KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN II
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG
CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN TÂM
MỤC NĂM: CHỈ
RA CÁI VỌNG THẤY
I. XIN CHỈ DẠY TÁNH THẤY CHẲNG DO THẤY
Kinh: Ông A Nan bạch Phật
rằng:
- Thưa Thế Tôn, như
Đức Thế Tôn vì chúng tôi mà chỉ dạy về Nhân Duyên,
Tự Nhiên, các tướng Hòa Hợp và Chẳng Hòa Hợp, tâm
tôi còn chưa khai ngộ. Nay lại nghe Phật dạy: "Tánh
Thấy chẳng do thấy", thì lại càng thêm mê muội. Cúi
mong Phật thương xót, bố thí cho con mắt Đại Huệ,
chỉ bày cho chúng tôi cái Giác Tâm sáng sạch.
Nói vậy xong, khóc
lóc cúi lạy, vâng nghe lời dạy.
Khi ấy, Thế Tôn
thương xót Ông A Nan và cả đại chúng, sắp muốn hiển
bày pháp Đại Tổng Trì (Đà La Ni), các Tam Ma Đề là
Con Đường Vi Diệu của sự tu hành, nên mới bảo Ông A
Nan rằng:
- Ông tuy có trí nhớ
mạnh mẽ, nhưng chỉ thêm phần đa văn, chứ nơi pháp Xa
Ma Tha quán chiếu vi mật, tâm còn chưa rõ. Nay ông
hãy nghe kỹ, ta sẽ vì ông phân biệt chỉ bày, cũng là
khiến cho những kẻ hữu lậu mai sau được quả Bồ Đề.
Thông rằng: Tịch mà
thường Chiếu, cho nên có thể soi rõ Kiến Tinh (cái
Thấy) là hư vọng. Chiếu mà thường Tịch cho nên biết:
“Tánh Thấy chẳng phải là cái thấy (Kiến phi thị
kiến)”. Chỗ này mà hàng ngày chẳng viên dung ba Pháp
Quán thì chưa dễ hiểu nổi.
Sư Thạch Môn Uẩn Huy
làm vườn ở chỗ Tổ Thanh Lâm.
Một ngày kia đang
đứng hầu, Tổ nói:
- Hôm nay ông làm gì?
Đáp:
- Trồng rau.
Tổ Lâm nói:
- Khắp pháp giới, đó
là thân Phật, ông hướng chỗ nào trồng.
Sư đáp:
- Cày vàng chẳng động
đất, mầm linh tại chỗ sanh.
Tổ Lâm hân hoan.
Hôm sau, Tổ Thanh Lâm
vào vườn, gọi:
- Uẩn Xà Lê! Sư Uẩn
lên tiếng:
- Dạ.
Tổ Lâm rằng:
- Trồng thêm cây
không ảnh, để lại cho người sau xem.
Sư Uẩn nói:
- Nếu là cây không
ảnh, há để chịu trồng ư? Tổ Lâm nói:
- Không chịu trồng
thì để đó! Ông từng thấy nhánh lá nó không? Đáp:
- Chẳng từng thấy. Tổ
Lâm:
- Đã chẳng từng thấy,
sao biết nó chẳng chịu trồng?
Đáp:
- Chỉ vì nó chẳng
từng thấy, cho nên nó chẳng chịu trồng.
Tổ Lâm rằng:
- Đúng vậy, đúng vậy.
Nếu ngộ được Tánh
Thấy lìa mọi Tướng Thấy, thì tất cả Nhân Duyên, Tự
Nhiên, Hòa Hợp do cái Thấy lập ra từ đâu mà sanh
khởi?
Thiền sư Trí Cự ban
đầu hỏi Tổ Tiên Tào Sơn rằng:
Người xưa nâng giữ
cho người bên ngoài mé, kẻ học nhân này làm sao lãnh
hội?
Tổ Sơn đáp:
- Lui bước liền tựu
thành mình, muôn ngàn chẳng mất một!
Thiền sư Trí Cự, ngay
dưới lời, liền tiêu tan hết kiến giải, mới từ biệt
đi. Sau đó, tham học khắp nơi.Một hôm, đang xem kinh
thì có vị sư hỏi:
- Tâm của Thiền Tăng
chẳng treo nhẫn đến một chữ cái, đâu thể học nhiều?
Ngài đáp:
- Văn tự thì khác
nhau, muôn pháp thể vốn không. Mê thì câu câu đều là
ghẻ lở. Ngộ thì lời lời đều là Bát Nhã. Ví không
lấy, bỏ, nào hại "Vẹn Tròn" kia.
Cho nên nhớ nhiều, đa
văn mà
được
như Ngài Trí Cự thì cái gì mà chẳng có thể?
II. CHỈ RA
HAI THỨ VỌNG THẤY
Kinh:
- A Nan, tất cả chúng
sanh luân hồi trong thế gian đều do hai cái Vọng
Thấy điên đảo phân biệt. Ngay nơi Tâm Tánh mà phát
sanh, ngay theo nghiệp mà xoay vần. Thế nào là hai
cái Vọng Thấy? Một là, cái Vọng Thấy Biệt Nghiệp của
chúng sanh. Hai là, cái Vọng Thấy Đồng Phận của
chúng sanh.
Thông rằng: Sắp nói
rõ cái Kiến Tinh (cái Thấy) là hư vọng, nên dùng hai
cái Vọng Kiến Biệt Nghiệp và Đồng Phận mà chỉ bày.
Đã rõ Biệt Nghiệp là hư vọng thì cái hư vọng của
Đồng Phận có thể suy ra vậy. Đã biết Đồng Phận là hư
vọng, thì có thể suy ra cái hư vọng của Kiến Tinh.
Biết Kiến Tinh là hư vọng thì rõ ngay Tánh Thấy
chẳng hư vọng. Hiểu suốt chỗ này thì "Tánh Thấy
chẳng phải là cái Thấy", có thể tự suốt nhiên không
nghi ngờ gì nữa.
Thấy, Nghe, Hay, Biết
cũng cùng là hư vọng điên đảo, vậy sao chỉ biện rõ ở
"cái Thấy" mà thôi? Ở đoạn trước đã nói: Khiến cho
ông bị trôi lăn là lỗi ở tâm và con mắt. Cho nên
trôi nổi bôn ba theo sắc, chỉ có cái Thấy là khó trị
nhất.
Ông A Nan bị Cô Ma
Đăng Già mê hoặc, đó chẳng phải Cô Ma Đăng Già mê
hoặc Ông A Nan, mà chính là do cái Vọng Thấy của A
Nan làm nên bệnh. Huống gì cái Vọng Thấy lưu chuyển
này lại thuộc về sanh diệt, mà cái Thấy Chân Thật
(Chơn Kiến) thì chẳng thể trả về đâu, lặng trong
thường trụ. Cho nên lấy cái Thấy của người mù mà
thấy sắc, thì sắc chẳng đáng ưa! Lấy cái Thấy của
thấy tối mà thấy ánh sáng, tức là cái Thấy vốn chẳng
có sáng, có tối. Đạt thẳng đến cái gốc nguồn của mọi
cái Thấy, thì rõ suốt cái Tánh Thấy vốn không có cái
Thấy nào đến được, thế thì còn đâu cái lầm lỗi trôi
lăn?
Xưa, Tổ Quy Sơn hỏi
Ngài Ngưỡng Sơn:
-Chúng sanh trong đại
địa, cái nghiệp thức mang mang, vốn không có gốc rễ,
căn cứ. Ông làm sao biết kia có hay không có?
Ngưỡng Sơn đáp:
- Huệ Tịch này có chỗ
nghiệm xét.
Khi ấy, có một vị
tăng đi ngang trước mặt, Ngài Ngưỡng Sơn gọi:
- Thầy Xà Lê!
Vị tăng quay đầu lại.
Ngưỡng Sơn nói:
- Thưa Hòa Thượng,
cái này chính là nghiệp thức mang mang, không có gốc
rễ, căn cứ.
Tổ Quy Sơn nói:
- Đây thật là một
giọt sữa sư tử, làm tiêu sáu đấu sữa lừa! Ngài Thiên
Đồng tụng rằng:
Một gọi,
quày đầu biết ta không?
Lưới trăng thưa thớt lại thành cong, (như móc câu)
Con quí ngàn vàng vừa lưu lạc
Mờ mịt đường cùng chắc thấy sầu.
Một tắc này đây, gọi là Vọng Kiến Biệt Nghiệp thì
được đó!
Ông Thượng Thơ Trần Tháo đang cùng những bạn đồng
liêu ở trên lầu thì thấy có vài nhà sư đi tới. Có
một vị quan nói:
- Những người đi tới
đó đều là tăng hành cước.
Trần Tháo nói:
- Chẳng phải đâu. Vị
quan nói rằng:
- Sao biết chẳng
phải?
Tháo nói:
- Chờ tới rồi thẩm
nghiệm xem.
Chốc lát, các vị sư
đi tới trước lầu. Ông Tháo đột nhiên kêu lớn:
- Thượng Tọa!
Các nhà sư đều ngẩng
đầu lên.
Ông liền nói với các
vị quan rằng:
- Chẳng tin đạo.
Các quan ngơ ngác.
Ngài Thiên Đồng nêu
lên rằng:
- Trần Thượng Thơ
ngay mặt mà nêu rõ, dối Ngài Trường Lô một điểm
chẳng được!
Tức một tắc này, gọi
là Vọng Kiến Đồng Phận thì được lắm! Nhưng nếu trong
các vị sư, có vị khi nghe la mà chẳng quay đầu, ắt
khiến Ngài Ngưỡng Sơn phải nhổ lưỡi ra và Ông Trần
Tháo phải xin lỗi đấy.
Kinh:
- Thế nào là Vọng
Kiến Biệt Nghiệp? A Nan, như người thế gian con mắt
bị nhặm đỏ thì ban đ
êm
nhìn ngọn đ
èn
thấy có riêng một bóng tròn năm màu bao phủ. Ý ông
thế nào? Cái bóng sáng tròn hiện ra nơi ngọn đ
èn
đó là sắc của ngọn đ
èn
hay sắc của cái Thấy ?
A Nan, nếu như đó là
cái sắc của ngọn đ
èn
thì sao những người không nhặm mắt lại không có
thấy, mà chỉ có người nhặm mắt mới thấy cái bóng
tròn? Nếu đó là sắc của cái Thấy thì cái Thấy đã
thành sắc rồi, vậy người nhặm mắt thấy bóng tròn kia
gọi là cái gì?
Lại nữa, A Nan, nếu
cái bóng tròn ấy rời đ
èn
mà riêng có, thì lẽ ra các bức bình phong, màn, bàn,
ghế, cũng phải có bóng tròn. Còn nếu rời cái Thấy mà
riêng có, thì lẽ ra không thể thấy được, cớ sao
người nhặm mắt lại thấy cái bóng tròn ấy?
Vậy nên biết rằng:
"Sắc thật ở nơi đ
èn,
cái Thấy bị bệnh làm ra có bóng tròn." "Cái bóng
tròn và cái thấy có bóng tròn" đều là bệnh nhặm. Cái
Thấy Được Bệnh Nhặm thì vốn chẳng phải là bệnh.
Rốt cuộc, không nên
nói rằng cái bóng tròn ấy là ngọn đ
èn
hay là cái Thấy, vì ở trong đó, cái bóng tròn không
phải từ ngọn đ
èn,
cũng không phải từ cái Thấy. Cũng như mặt trăng thứ
hai, chẳng phải mặt trăng thật, cũng chẳng phải là
cái bóng của mặt trăng. Tại sao thế? Bởi thấy cái
mặt trăng thứ hai là do dụi mắt mà có. Cho nên những
người Trí không nên đi tìm cái căn nguyên của mặt
trăng do dụi mắt mà thành là hình tướng hay chẳng
phải hình tướng, là lìa cái Thấy hay chẳng phải cái
Thấy. Bóng tròn cũng như thế: nó do nhặm mắt mà
thành. Muốn gọi cái gì là ngọn đ
èn
hay cái gì là cái Thấy cũng còn chẳng được, huống hồ
phân biệt cái bóng tròn là không phải ngọn đ
èn
hay không phải là cái Thấy?
Thông rằng: Sắp chỉ
rõ rằng "Tánh Thấy chẳng phải là cái Thấy", nên lấy
mắt nhặm làm ví dụ. Cái thấy bệnh của mắt nhặm thì
vọng thấy có bóng tròn. Người không nhặm làm sao
thấy có bóng tròn? Nhặm mắt đó là bệnh, nhưng cái
Thấy Được Bệnh Nhặm thì chưa từng bệnh vậy. Đó là
để
so sánh với cái Thấy (Kiến Tinh) là hư vọng, nên
vọng thấy có Tâm Cảnh. Cái Tánh Thấy thì không hư
vọng, nên không thấy có Tâm Cảnh. Vậy thì cái Thấy
là hư vọng chứ Tánh Thấy chưa từng hư vọng vậy. Nếu
ở nơi chỗ vọng thấy có Tâm Cảnh lại sanh khởi thêm
cái thấy về Nhân Duyên, Tự Nhiên, Thị Phi thì cũng
giống như người nhặm mắt thấy cái bóng tròn rồi truy
tìm cái căn nguyên phát sanh của nó!
Cho cái bóng lòa ấy
là ngọn đ
èn,
là cái Thấy tức nói cái bóng tròn do ngọn đ
èn,
do cái Thấy mà có: đó là nghĩa Nhân Duyên.
Cho cái bóng lòa ấy
chẳng phải ngọn đ
èn
hay cái Thấy, là nói cái bóng tròn lìa ngọn đ
èn,
lìa cái Thấy mà riêng có: đó là nghĩa Tự Nhiên.
Đã chẳng phải là Nhân
Duyên, lại chẳng phải là Tự Nhiên, thời chỉ do mắt
nhặm mà thành có bóng tròn vậy. Cái nhặm mắt thấy có
bóng tròn, và cái dụi mắt thấy mặt trăng thứ hai,
đồng là một cái bệnh
-thấy. Nếu suy xét
cái chỗ phát sinh của mặt trăng thứ hai này là hình
tướng hay là cái Thấy, lìa hình tướng hay lìa cái
Thấy thì quả là mê muội thay! Cũng như nói cái bóng
tròn là ngọn đ
èn,
là cái Thấy, hay chẳng phải ngọn đ
èn,
chẳng phải cái Thấy, thì gọi là người Trí được sao?
Ở hai trường hợp này,
biết rõ là hư vọng, suy cứu cái nghĩa Nhân Duyên, Tự
Nhiên còn không thể được huống gì trong cái Bổn Giác
Minh Tâm chẳng phải là nhặm mắt hay dụi mắt các thứ,
vốn không có tướng tròn hay mặt trăng thứ hai thì ở
chỗ nào mà vọng lập ba thứ hý luận Nhân Duyên, Tự
Nhiên!
Cho nên, lấy Nhân
Duyên, Tự Nhiên, Hòa Hợp mà luận về cái Thấy, cũng
còn trong bệnh nhặm mắt vậy thôi, người Trí không
thế, vì đó là Biệt Nghiệp Vọng Kiến.
Tổ Quy Sơn thấy lửa
đồng, hỏi Ngài Đạo Ngô:
- Có thấy lửa không?
Đạo Ngô nói:
- Dạ, thấy.
Tổ Sơn:
- Từ đâu khởi ra?
Đạo Ngô:
- Dẹp hết sự đi,
đứng, nằm, ngồi xin thầy riêng đưa một câu hỏi xem?
Tổ Quy làm thinh.
Tổ Phật Giám nêu ra
rằng:
Rực rực
lửa đồng,
Người người đều thấy.
Chỉ có Đạo Ngô,
Thấy ra khắc hẳn.
Tổ Hương Lâm Viễn đang giãy cỏ, có vị tăng hỏi:
- Hãy xem nhà người
đời mất lửa. Tổ Viễn nói rằng:
- Lửa trong chỗ nào?
Vị tăng nói:
- Chẳng có thấy sao?
Tổ Viễn nói rằng:
- Chẳng thấy.
Vị tăng nói:
- Cái lão già mù này.
Khi ấy, chúng đều
nói:
- Viễn Thượng Tọa
thua rồi!
Sau Ngài Minh Giáo
Khoan nghe chuyện, than rằng:
- Phải là huynh Viễn
ta mới được.
Cái Thấy này xa khác
lắm thay, chẳng rời Chánh Vị. Với cái Kiến Tinh của
thế gian giống như bệnh nhặm mắt, làm sao sánh được?
Lại Tổ Quy Sơn, hỏi
Ngài Đạo Ngô:
- Đi đâu về đó?
Ngài Đạo Ngô đáp:
- Thăm bệnh về. Tổ
Sơn:
- Bao nhiêu người
bệnh? Đáp:
- Có người bệnh, có
người không bệnh. Tổ Sơn:
- Người không bệnh có
phải là Trí Đầu Đà?
Tổ Ngô nói:
- Nói được cũng chẳng
ăn nhằm gì.
Tổ Thiên Đồng ở chỗ
“Chẳng ăn nhằm gì”, tụng rằng:
Thuốc diệu
nào từng qua miệng,
Thần y không thể cầm tay.
Nhược Tồn nó vốn chẳng phải Không,
Chí Hư nó vốn chẳng phải Có.
Chẳng Diệt mà sanh, chẳng mất mà thọ,
Siêu hết trước Phật Oai Âm.
Một mình bước sau Không Kiếp,
An bình thì trời che đất chở.
Vận chuyển thì thỏ chạy quạ bay.
Dịch:
Diệu dược hà tằng quá khẩu,
Thần y mạc năng trốc thủ,
Nhược Tồn dã cừ bổn phi vô.
Chí Hư dã cừ bổn phi hữu,
Bất Diệt nhi sanh, bất vong nhi thọ.
Toàn siêu Oai Âm chi tiền,
Độc bộ Kiếp Không chi hậu.
Thành bình dã thiên cái địa kình,
Vận chuyển dã ô phi thố tẩu.
Tắc này ở trong Chân Kiến mà nhổ sạch gốc bệnh. Bệnh
với không bệnh cũng chẳng có liên quan gì, huống là
phân biệt nhặm với chẳng nhặm!
Kinh:
- Thế nào là Vọng
Kiến Đồng Phận? A Nan, cõi Diêm Phù Đề này, ngoài
nước biển cả ra, trong đó đất liền có ba ngàn châu.
Châu lớn chính giữa, bao quát từ Đông sang Tây có
đến hai ngàn ba trăm nước lớn. Còn các châu nhỏ khác
ở trong các biển, trong đó có châu đến hai trăm, ba
trăm nước hoặc có mười, hai mươi cho đến ba mươi,
bốn mươi, năm mươi nước.
- A Nan, nếu ở trong
đó có một châu nhỏ chỉ có hai nước mà riêng người
trong một nước đồng cảm ác duyên, thì chúng sanh
trong nước đó thấy tất cả những cảnh giới không tốt.
Hoặc thấy hai mặt trời, hoặc thấy hai mặt trăng, cho
đến thấy nhiều ác tướng khác như Vựng, Thích, Bội,
Quyết, Tuệ, Bột, Phi, Lưu, Phụ Nhĩ, Hồng Nghê. Chỉ
nước đó thấy, còn chúng sanh nước bên kia thì không
thấy mà cũng không nghe.
Thông rằng: Bộ Hiệp
Luận nói Vựng là khí chung quanh mặt trời. Thích là
điều
xấu ở mặt trời, mặt trăng. "Bội, Quyết": khí xấu gần
mặt trời. "Tue"ä là sao chổi. "Bột": một loại sao
chổi. Phi là phi tinh, một loại sao từ dưới bay lên.
"Lưu" là lưu tinh, một loại sao từ trên rơi xuống.
"Phu"ï là phụ khí, khí giống như cõng mặt trời. Nhĩ
là nhĩ khí, khí bên cạnh mặt trời như cái tai. "Hồng
Nghê" là cầu vồng, cái sáng gọi là Hồng, cái tối gọi
là Nghê”.
Sách Xuân Thu Truyện
chép: năm Thứ Sáu đời vua Ai Công, nước Sở có điềm
mây như con quạ đỏ ôm lấy mặt trời mà bay trong ba
ngày. Vua sai hỏi Châu Thái Sử, Thái Sử nói: Ứng vào
thân vua.
Ông Đỗ Dự bàn thêm:
- Mặt trời là vua của
con người, yêu khí ôm lấy thì ứng vào vua. Chỉ có
nước Sở thấy, thì vua nước khác không hề gì!
Đời Lỗ Châu Công, năm
Thứ Hai Mươi Sáu, tháng Một nước Tề có sao chổi. Tề
Hầu sai cầu đảo.
Ông Án Tử thưa:
- Vô ích, làm vậy là
mê tín. Đạo trời chẳng thay đổi, đâu có hai mệnh thì
cầu đảo làm gì? Đạo trời có sao chổi là
để
trừ uế khí. Nếu vua không có uế đức thì cầu đảo làm
gì? Còn nếu có uế đức thì cầu đảo sao được?
Ông Đỗ Dự bàn thêm:
- Chỉ có nước Tề
thấy, nước Lỗ không thấy. Hai đoạn trên để nghiệm
câu trong kinh:
- Có một châu chỉ có
hai nước, mà riêng người trong một nước đồng cảm ác
duyên thì chúng sanh trong nước đó thấy những cảnh
giới không tốt.
Thật rõ ràng vậy.
Cảm ứng ác duyên có
định nghiệp và bất định nghiệp. Định nghiệp thì
không thể tránh. Bất định nghiệp thì có thể thay
đổi.
Ví dụ, như Tổ đời Hai
Mươi Ba, là Ngài Hạc Lặc Na tôn giả, biết trước vị
Tổ đời Hai Mươi Bốn là Sư Tử tôn giả sẽ gặp nạn. Một
hôm, bỗng nhiên Tổ chỉ về hướng Đông Bắc, hỏi rằng:
- Đó là khí tượng gì?
Tổ Sư Tử thưa:
- Tôi thấy khí như
cái mống trắng khắp cả trời đất, lại có năm luồng
hắc khí chạy ngang trong đó.
Tổ nói:
- Điềm đó thế nào?
Ngài Sư Tử thưa:
- Tôi không biết
được.
Tổ dạy:
- Sau khi tôi mất năm
mươi năm, nước Bắc Thiên Trúc sẽ có nạn nổi lên,
chạm đến thân ông.
Sau này, Ngài Sư Tử
tôn giả quả bị vua nước Kết Tân giết. Cánh tay phải
của vua tự nhiên rụng xuống đất, bảy ngày sau thì
chết.
Thái Tử Quang Thủ
than rằng:
- Vua cha ta cớ sao
tự mình chiêu lấy tai họa. Bấy giờ có vị Tiên núi
Bạch Tượng rõ sâu nhân quả nên rộng nói cho Thái Tử
nghe việc đời trước, mở thoát lưới ngờ. Đây là chỗ
gọi là
định
nghiệp không thể tránh được vậy.
Vua Tống Cảnh Công bị
sao Hỏa Tinh nên lo sợ, mời Ông Tử Vi vào hỏi.
Ông Tử Vi nói:
Bị sao Hỏa Tinh là
điềm
trời phạt, họa ứng vào thân bệ hạ, nhưng có thể dời
qua quan Tể Tướng.
Cảnh Công bảo:
- Tể tướng để trụ
nước, nếu dời qua mà chết thời không nên. Thôi, để
quả nhân xin tự gánh chịu vậy.
Ông Tử Vi nói:
- Có thể dời qua nhân
dân.
Vua đáp:
- Dân chết rồi thì
làm vua với ai. Thôi, để trẫm chết một mình. Ông Tử
Vi thưa:
- Có thể dời vào năm.
Vua đáp:
- Năm đói kém thì dân
chết đói. Làm vua mà muốn giết dân để tự mình sống
thì còn ai xem ta là vua nữa. Âu cũng là mạng đã hết
của quả nhân vậy. Khanh chẳng nên nhiều lời.
Ông Tử Vi vội vàng
quỳ xuống lạy mà tâu rằng:
- Hạ thần xin chúc
mừng bệ hạ. Trời ở trên cao mà nghe dưới thấp. Vua
đã có được ba lần lời nói của người nhân, trời ắt
thưởng vua ba lần. Đêm nay chắc sao sẽ dời chỗ, vua
sống thêm hai mươi mốt năm.
Cảnh Công nói:
- Khanh làm sao biết?
Ông Tử Vi thưa:
Vua có ba điều thiện
thì được thưởng ba lần, do đó sao dời ba lần. Mỗi
lần bảy năm, ba lần là hai mươi mốt năm. Nên tuổi
thọ dài thêm hai mươi mốt năm. Nếu sai, hạ thần xin
chịu chết.
Vua ưng chịu.