KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN II
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG
CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN TÂM
MỤC BẢY: TÓM
THU VỀ NHƯ LAI TẠNG
I. TÓM THU
Kinh:
- A Nan, ông còn
không biết rằng hết thảy các tướng huyễn hóa của
tiền trần ngay nơi chỗ mà sanh ra, tùy theo chỗ mà
diệt mất. Hư huyễn vì mê vọng nên nói là tướng, chứ
thật tánh chúng là Diệu Giác Minh Thể. Như vậy, cho
đến năm Ấm, sáu Nhập, mười hai Xứ và mười tám Giới
đều là:
- Nhân Duyên hòa hợp:
in tuồng có sanh ra;
- Nhân Duyên chia
lìa: in tuồng diệt mất. Quyết chẳng biết rằng sanh,
diệt, đến, đi vốn là Như Lai Tạng Tánh thường trụ,
mầu sáng, bất động, tròn khắp, tánh diệu Chân Như.
Trong Tánh Chân Thường ấy mà tìm cầu cho ra tướng
đến, đi, mê, ngộ, sanh, tử rốt là không được.
Thông rằng: Ở đây bày
thẳng Đốn Môn, mở ra con đường Diệu Bồ Đề, tức là
ngay trong phù trần huyễn hóa mà chứng Chân Như.
"Trong Tánh Chân Thường mà tìm cầu cho ra tướng đến,
đi, mê, ngộ, sanh, tử rốt là không được."
Các thứ Ấm, Nhập, Xứ,
Giới chỉ có tướng huyễn vọng. Huyễn không tự tánh,
nương Chân mà lập như hoa đốm khởi lên giữa hư
không, toàn thể hoa đốm là hư không. Như sóng sanh
trên nước, toàn sóng là nước. Cho nên kinh nói “Tánh
của chúng thật là Diệu Giác Minh Thể”, Thể này chính
là Pháp Thân. Tự nó gồm chứa vô lượng công đức nên
gọi là Như Lai Tạng. Vốn chẳng đến đi, nên gọi là
Thường Trụ. Vốn chưa từng mê muội, nên gọi là Diệu
Minh. Vốn không sanh diệt, nên gọi là Bất Động. Vốn
tự sẵn đủ nên nói là Tròn Khắp, Châu Viên. Một vị
Thường Trụ nên Đến Đi bất khả đắc. Một vị Diệu Minh
nên mê ngộ bất khả đắc. Một vị Bất Động nên sanh tử
bất khả đắc. Một vị Tròn Khắp nên Chân Thường.
Cái gọi là Tánh Chân
Như Mầu Nhiệm ở đây kỳ thật là cái “Xưa nay không
một vật” vậy.
Có nhà sư hỏi Tổ
Hoàng Bá:
- Kẻ học nhân này
chẳng hiểu, Hòa Thượng chỉ bày như thế nào? Tổ Hoàng
Bá nói:
- Ta không có một vật
nào hết. Từ xưa đến giờ chẳng từng đem ra một món
vật cho người. Ông từ vô thủy đến nay chỉ vì bị
người ta chỉ bày rồi tìm kiếm chuyện Khế Hợp, tìm
kiếm chuyện Hiểu Ngộ. Như thế thì chẳng phải cả thầy
trò đều lọt vào nạn vua sao? Ông chỉ cần biết rằng,
một niệm chẳng thọ tức là không có cái Thân Thọ. Một
niệm không tưởng đến tức là không có cái Thân Tưởng.
Quyết chẳng có trôi theo sự tạo tác, tức là không có
cái Thân Hành. Chẳng có nghĩ suy, so sánh, phân biệt
tức là không có cái Thân Thức. Nay ông vừa khởi ra
một niệm tức thì có ngay vòng Thập Nhị Nhân Duyên:
Vô Minh duyên ra Hành, vừa Nhân vừa Quả; cho đến
Lão, Tử cũng vừa Nhân vừa Quả.
Cho nên đồng tử Thiện
Tài đi một trăm mười nơi cầu thiện tri thức, chỉ là
hướng vào Thập Nhị Nhân Duyên mà cầu. Sau rốt gặp
Đức Di Lặc. Đức Di Lặc lại chỉ đến gặp Đức Văn Thù.
Văn Thù ấy, chính là cái Bổn Địa Vô Minh của ông.
Nếu tâm tâm riêng khác, hướng ngoài mà tìm cầu thiện
trí thức, thì một niệm vừa sanh liền diệt, vừa diệt
liền sanh. Bởi thế, Tỳ Kheo các ông cũng sanh, cũng
lão, cũng bệnh, cũng tử. Trả Nhân đền Quả xưa nay,
tức là sự sanh diệt của năm Tụ. Năm Tụ là năm Ấm.
Một niệm chẳng khởi tức là mười tám Giới bèn không,
ngay thân là hoa trái Bồ Đề, ngay tâm tức là Bát
Nhã. Nếu có chỗ dừng bám, thì ngay thân là xác chết,
cũng gọi là quỉ giữ xác chết.
Lời nói này của Tổ
Hoàng Bá chẳng phải làm sáng tỏ câu kinh “Hư huyễn
vì mê vọng nên nói là tướng, chứ thật tánh của chúng
chính là Diệu Giác Minh Thể” đó sao?
Ông Hạo Nguyệt cúng
dường, hỏi Tổ Trường Sa:
- Rõ thì nghiệp
chướng vốn là không. Chưa rõ, nợ xưa đ
ành
trang trải, vậy thì Tổ Sư Tử Tôn giả và Nhị Tổ Huệ
Khả vì sao phải trả nợ xưa?
Tổ Sa nói:
- Đại Đức chẳng biết
Bổn Lai Không.
Hỏi:
- Như thế nào là Bổn
Lai Không?
Đáp:
- Là nghiệp chướng.
Hỏi:
- Như thế nào là
nghiệp chướng?
Đáp:
- Là Bổn Lai Không.
Rồi Tổ Sa dùng bài kệ
chỉ bày:
Giả Có,
vốn chẳng Có,
Giả Diệt, cũng chẳng Không.
Nghĩa Niết Bàn, trả nợ,
Một Tánh, chẳng khác gì.
Dịch:
Giả Hữu nguyên phi Hữu,
Giả Diệt diệc phi Vô.
Niết Bàn, thường trái nghĩa,
Nhất Tánh, cánh vô thù.
Lời dạy này của Tổ Trường Sa chẳng phải làm rõ câu
“Sanh diệt, đến đi đều vốn là Tánh Chân Như tròn
khắp, bất động, mầu sáng, thường trụ của Như Lai
Tạng” đó sao?
Lại Tổ Giáp Sơn về Tổ
Định Sơn vừa đi vừa nói chuyện.
Tổ Định Sơn nói:
- Trong sanh tử mà
không có Phật, thì không có sanh tử.
Tổ Giáp Sơn nói:
- Trong sanh tử mà có
Phật thì chẳng mê sanh tử.
Hai bên chẳng chịu
nhau, bèn có đến Tổ Đại Mai.
Giáp Sơn bèn thuật
lại và hỏi chỗ thấy, hiểu của ai gần hơn.
Tổ Mai nói:
- Một gần, một xa.
Giáp Sơn lại hỏi:
- Cái nào gần.
Tổ Mai rằng:
- Thôi về đi, ngày
mai đến.
Hôm sau, Giáp Sơn lại
tới hỏi nữa.
Tổ Mai nói:
- Gần thì chẳng hỏi,
hỏi thì chẳng gần.
Sau này, Ngài Giáp
Sơn tự bảo:
- Lúc đó mất một con
mắt lẻ.
Đây là một tắc, chẳng
phải làm rõ câu “Trong Tánh Chân Thường mà cầu cho
ra những cái đến đi, mê ngộ, sanh tử rốt là không
được” đó sao?
Bản chú giải xưa cho
rằng:
- Từ bảy chỗ trưng
tâm và biện ra cái Thấy cho đến đây là rộng phá Chấp
Ngã, là pháp Quán Không, Xa Ma Tha. Từ đây trở xuống
là rộng phá Chấp Pháp, tức là pháp Quán Giả, Tam Ma
Đề. Đối với chỗ “Chỉ thẳng Tâm người, thấy Tánh
thành Phật” còn cách xa một đoạn đường.
Như thế là chưa hiểu
rằng pháp Diệu Xa Ma Tha mà Ông A Nan hỏi, thì ở
đây, được đáp là Diệu Chân Như Tánh. Chỉ một chữ
Diệu, thật khó hình dung, người ngộ tự biết lấy.
A. THU
SẮC ẤM
Kinh:
- A Nan, thế nào năm
Ấm vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh? Thông
rằng: Năm Ấm cũng gọi là năm Uẩn. Uẩn nghĩa là chứa
nhóm, tích tụ. Ấm nghĩa là che đậy. Tích tụ hữu vi,
che đậy Chân Tánh, cho nên cùng gọi là phạm vi của
năm Ấm, rất là khó phá. Ở đây nói “Vốn là Như Lai
Tạng Diệu Chân Như Tánh” là nói suy từ gốc thì năm
Ấm duyên khởi từ trong Như Lai Tạng mà lưu xuất ư?
Hay là nói năm Ấm đều Không, tức hiển bày Tánh Diệu
Chân Như ư? Điều này thuộïc về Đốn Môn, tức là ở
đoạn trước gọi là “Con Đường Diệu Tu Hành các Tam Ma
Đề Đại Tổng Trì”. Chính là ở đây chỉ rằng: Ngũ Ấm
tức là Như Lai Tạng, tức là Tánh Diệu Chân Như,
không hai, không khác! Như thế thì dẹp tan Ngũ Ấm,
cũng không có thứ lớp. Như luận về Lý Đốn Ngộ, phải
ngay đây thấy được năm Ấm đều tự Vô Sanh, đều tự
Tịch Tĩnh, cầu tướng năm Ấm rốt là không thể được.
Thế thì năm Ấm đâu chẳng phải là Chân Như, mà Chân
Như nào chẳng hề là Ngũ Ấm ư? Có nhà sư hỏi Tổ Quy
Sơn An rằng:
- Rời bỏ năm Ấm, thế
nào là cái thân xưa nay? Tổ An nói:
- Đất, Nước, Lửa,
Gió, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Vị sư nói:
- Cái đó là năm Ấm.
Tổ An nói:
- Cái đó chẳng phải
năm Ấm. Lại hỏi:
- Cái Ấm này đã hết
mà cái Ấm kia chưa sanh, thì như thế nào? Tổ An nói:
- Cái Ấm này chưa
hết, Đại Đức là cái gì? Đáp:
- Chẳng hiểu được. Tổ
An nói:
- Nếu hiểu cái Ấm
này, bèn rõ Ấm kia. Như theo Tổ An, quả là thấu suốt
Ngũ Ấm vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh. Kinh:
- A Nan, ví như có
người dùng con mắt trong sạch xem hư không trong
tạnh, chỉ thấy một hư không trong sáng, vắng lặng
chẳng có gì. Người ấy khi không chẳng lay động con
mắt, nhìn sững hồi lâu nên mỏi mắt, bèn ở nơi hư
không riêng thấy hoa đốm loạn xạ, lại thấy có tất cả
những tướng giả dối lăng xăng. Nên biết rằng Sắc Ấm
cũng là như thế.
A Nan, các hoa đốm
lăng xăng ấy chẳng phải từ hư không mà
đến,
chẳng phải từ con mắt mà ra. Thật vậy, A Nan, nếu
nói từ hư không mà
đến,
đã từ hư không đến thì phải lại trở vào hư không.
Nếu có ra, có vào như thế thì đã chẳng phải là hư
không. Hư không mà chẳng phải trống rỗng thì tự
nhiên không thể dung chứa hoa đốm sanh diệt ở trong
ấy, cũng như thân thể A Nan không thể dung chứa được
một A Nan khác.
Còn cho rằng hoa đốm
từ con mắt mà ra, đã từ con mắt ra thì phải trở vào
con mắt. Lại cái tính hoa đốm ấy đã từ con mắt mà ra
thì lẽ ra phải có Tánh Thấy. Nếu có Tánh Thấy thì
khi đã ra làm hoa đốm giữa hư không, phải trở lại
thấy được con mắt. Nếu không có Tánh Thấy, thì khi
đi ra phải che lấp hư không, khi trở vào phải che
lấp con mắt! Hơn nữa, khi thấy hoa đốm, đáng lẽ con
mắt phải không lòa, chứ sao thấy hư không trong sáng
thì mới gọi là con mắt trong sạch?
Vậy, nên biết rằng:
Sắc Ấm hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên,
chẳng phải tánh Tự Nhiên.
Thông rằng: Ngài Long
Thọ có bài kệ:
Các pháp
chẳng tự sanh,
Cũng chẳng do (cái) khác sanh.
Chẳng chung, chẳng không nhân,
Nên gọi là vô sanh.
Dịch:
Chư pháp bất tự sanh,
Diệc bất tùng tha sanh.
Bất cọng bất vô nhân,
Thị cố thuyết vô sanh.
Phàm các pháp chẳng tự sanh, vì chờ có các Duyên
vậy. Chẳng do cái khác sanh, vì các Duyên đều vô tự
tánh. Chẳng cùng sanh vì thể của trí và tu hành là
không; vô tự tánh nên không hợp, không tán. Chẳng
không Nhân, vì phải chờ tu hành giác ngộ mới hiển
lộ, chứ chẳng phải tự nhiên mà thành.
Hãy biết rằng cái
Diệu Giác Minh Thể này lìa ngoài hết thảy mọi lỗi
lầm, vốn Tự Vô Sanh vậy. Từ năm Ấm, sáu Nhập, mười
hai Xứ, mười tám Giới cho đến bảy Đại chẳng có chỗ
nào không làm rộng sáng cái ý này. Ngộ được Vô Sanh
tức là Con mắt thanh tịnh. Xưa nay vốn tự không hoa
đốm, chỉ vì nhìn sững mà hoa mắt. Trái với Chân,
hiệp với Vọng, bèn thấy có hoa. Hoa vốn không Thể,
chẳng từ đâu sanh. Chỉ hết bệnh nhặm, hoa cuồng loạn
tự diệt. Nếu ở nơi hoa đốm lăng xăng mà cho là có
chỗ sanh ra, tức là tánh Nhân Duyên; nói là không có
chỗ phát sanh, là tánh Tự Nhiên. Nay xét chỗ sanh
ra, thì chẳng ở hư không mà sanh, cũng chẳng ở con
mắt mà sanh, thì rõ là chẳng phải Nhân Duyên. Nếu
quả là Tự Nhiên mà có thì khi thấy hoa đốm lẽ ra tự
mình không có bệnh nhặm. Nếu không có bệnh nhặm mà
thấy hoa đốm thì con mắt thấy hoa đốm phải gọi là
con mắt trong sạch! Và thấy hư không trong sáng phải
là con mắt nhặm! Thế, tại sao khi thấy hư không
trong sáng lại gọi là con mắt trong sạch? Hoa đốm
này chắc phải do bệnh nhặm mà sanh, chứ rõ ràng
chẳng phải tự nhiên vậy! Ôi! Hoa đốm đã thế, thì Sắc
Ấm cũng thế. Vốn đều hư vọng, vốn vô tự tánh, tức
Sắc tức Không. Cho nên gọi đó vốn là Như Lai Tạng
Diệu Chân Như Tánh vậy.
Đức Mã Tổ dạy chúng
rằng:
- Ba cõi duy chỉ là
Tâm, muôn hình vạn tượng đều là một Pháp Ấn. Phàm
thấy sắc là thấy tâm. Tâm chẳng tự là tâm, nhân sắc
mà có. Các ông chỉ tùy thời mà nói năng, thì sự tức
là lý, đều không chỗ ngại. Đạo quả Bồ Đề cũng lại
như thế. Nơi tâm sanh ra thì gọi là sắc. Biết sắc là
không thì sanh tức là chẳng sanh. Nếu hiểu ý này mới
khá tùy thời ăn cơm mặc áo, nuôi lớn Thánh Thai, mặc
tình qua ngày qua buổi, còn chuyện gì đâu! Các ông
thọ lãnh giáo pháp của ta, hãy nghe kệ rằng:
Tâm địa
tùy thời nói,
Bồ Đề chỉ là thế.
Sự, lý đồng không ngại,
Đang sanh tức chẳng sanh.
Dịch:
Tâm địa tùy thời thuyết
Bồ Đề diệc chỉ ninh
Sự, Lý cu vô ngại
Đương sanh tức bất sanh.
Tổ Vân Môn dạy chúng rằng:
- Chân Không chẳng
hoại Có. Chân Không không khác Sắc.
Có vị sư hỏi:
- Cái gì là Chân
Không? Tổ Môn nói:
- Ông có nghe tiếng
chuông không? Đáp:
- Đó là tiếng chuông.
Tổ Môn nói:
- Năm Lừa mộng thấy
được sao?
Thiền sư Cao An Nhân
dạy chúng rằng:
- Bình thường chẳng
muốn hướng theo lời trước, câu sau mà cổ vũ đ
ùa
giỡn với nam nữ nhà người. Vì sao? Vì thanh chẳng
phải thanh, sắc chẳng phải sắc.
Có vị tăng hỏi:
- Như thế nào là
thanh chẳng phải thanh?
Đáp:
- Gọi là sắc được
không?
Hỏi:
- Như thế nào là sắc
chẳng phải sắc? Đáp:
- Gọi là thanh được
chăng?
Vị tăng làm lễ tạ.
Tổ Bèn nói:
- Hãy thử nói xem: vì
ông mà nói? Hay đáp lại lời ông? Nếu có người rõ
được thì có chỗ nhập. Tổ Đơn Hà tụng rằng:
Sắc tự
sắc, hề, thanh tự thanh,
Oanh non hót liễu, khói mong manh.
Cửa cửa đều thông về kinh quốc,
Nghiêng nghiêng ba đảo, biển đầy trăng.
Dịch:
Sắc tự sắc hề thanh tự thanh,
Tân oanh đề xứ liễu yên kinh.
Môn môn hữu lộ thông kinh quốc,
Tam đảo tà hoành hải nguyệt minh.
Cho nên, biết Sắc Ấm vốn là Tánh Diệu Chân Như, liền
đạt Vô Sanh đó.
B. THU
THỌ ẤM
Kinh:
- A Nan, ví như có
người tay chân yên ổn, năm vóc điều hòa, bỗng như
quên mình, không có gì là trái là thuận. Người ấy
khi không lấy hai bàn tay xoa nhau giữa hư không,
thì nơi hai bàn tay ấy giả dối sanh ra những Cảm Xúc
trơn rít, lạnh nóng. Nên biết Thọ Ấm cũng lại như
thế.
A Nan, các Cảm Xúc
giả dối kia không phải từ hư không mà
đến,
không phải từ bàn tay mà ra. Thật vậy, A Nan, nếu từ
hư không mà
đến
thì đã sanh Cảm Xúc nơi bàn tay, sao lại không sanh
Cảm Xúc nơi thân thể, không lẽ hư không lại biết lựa
chỗ để sanh ra Cảm Xúc? Nếu như từ bàn tay mà ra,
thì lẽ ra không cần hai tay phải hợp lại. Lại đã từ
bàn tay mà ra thì khi bàn tay hợp lại, biết có Cảm
Xúc, đến khi bàn tay rời ra thì Cảm Xúc phải chạy
vào, và xương tủy cánh tay phải biết đường vào của
Cảm Xúc. Rồi hẳn phải có tâm hay biết, biết ra, biết
vào và phải có một vật gì đi lại trong thân, sao lại
phải chờ đến hai tay hợp lại mới gọi là Cảm Xúc?
Vậy, nên biết rằng:
Thọ Ấm hư vọng, vốn chẳng phải tính Nhân Duyên,
chẳng phải tính Tự Nhiên.
Thông rằng: Trong cái
Tạng Tánh không có các lãnh thọ. Khởi ra xúc tình
nơi Cảnh, đem Cảnh vào tâm thì gọi là Thọ. Cho nên
lấy hai tay xoa vào nhau thì hư vọng sanh ra trơn
rít, lạnh nóng... Lạnh nóng vốn không có, do tiếp
xúc mà có, nên gọi là huyễn xúc. Nếu Thọ Ấm do Nhân
Duyên hay Tự Nhiên mà sanh thì không thể gọi là hư
vọng. Nay Thọ chẳng phải từ hư không cũng chẳng phải
từ bàn tay, tức là chẳng phải Nhân Duyên. Phải chờ
hợp lại mới biết tức là chẳng phải Tự Nhiên. Chẳng
phải Nhân Duyên, chẳng phải Tự Nhiên, đương thể Tịch
Diệt. Vốn tự chẳng sanh thì không phải là Như Lai
Tạng Diệu Chân Như Tánh sao? Gọi là Nhiệm Mầu
(Diệu), vì Thọ mà thật chẳng Thọ.
Đức Thế Tôn nhân có
vị Phạm Chí Trường Trảo đến để nghị luận, và cam
đoan trước rằng:
- Nếu cái nghĩa của
tôi rớt, tôi sẽ tự chặt đầu.
Thế Tôn nói:
- Nghĩa của ông lấy
gì làm Tông?
Ông Phạm Chí đáp:
- Tôi lấy “Tất cả đều
chẳng lãnh thọ làm Tông."
Thế Tôn nói:
- Cái Thấy đó có thọ
không?
Vị Phạm Chí phất tay
áo bỏ đi. Đến giữa đường, ông bèn tỉnh ngộ mà bảo
với đệ tử rằng:
- Ta phải trở lại
dâng đầu cho Thế Tôn!
Các đệ tử nói:
- Trước đại chúng
trời, người, Ngài đã thắng cuộc, sao lại chém đầu?
Ông đáp:
- Ta thà ở trước
người Trí mà chém đầu còn hơn ở giữa người vô Trí mà
đắc
thắng. Rồi than rằng:
- Nghĩa của ta bị rớt
vào cả hai chỗ: Cái Thấy mà có thọ, là rơi vào phần
thô. Cái Thấy mà không thọ, là rơi vào phần tế. Tất
cả trời, người và hàng Nhị Thừa đều chẳng biết chỗ
rơi kẹt của cái nghĩa ta đưa ra. Chỉ có Thế Tôn và
các Đại Bồ Tát biết được cái nghĩa của ta bị rớt.
Bèn trở lại chỗ Thế
Tôn và thưa rằng:
- Nghĩa của tôi bị
rớt kẹt ở hai nơi, xin tự chặt đầu dâng Ngài.
Đức Thế Tôn dạy:
- Trong pháp của ta
không có việc như vậy. Ông nên hồi tâm mà hướng về
đạo.
Ông Phạm Chí bèn cùng
năm trăm đệ tử xuất gia theo Phật và chứng A La Hán.
Ôi, Thọ Ấm vi tế đến như vậy, đâu dễ gì phá!
C. THU
TƯỞNG ẤM
Kinh:
- A Nan, ví như có
người khi nghe nói đến trái mơ chua thì trong miệng
chảy nước miếng. Khi nghĩ đến đứng trên vực núi thì
lòng bàn chân thấy rợn rợn. Nên biết Tưởng Ấm lại
cũng như vậy.
A Nan, câu chuyện mơ
chua như thế chẳng từ trái mơ mà sanh ra, chẳng phải
do cái miệng mà vào. Thật vậy, A Nan, nếu do quả mơ
sanh ra thì trái mơ tự nói lấy, nào phải chờ đến
người nói? Nếu do cái miệng mà vào thì cái miệng tự
nghe lấy, cần gì đến lỗ tai! Nếu chỉ có lỗ tai nghe,
thì nước miếng kia sao không từ lỗ tai chảy ra!
Chuyện nghĩ đến đang đứng trên vực núi lại cũng như
vậy.
Vậy, nên biết rằng:
Tưởng Ấm là hư vọng, vốn chẳng phải tính Nhân Duyên,
chẳng phải tính Tự Nhiên.
Thông rằng: Tư tưởng
vốn không có thật tướng, do tâm mà thành có tướng,
nên gọi là Tưởng. Nghĩ tưởng đến trái mơ chua thì
chảy nước miếng. Nghĩ tưởng đến vực cao thì cảm thấy
lòng bàn chân rợn rợn. Trái mơ nào có miệng, chỉ có
nói đến thôi, thì nước miếng do đâu mà tới? Nên có
là do Tưởng vậy. Lại nữa, trong mộng mà nói đến trái
mơ chua, người nói chẳng phải là người thật, cái
Nghe lại chẳng phải lỗ tai, thì nước miếng do đâu mà
tới, đó là kết quả của Tưởng vậy. Nếu cái Tưởng này
là tánh Nhân Duyên thì chắc là không thể ngoài trái
mơ chua và miệng mà có. Nay việc nói chẳng phải là
từ quả mơ, việc nghe chẳng do miệng, lỗ tai lại
chẳng chảy nước miếng, mà trong miệng lại có nước
sanh ra, thì rõ ràng không phải là Nhân Duyên.
Nếu cái Tưởng này là
tánh Tự Nhiên, thì khi nói trái mơ chua lẽ ra lòng
bàn chân phải thấy rờn rợn, nói đứng trên vực thẳm
thì lẽ ra nước miếng chảy ra. Mà nay mỗi thứ đều tùy
theo chủng tử, tập khí, chẳng phải không lý do mà tự
nhiên có, nên rõ ràng là không phải Tự Nhiên.
Chẳng phải là Nhân
Duyên, chẳng phải là Tự Nhiên, ngay đang lúc Tưởng,
tức là Vô Tưởng, Như Như, một Tánh Nhiệm Mầu vậy.
Có một vị đạo sĩ hỏi
Tổ Vạn Tùng:
- Kẻ đệ tử này hơn ba
mươi năm trừ dẹp vọng tâm mà không xong! Tổ Tùng
nói:
- Tôi có bốn câu hỏi
đưa ra để tỏ cái Toàn Chân:
Câu hỏi thứ nhất:
Vọng tâm đã có từ lâu mau rồi?
Câu hỏi thứ hai: Xưa
nay vốn có Vọng Tâm không?
Câu hỏi thứ ba: Vọng
tâm làm sao mà
đoạn?
Câu hỏi thứ tư: Vọng
tâm đoạn là phải hay không đoạn là phải?
Vị tăng lạy tạ rồi
đi.
Ngài Hoàng Sơn Triệu
Văn Nhụ thân cận Viên Thông quốc sư, từng có bài
tụng:
Vọng tưởng
xưa nay vốn là Chân,
Khi trừ lại dấy một lớp trần.
Nói, suy, động, tĩnh nhờ gì đó?
Kỹ lưỡng mà xem, ai khác đâu.
Dịch:
Vọng Tưởng nguyên lai bổn tự Chơn,
Trừ thời hựu khởi nhất trùng trần.
Ngôn, tư, động, tĩnh thừa thùy lực,
Từ tế khán lai vô biệt nhơn.
Thuở Phật còn tại thế, có ba người anh em nghe ở
nước Tỳ Da Ly có người dâm nữ tên là Am La Bà Li.
Lại nghe ở nước Xá Vệ có người dâm nữ là Tu Mạn Na,
lại nghe ở thành Vương Xá có người dâm nữ tên là Ưu
Bát La Bàn Na. Tất cả đều tuyệt sắc. Ngày đ
êm
nhớ nghĩ, mới mộng thấy cùng các nàng đó ân ái. Đến
khi tỉnh dậy, nhớ lại mới nghĩ rằng:
- Người nữ chẳng tới,
ta cũng không đi, mà chuyện dâm đã thành đầy đủ.
Nhân đó mà tỏ ngộ tất
cả các pháp đều như thế cả, do đó đốn chứng Duy Tâm.
Ôi! Như ba người ấy
đáng gọi là tỏ suốt được sự hư vọng của Tưởng Ấm.
Đốn chứng Duy Tâm chẳng phải là
đã
thấy Tánh Diệu Chân Như sao?
D. THU
HÀNH ẤM
Kinh:
- A Nan, ví như dòng
nước chảy xiết, sóng mòi nối nhau, lớp trước lớp
sau, không vượt khỏi nhau. Nên biết Hành ấm lại cũng
như thế.
A Nan, Tánh Chảy như
vậy không nhân hư không mà sanh, không nhân nước mà
có, cũng không phải tánh nước, cũng không rời hư
không và nước. Thật vậy, A Nan, nếu nhân hư không mà
sanh, thì mười phương hư không vô tận thành ra dòng
nước chảy vô tận, thế thì thế giới đều bị chìm đắm
cả. Nếu nhân nước mà có, thì dòng chảy ấy bản tánh
lẽ ra không phải là nước nữa và hiện nay đã có thể
chỉ ra tướng của dòng chảy và tướng của nước khác
nhau. Nếu Tánh Chảy tức là Tánh Nước, thì khi nước
đứng lại, lẽ ra không phải là nước nữa. Nếu Tánh
Chảy rời hư không và nước mà có, thì không thể có
cái gì ở ngoài hư không cả, và ở ngoài nước không
thể có dòng nước.
Vậy nên biết rằng:
Hành Ấm hư vọng, vốn không phải Tánh Nhân Duyên,
không phải Tánh Tự Nhiên.
Thông rằng: Thức A Đà
Na vi tế, tập khí hiện hành như dòng nước chảy xiết,
tưởng chừng là
đứng
yên, gọi là Thức Thứ Tám. Gắn dính cái vọng động vào
Tánh trong lặng, niệm niệm đổi dời, biến đổi chẳng
hề ngừng nghỉ, gọi là Thức Thứ Bảy, đó là Hành Ấm.
Hành Ấm giống như dòng nước chảy xiết, theo Cảnh mà
đổi
dời. Nhưng cái dòng chảy đó, không phải từ Cảnh mà
sanh, không phải từ Tâm mà sanh, chẳng phải tức là
Tâm Cảnh, chẳng phải lìa ngoài Tâm Cảnh. Tất cả bởi
vì Thức Thứ Bảy ở trong dựa vào Thức Thứ Tám, ngoài
thì nương theo Thức Thứ Sáu, vốn không có tự tánh
khá được. Đã vô tự tánh, tức là hư vọng vậy.
Nói dòng nước chẳng
phải từ hư không sanh ra thì còn dễ hiểu, nhưng nói
“Dòng nước chẳng phải từ nước mà có” thì khó biện
ra. Cái Năng Hữu là nước, cái Sở Hữu là dòng nước
chảy. Cũng như cây sanh ra trái, thì trái chẳng phải
là cây, rõ ràng có thể chỉ ra là cây khác trái. Thế
mà dòng nước chảy và nước, hai tướng ấy không thể
riêng ra mà tự có, thì tức là dòng nước không phải
do nước mà riêng có, đã rõ ràng vậy. Dòng nước chảy
chẳng phải tức là hư không hay nước, nghĩa là không
phải Nhân Duyên. Chẳng lìa ngoài hư không và nước,
tức chẳng phải Tự Nhiên. Chẳng phải Nhân Duyên,
chẳng phải Tự Nhiên thì đương nhiên là hư vọng. Thấu
suốt được là hư vọng, hiện giờ vốn tự Vô Sanh, đó là
Tánh Diệu Chân Như.
Kinh Lăng Già nói:
- Có tướng thì sanh
chấp ngại, có tưởng thì sanh vọng tưởng. Sự trôi
chảy (lưu chú) sanh thì theo vọng mà trôi lăn. Nếu
đến được Vô Công Dụng Địa thì vẫn còn trong tướng
lưu chú. Cần phải vượt ra được cái sanh tướng lưu
chú thứ ba, mới là tự tại khoái hoạt.
Có vị tăng hỏi Tổ
Triệu Châu:
- Trẻ nhỏ sơ sanh có
đủ sáu Thức hay không?
Tổ Châu nói:
- Trên dòng nước
xiết, đánh cầu.
Vị tăng lại hỏi Tổ
Đầu Tử:
- Trên dòng nước xiết
đánh cầu, ý chỉ thế nào?
Tổ Đầu Tử đáp:
- Niệm niệm chẳng
dừng.
Ngài Tuyết Đậu tụng
rằng:
Sáu Thức
vô công, hỏi một câu,
Tác gia chung sức biện mối đầu.
Mênh mông chảy xiết: cầu vẫn đánh,
Chỗ ấy chẳng ngừng, ai biết xem?
Dịch:
Lục Thức vô công thân nhất vấn,
Tác gia tầng vọng biện lai đoan.
Mang mang cấp xuất đả cầu tử,
Lạc xứ bất đình thùy giải khán.
Đây là hoạt cú của Ngài Tuyết Đậu. Thử nói bài tụng
đến vào chỗ nào? Nếu nhìn thấy được mới tin nổi Hành
Ấm tức là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh.
E. THU THỨC ẤM
Kinh:
- A Nan, ví như có
người lấy bình tần gìa bịt cả hai lỗ, rồi vác cái
bình đầy hư không đi xa ngàn dặm đem cho nước khác.
Nên biết rằng Thức Ấm cũng lại như thế.
A Nan, cái hư không
ấy không phải đến từ phương kia, cũng không phải
nhập vào phương này. Thật vậy, A Nan, nếu đến từ
phương kia, thì trong cái bình đã đựng hư không đem
đi, ở phương kia lẽ ra phải thiếu một bình hư không!
Nếu đưa vào phương này thì khi mở miệng bình trút
ra, lẽ ra phải thấy hư không ra!
Vậy, nên biết rằng:
Thức Ấm hư vọng, vốn không phải tánh Nhân Duyên,
không phải tánh Tự Nhiên.
Thông rằng: Bộ Tông
Cảnh Lục nói “Nếu chấp là có Thức, theo thân mà qua
lại, nơi này Thức Ấm diệt, qua nơi kia Thức Ấm sanh
thì cũng giống như đem hư không của xứ này qua cho
xứ khác ở xa. Nếu ở nơi này Thức Ấm thật diệt mất,
thì chỗ này phải thiếu hư không. Nếu ở nơi kia Thức
Ấm lại sanh ra, thì khi mở nắp đổ bình, phải thấy hư
không chảy ra. Bởi thế nên biết rằng: hư không bất
động, Thức không "đến đi", Thức Ấm là hư vọng vậy.
Tổ Ôn Lăng nói:
- Cái Tánh Không Chơn
Giác cùng khắp pháp giới một khi đã mê thì là Thức,
Thức cũng như hư không ở trong bình. Trong ngoài đều
là một hư không: ví dụ cho Tánh và Thức vốn là một
Thể. Bịt cả hai đầu: ví dụ cho hư vọng phân ra là
Đồng, là Khác. Hư không không có sự "đến đi": ví dụ
cho Tánh không có sanh, không có diệt. Cái bình: ví
dụ cho cái nghiệp hư vọng. Hư không trong bình: ví
dụ cho Thức hư vọng. Nghiệp mang Thức đi, như cái
bình mang hư không. Đi qua nước khác: ví dụ cho sự
luân chuyển hư vọng trong sáu nẻo luân hồi.
Kinh Pháp Cú nói:
- Cái tinh thần ở
trong hình hài như con chim sẻ nhốt trong bình. Bình
vỡ thì chim bay mất.
Cái bình tần già này
cũng giống như hình hài, hai ý giống nhau.
Quan Đại Phu Lục
Tuyên hỏi Tổ Nam Tuyền:
- Người xưa có nuôi
trong bình một con chim, dần dần lớn lên, không ra
khỏi bình được. Nay nếu không được hủy bình, không
được làm hư hao chim, làm sao ra được?
Tổ Nam Tuyền kêu lớn:
- Đại Phu!
Ông Lục Tuyên ứng
tiếng dạ. Tổ Tuyền nói:
- Ra rồi vậy.
Ông Lục Tuyên do chỗ
đó mở tỏ, bèn lạy tạ.
Một hôm, lại hỏi Tổ
Nam Tuyền:
- Đệ tử theo Lục Hợp
mà
đến,
trong ấy lại còn có thân chăng?
Tổ Tuyền nói:
- Phân minh nhớ giữ,
cử động tựa chủ nhân.
Ông Lục Tuyên nói:
- Hòa Thượng thật
không thể nghĩ bàn, đến chỗ nào thế giới thành tựu
chỗ đó.
Tổ Tuyền nói:
- Thật ra, đều là
chuyện của phần ông đó!
Hòa Thượng Báo Ân
Minh hỏi hai vị thiền khách:
- Thủ Tòa vừa rời chỗ
nào?
Đáp:
- Kinh đô.
Tổ Minh nói:
- Thượng Tọa rời kinh
đô đến núi này, thì kinh đô thiếu Thượng Tọa mà núi
này dư Thượng Tọa! Dư tức là ngoài tâm có pháp;
thiếu thì tâm, pháp chẳng cùng khắp! Nói được lý đạo
thì nên ở, chẳng hiểu thì nên đi.
Hai vị này không đáp
được.
Như thiền sư Thiên Y
Hoài, chỗ thấy tự rành rẽ. Tổ Thiên Y đến ngọn núi
Sam, được mời vào chùa, thượng đường nói:
- Suốt hai mươi năm
mến mộ núi này, hôm nay mừng đã đến được, quả là
đầy
đủ nhân duyên. Sơn tăng chưa đến núi này mà thân đã
đến trước. Kịp tới khi đến đây, thì núi Sam đã ở
trong thân của sơn tăng”. Ở chỗ này mà mỗi mỗi đều
thấu triệt, mới tin Thức Ấm là hư vọng, vốn chẳng hề
có đến, có đi. Như bọt nước sanh ra, diệt mất, không
lìa ngoài biển cả. Bọt nước là biển cả, thì Thức lại
chẳng phải là Tánh Diệu Chân Như đó ư?