KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN II
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG
CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN TÂM
MỤC BA:
PHẬT NÊU RA TÁNH THẤY NGOÀI CÁC NGHĨA
PHẢI VÀ CHẲNG PHẢI
I. NGHI TÁNH THẤY HIỆN Ở TRƯỚC
MẮT
Kinh: Ông A Nan bạch Phật
rằng:
- Thưa Thế Tôn, nếu
cái Thấy đó (Kiến Tinh) thật là Diệu Tánh của tôi,
thì cái Chân Tánh đó hiện đang ở trước mắt tôi. Cái
Thấy đó thật là tôi, thì thân tâm tôi hiện giờ lại
là vật gì? Mà nay thân tâm này thật có phân biệt,
còn cái Thấy kia lại không phân biệt riêng gì với
thân tôi. Nếu nó thật là Tâm tôi, khiến cho tôi hiện
nay có thấy, thì cái Tánh Thấy ấy thật là tôi mà
thân này không phải là tôi. Thế thì đâu có khác gì
trước kia Như Lai đã hỏi vặn rằng: Vật thấy được
tôi. Xin Phật rũ lòng đại từ, mở bày cho kẻ chưa
ngộ.
Thông rằng: Đoạn
trước nói: Nhận vật lấy làm mình. Đoạn này nói:Mê
mình làm vật. Trước thì nói: Ở nơi Vọng mà lựa chọn
cái Chân. Tức là tự Thân Mình mà lại gọi là vật. Ở
đây thì Lấy Chân mà hòa với Vọng, thì muôn vật không
có gì chẳng phải là Mình. Ở nơi Vọng mà chọn lựa cái
Chân, mà nói Mình và Vật khác nhau, còn có thể tự
biện ra.
Chứ đến chỗ: Lấy Chơn
mà hòa với Vọng. Để nói Ta với Vật đều đồng thì thật
là khó hiểu. Vì thế A Nan nói: Nếu hay chuyển được
vật tức đồng Như Lai. Vậy thì cái Thấy này có khắp
pháp giới, chỗ Thấy là núi là sông đều là Diệu Tánh
của ta đó, nhỉ. Nay cái Diệu Tánh này bày trước mặt
ta. Nếu cái Thấy ở trước mặt đã là Chân Tánh của ta,
thì cái thân tâm phụ thêm này lại là cái gì? Nếu nói
cái thân tâm chẳng phải là Tánh thì hiện giờ thân
tâm vẫn hay biết rành rẽ. Nếu nói cái bày trước mặt
đều là Tánh thì cái Thấy đó chẳng phân biệt được
thân ta.
Nếu nói cái Thấy ấy
vô hình, hồn nhiên cùng vật đồng thể, đúng là Bổn
Tâm ta, có cảm mà ứng, khiến cho ta hiện giờ có thể
thấy được, vậy Tánh Thấy chính thật là ta, đầy khắp
trước mặt, mà sao lại có một cái thân trơ trọi ù lì
lại chẳng phải là ta! Nào khác gì trước đây Như Lai
đã hỏi vặn: Ông đã thấy vật, vật cũng phải thấy ông.
Cái Thấy này cũng bèn là ở ngoài, sao lại nói được
đó là Chơn Tánh của ta?
Cứ theo chỗ thấy của
Ông A Nan tựa hồ trộm thấy được cái Tịch Diệt hiện
tiền. Chỉ vì Ngã Kiến chưa trừ, ánh sáng chưa thấu
thoát, trước mặt còn mơ hồ có vật, nên chưa thể hòa
lẫn Ta Vật, tiêu hết Phải Trái vậy.
Tổ Thạch Đầu nhân xem
bộ Triệu Luận đến chỗ:
Hội muôn vật làm
mình, thì chỉ có bậc Thánh Nhân mà thôi. Không có
Mình nên không có chỗ nào chẳng phải là Mình! Pháp
Thân không hình tượng, ai đâu có ta người? Gương
tròn chiếu diệu giữa hư không, muôn vật nhiệm mầu mà
tự hiện. Gương Trí còn chẳng phải một, nào nói được
chuyện đến đi?
Tuyệt làm sao lời nói
ấy!
Sau này có vị tăng
hỏi Tổ Trường Sa:
- Làm sao chuyển được
núi sông, quốc độ trở về nơi mình? Tổ Sa nói:
- Làm sao chuyển được
tự mình thành núi sông, quốc độ?
Tăng nói:
- Thưa, chẳng hiểu.
Tổ Sa nói:
- Dưới thành Hồ Nam
thích nuôi dân.
Gạo rẻ, củi nhiều đủ
bốn phương.
Vị tăng không có lời
nói. Ngài bèn khai thị bằng bài kệ:
Ai nói
sông núi chuyển?
Sông núi chuyển về đâu?
Viên thông không hai phía,
Pháp Tánh vốn không về.
Dịch:
Thùy vấn sơn hà chuyển?
Sơn hà chuyển hướng thùy?
Viên thông vô lưỡng bạn,
Pháp Tánh bổn vô quy.
Đọc lời của hai vị tôn túc mà có nghi cái nghi của
Ông A Nan, thì có thể vỡ lở băng tan vậy.
II. CHỈ
RA KHÔNG CÓ CÁI GÌ TỨC LÀ CÁI THẤY
Kinh:
Phật bảo Ông A Nan:
- Nay ông nói rằng:
Cái Thấy ở trước mắt ông. Nghĩa ấy không đúng. Nếu
thật ở trước mắt ông và ông thật thấy được thì cái
Thấy ấy (Kiến Tinh) đã có chỗ ở, không phải không
thể chỉ ra được. Nay tôi và ông ngồi trong rừng Kỳ
Đà, trông khắp rừng, suối và các điện, đường, trên
đến mặt trời, mặt trăng, trước đối có sông Hằng. Nay
ông bây giờ trước tòa sư tử của tôi, đưa tay chỉ bày
trong các thứ hình tướng kia: Chỗ im mát là rừng,
cái sáng là mặt trời, ngăn ngại là vách, thông suốt
là hư không, như thế cho đến cỏ cây, mảy mún, nhỏ
lớn khác nhau, nhưng đã có hình thì không cái gì là
không chỉ thẳng ra được. Vậy, nếu quả cái Thấy hiện
ở trước mắt ông, thì ông hãy lấy tay chỉ rõ đích xác
cái gì là cái Thấy. A Nan, ông nên biết: Nếu hư
không là cái Thấy thì hư không đã thành cái Thấy,
cái gì mới là hư không? Nếu vật là cái Thấy, thì vật
đã thành cái Thấy, cái gì mới là vật? Ông hãy chia
chẻ tỉ mỉ muôn tượng để tách ra cái Thấy trong sạch,
sáng suốt mà chỉ bày cho Ta như các vật kia, rõ ràng
không nhầm lẫn.
Ông A Nan bạch Phật:
- Nay tôi ở trong
giảng đường này, xa trông đến sông Hằng, trên đến
mặt trời, mặt trăng.Đưa tay chỉ ra, đưa mắt mà xem
thì những cái chỉ ra được đều là vật, chứ không có
cái gì là cái Thấy. Thế Tôn, như lời Phật dạy, chẳng
những hàng hữu lậu sơ học, Thanh Văn như chúng tôi,
mà cho đến các vị Bồ Tát cũng không thể ở nơi hiện
tượng muôn vật chỉ ra cái Thấy mà lìa ngoài tất cả
vật lại có riêng tự tánh.
Phật nói:
- Đúng thế, đúng thế!
III.
CHỈ RA KHÔNG CÓ CÁI GÌ RA NGOÀI TÁNH THẤY
Phật lại bảo Ông A Nan:
- Như lời ông nói:
Không có cái Thấy mà lìa ngoài tất cả vật lại riêng
có tự tánh, do đó trong tất cả các vật chỉ ra được,
không có cái gì là cái Thấy cả. Nay ta lại bảo ông:
Ông cùng Như Lai ngồi trong rừng Kỳ Đà, lại xem vườn
rừng cho đến mặt trời, mặt trăng, đủ thứ hình tượng
khác nhau, chắc không có cái Thấy cho ông chỉ ra
được. Vậy ông hãy phát minh trong các vật đó, cái gì
chẳng phải là cái Thấy?
Ông A Nan bạch:
- Quả thật, tôi nhìn
khắp rừng Kỳ Đà này chẳng biết trong đó có cái gì
không phải là cái Thấy. Tại sao thế? Nếu cái cây
chẳng phải là cái Thấy thì làm sao thấy được cây?
Còn nếu cái cây là cái Thấy thì sao lại là cây? Như
thế cho đến nếu hư không chẳng phải là cái Thấy, thì
làm sao thấy hư không. Nếu hư không tức là cái Thấy,
thì sao lại là hư không? Tôi lại suy nghĩ: trong
muôn vật đó, phát minh cho kỹ lưỡng, thật không có
cái gì chẳng phải là cái Thấy cả.
Phật nói:
- Đúng thế, đúng thế!
Thông rằng: Ông A Nan
đã biết: Cái chỉ được đều là vật, không có cái gì là
cái Thấy. Thì thân tâm ta cho đến núi sông bên
ngoài, không có Tánh Thấy riêng biệt có thể chỉ ra
được, mà sao lại nói: Nay cái Diệu Tánh ấy hiện bày
trước mặt tôi? Hơn nữa, đã biết: Trong muôn tượng,
không có cái gì chẳng phải là cái Thấy. Tức thân tâm
ta cho đến núi sông bên ngoài không có cái gì chẳng
phải là Tánh Thấy, sao lại còn hỏi: Tánh Thấy thật
là tôi, mà thân chẳng phải là tôi?
Đức Thế Tôn bèn khiến
ông tự phát huy, khiến cái nghi ngờ từ trước được
giải tan ngay.
Xưa, thầy Thủ Tòa Tử
Chiêu hỏi Hòa Thượng Pháp Nhãn:
- Hòa Thượng khai
đường kế pháp người nào?
Tổ Nhãn rằng:
- Ngài Địa Tạng.
Thầy Chiêu nói:
- Rất phụ phàng Tiên
Sư Trường Khánh!
Tổ Nhãn:
- Tôi chẳng hiểu một
lời chuyển ngữ của Ngài Trường Khánh.
Thầy Chiêu nói:
- Sao không hỏi? Tổ
Nhãn:
- Ở trong muôn tượng,
lộ riêng thân. Ý là sao?
Thầy Chiêu bèn dựng
đứng cây phất tử.
Tổ Nhãn:
- Đó là cái học được
ở chỗ Ngài Trường Khánh, còn riêng Thủ Tòa thì sao?
Thấy Chiêu không nói
được.
Tổ Nhãn nói:
- Chỉ như "Ở trong
muôn tượng, lộ riêng thân", đó là bác bỏ muôn tượng
hay không bác bỏ muôn tượng?
Thầy Chiêu đáp:
- Chẳng bác bỏ. Tổ
Nhãn nói:
- Hai cái!
Hỏi những người chung
quanh, đều nói:
- Bác bỏ muôn tượng.
Tổ Nhãn nói:
- Ở trong muôn tượng,
lộ riêng thân, cái Phù trừ quỉ!
Về sau, Thượng Tọa Tử
Phương cũng từ Trường Khánh đến.
Tổ Nhãn lại đưa ra
câu nói ấy. Thầy Tử Phương cũng dựng phất tử.
Tổ Nhãn nói:
- Như thế này thì lại
tranh cãi được! Thầy Phương nói:
- Tôn ý của Hòa
Thượng như thế nào?
Tổ Nhãn đáp:
- Kêu cái gì làm muôn
tượng?
Thầy Phương:
- Người xưa chẳng bác
bỏ muôn tượng!
Tổ Nhãn nói:
- Ở trong muôn tượng,
lộ riêng thân. Nói gì bác, chẳng bác?
Thầy Tử Phương bỗng
tỏ ngộ lời nói trước của Tổ Pháp Nhãn.
Cái loại cơ duyên này
vốn từ chỗ Ngài Địa Tạng mà
đắc,
làm sao chẳng phải nói pháp Ngài Địa Tạng!
Mới đầu, Tổ Pháp Nhãn
cùng với thầy Thiệu Tu, Pháp Tấn ba người đi đến
Ngài Địa Tạng. Ngồi sưởi mà bàn về bộ Triệu Luận.
Đến câu: Trời đất cùng ta đồng gốc. Ngài Địa Tạng
hỏi:
Núi sông, đất đai với
tự kỷ của Thượng Tọa là
đồng
hay khác?
Ngài Pháp Nhãn đáp:
- Khác. Tổ Tạng đưa
lên hai ngón tay.
Ngài Nhãn nói:
- Đồng.
Tổ Tạng lại đưa lên
hai ngón tay, rồi đứng lên bỏ đi.
Tuyết ngưng, ba người
từ giã ra về.
Tổ Tạng đưa tiễn ra
cửa, rồi nói:
Bình thường, Thượng
Tọa hay nói: Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.
Bèn chỉ phiến đá
ngoài sân, hỏi:
- Hãy thử nói phiến
đá kia là ở trong tâm hay ở ngoài tâm? Ngài Pháp
Nhãn nói:
- Ở trong tâm. Tổ
Tạng nói:
- Người hành cước vì
lý do nào mà lại để phiến đá ở trong tâm?
Ngài Pháp Nhãn cùng
quẫn, không sao đáp được, bèn ném áo xuống chiếu, ở
lại để cầu quyết trạch. Hơn một tháng, ngày kia Ngài
trình kiến giải, nói cái lý đạo.
Tổ Tạng nói:
- Phật Pháp chẳng
phải như thế. Ngài Pháp Nhãn nói:
- Tôi đã hết lời,
tuyệt lý rồi. Tổ Tạng nói:
- Nếu luận Phật Pháp,
thì hết thảy hiện thành.
Ngài Pháp Nhãn, ngay
dưới câu nói đại ngộ. Mới tin rằng chỗ học được với
Ngài Trường Khánh là chưa tới.
Ngài Thiên Đồng tụng
rằng:
Lìa niệm:
thấy Phật,
Dẹp trần: ra kinh.
Hiện thành gia pháp,
Nào lập môn đình?
Trăng cùng thuyền lướt, sông trong vắng,
Xuân theo ngọn cỏ ngấn tươi xanh.
Bác, chẳng bác - Nghe cho kỹ!
Ba đường hoang trống về liền được,
Tùng cúc thuở xưa hương vẫn thơm.
Dịch:
Ly niệm kiến Phật,
Phá trần xuất kinh.
Hiện thành gia pháp,
Thùy lập môn đình.
Nguyệt trục chu hành giang luyện tịnh,
Xuân thùy thảo thượng thiên ngấn thanh.
Bác, bất bác thinh đinh ninh,
Tam kính tựu hoang quy tiện đắc.
Cựu thời tùng cúc thượng phương hình.
Hãy lấy tắc công án này cùng với đoạn kinh trên, lật
đi lật lại cho rõ ràng mùi mẻ, thì chẳng biết là Ông
Quách Tượng giải thích Trang Tử, hay Trang Tử giải
thích Quách Tượng?
Kinh:
- Khi ấy, trong đại
chúng những vị chưa chứng quả Vô Học nghe Phật nói
thế, mờ mịt chẳng biết nghĩa ấy đầu đuôi thế nào,
nên đồng thời sợ hãi, mất chỗ bám níu.Như Lai biết
đại chúng tâm niệm rối loạn, sanh lòng thương xót,
an ủi Ông A Nan và
đại
chúng rằng:
- Này các trai lành,
bậc Vô Thượng Pháp Vương, thật là Chân Thật Ngữ: như
tánh Chân Như mà nói, không dối, không vọng, không
phải là bốn thứ nghị luận càn dở Bất Tử của nhóm Mạt
Già Lê. Ông hãy suy nghĩ chín chắn, chớ phụ lòng
thương mến của Ta.
Thông rằng: Mờ mịt
chẳng biết nghĩa ấy trước sau thế nào? Trước là, Cái
Thấy chẳng phải là vật. Sau là, Cái Thấy chẳng phải
là không phải vật. Cái trước tức là: Chân Tánh hiện
tiền, cái sau tức là: Không thể chỉ ra được. Cho nên
mờ mịt mất chỗ bám níu vậy.
Chân Thật Ngữ v.v...
tức là năm lời nói trong Kim Cang Bát Nhã:
- Phật Chân Ngữ thì
chung với Nhị Thừa;
- Phật Thật Ngữ thì
chung đồng với hàng Bồ Tát;
- Phật Như Ngữ thì
không chung với Bồ Tát hay Nhị Thừa;
- Phật Vô Thật Ngữ;
- Phật Vô Hư Ngữ. Vô
Hư nên không là lời lừa dối, Vô Thật nên chẳng có
khác lời. Chỗ thấy chưa dứt khoát cho nên nói “Chẳng
khác”. Đây chỉ để nói tóm là không vọng ngữ.
Trong Luận Bà Sa:
- Ngoại đạo cho trời
là thường trụ, gọi là Bất Tử, cho rằng đáp lời mà
chẳng rối loạn thì sanh về cõi trời kia. Nếu thật
chẳng biết mà vội trả lời, thì sợ thành Kiểu Loạn.
Nên khi hỏi thì đáp những lời bí mật, không cần phải
nói ra đây. Hoặc là
đáp
một cách bất định. Phật quở rằng: Đó thật là kiểu
loạn.
Đức Thế Tôn, nhân có
ngoại đạo hỏi:
- Hôm qua Ngài thuyết
pháp gì?
Phật đáp:
- Thuyết định pháp.
Ngoại đạo lại hỏi:
- Hôm nay thuyết pháp
gì?
Ngài đáp:
- Bất định pháp.
Ngoại đạo nói:
- Hôm qua giảng định
pháp, hôm nay sao lại giảng bất định pháp?
Đức Phật nói:
- Hôm qua định, hôm
nay chẳng định.
Hãy nói xem lời nói
này của Thế Tôn là như Tánh Chân Như mà nói hay là
kiểu loạn? Hãy tham!
IV.
NGÀI VĂN THÙ KÍNH XIN PHẬT PHÁT MINH HAI THỨ
Kinh: Lúc ấy, Ngài Pháp
Vương Tử Văn Thù Sư Lợi thương xót hàng tứ chúng, ở
giữa đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ
chân Phật, chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng:
- Thưa Thế Tôn, các
đại chúng đây không ngộ được chỗ Như Lai phát minh
hai nghĩa Tức Là (Thị) và Chẳng Phải Là (Phi Thị)
nơi hai thứ Cái Thấy và Sắc Không. Thưa Thế Tôn, nếu
những hình tượng tiền trần sắc không trước mắt tức
là cái Thấy thì phải có chỗ chỉ ra được. Còn nếu
chẳng phải là cái Thấy thì lẽ ra không thể thấy
được. Nay đại chúng không rõ nghĩa ấy về đâu, nên
mới kinh sợ, chứ không phải căn lành đời trước kém
thiếu. Kính mong Như Lai thương xót, phát minh cho
rõ: Các vật tượng này và cái Thấy ấy vốn là vật gì
mà ở trong đó không có các nghĩa Phải (Thị) cùng
Chẳng Phải (Phi Thị)?
Phật bảo Ngài Văn Thù
cùng tất cả đại chúng rằng:
- Mười phương Như Lai
và các Đại Bồ Tát ở trong Tự Trụ Tam Ma Địa, thì
trong ấy, Cái Thấy và Cái Được Thấy cùng các chỗ
Tưởng Tướng đều như hoa đốm giữa hư không, vốn không
chỗ có. Cái Thấy cho đến những Cái Được Thấy, tất cả
vốn là Thể Bồ Đề sáng sạch nhiệm mầu. Làm sao ở
trong đó lại có Phải hay Chẳng Phải?
Thông rằng: Đức Văn
Thù là thầy của bảy vị Phật thời quá khứ, quen
thuyết Như Lai Thiền, nên yêu cầu Thế Tôn phát minh
ra các vật tượng và cái Thấy vốn là vật gì. Trước,
Đức Thế Tôn đã dạy: Sao chẳng biết sắc thân cho đến
núi sông, hư không, đại địa đều là vật ở trong cái
Chân Tâm Diệu Minh này. Đã mở toang rõ ràng ra rồi,
còn nói gì nữa! Vậy mà ở trong đó, bác bỏ vạn tượng
thì mới có cái Chẳng Phải, không bác bỏ vạn tượng
thì bèn có cái Phải. Hai tướng Phải, Chẳng Phải thật
cùng cực vi tế, chỉ có cái Thấy chân chánh trực tiếp
Thể Bồ Đề Vô Thượng mới có đường thoát thân. Cái Tâm
Tánh Diệu Tịnh sáng suốt này tức là Tự Trụ Tam Ma
Địa của Bồ Tát. Ở trong cái Tự Định này thì thoát
hẳn căn trần nên cái Thấy cùng cái Được Thấy đều bất
khả đắc.
Sắc Không là duyên
cho cái Thấy, cho đến Tưởng Tướng là duyên của cái
Ý, thuộc về sáu Trần. Thấy, Nghe, Hay, Biết thuộc về
sáu Thức. Chứng Bồ Đề, không chỉ là Sở không, mà
Năng cũng không. Nên nói: Vốn không chỗ có, Năng Sở
đều không. Cái Thấy cùng cái Được Thấy, hiện là vắng
lặng. Tức đó là cái Thể Bồ Đề sáng sạch nhiệm mầu,
chẳng kịp luận bàn, chẳng dung phân biệt. Nhất Thiết
Trí thanh tịnh, không hai, không hai phần, vì không
riêng, không dứt, là vậy. Trong đó, làm sao có được
phân biệt để mà nói: Cái này phải thật cái Thấy, cái
này chẳng phải cái Thấy? Nếu gượng sanh Phải hay
Chẳng Phải, thì cũng như mắt bệnh, vọng thấy Không
hoa. Nơi Chân Tánh Bồ Đề, nào đâu dính dáng!
Ngài Thạch Sương ban
đầu đến viếng Tổ Đạo Ngô, hỏi rằng:
- Như thế nào là
“Chạm mắt là Bồ Đề”? Tổ Ngô liền gọi:
- Sa di!
Sa di lên tiếng dạ.
Tổ nói: “Thêm nước
vào tịnh bình đi!”
Chập lâu rồi hỏi lại
Ngài Thạch Sương:
- Ông vừa mới hỏi cái
gì thế? Ngài Thạch Sương vừa định nói, Tổ Ngô bèn
quay về phương trượng.
Ngài Thạch Sương bèn
tỉnh ngộ.
Tổ Đơn Hà tụng rằng:
Buông tay
trở lại, khéo làm Cơ!
Trong tiếng bình thường trí súng, cờ,
Hỏi trùng, định đáp, về phương trượng,
Câu ấy, phân minh lại chẳng ngờ.
Muốn biết cái đạo lý "Chẳng Ngờ", phải hỏi Ngài
Thạch Sương mới được!
Về sau, có nhà sư hỏi
Tổ Thạch Sương:
- Trong khoảng gang
tấc, vì sao chẳng thấy mặt thầy?
Tổ Sương, cách cửa
sổ, lên tiếng rằng:
- Đạo ta cùng khắp
chẳng từng che!
Nhà sư lại đem đến
hỏi Tổ Tuyết Phong:
- Cùng khắp chẳng
che, ý chỉ thế nào?
Tổ Phong đáp:
- Có chỗ nào mà chẳng
phải là Thạch Sương?
Tổ Sương nghe được
rồi nói rằng:
- Cái lão già ấy bám
vào để chết cho lẹ!
Tổ Phong nghe được,
bèn nói:
- Tội lỗi của lão
tăng vì chỉ dư một chữ Là, mà dẫn người vào trong
hang Tình giải, may gặp Thạch Sương mổ xẻ, phanh
phui.
Trong khoảng mảy
lông, chẳng phải là bậc có mắt thì nào có biện ra
nổi!
V. TÁNH
THẤY KHÔNG CÓ PHẢI HAY CHẲNG PHẢI
Kinh: Văn Thù, nay ta hỏi
ông:
- Như ông chính là
Văn Thù, vậy thì còn có Văn Thù nào tức là Văn Thù
nữa hay không?
- Bạch Thế Tôn, đúng
thế! Tôi chính thật là Văn Thù, không có cái gì tức
là Văn Thù nữa. Tại sao thế? Nếu có cái "Tức La" nữa
thì thành ra hai Văn thù, nhưng giờ đây tôi chẳng
phải không là Văn Thù. Trong đó, quả thật không có
hai tướng Tức Là hay Chẳng Phải.
Thông rằng: Câu "Tôi
chính thật là Văn Thù" trả lời nghĩa thứ nhất, bày
ra cái Tâm Thể Bồ Đề sáng sạch, nhiệm mầu.
Câu: Không có cái gì
tức là Văn Thù nữa, trả lời nghĩa thứ hai, phá cái
chấp Sắc Không là cái Thấy.
Câu: Chẳng phải không
là Văn Thù, trả lời nghĩa thứ ba, phá cái chấp Sắc
Không chẳng phải là cái Thấy.
Nếu bảo rằng: Sắc
Không là Chơn Kiến, thế là từ Vọng mà biện Chơn, do
đó, đối với Cái Chơn của không Vọng thành ra hai
nghĩa, nên nói: Nếu có Tức là Văn Thù thì thành ra
hai Văn Thù.
Nếu bảo rằng: Sắc
Không chẳng phải là Chân Kiến, thế mà toàn thể vọng
cảnh là chân, nên mới nói: Giờ đây tôi chẳng phải là
không Văn Thù.
Tổ Lạc Phổ bảo với
đại chúng:
- Nay có một việc
muốn hỏi các ông: Nếu nói là Phải tức là trên đầu
chồng thêm đầu, nếu nói là Chẳng Phải, tức là chặt
đầu mà cầu sống.
Thầy Đệ Nhất Thủ Tòa
nói:
- Núi xanh thường cất
bước, dưới mặt trời chẳng khêu đ
èn.
Tổ Phố nói:
- Đó là thời tiết nào
mà nói lời ấy? Khi ấy, có thầy Thượng Tọa Ngạn trả
lời rằng:
- Lìa hai lối ấy, xin
Hòa Thượng chớ hỏi! Tổ Phố nói rằng:
- Chưa đúng trong đó.
Nói lại đi! Thầy Ngạn đáp:
- Ngạn này theo thì
nói không cùng tận!
Tổ Phố nói:
- Ta chẳng kể ông
cùng tận hay chẳng cùng tận!
Đáp:
- Ngạn theo hay không
theo ấy, chỉ đối với Hòa Thượng.
Tổ Phố bèn thôi.
Ngài Tu Sơn Chủ kệ
rằng:
Tức là
cột, chẳng thấy cột,
Chẳng phải cột, chẳng thấy cột.
Thị , Phi đã bỏ hết,
Trong Thị Phi, mời dùng.
Thị trụ bất kiến trụ,
Phi trụ bất kiến trụ.
Thị Phi dũ khứ liễu,
Thị Phi lý tiến thủ.
Đối với hai tắc trên mà thấu thoát, thì Thị, Phi có
thể tiêu tan hết!
Xưa, Ngài Phong Can
muốn đi chiêm bái Ngũ Đài Sơn, hỏi Ngài Hàn Sơn và
Thập Đắc rằng:
Các ông cùng ta đi
thăm Ngũ Đài, tức là
đồng
lưu của ta; nếu chẳng cùng ta đi thăm Ngũ Đài thì
chẳng phải là
đồng
lưu của ta!
Ngài Hàn Sơn hỏi:
- Ông đi Ngũ Đài làm
gì?
Ngài Phong Can đáp:
- Lễ bái Văn Thù.
Ngài Hàn Sơn nói:
- Ông chẳng phải là
đồng
lưu của ta.
Ngài Phong Can một
mình đi vào Ngũ Đài, gặp một ông lão, bèn hỏi:
- Chẳng phải là Văn
Thù ư?
Đáp:
- Há lại có hai Văn
Thù?
Ngài bèn lễ bái, chưa
kịp đứng lên, bỗng nhiên chẳng còn thấy.
Tổ Triệu Châu nói
thay rằng:
- Văn Thù, Văn Thù,
lại Văn Thù! Ba phen bỏ Hạ, Ông Ca Diếp muốn bạch
chùy đuổi ra. Vừa cầm dùi lên thì thấy có trăm ngàn,
vạn, ức Văn Thù. Ông Ca Diếp dùng hết thần lực mà
chùy không dỡ nổi. Đức Thế Tôn bèn hỏi Ông Ca Diếp:
“Ông định đuổi Văn Thù nào?” Ông Ca Diếp không đáp
được”. Tổ Thiên Đồng nêu ra rằng:
- Ông Đầu Đà sắc vàng
có tâm mà không có mật. Cứ hết lệnh mà làm! Chớ bảo
trăm, ngàn, vạn, ức Văn Thù. Ngay cái Lão Cù Đàm mặt
vàng ấy cũng phải đuổi ra! Nếu có thể như vậy thì
không những dựng thẳng Chân Phong mà cũng khiến
người sau biết rằng học trò của thầy tu ta khỏi cho
rằng ông ngăn cản Phật Tổ chẳng được!
Khoái thay! Khoái
thay! Phải nên như vậy mà thấy. Ắt là cái Tâm Thể Bồ
Đề sáng sạch nhiệm mầu cũng không có chỗ bám níu,
làm sao mà có được hai tướng Thị, Phi?
Kinh: Phật dạy:
- Tánh Thấy mầu sáng
này cùng các thứ Không, Trần cũng lại như thế. Vốn
là Chân Tâm Bồ Đề Vô Thượng, tròn sáng, mầu sạch mà
lầm nhận cho là Sắc, Không cho đến các thứ Thấy,
Nghe. Như mặt trăng thứ hai. Hai mặt trăng ấy, cái
nào là mặt trăng thật, cái nào chẳng phải là mặt
trăng? Văn Thù! Chỉ có một mặt trăng thật, trong đó
tự không có cái Tức Là mặt trăng hay cái Chẳng Phải
là mặt trăng!
Thông rằng: Câu Vốn
là Chân Tâm Bồ Đề Vô Thượng, tròn sáng mầu sạch mà
lầm nhận là Sắc, Không cùng với các thứ Thấy, Nghe,
cùng với câu ở đoạn trước: Mê muội thành ra hư
không, trong cái hư không mê muội ấy, kết cái tối
tăm thành ra có Sắc, Sắc xen lẫn với vọng tưởng,
tưởng tướng làm thân, nhóm các duyên lay động bên
trong, rong ruổi theo cảnh vật bên ngoài, rồi lấy
cái tướng mờ mịt lăng xăng đó làm Tâm Tánh, thì chỗ
sanh khởi giống nhau, đều do lấy vọng tưởng làm chỗ
sùng mộ vậy. Vọng tưởng là gốc bệnh, như dụi mắt mà
thấy vậy. Vốn là một Chân Tâm Mầu Sáng mà lấy cái
thấy vọng tưởng phân biệt để nhìn, bèn có cái thấy
sắc không, nghe thấy. Cái vọng thấy và cái vọng được
thấy này há có thể lìa Chân Tâm mà có tự thể sao? Đã
gọi nó là Sắc, Không, Nghe, Thấy thì cách Chân Tâm
xa rồi vậy. Ví như vốn một mặt trăng chơn thật, mà
dùng cái thấy phân biệt của sự dụi mắt mà nói là có
mặt trăng thứ hai. Cái mặt trăng thứ hai này há có
thể lìa ngoài mặt trăng thật mà có tự thể sao? Đã
gọi nói là mặt trăng thứ hai thì cách xa mặt trăng
thật rồi đó. Cho nên, ở nơi Sắc, Không, Nghe, Thấy
mà vọng làm chuyện đo lường mò mẫm rồi cho Sắc,
Không, Nghe, Thấy "tức là" Chân Tâm cũng không được,
mà cho rằng Chẳng Phải Chân Tâm cũng không được! Lấy
Vọng tìm Chơn: Chơn theo Vọng mà chuyển! Cũng như ở
nơi mặt trăng thứ hai mà vọng làm chuyện tính toán
mò mẫm, lấy đó cho rằng Tức Là mặt trăng thì không
được, mà cho là Chẳng Phải mặt trăng cũng không
được! Lấy cái dụi mắt tìm trăng, trăng tùy theo dụi
mắt mà chuyển!
Cái Tâm này vốn Chơn,
bởi tùy Vọng Tưởng mà
đổi.
Như mặt trăng vốn thật, bởi do dụi mắt mà dời. Chỉ
dứt trừ vọng tưởng ắt chỉ còn một Tâm Thể tròn sáng
nhiệm mầu, không thấy có sắc, không, không thấy cái
thấy nghe, thì Phải, Chẳng Phải do đâu mà lập? Chỉ
trừ sự dụi mắt, ắt độc một mặt trăng, xưa nay vẫn
thế, có đâu mặt trăng thứ hai mà Phi mà Thị?
Chỗ này tức là
đoạn
văn trước nói: Tôi chính thật Văn Thù... Trong đó
thật không hề có hai tướng phải cùng chẳng phải, nên
đoạn này nói: Cũng lại như thế.
Xưa, Ngài Vân Nham
đang quét sân.
Tổ Đạo Ngộ nói:
- Việc nhỏ mọn quá.
Vân Nham nói:
- Cần biết có cái
chẳng nhỏ mọn.
Tổ Đạo Ngộ nói:
- Như thế ắt có mặt
trăng thứ hai vậy.
Ngài Vân Nham đưa
chổi lên, nói:
- Cái này là mặt
trăng thứ mấy?
Tổ Đạo Ngộ bèn thôi
mà bỏ đi.
Tổ Huyền Sa riêng nói
rằng:
- Đích thị là mặt
trăng thứ hai! Tổ Trường Khánh rằng:
- Bị người ta xây
ngược chổi che đến mặt, còn làm quái gì nữa!
Tổ Sa bèn thôi. Tổ
Vân Môn nói:
- Tôi thấy tớ thì ân
cần.
Ngài Thiên Đồng tụng
rằng:
Nhờ nhau
như thế rõ môn đầu,
Được dụng, tùy nghi cũng tiện thôi.
Xương voi trước hang tay rắn múa,
Chỗ làm hồi nhỏ, già biết thẹn.
Tổ Tuyết Phong từng khai thị chúng rằng:
- Núi Nam có một con
miết tỵ xà( ), tất cả các ông cần phải xem cho kỹ.
Tổ Vân Môn cầm cây gậy ném ra trước mặt, làm bộ sợ
hãi.
Chỗ này há chẳng phải
là: Tôi thấy tớ thì ân cần, sao? Cùng với Tổ Vân
Nham đưa cây chổi lên nào có khác! Cho nên mới nói:
Già biết thẹn, vậy.
Thiền sư Tây Viên
Tạng một ngày kia tự nấu nước tắm. Có nhà sư hỏi:
- Sao chẳng sai Sa
di?
Tổ Viên vỗ tay ba
lần.
Vị sư kể lại với Tổ
Tào Sơn.
Tổ Sơn nói:
- Cái vỗ tay, tựu
trung là việc kỳ quái của Tây Viên. Một Ngón Tay
Thiền của Câu Chi, cũng vì chỗ thừa đương mà chẳng
chịu kham nhận vậy. Vị sư lại hỏi:
- Ngài Tây Viên vỗ
tay, há chẳng phải là chuyện một bên mé của con tôi,
cái tớ sao? Tổ Sơn nói:
- Phải. Hỏi:
- Hướng thượng lại có
chuyện hay không?
Tổ Sơn rằng:
- Có. Hỏi:
- Như thế nào là
chuyện hướng thượng?
Tổ Sơn nói:
- Cái đồ con tôi, cái
tớ. Xem cái lối đề xướng ấy của các vị lão túc,
chính là sợ cho người nhận Tớ Làm Chồng, sa vào
trong kiến giải mặt trăng thứ hai.
Kinh:
- Vậy nên, hiện nay
các ông phát minh các thứ Xem Thấy và trần cảnh đều
là vọng tưởng, thì không thể ở trong đó mà chỉ ra
Phải hay Chẳng Phải. Nhưng do tất cả đều là Chân Tâm
nhiệm mầu sáng suốt nên có thể làm cho các ông ra
khỏi các nghĩa Chỉ được và Không chỉ được.
Thông rằng: Nếu chưa
thấy Tánh thì Tánh ở trong cái Thấy, cùng tên là
Kiến Tinh, đủ các thứ vọng tưởng phân biệt thì làm
sao ra khỏi Tức là hay Chẳng Phải được. Nếu thấy
Tánh, thì Tánh thoát ngoài cái Thấy, nên chẳng gọi
là Thấy, Nghe, Hay, Biết. Tất cả phân biệt đều
không, nên thoát ra ngoài sự Chỉ được hay Không chỉ
được.
Câu: Không thể ở
trong đó chỉ ra các nghĩa Phải và Chẳng Phải, thì
như mặt trăng thứ hai: cái nào Tức là mặt trăng? Cái
nào Chẳng Phải mặt trăng?
Câu: Nên có thể làm
cho các ông ra ngoài các sự Chỉ được và Không chỉ
được, thì như một mặt trăng thật, trong đó tự nhiên
chẳng có thật hay giả.
Vật là cái được chỉ
ra, như đoạn trước nói: Những cái chỉ ra được đều là
Vật. Cái Thấy không có chỗ nào để chỉ ra, như đoạn
trước nói: Chứ không phải là cái Thấy. Ông A Nan tuy
có thể phát minh được hai nghĩa: Tiền trần chẳng
phải là cái Thấy và Tiền trần tức là cái Thấy, nhưng
còn bị Thị, Phi trói buộc, chẳng thể thoát ra, cũng
do bởi vì không biết chỗ quy về của cái nghĩa này,
chỗ đó là Thấy Tánh vậy.
Nếu thấy cái Chân
Tánh tròn sáng, nhiệm mầu vốn hằng hằng giác ngộ,
thì cái Thấy cùng cái Được Thấy vốn không chỗ có,
chỗ nào có cái Chỉ Ra? Cái Thấy này cùng cái Được
Thấy vốn là Tâm Thể Bồ Đề sáng sạch nhiệm mầu, thì
chỗ nào mà chỉ ra chẳng được? Trong Thể Bồ Đề ấy,
không có cái gì gọi là Phải hay Chẳng Phải, mới là
con đường thoát thân (xuất thân). Chữ Xuất (thoát
ra) ở chánh văn rất có ý vị. Sở dĩ ra được phải do
chỗ này, nên kinh nói: Do Thị, chỉ rằng phải vào
trong Kiến Tánh mới có thể ra được.
Có nhà sư hỏi Tổ
Thiều Sơn:
- Chỗ thị phi không
đến, còn có câu biện luận không?
Tổ đáp:
- Có Nhà sư hỏi:
- Đó là câu gì? Tổ
Sơn nói:
- Một mảnh mây trắng
chẳng lộ bày vẻ xấu. Tổ Thiên Đồng nêu ra rằng:
- Khắp thân che chở,
chẳng phạm tôn nghiêm. Bỏ địa vị lui về, ở một bên
nâng đỡ. Cần nên uyển chuyển. Có thấy hình tướng của
Thiều Sơn ở chốn nào? Nếu tận lực tìm cha, hãy hướng
vào trong ấy!
Tổ Động Sơn kệ rằng:
Núi xanh:
cha mây trắng,
Mây trắng: con núi xanh.
Mây trắng suốt ngày dựa,
Núi xanh vốn chẳng hay.
Dịch:
Thanh sơn bạch vân phụ,
Bạch vân thanh sơn nhi.
Bạch vân chung nhật ỷ,
Thanh Sơn tổng bất tri.
Tổ Thiều Sơn nói:
- Một mảnh mây trắng
chẳng lộ bày vẻ xấu, vốn là
đây.
Có vị tăng hỏi thị
giả Cổ Phong Kiền:
- Như thế nào là nối
bề ngoài? Ngài Phong nói rằng:
- Chẳng nhờ việc
trong nhà người khác. Hỏi:
- Như thế nào là nối
bề trong.
Ngài đáp:
- Nếu tìm cha, hãy
hướng vào trong ấy! Tổ Thiên Đồng nói:
- Tận lực tìm cha,
hãy hướng vào trong ấy, vốn là chỗ này. Lại Tổ Đầu
Tử tụng rằng:
Mây trắng
không hề đến đỉnh non,
Mắt đầy khói, ráng, cảnh muôn ngàn.
Một câu ngâm lạnh, ngàn xưa điệu,
Muôn trùng xanh biếc, mọc trăng non.
Phải biết rằng cái Tánh mầu sáng vốn hằng hằng Giác
Ngộ, vượt ngoài Phải cùng Chẳng Phải, như mặt trăng
thứ nhất. Phải rốt ráo được tông chỉ của Tông Tào
Động mới được chỗ vi diệu.