KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN II
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG
CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN TÂM
MỤC
BỐN: PHÁ NHỮNG THUYẾT NHÂN DUYÊN, TỰ NHIÊN
I. NGHI TÂM TÍNH TỰ NHIÊN NHƯ THẦN NGÃ
Kinh: Ông A Nan bạch Phật
rằng:
- Thưa Thế Tôn, thật
như chỗ Pháp Vương dạy: Cái Giác Duyên cùng khắp
mười phương thế giới, lặng trong, thường trụ, tánh
chẳng có sanh diệt. So với thuyết Minh Đế của nhóm
Ông Phạm Chí Ta Tỳ Ca La, hay cái thuyết Chân Ngã
cùng khắp mười phương của các nhóm ngoại đạo Đầu
Khôi có gì là khác?
Thế Tôn cũng từng ở
núi Lăng Già vì các Bồ Tát Đại Huệ mà giảng bày
nghĩa này: Các ngoại đạo kia thường nói Tự Nhiên,
còn Ta nói Nhân Duyên, chẳng phải cảnh giới của họ.
Nay tôi xem cái Giác Tánh ấy, thấy là Tự Nhiên,
chẳng phải sanh, chẳng phải diệt, lìa xa tất cả hư
vọng điên đảo, hình như chẳng phải là Nhân Duyên,
cũng không phải là Tự Nhiên của họ.
Xin Phật khai thị thế
nào để chúng tôi khỏi lạc vào tà kiến, được cái Tâm
Tánh chân thật, mầu sáng, giác ngộ.
Thông rằng: Chỗ nói
Minh Đế của ngoại đạo, Thể chẳng sanh diệt, nói có
Thần Ngã cùng khắp mười phương, chỉ là lấy cái Thức
Thứ Tám làm Tông, chỉ được cái mùi vị vui thú mờ mờ
mịt mịt, chớ chẳng phải có cái nhiệm mầu của Đại
Viên Cảnh Trí. Đã có Thần Ngã, tức là căn bản sanh
tử, sao được là cái Nhân Địa Chân Chánh?
Phật nói Nhân Địa
Chân Chánh tức là Đệ Nhất Nghĩa Đế, lấy cái chẳng
sanh chẳng diệt làm cái Nhân Địa tu hành, chẳng phải
là cái nhân duyên thế tục.
Ông A Nan vừa mới tin
được, bỗng khởi nghi mà nói: Hình như chẳng phải là
Nhân Duyên, cũng không phải là Tự Nhiên của ngoại
đạo, mà còn cho Giác Tánh là Tự Nhiên, nói rằng Giác
Tánh lìa xa hai tướng Thị và Phi, lặng trong, thường
trụ nên gọi là Tự Nhiên. Trước thì chấp cái Thấy
Sông là chẳng Sanh Diệt, đã là chưa đạt đến cội gốc.
Nay thì chỉ ra cái: Tánh lìa khỏi cái Thấy, cho đó
là Tự Nhiên, lại càng chưa siêu thoát. Nên ông cầu
xin Thế Tôn khai thị cho khỏi lạc vào những tà kiến
hư vọng điên đảo của các thuyết Tự Nhiên và Nhân
Duyên.
Tổ Trường Sa Sầm
khiến vị tăng hỏi Hòa Thượng Hội:
- Khi chưa thấy Nam
Tuyền thì như thế nào? Ngài Hội im lặng hồi lâu.
Vị tăng hỏi:
- Sau khi thấy thì
thế nào? Ngài Hội nói:
- Không thể riêng có!
Vị tăng về thưa lại với Tổ Trường Sa. Tổ Sa nói:
Đầu sào
trăm thước đã được ngồi,
Tuy rằng nhập được vẫn chưa Chân.
Đầu sào trăm thước cần tiến bước,
Mười phương thế giới hiện toàn thân.
Dịch:
Bách xích can đầu tọa để nhơn,
Tuy nhiên đắc nhập bất vi Chơn.
Bách xích can đầu tu tấn bộ,
Thập phương thế giới hiện toàn thân.
Vị tăng hỏi:
- Đầu sào trăm thước
làm sao tiến bước? Tổ Sa đáp:
- Núi Lãng Châu, sông
Lễ Châu.
Vị tăng thưa:
- Dạ, chẳng am hiểu.
Tổ Sa rằng:
- Bốn biển, năm hồ
vua trị trông.
Ngài Thiên Đồng tụng:
Một tiếng
gà phá mộng ngọc nhân,
Nhìn lại cuộc đời sắc sắc bằng.
Có tin xuân sấm dục trùng nở,
Đào lý vô ngôn, tự thành đường (lối).
Đến thời tiết, gắng sức cày,
Ai ngại ruộng xuân bùn lút cẳng?
Cũng như họp nhau ngồi ở chỗ sạch sẽ, chẳng thể
xuống nước, xuống bùn, ra tay ngang dọc bèn là cùng
sanh diệt chống trái. Nên tuy là có nhập nhưng chẳng
phải chân thật. Chỗ ngoại đạo gọi là Minh Đế, đại
khái tựa hồ như đây.
Tổ Trường Sa nói:
- Mười phương thế
giới hiện toàn thân. Ngoại đạo cũng nói có Thần Ngã
cùng khắp mười phương. Chỗ nào chẳng đồng, thử tham
coi!
II. CHỈ
RA KHÔNG PHẢI LÀ TỰ NHIÊN
Kinh: Phật bảo Ông A Nan:
- Nay Ta phương tiện
chỉ bày chân thật bảo ông như thế, ông còn chưa ngộ
mà lầm cho là Tự Nhiên!
A Nan, nếu chắc là Tự
Nhiên, tự phải chỉ rõ thể tánh của Tự Nhiên. Ông hãy
xét trong cái Thấy Diệu Minh đó, lấy cái gì làm tự
thể? Cái Thấy đó lấy cái sáng làm tự thể ư? Lấy cái
tối làm tự thể ư? Lấy hư không làm tự thể ư? Lấy cái
ngăn bít làm tự thể ư?
A Nan, nếu cái sáng
là tự thể thì lẽ ra không thấy cái tối! Nếu lấy cái
không làm tự thể thì lẽ ra không thấy được ngăn bít.
Như vậy cho đến lấy cái tướng tối làm tự thể thì đến
khi sáng, thì cái Tánh Thấy phải diệt mất, làm sao
còn thấy cái sáng?
Thông rằng: Nói rằng
Tự Nhiên tức là nói tự thể vốn y nhiên thường trụ
chẳng biến đổi. Vậy cái Tánh Thấy mầu sáng này lấy
cái thấy sáng làm Tự Nhiên ư? Lấy cái thấy tối làm
Tự Nhiên ư? Lấy thấy hư không làm Tự Nhiên ư? Lấy
ngăn bít làm Tự Nhiên ư? Nếu tự nhiên thấy Sáng thì
lẽ ra không thấy Tối! Nếu tự nhiên thấy hư không thì
lẽ ra không thấy ngăn bít! Nếu tùy Duyên mà biến đổi
thì cái Thể chẳng phải là Tự Nhiên vậy.
Hoặc nói cái Thấy ấy
là cái thể của Tự Nhiên; sáng, tối, hư không, ngăn
bít tùy duyên mà thấy, há chẳng phải Tự Nhiên ư?
Nhưng giả sử không có sáng, tối, hư không và ngăn
bít thì cái Thấy dùng vào đâu? Cái gọi là Tự Nhiên
ấy đều thành đoạn diệt đấy thôi.
Ở đây chỉ bác bỏ là
không thể lấy Tự Nhiên làm Tánh Thấy, chứ chẳng phải
nói rằng cái Tánh Thấy do sáng, tối, không, bít mà
có. Nếu luận về chỗ sanh khởi từ đâu thì Tánh Thấy
tuy chẳng do sáng, tối, không, bít mà có, lại từ Bổn
Giác Diệu Minh lưu xuất ra. Nhưng thế thì Bổn Giác
Diệu Minh lấy gì làm tự thể, thật mở miệng chẳng nói
được!
Tổ Thạch Sương ban
đầu ở Tổ Quy Sơn làm người giã gạo. Một hôm, đang
sàng gạo, Tổ Quy Sơn nói:
- Vật của thí chủ chớ
làm rơi rớt. Ngài nói:
- Chẳng có rơi rớt.
Tổ Quy Sơn nhặt được
một hột gạo trên mặt đất, rồi nói:
- Ông nói chẳng rơi
rớt, vậy cái này là cái gì? Ngài Thạch Sương không
đáp được. Tổ Quy Sơn lại nói:
- Chớ khinh thường
một hột gạo này. Trăm ngàn hột đều do một hột này
sanh ra.
Ngài Thạch Sương nói
rằng:
- Trăm ngàn hột từ
một hột ấy sanh ra, chưa rõ một hột ấy từ chỗ nào
sanh?
Tổ Quy Sơn ha hả cười
lớn, quay về phương trượng.
Tối đến, Tổ Quy
thượng đường nói:
- Này đại chúng,
trong hột gạo có sâu, các người hãy xem cho kỹ!
Ôi! Tìm cầu tự thể
của cái sanh ra này chẳng thể được! Chỗ nào để an
lập cái tên Tự Nhiên đây? Cho nên gọi ấy là Tự Nhiên
thì chẳng phải!
III.
NGHI LÀ NHÂN DUYÊN
Kinh: Ông A Nan thưa:
- Chắc là cái Tánh
Thấy mầu nhiệm này Tánh nó chẳng phải là Tự Nhiên,
thì nay tôi phát minh là nói do Nhân Duyên sanh,
nhưng tâm trí còn chưa rõ, xin hỏi Như Lai, nghĩa lý
thế nào cho hợp với Tánh Nhân Duyên?
Thông rằng: Ông A Nan
thường nghe Thế Tôn lấy Nhân Duyên phá Tự Nhiên. Giờ
đây, cái Tánh Thấy này đã chẳng phải là Tự Nhiên, ắt
phải thuộc về Nhân Duyên. Bèn nghi cái nghĩa Nhân
Duyên: vô thường, sanh diệt, đây có, kia không, thể
chẳng thường khắp. Thế thì há đồng với Giác Tánh
lặng trong thường trụ sao? Hành tướng trái nhau, làm
sao hợp với Tánh Nhân Duyên? Cái nghi này rất vi tế.
Luận Trung Quán nói: Không có vật gì từ Duyên mà
sanh khởi. Không có vật gì theo Duyên mà diệt mất.
Khởi chỉ là các Pháp khởi. Diệt chỉ là các Pháp
diệt. Cũng như vẽ trên nước thành chữ, chưa từng
sanh ra hay diệt mất. Như thế thì làm sao mà hợp với
tính nhân duyên?
Thiền sư Báo Ân Minh
thường nêu lên bài Minh ở tháp của Ngài Tuyết Phong
mà hỏi các vị lão túc:
- Phàm từ Duyên mà
có: trước sau đều thành, hoại. Chẳng từ Duyên mà có:
trải kiếp vẫn lâu bền. Bền chắc với hư hoại, dẹp qua
một bên! Ngài Tuyết Phong ngày nay ở tại chỗ nào?
Ngài Pháp Nhãn riêng
nói rằng:
- Chỉ nay, đấy là
thành, đấy là hoại!
Các bậc lão túc đương
thời chẳng thể đối đáp.
Chỗ này há có thể lấy
sự nông cạn mà dòm ngó sao?
IV. TÁNH THẤY
KHÔNG PHẢI LÀ NHÂN DUYÊN, RỜI CÁC DANH, TƯỚNG
Kinh: Phật dạy. Ông nói
Nhân Duyên, Ta hỏi ông:
- Nay ông do nhân bởi
cái Thấy, Tánh Thấy hiện tiền. Vậy cái Thấy này nhân
cái sáng mà có thấy? Nhân cái tối mà có thấy? Nhân
hư không mà có thấy? Nhân ngăn bít mà có thấy?
A Nan, nếu cái Thấy
nhân cái sáng mà có thì lẽ ra không thấy được tối;
còn như nhân cái tối mà có thì lẽ ra không thấy được
cái sáng. Như vậy cho đến nhân hư không, nhân ngăn
bít thì cũng đồng như nhân cái sáng và cái tối.
Lại nữa, A Nan, cái
Thấy ấy lại là nương cái sáng mà có thấy? Nương cái
tối mà có thấy? Nương hư không mà có thấy hay nương
ngăn bít mà có thấy? A Nan, nếu nương hư không mà có
thấy thì lẽ ra không thấy được ngăn bít. Nếu nương
ngăn bít mà có thấy thì lẽ ra không thấy được hư
không. Như vậy cho đến nương cái sáng, nương cái tối
cũng đồng như nương hư không, nương ngăn bít.
Nên, biết rằng cái
Tinh Giác Diệu Minh như thế chẳng phải Nhân, chẳng
phải Duyên, cùng chẳng phải Tự Nhiên, chẳng phải
Không Tự Nhiên. Không có cái Không Phải hay Không
Không Phải, không có Tức Là hay Không Tức Là, lìa cả
thảy tướng, tức là cả thảy pháp. Nay ông làm sao ở
trong ấy mà khởi tâm, dùng những danh tướng hý luận
thế gian mà phân biệt cho được? Như lấy tay mà nắm
bắt hư không, chỉ thêm tự làm nhọc mình. Hư không
làm sao lại để cho ông nắm bắt?
Thông rằng: Nương vào
vật là Nhân; theo với vật là Duyên. Nhân thì gần,
Duyên thì xa, nên phân làm hai môn. Tánh Thấy hiện
tiền, nếu nói là Thông Bít mà hiển bày, thì được;
chứ nói: Tánh Thấy nhân sáng, tối, thông bít mà có,
thì không được. Nói rằng Tánh Thấy duyên sáng, tối,
thông, bít mà phát ra tác dụng, thì được, chứ nói:
Tánh Thấy duyên sáng, tối, thông, bít mà khởi, thì
không được.
Cho nên nói Nhân
Duyên là sai. Vì sao thế?
Cái Tinh Giác Diệu
Minh vốn không có hình tướng. Nếu nói là Nhân Duyên,
là Tự Nhiên thì thuộc về tướng Nhân Duyên, tướng Tự
Nhiên rồi. Bởi vậy, ban đầu nói: Chẳng phải Nhân,
chẳng phải Duyên, cũng chẳng phải Tự Nhiên, là
để
trừ bỏ Tướng. Nhưng còn cái chẳng phải Tướng ở trong
đó. Kế đến nói: Chẳng phải Không Nhân Duyên, chẳng
phải Không Tự Nhiên, là
để
trừ bỏ Phi Tướng. Nhưng mà còn cái Không Phải Phi
Tướng ở trong đó. Cuối cùng thì nói: Không có Không
Phải hay Không Không Phải, không có Tức là hay Không
Tức là. Đó là cái chỗ mà Phải và Chẳng Phải đều
không tới được, chẳng cho phép sự luận bàn, chẳng
dung tha suy tính, tức là cái thực tướng Tinh Giác
Diệu Minh vậy.
Các tướng Phải hay
Chẳng Phải kia đều là vọng tình biến kế phân biệt.
Bản Thể Diệu Minh vốn không có chuyện đó, nên nói:
Lìa cả thảy Tướng. Biến kế vọng tưởng phân biệt đã
lìa thì đó là cái Thể Viên Thành Thật, chạm vào đâu
là hiện bày trước mắt. Thế nên mới nói: Tức cả thảy
Pháp.
Cổ Đức nói:
- Chỉ lìa vọng duyên
tức Như Như Phật. Là nói chỗ này đây vậy. Xưa, Tổ Sơ
Sơn đến chỗ ở của Tổ Quy Sơn bèn hỏi:
- Thầy tôi có nói:
- Câu có, câu không,
như dây leo bám cây. Bỗng nhiên cây ngã, dây khô,
câu về chốn nào?
Tổ Quy Sơn ha hả cười
lớn. Sơ Sơn nói:
- Tôi mua vải làm
giày, từ bốn ngàn dặm đến đây, Hòa Thượng đâu nên đ
ùa
cợt. Tổ Quy Sơn gọi thị giả:
- Lấy tiền trả lại
cho Ông Thượng Tọa này.
Rồi dặn rằng:
- Sau này sẽ có con
rồng một mắt vì thầy mà chỉ phá cho.
Sau, Ngài Sơ Sơn đến
Tổ Minh Chiêu, kể chuyện cũ.
Tổ Minh Chiêu nói:
- Ngài Quy Sơn, có
thể nói là
đầu
chánh, đuôi chánh, chỉ vì chẳng gặp tri âm!
Ngài Sơ Sơn bèn hỏi:
- Cây ngã, dây khô,
câu về xứ nào?
Tổ Chiêu nói:
- Lại khiến Quy Sơn
phát tiếng cười mới.
Ngài Sơ Sơn ngay dưới
lời nói có tỉnh ngộ, bèn nói:
- Thì ra trong cái
cười của Quy Sơn vốn có chứa đao!
Ngài Thiên Đồng tụng
rằng:
Dây khô,
cây ngã, hỏi Quy Sơn,
Ha hả cười to, há chẳng màng?
Trong cười có dao sắc, nhìn ra được,
Không đường suy, nói, bặt cơ quan.
Dịch:
Đằng khô thọ đảo vấn Quy Sơn,
Đại tiếu kha kha khởi đẳng nhàn?
Tiếu lý hữu đao không đắc phá,
Ngôn tư vô lộ tuyệt cơ quan.
Tổ Quy Sơn trong chỗ ấy, trước sau chỉ có ha hả cười
to, như một dấu ấn ấn ra. Ngài Sơ Sơn nói: Trong cái
cười có đao!, bèn chụp được hư không vậy.
Tổ Thạch Củng hỏi
Thầy Tây Đường:
- Ông có nắm bắt được
hư không chăng?
Ngài Tây Đường đáp:
- Nắm bắt được.
Tổ Củng nói:
- Bắt thế nào?
Tổ Đường lấy tay chụp
nắm hư không.
Tổ Củng nói:
- Ông chẳng biết
chụp!
Tổ Đường hỏi lại:
- Sư huynh bắt như
thế nào?
Tổ Thạch Củng nắm mũi
Ngài Tây Đường kéo đi. Ngài Tây Đường nhịn đau, nói:
- Gã đại hung thần
này kéo lỗ mũi người!
Liền muốn thoát ra.
Tổ Thạch Củng nói:
- Phải như thế mới
bắt hư không được.
Nên chi, lấy danh
tướng hý luận mà nắm bắt hư không: Ôi, khó thay! Khó
thay!
V. BÁC NHÂN
DUYÊN, TỰ NHIÊN
Kinh: Ông A Nan bạch Phật
rằng:
- Thưa Thế Tôn, nếu
quả cái Tánh Diệu Giác chẳng phải Nhân, chẳng phải
Duyên thế sao Thế Tôn thường chỉ dạy cho chúng Tỳ
Kheo rằng Tánh Thấy có đủ bốn thứ Duyên, đó là: Nhân
Hư Không, Nhân Ánh Sáng, Nhân Tâm Thức và Nhân Con
Mắt. Nghĩa ấy thế nào?
Phật bảo:
- A Nan, Ta nói như
thế, là nói về các tướng nhân duyên của thế gian,
chẳng phải là Đệ Nhất Nghĩa. A Nan, Ta lại hỏi ông:
Các người thế gian nói: Tôi thấy được, thì thế nào
gọi là thấy? Thế nào gọi là không thấy?
A Nan thưa:
- Người đời nhân ánh
sáng mặt trời, mặt trăng, đ
èn
mà thấy mọi thứ hình tướng thì gọi là thấy. Nếu
không có ba thứ ánh sáng đó thì không thấy được.
- A Nan! Nếu khi
không có ánh sáng mà gọi là không thấy, thì lẽ ra
không thấy tối. Nếu có thấy tối, thì đó chỉ vì không
có ánh sáng chứ đâu phải là không thấy? A Nan, nếu
trong khi tối, vì không thấy sáng mà gọi là không
thấy, thì khi sáng, không thấy tướng tối, cũng gọi
là không thấy. Như thế thì cả hai tướng sáng, tối
đều gọi là không thấy cả. Còn nếu như hai cái sáng,
cái tối tự lấn đoạt nhau, chứ không phải trong đó
cái Tánh Thấy của ông có lúc không có. Như thế thì
biết: cả hai lúc sáng và tối đều gọi là thấy, chớ
sao lại nói là không thấy?
Thông rằng: Chỗ này,
Thế Tôn trước là phá cái tướng Nhân Duyên của thế
gian, sau là hiển bày cái Đệ Nhất Nghĩa Đế. Thế gian
cho rằng cái Thấy nhân ánh sáng mặt trời, mặt trăng
và
đ
èn
mà có. Nhưng không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng
và
đ
èn
đâu phải là không có cái Thấy, cũng là thấy Tối,
thấy Sáng đó vậy. Sáng, Tối tự chúng thuộc về tiền
trần, cái Thấy (Kiến Tinh) vốn không sanh diệt. Do
đó mà nói: Cái Thấy của thế gian cũng là chẳng phải
Nhân, chẳng phải Duyên, huống tiến đến chỗ này ư?
Thiền sư Cửu Phong
Kiền thọ tâm ấn nơi Tổ Thạch Sương. Có nhà sư hỏi:
- Trong kinh có nói:
Đủ ba duyên ánh sáng mới thành cái Thấy. Ba Duyên
chưa có, có thành cái Thấy không?
Tổ Kiền nói:
- Duyên có sai khác,
cái Thấy không thiếu hụt.
Vị sư hỏi:
- Đã không thiếu hụt,
ở trong tối sao chẳng thấy vật?
Tổ Kiền nói:
- Tuy chẳng thấy vật,
đâu phải không thấy tối?
Nhà sư hỏi:
- Lìa hết ba duyên,
như thế nào là chỗ Chân Kiến?
Tổ Kiền nói:
- Giáp vòng trái đất,
mặt trời đen tợ sơn đen.
Trong bài Tham Đồng
Khế của Ngài Thạch Đầu có câu:
Ngay trong sáng có
tối, chớ dùng tối gặp nhau! Ngay trong tối có sáng,
chớ dùng sáng thấy nhau!
Chính là
đồng
với cái ý chỉ này. Đây thật là nào có đồng bậc với
sáng tối, cần phải có mắt mới phân biệt được.
VI. CHỈ THẲNG
TÁNH THẤY
Kinh:
- Cho nên, A Nan, bây
giờ ông nên biết rằng: Khi thấy sáng, cái thấy chẳng
phải là sáng. Khi thấy tối, cái thấy chẳng phải là
tối. Khi thấy không, cái Thấy chẳng phải là không.
Khi thấy ngăn bít, cái thấy chẳng phải là ngăn bít.
Bốn nghĩa đó đã thành rồi, ông lại nên biết: khi
Thấy mà có tướng Thấy, cái Thấy đó chẳng phải là
Tánh Thấy. Cái Thấy mà do lìa tướng Thấy, đó là Tánh
Thấy Siêu Việt (Kiến kiến chi thời, kiến phi thị
kiến. Kiến do ly kiến, kiến bất năng cập.
- Vậy thì làm sao lại
nói các tướng Nhân Duyên, Tự Nhiên hay Hòa Hợp?
Thông rằng: Chỗ này Đức Thế Tôn hiển bày Đệ Nhất
Nghĩa Đế, cái gọi là Con Đường Bồ Đề Nhiệm Mầu. Kiến
và Kiến Duyên đủ năm thứ nghĩa: Sáng, Tối, Hư Không,
Ngăn Bít là bốn thứ; Kiến Duyên và Kiến Tinh (cái
Thấy) là một thứ Vọng Kiến. Thế Tôn ở chỗ này mà lựa
ra cái Kiến Tinh chẳng phải là bốn thứ Sáng, Tối,
Không, Bít. Lấy bốn nghĩa này suy ra để rõ được cái
Thấy lìa duyên trần mà vẫn tự có. Ngay ở đây lại lựa
ra cái Chơn Kiến (Tánh Thấy) soi rõ Kiến Tinh, là
cái mà cái Thấy không thể bì kịp. Đây chính là mặt
trăng thứ nhất, cho nên cái Thấy vẫn còn là vọng. A
ha! Cái Chơn Kiến còn lìa cả mọi tướng thấy thì chỗ
nào có hơi thở, bóng dáng gì để theo đó mà mô phỏng
ra nó? Nói Nhân Duyên, nói Tự Nhiên, nói Hòa Hiệp,
há chẳng là hư vọng ư?
Tổ Bá Trượng hỏi vị
tăng:
- Thấy không?
Đáp:
- Dạ, thấy.
Tổ Trượng rằng:
- Sau khi thấy thì
như thế nào?
Đáp:
- Thấy chẳng có hai.
Tổ Trượng nói:
- Đã nói là thấy thì
không hai, tức là không lấy cái Thấy mà thấy nơi Cái
Vốn Thấy. Nếu Cái Vốn Thấy mà trở lại thấy, thì cái
Thấy trước là
đúng
hay cái Thấy sau là
đúng?
Như nói: Khi Thấy mà còn có tướng Thấy, đó chẳng
phải là Chơn Kiến. Thấy mà do lìa tất cả tướng Thấy,
cái Thấy ấy là Siêu Việt. Bởi thế, chẳng hành cái
Pháp Thấy, chẳng hành cái Pháp Nghe, chẳng hành cái
Pháp Giác Ngộ, thì Chư Phật liền thọ ký.
Lại nữa, kinh Bảo
Tích nói:
-Pháp Thân chẳng có
thể lấy Thấy, Nghe, Hay, Biết mà tìm cầu. Chẳng phải
là chỗ thấy của con mắt thịt, vì là không có Sắc.
Chẳng phải là chỗ thấy của Thiên Nhãn vì không Hư
Vọng. Chẳng phải chỗ thấy của Huệ Nhãn, vì lìa hình
tướng. Chẳng phải chỗ thấy của Pháp Nhãn, vì lìa các
Hành. Chẳng phải là chỗ thấy của Phật Nhãn, vì lìa
hết thảy Thức. Nếu chẳng tạo ra các thứ Thấy như
vậy, thì gọi đó là cái Thấy của Phật.
Xưa, thiền sư Thiệu
Long ban đầu ra mắt Tổ Trường Lô, được chỗ đại lược.
Nhân có người đưa đến bộ Ngữ Lục của Ngài Viên Ngộ,
sư đọc mà than rằng:
- Nghĩ đến chua thì
chảy nước miếng. Tuy chưa rửa sạch gan ruột, đã
khiến người được vui sướng. Chỉ hận là chưa được
giáp mặt chuyện trò.
Bèn từ giả Ngài
Trường Lô mà qua chỗ Ngài Trạm Đường. Trước làm
khách của Ngài Hoàng Long, hỏi Tổ Tử Tâm; kế đó tham
yết Ngài Viên Ngộ.
Một hôm, đang nhập
thất thì Ngài Viên Ngộ nói:
- Khi thấy mà có
tướng Thấy, cái Thấy ấy không phải là cái Thấy Chân
Thật. Thấy do lìa tướng Thấy, cái Thấy ấy siêu việt.
Rồi đưa tay lên mà
nói:
- Thấy không?
Sư Long nói:
- Thấy.
Tổ Viên Ngộ nói:
- Trên đầu để thêm
cái đầu!
Sư Long nghe thì tức
thời khế ngộ.
Tổ Viên Ngộ quát nạt
rằng:
- Thấy cái gì?
Thiệu Long đáp:
- Tre dày chẳng ngại
nước chảy qua.
Tổ Viên Ngộ chấp
nhận, khiến trông coi chỗ cất kinh.
Có người hỏi Ngài
Viên Ngộ:
- Thiệu Long yếu như
thế, sao làm nổi?
Ngài đáp:
- Con cọp ngủ đó!
Thiền sư Đức Sơn
Quyên thượng đường dạy rằng:
- Khi thấy mà có
tướng Thấy, đó chẳng phải là Chơn Kiến. Thấy do lìa
tướng Thấy, đó là cái Thấy siêu việt”. Rồi hét lên
rằng: “Cá kình uống hết biển, lộ ra nhánh san hô.
Trong đại chúng bỗng
có ông tăng bước ra, nói:
- Trưởng Lão thôi
đừng nói chiêm bao, mới hứa cho y đủ một con mắt lẻ.
Người xưa ở nơi câu
này (“Kiến kiến chi thời,...”) đều nhờ ngón tay mà
thấy mặt trăng. Một hột thuốc Tiên biến đổi cốt
phàm, quả chẳng dễ dàng!
Kinh:
- Hàng Thanh Văn các
ông hẹp hòi không biết, chẳng có thể thông đạt Thật
Tướng thanh tịnh. Nay ta khuyên dạy ông hãy khéo tư
duy, chớ nên trễ nải trên đường Bồ Đề Mầu Nhiệm.
Thông rằng: Cái Thật
Tướng thanh tịnh ai ai cũng sẵn đủ. Vậy tại sao hàng
Thanh Văn chẳng có thể thông đạt ? Bởi vì chấp trước
vậy. Cái ý thức chấp trước, chốn chốn đều thọ duyên
theo. Chỉ có cái là không thể duyên với Bát Nhã. Nên
Đức Thế Tôn thương xót, khuyên hãy khéo tư duy. Phải
ở nơi Thấy mà lìa thấy, chứng Diệu Bồ Đề. Đó tức là
chỗ chẳng phải cái Thấy đến được vậy.
Tổ Giáp Sơn nói:
- Trước mắt không có
pháp. Trước mắt là ý, chẳng phải trước mắt là pháp.
Đó chẳng phải là chỗ tai, mắt đến được. Diệu khế chỗ
này.
Tổ Thiên Đồng nêu ra
rằng:
- Cái lão Giáp Sơn mở
banh cái bao bố, đem đồ châu báu thảy ra trước mặt
các ông. Chính ngay khi đó thì làm sao đây? Trên
đường chẳng lượm của rơi, người quân tử mới khen là
tốt đẹp.
Ngay cái thoại đầu
tuyệt diệu thế này mà còn chẳng cho giữ lại trong
ngực, Thật là
đến
chỗ của Kiến do lìa kiến vậy.