KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN I
DUYÊN KHỞI CỦA KINH
Kinh:
- Khi ấy, vua Ba Tư
Nặc nhân ngày kỵ (giỗ) phụ vương, mở tiệc chay mời
Phật thọ trai. Tự Ngài đứng nơi cung dịch nghinh
rước Đức Như Lai, dọn bày các món ăn quý báu, rồi
thân đến rước Phật và các vị Đại Bồ Tát. Trong thành
lại có các trưởng giả, cư sĩ cùng dự lễ Trai Tăng
chờ Phật đến chứng minh. Phật khiến Ngài Văn Thù
phân lãnh các vị Bồ Tát và A La Hán đi đến nhà các
trai chủ.
Duy có Ông A Nan
trước đã nhận lời mời riêng, đi xa chưa về, không
kịp dự hàng tăng chúng. Ông về một mình, không có
Thượng tọa hay A xà lê cùng đi, và ngày ấy cũng
không được ai cúng dường. Lúc bấy giờ, ông mang bình
bát vào trong một thành, trên đường đi tuần tự khất
thực. Ban đầu, trong lòng cầu được một người bố thí
tối hậu để làm trai chủ, không kể sang hèn, đều hành
tâm Từ bình đẳng. Phát tâm viên thành cho tất cả
chúng sanh được vô lượng công đức.
Ông A Nan đã biết đức
Phật quở ông Tu Bồ Đề và Ông Đại Ca Diếp làm bậc A
La Hán, mà tâm chẳng bình đẳng. Ông kính vâng lời
khai thị của Phật, lìa thoát mọi nghi báng. Đi đến
bên thành, thong thả vào cửa, nghiêm chỉnh oai nghi,
kính giữ phép hóa trai.
Thông rằng: Vua Ba Tư
Nặc cùng các vị trưởng giả, cư sĩ đồng thời cùng dự
lễ Trai Tăng, sao ân cần như vậy? Vì công đức Trai
Tăng rất lợi ích. Phật có thuyết cho Ông Cấp Cô Độc
về quả báo của bố thí: hoặc là bố thí nhiều mà quả
báo ít, hoặc là bố thí ít mà quả báo nhiều. Cúng
dường cho ngàn vị Phật, không bằng cúng dường cho
một vị Tịnh Hạnh. Cho đến cúng dường trăm ngàn vị
Phật không bằng cúng dường cho một Đạo Nhân Vô Tâm.
Kinh Bốn Mươi Hai
Chương nói rằng:
- Phật dạy: Cho một
trăm người ác ăn không bằng cho một người thiện ăn.
Cho một ngàn người thiện ăn không bằng cho một người
giữ Ngũ Giới ăn. Cho một vạn người giữ Ngũ Giới ăn
không bằng cúng dường một vị Tu Đà Hoàn. Cúng dường
một trăm vạn vị Tu Đà Hoàn không bằng cúng dường một
vị Tư Đà Hàm. Cúng dường một ngàn vạn vị Tư Đà Hàm
không bằng cúng dường một vị A Na Hàm. Cúng dường
một ức vị A Na Hàm không bằng cúng dường một vị A La
Hán. Cúng dường mười ức vị A La Hán không bằng cúng
dường một vị Bích Chi Phật. Cúng dường một trăm ức
vị Bích Chi Phật không bằng cúng dường ba đời Chư
Phật. Cúng dường ngàn ức ba đời Chư Phật không bằng
cúng dường cho một vị Không niệm, Không Trụ, Không
Tu, Không Chứng.
Đại lược hai đoạn
trên tương đồng với nhau.
Có vị sư hỏi Tổ Lạc
Phổ:
- Cúng dường trăm
ngàn vị Phật chẳng bằng cúng dường một vị đạo nhân
không tâm (Vô Tâm). Trăm ngàn chư Phật có lỗi gì?
Người đạo nhân Vô Tâm có đức gì? Tổ đáp:
- Một mảnh mây trắng
qua trước hang. Biết bao chim chóc lạc ổ về. Ngài
Đơn Hà tụng rằng:
Thập Đắc
bơ thờ không tỏ hiểu,
Hàn Sơn uể oải chẳng biết về.
Trước tiếng (thanh tiền) một câu viên âm đẹp,
Ngoài vật ba núi mảnh trăng soi.
Dịch:
Thập Đắc số dung phi giác hiểu,
Hàn Sơn lại đọa bất tư quy.
Thanh tiền nhất cú viên âm mỹ,
Vật ngoại tam sơn phiến nguyệt quy.
Câu ba: Viên Âm là tiếng vọng trải khắp mầu nhiệm,
thuộc ẩn. Câu bốn là hiển.
Đây là riêng tụng về
đạo nhân Vô Tâm đó vậy.
Ông Cam Chi hành giả
một ngày kia vào chỗ Ngài Nam Tuyền bày Trai cúng,
gặp Tổ Huỳnh Bá làm Thủ Tòa. Ông xin được bố thí
tiền của.
Tổ Bá nói:
- Tài Thí và Pháp Thí
đều không sai biệt.
Ông Cam Chi nói:
- Nói thế nào để tiêu
được cái của cúng của tôi? Bèn ra về.
Một lát, lại trở vào,
nói:
- Xin được thí tài.
Tổ Bá nói:
- Tài Thí và Pháp Thí
đều không sai biệt.
Ông Cam Chi bèn dâng
cúng. Lại một ngày nọ, ông vào chùa dọn cháo, xin Tổ
Nam Tuyền tụng niệm cho. Tổ Tuyền mới bạch chùy,
nói:
- Xin đại chúng vì
chồn, trâu già mà niệm: Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.
Ông Cam Chi bèn phất tay áo đi ra. Dùng cháo xong,
Tổ Tuyền hỏi thầy Điển Tòa:
- Hành giả đâu rồi?
Đáp:
- Liền khi nãy đi
rồi.
Tổ Tuyền bèn đập nát
cái nồi.
Ngài Sớ Sơn tụng
rằng:
Một mình
bày cháo khoe anh tuấn,
Nào hay vương lão lại phong lưu.
Đập tan nồi cháo bày vụng xấu,
Chồn với trâu già một lượt thâu.
Như Ông Cam Chi mới đáng gọi là có thể cúng dường
đạo nhân Vô Tâm vậy.
Hành khất có năm
nghĩa: Một là, trong chứng bình đẳng, ngoài không
thấy tướng giàu nghèo. Hai là, rời cái tâm tham lam
kiêu mạn ngã theo điều lợi. Ba là, có sức Đại Định,
chẳng có sợ các độc dữ của nhà gái dâm. Bốn là, lìa
bỏ sự nghi ghét của phàm phu. Năm là, phá chỗ phân
biệt của Nhị Thừa.
Đức Duy Ma Cật nói
rằng:
- Nơi ăn mà bình
đẳng, thì nơi pháp cũng bình đẳng. Chẳng luận sang
hèn, dơ sạch đều chứng Bồ Đề. Đó là viên thành vô
lượng công đức của tất cả chúng sanh. Ông Tu Bồ Đề
thì bỏ nghèo theo giàu. Ông Đại Ca Diếp thì bỏ giàu
theo nghèo. Thế tức là lòng Từ chẳng quân bình,
chẳng gọi là lòng Từ bình đẳng. Nhưng khi Ông A Nan
trong tâm vừa khởi niệm như thế, là
đã
rơi vào ý thức phân biệt, bèn thuộc về cái kế sanh
nhai của nhà quỷ, nên ma mới có cơ hội.
Làm sao sánh được với
sự hành khất như thế này: Thuở trước, có vị Hòa
Thượng, thường dùng gậy quảy một cái bao bố với cái
nệm rách. Bao nhiêu đồ dùng đều bỏ hết ráo trong cái
bao ấy. Vào chợ búa xóm làng, thấy vật gì thì xin.
Hoặc thịt chua cá mặn, vừa lấy thì bỏ vào miệng, còn
lại thì bỏ trong bao. Đời ấy người ta gọi là Trường
Đinh Tử. Một hôm, có vị tăng đi trước mặt, Sư bèn vỗ
vào lưng, vị tăng quay đầu lại. Sư nói:
- Cho ta một đồng
tiền.
Tăng nói:
- Nói được thì cho
ông một đồng tiền.
Sư bỏ cái bao bố
xuống, khoanh tay mà
đứng
sững. Lại một ngày nọ, Ngài đứng ở chợ. Có vị tăng
hỏi:
- Hòa Thượng tại
Trong Ấy làm cái gì? Ngài đáp:
- Đồng với: Con
Người.
Tăng rằng:
- Đến rồi vậy, đến
rồi vậy.
Ngài nói:
- Ông chẳng phải là
con người ấy đâu. Tăng hỏi:
- Thế nào là con
người đó?
Ngài đáp:
- Cho ta một đồng
tiền!
Ngài có bài kệ:
Một bát
cơm ngàn nhà,
Cô thân muôn dặm xa.
Mắt xanh, người ít thấy,
Mây trắng hỏi đường qua.
Dịch:
Nhất bát thiên gia phạn,
Cô thân vạn lý du.
Thanh mục đỗ nhân thiển,
Vấn lộ bạch vân đầu.
Nếu khế hợp được chỗ ấy, có thể nói là
được
Nghi Thức của Chư Phật vậy.
Một hôm, đức Phật bảo A Nan:
- Đã đến giờ, ông nên
vào thành đi trì bát.
A Nan vâng lời. Thế Tôn nói:
- Ông đã ôm giữ bát
thì phải y theo Nghi Thức của bảy vị Phật đời quá
khứ.
Ông A Nan mới hỏi:
- Như thế nào là Nghi
Thức của bảy vị Phật đời quá khứ? Thế Tôn gọi lớn:
- A Nan!
Ông A Nan ứng dạ.
Thế Tôn rằng:
- Ôm bát đi! Ôi, nếu
Ông A Nan sớm hiểu chỗ này, thì đâu có việc Ma Đăng
Già!
Kinh:
- Khi đi khất thực,
Ông A Nan đi qua nhà người dâm nữ Ma Đăng Già, bị
phép huyền thuật của cô ta, là tà chú Ta Tì Ca La
của ngoại đạo, bắt vào giường riêng dựa kề vuốt ve
làm cho ông gần phá giới thể.
Đức Như Lai biết Ông
A Nan mắc phải dâm thuật, dùng trai xong liền trở
về. Vua cùng đại thần, trưởng giả cư sĩ đều đi theo
Phật, mong được nghe Pháp yếu.
Khi ấy, trên đỉnh Thế
Tôn phóng ra ánh sáng rực rỡ Vô Úy, trong hào quang
hiện ra tòa sen báu nghìn cánh, trên có Hóa Thân của
Phật ngồi kiết già, tuyên thuyết thần chú khiến Ngài
Văn Thù Sư Lợi đem chú này đến giúp đỡ, tiêu diệt tà
chú rồi đưa Ông A Nan và nàng Ma Đăng Già về chỗ của
Phật.
Thông rằng: Bộ Hiệp
Luận nói Đức Phật thương xót chúng sanh bị trôi lăn
trong Tam Giới đều do mắc vào Dục. Trong các thứ
Dục, chỉ có cái Dâm Dục là nặng hơn hết, nên bộ kinh
này mở đầu bằng việc cô Ma Đăng Già. Để nhấn mạnh là
nếu bị chìm đắm vào đó là một hoạn nạn lớn, mà diệt
trừ được lại là một lợi ích lớn. Ví như chăn dê thì
đánh ở sau, nên hễ có cơ hội là răn nhủ cẩn thận.
Có vị tỳ kheo ni tên
là Bảo Hương, thọ Bồ Tát giới mà lại lén làm chuyện
dâm, lại nói xằng rằng Dâm Dục chẳng phải giết hại
hay trộm cắp nên chẳng có sự trả Nghiệp. Liền từ nữ
căn sanh ra ngọn lửa lớn rồi dần dần thiêu luôn cả
cơ thể, đọa vào Vô Gián địa ngục.
Còn Ngài Ô Sắc Ma thì
nghe Phật dạy rằng người đa dâm như đống lửa lớn,
nên tu mà hóa Tánh Dâm thành Hỏa Quang Tam Muội,
chứng quả A La Hán. Ngài nói rằng:
- Các phiền não đã
tiêu, sanh ra ngọn lửa quý báu, lên bậc Vô Thượng
Giác. Ôi! Vô Thượng Giác là
địa
vị Phật mà nhờ quán sát Dâm Tánh thì có thể lên
được! Địa ngục Vô Gián là
đường
dữ mà vì theo chuyện dâm nên đang còn sống mà
đã
bị đọa vào. Luận về mười loại Tập Nhân thì Dâm Tập
đứng đầu. Nói là Dâm Tập đứng đầu vì đó là sự giao
tiếp, phát sinh từ sự cọ xát, nên có ngọn lửa rất
mạnh phát ra ở bên trong. Cớ nên Phật bảo sự Hành
Dâm gọi là Lửa Dục. Sau mới đến những tội Tham Lam,
Kiêu Mạn. Trong Bộ Luật, nói về ba Nghĩa Quyết Định
Tu Hành, đó là nhiếp tâm làm Giới, nhân Giới sanh
Định, nhân Định sanh Huệ, gọi là ba Vô Lậu Học. Sự
đoạn trừ Sát, Đạo, Dâm, Vọng thì kinh này nói Đoạn
Dâm trước hết.
Lại nữa, Quán Thế Âm
Bồ Tát tự kể về ba mươi hai Ứng Thân thuyết pháp của
Ngài, nói rằng:
- Phạm Thiên Vương
nhờ Dục tâm được Minh Ngộ mà cùng với Phật, Bồ Tát,
Duyên Giác, Thanh Văn đồng gọi là Giải Thoát, còn
hai mươi tám hạng kia chỉ có tên thành tựu mà thôi.
Lại năm thứ Mùi Cay là thứ làm phát Dâm, tăng Oán
Giận nên dạy lập ba món Tiệm Thứ để đoạn trừ, gọi là
Tăng Tiến Đệ Nhất. Lại dạy rằng phải quán sát Dâm
Dục hơn cả rắn độc, nếu thành tựu được Cấm Giới thì
với con mắt thịt của cha mẹ sinh ra có thể thấy suốt
cả mười phương.
Đó là gặp cơ hội thì
dặn dò kỹ lưỡng vậy. Bộ Luận này quả đã uốn nắn cho
ngay ngắn toàn thể mạch lạc của kinh, dặn dò kỹ
lưỡng, tỏ liễu sâu xa chỗ mở dạy của bộ kinh mà lấy
việc dứt lìa cái Dâm Dục làm đầu, khiến cho người ta
sợ hãi đến dựng tóc gáy, lạnh xương sống. Tuy nhiên,
người chứng Thật Trí, thì thấy tất cả Thanh, Sắc đều
như huyễn như mộng, việc dữ kia chẳng có bóng dáng
nào cả ở trong ấy.
Kinh Bốn Mươi Hai
Chương nói:
- Người nhiều Ái Dục
như kẻ cầm đuốc đi ngược gió, tất phải bị cháy tay.
Thiên Thần dâng Ngọc Nữ để thử Phật, muốn xem đạo ý
Ngài ra sao.
Phật nói:
- Cái bao da chứa đồ
dơ kia đến đây làm gì. Hãy đi đi! Ta chẳng dùng đến.
Vị Thiên Thần rất kính trọng, thưa hỏi ý đạo. Phật
dạy cho, liền đắc quả Tu Đà Hoàn.
Lại còn Kinh Duy Ma
Cật có đoạn ông Xá Lợi Phất hỏi Thiên Nữ:
- Sao cô chẳng chuyển
thân nữ?
Thiên nữ đáp:
- Từ mười hai năm
nay, tôi tìm cầu hình tướng người nữ mà chẳng thể
được. Vậy thì phải chuyển cái gì? Ví như một nhà
huyễn thuật, tạo ra một người nữ huyễn.
Như có người hỏi cô
ấy:
- Sao cô không chuyển
thân nữ đi? Người ấy hỏi có đúng không?
Xá Lợi Phất trả lời:
- Không đúng! Huyễn
không có tướng nhất định, thì có gì mà chuyển.
Thiên Nữ nói:
- Tất cả Chư Phật
cũng lại như thế. Hết thảy đều không có định tướng,
tại sao lại hỏi không chuyển thân nữ?
Liền đó, Thiên Nữ
dùng thần thông biến Ông Xá Lợi Phất thành Thiên Nữ
và Thiên Nữ thì hóa thân thành như Xá Lợi Phất; rồi
hỏi rằng:
- Sao ông chẳng
chuyển thân nữ?
Ông Xá Lợi Phất trong
hình tướng thân nữ đáp rằng:
- Không hiểu sao tôi
lại biến thành thân nữ? Thiên Nữ nói:
- Nếu Ông Xá Lợi Phất
có thể chuyển thân nữ này, thì hết thảy người nữ
cũng có thể chuyển. Như Xá Lợi Phất chẳng phải là
người nữ mà lại hiện thân nữ, tất cả người nữ lại
cũng như thế, tuy hiện thân nữ mà chẳng phải là
người nữ.
Thế nên, đức Phật nói
rằng:
- Tất cả các pháp
chẳng phải nam, chẳng phải nữ. Thiên Nữ liền thu lại
thần lực, Ông Xá Lợi Phất trở lại như cũ. Thiên Nữ
bảo:
- Này, Ông Xá Lợi
Phất, sắc tướng thân nữ bây giờ ở đâu? Xá Lợi Phất
nói:
- Sắc tướng thân nữ
không có ở đâu mà không đâu chẳng có. Thiên Nữ nói:
- Tất cả các pháp lại
cũng như thế, không có ở đâu mà không đâu chẳng có.
Ôi! Thần lực của
Thiên Nữ có thể chuyển Ông Xá Lợi Phất, còn chú Tiên
Phạm Thiên chẳng thể hủy phá Giới Thể của Ông A Nan.
Nghĩa hai đoạn kinh có thể so sánh cho rõ ràng vậy.
Kinh:
- A Nan thấy Phật,
cúi lạy buồn khóc, căm hận mình từ vô thủy đến nay
một bề nghe rộng nhớ nhiều, chưa toàn đạo lực. Tha
thiết xin Phật dạy cho những Pháp Xa Ma Tha (Chỉ),
Tam Ma (Quán), Thiền Na (Thiền, Chỉ Quán Viên Tu) vi
diệu, là những phương tiện tu hành đầu tiên nhờ đó
mười phương Như Lai đắc thành Bồ Đề.
Lúc ấy, lại có hằng
sa Bồ Tát, Đại A La Hán và Bích Chi Phật, từ mười
phương đến, thảy đều mong nghe lời Phật dạy, lui về
chỗ ngồi, yên lặng lãnh thọ Thánh chỉ.
Thông rằng: Ông A Nan
phát ra lời hỏi đây, là cái xương sống của toàn bộ
kinh. Từ đầu đến cuối, Thế Tôn trả lời không bỏ sót
chỗ nào. Xa Ma Tha gọi là Chí Tĩnh, là Không Quán.
Tam Ma Bát Đề gọi là Lực Dụng Biến Hóa (Như Huyễn),
là Giả Quán. Thiền Na là Tịch Diệt, nghĩa là chẳng
giữ cái huyễn hóa cũng chẳng trụ tướng Tịnh, tức là
Trung Quán.
Kinh Viên Giác nói:
- Tịch tỉnh Xa Ma
Tha, như kính soi muôn tượng. Như Huyễn Tam Ma Đề,
như mầm giống dần dần tăng trưởng. Thiền Na là Tịch
Diệt, như tiếng vang trong chuông. Ba loại diệu Pháp
Môn gọi là Giác Tùy Thuận, nhờ chúng mà mười phương
Như Lai cùng chư Đại Bồ Tát được thành đạo. Viên
chứng được cả ba thứ là rốt ráo Niết Bàn.
Ông A Nan một bề nghe
nhiều học rộng, chứ nếu vẫn tu tập ba Pháp Môn này
thì đâu còn phải hỏi. Nay ông bị huyễn thuật ắt là
trước đây các công phu Quán Hạnh, Thiền Định đều
chẳng được gì, nên mới nghĩ mười phương Như Lai hẳn
phải có điều vi diệu về các thứ này.
Xét một chữ Diệu, tợ
hồ phảng phất thoáng thấy: nào phải mượn đến sự tu
hành khó nhọc lao khổ! Chỉ vì chẳng biết cái phương
tiện ban đầu hết là do Ngộ Nhập đó vậy.
Kinh Viên Giác cũng
có nói:
- Chỉ trừ bậc Đốn
Giác, thì không theo Pháp Môn. Vốn có một Pháp Môn
Đốn Ngộ, chỉ lấy việc Thấy Tánh (Kiến Tánh) làm
Tông. Cho nên, nếu thấy được Tánh, thì Vô Tâm đối
với Chỉ, Quán mà Chỉ Quán tự có sẵn. Không thấy
Tánh, tuy hằng ngày có tu Chỉ Quán cũng khó địch với
cảnh ma.
Chỉ có Thấy Tánh mới
được Diệu.
Đoạn kinh sau có nói
đến: Diệu Minh Chân Tâm, Biển Diệu Trang Nghiêm,
Diệu Minh Minh Diệu... đều để trả lời cho ý nghĩa
của chữ Diệu, mà chấm dứt bằng bài kệ:
Gọi đó
Diệu Liên Hoa,
Kim Cương Vương, Bảo Giác.
Như huyễn Tam Ma Đề,
Khẩy tay, vượt Vô Học.
Pháp này là Vô Thượng,
Một đường trực nhập Niết Bàn,
Của mười phương chư Phật.
Pháp Đốn Ngộ này, chẳng phải các loại Chỉ Quán,
Thiền Định tầm thường có thể so sánh.
Thuở xưa, Ngài Tuyết
Phong ba lần tham yết Tổ Đầu Tử, chín lần thưa hỏi
Tổ Động Sơn, cũng đã là bậc đa văn. Kế thế Tổ Đức
Sơn rồi, cùng Tổ Nham Đầu đến núi Ngao Sơn ở Lễ
Châu. Gặp lúc tuyết rơi, Tổ Đầu mỗi ngày chỉ lo ngủ,
còn Ngài Tuyết Phong cứ một mạch tọa thiền.
Một hôm, Ngài kêu lớn
rằng:
- Sư huynh, Sư huynh!
Dậy đi chớ!
Tổ Nham Đầu rằng:
- Làm cái gì? Ngài
đáp:
- Đời này chẳng lo
xong thì gặp cái lão Văn Thúy ấy sẽ bị lão trói đấy.
Ngày nay đã đến đây, vậy mà chỉ lo ngủ.
Tổ Nham Đầu hét to:
- Cây cột phướn, ngủ
đi! Hằng ngày cứ ngồi như ông Thổ Địa trong làng rồi
sau nầy đi làm nam nữ ma mị nhà người!
Ngài tự chỉ vào ngực
mà nói:
- Tôi đây trong cái
ấy chưa yên, chẳng dám tự dối mình.
Tổ Nham Đầu nói:
- Tôi sắp nói rằng
ngày sau ông sẽ hướng lên đỉnh núi trơ trụi trên
tảng đá kết thảo am, xiển dương đại giáo, sao ông
lại nói như thế?
Ngài nói:
- Tôi ở trong ấy quả
thật không yên. Tổ Nham Đầu nói:
- Nếu ông thật như
thế, thì cứ theo chỗ thấy của ông, mỗi mỗi nói ra
hết đi. Đúng, tôi sẽ chứng minh cho. Không đúng, tôi
sửa sang đẽo gọt cho.
Ngài nói:
- Mới đầu, tôi đến
tham yết Ngài Giám Quan, nghe buổi giảng nêu lên cái
nghĩa Sắc Không, bèn có chỗ vào.
Tổ Nham Đầu nói:
-Chuyện ấy đã ba mươi
năm rồi, rất kỵ nêu lại!
Ngài nói:
- Lại thấy bài kệ của
Tổ Động Sơn:
Rất kỵ tìm
nơi khác,
Mỗi mỗi càng cách xa.
Y nay chính là ta,
Ta giờ chẳng phải y.
Dịch:
Thiết kỵ tùng tha mích,
Điều điều dữ ngã sơ.
Cừ kim chính thị ngã,
Ngã kim bất thị cừ.
Tổ Nham Đầu nói:
- Nếu cho là như thế
thì tự cứu cũng chẳng xong.
Ngài lại nói:
- Sau đến hỏi Ngài
Đức Sơn: Việc xưa nay trong Tông Thừa người tu học
có được phần nào chăng?
Tổ Đức Sơn đánh cho
một gậy, mà rằng:
- Nói gì vậy? Khi ấy,
tôi như thùng vỡ đáy.
Tổ Nham Đầu hét to:
- Ông há chẳng nghe
nói: Từ cửa mà vào ắt chẳng phải là của báu nhà
mình, sao?
Ngài hỏi:
- Ngày sau như thế
nào mới phải?
Tổ Nham Đầu đáp:
- Ngày sau mà muốn
hoằng dương đại giáo, mỗi mỗi đều từ trong ngực mình
tuôn ra. Ngày sau hãy cùng ta mà trùm trời trùm đất
đi.
Ngài Tuyết Phong nghe
xong đại ngộ, bèn làm lễ, mừng rỡ la lên rằng:
- Sư huynh ơi, hôm
nay mới đúng là Ngao Sơn thành đạo.
Kỳ diệu thay, kỳ diệu
thay. Đâu phải cứ một bề ngồi thiền mà có được thứ
thoại đầu này!