Sắc
Không, Niết Bàn chẳng khế hợp, chưa rõ thiền sư nói
nghĩa Sắc Không như thế nào?
Thiền sư Đà nói:
- Ta chẳng nói thầy
các con thuyết không được đúng, nhưng thầy các con
chỉ nói Sắc Không trên quả vị, mà chẳng biết nói cái
Sắc Không ngay chỗ nguyên nhân.
Đệ tử thưa:
- Như thế nào là Sắc
Không ngay chỗ nguyên nhân?
Thiền sư Đà nói:
- Một vi trần Không
nên chúng vi trần Không, chúng vi trần Không nên một
vi trần Không. Trong chúng vi trần Không, không có
một vi trần.
Đây không phải là lời
thiền sư Đà
đặt
ra, vì kinh nói: Một căn thanh tịnh nên các căn
thanh tịnh. Các căn thanh tịnh nên một căn thanh
tịnh. Trong một căn thanh tịnh không có các căn.
Trong các căn thanh tịnh không có một căn.
Lấy chỗ này phát minh
thì chẳng phải khó hiểu. Bèn cùng với “Tánh Sắc Chân
Không, Tánh Không Chân Sắc” chỉ ngay đường vào.
Kinh:
- A Nan, tánh Lửa vô
ngã, nhờ ở các duyên mà hiệân. Ông hãy xem các nhà
chưa nấu ăn ở trong thành, khi muốn nấu bếp thì tay
cầm kính dương toại đưa ra ngoài mặt trời mà cầu
lửa.
A Nan, phàm gọi là
Hòa Hợp thì như Ta, ông và một ngàn hai trăm năm
mươi vị Tỳ kheo nay hợp thành một chúng. Chúng tuy
là một, nhưng gạn xét về căn bản, thì mỗi người đều
có tánh, đều có chỗ sanh, tên hiệu, họ hàng của
mình. Như Ông Xá Lợi Phất thuộc dòng Bà La Môn, Ông
Ưu Lâu Tần Loa thì thuôïc dòng Ca Diếp Ba, cho đến
Ông A Nan thì thuộc dòng Cù Đàm.
A Nan, nếu tánh Lửa
nhân Hòa Hợp mà có ra, thì khi người kia cầm kính
lấy lửa nơi ánh sáng mặt trời, lửa đó từ trong kính
mà ra, do từ bùi nhùi mà có hay là từ mặt trời mà
đến?
A Nan, nếu từ mặt
trời mà
đến,
lửa ấy đã đốt được bùi nhùi trong tay ông, thì những
rừng cây mà ánh sáng mặt trời đi qua phải bị đốt
cháy cả. Nếu từ trong kính mà ra, thì lửa ấy đã có
thể từ nơi kính ra mà
đốt
cháy bùi nhùi, làm sao kính lại không bị chảy. Cho
đến cả tay cầm kính cũng không thấy nóng, thì làm
sao kính chảy ra được. Nếu do bùi nhùi sanh ra, thì
cần gì ánh sáng mặt trời và kính tiếp xúc với nhau,
rồi lửa mới sinh. Ông hãy xét cho kỹ: kính thì do
tay cầm, ánh sáng mặt trời thì từ trên xuống, còn
bùi nhùi thì từ đất sanh, vậy lửa từ phương nào đến
đây? Mặt trời và kính xa nhau, chẳng có hòa, chẳng
có hợp không lẽ lửa kia không do đâu mà tự có?
Ông còn không biết
rằng: Trong Như Lai Tạng, tánh Hỏa là Chân Không,
tánh Không là Chơn Hỏa, thanh tịnh bản nhiên, toàn
khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng vừa
với chỗ hay biết.
A Nan, ông phải biết:
Người đời cầm kính ở một chỗ thì một chỗ lửa sanh,
khắp pháp giới cầm kính thì khắp pháp giới có lửa.
Lửa khắp thế gian mà nào có nơi chốn, chỉ theo
Nghiệp phát hiện. Thế gian không biết, lầm cho là
tánh Nhân Duyên và tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều là sự
phân biệt, đo lường của thức tâm: chỉ có lời nói,
danh tự, toàn không có thật nghĩa.
Thông rằng: Ngài Long
Thắng nói, Nếu các pháp là thật có, thì chẳng cần
dùng tâm thức mới biết là có tướng. Nếu dùng tâm
thức mới biết là có, ấy là chẳng phải có. Như tướng
cứng của Đất, phải dùng thân căn, thân thức mới biết
là có. Còn nếu không có thân căn, thân thức thì
không thấy có tướng cứng.
Hỏi rằng:
- Thân căn, thân thức
thì có khi cảm biết, có khi không cảm biết, còn đất
thì vẫn luôn luôn có tướng cứng chứ? Đáp rằng:
- Hoặc trước đã tự
nhiễm biết cái tướng cứng, hoặc nghe người nói mới
biết là có tướng cứng. Nếu trước chẳng nhiễm biết,
chẳng nghe nói thì làm gì có cái tướng cứng? Lại
nữa, nếu đất luôn luôn thật là tướng cứng, thì không
thể bỏ tướng cứng ấy. Nhưng như tô lạc, mật ong,
nhựa cây khi nấu thì phải bỏ cái tướng cứng mà biến
thành thể lỏng. Vàng, bạc, đồng, sắt hết thảy đều
như thế. Còn nước đang ở thể lỏng, lạnh thì chuyển
thành tướng cứng là băng. Như vậy, tất cả mọi thứ
mọi loại đều có thể biến đổi tướng trạng”.
Ngài lại nói:
- Nếu lửa thật có
tánh nóng, thì sao có người vào lửa chẳng cháy.
Trong thân cũng có lửa nóng, sao chẳng thiêu thân?
Lửa ở trong mây mà nước không diệt được. Bởi thế,
lửa không có tánh nóng nhất định. Vì thần thông lực,
lửa không thể cháy thân. Vì nghiệp nhân duyên, ngũ
tạng không nóng. Vì lực điện trong mây, nước không
diệt được. Nếu tánh nóng và lửa khác nhau, thì lửa
chắc chẳng nóng. Nếu tánh nóng và lửa là một, thì
sao còn gọi là nóng? Tánh lửa như thế, các Đại khác
cũng vậy.
Như thế, tánh chung
và tánh riêng đều Không, nên gọi là Tánh Không. Lấy
theo Lý ấy mà suy ra tánh của Đất, Nước, Lửa thì
cũng như theo dòng mà thấu được nguồn: tất cả đều
Không.
Chỗ chỉ bày của Đức
Thế Tôn là: Từ cái Tánh mà phát ra Tướng, gọi là
theo Nghiệp mà phát hiện, ứng với cái lượng của Sở
Tri. Còn chỗ luận của Ngài Long Thắng là: Từ nơi
Tướng mà thấu cùng đến cái Tánh, đặc biệt hiển bày
cái Sắc Tâm chẳng hai vậy.
Cái kính Dương Toại
cũng gọi là Ngũ Phương Chư. Sách Luận Hành chép:
- Tháng Năm, ngày
Bính Ngọ, giờ Ngọ làm đá Ngũ Phương tròn như cái
gương, ở giữa trũng. Soi vật thì ảnh ngược, hướng về
mặt trời thì có lửa.
Thế gian chỉ biết bùi
nhùi, kính với mặt trời: ba cái nhân duyên hòa hợp
lại thì lửa sanh. Chẳng biết rằng kính, bùi nhùi
cùng với mặt trời đều ở xa nhau, chẳng phải Hòa hợp
nên chẳng phải là Nhân Duyên. Nếu nói bỗng nhiên tự
có ra, thì đáng lẽ chẳng cần kính hướng vào mặt
trời, thế nên cũng chẳng phải Tự Nhiên. Nếu nói cả
ba cái, mỗi cái đều có tánh lửa, thì lẽ ra bùi nhùi
phải tự cháy, kính phải tự chảy và chỗ ánh sáng mặt
trời đi đến, như rừng cây phải bị cháy thiêu! Cả ba
cái đều không có tánh lửa, đủ biết là Hỏa Tánh vốn
Không. Nhưng vì cái sức nghiệp của ba cái mà lửa tùy
theo nghiệp hiện ra. Thế mới biết, lửa có khắp thế
gian là Tánh Không, nào có nơi chốn. Nên cọ xát cây
thì có lửa, đập đá là có lửa. Tất cả đều theo nghiệp
mà phát hiện, chẳng riêng ở một cái kính Dương Toại,
đều từ trong cái Tánh Thanh Tịnh phát khởi ra. Ngay
Tánh tức là lửa, nào mượn Nhân Duyên? Ngay lửa là
Tánh, sao nói là Tự Nhiên? Thế nên, Hỏa Đại vốn
chẳng phải Nhân Duyên, chẳng phải Tự Nhiên. Tánh lửa
ấy bèn chính là Thật Tướng vậy.
Tổ Tuyết Phong nhóm
lửa xong, bèn chỉ ngay ngọn lửa mà khai thị cho đại
chúng:
- Ba đời Chư Phật
đang ở trong ngọn lửa chuyển Đại Pháp Luân.
Tổ Vân Môn nói rằng:
- Ngọn lửa là ba đời
Chư Phật thuyết pháp. Ba đời Chư Phật lập tức nghe.
Tổ Huyền Sa nói:
- Gần đây lệnh vua
khá nghiêm ngặt!
Tổ Tuyết Phong nói:
- Là làm sao?
Tổ Sa nói:
- Chẳng để cho trà
trộn cướp đồ ngoài chợ!
Tổ Tuyết Phong bèn le
lưỡi. Ngày nọ, Tổ Tào Sơn vào tăng đường hơ lửa.
Có vị sư nói:
- Hôm nay lạnh thật.
Tổ Sơn nói:
- Nên biết có cái
chẳng lạnh!
Vị sư hỏi:
- Ai là kẻ chẳng
lạnh?
Tổ Sơn gắp lửa mà chỉ
đó.
Nhà sư nói:
- Chớ nói là không có
người.
Tổ Sơn ném bỏ lửa
xuống.
Nhà sư nói:
- Con ở trong chỗ ấy
chẳng hiểu được.
Tổ Sơn nói:
- Mặt trời soi đầm
lạnh, sáng ngời lại sáng ngời.
Cổ nhân gặp cảnh thì
phát minh Một đường hướng thượng. Đó là Tánh lửa
Chân Không, Tánh Không thật lửa, nơi ấy là chỗ thấu
thoát chân thật.
Kinh:
- A Nan, tánh Nước
chẳng định, khi chảy, khi ngừng không có chừng. Như
trong thành Thất La Phiệt, các ông Tiên Ca Tỳ La,
Chước Ca La và các nhà
đại
huyễn thuật Bát Đầu Ma, Ha Tát Đa... muốn cầu tinh
Thái Âm để hòa với các thuốc huyễn thuật, thì các
ông ấy trong lúc mặt trăng tròn sáng, tay cầm hạt
châu Phương Chư, hứng nước trong ánh mặt trăng. Vậy,
nước ấy từ trong hạt châu mà ra hay ở trong hư không
tự có hay từ mặt trăng đến?
A Nan, nếu từ mặt
trăng đến, thì ở phương xa còn có thể làm hạt châu
có ra nước, thì ánh sáng qua những rừng cây lẽ ra
đều phải có chảy nước. Có chảy nước thì cần gì phải
đợi hạt châu Phương Chư? Còn nếu không chảy nước thì
biết là nước chẳng phải từ mặt trăng xuống. Nếu từ
hạt châu mà ra, thì trong hạt châu thường phải chảy
nước, sao lại phải đợi nửa đ
êm
có mặt trăng sáng? Nếu do hư không mà sanh, thì hư
không vô bờ bến, thì nước cũng không có giới hạn,
vậy thì cõi người đến cõi trời đều phải chìm ngập,
làm sao còn các loài? Ông hãy xét kỹ: mặt trăng từ
trời chiếu xuống, hạt châu do tay cầm, còn cái mâm
hứng nước thì do người xếp đặt, vậy nước kia từ
phương nào mà chảy đến đây? Mặt trăng và hạt châu
thì cách xa nhau, không phải hòa, không phải hợp,
chẳng lẽ nước kia không từ đâu mà tự có?
Ông còn không biết
rằng trong Như Lai Tạng, Tánh Thủy là Chân Không,
Tánh Không là Chân Thủy, thanh tịnh bản nhiên, toàn
khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng vừa
với chỗ hay biết.
Một chốn cầm châu thì
một chốn có nước chảy ra. Khắp pháp giới cầm hạt
châu thì khắp pháp giới nước sanh ra. Nước có khắp
thế gian mà nào có nơi chốn, chỉ theo nghiệp mà phát
hiện. Thế gian không biết, lầm cho là tánh Nhân
Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều là sự phân
biệt, đo lường của thức tâm, chỉ là lời nói, danh tự
toàn không có thật nghĩa.
Thông rằng: Châu
Phương Chư còn gọi là Âm Toại, hình giống con sò.
Chà cho nóng, để dưới ánh trăng sẽ sinh ra nước.
Phương là
đá,
Chư là ngọc. Luyện nấu đá mà thành, làm vào tháng
Một (Mười Một), ngày Nhâm Tý, giờ Tý.
Nước sinh ra ở hạt
Phương Chư vốn chẳng phải do Hòa Hợp, chẳng phải là
Tự Nhiên thì cũng giống như kính Dương Toại. Nhưng
chỗ nói “Nếu do hư không mà sanh, thì hư không vô
biên, nước cũng không giới hạn... làm sao còn các
loài?” Chẳng phải là mâu thuẫn với chỗ Tánh Không
Chân Thủy sao? Bởi vì, lấy Tướng mà luận thì có
hình, nên nước đầy hư không mà làm đắm chìm cả.
Nhưng lấy Tánh mà luận thì vô hình, nên hư không vô
tận thì nước hiện ra cũng vô tận. Câu “Tánh Thủy
Chân Không” này là chỉ về tánh của tứ Đại thanh tịnh
mà nói. Tánh vốn là Không, Không Không tương dung,
Không Không bất nhị làm gì thấy có lấn đoạt lẫn
nhau?
Đoạn sau, chỗ nghi
của Ông Phú Lâu Na là ở nơi Tánh mà nghi có sự lấn
đoạt, chứ chẳng phải nghi ở nơi Tướng. Tướng thì
chẳng tương dung, Thế Tôn đã nói trước rồi còn nghi
gì nữa!
Tổ Dược Sơn hỏi vị
sư:
- Từ đâu tới?
Đáp:
- Ở Hồ Nam lại.
Tổ Sơn hỏi:
- Nước hồ Động Đình
đầy chưa?
Đáp:
- Dạ, chưa.
Tổ Sơn nói:
- Mưa đã lâu, sao
chưa đầy?
Vị sư không đáp được.
Tổ Đạo Ngô nói thay
rằng:
- Đầy rồi mà!
Tổ Vân Nham nói:
- Chỗ sâu xa!
Tổ Động Sơn nói:
- Trong kiếp nào mà
từng có tăng, giảm?
Tổ Vân Môn nói:
- Chỉ ở trong ấy!
Tổ Tuyết Phong nói:
- Ngồi bên rá cơm mà
đói
chết vô số người. Ngồi bên biển nước, khát chết vô
số người!
Tổ Huyền Sa rằng:
- Ngồi trong rá cơm,
đói chết vô số người. Ngập đầu trong biển nước, khát
chết vô số người !
Tổ Vân Môn:
- Suốt thân là cơm,
suốt thân là nước.
Tổ Thiên Đồng nêu ra:
- Ta thì chẳng vậy,
ngồi trong rá cơm, cái no làm chết vô số người. Ngập
đầu trong biển nước, cái nê làm chết vô số người!
Trước là cái họa vì
chẳng nuốt vào. Sau là cái họa vì chẳng mửa ra. Chỉ
như Ngài Vân Môn nói: Suốt thân là cơm, suốt thân là
nước. Ở trong ấy thì không còn chỗ nuốt vào, mửa ra.
Cổ nhân cử xướng cái tánh biển thật như sóng nước
trùng trùng vô tận, đến Tổ Vân Môn: “Suốt thân là
nước”, lời nói mới trọn thành. Cùng với “Tánh nước
Chân Không, Tánh Không thật nước, bản nhiên thanh
tịnh, toàn khắp pháp giới”, thật là khế hợp. Do đó
mà biết rằng lấy Ý Thức mà
đo
lường Tánh Không, Tánh Thủy thì biết kêu gào mấy cho
vừa.
Kinh:
- A Nan, tánh Gió
không có tự thể, khi động khi tĩnh bất thường. Ông
thường sửa áo, vào trong đại chúng, gấu áo Tăng Già
Lê
động
đến người gần bên thì có chút gió phất qua mặt người
kia. Gió đó là do gấu áo cà sa mà ra, từ hư không mà
phát khởi hay do mặt người kia mà sanh?
A Nan, nếu gió ấy
phát ra do gấu áo cà sa, thì ông đã mặc cả gió, cái
áo phải bay tung rời khỏi thân ông. Nay ta thuyết
pháp, rủ áo ở trong hội này, ông hãy xem cái áo của
Ta, gió ở nơi đâu? Không lẽ trong áo lại có chỗ chứa
gió?
Nếu gió đó do hư
không sanh ra, thì khi áo ông không động sao gió
chẳng bay phất. Tánh của hư không thì thường còn,
gió phải thường sanh ra. Còn khi không có gió, hư
không phải diệt mất! Gió diệt có thể thấy được, hư
không diệt thì có nghĩa gì? Bởi vì có sanh diệt, thì
đâu có gọi là hư không? Còn đã gọi là hư không, thì
gió ở đâu mà ra được?
Nếu gió ấy sanh ra do
cái mặt người bị phất, thì đã do mặt người ấy sanh
ra, lẽ ra phải phất vào ông, sao tự ông sửa áo mà
lại phất ngược vào người kia?
Ông hãy xét kỹ: sửa
áo là do nơi ông, mặt thuộc về người kia, hư không
lặng yên chẳng hề lay động, thì gió từ phương nào
phát động đến đây? Tánh của gió và của hư không cách
biệt, chẳng có hòa, chẳng có hợp, không lẽ gió kia
không do đâu mà tự có?
Ông thật không rõ
rằng: Trong Như Lai Tạng, Tánh Gió là Chân Không,
Tánh Không là Thật Gió, thanh tịnh bản nhiên, toàn
khắp pháp giới tùy theo chúng sanh mà ứng vừa với
chỗ hay biết.
A Nan, như một mình
ông hơi động cái áo thì có chút gió bay ra. Khắp
pháp giới đều phất, thì khắp các quốc độ đều có gió.
Phong Đại có ở cùng khắp thế gian mà không có nơi
chốn, chỉ theo Nghiệp mà phát hiện. Thế gian không
biết, lầm cho là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên.
Hết thảy đều là những phân biệt, đo lường của thức
tâm, chỉ có lời nói, danh tự toàn không có thật
nghĩa.
Thông rằng: Ông tự
sửa áo mà áo không bay mất. Cái mặt thuộc người kia
mà gió chẳng phất ngược lại. Hư không lặng yên,
chẳng theo gió mà có sanh có diệt. Ba cái ấy chẳng
can dự gì tánh lưu động của gió, thì cái gì mà cho
là hòa hợp? Chẳng lẽ gió không đâu mà có ra, sao gọi
là Tự Nhiên? Bởi vì Gió tức là Tánh, Tánh tức là Gió
vậy. Chỉ theo nghiệp mà phát hiện ra, như áo động
thì có gió sinh. Tánh cùng khắp pháp giới, thì gió
cũng cùng khắp pháp giới, nên cùng gọi là Đại (lớn).
Nho gia nói Khôn là
Đất, Khảm là Nước, Ly là Lửa. Tốn là Gió. Tất cả
không ra ngoài Âm Dương. Âm Dương từ đâu sanh ra? Từ
trong Động Tĩnh của Thái Cực sanh ra vậy. Mỗi vật
đều đầy đủ một Thái Cực. Vạn vật đều suốt một thể
Thái Cực. Chưa từng chẳng phải tức Lý là Sự, tức Sự
là Lý. Nhưng mà ngộ Tâm là Thái Cực thì ít có thay!
Đã ngộ Tâm là Thái Cực, dưới trời đâu có cái vật ở
ngoài Tâm ư?
Tổ Ma Cốc đang quạt,
có nhà sư hỏi:
- Tánh của gió thường
trụ, không nơi nào chẳng khắp, Hòa Thượng còn động
quạt làm gì?
Tổ Cốc nói:
- Ông chỉ biết “Tánh
gió thường trụ”, mà không biết chuyện không đâu
chẳng khắp.
Nhà sư nói:
- Sao là không đâu
chẳng khắp?
Tổ Cốc lại phẩy quạt.
Nhà sư làm lễ. Tổ Cốc
nói:
- Cái ông sư không có
chỗ dùng, dẫu có ngàn ông thì có ích gì!
Lại Tổ Nam Tuyền hỏi
nhà sư:
- Đêm qua gió mạnh,
nhỉ?
Nhà sư đáp:
- Đêm qua gió mạnh.
Tổ Tuyền nói:
- Thổi gãy một cành
tùng trước cửa!
Sư nói:
- Thổi gãy một cành
tùng trước cửa.
Tổ Nam Tuyền lại hỏi
một nhà sư khác:
- Đêm qua gió mạnh,
nhỉ?
Nhà sư nói:
- Là ngọn gió nào?
Tổ Tuyền nói:
- Thổi gãy một cành
tùng trước cửa! Nhà sư nói:
- Là cây tùng nào? Tổ
Tuyền nói:
- Một được, một mất.
Căn cứ vào chỗ đáp
của hai vị tăng thì đều có hơi thở thiền tăng. Sao
Ngài Nam Tuyền lại nói một được, một mất? Nếu định
ngay ra được, mới cho là tự mình thấy Nam Tuyền.
Kinh:
- A Nan, hư không
không có hình, nhân sắc mà hiển ra. Như trong thành
Thất La Phiệt là chỗ xa sông, những người dòng Sát
Lỵ, dòng Bà La Môn, dòng Tỳ Xá, dòng Thủ Đà hay dòng
Phả La Đọa, dòng Chiên Đà La... Khi dựng nhà mới thì
đ
ào
giếng để lấy nước. Đào lên một thước đất, thì trong
đó có một thước hư không, như vậy cho đến đ
ào
lên được một trượng, thì trong đó lại được một
trượng hư không. Hư không sâu hay cạn tùy theo đ
ào
lên nhiều hay ít. Hư không đó, do đất mà ra, nhân đ
ào
mà có hay không nhân gì mà tự sanh?
A Nan, hư không đó
không do gì mà tự sanh, thì trước khi chưa đ
ào
đất, sao chỗ ấy lại không trống rỗng, mà chỉ thấy là
đất,
chẳng có gì thông suốt. Nếu nhân đất mà ra, thì khi
đất được moi ra phải thấy có hư không vào. Nếu đất
ra trước mà không thấy hư không vào, làm sao nói là
hư không nhân đất mà ra? Còn nếu không ra, không vào
thì hư không với đất vốn không khác nguyên nhân.
Không khác tức là
đồng,
thì khi đất ra, hư không sao chẳng có ra? Nếu nhân đ
ào
mà ra, thì đ
ào
phải có ra hư không chớ chẳng phải ra đất. Nếu chẳng
nhân đ
ào
mà có ra, khi tự đ
ào
thì ra đất, sao lại thấy hư không?
Ông hãy xét xem, xét
kỹ, xem kỹ, sự đ
ào
do từ tay người chuyển vận theo phương hướng, đất
thì từ nơi mặt đất mà dời đi, như thế hư không nhân
đâu mà có ra? Sự đ
ào
và hư không: một cái thật, một cái hư, không tác
dụng gì với nhau, chẳng phải hòa, chẳng phải hợp,
chẳng lẽ hư không không do đâu mà tự có ra?
Nếu hư không đó bản
tánh tròn đầy toàn khắp, vốn chẳng hề lay động thì
phải biết rằng hiện giờ ngay trước mặt đây: Hư Không
và Địa, Thủy, Hỏa, Phong đều gọi là năm Đại, bản
tánh vốn chân thật, viên dung, đều là Như Lai Tạng,
vốn không sanh diệt.
A Nan, tâm ông mê
muội, chẳng ngộ bốn Đại vốn là Như Lai Tạng. Phải
nhìn ngay hư không là ra, là vào hay chẳng phải ra,
vào. Ông hoàn toàn không biết trong Như Lai Tạng:
Tánh Giác là Chân Không, Tánh Không là Chân Giác,
thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo
tâm chúng sanh mà ứng với lượng hay biết.
A Nan, như một cái
giếng trống không thì hư không có trong một cái
giếng, mười phương hư không thì cũng như vậy. Không
Đại tròn đầy khắp mười phương, thật không nơi chốn,
theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết, lầm
cho đó là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết
thảy đều là những phân biệt, đo lường của tâm thức,
chỉ có lời nói, danh từ toàn không có thật nghĩa.
Thông rằng: Hư không
chẳng có hình, sao có ra, vào? Chỉ bởi sắc hiện bày
mà biết có hư không: có sắc thì chẳng phải là hư
không, không có sắc tức là hư không. Sắc có đến, đi;
hư không chẳng hề khởi, diệt. Khi tứ Đại diệt, hư
không chẳng phải lúc ấy mới có. Bốn Đại có "đến đi",
hư không vốn chẳng hề "ra vào". Tánh hư không tròn
khắp cũng dễ hiểu, bốn Đại Chân Không cũng giống như
vậy. Khi chưa tùy theo nghiệp thì thanh tịnh bản
nhiên, toàn khắp pháp giới, vốn chưa hề không có.
Khi đã theo nghiệp phát hiện rồi, tùy cảm tùy ứng mà
đầy
khắp thế gian thì cũng không phải lúc ấy mới có.
Tướng có sanh diệt, Tánh không sanh diệt. Có sanh
diệt, thì chẳng có Toàn Khắp. Còn cái Toàn Khắp thì
tự nó không có sanh diệt, gọi đó là Như Lai Tạng,
không từ đâu đến, không đi về đâu, há lại có sanh tử
ở trong ấy ư?
Nói về cái ngoan
không thì tuy không có ra vào, nhưng cũng là sanh
diệt. Như sau này có nói: Hư Không sanh trong cái
Đại Giác như một cái bọt sinh ra trong biển cả...
Mười phương hư không cũng đều tiêu mất, chỉ duy cái
Chân Không là Chân Giác vốn không sanh diệt.
Ở bốn Đại trước thì
nói Chân Sắc, Chân Hỏa, Chân Thủy, Chân Phong đều
dùng chữ Chân. Sau thì nói “Bốn Đại thanh tịnh” là
đều
nói trong Tánh. Không giữ lấy Tướng, bèn là “Tánh
Chân Thật, viên dung đều là Như Lai Tạng, vốn không
sanh diệt”. Thật rành rành tự tánh Chân Thật mà nói.
Nếu các tướng hữu tình, làm sao mà viên dung vô
ngại? Nói là Dung, thì “tức Sắc tức Không, tức Không
tức Sắc”, chẳng hề thấy có dấu vết của ngũ Đại, duy
chỉ thuần nhất một cái Không. Nói là Viên, thì
“Không chẳng ngại Sắc, Sắc chẳng ngại Không”, ngũ
Đại đắp đổi lẫn nhau, hiển xuất vô cùng mà chẳng rời
Nhất Chân vậy.
Trước thì lấy tứ Đại
mà dung hội Chân Không. Đây thì lấy Chân Không tan
về Chân Giác. Rõ ràng cái gọi là Chân Không tức là
Chân Giác, cái ngoan không làm sao so sánh được.
Thiền sư Hoàng Long
Tổ Tâm thượng đường rằng:
- Tâm đồng Hư Không
giới, bình đẳng với Tánh Không. Chứng đắc Tánh Không
bèn không có pháp nào phải, trái. Cứ như thế mà ngơi
nghỉ. Dừng chèo, thả neo về bến đậu thuyền. Cứ theo
như môn đệ của lão tăng thì trời đất cách riêng
không dính. Nói thử môn đệ của lão tăng có chỗ nào
kỳ đặc:
Vác ngang ngọn lược
chẳng đoái người,
Thẳng vào ngàn muôn đỉnh núi đi.
Lại có Ông Hồ Đinh
Giao tham lễ Tổ Bửu Thọ. Tổ hỏi:
- Chẳng phải là Hồ
Đinh Giao ư?
Ông Hồ trả lời:
- Không dám.
Tổ Tho nói:
- Có đóng được hư
không chăng?
Ông Hồ nói:
- Xin Hòa Thượng đả
phá cho!
Tổ Thọ bèn đánh.
Ông Hồ chẳng kham
được ý chỉ ấy.
Tổ Thọ nói:
- Về sau sẽ có ông
thầy lắm lời vì ông mà chỉ cho chỗ này.
Sau, Ông Hồ đến tham
Ngài Triệu Châu.
Tổ hỏi:
- Chẳng phải là Hồ
Đinh Giao ư?
Ông Hồ nói:
- Không dám.
Tổ Châu hỏi:
- Có đóng được hư
không chăng?
Ông Hồ đáp:
- Xin Hòa Thượng đả
phá cho!
Tổ Châu nói:
- Hãy đóng vào một
đường giáp nối ấy!
Ông Hồ bèn kể chuyện
bị gậy của Tổ Bửu Thọ.
Rồi hỏi:
- Không rõ lỗi ở chỗ
nào?
Tổ Châu nói:
- Chỉ một đường giáp
nối ấy còn chẳng biết làm sao, lại còn bảo người đả
phá hư không!
Nhân đó, Tổ nói thay:
- Hãy đóng vào một
đường giáp nối ấy!
Tổ Châu lại nói:
- Ta nói như thế thì
đối cùng với Ông Bửu Thọ kia thật là ngàn dặm muôn
dặm.
Ông Hồ bèn có chỗ
thức tỉnh.
Hợp hai tắc mà xét,
thì chứng đắc hư không cũng chẳng đúng, mà
đả
phá hư không cũng chẳng đúng. Vậy, thế nào mà thoát
thân? Tham đi!
Kinh:
- A Nan, cái biết của
Kiến Đại nhân Sắc Không mà có, ngoài ra là chẳng
biết. Như hiện nay ông ở trong rừng Kỳ Đà, sớm mai
thì sáng, chiều thì thấy tối. Đến lúc nửa đ
êm
có trăng thì sáng, không trăng thì tối. Những tướng
sáng, tối ấy do cái Thấy phân tích ra. Cái Thấy ấy
với cái tướng sáng, tối và cả hư không là
đồng
một thể hay chẳng đồng một thể? Hay vừa đồng vừa
chẳng đồng, vừa khác vừa chẳng khác?
A Nan, nếu cái Thấy
đó cùng với sáng, tối và hư không vốn là một thể,
thì sáng và tối tiêu diệt lẫn nhau. Khi tối thì
không sáng, khi sáng thì không tối. Nếu cái Thấy
cùng một thể với cái tối, thì khi sáng cái Thấy phải
tiêu mất. Nếu cùng một thể với cái sáng, thì đến khi
tối cái Thấy phải diệt. Làm sao còn thấy được sáng,
thấy được tối. Còn như sáng và tối khác nhau, cái
Thấy thì không sanh diệt, thì làm sao đồng một thể
được?
Nếu cái Thấy đó không
đồng một thể với cái sáng và cái tối thì lìa ngoài
cái sáng, cái tối và hư không ông hãy phân tích cái
Thấy có hình tướng gì? Lìa ngoài cái sáng, tối và hư
không, cái Thấy đó cũng đồng là lông rùa, sừng thỏ.
Nếu cả ba cái sáng, tối và hư không hoàn toàn khác
nhau, thì đo đâu mà lập thành cái Thấy?
Sáng và tối trái
ngược lẫn nhau làm sao đồng được! Lìa ngoài ba cái
sáng, tối và hư không, cái Thấy vốn chẳng có gì, thì
làm sao khác được? Cái phần của hư không hay cái
phần của cái Thấy vốn không bờ mé, sao lại chẳng
đồng! Thấy cái tối, thấy cái sáng, tánh không dời
đổi làm sao lại chẳng khác!
Ông hãy xét kỹ, suy
xét tinh vi, xem cho kỹ, thấy cho cùng: Sáng do mặt
trời, tối từ đ
êm
đen, thông thuộc về hư không, bít thuộc về đại địa,
thì cái Thấy như thế nhân đâu mà có? Cái Thấy thì có
biết, hư không thì vô tri, không phải hòa không phải
hợp, chẳng lẽ cái Thấy không do đâu mà có?
Như sự Thấy, Nghe,
Hay, Biết tánh nó đầy đủ toàn khắp, vốn chẳng động
lay. Nên phải biết: Kiến Đại cùng với hư không vô
biên, bất động cùng vốn bốn Đại Địa, Thủy, Hỏa,
Phong có lay động đều gọi là sáu Đại, bản Tánh Chân
Thật Viên Dung, đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh
diệt.
A Nan, tánh ông trôi
chìm, không ngộ cái Thấy, Nghe, Hay, Biết của ông
vốn là Như Lai Tạng. Ông hãy nhìn xem cái Thấy,
Nghe, Hay, Biết này là sanh là diệt, là
đồng
là khác, là chẳng sanh diệt, là chẳng đồng, khác?
Ông nào có biết,
trong Như Lai Tạng cái Thấy là Tánh Minh Giác, Tánh
Minh Giác hiển lộ ra thành cái Thấy, thanh tịnh bản
nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh
mà ứng với lượng hay biết.
Như một cái Căn Thấy
thấy khắp Pháp Giới, thì cái Biết Nghe, Biết Ngửi,
Biết Nếm, Biết Cảm Xúc, Biết các pháp đều là cái
Diệu Đức sáng rỡ toàn khắp pháp giới, tròn đầy cả
mười phương hư không, nào có riêng nơi chốn. Chỉ tùy
nghiệp hiện bày, thế gian lại không biết lầm cho là
tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều chỉ
là sự phân biệt, đo lường của thức tâm: chỉ có danh
tự, lời nói, toàn không có thật nghĩa.
Thông rằng: Năm Đại
Địa, Thủy, Hỏa, Phong và Không ở trước thì đủ cả sáu
trần: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc và Pháp, gọi là
Tướng Phần. Nay là sáu căn Thấy, Nghe, Hay và Biết
cũng đều do bốn Đại trong sạch hợp thành. Phàm nhân
có Sắc Không trước mắt, đối cảnh tức biết, chưa nhập
vào sự phân biệt của năm Thức trước, đó gọi là Kiến
Phần. Do đó, lấy Kiến Đại mà gồm chung.
Như một cái Căn Thấy
thấy khắp pháp giới, thì cái Biết Nghe, Biết Ngửi,
Biết Nếm, Biết Xúc, Biết Pháp cũng toàn khắp pháp
giới, Diệu Đức rỡ ràng vậy. Sao đều gọi là Diệu? Có
Hình bèn là Thấy, có Tiếng là Nghe, chẳng gấp mà lẹ,
chẳng đi mà
đến,
không do nghĩ toan, chẳng bởi xếp đặt nên gọi là
Diệu.
Cái Kiến Đại này
không có tự thể, chỉ nhân cảnh mà có. Cảnh trước mặt
nếu không có, cái Thấy cũng chẳng sanh. Há có một
thể hay nhiều thể để cùng cảnh mà lìa mà hợp, để có
thể luận là
đồng,
là khác theo tứ cú ư? Sự lập luận của tứ cú đều là
hý luận vậy.
Thế nên, sáng, tối,
thông, bít thay nhau ở trước mắt cũng như Địa, Thủy,
Hỏa, Phong thay nhau giữa hư không. Cảnh có sanh
diệt, cái Thấy không sanh diệt. Cảnh có động lay,
cái Thấy không hề lay động. Nó toàn khắp pháp giới,
cùng hư không chẳng hai. Nhưng cái Thấy thì có hay
biết, ngoan không thì vô tri chẳng thể hòa hợp. Cái
Giác tức là Không, gọi là Chân Không. Cái ngoan
không thì sanh diệt, Chân Không nào có sanh diệt.
Cái ngoan không sanh diệt ở trong Tánh Chân Giác
cũng như bốn Đại sanh diệt trong hư không. Hư không
cùng bốn Đại không thể lấy sự sanh diệt, đồng khác
mà luận. Thế thì Kiến Đại đối với Sắc Không sao có
thể lấy sự sanh diệt, đồng khác mà xem thấy được ư?
Phàm nói là sanh
diệt, đồng khác đều là thuộc về Vọng Trần. Phàm nói
chẳng phải sanh, chẳng phải diệt, chẳng phải đồng,
chẳng phải khác đều thuộc về Vọng Kế. Chỉ ở nơi Cảnh
mà phân biện, chẳng ở nơi Tánh mà phân minh: đó là
hý luận. Nếu ở nơi Tánh mà phân biện, thì cái Thấy
này duyên với Tánh Cảnh, như mặt trăng thứ hai,
không lìa mặt trăng thật.
Tánh phát ra mà thành
cái Thấy, tức là cái Chân Giác phát ra mà làm cái
Sáng. Giác là cái Thể hằng sáng của cái Thấy. Cái
Sáng là Dụng của cái Thấy. Như đ
èn
có ánh sáng: đ
èn
là cái Thể của sự chiếu sáng, ánh sáng là cái Dụng
của sự chiếu sáng. Tức Thấy là Giác, tức Giác là
Không. Vốn không nhiễm ô, nên nói là Thanh Tịnh. Vốn
không tạo tác, nên nói là Bổn Nhiên. Vốn không nơi
chốn, nên nói là Toàn Khắp.
Theo Tam Thân mà
luận, thì Thanh Tịnh là Pháp Thân. Bổn Nhiên là Báo
Thân, Toàn Khắp là Hóa Thân. Theo Ba Đức mà luận,
Thanh Tịnh là Lý, Bổn Nhiên là Trí, Toàn Khắp là
Hạnh. Hợp cả ba mà dung nhiếp thì đưa lên một tức cả
ba, đưa lên ba tức là một. Khi chưa cảm ứng thì
thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới, cái Thấy
này không thể nói được là không. Khi có cảm ứng,
Diệu Đức sáng rỡ, toàn khắp pháp giới, cái Thấy này
chẳng vướng nơi có. Sáu Căn thanh tịnh, tròn đầy
mười phương hư không, nên thấy trăm cõi Phật, thấy
ngàn cõi Phật, thấy toàn khắp pháp giới, mới là tròn
vẹn cái lượng thanh tịnh. Còn chẳng như thế, cũng
ứng với cái chỗ thấy tiết hạn hẹp, chỉ theo nghiệp
có hiện ra mà thôi.
Sau có nói “Ông phát
minh ra theo cái Không, thì có cái hư không hiện.
Địa, Thủy, Hỏa, Phong mỗi mỗi đều phát minh ra, thì
mỗi mỗi đều hiện. Các cái ấy là các thứ ứng ra theo
Sở Tri Lượng vậy”. Bỏ Giác mà hợp với Trần, thì phát
sanh trần lao. Ngược Trần hợp Giác, thì thấy rõ Chân
Như. Thế cũng là sự theo nghiệp phát hiện vậy. Cái
Tánh Giác Minh không có sự làm, không có sự tạo,
không có người nhận lãnh, nghiệp thiện nghiệp ác
cũng đều dứt bặt. Cái Ấy, đó là Như Lai Tạng.
Ông Quan Cung Phụng
là Hạo Nguyệt hỏi Tổ Trường Sa Cấm rằng:
- Con trùn đứt làm
hai đoạn, hai đầu đều cử động, chưa rõ Phật Tánh ở
đầu nào?
Tổ Sa nói:
- Động và Bất Động,
đó là cảnh giới nào?
Ông Nguyệt nói:
- Lời nói không liên
quan đến kinh điển, chẳng phải là chỗ đ
àm
luận của người Trí.
- Như lời Hòa Thượng
nói: Động cùng Bất Động, đó là cảnh giới nào? Từ
kinh nào mà
đem
ra vậy? Tổ Sa nói:
- Hẳn nhiên, nói mà
không có kinh điển chẳng phải là chỗ đ
àm
luận của người Trí. Ông không thấy kinh Thủ Lăng
Nghiêm nói rằng:
- Phải biết mười
phương vô biên bất động hư không, cùng với bốn Đại
Đất, Nước, Lửa, Gió động lay kia đều gọi là sáu Đại,
Tánh vốn Chân Thật, Viên Dung đều là Như Lai Tạng,
vốn không sanh diệt đó sao?
Bèn khai thị một bài
kệ:
Rất sâu
xa, rất sâu xa,
Pháp giới, thân này ấy tức Tâm.
Mê ấy, mê tâm làm các sắc,
Ngộ thì cảnh cảnh chính Chân Tâm.
Thân, cảnh hai trần không thực tướng,
Thấu rõ chỗ này gọi tri âm.
Tổ Trường Sa khéo thuyết Lăng Nghiêm, đến chỗ nói là
căn thân và thế giới hai trần không thực tướng thì
trong không thấy có Căn Năng Kiến, ngoài không có
Cảnh Sở Kiến. Năng, Sở đều Không, tìm cái Thấy rốt
là không thể đắc, còn chỗ nào để nói sanh diệt, đồng
dị ư?
Kinh:
- A Nan, tánh của
Thức không có nguồn gốc, nhân nơi sáu thứ Căn và
Trần mà hư vọng hiện ra. Nay ông hãy xem khắp Thánh
chúng trong hội này, lấy con mắt lướt qua. Mắt ông
trông khắp, chỉ như cái gương, không phân tích riêng
biệt. Cái Thức của ông ở trong đó, lần lượt chỉ ra
đây là Văn Thù, đây là Phú Lâu Na, đây là Mục Kiền
Liên, đây là Tu Bồ Đề, đây là Xá Lợi Phất. Cái Thức
Nhận Biết ấy sanh ra do cái thấy, sanh ra do các
tướng, do nơi hư không hay không nhân cái gì, bỗng
nhiên mà hiện?
A Nan, nếu cái Thức
của ông sanh ra do cái Thấy, thì như không có các
tướng sáng, tối và Sắc Không thì không có cái Thấy
của ông. Cái Thấy còn không có, do đâu mà có ra cái
Thức? Nếu cái Thức của ông sanh ra do các tướng, chứ
không do cái Thấy, thì không thấy được cái sáng cũng
chẳng thấy được cái tối. Sáng tối đã không thấy thì
cũng không có Sắc Không. Các tướng kia còn không có
thì cái Thức do đâu mà phát sanh? Nếu cái Thức ấy
sanh do nơi hư không, không phải do tướng hay do cái
Thấy, ngoài cái Thấy, thì không thể phân biệt, chẳng
có thể tự biết được các tướng sáng, tối, sắc, không.
Ngoài các tướng thì không còn các duyên, thì cái
Thấy, Nghe, Hay, Biết do đâu mà thành lập. Cả hai
thứ: cái Thấy và sắc trần đều chẳng phải, nếu là
Không thì đồng với không có gì hết, còn nếu là Có
thì cũng chẳng phải đồng với vật, dầu cho có phát ra
cái Thức của ông, thì phân biệt cái gì?
Nếu cái Thức không
nhân gì mà bỗng nhiên phát ra, thì tại sao giữa trưa
lại không riêng biết để có ra mặt trăng sáng?
Ông hãy kỹ càng, suy
xét chín chắn: cái Thấy gá vào mắt của ông, các
tướng trả về cho trần cảnh, cái gì có thể hình trạng
ra được thì mới thành Có, cái gì không hình tướng
thì thành ra Không, còn cái Thức như thế do đâu mà
ra? Cái Thức động, cái Thấy lặng yên, chẳng phải Hòa
chẳng phải Hợp. Cho đến với các sự Nghe, Ngửi, Hay,
Biết cũng đều như vậy. Không lẽ cái Thức không do
đâu mà tự có ra?
Nếu cái Thức đó vốn
không do đâu, thì nên biết rằng: cái Thức Đại và cái
Kiến Đại Thấy, Nghe, Hay, Biết tròn đầy, vắng lặng,
bản tánh không do đâu mà có, cùng với hư không và
Địa, Thủy, Hỏa, Phong đều gọi là bảy Đại, Tánh Chân
Thật, Viên Dung đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh
diệt.
A Nan, tâm ông thô
phù, không ngộ được cái Thức hay biết các điều thấy,
nghe vốn là Như Lai Tạng. Ông hãy nhìn xem sáu cái
Thức là do Đồng hay Khác, là Không hay Có, là không
phải Đồng, Khác, hay không phải Không Có. Ông vốn
không biết trong Như Lai Tạng, cái Thức là Tánh Giác
Minh. Tánh Giác Minh là Chân Thức, là cái Biết nhiệm
mầu vắng lặng toàn khắp pháp giới, ngậm chứa và nhả
ra mười phương hư không, nào có nơi chốn. Chỉ tùy
theo nghiệp mà hiện bày ra, thế gian không biết lầm
cho là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên, đều là sự
phân biệt, so lường của thức tâm: chỉ có lời nói,
danh tự, toàn không có thật nghĩa.
Thông rằng: Nói Đất,
Nước, Lửa, Gió nương nơi hư không, là tánh năm Đại
của thế giới, gọi là Tướng Phần. Nói Thấy, Nghe,
Hay, Biết nương vào nơi Thức, là tánh năm Đại của
Căn Thân, gọi là Kiến Phần. Kiến Phần và Tướng Phần
đều từ Thức Thứ Tám sanh khởi, cho nên Thức Thứ Tám
vắng lặng như nhiên, thì gọi đó là Diệu Giác, là Như
Lai Tạng.
Nay lấy năm Thức
trước làm Kiến Đại, đó là chỗ gọi Tánh Cảnh thuộc
Hiện Lượng. Lấy Thức Thứ Sáu làm Thức Đại, đó là chỗ
gọi Phân Biệt Sự Thức, thuộc về Tỷ Lượng hay Phi
Lượng. Hàng Nhị Thừa vì không biết có Thức Thứ Bảy
và Thức Thứ Tám, lấy cái này cho là chủ nhân ông,
cho là gây ra nghiệp lành nghiệp dữ và nghiệp vô
lậu. Thế nên, năm Thức trước thì không có phân biệt,
đến Thức Thứ Sáu mới có thể phân biệt. Vậy nên ở
đoạn kinh này có nói “Cái Thức thì động, cái Thấy
thì lặng yên”. Đó chỉ là cái Thức này, chẳng sanh do
cái Thấy, chẳng sanh từ các tướng, chẳng sanh do nơi
hư không, chẳng phải Nhân Duyên sanh, chẳng phải
không nguyên nhân mà bỗng nhiên tự có, chẳng phải Tự
Nhiên sanh! Cái Thức Thứ Sáu này đủ cả ba tánh
thiện, ác và vô ký với cái Kiến Đại của sáu căn ở
trước mỗi cái đều có chủng tử và hiện hành, vốn
chẳng phải Hòa, chẳng phải Hợp, cả ba cái ấy đồng là
chẳng phải, rốt ráo là không chỗ nương. Thức này do
từ đâu mà
đến
ư? Nếu sanh từ nơi cái Thấy, sanh từ các Tướng, sanh
nơi Hư Không thì đã có chỗ từ đó mà
đến.
Đã có chỗ từ đó mà
đến,
bèn có nơi chốn, thì chẳng toàn khắp. Chỉ là không
từ đâu, không từ Không đến, không từ Có đến, tức là
Tánh không có chỗ từ đâu: vốn không có bờ cõi, vốn
tự tròn đầy, toàn khắp. Cho nên cái Phân Biệt Sự
Thức này cùng với hai cái Kiến Phần và Tướng Phần
đều gọi là Thất Đại. Thức này rốt là vắng lặng, tức
là hợp với Thức Thứ Tám, gọi là Như Lai Tạng.
Nếu Thức Thứ Sáu hợp
với Trần, tức là Đồng, là Có. Lìa khỏi Trần, tức là
Khác, là Không. Chẳng phải Hợp, chẳng phải Lìa,
không còn mảy dấu vết có thể tìm được, mới được gọi
là vắng lặng, như nhiên. Cái Thức vắng lặng như
nhiên này sao lại gọi là Tánh của Thức, là Thức Chân
Thật? Vì từ cái Minh mà biết, chẳng phải từ Tình
khởi ra. Cái Thức này từ trong Chân Tánh, Chân Giác
mà lưu xuất, Thức bèn là Tánh vậy, Thức bèn là Giác
vậy. Đó gọi là chuyển Thức Thứ Tám thành Đại Viên
Cảnh Trí.
Cái Minh Tri của Tánh
Thức này là Chân Thức của Tánh Giác Minh. Như sau có
nói Diệu Minh, Minh Diệu, cũng gọi là Diệu Giác vắng
lặng như nhiên, toàn khắp pháp giới. Sáu Đại trước
thì gọi là thanh tịnh bản nhiên, chỉ có Đại này gọi
là Diệu Giác Trạm Nhiên, xét với Đẳng Giác, Diệu
Giác có chỗ phân biệt vi tế. Sáu Đại trước thì nói
“Tròn đầy khắp mười phương”, như là nghĩa Xứng Tánh.
Còn Thức Đại này thì nói “Ngậm chứa và nhả ra mười
phương hư không”, như là nghĩa Phát Khởi”. Thức Tánh
không có nguồn mà hay làm nguồn cho muôn pháp. Phàm
ở trước nói là Như Lai Tạng đều quy về đây vậy.
Ở Không Đại thì nói
“Tâm ông hôn mê”, vì mê bốn Đại và Hư Không khác
nhau, vốn không biết Tánh của Hư Không là Giác.
Ở Kiến Đại thì nói
“Tánh ông chìm đắm”, vì theo trần trôi chảy không
quay trở lại, không biết Kiến Đại là Giác mà bất
động.
Ở Thức Đại thì nói
“Tâm ông thô phù”, tức là Thức tiềm tàng ở trong,
phù là chỉ nhận phù căn, thô vì không đạt đến nguồn
gốc của Thức.
Năm Ấm là thuộc về
Mười Tám Giới, ở đây chỉ nói về Thức, vì trong Như
Lai Tạng vốn chẳng sanh chẳng diệt, cùng hòa hợp với
cái sanh diệt mà thành Thức A Lại Da. Nếu rốt ráo
quay về cái Bất Sanh Bất Diệt, thì gọi là Thức Thứ
Chín, tức Thức là Tánh vậy. Chẳng thể rốt ráo mà còn
chút ít sanh diệt, thì tuy là lặng trong không sóng
cũng chỉ là Thức mà chẳng phải Tánh. Người thấy Tánh
thì chẳng mê nơi Thức, nên an trụ nhiệm mầu nơi cái
Tâm Ngộ vậy.
Tổ Bửu Thọ thượng
đường nói:
- Tam giới Duy Tâm,
vạn pháp Duy Thức. Ngoài hiên mây sanh, trước rèm
mưa giọt, khe suối trong như lam, hoa đồng nở như
gấm. Giờ đây mà chẳng xét căn nguyên. Trễ nải mai
kia hỏi Di Lặc. Hiểu chăng? Đừng có đứng lâu cho
mệt.
Tổ Đơn Hà tụng rằng:
Linh nhiên
chẳng dính cổ hay kim,
Tam giới đều trong một điểm Tâm.
Ngoài hiên hoa đ
ào,
xuân bướm múa,
Trước cửa dương liễu rực, oanh ca.
Sách Duy Tâm Quyết nói rằng:
- Cây sườn núi trước
sân mỗi mỗi đều trổi bày cái tướng nhiệm mầu của Vô
Biên. Vượn hú, chim kêu đều cùng nhau phát lên tiếng
vẹn tròn của Bất Nhị.
Có ngộ được chỗ này
mới tin được là khắp đại địa không có chỗ nào chẳng
phải là thuốc, đâu chỉ ở trong Thất Đại mà thôi đâu?
Chẳng được như thế, có nhập Lý, luận đ
àm
sâu xa thì cũng đổi ra thành thuốc độc! Đâu phải chỉ
có Nhân Duyên, Tự Nhiên mới là hý luận!
Có nhà sư hỏi Tổ Dược
Sơn:
- Chuyện mình chưa
rõ, xin Hòa Thượng chỉ bày.
Tổ Sơn nói:
- Ta nay vì ông mà
nói một câu thì cũng không khó. Chỉ như ông nay dưới
lời nói mà thấy được thì còn có đôi chút rõ ràng.
Còn nếu rơi vào suy lường, thì thành ra tội lỗi của
ta. Chi bằng ai nấy ngậm miệng, khỏi làm lụy đến
nhau.
Thế, mới biết cái
thức tâm đo lường mò mẫm thì với đạo ngày càng đi
xa. Chỉ dùng lời nói thì chẳng phải là Thật Nghĩa.
II. ĐỐN
NGỘ PHÁP THÂN VÀ PHÁT NGUYỆN
Kinh:
- Lúc bấy giờ, Ông A
Nan và cả đại chúng nhờ Phật Như Lai vi diệu chỉ
bày, thân tâm rỗng rang, không gì chướng ngại. Cả
đại chúng ấy, mỗi người đều tự biết Tâm đầy khắp
mười phương. "Thấy mười phương Không như xem chiếc
lá trong bàn tay", tất cả thế gian, hết thảy vật gì
cũng đều là Bồ Đề Diệu Minh Nguyên Tâm. Tâm Tánh
tròn khắp, trùm chứa cả mười phương cõi nước. Nhìn
trở lại cái thân cha mẹ sanh ra, như một hạt bụi
trong hư không mười phương, như còn như mất. Như
biển lớn lặng trong, nổi trôi một bọt nước, khởi
diệt chẳng màng. Rõ ràng tự biết, vào được cái Tâm
nhiệm mầu xưa nay, thường trụ bất diệt.
Được cái chưa từng
có, bèn chấp tay lễ Phật, đối trước Như Lai, nói lên
bài kệ xưng tán bậc Giác Ngộ.
Thông rằng: Tâm Tánh
tròn khắp, hết thảy mười phương đều bao trùm trong
đó, Tâm Lượng rộng lớn vô biên, nên tự nó như thế.
Cho đến thấy mười phương Không như vật trong bàn
tay, trong đó có cả Thân Chánh Báo và hết thảy vi
trần, đó cũng mới là "Hội Vọng Về Chân", dường còn
cái Nhị Kiến. So với cái Thấy “Thân tâm nhất như,
ngoài thân không vật” vẫn còn cách một sự xả bỏ vậy.
Quan đại phu họ Lục
hỏi Tổ Nam Tuyền rằng:
- Ngài pháp sư Tăng
Triệu thật là kỳ đặc, Ngài nói, Trời đất với ta đồng
nguồn, vạn vật cùng ta một thể.
Tổ Nam Tuyền chỉ cây
mẫu đơn trước sân mà nói:
- Này đại phu! Vậy mà
người đời thấy cây hoa này như mộng ảo!
Ông Lục hụt hẫng.
Ngài Tuyết Đậu tụng
rằng:
Thấy Nghe
Hay Biết đều chẳng phải,
Núi sông sao lại thấy trong gương.
Trời sương trăng xế, đ
êm
gần nửa,
Ai soi bóng lạnh với đầm trong.
Dịch:
Văn kiến giác tri phi nhất nhất,
Sơn hà bất tại cảnh trung quan.
Sương thiên nguyệt lạc dạ tương bán,
Thùy cọng trừng đ
àm
chiếu ảnh hàn.
Ngài Thiên Đồng tụng rằng:
Soi thấu, ngoài vi đấy cội nguồn,
Xôn xao khởi diệt, thấy Diệu Môn.
Thần chơi ngoài kiếp, gì là Có?
Để mắt nhìn ra, biết Diệu Tồn.
Cọp rống ào ào hang núi vắng,
Rồng ngâm muôn vẻ động mù mây.
Nam Tuyền điểm phá người đời mộng,
Biết đấy đường đường Bổ Xứ Tôn (Bổ Xứ Phật).
Cổ đức nói “Xứ xứ đều là Từ Thị. Cửa cửa đều có
Thiện Tài”. Đây tức là: tất cả thế gian, mỗi mỗi sự
vật đều là Bồ Đề Diệu Minh Nguyên Tâm. Ở đó mà biết
được thì tự biết cái Thường Trụ Bất Diệt, mà tin
hiểu mỗi mỗi bọt nước là toàn thể đại dương. Không
thấy ở đâu có tướng khởi diệt, nên nói “Khởi diệt
chẳng màng”.
Vua Thuận Tông nhà
Đường hỏi Tổ Phật Quang Mãn:
- Phật từ đâu mà
đến,
tịch diệt hướng về đâu mà lui? Đã nói thường trụ
thế, thì nay Phật tại chốn nào?
Tổ Mãn đáp:
- Phật từ cái Vô Vi
đi lại, tịch diệt hướng về cái Vô Vi lui về. Pháp
Thân đồng hư không, thường trụ nơi Vô Tâm. Có niệm
cũng là Vô Niệm, có trụ cũng là Vô Trụ. Đến, vì
chúng sanh mà
đến;
đi vì chúng sanh mà
đi.
Biển Chân Như thanh tịnh, thể thường trụ vắng lặng
như nhiên. Kẻ trí khéo tư duy, chớ sanh lòng lo
nghĩ.
Vua lại hỏi:
- Phật hướng về cung
vua mà sanh, diệt hướng về Song Lâm mà tịch, trụ thế
bốn mươi chín năm, lại nói chẳng có pháp nào để
thuyết. Núi, sông cùng biển lớn, trời đất cho đến
trời trăng, đến thời đều diệt tận, ai nói được là
không sống chết? Lòng nghi dường ấy, xin trí giả
khéo phân biệt cho.
Ngài đáp:
- Thể Phật vốn Vô Vi,
mê tình vọng phân biệt. Pháp Thân đồng hư không,
chưa từng có sanh diệt. Có duyên, ấy là Phật xuất
thế. Không duyên, ấy là Phật nhập diệt. Chốn chốn
giáo hóa chúng sanh, cũng như trăng dưới nước. Chẳng
phải Thường cũng chẳng phải Đoạn, chẳng phải Sanh
cũng chẳng phải Diệt. Sanh cũng chẳng từng sanh,
diệt cũng chưa từng diệt. Rõ thấy chỗ Vô Tâm, tự
nhiên không có pháp nào để nói. Vua rất đẹp lòng.
Tướng quốc Bùi Hưu
ngày nọ vào chùa Khai Nguyên, thấy bức tranh trên
vách, hỏi vị chủ chùa:
- Cái ấy vẽ cái gì?
Chủ chùa nói:
- Vẽ cao tăng.
Tướng Bùi nói:
- Hình ảnh ở đó, cao
tăng ở tại chỗ nào?
Vị chủ chùa không đáp
được.
Bùi Hưu nói:
- Ở đây không có
thiền sư sao?
Chủ chùa nói:
- Có một người.
Bèn thỉnh Ngài Hoàng
Bá đến gặp, và kể lại chuyện trước mà hỏi Ngài. Tổ
Bá gọi lớn:
- Bùi Hưu!
Ông Bùi ứng tiếng:
- Dạ.
Tổ Bá nói:
- Ở tại chỗ nào?
Bùi Hưu nghe xong có
chỗ tỉnh ngộ.
Chỗ này đây có thể
làm chứng cứ cho cái Thường Trụ Bất Diệt, nên chép
vào.
Kinh:
Diệu Trạm Tổng Trì
Bất Động Tôn,
Thủ Lăng Nghiêm Vương đời ít có.
Thông rằng:
Ngài Định Lâm nói:
- Cái Thức Tinh là
Nước. Nước chẳng dao động thì gọi là Trạm, lặng
trong. Nói là Viên Trạm, ấy là thanh tịnh bản nhiên,
toàn khắp pháp giới chẳng chia làm sáu (sáu Thức),
tức là Toàn Lặng vậy. Gọi là Diệu Trạm, vì đó là cái
Diệu Lực Bất Động tổng trì tất cả, tức là cái Lặng
Trong Nhiệm Mầu vậy. Nói Tánh Giác Trạm Minh, là
Giác hợp với Thức Tinh, như mặt trời hợp với Nước mà
có tánh trong sáng. Nói “Trạm Tinh Viên Thường” tức
là Thức Tinh Toàn Lặng vậy.
Đã dứt hết sanh diệt,
nói là Thường. Nhưng cái Trạm này không phải là
không còn chảy, chỉ vì chảy nhanh quá mà nhìn thấy
dường như đứng yên đấy thôi. Kinh nói “Cái Thức
động, cái Thấy lặng yên”, nghĩa là Thức có tánh
động, gọi là nguồn gốc các Tưởng. Thức tự nó chẳng
phải là Diệu Trạm Tổng Trì nên niệm niệm chịu huân
tập, tạo ra dòng tập khí chảy mạnh, thành ra các
Hành. Trong kinh nói các Hành ví dụ như dòng nước,
là theo như đây vậy. Nhưng Thức mà so với các Hành
thì giống như đứng lặng, nên sau có nói “Lặng yên
nhập vào lặng yên”, như sóng diệt thì thành nước
lặng yên, mà gọi là Hành Ấm hết tận. Ở trong xa,
lặng trong mà sáng tỏ, nhập mà không có chỗ nhập, là
lãnh vực của Thức Ấm. Vậy thì nói Trạm Nhập, cái
Trong Lặng nhập vào ấy, là Thức Ấm. Trạm Nhập là
Thức Ấm, thì Trạm là cái Minh Tri của Tánh Thức. Cái
Minh Tri là Trí. Thức nằm trong giới hạn của Trí.
Nên nói đến năm Ấm thì nói là “Lặng yên nhập vào
Lặng yên”, nghĩa là
đưa
về trong giới hạn của Thức. Tánh Thức thì không gọi
là Trạm Nhập, mà toàn khắp pháp giới, không có xuất,
không có nhập.
Chỗ gọi là “Nội Nội
Trạm Minh, Nhập Vô Sở Nhập” là cái Trạm (lặng trong)
xuất ra thì làm Hành Ấm, cái Hành như nước chảy.
Trạm Nhập là Thức, cái Thức diệt hết Hành Ấm, thế là
“sâu lại càng sâu, lặng yên trong sáng” cho đến
nguồn căn của các Tưởng rốt không có chỗ Nhập (Vô Sở
Nhập).
Cái gọi là Thức Tinh
tức là A Đà Na Thức. Còn chỗ gọi là làm dính che cái
Trạm, tức là làm dính che cái Thức Tinh này. Thức
Tinh này như nước trong sạch, vốn không có tính
dính, chỉ vì vọng khởi phân biệt, nên cùng với Sắc
hiệp, cũng như nước hòa với đất thành ra sự dính.
Nếu biết cái Thức Tinh ấy như nước trong sạch, vốn
không có tính dính, thì không hợp với Sắc, thoát ra
khỏi sự dán dính.
Trạm có Viên Trạm,
Diệu Trạm, Giác Trạm và Tinh Trạm; có Trạm Nhập, có
Niêm Trạm như các nghĩa nói ở trước, khác biệt rất
ít, toàn là những cách ví dụ.
Ngài Mã Minh nói:
- Vì y theo cái Bất
Giác nên tâm động mà thành nghiệp. Tánh Giác thì bất
động. Phàm Tánh Giác là chẳng động, tức là cái “Diệu
Trạm Tổng Trì” vậy. Động là nghiệp, trôi lăn mà
thành các hành vậy. Gọi là Thủ Lăng Nghiêm Vương vì
cái Định Thủ Lăng Nghiêm thì hàng Thập Địa thường
trụ ở trong đó, nên Đức Phật là vua vậy.
Ngài Phó Đại Sĩ một
hôm đang giảng kinh thì nhà vua đến. Đại chúng đều
đứng dậy, chỉ có Ngài là ngồi yên chẳng động.
Cận thần báo rằng:
- Thánh Giá đến đây
sao chẳng đứng lên?
Ngài nói:
- Pháp Địa nếu động,
tất cả chẳng an!
Như Đại Sĩ, quả là
thật đắc Định Thủ Lăng Nghiêm vậy.
Có nhà sư hỏi thiền
sư Khương Sơn Phương:
- Thế nào là Bất Động
Tôn?
Tổ Phương nói:
- Chỉ mặc một áo vải
lót đi qua chợ.
Nhà sư nói:
- Kẻ học nhơn chưa
hiểu.
Tổ Phương nói:
- Cưỡi lừa đạp phá
Động Đình hồ.
Nhà sư nói:
- Thấu qua ba lớp
sóng, ròng nghe một tiếng sấm.
Tổ Phương nói:
- Duỗi tay chẳng thấy
bàn tay.
Nhà sư:
- Có cho phép kẻ học
nhơn này tiến đến hay không?
Tổ Phương nói:
- Đạp trên đất mà rao
bảo hư không.
Nhà sư nói:
- Dưới cửa sấm, đánh
trống kêu gì?
Tổ Phương nói:
- Vào trong trái cầu
thêu, chẳng dùng cờ ngũ sắc.
Nhà sư nói:
- Ba mươi năm sau,
lời này sẽ thịnh hành.
Tổ Phương bèn đánh.
Tổ Khương Sơn tự là
người ở trong ấy, chẳng ngại theo dòng mà
được
Diệu. Nhà sư ấy nhận lầm phương hướng nên khó nói
cùng nhau.
Kinh:
Tiêu điên đảo tưởng
trong ức kiếp,
Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân.
Thông rằng: Ức kiếp
thì còn có số để chỉ, còn a tăng kỳ là ba vô số
kiếp. Từ vô thủy đến nay mê cái Chân mà nhận lấy
Vọng, đều là cái thấy điên đảo. Nay đem Vọng về
Chân, được cái Bản Tâm nhiệm mầu, thường trụ, bất
diệt. Như ở trước nói Như Lai Tạng, tức là Pháp Thân
vậy.
Có vị tăng hỏi Ngài
Hoàng Bá:
- Kinh dạy rằng, Tiêu
điên đảo tưởng trong ức kiếp. Chẳng trải tăng kỳ
được Pháp Thân, là như thế nào?
Tổ Bá nói:
- Nếu lấy sự tu hành
trong ba vô số kiếp để có chỗ chứng đắc, thì hết
hằng hà sa số kiếp cũng chẳng được. Còn nếu trong
một sát na mà
được
Pháp Thân, liền ngay thấy Tánh vậy. Đó cũng là chỗ
nói rốt ráo của Tam Thừa. Vì sao thế? Vì, thấy có
Pháp Thân để đắc, tức thuộc về giáo pháp bất liễu
nghĩa. Tổ Hoàng Bá xuất lời, nhả khí thật là căn khí
Đại Thừa.
Ông A Nan đã được
Pháp Thân sao lại còn nói “Mong được xét trừ lầm vi
tế?” Vì ông còn thấy có Pháp Thân để được vậy.
Thượng Tọa Thái
Nguyên Phu ban đầu giảng kinh Niết Bàn ở chùa Quang
Hiếu tại Dương Châu. Có một thiền giả vì trời mưa
tuyết nhân đó đến nghe kinh. Đến chỗ “Ba cái Nhân
của Phật Tánh, ba cái Đức của Pháp Thân”, vị Thượng
Tọa đang giảng rộng về diệu lý của Pháp Thân, thiền
giả bật cười.
Giảng xong, Thượng
Tọa mời thiền giả uống trà, rồi nói:
-Chí tôi hẹp cạn, nên
y theo văn mà giải nghĩa, bỗng nhờ gặp tiếng cười,
xin được nghe chỉ dạy.
Thiền giả nói:
- Quả là tôi cười vì
Tòa Chủ không biết Pháp Thân.
Thầy Phu nói:
- Giảng thuyết như
thế, chỗ nào chẳng được đúng?
Đáp:
- Xin Tòa Chủ nói lại
một lần nữa!
Thầy Phu nói:
- Cái Lý của Pháp
Thân là giống như Thái Hư, dọc suốt ba thời, ngang
khắp mười phương, điều hòa Bát Cực, bao gồm Âm
Dương, tùy duyên cảm ứng, không đâu chẳng khắp.
Thiền giả nói:
- Tôi không nói Tòa
Chủ giảng không đúng. Nhưng ấy là chỉ mới nói được
chút ít cái lượng của Pháp Thân, mà quả thật chưa
biết Pháp Thân ở đâu.
Thầy Phu nói:
- Đã như thế, xin
thiền đức vì tôi mà nói.
Thiền giả:
- Tòa Chủ có tin
không?
Thầy Phu nói:
- Đâu dám chẳng tin.
Thiền giả nói:
- Nếu như thế thì Tòa
Chủ tạm ngừng giảng vài ngày, ở trong tịnh thất an
nhiên dứt nghỉ, thâu tâm nhiếp niệm, thiện ác các
duyên một phen buông bỏ hết.
Thầy Phu theo đúng
lời dạy, từ đầu hôm đến canh năm, nghe tiếng mõ, hốt
nhiên khế ngộ. Bèn chạy đến gõ cửa.
Thiền giả hỏi:
- Ai đó?
Thầy Phu đáp:
- Dạ, tôi.
Thiền giả la rằng:
- Dạy ông gìn giữ đại
giáo, thay Phật thuyết pháp sao nửa đ
êm
lại say rượu nằm đường!
Thầy Phu nói:
- Thiền đức tự đến
giảng kinh, đem cái lỗ mũi cha sanh mẹ đẻ của tôi ra
mà vặn. Từ nay trở đi, chẳng dám lầm lỗi như vậy
nữa.
Thiền giả nói:
- Đi đi, ngày sau gặp
nhau. Như thầy Phu thật là “Chẳng trải tăng kỳ được
Pháp Thân”.
Có nhà sư hỏi Hòa
Thượng Lợi Sơn:
- Chẳng trải tăng kỳ
được Pháp Thân, xin thầy chỉ thẳng.
Tổ Sơn nói:
- Con nối nghiệp cha.
Hỏi:
- Làm sao lãnh hội?
Tổ Sơn nói:
- Chê bỏ thì chẳng có
lành (từ).
Hỏi:
- Như thế thì đại
chúng đã nhờ được rồi?
Tổ Sơn nói:
- Đại chúng hãy để
đó, thế nào là Pháp Thân?
Nhà sư không đáp
được.
Tổ Sơn nói:
- Ông hỏi, ta nói
cho.
Nhà sư nói:
- Thế nào là Pháp
Thân?
Tổ Sơn nói:
- Hoa không, bóng
nắng.
Thử nói xem chỗ nói
Pháp Thân của Ngài Lợi Sơn so với Ông A Nan xa gần
thế nào?
Kinh:
Nguyện nay đắc quả,
thành Bảo Vương,
Về độ như thế, hằng sa chúng.
Thông rằng: “Chẳng
trải tăng kỳ được Pháp Thân”, thì Tín Vị là
đúng
mà Nhân Vị thì chưa phải. Cho nên, Hạnh tròn Quả
mãn, thật chứng Chân Trí, như ngọc lưu ly thanh
tịnh, ngậm chứa mặt trăng báu ở trong, mới đắc thành
Bảo Vương. Lúc ấy, nhìn khắp tất cả chúng sanh đều
có đức tướng Trí Huệ Như Lai, ta đều mỗi mỗi độ hết;
chúng sanh vô tận, nguyện này vô tận, từ bi tròn
đầy, trong ấy chẳng còn cái ta nữa. Thế mới là Phật,
Pháp, Tăng, ba Thể quý báu, là cầu bến của chúng
sanh vậy.
Ngài Động Sơn Sơ ban
đầu ra mắt Tổ Vân Môn.
Tổ hỏi:
- Mới rời chốn nào?
Đáp:
- Tra Độ.
Tổ Môn nói:
- Nhập hạ ở đâu?
Đáp:
- Chùa Báo Từ ở Hồ
Nam.
Tổ Môn nói:
- Rời chỗ đó khi nào?
Đáp:
- Ngày Hai Mươi Lăm,
tháng Tám.
Tổ Môn nói:
- Tha cho ông ba mươi
gậy.
Sáng hôm sau, Ngài
Động Sơn lại đến, hỏi:
- Hôm qua nhờ Hòa
Thượng tha cho ba mươi gậy, không rõ có lỗi gì ?
Tổ Môn nói:
- Đồ túi cơm! Giang
Tây, Hồ Nam bèn thế ấy! Ngài Động Sơn ngay nơi lời
nói đại ngộ, bèn nói:
- Từ nay về sau hướng
về chốn bặt không người, không khói, không giữ một
hột cơm, không trồng một cọng rau, mà tiếp đãi hết
ráo mười phương qua lại. Vì họ mà nhổ đinh tháo
chốt, lột bỏ cái mũ thoa dầu, cởi ra cái áo lót hôi
thúi, dạy y vĩnh viễn làm ông thầy tu vô sự, há
chẳng khoái sao? Tổ Môn nói:
- Thân ông chỉ lớn
bằng trái dừa, sao há miệng lớn thế! Ngài Động Sơn
bèn lễ bái.
Kinh:
Nguyện đem toàn thể
thâm tâm này,
Phụng sự cõi nước nhiều như bụi,
Thế mới gọi là báo Phật Ân,
Thông rằng: Hai chữ
Thâm Tâm này có cái mùi vị mà hạng thiển cận không
thể đo lường nổi. Cõi nước nhiều như bụi, không có
bến bờ, Trí Bi vô lượng, cùng với Phật đồng Tâm Từ,
mới gọi là báo ơn vậy.
Ngài Lâm Tế từ giã Tổ
Hoàng Bá.
Tổ hỏi:
- Đi đến chốn nào?
Ngài Lâm Tế đáp:
- Không phải là Hà
Nam, thì là Hà Bắc! Tổ Bá liền đánh. Ngài chụp lại
rồi thoi một thoi.
Tổ Bá cười lớn, gọi
thị giả:
- Đem cây thiền bản
trên bàn thờ của Tiên Sư Bá Trượng lại đây.
Ngài Lâm Tế nói:
- Thị giả, đem lửa
lại đây!
Tổ Bá nói:
- Tuy nhiên như thế,
ông hãy đem đi, về sau rồi ngồi trên đầu lưỡi của
thiên hạ.
Sau này, Tổ Quy Sơn
hỏi Ngài Ngưỡng Sơn: Lâm Tế há chẳng cô phụ Hoàng Bá
đấy ư?
Ngài Ngưỡng Sơn nói:
- Không đâu.
Tổ Quy nói:
- Con lại còn cho làm
sao?
Ngài Ngưỡng Sơn nói:
- Biết ơn mới biết
trả ơn.
Tổ Quy nói:
- Xưa kia cổ nhơn có
chuyện tương tự như thế không?
Ngài Ngưỡng nói:
- Có chứ, nhưng lâu
xa quá nên không muốn nêu ra.
Tổ nói:
- Dầu như thế, ta
không biết, con hãy nêu ra đi.
Ngài nói:
- Như ở hội Lăng
Nghiêm, A Nan tán thán Phật rằng: “Nguyện đem toàn
thể thâm tâm này, phụng sự cõi nước nhiều như bụi.
Thế mới gọi là báo Phật Ân”. Đó chẳng phải là việc
báo ơn sao?
Tổ Quy nói:
- Thế đấy, thế đấy!
Chỗ Thấy ngang Thầy, thì giảm một nửa Đức của Thầy.
Chỗ Thấy hơn Thầy mới nên truyền thọ.
Lại Tổ Quy Sơn hỏi
Ngài Ngưỡng Sơn:
- Sau này Lâm Tế như
thế nào?
Ngài Ngưỡng Sơn đáp:
- Khoảng giữa đất
Ngô, đất Việt có một người, gặp gió lớn thì ngừng
lại.
Tổ Quy nói:
- Vậy là thế nào?
Ngài Ngưỡng nói:
- Đem thâm tâm này
hiến trần sát. Đó mới gọi là báo Phật Ân! Về sau,
Ngài Phong Huyệt Chiểu đắc pháp với Ngài Thủ Sơn
Niệm. Người ta cho đó là Ngưỡng Sơn trở lại.
Như Tổ Ngưỡng Sơn quả
là có thâm tâm, thế nào lường được ư? Thế nào lường
được ư?
Kinh:
Cúi xin Thế Tôn chứng minh cho,
Ngũ trược ác thế, thề vào trước.
Thông rằng: Năm Ấm
chưa Không, thì Năm Trược khó phá, làm sao độ hết
thảy khổ ách? Chỉ có bậc đắc quả, đã chứng pháp xuất
thế gian nên chẳng ngại “Thõng tay vào chợ”, lấy
Giác mà giác ngộ cho người. Chỗ nói “Đem thâm tâm
này hiến trần sát”, tất trước dâng cho đời ác Năm
Trược vậy. Cái Nghiệp của Ông A Nan là cái Nguyện
này. Ở quốc độ này, có Ngài Phó Đại Sĩ đủ sức đảm
đương việc đó.
Đại Sĩ tên là Hấp,
năm mười sáu tuổi cưới cô gái Diệu Quang nhà Lưu
Thị, sanh hai con tên là Phổ Kiến và Phổ Thành. Năm
hai mươi bốn tuổi bán vợ con mà làm hội cúng thí các
loài dưới nước, trên cạn. Rảnh rỗi thì cùng người
trong làng ngăn bờ bắt cá. Bắt được, nhận giỏ cá
xuống sông, rồi chú nguyện cho: “Đi thì thả, ở thì
giữ”. Ai cũng cho là khùng dại.
Gặp vị Đầu Đà người
Ấn là Tăng Tung. Vị này nói: “Ta cùng ông đã phát
nguyện ở chỗ Phật Tỳ Bà Thi. Nay y bát vẫn còn ở
cung trời Đâu Suất, ngày nào ông trở về?”. Rồi bảo
Ngài ra nơi nước nhìn bóng, thì thấy hào quang và
lọng báu.
Ngài cười mà nói:
- Nơi lò rèn còn
nhiều sắt vụn, nơi cửa thầy thuốc có lắm bệnh nhân.
Cứu đời là cần gấp, sao mà nghĩ đến cái vui kia?
Vị Đầu Đà chỉ lên
ngọn Tùng Sơn mà nói:
- Chỗ ấy dừng ở được.
Đại Sĩ tự mình cày ruộng ở đó. Có người trộm đậu,
lúa, dưa, trái Ngài cho luôn giỏ để đựng.
Năm thứ hai đời Thiên
Gia thị tịch, cảm ứng có bảy vị Phật cùng theo đưa,
đức Thích Ca dẫn đầu, cuối là Ngài Duy Ma Cật. Đức
Thích Ca nói mấy lời:
- Làm Bổ Xứ cho Ta.
Chỉ thẳng Tâm người,
thấy Tánh thành Phật, Chánh Pháp Nhãn Tạng từ Đức Ca
Diếp, Đức A Nan truyền đến Tổ Đạt Ma là hai mươi tám
đời. Cõi này tuy có kinh điển, nhưng chưa được nghe
cái Tông Phong tối thượng. Thế mà Tổ Đạt Ma chưa
tới, Ngài Đại Sĩ đã sanh, thế không phải là cái minh
chứng cho việc Vào trước hay sao?
Kinh:
Còn một chúng sanh chưa thành Phật,
Rốt chẳng nơi kia nhận Niết Bàn.
Thông rằng: Vô lượng
Chư Phật đời quá khứ độ thoát vô lượng chúng sanh.
Đâu phải ai ai cũng thành Phật rồi, mà
đã
nhập Niết Bàn? Kinh Kim Cang nói: Ta đều khiến nhập
Niết Bàn Vô Dư mà diệt độ, kỳ thật không có chúng
sanh được diệt độ.Đến cảnh giới này thì không thấy
có Phật để thành, có chúng sanh để độ, cũng không có
Niết Bàn để nhập, mới là Chánh Kiến.
Có vị tăng hỏi Ngài
Trung quốc sư:
- Cái gì là Phật Tâm?
Quốc sư nói:
- Tường vách gạch
ngói chính là
đó.
Tăng hỏi:
- Rất trái với kinh
vậy.
Kinh Niết Bàn nói:
- Lìa ngoài vật vô
tình tường vách, nên gọi là Phật Tánh.Nay nói đó là
Phật Tâm, chưa rõ Tâm và Tánh là khác hay chẳng
khác?
Ngài đáp:
- Mê thì khác, ngộ
tức chẳng khác.
Tăng nói:
- Kinh nói: Phật Tánh
là thường, tâm là vô thường, nay nói chẳng khác
nhau, là sao vậy?
Ngài đáp:
- Ông chỉ y vào lời
nói, mà chẳng y vào nghĩa. Ví như tháng lạnh, nước
kết thành băng. Đến khi trời ấm, băng tan thành
nước. Khi chúng sanh mê, thì kết Tánh thành cái tâm.
Khi chúng sanh ngộ, rã tan cái tâm thành Tánh. Nếu
chấp rằng vô tình không có Phật Tánh, thì rốt ráo
chẳng nói được Tam Giới Duy Tâm. Rõ ràng ông tự trái
với kinh, ta nào có trái.
Tăng nói:
- Trong kinh giáo chỉ
thấy nói hữu tình thành Phật, chẳng thấy có vô tình
được thọ ký. Vả lại, ngàn Phật đời Hiền Kiếp có ai
là Phật vô tình đâu?
Ngài nói:
- Như Hoàng Thái Tử
khi chưa lên ngôi thì chỉ có một thân. Lên ngôi rồi,
toàn quốc độ đều thuộc về vua, há có quốc độ riêng
nhận ngôi vị ư? Nay khi chỉ có hữu tình được thọ ký
làm Phật, thì mười phương quốc độ đều là thân Phật
Tỳ Lô Giá Na, há lại có vô tình được thọ ký ư?
Tăng nói:
- Tất cả chúng sanh
đều ở trên thân Phật, ỉa đái dơ lấm thân Phật, xoi
đục dày đạp thân Phật, há chẳng có tội sao?
Ngài nói:
- Toàn thể chúng sanh
là Phật thì còn ai làm tội?
Tăng hỏi:
- Kinh nói, Thân Phật
không quái ngại, nay lấy vật hữu vi chướng ngại mà
làm thân Phật, thế chẳng trái với Thánh chỉ ư?
Ngài nói:
- Kinh Đại Phẩm nói,
Không thể lìa Hữu Vi mà nói Vô Vi. Ông có tin Sắc là
Không chăng?
Tăng nói:
- Lời chân thật của
Phật sao dám chẳng tin.
Ngài nói:
- Sắc đã là Không,
sao còn quái ngại?
Tăng nói:
- Chúng sanh vốn đồng
Phật Tánh, thì chỉ cần một vị Phật tu hành, khi ấy
hết thảy chúng sanh đều giải thoát. Nay đã không
thế, thì nghĩa đồng ở đâu? Ngài nói:
- Ông chẳng thấy Lục
Tướng nghĩa Hoa Nghiêm nói rằng: Trong cái Đồng có
cái Khác, Trong cái Khác có cái Đồng. Tướng Thành,
Tướng Hoại, tướng Tổng, tướng Biệt mỗi mỗi đều như
thế. Chúng sanh cùng Phật, tuy đồng một Tánh mà
chẳng trở ngại mỗi mỗi tự tu tự đắc. Chưa từng thấy
người ăn mà mình no. Lấy bọt nước và biển làm thí
dụ. Một bọt nước đã tan mất thì toàn thể vẫn vốn là
biển cả. Chưa hề thấy một bọt nước tan mà tất cả bọt
đều tan. Nên trong cái Tánh ấy đâu có ngại gì mỗi
người tự tu, mỗi người tự đắc.
Đã ngộ khắp hết thảy
đều là nước, thì có bọt nào mà không là nước? Chúng
sanh chẳng phải là Phật đấy sao? Nếu thấy tất cả
chúng sanh là Phật, thì bèn ở trong Niết Bàn.
Kinh: Đại Hùng, Đại
Lực, Đại Từ Bi,
Mong xét trừ cho lầm vi tế.
Thông rằng: Đại Hùng,
vì bậc Thập Địa bên dưới là Thư, con mái. Đại Lực vì
vượt quá Ngũ Lực. Cho sự vui là Từ. Cứu khỏi khổ gọi
là Bi. Muốn khiến cho cái tâm kia thông suốt mới gọi
được là Tự Tánh hiện bày, nên A Nan hy vọng Thế Tôn
xét trừ cho mê lầm vi tế. Đã được Pháp Thân, sao lại
còn điều lầm?
Tổ Vân Môn nói:
- Được ngay sự chạm
mắt không vướng ngại, thấu được Danh Thân, Cú Thân
tất cả các pháp đều Không, núi sông đất đai là Danh
Thân, cũng là bất khả đắc. Gọi đó là Biển Tánh Tam
Muội sẵn đủ, như biển không sóng gió. Được ngay sự
quên thấy biết nơi cái Giác, Giác là Phật Tánh đó
vậy. Gọi là người Vô Sự, nhưng cũng cần biết có một
khiếu (lỗ) hướng thượng!
Tổ Thiên Đồng nêu ra:
- Khách, chủ không
hòa, cả hai đều có lỗi. Mỗi bên đều cho hai mươi
gậy. Còn một khiếu hướng thượng thì làm sao? Tê giác
nhân xem trăng mà sừng sanh vằn. Voi bị sấm hoảng
kinh mà hoa in vào ngà.
Ngày khác, Tổ Vân Môn
lại nói:
- Ánh sáng không thấu
thoát do có hai loại bệnh. Một là tất cả chỗ không
sáng, trước mặt có vật. Hai là thấu suốt được tất cả
pháp là Không, mà còn có cái mơ hồ tương tự như vật,
đó cũng là ánh sáng không thấu thoát. Pháp Thân cũng
có hai loại bệnh. Một là
đến
được Pháp Thân, nhưng vì pháp chấp chưa hết, cái
Thấy của mình dường như còn, mà ngồi một bên Pháp
Thân. Hai là tuy đã thấu được Pháp Thân mà bỏ đi
chẳng được, kiểm điểm kỹ càng trở lại, có chút khí
tức gì cũng là bệnh.
Ngài Thiên Đồng tụng
rằng:
Um tùm
muôn tượng khá chênh vênh,
Thấu thoát không đâu ngại mắt mình.
Quét sạch môn đình ai đủ sức?
Núp trong lồng ngực: tự thành Tình.
Thuyền ngang bờ lục, màu thu biếc,
Vào đám bông lau, tuyết sáng soi.
Xâu sợi ông chài ôm đến chợ,
Êm êm thuyền lá mặc buông trôi.
Tổ Càn Phong nói:
- Pháp Thân có ba thứ
bệnh, hai thứ ánh sáng, sao Vân Môn lại thiếu đi một
thứ? Các nơi đều nói:
- Chưa đến thì chạy
quàng. Đến rồi thì bám riết. Thấu thoát không chỗ
nương. Đó là ba. Thế là trước thiếu một thứ.
Phật Nhãn nói:
- Cỡi lừa tìm lừa, là
một. Cỡi lừa rồi chẳng chịu xuống, đó là hai. Thế là
sau còn thiếu một thứ.
Các tôn túc bàn luận
ba thứ bệnh của Pháp Thân, vi tế đến như thế. Đâu có
liên quan gì đến kinh giáo ư?
Kinh:
Khiến tôi sớm lên Vô
Thượng Giác,
Nơi mười phương cõi
ngồi Đạo Tràng.
Thông rằng: Vô Thượng
Giác ấy tức là một khiếu hướng thượng vậy. So với ở
trước “Được Pháp Thân và
đắc
quả”, thì có sai khác ư? Không sai khác ư? Chỗ có
thể nói là Phật Quả thì có bảy; Bồ Đề, Niết Bàn,
Chơn Như, Phật Tánh, A Ma La Thức, Không Như Lai
Tạng và Đại Viên Cảnh Trí.
Ngộ Bồ Đề, thấy Phật
Tánh có thể nói là
được
Pháp Thân. Sau khi thấy Tánh, xét trừ mê lầm vi tế
khiến sanh diệt, diệt sanh đều vắng lặng, cùng hợp
với Niết Bàn, Chân Như. Trong trắng thuần sạch, hợp
cùng A Ma La Thức. Rỗng suốt tròn soi, hợp cùng
Không Như Lai Tạng, Đại Viên Cảnh Trí. Như thế mới
có thể gọi là
đắc
quả, nhưng chưa có thể gọi là lên Vô Thượng Giác.
Xem một chữ Sớm (Tảo)
là pháp môn Đốn Ngộ, một hiểu được thì trăm thành ra
ngay, không nhờ tu hành thứ bậc, chẳng kể phàm phu
hay Thập Địa, ai ai cũng có thể lên.
Đức Phật nói rằng:
- Ta có Chánh Pháp
Nhãn Tạng, Niết Bàn Diệu Tâm mật phó cho Ông Ca
Diếp.
Nào có dấu vết tăm
hơi gì khá được ư? Đây tức là Vô Thượng Giác vậy.
Một lần lên cái Giác này là
đến
địa vị Phật, bèn ở mười phương cõi ngồi tòa sen báu,
vì chúng sanh thuyết pháp. Long Nữ còn như vậy,
huống là bực đệ tử Thanh Văn ư? Ngài Dược Sơn ở với
Đức Mã Tổ ba năm.
Đức Mã Tổ hỏi:
- Gần đây chỗ thấy
của ông ra sao?
Ngài Sơn nói:
- Da dẻ rơi rụng
sạch, chỉ còn một cái Chơn Thật.
Đức Mã Tổ nói:
- Chỗ được của ông
khá gọi là hợp với Tâm Thể, trải khắp tay chân. Đã
như thế thì đem ba miếng cật tre bó giữ da bụng, tùy
chỗ mà trụ sơn đi.
Ngài thưa:
- Tôi là người nào mà
dám nói chuyện trụ sơn?
Đức Mã Tổ nói:
- Chẳng phải thế đâu.
Chưa hề có đi mãi mà không đứng lại. Chưa hề có dừng
mãi mà không đi. Muốn ích mà không có chỗ ích, muốn
làm mà không có chỗ làm, nên làm thuyền bè, không
nên dừng lâu ở đây.
Ngài Đức Sơn đến Tổ
Quy Sơn, kẹp một cái áo lót lên nhà giảng, từ Tây
sang Đông, từ Đông sang Tây quay nhìn Tổ Quy Sơn mà
nói:
- Có chăng? Tổ Quy
Sơn cứ ngồi, không để ý đến.
Ngài Đức Sơn nói:
- Không, không! Rồi
bỏ đi ra.
Ngài Tuyết Đậu chú
rằng:
- Khám phá xong rồi!
Ngài Đức Sơn ra đến
cửa, bèn nói:
- Tuy là như thế,
cũng chẳng được buông tuồng.
Rồi đầy đủ oai nghi,
trở vào tương kiến. Vừa qua khỏi cửa, đưa lên cái
tọa cụ, nói:
- Hòa Thượng!
Tổ Quy Sơn định lấy
cây phất tử. Ngài bèn hét, phất tay áo mà
đi
ra.
Ngài Tuyết Đậu chú
thêm:
- Khám phá xong rồi!
Tổ Quy Sơn đến tối
hỏi Thủ Tọa:
- Cái ông mới đến
ngày hôm nay có đây không?
Thủ Tọa nói:
- Ngay khi ra khỏi
nhà giảng thì mang dép cỏ đi luôn rồi.
Tổ Quy Sơn nói:
- Ông ấy về sau lên
đỉnh núi đơn độc chót vót kết thảo am, la Phật mắng
Tổ đó.
Ngài Tuyết Đậu chú
rằng:
- Trên tuyết lại thêm
sương!
Rồi tụng rằng:
Một khám
phá, hai khám phá!
Trên tuyết thêm sương, thêm hiểm họa.
Tướng quân bay ngựa vào triều giặc,
Về được hoàn toàn có mấy ai?
Mau chạy qua, chẳng bỏ qua!
Trên đỉnh cô phong, ngồi am cỏ,
Ối!
Thêm một chữ “Ối” này là ngón nghề kỳ đặc của Ngài
Tuyết Đậu. Chẳng lên Vô Thượng Giác khó mà hiểu nổi.
Kinh:
Tánh hư không còn có
thể tiêu,
Tâm Kim Cang không hề
động chuyển.
Thông rằng: Thuấn Nhã
Đa (Sũnyata) là Hư Không; Thước Ca Ra (Cakravãda) là
kiên cố như Kim Cang. Câu này xưa nói “Tánh Hư Không
vô thể còn có thể tiêu vong. Tâm kiên cố của tôi rốt
ráo không động chuyển”. Tựa như Ông A Nan phát
nguyện như vậy. Đã nguyện “Đắc quả thành Bảo Vương”,
sao lại có nguyện này? Đã “Lên Vô Thượng Giác tọa
Đạo Tràng”, sao lại khăng khăng “Không động chuyển”?
Câu này vốn chẳng có
lầm, phải cần biết cái yếu chỉ quy về. Đó là “Diệu
Trạm Tổng Trì Bất Động Tôn. Thủ Lăng Nghiêm Vương
đời ít có”, nói ở trước.
Sao nói là Diệu Trạm?
Vì, tuy Lặng Trong Bất Động, mà chẳng bám giữ hư
không, nên mới gọi là Diệu. Nếu trụ bám Hư Không mà
cho là bất động, thì rốt cuộc chẳng phải “Cả thảy
rốt ráo kiên cố”. Ý Ông A Nan là: dù mười phương
ngồi Đạo Tràng, cũng không trụ bám Pháp Thân Hư
Không, nên Chánh Pháp Nhãn Tạng rốt ráo kiên cố.
Cũng như nói “Thủ Lăng Nghiêm Vương, Diệu Trạm Bất
Động” vậy. Đầu đuôi ứng nhau, lý thú còn lâu dài
mãi.
Cổ đức nói:
- Dài là Pháp Thân
dài, ngắn là Pháp Thân ngắn.
Ngài Thiên Đồng nêu
ra rằng:
- Thử nói xem:
- Thuấn Nhã Đa sao
lại gọi đó là Pháp Thân?
Ngài im lặng một lúc
rồi nói:
- Có hiểu không?
Không thể nối dài con le le mà cắt chân con hạc, phá
hòn núi để lấp cái lỗ hang!
Lời nói này chính là
vì sợ người ta hướng về trong hư không mà
đóng
chết ở trong đó.
Tổ Sơ Sơn thượng
đường, nói:
- Bệnh tăng rõ hết
trước năm (niên tiền), thì hiểu được chuyện bên phía
Pháp Thân. Rõ hết sau năm (niên hậu) thì hiểu được
chuyện hướng thượng của Pháp Thân.
Ngài Vân Môn bước ra,
hỏi:
- Thế nào là chuyện
bên phía Pháp Thân?
Tổ Sơn nói:
- Cây Xuân khô.
Hỏi:
- Thế nào là chuyện
hướng thượng của Pháp Thân?
Tổ Sơn nói:
- Chẳng phải cây Xuân
khô!
Hỏi:
- Có cho phép tôi nói
đạo lý không?
Tổ Sơn nói:
- Cho.
Ngài Vân Môn nói:
- Cây Xuân khô há
chẳng phải tỏ rõ cái chuyện bên phía Pháp Thân sao?
Tổ Sơn nói:
- Đúng vậy.
Ngài Vân Môn nói:
- Chẳng phải cây Xuân
khô, há chẳng phải tỏ rõ chỗ hướng thượng của Pháp
Thân sao?
Tổ Sơn nói:
- Đúng vậy.
Ngài Vân Môn nói:
- Như thế Pháp Thân
bao trùm tất cả phải không?
Tổ Sơn nói:
- Pháp Thân toàn
khắp, sao chẳng trùm hết?
Ngài Vân Môn chỉ cái
tịnh bình, nói:
- Như thế cái tịnh
bình có bao trùm Pháp Thân không?
Tổ Sơn nói:
- Xà Lê chớ hướng về
một bên tịnh bình tìm kiếm!
Ngài Vân Môn bèn lễ
bái.
Rõ ràng chỉ ra “Chẳng
phải cây Xuân khô” là một con đường sống. Chỉ là cái
“Chẳng phải cây Xuân khô” này, chánh thật hợp với ý
chỉ “Tánh hư không còn có thể tiêu” vậy.
Ngài Tào Sơn ban đầu
ra mắt Tổ Động Sơn.
Tổ Động Sơn nói:
- Thầy Xà Lê tên gì?
Ngài đáp:
- Bổn Tịch.
Tổ Động Sơn nói:
- Hình dạng gì?
Ngài đáp:
- Chẳng gọi là Bổn
Tịch.
Tổ Động Sơn nói:
- Rất là pháp khí
vậy.
Từ đó, được nhập
thất, trải qua mấy năm mới xin đi. Tổ Động Sơn mới
mật truyền cho Bảo Cảnh Tam Muội, lại hỏi:
- Ông hướng chỗ nào
đi?
Ngài Tào Sơn đáp:
- Đi vào chỗ chẳng hề
thay đổi.
Tổ nói:
- Chỗ chẳng hề thay
đổi lại có đi ư?
Ngài nói:
- Đi cũng chẳng thay
đổi! Ngài Đơn Hà tụng rằng:
Nhà nhà
cửa đóng, ánh trăng soi,
Chốn chốn oanh kêu dương liễu rung.
Nếu bảo tung hoành không đổi khác,
Cũng như quăng kiếm chém hư không.
Tổ Tào Sơn, Chánh Thiên kiêm đới, có thể nói là
được
con mắt kim cang. Như định nhìn nhận chỗ không thay
đổi, dường vẫn còn cây kiếm. Ôi, vi tế, nhỉ!