KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Nhẫn Tế Thiền Sư
-o0o-
QUYỂN I
ĐẠI
PHẬT ĐẢNH, NHƯ LAI MẬT NHÂN, TU CHỨNG LIỄU NGHĨA,
CHƯ BỒ TÁT VẠN HẠNH, KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
Đời Đường, Ngài Bát Lạt
Mật Đế, sa môn xứ Thiên Trúc, dịch; Ngài Di Già
Thích Ca, Sa môn xứ Ô Trường, dịch ngữ. Trần Chánh
Nghị Đại Phu Phòng Dung, Bồ Tát Giới đệ tử chép.
Đời Minh, Bồ Tát Giới
đệ tử Tiền Phụng Huấn Đại Phu, Lễ Bộ Từ Tế Thanh Sử
Tư Viên Ngoại Lang, Nam Nhạc Tăng Phụng Nghi, Tông
Thông.
Thông rằng: Kinh này
tại sao lại đặt tên là Đại Phật Đảnh, Như Lai Mật
Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Thủ
Lăng Nghiêm?
Kinh chép:
- Khi ấy, Đức Văn Thù
Sư Lợi Pháp Vương Tử từ trong đại chúng, rời khỏi
chỗ ngồi, đảnh lễ chân Phật mà thưa rằng:
- Phải gọi kinh này
tên gì? Tôi cùng với chúng sanh làm thế nào phụng
trì? Phật dạy Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng:
- Kinh này tên Đại
Phật Đảnh, Tát Đát Đa Bát Đát Ra (Bạch Tán Cái), ấn
báu vô thượng, Hải Nhãn trong sạch của mười phương
Như Lai. Cũng gọi là cứu hộ người thân, độ thoát A
Nan, và Tánh Tỳ kheo ni ở trong hội này, đắc tâm Bồ
Đề, bước vào biển Biến Trí. Cũng gọi là Như Lai Mật
Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa. Cũng gọi là Đại Phương
Quảng, Diệu Liên Hoa Vương, Thập Phương Phật Mẫu Đà
La Ni Chú. Cũng gọi là Quán Đảnh Chương Cú, Chư Bồ
Tát Vạn Hạnh, Thủ Lăng Nghiêm. Ông nên thọ trì.
Đoạn kinh trên gồm
nhiều nghĩa, chỉ cần ba chữ Đại Phật Đảnh là bao gồm
hết. Bởi vì Phật Đảnh thần chú, tức là mười phương
Phật Mẫu Đà La Ni Chú, tức là Quán Đảnh Chương Cú,
tức là
độ
thoát A Nan và Tỳ kheo ni Tánh, do đó khỏi lập lại.
Chú này là Ma Ha Tát Đát Đa Bát Đát Ra, dịch là Đại
Bạch Tán Cái, là cái Lọng Trắng Lớn Che Trùm. Ròng
trắng phau trong sạch, trùm che hết thảy, nên gọi là
lớn. Đại Phật Đảnh thần chú này, chẳng thể nghĩ bàn,
mới gọi là Nhân Địa Bí Mật của Như Lai, cái Liễu
Nghĩa của Tu Chứng. Vạn Hạnh của Bồ Tát do đây mà
sẵn đủ, nên cả thảy rốt ráo bền chắc vậy. Pháp có
thể Tiệm mà không thể Đốn, thì không thể gọi là Đại.
Có thể Đốn mà không thể Viên, thì cũng không gọi là
Đại (lớn) được. Nay nói là Mật, là Liễu, tức là
đã
gồm nghĩa Đốn. Nói là Tu Chứng, nói là Vạn Hạnh là
ngầm nghĩa Viên. Duy cái pháp môn Viên Đốn nầy, cùng
với Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh và Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh, không khác. Từ Thập Tín, Thập
Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng cho đến Diệu Giác là
đã
bao gồm trong Hoa Nghiêm; còn Nhĩ Căn Viên Thông
trọn cùng phẩm Phổ Môn tương ứng. Gồm đủ chỉ thú của
hai bộ kinh trên, kinh Lăng Nghiêm thật rộng lớn
biết bao!
Chưa ngộ, thì chuyển:
Cái chẳng có Sanh Diệt thành ra: Cái Sanh Diệt, tức
chẳng phải Liễu Nghĩa. Ngộ rồi, thì chuyển: Cái Sanh
Diệt thành ra: Cái Chẳng Có Sanh Diệt, tức là: Hết
Thảy Rốt Ráo Kiên Cố. Cho nên, một đường đi lên ,
không ngộ thì không được. Thế thì Chú và Ngộ liên
quan thế nào, Ngộ và Chú quan hệ với nhau ra sao, mà
đều
cũng gọi là Đại Phật Đảnh? Chú không thể nghĩ bàn,
Ngộ cũng không thể nghĩ bàn. Chú tức là cảnh giới
của Ngộ, Ngộ tức là cảnh giới của Chú. Đây là chỗ:
Ngôn Ngữ Đạo Đoạn, Tâm Hành Xứ Tuyệt, thấy do lìa
cái Thấy, thì cái Thấy là siêu việt. Cho nên giữ cái
Phật Đảnh, lìa cái Tướng Thấy của mình là vậy. Các
dòng giống của Phật Đảnh, một phen vượt lên nhập
thẳng vào, đó là pháp môn cực tôn cực quý vậy. Hiệp
Luận đặt tên là Tôn Đảnh vì lẽ này.
Có vị tăng hỏi Ngài
Hoàng Bá rằng:
- Vô Biên Thân Bồ Tát
vì sao chẳng thấy Đảnh Tướng của Như Lai? Ngài Bá
đáp:
- Thật không thể
thấy. Vì sao thế? Vô Biên Thân Bồ Tát tức là Như
Lai, không thể trở lại thấy. Chỉ cần ông không tạo
ra cái Phật Kiến thì không rơi vào Phật Biên. Không
tạo ra cái Thấy Chúng Sanh thì không lạc vào giới
hạn chúng sanh. Không gây ra cái Thấy Có thì không
lạc vào giới hạn của cái Có. Không tạo ra cái Thấy
Không thì không rơi vào giới hạn của cái Không.
Không tạo ra cái Thấy của phàm phu thì không rơi vào
giới hạn của phàm phu. Không tạo ra cái Thấy của
Thánh thì không rơi vào giới hạn của Thánh. Chỉ
"Không" tất cả mọi cái Thấy, tức là Vô Biên Thân.
Nếu có chỗ Thấy, tức là ngoại đạo. Ngoại đạo thì ham
các cái Thấy. Bồ Tát nơi mọi cái Thấy mà chẳng động.
Như Lai là nghĩa Như của tất cả các Pháp, nên nói:
Di Lặc cũng là Như. Như tức là không có Sanh ra, Như
tức là không có Diệt mất. Như tức là không có Thấy,
Như tức là không có Nghe. "Đảnh" tức là Viên (tròn),
cũng không có cái thấy Viên, nên chẳng rơi vào biên
giới của Viên. Bởi thế, thân Phật là "Vô Vi", không
rơi vào giới hạn. Tạm lấy Hư Không làm thí dụ. Tròn
đầy như Hư Không rộng lớn, không thiếu không dư. Hãy
nhàn nhã vô sự, chớ gắng gượng biện biệt cảnh giới
giác ngộ, biện biệt thì thành Thức.
Lại có vị tăng hỏi Tổ
Bá Trượng:
- Bồ Tát Vô Biên Thân
không thấy Đảnh Tướng của Như Lai là vì sao? Tổ
Trượng rằng:
- Vì gây ra cái Thấy
Hữu Biên, cái Thấy Vô Biên, nên chẳng thấy được Đảnh
Tướng Như Lai. Chỉ như bây giờ đây trọn không có cả
thảy cái Thấy Hữu Vô, cũng không phải là không có
cái Thấy, thì đó là thấy Đảnh Tướng.
Xem hai vị tôn túc
nói ra nghĩa Phật Đảnh, thật như viên ngọc tròn lăn
trên bàn. Nếu biết chỗ ấy mới cho là trên cửa Đảnh,
có được: Con Mắt Lẻ. Đã nói là Như Lai Mật Nhân, tức
chẳng cậy mượn sự Tu Chứng. Lại nói:
- Tu Chứng Liễu Nghĩa
là
để
phân biệt với Chẳng Có Liễu Nghĩa, vậy. Như Lai, ấy
là nói về quả vậy. Kinh Kim Cang:
- Nếu có người nói:
Như Lai có đến, có đi, có ngồi, có nằm, thì người ấy
chẳng hiểu nghĩa chỗ ta nói. Vì sao thế? Như Lai là:
Không Từ Chỗ Nào Đến, Cũng Không Đi Về Đâu, nên gọi
là Như Lai.
- Đến không từ chỗ
nào, đi không về đâu, quả là vật gì? Thế mới gọi là
Mật vậy. Phật Đảnh Thần Chú là Mật Ngữ của Như Lai,
thì hai cái Mật (Mật Ngữ và Như Lai) đó không phải
là hai. Lấy cái Mật này làm Nhân, tức lấy cái Mật ấy
đắc quả. Như đóa bông sen, nhân quả đồng thời sẵn
đủ. Dùng cái này mà tu, thì tu mà không tu. Dùng cái
này để chứng, thì chứng mà không chứng. Kinh nói:
- Nào mượn sự cực
nhọc tu chứng. Đây tức là ý chỉ của Liễu Nghĩa. Nếu
không được như thế là vì chưa liễu ngộ vậy.
Xưa, Huệ Minh đuổi
kịp Đức Lục Tổ để giành lấy y bát. Tổ dạy:
- Ông đã vì Pháp mà
đến,
hãy an dừng các duyên, không sanh một niệm, ta sẽ vì
ông mà nói.
Ông Huệ Minh im lặng
hồi lâu, Tổ nói:
- Không nghĩ thiện,
không nghĩ ác, ngay khi ấy, là Bản Lai Diện Mục của
Minh Thượng Tọa.
Ông Huệ Minh nghe
xong, đại ngộ.
Lại hỏi:
- Ngoài lời mật, ý
mật ấy, còn cái ý mật nào không?
Tổ đáp:
- Đã nói cùng ông,
tức chẳng phải Mật. Nếu ông soi trở lại, thì Mật ở
tại bên ông. Thầy Minh thưa:
- Tôi mặc dầu ở Huỳnh
Mai, mà thật chưa tỏ ngộ được mặt mũi của mình. Nay
nhờ ơn chỉ bày, như người uống nước, lạnh nóng tự
biết. Nay hành giả tức là thầy của tôi vậy. Tổ dạy:
- Ông đã như vậy, thì
nay tôi và ông cùng một thầy Huỳnh Mai. Hãy khéo tự
hộ trì. Ngài Hoài Nhượng ban đầu ra mắt Đức Trung
Sơn An thiền sư, hỏi:
- Thế nào là ý Tổ Sư
từ phương Tây đến? Tổ An nói:
- Sao không hỏi cái ý
của chính ông? Ngài bèn hỏi:
- Thế nào là ý của
chính mình? Tổ Sơn đáp:
- Cần quán xét cái
Mật Nhiệm tạo nên cái Dụng. Hỏi:
- Như thế nào là cái
Mật Nhiệm tạo nên cái Dụng? Tổ Sơn dùng mắt mở, nhắm
chỉ bày đó. Sư Nhượng không lãnh hội được. Tổ Sơn
bèn bảo Ngài ra mắt Đức Lục Tổ. Tổ hỏi:
- Từ đâu đến?
Sư Nhượng đáp:
- Tung Sơn.
Tổ hỏi:
- Vật gì đó? Đến thế
nào?
Sư chẳng đáp dược.
Trải qua tám năm, mới bạch với Tổ rằng:
- Tôi đã có chỗ am
hiểu. Tổ hỏi:
- Như thế nào?
Ngài đáp:
- Nói giống như một
vật là chẳng trúng! Tổ hỏi:
- Lại có thể tu chứng
chăng?
Đáp rằng:
- Tu chứng thì chẳng
phải là không, mà ô nhiễm thì chẳng thể được. Tổ
rằng:
- Hay lắm! Cái chẳng
có ô nhiễm ấy, là chỗ hộ niệm của chư Phật. Ông đã y
vậy, ta cũng y vậy.
Như hai vị tôn túc
ấy, khế hợp sâu xa cái Mật Ý, được Tu Chứng Liễu
Nghĩa vậy.
Sau, có vị sư hỏi Tổ
Bá Trượng:
- Trước đến giờ, chư
Tổ đều có Mật Ngữ trao truyền cho nhau là thế nào?
Tổ đáp:
- Không có lời Mật.
Như Lai không có Bí Mật Tạng. Chỉ như bây giờ soi tỏ
ý nghĩa cho rõ ràng, tìm kiếm hình tướng, rõ là bất
khả đắc, đó là Mật Ngữ. Từ bậc Tu Đà Hoàn (Nhập Lưu)
trở lên cho đến Thập Địa, bất quá chỉ có Chữ và Lời
(Ngữ Cú), còn là thuộc về pháp Trần Cấu hết thảy.
Chỉ có lời nói, còn trọn cả đều nằm trong phiền não.
Chỉ có lời nói, còn trọn cả đều thuộc về Bất Liễu
Nghĩa. Chỉ có lời nói, tức chẳng được chấp nhận vậy.
Liễu Nghĩa Giáo đều chẳng phải là gì hết thảy (Phi),
thì còn tìm kiếm Mật Ngữ nào?
Theo chỗ thấy của Tổ
Bá Trượng, thì một chữ Mật cũng phải mửa ra luôn,
Liễu Nghĩa Giáo cũng chẳng lập, mới có thể gọi là
hướng lên ngàn Phật Đảnh mà
đi.
Các vị Bồ Tát muôn
Hạnh chưa lìa tu chứng thì sao lại gọi là Hết Thảy
Rốt Ráo Kiên Cố? Sở dĩ như vậy vì các Bồ Tát chưa
tới địa vị Quán Đảnh, phải có tu, có chứng. Đến địa
vị Quán Đảnh rồi, tức là siêu nhập đồng đẳng bậc
Diệu Giác, thì có cái gì tu chứng? Các Hành tuy vô
thường, nhưng từ trong Diệu Giác lưu xuất ra tất cả
sự pháp, đương xứ tịch diệt, nên gọi là Rốt Ráo Kiên
Cố.
Kinh nói:
- Có cái Tam Ma Địa
(Chánh Định), gọi là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm
Vương, sẵn đủ muôn Hạnh. Mười phương Như Lai do một
cửa này mà siêu xuất, đây là con đường Diệu Trang
Nghiêm.
Tam Ma Đề này là Đại
Định Thủ Lăng Nghiêm, lối Diệu Trang Nghiêm sẵn đủ
muôn Hạnh, chẳng phải rời lìa muôn Hạnh mà riêng có
cái gọi là Định. Tất cả đều Định, nên gọi là tất cả
sự Rốt Ráo Kiên Cố.
Đức Phó Đại Sĩ, ngày
thì kinh doanh gây tạo, đ
êm
thì hành Đạo. Thấy Đức Thích Ca, Đức Kim Túc, Đức
Định Quang ba vị Phật phóng quang phủ lên mình Ngài
Đại Sĩ mới nói: Ta được Định Thủ Lăng Nghiêm. Thuở
đó, kinh này chưa đến mà tên Định đã nêu, lạ lùng
thay.
Tứ Tổ Đạo Tín dạy
Ngài Lại Dung ở núi Ngưu Đầu rằng:
- Trăm ngàn pháp môn
đều quy về Tâm, hằng sa Diệu Đức gồm tại nguồn Tâm.
Tất cả Giới Môn, Định Môn, Huệ Môn, thần thông biến
hóa đều tự sẵn đủ, chẳng rời tâm ông. Hết thảy Phiền
Não, Nghiệp Chướng xưa nay rỗng rang vắng lặng. Hết
thảy Nhân Quả đều như mộng huyễn. Chẳng có ba cõi để
lìa, không có Bồ Đề nào để tìm cầu. Người cùng chẳng
phải người, Tánh Tướng bình đẳng. Đại Đạo rỗng suốt,
tuyệt nghĩ, tuyệt lo. Cái Pháp như thế, ông nay đã
được, tuyệt không thiếu hụt, cùng Phật không khác,
nào có Pháp nào khác nữa. Ông chỉ mặc dùng tự tại,
chớ khởi Quán Hạnh, cũng chẳng lóng Tâm, chẳng khởi
Tham Sân, chẳng giữ lo buồn, thênh thang vô ngại,
mặc ý dọc ngang. Chẳng làm các điều thiện, không gây
các điều ác. Đi, đứng, nằm, ngồi, chạm mắt gặp
duyên, thảy đều là Diệu Dụng của Phật. Vui sướng
không lo nên gọi là Phật.
Được nghe thế, Ngài
Lại Dung mở ra một chi phái, gọi là: Quán Đảnh
Chương Cú.
Ngài Pháp Nhãn dạy:
- Tu hành trải qua ba
đời sáu chục kiếp, bốn đời một trăm kiếp hay tăng kỳ
kiếp cho đến thành quả mà cổ nhơn còn nói là chẳng
bằng một niệm duyên khởi Vô Sanh, siêu quá hàng Tam
Thừa Quyền Học.
Nên chi nói rằng:
- Gảy móng tay mà
viên thành tám vạn Pháp Môn, trong sát na dứt hết ba
a tăng kỳ kiếp. Trong Thiền Tông quả có chuyện kỳ
đặc đó, há phải vạn hạnh đầy đủ, rồi sau mới đắc
Định Thủ Lăng Nghiêm ư?
Kinh là Thường Đạo
vậy. Cuốn Thuyết Văn Giải Tự viết:
- Dệt vải có sợi dọc
(kinh), sợi ngang (vĩ): sợi dọc thì thường hằng, mà
sợi ngang thì thay đổi. Kinh này do Ngài Long Thọ ở
dưới Long Cung mặc tụng đem lên. Vua Ngũ Thiên trân
trọng giữ kín chẳng có truyền ra. Há chẳng biết rằng
quyển kinh này người người sẵn có, đâu có ai không!
Thế mới là Thường Đạo, nào phải là bí mật.
Có vị tăng hỏi Ngài
Thủ Sơn:
- Tất cả Chư Phật đều
do kinh này mà có ra. Thế nào là kinh này? Tổ Sơn
đáp:
- Nói nhỏ! Nói nhỏ!
Vị tăng hỏi:
- Thọ trì thế nào? Tổ
Sơn rằng:
- Chẳng nhiễm ô.
Ngài Đầu Tử tụng
rằng:
Nước chảy
Côn Luân, núi nổi mây,
Người đến, tiều ngư chẳng có hay.
Nếu biết núi cao, sông tràn nước,
Ắt chẳng quăng rìu với bỏ dây.
Dịch:
Thủy xuất Côn Luân, sơn khởi vân,
Điếu nhân, tiều phụ muội lai nhân.
Chỉ tri hồng lãng, nham loan khoát,
Bất khẳng phao ty khí phụ cân.
Tổ Dược Sơn bình thường không cho người ta xem kinh.
Có lần tự Ngài xem kinh. Một vị tăng hỏi:
- Hòa Thượng bình
thường không cho người xem kinh, sao Hòa Thượng lại
xem?
Tổ Sơn rằng:
- Ta chỉ cần che mắt.
Vị tăng hỏi:
- Tôi bắt chước Hòa
Thượng được không? Tổ Sơn nói:
- Ông muốn xem thì
phải suốt qua tấm da trâu đã. Cho nên, rõ được chỗ
che mắt này, thì mới được cái Diệu của sự Thọ Trì.
Mà có xuyên thủng mới chẳng nhiễm ô vậy.