KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN I
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG
CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN TÂM
MỤC MỘT: GẠN
HỎI CÁI TÂM
IV - CHẤP TÂM NÚP SAU CON MẮT
Kinh: Ông A Nan bạch Phật:
- Thưa Thế Tôn, như
lời Phật dạy: Vì không thấy bên trong thân, nên tâm
không ở trong thân. Vì thân và tâm cùng biết một
lần, không thể rời nhau nên tâm không riêng ở ngoài
thân được. Nay tôi suy nghĩ, biết tâm ở một chỗ!
Phật bảo:
- Chỗ ấy ở đâu?
Ông A Nan bạch Phật:
- Cái tâm Hay Biết ấy
đã không biết bên trong mà lại thấy bên ngoài. Theo
như tôi xét nghĩ, thì nó nấp sau con mắt. Ví như có
người lấy chén lưu ly úp vào hai con mắt, con mắt
tuy là có vật úp vào nhưng không bị trở ngại, con
mắt ấy vừa thấy thì liền phân biệt được ngay. Cái
tâm hay biết của tôi không thấy bên trong là vì tâm
ấy ở nơi con mắt; nhưng lại thấy bên ngoài rõ ràng
không ngăn ngại, vì tâm nấp sau con mắt.
Phật bảo Ông A Nan:
- Theo chỗ ông nói:
Tâm nấp sau con mắt như con mắt nấp sau chén lưu ly.
Vậy thì người kia đang khi lấy chén lưu ly úp vào
hai mắt, trông thấy núi sông thì có trông thấy chén
lưu ly không?
- Thưa Thế Tôn, đúng
thế, người ấy đương khi lấy chén lưu ly úp vào hai
con mắt thật có thấy chén lưu ly. Phật bảo Ông A
Nan:
- Nếu tâm ông nấp sau
con mắt như con mắt nấp sau chén lưu ly, thì khi
trông thấy núi sông sao không trông thấy con mắt?
Nếu thấy con mắt, thì con mắt cũng là ngoại cảnh,
không thể mắt liền thấy mà tâm liền biết được. Nếu
không thấy được con mắt, thì sao lại nói rằng tâm
nấp sau con mắt như con mắt nấp sau chén lưu ly?
Vậy, nên biết rằng ông nói cái tâm Hay Biết nấp sau
con mắt như con mắt nấp sau chén lưu ly, thật không
đúng vậy.
Thông rằng: Luận Bát
Thức Quy Củ nói: Kẻ ngu khó phân biệt được Căn và
Thức. Vậy thì Căn và Thức khó phân biệt từ xưa rồi.
Nếu nói: Căn chẳng phải là Thức thì Căn tự là Căn,
Thức tự là Thức. Thức thường thấy cái Căn. Nếu nói:
Căn tức là Thức, thì người chết kia, con mắt cũng
hiện còn, tại sao chẳng thấy. Cho nên biết rằng năm
Căn chỉ là vật sắc trong suốt soi cảnh vật mà thôi,
còn Thức thì hiểu biết phân biệt. Chủng Tử và Hiện
Hành của hai thứ huân tập chẳng giống nhau. Năm Căn
tức là sắc pháp, là Tướng Phần của Thức Thứ Tám, đủ
cả hai nghĩa Chấp (Giữ) và Thọ (Lãnh), có tánh vô ký
và trắng sạch suốt.
Năm Thức thuộc về tâm
pháp, tức là Kiến Phần của Thức Thứ Tám, đủ cả ba
Tánh (Thiện, Ác, Vô Ký), hay hiểu biết rõ ràng gọi
là Tánh Cảnh thuộc về Hiện Lượng, nên Luận nói: Tánh
Cảnh, Hiện Lượng thông ba tánh. Đến Thức Thứ Sáu mới
có Phân Biệt, thuộc về Tỷ Lượng, Phi Lượng. Đây là
chỗ phân biệt giữa Căn và Thức.
Ông A Nan nói rằng:
Căn ấy vừa thấy liền phân biệt ngay, là
đúng.
Nhưng nói tiếp: Cái tâm nấp ở trong Căn như chén lưu
ly úp lên mắt, thì sai. Vì, nếu quả như khi chén lưu
ly úp lên mắt, thì mắt thấy núi sông cũng thấy được
chén lưu ly, cũng thế, tâm khi thấy núi sông, cũng
phải thấy con mắt. Nay tâm chẳng thấy con mắt, tức
là rõ ràng tâm chẳng phải ngầm ẩn trong con mắt. Ví
dụ để so sánh của ông chẳng chân thật, chính thuộc
Phi Lượng.Xét chỗ chỉ bày của Ông A Nan thì cái tâm
Tri Giác chỉ là sáu Thức Phân Biệt vậy. Sáu Thức này
do đâu khởi ra? Đó là do sự truyền tống, chuyển đưa
của Thức Thứ Bảy và do sự hàm tàng, chứa giữ của
Thức Thứ Tám. Dầu cho sự phân biệt dễ bỏ, mà Hành Ấm
khó trừ. Dầu cho Hành Ấm dễ tiêu, mà chủng tử khó
chuyển hóa.
Nay đối với sáu Thức
Phân Biệt mà Ông A Nan còn chưa biết chỗ ở của
chúng, huống hồ lại biết được cái Thức Thứ Bảy và
Thức Thứ Tám? Chỗ ở còn không biết, nói gì đến
chuyện đem binh đi đánh dẹp?
Kinh này mới đầu phá
hang ổ của sáu Thức, nên mới có bảy chỗ trưng bày
của Tâm. Sau cùng công kích các cơ quan đầu não của
Thức Thứ Tám, cho đến lúc Thức Ấm hết sạch. Đây là
đại
lược việc chuyển Thức thành Trí. Văn sau của kinh
nói rằng: Tuy để được Sáu tiêu hết, dường còn chưa
mất cái Một. Đến khi Một, Sáu đều tiêu, rồi không
chỗ dựa, mới nhìn lại cái đoạn “Nấp trong con mắt
giống như lấy chén lưu ly mà úp” này, lại không phát
ra một tiếng cười lớn hay sao! Tuy nhiên, nếu khéo
thí dụ, thì không gì mà chẳng được!
Xưa, Trung Ấp Hồng
thiền sư, có Ngài Ngưỡng Sơn đến tạ ơn truyền Giới,
xong rồi hỏi rằng:
- Cái nghĩa Phật Tánh
như thế nào? Tổ Ấp đáp:
- Tôi sẽ nói một ví
dụ cho ông: Giống như cái nhà có sáu cửa sổ, trong
ấy có nhốt một con khỉ lớn, ở ngoài có con khỉ lớn
kêu rằng “Đười ươi”, thì con ở trong liền ứng đáp. Y
vậy, cả sáu cửa đồng kêu vang, đồng ứng đáp.
Ngài Ngưỡng Sơn lễ tạ
rồi đứng lên thưa rằng:
- Nhờ ơn Hòa Thượng
thí dụ, không gì chẳng rõ. Lại còn có một sự: Nếu
con khỉ ở trong mê ngủ, con khỉ lớn ở ngoài muốn
cùng gặp nhau, thì làm sao?
Tổ Ấp bước xuống khỏi
chỗ ngồi, nắm tay Ngài Ngưỡng Sơn nhảy múa mà nói:
- Đười ươi cùng ông
gặp nhau rồi đó. Ví như con tò vò làm tổ trên lông
nheo con muỗi, hướng về ngã tư đường mà hô hoán
rằng: Đất rộng người thưa, tương phùng ấy ít.
Tổ Vân Cư Tích nói
rằng:
- Khi ấy mà Trung Ấp
không được một lời nói ấy của Ngưỡng Sơn, thì làm gì
có Trung Ấp! Tổ Trung Thọ Trù nói:
- Có người nào định
được đạo lý này chăng? Nếu định chẳng được thì chỉ
là kẻ bắt tay chơn của tinh hồn làm trò hý lộng.
Nghĩa Phật Tánh ở tại chỗ nào?
Thiền sư Huyền Giác
nói:
- Nếu chẳng phải là
Ngưỡng Sơn, làm sao được thấy Trung Ấp. Hãy nói đâu
là chỗ Ngưỡng Sơn được gặp Trung Ấp?
Tổ Thiên Đồng tụng
rằng:
Nhà tuyết
ngũ vùi năm sắp hết,
Cửa rêu đ
êm
chẳng mở, thâm u.
Vườn rừng khô lạnh xem biến đổi,
Gió xuân thổi dậy luật Đồng Khôi.
Bài tụng này rõ ràng ca ngợi chỗ ngủ của Ngài Ngưỡng
Sơn, chẳng đọa vào sự khô chết. Đó tức là chỗ Ngài
Trung Ấp và Ngưỡng Sơn gặp nhau, quả là cái cảnh
giới Một, Sáu điều tiêu, nhưng cái chuyện “Vườn rừng
biến thái như luật Đồng Khôi” với lại “Tay chân tinh
hồn” thì khác nhau biết bao!