KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN I
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG
CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN
TÂM
MỤC
HAI: CHỈ RÕ TÁNH THẤY
I. CẦU ĐI ĐẾN CHỖ CHÂN THẬT
Kinh:
Bấy giờ, Ông A Nan ở
trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch
vai áo phải, đầu gối phải chấm đất, chắp tay cung
kính mà bạch Phật rằng:
- Tôi là em nhỏ nhất
của Như Lai, nhờ Phật thương yêu, nay tuy đã xuất
gia, còn ỷ lại nơi lòng thương của Phật. Vì thế, học
rộng nghe nhiều mà chưa được quả Vô Lậu, không chiết
phục nổi chú Ta Tỳ La, theo chỗ nó chuyển mà chìm
nơi nhà dâm. Nguyên do vì không biết đường đến nơi
Chân Tế (Phật Tánh Tự Tâm). Cầu xin Thế Tôn Đại Từ
thương xót, chỉ bày cho chúng tôi con đường Chánh
Định, cũng khiến cho những kẻ không tin trừ bỏ ác
kiến.
Thưa như vậy xong,
rạp cả mình xuống đất, cùng tất cả đại chúng hết
lòng mong nghe lời Phật dạy.
Thông rằng: Xét chỗ
thấy của A Nan lúc ấy dường chưa thể đ
è
bẹp thức tình để đến chỗ trong lặng không dao động,
chỉ vì chưa được Vô Lậu. Mới đầu thì cho cái tâm
Giác Liễu Năng Tri là có vật, nên mới nói: Ở trong,
ở ngoài, ở nơi Căn. Đến khi đã biết là chẳng phải
vật, nhưng còn cho là có Thức, nên mới nói: Tùy chỗ
Hiệp mà co', Thức sanh ở chặng giữa. Đến lúc cái
Tri, cái Thức đều tiêu hết, rồi mới tin là Chẳng Có
Dính Bám (Vô Trước). Nhưng đã có cái ý Không Dính
Bám thì cũng đã Dính Bám rồi vậy. Nhưng tất cả không
có dính bám mới chỉ đoạn trừ được cái Thức Thứ Bảy,
chứ chưa đến cái địa vị lặng lẻ. Mà dù có đến được
địa vị lặng lẻ, thì vẫn còn ngồi trong hang ổ của
Thức Thứ Tám, chỗ ngoại đạo gọi là Minh Đế.
Nếu con đường tu Định
chỉ là phương tiện bờ mé của việc chuyển Thức thành
Trí, mà Thánh giải còn tuyệt chẳng dung chú niệm,
huống gì là lại bám lấy phàm tình để bị kéo lôi? Cho
nên, tình phàm ý Thánh đều hết, thì Chân Thường hiển
lộ, mới gọi là Chân Tế. Thấu suốt Chân Tế mới không
bị dâm thuật chuyển đảo. Chẳng phải chỉ tự mình hiểu
biết hẳn hoi đầy đủ chỗ Tịch Tịnh mà còn giúp cho
hết thảy phàm phu chưa đủ lòng tin phá trừ được ác
kiến vậy.
Ngài Đoan Sư Tử đọc
Lăng Nghiêm có bài tụng:
Bảy chỗ
bày Tâm, tâm chẳng thỏa,
Ngơ ngác A Nan không liếc tới.
Hiện mà bày được, thấy vô tâm,
Ấy chính trong bùn rửa đất cục.
Có thể nói là bực có con mắt đầy đủ.
|
II.
PHÓNG QUANG NÊU RA TÁNH THẤY VIÊN MÃN SÁNG
SUỐT |
Kinh:
- Bấy giờ từ mặt Đức
Thế Tôn phóng ra các thứ hào quang, ánh sáng rực rỡ
như trăm nghìn mặt trời. Khắp các thế giới của chư
Phật, sáu thứ chấn động. Các cõi nước nhiều như vi
trần của mười phương hiện ra trong một lúc. Oai thần
của Phật khiến các thế giới hợp lại thành một thế
giới. Trong thế giới này, tất cả các vị Bồ Tát hiện
có đều an trụ ở nước mình chấp tay nghe lời Phật
dạy.
Thông rằng: Phóng
quang động địa, xưa cho là cảnh giới không thể nghĩ
bàn, nhưng cũng có thể hiểu được. Các đạo gia, tinh
thần đầy đủ, vững chắc, thì trong đ
êm
tối, mắt vẫn có sáng tỏ mà không vật gì chẳng thấy.
Huống hồ Đức Thế Tôn nhiều kiếp thành tựu, thì hào
quang chẳng có chói lọi rực rỡ sao? Hạng cầu đảo vận
động nguyên khí có thể kêu mây mưa xuống, huống là
Pháp Thân thanh tịnh của Thế Tôn không bờ không bến
thì khắp các thế giới của chư Phật chẳng chấn động
sao? Thế Tôn dựng cây cờ Pháp lớn, tất trước tiên
phải có chỗ tỏ bày. Chỗ nói là: Khiến tất cả các thế
giới hợp lại thành một cõi, là
đã
ẩn cái ý: Hội Vọng Quy Chơn, vậy. Nếu là hạng thượng
căn lợi trí thì thấy ánh sáng như thế, nhìn sự việc
như thế, liền được Bổn Tâm, chứng Vô Sanh Nhẫn.
Thiền sư Viên Chiếu
lên tòa giảng, nói rằng:
- Hãy xem! Ánh sáng
tốt lành rực rỡ, chiếu sáng cả Đại Thiên thế giới.
Trăm ức vi trần cõi nước, trăm ức đại hải, trăm ức
núi Tu Di, trăm ức mặt trời, mặt trăng, trăm ức bốn
Châu thiên hạ, cho đến cõi Phật vi trần đều ở trong
ánh sáng phát hiện ra cùng một lúc. Các nhân giả! Có
thấy chăng? Nếu thấy được, thì chính các ông đang tự
thân ở trong ánh sáng tốt lành ấy. Không thấy được,
đừng nói là ánh sáng tốt lành chẳng có chiếu soi.
Hãy tham!
Ai ai cũng đều có ánh
sáng này. Vì sao Tổ Viên Chiếu thấy còn mọi người
chẳng thấy? Đó là ngộ với chẳng ngộ vậy. Pháp Tánh
vốn khắp cả, vọng trần chẳng ngăn cách được. Cái Trí
Cảnh vốn tròn đầy, thức tình nào ngăn ngại được. Nếu
ngộ Tự Tâm, bèn biết hết thảy, đấy đều là việc trong
nhà.
Kinh: Phật bảo Ông A Nan:
- Hết thảy chúng sanh
từ vô thủy đến nay, đủ thứ điên đảo, mầm giống
Nghiệp tự nhóm lại như chùm quả ác xoa. Những người
tu hành không thành được Bồ Đề Vô Thượng, đến nỗi
riêng thành Thanh Văn, Duyên Giác hoặc thành ngoại
đạo, Chư Thiên, Ma Vương, hay bà con quyến thuộc của
Ma. Tất cả đều do không biết hai loại căn bản, lầm
lộn tu tập, cũng như nấu cát mà muốn thành món ngon,
dầu trải qua số kiếp nhiều như bụi, rốt cũng chẳng
được.
Thế nào là hai loại
căn bản? A Nan, một là, Cội Gốc (Căn Bản) của Sanh
Tử vô thủy. Tức là ông hiện giờ và các chúng sanh
dùng cái tâm Bám Níu Theo Duyên (Tâm Phan Duyên) mà
làm Tự Tánh. Hai là, cái Thể bản lai thanh tịnh Bồ
Đề Niết Bàn vô thủy.
Tức là cái Chân Tâm
vốn sáng soi của ông hiện giờ, hay sanh các duyên
nhưng ông lại duyên theo các tướng duyên đó mà bỏ
quên nó. Vì các chúng sanh bỏ quên cái Vốn Tự Sáng
này nên tuy trọn ngày sử dụng nó mà chẳng tự biết,
uổng oan lạc vào sáu nẻo.
Thông rằng: Bảy chỗ
bày cái tâm, đều là chẳng phải, vì dùng Tâm Phan
Duyên làm tự tánh.
Ông A Nan cũng biết
cái tâm này chưa được Vô Lậu, không chiết phục nổi
chú Ta Tỳ La, mà còn bị nó chuyển.Ông nói: Nguyên do
là vì không biết chỗ vào Chân Tế, là cũng đã lờ mờ
trộm thấy cái Thể trong sạch của Bồ Đề Niết Bàn
(Niết Bàn là Tịch Diệt), nên xin Phật chỉ bày. Do
đó, Thế Tôn phân tích rõ ràng mà dạy cho.
Trước, Phật đã dạy:
Dùng các vọng tưởng, các tưởng này chẳng chân thật,
nên mới bị luân chuyển. Điều đó, ở đây Ngài dạy:
Dùng Tâm Phan Duyên mà làm Tự Tánh, đó là cái gốc rễ
của sanh tử từ vô thủy đến nay vậy.
Trước, Phật dạy: Đều
chẳng biết cái Chơn Tâm chẳng sanh chẳng diệt, tánh
nó chẳng ô nhiễm, thể nó vốn sáng suốt. Tức ở đây
là: Bồ Đề Niết Bàn, vốn thể nó trong sạch, đó là gốc
rễ chẳng sanh chẳng diệt xưa nay vậy.
Xoay chuyển nơi sống
chết: Hoặc, Nghiệp, Khổ ba thứ này sanh ra, đồng
nhau tụ hợp giống như chùm trái ác xoa. Không những
Thiên Ma, ngoại đạo chắc chắn ở trong luân hồi, mà
ngay cả Thanh Văn Duyên Giác tu tập lầm lộn, đều gọi
là
điên
đảo.
Tại sao thế? Vì lấy
Sanh Diệt làm Nhân Địa tu hành vậy. Mà cái Nguyên
Minh vốn sáng soi, sinh ra các duyên thì vốn tự
chẳng sanh chẳng diệt, chỉ vì duyên theo cái Sở mà
bỏ quên nó.
Như đoạn sau, Kinh
nói rằng:
- Tánh Nguyên Minh ấy
chiếu mà sanh ra cái Sở. Cái Sở đã riêng lập thì
Tánh Chiếu Soi bị bỏ quên, thì ý chỉ cũng giống đoạn
này. Đấy tức là nguyên do sanh ra các vọng tưởng, mà
đã
lạc vào vọng tưởng, bèn mất đi Bản Tánh. Quên mất
cái "Nguồn Gốc Sáng Suốt" này, nên rơi vào các nẻo,
mà không thành Bồ Đề Vô Thượng.
Có vị khách làm
Thượng Thơ ra mắt Tổ Trường Sa. Tổ Sa gọi:
- Thượng Thơ!
Vị này lên tiếng dạ.
Tổ Sa nói:
- Đã chẳng phải là
bổn mạng Thượng Thơ đó sao?
Thượng Thơ rằng:
- Chẳng thể lìa bỏ.
Nhưng nay vừa đối diện, lại riêng có chủ nhân thứ
hai rồi. Tổ Sa nói:
- Gọi Thượng Thơ là
Chí Tôn được không?
Nói rằng: Như thế,
suốt cả khi không đối, đã không phải là chủ nhân của
đệ tử sao? Tổ Sa nói:
- Chẳng phải chỉ khi
đối hay không đối, mà từ đời vô thủy đến nay, đó là
cái "Căn Bản sanh tử" của ông vậy. Lại tụng rằng:
Cái người
học đạo chẳng biết Chân,
Chỉ bởi xưa nay nhận Thức Thần.
Gốc rễ tử sanh, từ vô thủy,
Kẻ si lại gọi Bổn Lai Nhơn.
Dịch:
Học đạo chi nhơn bất thức Chơn,
Chỉ vị tùng lai nhân Thức Thần.
Vô thủy kiếp lai sanh tử bổn,
Si nhơn hoán tác Bổn Lai Nhơn.
Như vậy thì chủ nhơn xưa nay, do đâu mà biết?
Phẩm Xuất Hiện của
Kinh Tạp Hoa nói:
- Phật tử, không có
chúng sanh nào mà không vốn đủ Trí Huệ Như Lai, chỉ
vì bám giữ lấy vọng tưởng điên đảo mà chẳng chứng
được. Nếu lìa vọng tưởng, thì Nhất Thiết Trí, Tự
Nhiên Trí, Vô Ngại Trí, tự hiển bày trước mắt.
Ngài Thiên Đồng tụng:
Trời che
đất chở, nên khối, thành hòn,
Khắp pháp giới nhưng không bờ mé.
Chẻ lân hư mà không ở trong,
Nuốt trọn huyền vi,
Nào phân sau, trước.
Phật, Tổ đến đây trả nghiệp miệng,
Hỏi lấy Nam Tuyền, Vương Lão Sư,
Người người ăn chỉ rau, một cọng.
Đã là chuyện ai ai cũng có, sao chẳng thể cùng chứng
Bồ Đề mà
đến
nỗi riêng thành Thanh Văn, Duyên Giác?
Kinh Viên Giác nói:
- Tất cả chúng sanh
vọng thấy có lưu chuyển. Chán ghét lưu chuyển, lại
vọng thấy có Niết Bàn. Do vậy mà chẳng nhập vào cái
Giác vốn trong sạch. Chẳng phải Giác cản chống lại
người nhập. Vì, chỉ có người nhập, chẳng phải cái
Giác có sự nhập.
Nhưng, biết chọn giữ
lấy cái Căn Bản Không Sanh Không Diệt, ngoài sự đại
triệt ngộ, thì không thể.
|
IV.
NƯƠNG CÁI THẤY, GẠN HỎI CÁI TÂM |
Kinh:
- A Nan, nay ông muốn
biết đường tu Xa Ma Tha, nguyện ra khỏi sống chết,
thì Ta lại hỏi ông. Liền đó, Như Lai đưa cánh tay
kim sắc lên, co năm ngón lại, bảo ông A Nan:
- Ông có thấy không?
Ông A Nan đáp:
- Có thấy. Phật bảo:
Ông thấy cái gì?
A Nan trả lời:
- Tôi thấy Như Lai
đưa tay lên, co ngón thành nắm tay sáng ngời, sáng
chói tâm và mắt của tôi.
Phật hỏi:
- Ông lấy cái gì mà
thấy?
A Nan trả lời:
- Tôi và
đại
chúng đều lấy con mắt mà thấy.
Phật bảo Ông:
- Nay ông trả lời:
Như Lai co ngón tay làm thành nắm tay sáng ngời,
chói tâm và con mắt của ông. Con mắt ông thì thấy,
còn ông lấy cái gì làm tâm đối với nắm tay chói sáng
của Ta?
Ông A Nan thưa:
- Nay Như Lai gạn hỏi
tâm ở chỗ nào, mà tôi thì lấy tâm suy nghĩ xét tìm.
Tức là Cái Năng Biết Suy Nghĩ đó, tôi lấy nó làm
tâm.
Phật bảo:
- Ôi, ! Cái đó chẳng
phải là Tâm ông đâu.
Ông A Nan hoảng hốt
rời chỗ ngồi, đứng dậy chắp tay mà thưa rằng:
- Cái ấy không phải
là tâm tôi thì gọi là cái gì? Phật bảo Ông:
- Đó là cái Tưởng tạo
nên các tướng hư vọng của tiền trần, nó làm mê lầm
Chân Tánh của ông. Do từ vô thủy cho đến nay, ông
nhận tên giặc đó làm con, mất đi cái Vốn Là Thường
Hằng (Nguyên Thường) của ông nên phải chịu luân hồi.
Thông rằng: Đây là
lần dẫn dụ từng bước lần thứ hai của Thế Tôn. Ngài
hỏi "Ông nay có thấy không?" A Nan đáp: Thấy. Chỉ ở
chỗ này mà
đột
nhiên tỉnh ngộ, bèn thấy Bản Tánh Nguyên Minh, chẳng
cho phép luận bàn, chẳng đợi chỗ xếp đặt. Bồ Đề Niết
Bàn vốn tự đầy đủ, vừa mống khởi phân biệt đã lọt
vào tỷ lượng, bị buộc vào sự sai sử của Lục Thức,
chìm sâu vào trí thức, bỏ mất Chân Tánh xa lắm vậy.
Cho nên Phật mới quở
rằng: Cái đó chẳng phải là tâm của ông. Nếu trong
khi bị quở, rỗng rang mà tự mất bặt, bỗng nhiên hồi
quang, thì ngay liền đó là Bổn Giác tự tại. Chứ sao
lại nói: Rời cái Hay Biết (Giác Tri) đó, thì hoàn
toàn không có gì? Cái giác tri đó, đối đãi với Trần
Tướng trước mắt mà có phân biệt, trần mất thì không
có nữa, nên gọi là: Cái Tưởng hư vọng bám chấp lấy
tướng.
Còn cái Bổn Giác thì
chẳng nương theo Trần mà sanh diệt theo, nên mới gọi
là Chân Tánh. Nhưng Chân Tánh chỉ có một mà thôi. Vì
cái giác tri này che đậy cái Bổn Giác trước mắt, nên
cái giác tri ấy thật là tên giặc của Bổn Giác. Nếu
nhận cái giác tri đó làm Tự Tâm, tức là nhận giặc
cướp làm con, bỏ cái chẳng sanh diệt mà ôm lấy cái
sanh diệt, thì sự luân chuyển còn nghi ngờ gì. Tuy
nhiên, lìa cái giác tri hay biết này mà tìm riêng
cái Bổn Giác ở nơi khác, lại không thể được.
Ngài Thiên Đồng nêu
sơ lược rằng:
- Nếu cái Hay Suy
Nghĩ Đó là tâm của ông, tức là nhận giặc làm con!
Ngài Tu Sơn Chủ nói:
- Nếu cái Hay Suy
Nghĩ Đó chẳng phải là tâm của ông, tức là nhận giặc
làm con!
Ngài Thiên Đồng đưa
ra rằng:
- Như giờ hãy xét là
con, là giặc: mua nón vừa đầu, ăn cá bỏ xương.
Bèn như Thiên Đồng,
lại chọn lựa không? Đức Lục Tổ dạy:
- Phàm phu tức là
Phật, phiền não tức là Bồ Đề. Niệm trước mê là phàm
phu, niệm sau ngộ là Phật. Niệm trước bám cảnh là
phiền não, niệm sau lìa cảnh, tức là Bồ Đề. Điều này
cũng như nói lật sấp lật ngữa cũng là bàn tay vậy.
Ngài Vĩnh Gia nói:
- Thật tánh của Vô
Minh tức là Phật Tánh. Huyễn hóa không thân tức Pháp
Thân. Quả là tỏ suốt cái cửa Bất Nhị vậy.
Kinh:
Ông bạch Phật:
- Thưa Thế Tôn, tôi
là em yêu của Phật, vì lòng mến mộ Phật nên tôi xuất
gia. Tâm tôi nào phải chỉ cúng dường Như Lai, mà còn
khắp trải hằng sa quốc độ, thừa sự Chư Phật và các
thiện trí thức. Phát đại dũng mãnh làm tất cả những
pháp sự khó làm, đều dùng cái tâm này. Dầu cho hủy
báng Chánh Pháp, đời đời lui sụt căn lành, cũng bởi
cái tâm này.
- Nay Phật phát minh
cái này chẳng phải là tâm, tôi bèn không có tâm,
giống như gỗ đá. Lìa cái giác tri này, rốt chẳng còn
gì nữa. Tại sao Như Lai nói cái ấy không phải là
tâm? Tôi thật kinh sợ. Cùng với đại chúng đây,không
ai là không nghi hoặc. Xin Phật rủ lòng từ bi, chỉ
bày cho người chưa ngộ.
Thông rằng: Ông tình
thức và sở kiến khô kiệt, mới nói là Không Có Tâm,
giống như gỗ đá. Chỗ này chính là nên thừa thọ đảm
đương, thì đỡ được biết bao tâm lực. Sá gì một cái
giác tri mà cứ ôm giữ lấy, sao chẳng chịu bỏ quách.
Xưa, thầy Đại Lãng,
mới đầu đến tham vấn Đức Mã Tổ.
Ngài hỏi:
- Đến đây cầu gì?
Đáp:
- Cầu Tri Kiến Phật.
Tổ nói rằng:
- Phật không có tri
kiến, tri kiến là Ma. Ông từ đâu tới?
Bạch rằng:
- Từ Nam Nhạc đến.
Tổ nói rằng:
- Ông từ Nam Nhạc
đến, mà chưa biết tâm yếu của Tào Khê. Ông mau trở
về đó, chẳng nên đi nơi khác.
Thầy Lãng trở về Tổ
Thạch Đầu, bạch hỏi:
- Thế nào là Phật?
Tổ Thạch Đầu nói
rằng:
- Ngươi không có Phật
Tánh.
Thầy Lãng nói rằng:
- Các loài cựa quậy,
bay nhảy lại ra làm sao?
Tổ Đầu nói:
- Các loài cựa quậy,
bay nhảy đều có Phật Tánh.
Bạch rằng:
- Huệ Lãng này vì sao
không có?
Tổ Đầu nói:
- Vì ông không chịu
nhận lãnh.
Thầy Huệ Lãng nghe
xong, tin nhập.
Về sau, hễ có người
học đạo đi đến, đều nói rằng:
Đi đi! Ngươi không có
Phật Tánh.
Sự tiếp cơ dạy dỗ đại
khái như thế. Há đâu phải lìa cái giác tri là không
có gì nữa sao?
Kinh:
- Khi ấy, Thế Tôn
khai thị cho Ông A Nan và
đại
chúng, muốn cho được Vôâ Sanh Pháp Nhẫn. Nơi tòa sư
tử xoa đầu Ông A Nan mà nói: Các pháp sanh ra đều
duy tâm hiện. Tất cả nhân quả, thế giới, vi trần đều
do tâm mà thành thể. A Nan, như trong các thế giới,
hết thảy sự vật hiện có, cả đến ngọn cỏ, lá cây, sợi
dây, thắt nút....tìm hỏi nguồn gốc thì đều có thể
tánh. Ngay cả hư không còn có tên, có tướng, huống
là cái Chân Tâm sáng suốt, trong sạch, nhiệm mầu,
tánh của hết thảy tâm mà lại không có tự thể sao?
Nếu ông quyết chấp
cái phân biệt giác quan, hiểu biết là Tâm thì cái
tâm ấy phải rời hành tướng của các trần: Sắc, Hương,
Vị, Xúc, Pháp... riêng có Toàn Tính. Chứ như hiện
nay, ông vâng nghe pháp âm của Ta, đó là nhân cái
Tiếng mà có phân biệt: dầu cho có diệt hết tất cả
cái Thấy, Nghe, Hay, Biết, bên trong giữ lấy trống
rỗng u nhàn, thì đó cũng còn là sự phân biệt bóng
dáng pháp trần mà thôi.
Ta không bảo ông chấp
cái ấy không phải là tâm, nhưng ông phải chính nơi
tâm ông, suy xét chín chắn. Nếu rời tiền trần mà có
tánh phân biệt, thì đó mới là Chân Tâm của ông. Còn
nếu cái tánh phân biệt mà lìa tiền trần không có tự
thể, thì nó chỉ là sự phân biệt bóng dáng tiền trần.
Tiền trần không thường trụ, vậy khi chúng biến diệt,
thì cái tâm nương vào tiền trần ấy cũng đồng như
lông rùa sừng thỏ, ắt Pháp Thân của ông cũng đồng
với đoạn diệt. Còn gì để chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn?
Thông rằng: Chỗ các
pháp sanh ra, là
độc
chỉ do tâm biến hiện, như bóng hình trùng trùng đều
độc chỉ trong cái gương hiện bày ra. Sáu trần như
hình, cái phân biệt (Thức Tâm) như bóng. Bóng nhờ
hình mà có, tâm thức nhờ cái trần mà có. Cái này đây
ắt là sự phân biệt bóng dáng tiền trần. Dao động
thuộc về tiền trần, yên tịnh thuộc về pháp trần. Cho
nên, ở trong giữ cái trống rỗng u nhàn thì tuy không
có bóng dáng tiền trần nhưng vẫn còn cái bóng dáng
trống rỗng u nhàn, đó còn là sự phân biệt bóng dáng
của pháp trần.
Cái chấp ấy là cái
Thức, mà chẳng phải là cái Bổn Giác Chân Tâm Thường
Trụ. Chân Tâm Thường Trụ lìa khỏi tất cả phân biệt,
như cái gương lớn tròn sáng lìa khỏi cả hai thứ Động
(sáu Trần) và Tĩnh (Thức). Cái Tâm này vốn tự không
nhiễm, nên nói là Tịnh, nhiễm mà chẳng nhiễm, nên
nói là Diệu Tịnh. Tất cả nhân quả, thế giới nhiều
như vi trần, nhân nó mà lập thành, nó cũng là cái
Bổn Tánh của vọng tâm tạo thành chín Cõi. Nên nói là
cái Tánh của cả thảy Tâm. Nếu thấy Tâm này, thì lìa
phân biệt mà an trụ Tự Tánh, đó là cái Tự Tánh không
tùy theo phân biệt mà hoặc có hoặc không. Sắc lìa
Thức phân biệt như trần lìa bóng, liền là Bản Thể
của gương, Thể của gương không theo bóng của trần mà
sanh mà diệt. Nếu chấp cái Giác Tri Phân Biệt làm Tự
Tánh, tức là chấp bóng làm gương vậy. Cái Hay Biết
Phân Biệt đó, đối với trần thì có, lìa trần thì
không, như bóng trong gương, vốn không tự thể, rốt
là
đoạn
diệt, như thế làm sao chứng Vô Sanh?
Cho nên, phải biết
cái Tâm tự có bản thể, chẳng phải đoạn diệt.
Đoạn trước, Phật quở:
Cái đó chẳng phải là Tâm ông. Vì cái chỗ Ông A Nan
nhìn nhận chỉ là cái tâm đoạn diệt giả dối, chẳng
phải là cái tâm Xưa Nay Chân Thật vậy. Chứ đâu phải
thật không có tâm ư?
Tổ Huyền Sa Sư Bị
thượng đường rằng:
- Hiện có một thuyết
cho là: Linh linh, sáng sáng là cái Trí Tánh linh đ
ài,
hay thấy, hay nghe, hướng vào trong miếng ruộng
-thân ngũ uẩn làm chủ
tể. Đó là kẻ dối gạt lớn của thiện trí thức, biết
chăng? Ta nay hỏi các ông, nếu nhận cái linh linh
sáng sáng đó là cái Chân Thật của các ông, thì tại
sao khi ngủ mê, lại chẳng còn là sáng sáng linh linh
nữa? Nếu lúc ngủ mê chẳng có thì tại sao lại có cái
lúc sáng sáng, linh linh? Có hiểu chăng? Cái đó gọi
là nhận giặc làm con, là căn bản của sanh tử, tập
khí duyên ra Vọng Tưởng. Các ông muốn biết căn do ư?
Ta nói cho nghe: Cái sáng sáng linh linh chỉ do tiền
trần Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà có phân
biệt, rồi nói bậy đó là cái sáng sáng linh linh. Nếu
không tiền trần, thì cái sáng linh linh này của các
ông, cũng như lông rùa sừng thỏ.
Này các ông, cái Chân
Thật ở tại chỗ nào? Nay các ông muốn thoát khỏi cái
chủ tể của ruộng thân ngũ uẩn, chỉ cần biết nắm lấy
cái Thể Kim Cang Bí Mật của các ông. Cổ nhân hướng
về các ông mà nói: Trọn thành Chánh Biến, khắp đầy
Pháp Giới. Nay ta chút phần vì các ông, người Trí có
thể qua thí dụ mà hiểu được. Các ông có thấy mặt
trời của Nam Diêm Phù Đề không? Cái chỗ sanh sống
của người đời: Làm lụng, kinh doanh, nuôi sống sinh
mạng, đủ thứ tâm hành, không gì chẳng nhờ ánh sáng
mặt trời mà thành lập. Vậy mà cái thể của mặt trời
có chăng bấy nhiêu tâm hành? Vậy mà có chỗ nào mà
không cùng khắp?
Muốn biết cái Thể Kim
Cang, cũng phải nhìn như thế. Chỉ như hiện đây, núi
sông, đất rộng, mười phương cõi nước, sắc không,
sáng tối, cho đến thân tâm các ông, không có cái gì
mà chẳng trọn nhờ cái Oai Quang Viên Thành ấy của
các ông mà hiển bày. Ngay đến Trời, người, chúng
sanh, Nghiệp Báo, Hữu Tình, Vô Tình không có cái gì
chẳng trọn nhờ cái Oai Quang của các ông. Cho đến
chư Phật, thành Đạo, thành Quả, tiếp vật lợi sanh,
không gì mà chẳng trọn nhờ Oai Quang của các ông.
Như cái Thể Kim Cương ấy, có phàm phu cùng chư Phật
không? Có tâm hành của các ông không? Không thể nói
là không có, bèn tận dụng được vậy. Biết không?
Tổ Huyền Sa nhờ xem
Lăng Nghiêm mà phát minh tâm địa. Do đó, Ngài ứng cơ
nhạy bén, thầm hợp với khế kinh. Đoạn Ngài nói ở
trên, mỗi mỗi đều chẳng khác ý chỉ của Kinh, cho đến
nói: Tất cả đều nhờ vào lực của Oai Quang, cùng với
câu Kinh: Các pháp sinh ra là duy một tâm hiện, lại
càng thần diệu.
Lại nữa, Tổ Trúc Am
Khuê, kế pháp của Tổ Phật Nhãn, cùng với người bác
là cư sĩ Trì Nhất, cùng thích Lăng Nghiêm.
Tổ Trúc Am Khuê nói:
- Nếu rời tiền trần
mà có tánh phân biệt, đó chính là căn bản của sanh
tử.
Cư sĩ hoảng hồn, nói:
- Phật nói lầm hay
sao?
Tổ Am nói:
-Phật cố nhiên là
không lầm. Nhưng hiện giờ cái tâm đối diện hỏi han
của cư sĩ quả thật ở đâu?
- Cư sĩ bèn tán thán
rằng Phật nói: Hiểu cái Đệ Nhất Không, gọi là Sư Tử
Hống, Ngài làm rồi mà không vướng mắc đấy.
Tổ Am, sau đó thượng
đường mà rằng:
- Khi thấy mà có
tướng thấy, cái thấy ấy chẳng phải là cái Thấy Chân
Thật (Chánh Kiến). Thấy do lìa tất cả tướng thấy,
cái thấy ấy là siêu việt (Giải Thoát).
Hoa rơi hữu ý theo
giòng nước. Giòng nước vô tình đưa hoa rơi. Các thứ
có thể trả về được dĩ nhiên chẳng phải là ông. Còn
ông không thể trả về được, nếu chẳng phải là ông,
thì là ai?
Thường hận xuân đi
không chỗ kiếm. Chẳng hay trở lại chốn xưa ra.
Hét lên một tiếng mà
rằng:
- Ba mươi năm sau,
chớ nói Phật, Tổ dạy hư con cái nhà người!
Theo chỗ thấy của Tổ
Trúc Am, thì lìa tiền trần cũng không có cái Tự Tánh
Phân Biệt nào nữa để được. Người tự khéo chuyển Lăng
Nghiêm thì một đoạn chân phong: Thấy do lìa thấy,
Thấy ấy siêu việt, có thể cùng với Tổ Huyền Sa đồng
tham vậy.
|
V. CHỈ
RÕ TÍNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CON MẮT |
Kinh: Khi ấy Ông A Nan cùng
tất cả đại chúng lặng im, ngơ ngác. Phật bảo Ông A
Nan:
- Hết thảy những
người tu học trong thế gian, hiện tuy thành được
chín bậc Định thứ lớp mà chẳng được hết lậu để thành
A La Hán, đều do chấp lấy cái vọng tưởng sanh tử này
mà lầm cho là chân thật. Thế nên, ông nay tuy được
đa văn mà không thành quả Thánh.
Thông rằng: Chín bậc
Định thì sau này có nêu ra: Tứ Thiền, Tứ Không...
Nhưng chỉ nói quả vị mà không nói cách tu. Đây nói
là người tu hành chín bậc Định thứ lớp, vì từ một
bậc thiền này sang bậc thiền kia, theo thứ tự mà tu.
Như Đại Bát Nhã nói:
Lìa Dục, Ác, Bất Thiện Pháp, có tìm có xét. Lìa thì
sanh Hỷ, Lạc, nhập Sơ Thiền. Tìm, xét đã vắng lặng,
trụ ở trong tâm trong sạch hoan hỷ. Không tìm, không
xét nghĩ, Định sanh ra Hỷ, Lạc, nhập Nhị thiền. Lìa
Hỷ trụ Xả, đầy đủ niệm chánh tri, thân thọ lãnh sự
vui trong sạch bậc Thánh, nói được xả được, đầy đủ
niệm lạc trụ nhập Tam Thiền. Dứt vui dứt khổ, trước
là cái vui vẻ, lo buồn biến mất, không Khổ không
Lạc, niệm Xả thanh tịnh, nhập Tứ Thiền. Vượt lên cả
Sắc Tưởng, diệt tưởng có đối tượng, chẳng tư duy hết
thảy các Tưởng, nhập vào Không Vô Biên là Không Vô
Biên Xứ Định. Vượt lên tất cả Không, nhập Thức Vô
Biên là Thức Vô Biên Xứ Định. Vượt lên tất cả Thức
Vô Biên, nhập Vô Sở Hữu Xứ Định. Vượt Vô Sở Hữu
Định, nhập Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Định. Vượt tất
cả Phi Tưởng Phi Phi Tưởng, nhập Diệt Thọ Tưởng
Định.
Đó là chín phép Định
theo thứ lớp, đều là cái công dụng Hữu Vi, ưa thích
thiện quả hữu vi nên nói là "Mê những cõi Trời hữu
lậu, hiểu đấy là vô vi". Vì cái mê chấp ấy, nhập vào
cái thức vi tế sanh diệt vọng tưởng mà tu, chưa thể
thấy được Chân Tánh Vô Sanh, Hiện Tiền Tịch Diệt
(Niết Bàn) chính là Pháp Vô Vi Chân Thật, nên chưa
được hết hữu lậu. Như bậc Đại A La Hán, đã chứng
Diệt Thọ Tưởng Định, nên gọi là Vôâ Lậu. Nay tại sao
trong chín cấp Định thứ lớp cũng chứng Diệt Thọ
Tưởng Định mà lại gọi là hữu lậu? Vì có vọng tưởng
mà chứng Niết Bàn, nên dù có được Diệt Tận Định vẫn
chưa phải là chân thật.
Tổ Hoàng Bá nói rằng:
- Cả thảy chúng sanh
luân hồi, sanh tử chẳng ngừng nghỉ là do ý duyên
khởi tạo cái tâm trong sáu nẻo chẳng ngừng, đến nỗi
khiến chịu bao nhiêu thứ khổ.
Kinh Duy Ma nói:
- Loài người khó dạy,
tâm như khỉ vượn, nên phải dùng biết bao pháp môn để
chế ngự tâm này, sau mới điều phục. Bởi vì tâm sanh
thì thảy thảy pháp sanh, tâm diệt thì thảy thảy pháp
diệt.
Cho nên, phải biết
rằng tất cả các pháp đều do tâm tạo, cho đến Trời
người sáu nẻo, địa ngục, Tu La đều do tâm tạo. Như
nay chỉ học Vô Tâm, dứt ngay các duyên, không sanh
vọng tưởng phân biệt, không Người, không Ta, không
Tham, Sân, không Yêu Ghét, không Hơn Thua. Chỉ cần
trừ bỏ hết bấy nhiêu thứ vọng tưởng, thì Tự Tánh vốn
xưa nay vẫn là trong sạch, đó gọi là tu hành Bồ Đề,
Pháp, Phật... Nếu chẳng hiểu như thế, thì dù cho học
rộng, cần khổ tu hành, ăn cây mặc cỏ, mà chẳng biết
Tự Tâm, đều gọi là tà hạnh, đều làm Thiên Ma ngoại
đạo, các thần đất, nước. Tu hành mà thế, nào có ích
gì?
Tổ Chí Công dạy:
- Bản thân là do tâm
tạo ra, nào phải trong chữ nghĩa tìm cầu. Như hiện
giờ chỉ rõ biết Tự Tâm, tuyệt dứt tư duy vọng tưởng
thì trần lao, phiền não tự nhiên chẳng sinh.
Kinh Duy Ma nói:
- Chỉ để một cái
giường, nghỉ ngơi tật bệnh mà nằm, là tâm chẳng khởi
vậy. Như người nằm bệnh, các duyên đều hết, vọng
tưởng tiêu ma, đó là Bồ Đề.
Còn nếu giờ đây trong
tâm phân vân chẳng định, thì dầu cho có học đến Tam
Thừa, Tứ Quả, Thập Địa cũng chỉ là hướng trong phàm
Thánh mà ngồi. Các hành trọn quy về vô thường, thế
lực đều có lúc hết. Như bắn tên lên không, hết đ
à
rơi xuống, lại rơi vào vòng sanh tử luân hồi. Tu
hành kiểu đó là chẳng hiểu ý Phật, uổng công nhọc
mệt, há chẳng là lầm to?
Tổ Chí Công lại nói:
- Chưa gặp bậc Minh
Sư ra đời, uống thuốc pháp Đại Thừa cũng uổng. Than
ôi! Thuốc pháp Đại Thừa còn chẳng thể giúp, huống là
chín bậc Định thứ lớp? Nên phải biết tu tập lầm lạc,
khó thành quả Thánh.
Kinh:
- Ông A Nan nghe xong
lại đau xót khóc lóc, năm vóc gieo xuống đất, quỳ
thẳng chấp tay mà bạch Phật: Từ khi tôi theo Phật
phát lòng xuất gia, ỷ lại oai thần của Phật, thường
tự nhủ: Chẳng nhọc đến mình tu, Như Lai sẽ ban cho
mình Pháp Chánh Định, mà chẳng biết rằng thân tâm
không thể thay thế. Bỏ mất bản tâm của mình, nên tuy
thân thể xuất gia, tâm chẳng nhập đạo. Ví như đứa
con cùng khổ, bỏ cha trốn lánh. Ngày nay mới biết dù
có đa văn, nếu chẳng tu hành thì có khác gì người
chưa được nghe, như người nói chuyện ăn thì rốt cuộc
chẳng được no.
Thưa Thế Tôn, chúng
tôi giờ đây bị hai chướng buộc ràng, là do chẳng
biết cái Tâm Tánh Tịch Thường. Độc chỉ cầu xin Như
Lai xót thương kẻ cùng đường, mà khai phát cái Tâm
Diệu Minh, mở con mắt đạo cho tôi.
Thông rằng: Bỏ cha
trốn đi thì ở Kinh Pháp Hoa cũng có ví dụ. Cùng
đường ở phương xa, mong được chỉ cho hạt châu trong
áo, dần dần có ý muốn về nhà.
Hai cái chướng là
Phiền Não Chướng và Sở Tri Chướng. Phiền Não Chướng
thì chướng ngại tâm, tâm chẳng giải thoát, kết
nghiệp mà thọ quả báo. Sở Tri Chướng ngăn trở cái
Tánh Sáng (Huệ). Tánh Sáng bị buộc ràng, chẳng hiểu
Pháp Không vậy.
A Nan biết rõ bị hai
Chướng ràng buộc, lại cũng biết cái gọi là Tâm Tánh
Tịch Thường, cớ sao con Mắt Đạo chẳng mở ra? Thấu
thoát quả là khó khăn lắm vậy.
Có nhà sư bạch hỏi Tổ
Dược Sơn:
- Kẻ học nhơn định
trở về quê thì như thế nào?
Tổ Sơn nói:
- Cha mẹ ông khắp
mình sưng đỏ, nằm trong rừng gai góc, ông về chỗ
nào?
Sư hỏi:
- Như thế tức là
chẳng về ư?
Tổ rằng:
- Ông lại cần phải
về. Nếu ông về ta chỉ cho ông món ăn làm thuốc tốt
đẹp để đi đường.
Sư rằng:
- Xin nói.
Tổ Sơn nói:
- Hai buổi thượng
đường, không cắn bể một hột gạo.
Sau, có vị sư bạch
hỏi Tổ Lạc Phổ:
- Kẻ học nhơn định
trở về quê thì như thế nào?
Tổ Phổ rằng:
- Nhà tan, người mất,
ông về chốn nào?
Sư rằng:
- Như vậy tức là
chẳng về ư?
Tổ Phổ rằng:
- Trước sân tuyết sót
(tuyết tàn), mặt trời tan. Trong thất bụi hồng, ai
bảo quét. Lại đọc bài kệ:
Lòng quyết
về quê cũ,
Cỡi thuyền qua Ngũ Hồ.
Nhổ sào trăng sao lặn,
Dừng chèo mặt trời cô.
Mở neo lìa bến ngụy,
Trương buồm ra dòng Chơn.
Đến nơi, người mất sạch,
Khỏi làm đứa ngu (trong) nhà.
Tổ Đơn Hà tụng rằng:
Quê nước thái bình nẻo chẳng xa,
Về, hứng miên man, ý vô bờ.
Buông tay, nhà
đến:
nơi nào có?
Bóng trăng lồng điện báu lưu ly.
Dịch:
Thái bình hương quốc lộ không xa,
Quy hứng du tu tư mạc nhai.
Tát thủ đáo gia hà xứ hữu,
Lưu ly bảo điện tỏa thiềm hoa.
Các vị lão túc một phen chỉ ra phương tiện về nhà.
Đáng gọi là con mắt Đạo mở sáng, thật biết cái Tâm
Tánh Tịch Thường vậy.
Kinh:
- Liền khi ấy, Như
Lai từ chữ VẠN ở ngực, phóng ra ánh sáng báu. Hào
quang ấy rực rỡ, có trăm ngàn sắc, chiếu khắp cùng
một lúc tất cả thế giới chư Phật mười phương, số như
vi trần. Hào quang rưới khắp đảnh các Như Lai của
mười phương cõi báu, xoay về soi đến ông A Nan và cả
đại chúng.
Phật bảo Ông A Nan:
- Ta nay vì ông dựng
cờ Pháp lớn, cũng khiến cho tất cả chúng sanh của
mười phương được cái Tâm Tánh nhiệm mầu, vi mật,
sáng sạch và
được
con Mắt Trong Sạch (Thanh Tịnh Nhãn).
Thông rằng: Trước thì
từ mặt phóng ra ánh sáng, mười phương cõi nước đồng
thời khai hiện, khiến tất cả thế giới hợp thành một
cõi, là biểu thị Chân Vọng chẳng hai. Chỉ bày hai
loại Căn Bản, thì lấy Đoạn Vọng làm đầu vì vọng
tưởng chẳng dứt thì dù
đến
chín bậc Định thứ lớp cũng chẳng thành quả Thánh.
Cái mặt mũi ấy có thể nghiệm xét mà thấy như soi
gương vậy. Nay từ chữ VẠN ở ngực phóng ra ánh sáng,
rưới đảnh của chư Như Lai rồi trở về chiếu A Nan và
đại
chúng, là biểu thị Thánh phàm chẳng hai. Chỉ bày
rằng tiền trần tự tối, cái Thấy nào có thiếu hụt.
Nhẫn đến cái đầu tự động chao, cái Thấy hoàn toàn
chẳng động. Bàn tay tự mở, nắm; cái Thấy không có
trải ra, cuốn lại. Đó là chỉ ra một đường hướng
thượng, người người sẵn đủ, khả dĩ an ấn (truyền
pháp yếu) vậy.
Xưa, Tổ Ngưỡng Sơn
đang ngồi, có vị tăng đến làm lễ. Tổ Sơn chẳng đoái
hoài.
Vị tăng mới hỏi Tổ:
- Biết chữ chăng?
Tổ đáp:
- Tùy phận.
Tăng bèn đi quanh
phía phải một vòng rồi nói:
- Đó là chữ gì?
Tổ Sơn vẽ trên đất
chữ thập đáp lại.
Vị tăng lại đi quanh
phía trái một vòng rồi hỏi:
- Đó là chữ gì?
Tổ Sơn đổi chữ thập
thành chữ Vạn.
Vị tăng vẽ tướng vòng
tròn, rồi dùng hai tay nâng lên như bàn tay của Tu
La trong thế Nhật Nguyệt, nói:
- Đây là chữ gì?
Tổ Sơn bèn vẽ tướng
đáp lại.
Vị tăng làm ra cái
tướng Đức của Phật Lâu Chí.
Tổ Sơn rằng:
- Như thế, như thế.
Đây là chỗ hộ niệm của Chư Phật. Ông cũng như thế,
ta cũng như thế. Hãy khéo tự hộ trì.
Vị tăng lễ tạ, bay
lên không mà
đi
mất.
Lúc ấy, có một vị đạo
nhân thấy được.
Sau đó năm ngày, bạch
hỏi Tổ Ngưỡng Sơn.
Tổ hỏi:
- Ông có thấy không?
Đạo giả đáp:
- Tôi thấy người ấy
ra cửa phòng lên không đi mất. Tổ rằng:
- Đó là vị A La Hán
bên Tây Thiên, đến thử đạo ta đó. Đạo giả nói:
- Tôi tuy thấy đủ thứ
Tam Muội mà chẳng rành rẻ cái Lý. Tổ Ngưỡng Sơn
rằng:
- Để tôi vì ông dùng
nghĩa mà giải thích ra. Đây là tám loại Tam Muội: ấy
là Giác Hải biến làm Nghĩa Hải, Thể đồng như nhau.
Cái Nghĩa này có Nhân có Quả; Tức Thời, Khác Thời;
Tổng Tướng, Biệt Tướng chẳng rời Ẩn Thân Tam Muội.
Nếu biết cái Tam Muội
Giác Hải biến ra Nghĩa Hải của Ngài Ngưỡng Sơn, thì
chữ Vạn nơi ngực của Phật phóng ra ánh sáng quý báu
cũng là Diệu Dụng trong cái Bất Tư Nghì, ắt phải
được cái Tâm Tánh Diệu Mật Sáng Sạch làm cội gốc
vậy.
Tổ Quy Sơn từng hỏi
Tổ Ngưỡng Sơn:
- Chỗ Diệu Tịnh Minh
Tâm, theo ông hiểu làm sao?
Tổ Ngưỡng đáp:
- Núi sông đất đai,
nhật nguyệt tinh tú.
Tổ Quy nói:
- Ông chỉ được cái
Sự.
Tổ Ngưỡng rằng:
- Hòa Thượng vừa hỏi
cái gì đó?
Tổ Quy:
- Cái Diệu Tịnh Minh
Tâm.
Tổ Ngưỡng:
- Kêu là cái Sự không
được sao?
Tổ Quy rằng:
- Như thế, như thế.
Chỉ do Tổ Ngưỡng Sơn
hiểu được cái Diệu Tịnh Minh Tâm, được con mắt trong
sạch, cho nên cái Tam Muội rõ nghĩa chữ (Tự Tam
Muội), vượt xa hẳn tầm thường.
Kinh:
- Ông A Nan, trước
đây ông đã trả lời Ta rằng thấy nắm tay chói sáng.
Sự chói sáng ấy của nắm tay do đâu mà có? Làm sao
thành ra nắm tay? Ông lấy cái gì mà thấy?
Thông rằng: Đây là
lần dẫn dụ từ từ thứ ba của Thế Tôn, có thể nói là
tâm Lão Bà quá tha thiết. Trước đã hỏi: Ông lấy gì
thấy? Ông A Nan trả lời: Đều lấy mắt mà thấy, để rồi
bị Phật quở nhận giặc làm con. Đến đây hỏi lại: Ông
lấy gì thấy?, chính là muốn ông A Nan hồi quang phản
chiếu để hốt nhiên thấy được cái Kiến Tính Minh
Nguyên, chẳng do con Mắt. Tiếc thay, ông chẳng tỉnh
ngộ được.
Có vị tăng đứng hầu
Tổ Trường Sa.
Tổ lấy gậy chỉ trên
đất trước mặt một điểm bất kỳ nào đó rồi hỏi:
- Có thấy không? Đáp
rằng:
- Thấy.
Hỏi như vậy ba lần,
vị tăng cũng ba lần trả lời như vậy. Tổ Sa nói:
- Ông cũng thấy ta
cũng thấy. Vì sao lại nói là không hiểu?
Ngày khác, lại lấy
cây gậy cắm trên đất, hỏi Tổ Trường Sanh:
- Tăng thấy, tục
thấy, nam thấy, nữ thấy, còn ông thấy làm sao? Đáp
rằng:
- Hòa Thượng có thấy
Kiến Xứ (chỗ thấy) của Kiểu Nhiên (Trường Sanh)
không? Tổ Trường Sa nói:
- Người hiểu nhau
khắp thiên hạ, nhờ có câu trả lời này của Kiểu
Nhiên, bèn cùng Huyền Sa thấy mặt!
Phải chi Ông A Nan tự
biết cái Kiến Xứ ấy chẳng có cái Kiến (Thấy) nào đến
được, thì đâu đến nỗi Thế Tôn phải cực nhọc lắm lời!
Kinh: Ông A Nan thưa:
- Toàn thân Phật như
vàng Diêm Phù Đàn, sáng ngời như núi báu, do Thanh
Tịnh sanh ra nên có ánh sáng. Quả thật, tôi lấy mắt
mà thấy năm ngón tay Phật co nắm lại, đưa ra cho đại
chúng coi, nên có tướng nắm tay.
Phật bảo Ông A Nan:
- Như Lai hôm nay,
xác thật dạy ông. Những người có Trí cần lấy thí dụ
mà
được
khai ngộ. Ông A Nan, ví như nắm tay của Ta, nếu
không có bàn tay ta thì không thành nắm tay Ta. Nếu
không có con mắt của ông thì không thành cái Thấy
của ông. Vậy thì lấy Nhãn Căn của ông mà so với Nắm
Tay của Ta, cái nghĩa có tương xứng không?
Ông A Nan bạch Phật:
- Đúng vậy, thưa Thế
Tôn. Đã không có con mắt của tôi thì không thành cái
Thấy của tôi. Lấy Nhãn Căn của tôi mà so với nắm tay
của Phật, sự nghĩa giống nhau.
Phật bảo Ông A Nan:
- Ông nói giống nhau,
nghĩa ấy không đúng. Vì sao thế? Như người không có
bàn tay thì tuyệt nhiên không có nắm tay. Còn người
không có mắt kia, không phải hoàn toàn không thấy.
Tại sao như thế? Ông thử ra đường hỏi người mù: Anh
thấy gì? Những người mù chắc sẽ trả lời: Hiện nay
trước mắt tôi chỉ thấy tối đen, chứ không thấy gì
khác. Lấy nghĩa ấy mà xét thì tiền trần tự tối, chứ
cái thấy nào có hao kém gì?
Thông rằng: Vì sao
Đức Thế Tôn lại lấy người mù làm ví dụ? Bởi vì, Ông
A Nan chấp chặt lấy cái Thấy của con mắt làm cái
Thấy Chân Thật, vậy là chẳng rời Căn và Trần, mà
Thức sanh ra ở giữa.
Người mù không có
mắt, sao cũng thấy tối thui? Do đó, có thể biết rằng
chờ có Nhãn Căn mới thấy, đó là cái thấy của tiền
trần phân biệt, chẳng phải là cái thấy của cái Vốn
Xưa Nay Trong Sạch vậy. Tiền trần phân biệt thuộc
Thức Thứ Sáu, nên mắt còn thì nó còn, mắt mất thì nó
mất, nên phải chờ có Căn thì mới hiện ra được.
Cái ánh sáng trong
sạch của Tâm, chẳng đợi đến cái Căn mà còn, chẳng
tùy theo Căn mà diệt, nên nó là không sanh diệt. Đó
là cái Thấy không sanh diệt của cái Vốn Xưa Nay
Trong Sạch ai ai cũng sẵn đủ. Chẳng phải vì không có
mắt mà người mù không có.
Ông A Nan chấp chặt
là chỉ có con mắt mới thấy, thì đó là cái Căn sanh
diệt. Thế Tôn chỉ ra cái Thấy không hề thiếu hụt, đó
là cái Căn Không Sanh Không Diệt. Đánh thức như thế,
có thể nói là
đã
cùng cực.
Xưa, tướng quốc Thôi
Công Quần ra mắt Tổ Như Hội thiền sư, hỏi rằng:
- Thầy lấy gì mà
được?
Tổ Hội trả lời:
- Lấy Tánh Thấy mà
được.
Tổ Như Hội đang bị
đau mắt.
Ông Quần chọc rằng:
- Đã nói là Tánh
Thấy, còn con mắt thì sao đó?
Tổ Hội rằng:
- Tánh Thấy chẳng
phải là con mắt, con mắt bệnh nào có hề gì!
Ông Quần bèn cúi đầu
tạ lỗi.
Sau này, Tổ Pháp Nhẫn
nói rằng:
- Con mắt ấy của
Tướng Công há thấy được chỗ trả lời của Tổ Như Hội,
mà còn can thiệp đến giáo ý hay sao? Kinh:
Ông A Nan thưa:
- Trước mắt những
người mù chỉ thấy tối đen, sao gọi là thấy được?
Phật bảo Ông A Nan:
- Các người mù không
có con mắt chỉ thấy tối đen, so với người có mắt ở
trong nhà tối, thì hai cái tối đen ấy khác nhau hay
không khác nhau?
- Thật vậy, thưa Thế
Tôn, người có mắt ở trong nhà tối với những người
mù, so sánh hai cái tối đen của họ, thật không khác
nhau.
- A Nan, nếu người mù
không có mắt, thấy trước mắt hoàn toàn tối đen, bỗng
nhiên được con mắt sáng thì thấy lại nơi tiền trần
đủ mọi loại sắc mà gọi là con mắt thấy; thì người ở
trong nhà tối kia, thấy trước mắt hoàn toàn tối đen
bỗng nhiên được cái đ
èn
sáng, nên thấy nơi tiền trần đủ mọi loại sắc, lẽ ra
phải gọi là cái đ
èn
thấy. Nếu cái đ
èn
tự nó thấy được, thì không thể gọi là
đ
èn.
Lại ngọn đ
èn
nó thấy, thì liên can gì tới ông! Vậy, nên biết
rằng: Đèn làm sáng các hình sắc, nhưng thấy như vậy
là Mắt chứ không phải đ
èn.
Mắt làm sáng tỏ các Sắc, nhưng Tánh Thấy như vậy là
Tâm chứ chẳng phải là Mắt.
Thông rằng: Đây là
Đức Thế Tôn phân tích rõ ràng, nên nói là: Xác thật
bảo ông. Đèn và con Mắt, đều là cái duyên cho sự
thấy, thể của chúng chẳng phải Hay Thấy. Cái Hay
Thấy là tâm vậy. Ở trước, nói: Cửa có thấy không? là
đã
đủ nghĩa này. Ở đây, lại lấy ngọn Đèn ví dụ là con
mắt, lấy Mắt mà so với Tâm. Đèn không thể thấy, Mắt
có thể thấy được sao? Cái Thấy của con Mắt chẳng
phải là Tánh Thấy.
Nếu sáu Căn có thể
dùng thay nhau, thì Tai cũng thấy được vậy, đâu phải
chỉ có mắt mới thấy. Chỗ Ông A Nan nói: Quả thật tôi
dùng con mắt mà thấy, thì rõ ràng chấp lấy Vọng mà
làm cái Chơn. Nếu biết đ
èn
chỉ có thể hiển cái sắc còn cái Năng Kiến thuộc về
con mắt, thì đã lìa Sở Vọng. Lại biết mắt chỉ hiển
sắc, còn Tánh Thấy thuộc về Tâm, thì lìa luôn cả cái
Năng Vọng. Năng, Sở đều lìa, duy chỉ một Tâm. Tâm
siêu vượt khỏi con mắt nên không sanh diệt. Dùng cái
Thấy không sanh diệt mà thấy nắm tay của Như Lai thì
chưa từng không thấy. Nhưng không thể nói là con mắt
thấy.
Xưa, thiền sư Khô Mộc
Tổ Nguyên theo học Ngài Đại Huệ ở am Vân Môn. Trời
sắp tối, thấy vị tăng sửa soạn đ
èn
mới tỏ ngộ thấu đáo, làm bài kệ rằng:
Vừa soạn đ
èn
là lửa đến,
Vô Minh bao kiếp soi phá.
Về nhà
đụng
gặp Thánh Tăng,
Suýt nữa đối mặt lầm qua.
Chẳng lầm qua thì thế nào?
Mười lăm năm trước tưởng lạ kỳ,
Y xưa, chỉ là cái đó!
Dịch:
Dịch khởi đăng lại thị hỏa,
Lịch kiếp Vô Minh chiếu phá.
Quy đường chàng kiến Thánh tăng,
Kỷ hồ đương diện tạ quá.
Bất tạ quá, thị thậm ma,
Thập ngũ niên tiền kỳ đặc,
Y tiền chỉ thị giá cá.
Ngài Đại Huệ bèn tặng cho một bài kệ:
Vách núi muôn tầm, giải phóng thân,
Xưa nay như cũ, vẫn minh minh.
Đói ăn khát uống toàn vô sự,
Há luận người xưa, chẳng phải xưa!
Dịch:
Vạn nhận nhai đầu giải phóng thân,
Khởi lai y cựu khước tinh tinh.
Cơ xan khát ẩm hồn vô sự,
Há luận tích nhơn phi tích nhơn.
Ôi, việc sửa soạn đ
èn
đâu có ăn nhằm gì tới chuyện tu thiền mà lại tỏ ngộ.
Thế mới biết Thế Tôn nói rằng cái thấy đó là con mắt
chớ chẳng phải đ
èn;
cái Tánh Thấy là Tâm chớ chẳng phải con mắt. Nên
Ngài Tổ Nguyên mới nói vừa soạn đ
èn
là lửa đến. Như cách vách thấy sừng thì biết chắc là
trâu. Phải triệt chứng như thế mới gọi là Thấy Tánh.
Kinh:
- Ông A Nan tuy được
nghe lời Phật dạy như vậy, cùng với đại chúng miệng
tuy im lặng nhưng Tâm chưa khai ngộ, còn mong Như
Lai từ tâm chỉ bày, chắp tay lắng lòng đợi Phật
thương xót dạy bảo.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn
duỗi tay Đâu La Miên sáng ngời, mở năm ngón tay mà
bảo Ông A Nan và
đại
chúng rằng:
- Lúc Ta vừa thành
đạo ở vườn Lộc Uyển có dạy nhóm Ông A Nhã Đa năm vị
Tỳ kheo và bốn chúng rằng: Tất cả chúng sanh không
thành Bồ Đề cùng bậc A La Hán đều do những phiền não
khách trần mê hoặc. Lúc ấy, các ông nhờ đâu mà khai
ngộ, đắc thành Thánh quả?
Thông rằng: Đức Thế
Tôn lời thật chỉ bày rõ ràng mà Ông A Nan và
đại
chúng còn chưa khai ngộ cũng vì cơ duyên chưa dễ
nhóm tụ. Do lòng từ bi, Đức Thế Tôn còn e lời nói vi
diệu chưa dễ hiểu được. Nhưng trong hàng tỳ kheo
cũng có vị đã hiểu ngộ rồi, vậy thì dùng chỗ đã hiểu
biết dìu dẫn cho hiểu biết thì dễ dàng ngộ nhập. Bởi
thế nên dạy các vị tỳ kheo mỗi vị tự thuật lại
nguyên do khai ngộ để Ông A Nan dễ lãnh ngộ. Đoạn
sau, hai mươi lăm vị Thánh thuật lại chỗ chứng Viên
Thông của mình cũng là dùng cách này. Ở đây là Biết
Vọng, sau mới Chứng Chơn, không phải không có chỗ
sâu cạn khác nhau, nhưng phương tiện dắt dẫn chỉ là
một.
Nói rằng "Chẳng thành
Bồ Đề đều do phiền não khách trần làm mê lầm", đó
chính là sự đắp đổi hóa thành lẫn nhau của hai loại
căn bản sanh tử, tỏ ngộ cũng không dễ.
Có vị tăng hỏi Ngài
Nam Dương Huệ Trung quốc sư:
- Cái gì là Phật?
Tổ đáp:
- Tức Tâm là Phật.
Hỏi:
- Tâm có phiền não
không?
Tổ rằng:
- Phiền não, tánh tự
lìa. Tăng rằng:
- Há chẳng đoạn trừ
sao?
Tổ đáp:
- Đoạn trừ phiền não,
kêu bậc Nhị Thừa. Phiền não chẳng sanh, gọi đó là
Đại Niết Bàn.
Tăng hỏi:
- Ngồi thiền khán
tịnh thì như thế nào?
Tổ đáp:
- Không dơ không sạch
thì đâu cần khởi tâm khán tướng tịnh?
Kinh Di Lặc Thượng
Sanh nói:
- Không khởi tu thiền
định, không vọng trừ phiền não. Phật thọ ký cho
người này thành Phật không nghi.
Học sĩ Trần Tú Ngọc
có lần hỏi Tổ Vạn Tùng rằng:
- Đức Di Lặc Bồ Tát
vì sao chẳng tu thiền định, chẳng dứt trừ phiền não?
Tổ Tùng đáp:
- Chân Tâm vốn tịnh,
nên chẳng tu thiền định. Vọng tưởng vốn không, nên
chẳng dứt lìa phiền não.
Học sĩ lại đem câu
này hỏi Ngài Hương Sơn Đại Nhuận Hòa Thượng. Ngài
đáp:
- Tâm Thiền vốn định,
chẳng trở lại tu. Phiền não tịch diệt, chẳng cần lại
đoạn. Học sĩ lại đem hỏi Ngài Trúc Lâm Hải Cự Xuyên.
Tổ Xuyên đáp:
- Vốn không có thiền
định, phiền não!
Học sĩ nói:
- Chỉ có thế này mới
khoái!
Ở chỗ này mà tin tới
được, mới biết việc chỉ bày ở Lộc Viên chỉ vì người
mới học.
Kinh: Khi ấy, Ông Kiều Trần
Na đứng dậy bạch Phật:
- Tôi nay già cả, ở
trong đại chúng riêng được cái danh là Hiểu. Do tôi
ngộ được hai chữ Khách Trần mà thành quả. Thưa Thế
Tôn, ví như người khách đi đường, vào trọ nơi quán
xá, hoặc ngủ lại, hoặc ăn. Ăn, ngủ xong xếp đồ đạc
lên đường không ở lại được. Nếu thật là người chủ,
tự không phải đi đâu. Tôi nghĩ như vầy: Không ở yên
mãi được thì gọi là Khách, còn ở mãi thì gọi là Chủ.
Lấy cái sự "Không ở yên mãi" được làm ý nghĩa chữ
Khách. Lại như trời mới tạnh, mặt trời chiếu sáng
trên cao, ánh sáng xuyên qua khe hở chiếu rõ bụi bặm
trong khoảng không. Bụi trần thì dao động, hư không
lặng yên. Như vậy mà suy nghĩ: Đứng lặng gọi là hư
không, lay động gọi là Trần. Tôi lấy Sự Lay Động làm
ý nghĩa chữ Trần.
Đức Phật nói:
- Chính vậy. Thông
rằng: Khách là thí dụ cho cái thô trọng của Sở Tri ;
Trần là ví dụ cho cái vi tế của Phiền Não. Niệm Niệm
Đổi Dời, sanh ra rồi diệt mất chẳng ngừng, nên thí
dụ "như khách đi đường" vào trọ quán xá. Khởi lên sự
mê lầm, gây ra nghiệp, bỏ cũ theo mới, nên thí dụ là
ăn, ngủ xong thì thu dọn lên đường. Cái, Chân Tánh
Thường Tru,ï vốn chẳng có chuyện ấy, nên thí dụ như
"người chủ" chẳng đi đâu cả. Thô chướng thì dễ trừ
mà cái mê lầm vi tế thì khó biết, nên phải do bầu
trời Bản Tánh tạnh ráo sáng trong có mặt trời Trí
Huệ soi chiếu, qua khe hở của Ngũ Ấm soi rõ Bản Tánh
rỗng trống, mới biết hư vọng tự rối động ở trong.
Do đó, mới lấy thí
dụ: Trời tạnh, mặt trời chiếu sáng, ánh sáng vào
trong lỗ hở, phát hiện rõ ràng bụi bặm trong hư
không.
Phiền não thì rối
động. Chân Tánh vốn tịch nhiên. Như ngộ được là vốn
không, thường trụ chẳng động, tức biết Tâm Tánh
thường tịch vậy.
Tổ Triệu Châu nói:
- Các ông từ một phen
thấy lão tăng trở về sau, lại chẳng phải là người
nào khác, chỉ thật là người chủ nhân ông. Cái ấy đây
lại hướng ra ngoài tìm kiếm làm chi? Chính lúc này
đây, chớ chuyển đầu đổi não. Nếu chuyển đầu đổi não
tức mất ngay vậy.
Lại một hôm, Ngài
đang quét đất, có vị tăng hỏi:
- Hòa Thượng là bậc
đại Thiện Tri Thức vì sao lại còn quét đất? Tổ Châu
nói rằng:
- Bụi từ ngoài đến.
Tăng hỏi:
- Đã là chốn Già Lam
trong sạch, làm sao có bụi? Tổ Châu nói:
- Lại một hạt bụi nữa
kìa. Ngài Triệu Châu, ánh sáng con mắt Ngài soi nát
bốn châu thiên hạ, biện rõ nghĩa Khách Trần, chẻ vào
thấu cái nhỏ nhiệm. Nếu ở chỗ này mà soi ra được
rành rẽ, thì quả thật là vị Sa Di có chủ, ở đời
chẳng nhiễm, chứ đâu chỉ được mang tiếng là Giải.
Kinh:
- Khi ấy, Đức Như Lai
ở giữa đại chúng nắm năm ngón tay lại. Nắm rồi lại
mở, mở rồi lại nắm. Rồi hỏi Ông A Nan rằng:
- Nay ông thấy gì?
Ông A Nan đáp:
- Tôi thấy bàn tay
Bách Bảo Luân của Như Lai ở giữa đại chúng lúc mở
lúc nắm. Phật bảo Ông A Nan:
- Ông thấy tay ta ở
giữa đại chúng khi mở khi nắm, đó là tay ta có mở có
nắm hay là cái Thấy của ông có mở có nắm?
Ông A Nan thưa:
- Bàn tay báu của
Phật ở giữa đại chúng khi mở khi nắm. Tôi thấy bàn
tay Như Lai tự mở tự nắm, chẳng phải cái Tánh Thấy
của tôi có mở có nắm.
Phật bảo:
- Cái gì Động, cái gì
Tĩnh?
Ông A Nan thưa:
- Bàn tay Phật không
ở yên, chứ Tánh Thấy của tôi còn không có tĩnh, lấy
gì gọi là không ở yên được?
Phật dạy:
- Đúng thế.
Thông rằng: Ông Kiều
Trần Na nhờ ngộ hai chữ Khách Trần, chỉ rõ biết được
cái bờ mé của phiền não. Đức Thế Tôn ắt chỉ ngay
(Trực Chỉ) cái Bồ Đề mà nói. Trước hết là ở nơi
ngoại cảnh mà biện rõ cái Chân Tánh. Cảnh có nắm mở
mà cái Thấy thì không động hay tĩnh, đây là chỗ
người ta dễ biết. Đức Thế Tôn nhân cái chỗ dễ biết
đó mà dẫn dắt. Quả nhiên, Ông A Nan tin là cái tay
có nắm có mở, còn cái Thấy không có nắm mở, mà
nói:Tánh Thấy của tôi còn không có cả cái tĩnh, lấy
gì gọi là không ở yên?
Tìm tướng động tĩnh
tuyệt chẳng thể được. Cũng gần thấy được vị chủ nhân
thường trụ rồi. Nếu không phải là sự thức tỉnh vi
diệu của Thế Tôn làm sao được như vậy.
Xưa, có Ngài Tây
Đường hỏi Tổ Bá Trượng:
-Về sau, ông làm sao
khai thị cho người?
Tổ Trượng dùng tay mở
nắm lại hai lượt.
Ngài Tây Đường hỏi:
- Lại làm cái gì?
Tổ Trượng lấy ngón
tay điểm ba cái.
Thử nói cái hiển dụng
như thế của Tổ Bá Trượng là hợp với cơ phong của
Lăng Nghiêm hay không, hay là có đạo lý gì khác?
Lại như Hòa Thượng
Câu Chi, thuở mới trụ am, có vị ni tên là Thực Tế
đến am, đi thẳng vào chẳng hề cất nón, cầm tích
trượng đi quanh thiền sàng ba vòng, rồi bảo:
- Nói được thì bỏ
nón. Hỏi vậy ba lần, thầy Câu Chi không có chỗ đáp
được. Vị ni bèn đi.
Thầy Câu Chi nói:
- Trời sắp tối rồi,
hãy nghĩ lại một đ
êm.
Ni sư nói rằng:
- Nói được thì ở lại.
Thầy Câu Chi lại không có chỗ đáp lại. Ni sư bèn đi.
Sư Câu Chi than rằng:
- Ta tuy có cái hình
tướng trượng phu mà không có khí phách của trượng
phu!
Bèn nổi lòng hăng tức
muốn rõ biết việc này, định bỏ am đi các nơi tham
hỏi.
Đêm ấy, vị thần Núi
bảo rằng:
- Chẳng nên lìa đây,
ngày mai sẽ có vị Bồ Tát xác phàm đến đây vì Hòa
Thượng nói pháp.
Hôm sau, Tổ Thiên
Long đến am, Ngài Câu Chi nghinh lễ rồi kể lại đầy
đủ câu chuyện. Tổ Thiên Long chỉ dựng đứng một ngón
tay mà khai thị cho. Ngài Câu Chi hoát nhiên đại
ngộ.
Từ đó về sau, hễ có
ai hỏi, Ngài chỉ dựng đứng một ngón tay. Khi sắp thị
tịch, Ngài nói với chúng rằng:
- Ta được nơi Ngài
Thiên Long một ngón tay Thiền, suốt đời dùng chẳng
hết. Có hội chăng? Rồi dựng lên một ngón tay mà
tịch.
Ngài Thiên Đồng tụng
rằng:
Lão Câu
Chi một ngón tay Thiền,
Hai mươi năm dùng mãi không cùng.
Tin có đạo nhân, nhiều phương thuật,
Rõ không tục vật, trước mắt nhìn.
Chỗ được quá giản dị,
Ban bày khắp rộng thay!
Đại thiên sát hải uống đầu lông,
Vô hạn rồng, lân vào tay kẻ?
Nhậm Công trân trọng nắm cần câu.
Ngài Tuyết Đậu tụng rằng:
Rất khen, thương lắm lão Câu Chi,
Vũ trụ xưa nay chẳng có gì.
Từng hướng đại dương buông gỗ nổi,
Sóng đ
êm
khúc gỗ tiếp rùa đui.
Kinh Pháp Hoa:
- Như con rùa một mắt
gặp lỗ bộng của khúc gỗ trôi nổi, không bị nạn chết
chìm. Đức Thế Tôn từ lúc mở nắm ngón tay cho đến
đây, không chỗ nào là không chỉ bày Tri Kiến của
Phật, khiến người được chỗ yên ổn. Sao lại chẳng bắt
chước cái kế của con rùa đui?
Kinh:
- Lúc ấy, Như Lai từ
trong bàn tay phát ra một đạo hào quang báu qua bên
phải Ông A Nan, Ông A Nan liền quay đầu trông qua
bên phải. Phật lại phóng ra một đạo hào quang qua
bên trái Ông A Nan, Ông A Nan lại quay đầu trông qua
bên trái.
Phật bảo Ông A Nan:
- Hôm nay đầu ông vì
sao dao động?
Ông A Nan thưa:
- Tôi thấy Như Lai
phát hào quang báu qua bên phải rồi qua bên trái,
nên tôi trông qua bên phải và bên trái, đầu tự dao
động.
- Ông A Nan, ông xem
hào quang của Phật mà dao động cái đầu qua phải qua
trái. Đó là
đầu
ông động hay là cái Thấy động?
- Thưa Thế Tôn, đầu
tôi tự động chứ Tánh Thấy của tôi thì dừng đứng còn
chẳng có, lấy gì mà dao động? Phật dạy:
- Đúng vậy. Thông
rằng: Đoạn này là ở trong thân mà biện rõ cái Chân
Tánh: "Đầu tự dao động, còn cái Thấy (Tâm Tánh)
không chỗ động". So với đoạn trước, tay tự nắm mở,
còn cái Thấy không có chỗ động thì lại càng vi mật.
Ở nơi thân của một người, có thấy động tức là
đầu
động, làm sao nói được là
đầu
tự động lay mà cái Thấy thì không động? Cái tùy theo
đầu mà có phải có trái ấy là "Tình Kiến". Cái chẳng
theo đầu mà có động có tĩnh là "Chân Kiến" (cái Thật
Tánh). Tình Kiến thuộc Thức, nên có khởi có diệt.
Chân Kiến thuộc Tánh, vốn không làm, không dừng lại.
Làm sao nghiệm chuyện này? Đầu có động, có tĩnh thì
có thể thấy được, cái Thấy không có động tĩnh để có
thể chỉ ra. Bởi thế, nên biết cái không có động tĩnh
để chỉ ra được, đó là Chân Kiến.
Trước đây, Ông A Nan
chấp Thức làm Tâm, chỉ biết Tình Kiến mà cho là cái
Thấy. Nay nhờ phương tiện chỉ dạy của Như Lai, cái
Trí Sáng tạm hiện ra, mới tin hiểu đầu tự dao động
còn cái Thấy thì không chỗ động. "Cái Tánh Thấy vốn
chẳng động này, thì động cũng như thế, tĩnh cũng như
thế"; "khi thấy chẳng phải có, khi không thấy chẳng
phải là không, trong ấy còn không có cái ngừng yên,
có gì mà dao động". Đó là cái "Thể Không Tịch Ly
Trần" vậy. Ông A Nan đối theo đây mà biết Tánh đó
vậy. Đã nói là biết Tánh, sao còn lắm thứ đa nghi?
Ấy vì Ông A Nan nhờ Phật đưa bàn tay ra, rồi phóng
ánh sáng, lại nắm mở bàn tay, so sánh với đầu dao
động. Cái Thấy bàn tay nắm mở không động, cái Thấy
của đầu day qua phải qua trái cũng không động. Đây
là cái biết do suy nghĩ đo lường chứ không phải là
sự nhiệm mầu của tự mình tỏ ngộ. "Theo cửa mà vào,
chẳng phải của báu trong nhà”, ở đây lại càng rõ
ràng tin hiểu.
Thiền sư Vô Nghiệp
ban đầu ra mắt Đức Mã Tổ, bạch hỏi rằng:
Văn học của Tam Thừa
đã nghiên cứu sơ lược ý chỉ. Từng nghe Thiền Tông
nói: Tức Tâm là Phật, thật chưa hiểu được.
Đức Mã Tổ nói:
- Chỉ cái tâm chưa
hiểu đó là phải (tức thị), ngoài ra không có vật nào
khác. Sư Nghiệp hỏi:
- Thế nào là mật
truyền tâm ấn của Tổ Sư từ Tây sang?
Đức Mã Tổ nói:
- Đại Đức đang ồn ào
không ở yên ở trong ấy, hãy đi, khi khác đến.
Sư Nghiệp vừa đi ra,
Đức Tổ gọi:
- Đại Đức! Sư Nghiệp
quay đầu lại.
Ngài Mã Tổ nói:
- Đó là cái gì?
Sư Nghiệp liền lãnh
ngộ, bèn lễ bái. Ngài nói rằng:
- Cái gã ngu này, lễ
bái làm chi vậy?
Lại có thiền sư Ngũ
Duệ Linh Mặc từ xa đến ra mắt Ngài Thạch Đầu, rồi
hỏi:
-Một lời hợp nhau thì
ở, chẳng hợp thì đi.
Tổ Đầu cứ ngồi. Sư
Duệ bèn đi.
Tổ Đầu theo sau, gọi:
- Xà Lê!
Sư Duệ quay đầu lại.
Tổ Đầu nói:
- Từ sanh đến tử, chỉ
là cái Ấy, quay đầu chuyển não làm gì!
Sư Duệ ngay dưới câu
nói đại ngộ, bèn bẻ ném cây trụ trượng mà ở lại.
Hãy nói hai Ngài Vô
Nghiệp và Ngũ Duệ quay đầu, chuyển não thì liền ngộ,
so với Ông A Nan là nhiều, ít?
Kinh:
Lúc bấy giờ Như Lai
bảo với cả đại chúng:
- Như các chúng sanh
lấy cái dao động mà gọi là Trần, lấy cái không ở yên
mà gọi là Khách, thì các ông hãy xem Ông A Nan: "Đầu
tự dao động mà cái Thấy không có chỗ động"; "lại hãy
xem bàn tay Ta tự mở tự nắm mà cái Thấy không duỗi
không co." Cớ sao các ông hiện nay lại lấy cái động
làm thân, lấy cái động làm cảnh, từ đầu đến cuối
niệm niệm sanh diệt, bỏ mất Chân Tánh, làm việc điên
đảo, mất chỗ Chân Thật, nhận Vật làm Mình, luân hồi
trong ấy, tự mình chọn lấy sự trôi nổi đổi thay?
Thông rằng: Bàn tay
của Phật chẳng dừng trụ, mà Tánh Thấy thường trụ, đó
là "Chủ Nhân" ông chân thật. Đầu tự dao động, "Tánh
Thấy không động, thật là cái Thể Chơn Không." Nay
chẳng nhận Chủ mà nhận Khách, chẳng nhận cái Không
mà nhận cái Trần, há chẳng phải là làm chuyện điên
đảo hay sao? Cũng vì niệm niệm sanh diệt, phiền não
nối nhau, đến nỗi bỏ mất Chân Tánh, chẳng nên đạo Bồ
Đề, là do Khách Trần mê hoặc mới đến nỗi như thế.
Kinh Viên Giác nói:
- Lầm nhận bốn Đại
làm thân tướng của mình, bóng dáng sáu Trần duyên
ảnh làm tâm tướng của mình". Chính là chỗ ở đây nói:
Lấy cái động làm thân, lấy cái động làm cảnh, nhận
vật làm mình. Đã nhận cái vọng động chạy theo cảnh
đó làm Tự Tâm, thì cái Chân Tâm Bất Động bèn mê
trong cái trôi lăn, nên gọi là Bỏ Mất chứ chẳng phải
nói Bỏ Mất là không hiện còn vậy. Giống như nước đã
thành băng, tánh nước biến mất.
Đoạn trước, nói: Hay
sanh cái duyên, nhưng duyên theo cái Sở nên bỏ mất.
Bỏ mất cái Vốn Tự Sáng này, tuy suốt ngày dùng mà
chẳng tự giác, uổng oan sa vào các nẻo. Như thế thì
làm sao mà ra khỏi sanh tử? Cho nên nói: Luân hồi
xoay chuyển trong đó, tự chọn giữ lấy cái trôi nổi
xoay vần.
Trước, nói: Tất cả
chúng sanh từ vô thủy đến nay, sanh tử nối nhau, đều
do không biết cái: Chân Tâm Thường Trụ, Tánh Thể
Sáng Sạch. Dùng các vọng tưởng, những tưởng này
chẳng chân thật nên có luân chuyển. Chính là nói chỗ
này.
Xưa, Tổ Động Sơn hỏi
một vị tăng:
- Ông tên gì?
Đáp:
- Tôi đây.
Tổ Sơn hỏi:
- Vậy cái gì là Chủ
Nhơn Ông của thầy Xà Lê?
Đáp:
- Cái Thấy đối diện.
Tổ Sơn rằng:
- Khổ thay, khổ thay!
Người đời nay hết thảy đều như thế này. Chỉ nhận ra
lừa trước, ngựa sau đấy thôi mà lấy làm cái Chính
Mình. Phật Pháp chìm đắm là do đó vậy. Chủ trong
Khách( ) còn chưa phân biệt được, làm sao phân biệt
nổi Ông Chủ trong Chủ (Chủ trung Chủ).
Vị tăng liền hỏi:
- Như sao là Chủ
trong Chủ?
Tổ Sơn nói:
- Thầy Xà Lê tự nói
lấy.
Vị tăng đáp:
- Tôi mà nói được thì
đó là Chủ trong Khách, còn như thế nào là Chủ trong
Chủ?
Tổ Sơn nói rằng:
- Nói ra thì dễ biết
bao, mà tương tục nối nhau thì quá khó!
Bèn khai thị bằng bài
tụng:
Ôi thấy
đời nay học đạo đông.
Ngàn ngàn vạn vạn nhận cửa ngoài,
Cũng tợ vào kinh chầu Vua Thánh Chúa,
Chỉ đến cửa triều đã vội ngừng.
Do đây mà xét, thật Thức Tình Phân Biệt mà so với
cái Kiến Tinh Bất Động hãy còn cách xa mấy dặm
đường, mà cái Kiến Tinh Bất Động so với Chân Tánh
Tịch Thường vẫn còn phải tự mình biện biệt. Như đoạn
kinh sau nói: Thấy do lìa Thấy, cái Thấy không bì
kịp, thì cơ hồ đã vượt cửa triều mà thấy Vua rồi đó.