KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN X
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG
CHƯƠNG IV:
KHAI
THỊ CÁC ĐỊA VỊ TU CHỨNG
MỤC BA :
CHỈ DẠY TÊN KINH
PHẦN THỨ BA : PHẦN LƯU THÔNG
I.
ĐƯỢC PHƯỚC, TIÊU TỘI HƠN CẢ
Kinh : “Anan, ví như có người đem các thứ thất bảo
đầy dẫy hư không cùng khắp mười phương, dâng lên Chư
Phật như số vi trần, vâng thờ cúng dường, Tâm không
lúc nào xao lãng. Ý ông thế nào ? Người ấy do nhân
duyên cúng dường Phật như vậy được phước nhiều chăng
?”
Ông Anan đáp rằng : “Hư không vô tận, trân bảo vô
biên. Ngày xưa có chúng sanh cúng Phật bảy đồng tiền,
đến lúc bỏ thân rồi còn được địa vị Chuyển Luân
Vương, huống gì hiện tiền hư không cùng tột, cõi
Phật đầy khắp, đều là trân bảo, thì dù suy nghĩ cùng
kiếp còn chẳng thể thấy, phước ấy làm sao có bờ bến”.
Phật bảo Ông Anan : “Chư Phật Như Lai lời không hư
vọng. Nếu lại có người thân đủ các tội Tứ Trọng,
thập Ba La Di, giây lát phải trải qua địa ngục A Tỳ
phương này phương khác, cho đến cùng hết các địa
ngục Vô Gián mười phương, không đâu chẳng trải mà có
thể trong một niệm đem pháp môn này khai thị cho
người chưa học đời mạt pháp, thì tội chướng người ấy
trong niệm đó liền được tiêu diệt, biến cái nhân
phải chịu khổ địa ngục thành An Lạc Quốc, được phước
siêu vượt trăm lần, ngàn lần, vạn lần, ức lần hơn
người thí cúng trước, như thế cho đến toán số thí dụ
không thể nói hết được.
Thông rằng : Đầy dẫy thất bảo khắp cả hư không, thế
gian làm sao có chuyện ấy ư ? Lấy Phật Nhãn mà xem,
quậy sông dài làm thành tô lạc, biến đại địa thành
vàng ròng cũng là chuyện tầm thường vậy. Huống chi
Tánh Diệu Chân Như, thanh tịnh bổn nhiên toàn khắp
pháp giới, đó là gia bảo. Chứng Thanh Tịnh Pháp Thân
thì đến kho báu (bảo sở), kho báu đó há chẳng toàn
khắp hư không ư ? Bởi thế, dùng bảy báu : vàng, bạc,
trân châu, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách của thế
gian để cúng Phật còn được phước vô lượng huống là
“Nguyện đem toàn thể thân tâm này phụng sự cõi nước
nhiều như bụi, thế mới gọi là báo Phật Ân”, thì có
thể khiến cho người người đều đến kho báu. Cái của
báu xuất thế này phân biệt với đồ báu của thế gian,
nên đồ báu thế gian nào so sánh được. Không chỉ được
phước, mà còn tiêu tội. Phước thì có phước báo, tội
thì có tội báo. Phước, tội cả hai không đo lường
nhau được. Nên tuy được phước cõi trời, cũng chẳng
miễn khỏi cái khổ địa ngục. Tội thì không gì nặng
hơn tội ngũ nghịch : giết cha, hại mẹ, làm thân Phật
chảy máu, phá sự hòa hợp của Tăng Già, đốt thiêu
kinh tượng. Đây chỉ nêu ra bốn, vì cha mẹ xem như
một, còn Tam Bảo thì không thể thay đổi. Ở trước,
nói Tứ Khí là chỉ Sát, Đạo, Dâm, Vọng, lại nói Bát
Khí; ở đây nói mười tập nhân và sáu giao báo ở
trước. Tội nghiệp nặng thì địa ngục Vô Gián mười
phương, mỗi mỗi đều trải qua, khổ sở biết bao.
Chỉ một niệm hồi tâm, đem pháp bảo này chỉ bày cho
người chưa học, chuyển mê thành ngộ, chuyển phiền
não thành Bồ Đề thì tuy ở trong biển sanh tử mà tự
có cái vui Niết Bàn. Đây là tự gây tội thì tự sám
hối, tự gây nghiệp thì tự giải thoát, tuy Phật cũng
không thể giúp cho sức về chỗ đó. Không có tội, tức
là được phước. Không có khổ tức là hưởng an vui. Bởi
thế, đem pháp bảo mà chỉ bày cho người thì không
những tự mình khỏi tội mà còn khiến người người được
phước. Không chỉ tự mình được của báu mà còn khiến
người người đều được cái rất báu. Cái báu đầy ngập
thế gian, nào có nơi chốn. Há chỉ lấy cái phước do
cúng Phật bảy thứ báu mà so sánh được ư ?
Lời Phật chân thật, khỏi tội được phước, có vô lượng
công đức như thế rõ ràng tán thán kinh này, thanh
tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới, không cùng
không tận, tôn quý không gì so sánh nổi.
Có nhà sư hỏi thiền sư Đại Lãnh : “Sao là tất cả
chốn thanh tịnh ?”
Tổ Lãnh nói : “Bẻ cành cây quỳnh, tấc tấc là của
báu. Cắt cây chiên đàn, miếng miếng toàn là hương”.
Ngài Đơn Hà tụng rằng
“Khắp cùng trời đất thiệt xá lợi
Vạn hữu toàn bày tịnh diệu thân
Ngọc Nữ ngược trần không khéo vụng
Linh miêu hoa trổ chẳng hay xuân”.
Nếu vậy thì không còn các tướng địa ngục ư ? Cớ sao
Ông Điều Đạt(30) đang sống mà sa vào địa ngục ?
Điều Đạt báng Phật, nên đang sống mà sa vào địa
ngục.
Phật khiến Anan hỏi rằng : “Ông ở trong địa ngục yên
ổn chăng ?”
Ông Điều Đạt đáp : “Tôi tuy ở trong địa ngục mà vui
như trời Tam Thiền”.
Phật lại khiến Ông Anan hỏi : “Ông có cầu ra khỏi
không ?”
Ông Điều Đạt đáp : “Tôi chờ Thế Tôn đến thì ra khỏi
!”
Ông Anan nói : “Thế Tôn là Đại Sư ba cõi há có phận
vào địa ngục ư ?”
Ông Điều Đạt nói : “Tôi há có phận ra khỏi địa ngục
ư ?”
Tổ Thúy Nham Chân nói : “Lời thân quen xuất từ miệng
thân quen !”
Ông Điều Đạt là anh em chú bác với Đức Phật, là anh
ruột của Ông Anan, đã đắc thần thông, xô núi đè
Phật, khi ấy có thần Kim Cang hộ trì, nhưng cũng làm
Phật bị thương, ngón chân út bị thương chảy máu. Ông
muốn hại Phật để thu nhiếp hết đại chúng, mới đi nửa
đường, thân đang sống mà sa vào địa ngục. Nhưng Ông
Điều Đạt từ khi làm Lộc Vương đã cùng tu hành với
Phật, nay tình bà con ruột thịt thì lại có sự biến
đổi này. Cũng là tâm mê quá nặng, chưa dễ quay đầu,
cần phải thiêu sạch nơi lửa nghiệp địa ngục mới có
thể phát ngộ.
Phật thọ ký cho Ông Điều Đạt sau nhiều kiếp cũng sẽ
thành Phật. Ngay trong địa ngục mà không thấy có
chuyện ra vào thì làm sao biết biến địa ngục thành
cõi an lạc ư ?”
II. TRỪ MA HƠN CẢ
Kinh : “Anan, nếu có chúng sanh tụng được kinh này,
trì được chú này như Ta nói rộng ra thì cùng kiếp
chẳng hết. Y theo lời dạy của Ta, như lời dạy mà
hành đạo, thẳng vào Bồ Đề, không còn ma nghiệp.
Thông rằng : Một niệm chuyển hóa bèn tiêu tội
nghiệp, phước đức vô lượng. Nếu thường tụng được
kinh này, thường trì chú này phước đức cùng kiếp
chẳng hết. Như y theo giáo pháp mà hành đạo ắt thành
Chánh Giác, không còn nghiệp ma. Kinh này, chú này
phát huy tánh Diệu Giác đến sáng rõ hoàn bị, chỗ đề
phòng Ấm Ma chu đáo, Ma không thể mê hoặc mà đạo
Giác thành tựu vậy.
Nếu trì chú, tụng kinh mà không rõ ở trong Tự Tánh
thì lại bị Ma trói buộc.
Nhà sư hỏi Tổ Bách Trượng : ““Y kinh giải nghĩa, tam
thế Phật oan. Lìa kinh một chữ, liền đồng Ma
thuyết”. Thì thế nào ?”
Tổ Trượng nói : “Do giữ động niệm, tam thế Phật oan.
Ngoài đây riêng cầu liền đồng Ma thuyết”.
Sau này, nhà sư hỏi Tổ Đồng An : ““Y kinh giải
nghĩa, tam thế Phật oan. Lìa kinh một chữ, liền đồng
Ma thuyết”. Lý ấy thế nào ?”
Tổ An nói : “Cô phong (đỉnh cô) ngút mắt, chẳng
khoác ráng, sương. Vầng nguyệt giữa trời, bạch vân
tự khác”.
Ngài Đơn Hà tụng rằng :
“Mây tự cao bay, nước tự xuôi
Mênh mông trời nước lắc thuyền không
Đêm khuya chẳng hướng bờ lau đậu
Khỏi hẳn trung gian với hai đầu”.
Chỗ này nơi nghĩa kinh, chẳng tức, chẳng lìa, tự có
chỗ xuất đầu. Nếu ngộ chỗ này thì Ma không thể mê
hoặc.
Thiền sư Thọ Châu Đạo Thụ dưới lời của Ngài Thần Tú
biết được chỗ vi diệu, bèn cất am cỏ ở Thọ Châu Tam
Phong. Thường có con dã nhân, mặc đồ trắng đơn giản,
nói năng kỳ dị, ngoài chuyện cười nói còn hóa ra
hình Phật, cho đến các hình Bồ Tát, La Hán, Trời,
Tiên... hoặc phóng hào quang, hoặc phát lộ âm thanh
tiếng dội. Hàng học trò thấy vậy đều không thể đo
lường được. Như vậy trải qua mười năm, sau lặng mất,
không còn hình ảnh.
Sư nói với đại chúng : “Dã nhân làm lắm màu mè mê
hoặc người tu. Chỉ phải lão tăng không thấy, không
nghe. Màu mè của y thì có chỗ cùng mà cái không
thấy, không nghe của ta thì vô tận”.
Nếu hiểu cái ý chỉ “Chẳng thấy, chẳng nghe vô tận”
này thì thẳng vào Bồ Đề không hề thiếu hụt, Ấm Ma
tiêu ráo, Thiên Ma nào để phải lo !
III. LƯU THÔNG CHUNG
Kinh : Phật nói kinh này xong, hàng Tỳ Khưu, Tỳ Khưu
Ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, tất cả thế gian Trời,
Người, A Tu La cùng các vị Bồ Tát, Nhị Thừa, Thánh
Tiên, Đồng Tử ở phương khác và các Đại Lực Quỉ Thần
mới phát tâm thảy đều hoan hỷ, làm lễ mà lui.
Thông rằng : : Phật nói kinh này là pháp môn Tối
Thượng Viên Đốn. Phật dùng một âm diễn pháp, tùy mỗi
loại đều riêng hiểu, nên tùy chỗ chứng lượng đều
được cái vui của pháp, hớn hở mà đi. Vì sao thế ?
Tánh là cái vốn có, ai ai đều sẵn đủ.
Cho nên, Tổ Triệu Châu khai thị đại chúng rằng: “Xem
kinh cũng ở trong sanh tử, chẳng xem kinh cũng ở
trong sanh tử. Vậy các ông làm sao ra cho khỏi ?”
Một nhà sư bèn hỏi : “Vậy như trọn chẳng lưu lại thì
sao ?”
Tổ Châu nói : “Thật vậy thì được, còn chẳng thật vậy
làm sao ra khỏi sanh tử”.
Ngài Thiên Đồng tụng rằng :
“Xem kinh cũng ở trong sanh tử
Ngồi trong rá cơm không biết ăn
Không xem kinh cũng trong sanh tử
Ngập đời áo ấm không ai mặc
Bỗng nhiên chim khách kêu một tiếng
Quay thân nhảy nhót khắp nhà vui
Thôi suy nghĩ !
Như nay vất ra trước mọi người
Đại Bi ngàn tay không giở nổi !”.
Vị Tọa Chủ Tây Xuyên đến Ngài Hoa Nghiêm hỏi rằng :
“Tổ Ý, Giáo Ý là đồng hay khác ?”
Ngài Hoa Nghiêm nói : “Như hai bánh của xe, như hai
cánh của chim”.
Tòa Chủ nói : “Ngỡ rằng Thiền Môn riêng có chỗ kỳ
đặc, té ra chẳng ra ngoài giáo ý !”
Sau này, nghe Tổ Giáp Sơn giáo hóa thịnh hành, lại
bảo đệ tử sang hỏi câu trên.
Tổ Sơn nói : “Chạm cát không đủ bàn chạm ngọc, đền
ơn trái với ý đạo nhân !”
Đệ tử về kể lại với Tòa Chủ, vị này khen ngợi, hướng
về phía Tổ Sơn làm lễ mà nói : “Ngỡ rằng Thiền Môn
và giáo ý chẳng khác, té ra có chuyện kỳ đặc”.
Há chẳng nghe có nhà sư hỏi Tổ Mục Châu : “Tổ Ý,
Giáo Ý là đồng hay khác ?”
Tổ Châu nói : “Núi xanh tự núi xanh, mây trắng tự
mây trắng”.
Ngài Thiên Đồng nêu rằng : “Nếu hướng về trong ấy
biết được Mục Châu thì Thích Ca ra đời, Đạt Ma Tây
sang đều là tay không biết thủ phận ! Lại biết được
chăng ? Tay dài, ống áo ngắn; chân gầy, giày cỏ dư
(rộng) !”
Có nhà sư hỏi Tổ Lạc Phố : “Tổ Ý, Giáo Ý là đồng hay
khác ?”
Tổ Phố nói :
“Trời, trăng cùng xoay sáng
Ai nói có riêng đường”.
Nhà sư hỏi : “Như vậy thì sáng tối khác đường, phải
quấy một lối ?”
Tổ Phố nói : “Chỉ tự chẳng quên dê, nào phải là
đường rẽ !”
Ngài Đơn Hà tụng rằng :
“Trăng rọi bóng tùng, cây cao thấp
Nhật chiếu lòng ao, trời dưới trên
Rực rỡ đương không, chẳng chánh Ngọ
Đêm thu vành vạnh, biết chi tròn”.
Hiểu chỗ này thì chỗ mặt trời, mặt trăng chẳng đến,
riêng có một Càn Khôn ! Đâu phải hạng bo bo Tông
Giáo làm kế sanh nhai có thể nghĩ lường sao !
-------------
30 Tức Đề Bà Đạt Đa.