KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN I
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG
CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN TÂM
MỤC MỘT: GẠN
HỎI CÁI TÂM
II - CHẤP TÂM Ở TRONG THÂN
Kinh:
Ông A Nan bạch với
Phật:
- Thưa Thế Tôn, tất
cả mười loài chúng sanh ở thế gian đều cho cái Thức
Tâm Hay Biết là ở trong thân. Thiết nghĩ, thì con
mắt như hoa sen xanh của Như Lai cũng ở trên mặt
Phật. Nay tôi thấy con mắt vật chất của tôi cũng ở
trên mặt tôi. Như vậy thì cái Thức Tâm thật ở trong
Thân.
Phật bảo Ông A Nan:
- Hiện nay ông ngồi
trong giảng đường của Như Lai. Ông hãy xem rừng Kỳ
Đà ở đâu?
- Thưa Thế Tôn, giảng
đường cao lớn thanh tịnh này ở trong vườn Cấp Cô
Độc, còn rừng Kỳ Đà hiện thật ở ngoài giảng đường.
- A Nan, nay ông ở
trong giảng đường, thì ông thấy cái gì trước tiên?
- Thưa Thế Tôn, tôi ở
trong giảng đường, trước hết là thấy Như Lai, sau đó
là
đại
chúng, rồi nhìn ra ngoài thấy vườn rừng.
- A Nan, do đâu ông
thấy được vườn rừng?
- Thưa Thế Tôn, do
các cửa giảng đường mở rộng, nên tôi ở trong này mà
thấy được ra ngoài xa. Thông rằng: Phù Căn Tứ Trần
cũng giống như sáu Căn, đây chỉ về Nhãn Căn mà thôi.
Đất, Nước, Lửa, Gió: Tánh chúng xưa nay vốn trong
sạch; mà Tướng của Đất, Nước, Lửa, Gió mỗi mỗi đều
dao động như bụi bặm, gọi là Trần. Khi sáu Căn tạo
thành thì nương theo tứ Trần này: Sáu Căn chìm vào
trong, bốn Đại trôi nổi ở bên ngoài, cho nên gọi là
Phù Căn Tứ Trần. Với cả mười loài, Thức Tâm đều ở
trong, mắt ở trên mặt thì không nói cũng biết rồi.
Con mắt của Như Lai ở trên mặt, nhưng không dám xác
quyết Thức Tâm là ở trong, vì Như Lai đã rời lìa cái
Thức rồi, vì cái Pháp Thân thì tròn đầy không có
trong hay ngoài vậy. A Nan nói ra thật đắn đo, mà
người dịch cũng cẩn thận. Thế Tôn muốn bày rõ cái
nghĩa: Tâm chẳng ở trong, nên trước hết lấy giảng
đường, rừng vườn, cửa nẻo làm ví dụ. Giảng đường ví
như trong thân, vườn rừng ví như ngoại vật, cửa nẻo
ví như lục căn. Nếu Ông A Nan là người tỏ suốt, thấy
được con người đích thực của A Nan, vốn chẳng thuộc
giảng đường, chẳng thuộc vườn rừng, chẳng thuộc cửa
nẻo, thì ông sẽ đến đi tự tại, không làm gì có trong
có ngoài. Nếu chấp chặt tâm này, lầm lạc cho là ở
trong Sắc Thân, lấy tạng phủ làm nhà nhốt kín, lấy
sáu căn làm cửa nẻo, ôm lấy ngoại cảnh làm vườn
rừng, rồi nghĩ rằng ngoài những thứ đó thì không có
chỗ an thân. Một mai, nhà hư cửa nát, cảnh đổi, cái
Thấy tiêu vong, thì còn chỗ nào để an được. Thế Tôn
tuy nương theo chỗ bình thường biện biệt thứ tự
trong ngoài, cũng chỉ rõ ràng sắc thân vốn như
huyễn, chẳng phải là chỗ để bám chấp được. Như giảng
đường, cửa cái, cửa sổ đối với ta chẳng có tương can
gì.
Ngài Trí Huy Thiền sư
trước khi tịch có bài kệ:
Ta có một
căn nhà,
Xây lợp bởi mẹ cha.
Tám mươi năm lui tới,
Gần đây rõ sắp hoại.
Sớm liệu dời nơi khác,
Nào có chuyện ghét thương.
Đợi lúc kia sập nát,
Đây kia không ngăn ngại.
Dịch:
Ngã hữu nhất gian xá,
Phụ mẫu vị tu cái.
Vãng lai bát thập niên,
Cận lai giác tổn hoài.
Tảo nghị di biệt xứ,
Sự thiệp hữu tắng ái.
Đãi tha tồi hủy thời,
Bỉ thử vô phòng ngại.
Rồi ngồi kiết già mà
đi.
Đó là thương ghét đều quên, đến đi không trở ngại,
cái Năng Kiến đã tiêu vong thì còn nói gì đến chuyện
trong ngoài nữa.
Kinh:
-Khi ấy, Đức Thế Tôn
ở giữa đại chúng, đưa cánh tay sắc vàng xoa đầu Ông
A Nan, dạy ông và
đại
chúng rằng:
Có Pháp Tam Ma Đề,
tên là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương, gồm đủ
muôn hạnh. Mười phương Như Lai, đều do một pháp môn
là con đường Diệu Trang Nghiêm ấy mà siêu xuất. Nay
ông hãy nghĩ kỹ!
Ông A Nan đảnh lễ,
kính vâng lời Phật dạy.
Thông rằng: Một pháp
môn siêu xuất này rõ ràng chỉ ra con đường Đốn Ngộ
cốt ở chỗ chuyển Thức thành Trí. Tinh thuần dùng Kim
Cang Càn Huệ mới có thể nói là con đường đạo Chân
Thật.
Sau này, trong kinh
có nói:
- Diệu Pháp này, vô
lượng Chư Phật trong hằng sa kiếp đời quá khứ, nhờ
khai ngộ cái tâm này mà
được
đạo Vô Thượng. Thức Ấm tận hết, thì ngay đây các Căn
của ông có thể dùng thay cho nhau được. Từ trong chỗ
dùng thay nhau đó mà có thể thấu vào Kim Cương Càn
Huệ của Bồ Tát. Cái Tâm thuần nhất tròn sáng ở trong
phát chiếu ra, như ngọc lưu ly trong sạch, ngậm mặt
trăng quý báu ở trong. Như vậy rồi vượt lên hàng
Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hành, Thập Hồi Hướng, Tứ
Gia Hạnh Tâm, đến chỗ tu hành của Kim Cương Thập Địa
Bồ Tát, đến địa vị Đẳng Giác Tròn Sáng, nhập vào cái
Biển Trang Nghiêm Mầu Nhiệm của Như Lai, tròn đầy
cái Đạo, quy về trong cái Vô Sở Đắc.
Đầu đuôi ứng nhau,
tất lấy việc siêu xuất Thức Ấm làm cái quy tắc rốt
ráo. Đức Thế Tôn thấu suốt rằng sự tiếp nối nhau của
sanh tử thế gian chỉ là sự tiếp nối nhau của mỗi mỗi
vọng tưởng, mê mờ chẳng hề biết quay trở lại. Thức
Ấm hết ráo, đó là Chân Tâm Thường Trụ, hiện bày
trước mắt, Thể Tánh trong sạch sáng soi, cùng Phật
không khác. Cho nên, phá được Thức Ấm, tức nhập Đốn
Môn. Ông A Nan tuy thông minh học rộng, rốt cuộc
chẳng ra khỏi thức tình phân biệt. Thức tình chưa
trừ, chỉ là ở chỗ “Có đắc”. Mà chứng Bồ Đề, chỉ ở
tại chỗ “Không đắc”. Cho nên, phần sau của kinh, nơi
bảy chỗ hiển bày cái Tâm, Ông A Nan mỗi mỗi cứ lấy
chỗ “Có đắc” mà tự trói, còn Thế Tôn thì thảy thảy
đều lấy chỗ “Không đắc” mà quét sạch.
Kinh Lăng Già nói:
- Có tướng để đắc là
Thức, không có tướng để đắc là Trí. Đây thật là Đốn
Môn liền chứng Bồ Đề vậy.
Đức Nhị Tổ Thần
Quang, chặt tay trước mặt Sơ Tổ Đạt Ma cầu xin pháp
môn: An Tâm.
Tổ nói:
- Đem cái tâm lại đây
ta an cho!
Ngài Thần Quang thưa:
- Tìm hết tâm rồi,
rốt là không thể đắc!
Sơ Tổ nói:
- Ta an tâm cho ông
rồi đó.
Nếu Ông A Nan có thể
tin được bảy chỗ trưng bày tâm đều bất khả đắc, thì
y bát đâu có riêng truyền cho Ông Ca Diếp!
Kinh:
- Phật bảo Ông A Nan.
Như lời ông nói: Ở giảng đường, do cửa mở rộng nên
ông thấy được vườn rừng ở xa. Liệu có chúng sanh nào
ở trong giảng đường, không thấy Như Lai mà lại thấy
được ngoài giảng đường không?
Ông A Nan thưa:
- Thưa Thế Tôn, ở
trong giảng đường không thấy Như Lai mà lại thấy
được rừng suối bên ngoài, thật không có lẽ đó.
Phật dạy:
- A Nan, ông cũng như
thế. Cái tâm linh của ông, hết thảy đều rõ biết. Nếu
hiện nay cái tâm rõ biết đó của ông thật ở trong
thân, thì trước hết nó phải rõ biết trong thân thể.
Vậy có chúng sanh nào, trước thấy bên trong thân rồi
sau mới thấy những vật ở bên ngoài không? Dầu không
thấy được tim, gan, tì, vị nhưng móng tay mọc, tóc
dài ra, gân chuyển, mạch nhảy, đúng ra phải rõ, sao
lại không biết? Đã không biết bên trong, làm sao
biết được bên ngoài? Vậy nên biết rằng ông nói cái
tâm hay rõ biết đó trụ ở thân, không có lẽ nào như
vậy.
Thông rằng: Do mắt
thấy mà tâm biết, chẳng rời căn trần, do bởi phía
trong mà biết phía ngoài, đó là cái thấy bình thường
thế tục. Đức Thế Tôn bèn ở nơi cái thấy thường tình
mà bác bỏ rằng: Đã không biết phía trong làm sao ở
phía trong? Tuy người có Trí cũng phải khuất phục
bởi lý luận này. Thật ra, tim gan tì vị, không gì mà
chẳng biết rõ. Móng tóc gân mạch, không gì mà chẳng
hay. Nếu không hay biết, thì hóa ra chỉ là một vật ù
lì vậy sao?
Ngài Phó Đại Sĩ có
bài kệ:
Đêm đ
êm
ôm Phật ngủ,
Sáng sáng cùng Phật dậy.
Đứng ngồi vẫn theo nhau,
Nói nín đồng vừa vặn.
Mảy tơ chẳng lìa nhau,
Tương tự như hình, bóng.
Muốn biết chỗ Phật ở,
Lời nói âm thanh đó.
Dịch:
Dạ dạ bảo Phật miên,
Triêu triêu hoàn cọng khởi.
Khởi tọa trấn tương tùy,
Ngữ mặc đồng cư chỉ.
Túng hào bất tương ly,
Như thân ảnh tương tự.
Dục thức Phật khứ xứ,
Chỉ giá ngữ thanh thị.
Theo lời nói này đây, thì nói rằng: Cái tâm rõ biết
ở trong Thân, cũng chẳng phải là không đúng!
Ngài Vân Môn nói
rằng:
- Luận Bảo Tạng nói:
- Trong trời đất,
giữa vũ trụ, có một vật báu, ẩn tại Non Hình (thân
thể). Cầm lồng đ
èn
hướng vào trong Phật điện, đem ba cửa đến để trên
lồng đ
èn,
để làm gì?
Ngài tự thay thế mà
nói:
- Theo vật, ý dời.
Lại nói:
- Mây nổi sấm động.
Ngài Tuyết Đậu tụng
rằng:
Xem đi,
Bến cổ ai kia nắm cần câu.
Mây trùng trùng, nước mênh mông,
Trăng sáng, bông lau, anh tự thấy!
Đoạn công án này nói cái: Năng Tri Tỏ Biết và cái
Bổn Giác Tròn Sáng, rất dễ lẫn lộn, cũng tương tợ
như trăng sáng và bông lau, nên cần soi xét phân
biệt. Nếu soi xét phân biệt ra được, thì không chỉ
lồng đ
èn
và lộ trụ, mà còn đốn triệt được Tâm Tông của Tổ Vân
Môn, và cái vật báu trong thân cũng cùng với Tăng
Triệu khế hợp. Đâu phải là bọn ma mị tinh hồn giỡn
cợt tầm thường có thể mượn lời mà nói được.