KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN
I
PHẦN THỨ HAI: PHẦN
CHÁNH TÔNG
CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN TÂM
MỤC MỘT: GẠN
HỎI CÁI TÂM
I - NGUYÊN DO CỦA THƯỜNG TRỤ VÀ LƯU CHUYỂN
Kinh:
Phật bảo Ông A Nan:
- Ông với Ta đồng
phái, tình như anh em ruột. Khi ông mới phát tâm,
thì ở trong Phật Pháp, thấy tướng tốt gì mà bỏ được
những ân ái sâu nặng của thế gian?
Ông A Nan bạch Phật:
- Tôi thấy ba mươi
hai tướng của Như Lai tốt đẹp lạ thường, hình thể
sáng suốt như ngọc lưu ly. Thường tự suy nghĩ: Tướng
ấy không thể do Dục Ái sanh ra. Vì sao? Thứ dâm dục
nhơ nhớp, tanh hôi kết cấu, máu mủ xen lộn, làm sao
sanh được thân vàng chói trong sạch sáng ngời như
vậy, nên tôi khao khát ngưỡng mộ xuống tóc mà theo
Phật.
Thông rằng: Ông A Nan
nhờ có cái suy nghĩ này làm gốc rễ cho tâm đạo ban
đầu, nên khi gặp huyễn thuật, chẳng có quá đỗi hoa
mắt mê loạn, dù
đã
vào nhà dâm mà chưa phá hủy Giới Thể. Nhưng chỉ lấy
ba mươi hai tướng tốt mà thấy Như Lai, không khỏi
dùng Sắc mà thấy, lấy Tiếng mà cầu, nên còn trong tà
giải, đối với Chân Pháp Thân của Phật còn xa xôi
lắm.
Thiền sư Tùy Châu
Pháp Vi thượng đường rằng:
- Cái Pháp Thân không
có hình tướng, chẳng thể dùng âm thanh tìm cầu. Diệu
đạo tuyệt hết lời nói, đâu phải lấy văn tự mà hiểu.
Cho dù siêu Phật, vượt Tổ vẫn còn rơi vào thềm bực.
Dù cho có nói diệu, bàn huyền rốt cuộc cũng treo môi
răng. Cần phải: chỗ công đức chẳng hưởng chút công
lao, hình ảnh vết tích chẳng còn lưu lại; cây khô
hang lạnh rốt thảy vô tri; người huyễn ngựa gỗ, tình
thức đều không. Chừng ấy mới thỏng tay vào chợ,
chuyển thân loài khác. Không thấy đạo, thì: Nơi đất
vô lậu nào ở được. Đành về cát lạnh khói sương nằm.
Đối với chỗ này tỏ
hiểu thì nào phải đợi thấy cái thân vàng chói trong
sạch mới gọi là Như Lai ư?
Kinh:
Phật dạy:
- Lành thay, A Nan!
Các ông phải biết tất cả chúng sanh từ vô thủy đến
nay, sống chết nối nhau, đều do không biết cái Chân
Tâm Thường Trụ, Thể Tánh vốn trong sạch sáng suốt,
mà lại dùng các Vọng Tưởng. Các tưởng này chẳng chân
thật, nên mới có sự chuyển động trôi lăn. Thông
rằng: Ông A Nan ân cần, tha thiết thưa hỏi Pháp Môn
Vi Diệu Xa Ma Tha, Tam Ma, Thiền Na là những phương
tiện ban đầu nhờ đó mười phương Như Lai đắc thành
Chánh Giác. Chính là muốn biết cái Chân Tâm Thường
Trụ, Tánh Thể trong sạch sáng suốt, là cái Bản Thể
Bất Diệt không bị xoay chuyển luân hồi. Ông đã nói:
Tướng ấy chẳng phải do Ái Dục sanh ra, là
đã
hiểu rõ rằng Dục Ái nhơ nhớp, Vọng Tưởng tạp loạn
chính là cái gốc rễ Sanh Tử từ vô thủy đến giờ. Cho
nên Phật mới khen rằng:
- Lành thay! Cái Chân
Tâm Thường Trụ, vốn không sanh ra và diệt mất. Vừa
khởi Vọng Tưởng liền nhập luân hồi. Không phải chỉ
có Dục Ái nặng nề, nghiệp dữ đa mang đều chẳng phải
chơn, mà bậc Thanh Văn, Duyên Giác chưa hết lòng
chấp trước thì cũng đều là Vọng. Vọng tưởng hết sạch
thì Tánh Thể sáng suốt, vốn tự Vô Sanh, làm sao mà
có luân chuyển. Toàn cả bộ kinh đều phát minh ý chỉ
này. Cho nên, biết cái Chân Tâm Thường Trụ, tức là
Thấy Tánh, Thấy Tánh thì Vô Sự vậy.
Ngài Linh Vân thượng
đường dạy:
- Hỡi các nhân giả,
hễ có dài có ngắn là chẳng có Thường. Hãy xem bốn
mùa hoa cỏ, hoa nở lá rơi. Xưa nay trời người bảy
nẻo, Đất Nước Gió Lửa, thành hoại chuyển vần, nhân
quả nối nhau, ba đường ác khổ, mảy lông cọng tóc
chưa từng thêm bớt, chỉ có cái gốc thần thức là
thường còn. Hạng Thượng Căn gặp bạn lành soi sáng,
ngay đây là Giải Thoát, trước mắt là
đạo
tràng. Bực Trung, bực Hạ si mê ám độn, chẳng soi
suốt được, mê chìm trong ba cõi, luân chuyển tử
sinh. Đức Thích Tôn vì họ, tất cả Trời người, mà dạy
dỗ chứng minh, tỏ bày con đường Vô Thượng. Các ông
lại am hiểu chăng?
Có vị tăng hỏi:
- Làm sao để ra khỏi
Sanh Lão Bệnh Tử?
Ngài đáp:
Núi xanh
nguyên chẳng động,
Mặc tình mây qua lại.
Dịch:
Thanh sơn nguyên bất động,
Phù vân nhậm khứ lai.
Câu này đủ để chú thích đoạn kinh trên. Không thể
thêm bớt một chữ.
Kinh:
- Nay ông muốn học
đạo Bồ Đề Vô Thượng, phát minh Chơn Tánh thì phải
lấy Tâm Ngay Thẳng (Trực Tâm) mà trả lời chỗ Ta hỏi.
Mười phương Như Lai đồng một con đường mà ra khỏi
Sanh Tử đều là bởi Tâm Ngay Thẳng. Tâm mà nói là
Ngay Thẳng, tức là từ địa vị đầu tiên cho đến cuối
cùng, suốt trong khoảng giữa, cứ như thế, một mực
không có những tướng quanh co.
Thông rằng: Hiệp Luận
nói ở đây, đặc biệt là: Chân Phát Minh Tánh, vậy thì
cũng có "Vọng Phát Minh Tánh" sao? Có chứ. Làm sao
để phân biệt?
Đáp:
- Vô tâm tùy mặc xoay
vần mà khắp biết, vốn mầu nhiệm sáng soi mà hằng
vắng lặng, ấy là Chân Phát Minh Tánh.
Chỗ nói: Mười phương
Như Lai đều cùng một đường mà ra khỏi Sanh Tử đều do
Trực Tâm, là thế. Còn nghịch với thời tiết, bỏ lỡ
nhân duyên, lấy vọng tưởng mà gắng gượng hiểu biết,
là: Vọng Phát Minh Tánh.
Chỗ nói: Dùng các
vọng tưởng, vọng tưởng này chẳng chân thật nên có
luân hồi, chính là thế. Vốn là một Thể, nhưng bởi vì
không có tự tánh, không có thời gian, nên tùy chỗ
dùng mà có sai khác đó thôi. Tùy mặc xoay vần, hằng
hằng vắng lặng mà Hay Biết, ắt hợp với Bổn Tánh
nhiệm mầu. Nghịch thời lỡ duyên mà Biết, ắt hợp với
Trần Cảnh hư vọng.
Ngài Mã Minh dạy:
- Cái Bổn Tánh vốn
trong sạch, bởi vì Vô Minh bất giác mà hiện ra tướng
tâm ô nhiễm. Tuy có tâm ô nhiễm, Bổn Tánh vẫn thường
sáng suốt trong sạch. Cái tướng của tâm ô nhiễm là
Vô Minh đang hiện hành. Còn Bổn Tánh sáng sạch là
cái Trí Thể Bất Động.
Có vị tăng hỏi Tổ Vân
Am:
- Luận Tạp Hoa nói:
Cái vô minh đang hiện hành tức là Như Lai Bất Động
Trí. Điều này thật khó tin, làm sao hiểu được?
Khi ấy có một đồng tử
đang quét đất.
Tổ Am bèn gọi. Đồng
tử quay đầu lại.
Tổ Am nói:
- Chẳng phải là Bất
Động Trí đó sao?
Lại hỏi:
- Cái Phật Tánh của
ngươi như thế nào?
Đồng tử nhìn qua
trái, qua phải, như không vậy rồi bỏ đi.
Tổ Am nói:
- Chẳng phải là vô
minh hiện hành đó sao? Chân Phát Minh Tánh ấy, như
ánh sáng của hạt minh châu, thường tự soi hạt châu.
Đức Khổng Tử dạy: Không Nghĩ Quấy, là cũng gần giống
vậy. Còn Vọng Phát Minh Tánh thì ví như phương Đông
trời sắp sáng, trong khoảng lờ mờ, có chút bóng sắc.
Kinh Dịch nói: Chỗ Mờ
Tối Hỗn Tạp Mà Sáng. Là gần giống vậy.
Kinh: A Nan, nay Ta
hỏi ông:
- Đương khi ông do ba
mươi hai tướng của Như Lai mà phát tâm thì ông lấy
cái gì mà thấy và cái gì ưa thích?
Thông rằng: Đây là
chỗ từ từ dẫn dụ trước hết của Thế Tôn.
Đức Thế Tôn há chẳng
biết rằng: Sự Thấy thuộc về con mắt, ưa thích thuộc
về cái tâm, hay sao?
Nhưng cái Thấy Có đó,
là cái Thấy về hình tướng hữu vi. Cái "có chỗ ưa
thích" ấy, là cái ưa về hình tướng hữu vi. Nên hỏi
ai thấy, ai yêu, cốt để A Nan ngay lúc ấy nhận ra và
nắm lấy con người thực xưa nay của mình vậy. Nếu có
thể hồi quang phản chiếu, tìm cầu cái Thấy ấy, chợt
hiểu Bất Khả Đắc, hết thảy ưa muốn vốn chưa từng có
gốc rễ, tức thì nhập ngay vào Định Thủ Lăng Nghiêm.
Thế chẳng khoái sao? Về sau, nhà Thiền hay dùng cái
cơ chốt này.
Có nhà sư hỏi Tổ Bá
Trượng:
- Như sao là Phật?
Tổ Trượng hỏi:
- Ông đó là ai?
Đáp:
- Tôi đây vậy.
Tổ Trượng rằng:
- Ông biết cái Tôi đó
chăng?
Đáp:
- Rõ ràng vậy.
Tổ Trượng bèn dựng
đứng cây phất tử lên, rằng:
- Ông lại thấy chăng?
Đáp:
- Thấy.
Tổ Trượng bèn chẳng
thốt lời nào.
Chỗ hỏi của vị tăng
là Phật, mà Tổ Trượng lại chẳng nói gì đến Phật, chỉ
ở Chỗ Thấy của vị tăng mà nhắc nhở. Một tắc này, rõ
ràng bày tỏ được cái khuôn mẫu của Lăng Nghiêm.
Kinh:
A Nan bạch Phật:
- Thưa Thế Tôn, sự ưa
thích đó là dùng cái tâm và con mắt của tôi. Do mắt
thấy tướng tốt của Như Lai, tâm sinh ưa thích, nên
tôi phát tâm nguyện lìa bỏ sanh tử.
Phật bảo Ông A Nan:
- Như chỗ ông nói,
thật do tâm và con mắt mà có ưa thích. Nếu không
biết tâm và mắt ở đâu, thì chẳng dẹp được trần lao.
Ví như bậc quốc vương bị giặc xâm lăng, phát binh
đánh dẹp, thì binh ấy cần nhất phải biết chỗ ở của
kẻ giặc. Khiến ông bị luân hồi, thì tâm và mắt là
thủ phạm. Nay ta hỏi ông:
- Tâm và mắt ấy hiện
ở chỗ nào? Thông rằng: Chỗ hỏi của Thế Tôn là riêng
tỏ về chỗ Hướng Thượng Nhất Lộ. Nói: Lấy cái gì mà
thấy, lấy ai ưa thích, rõ ràng là chỉ thẳng mặt
trăng. Chỗ đáp của Ông A Nan chưa rời khỏi thường
tình, chỉ biết hợp theo Trần mà chẳng biết hợp với
Giác. Xoay lưng lại với Giác mà hiệp theo Trần, là
lỗi của ai? Sáu Giặc (sáu Căn) làm môi giới, tự cướp
lấy của báu nhà mình. Cho nên, chỗ Ông A Nan nói:
Tâm và Mắt, chỉ là Căn và Thức, lôi kéo theo trần
lao, lưu chuyển cùng sanh tử. Cái Thường Trụ Chân
Tâm như vua trong nước, vì bị giặc xâm lấn, nên vốn
trong sạch mà gọi là dơ, vốn sáng soi mà gọi là mờ
ám. Tâm và mắt thật là lũ giặc của Chân Tánh vậy. Do
đó, phải thấu đến cùng sào huyệt của chúng mà diệt
trừ. Nghịch dòng trôi lăn, giữ tròn Chân Tánh, Lục
Dụng (sáu Thức) chẳng hiện hành, mà phát ra sự sáng
rỡ trong sạch vốn có, sáu Căn đồng dùng thay lẫn cho
nhau, con mắt thịt do cha mẹ sanh ra thấy suốt mười
phương, thì còn đâu các lỗi bị lưu chuyển nữa!
Thiền sư Tử Hồ Tung
có đ
êm
la lớn:
- Có cướp! Có cướp!
Đệ tử choàng dậy
tranh nhau đuổi bắt. Ngài chụp lại một người, nói
rằng:
- Bắt được một tên
rồi.
Người đệ tử ấy nói:
- Không phải đâu,
chính là tôi đây.
Ngài buông ra nói
rằng:
- Chính là. Chỉ bởi
vì Chẳng Chịu Nhận Lấy đó thôi!
Cho nên, nếu chịu
nhận lấy thì giặc cướp tức là con cái. Chẳng thể
kham lấy, con cái trở lại làm giặc. Đoạn thuyết
thoại này đối với chuyện vị quốc vương đem binh trừ
giặc, thật là một phen hý lộng, riêng cho Bực Có
Mắt, đó thôi.