| ||||||
|
|
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Thông Nghĩa Đời Diêu Tần Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập phụng chiếu dịch. Đời Minh Sa môn Hám Sơn Thích Đức Thanh ở núi Nam Nhạc giảng. Thích Viên Giác dịch -o0o- QUYỂN I
PHÁN GIÁO
Ngài Thiên Thai do ngộ Pháp Hoa tam muội,
dựa vào chỗ sở đắc của mình mà khai triển đề
cao để trình bày pháp thù thắng vi diệu.
Trái lại Ngài Hiền Thủ thì liệt Kinh Hoa
nghiêm vào Viên giáo, Pháp Hoa vào Chung
giáo. Kinh Hoa Nghiêm biểu hiện báo thân
Phật, dựa nơi Thật báo trang nghiêm độ tương
ứng với lý tánh mà thuyết, pháp giới vẹn
toàn viên dung vô ngại, tự tại pháp môn. Tất
cả chánh báo, y báo, hạt bụi, sợ lông đều
tương ứng với pháp giới tánh. Tuy nói nghĩa
lý các ngôi vị, nhưng trình bày nhân quả
xuyên suốt không chướng ngại, cho nên gọi là
Viên. Còn Pháp hoa gọi là Chung. Vì kinh này
do hóa thân Phật nói ra ở cõi phương tiện
thánh cư địa, dẫn dắt hàng Tam thừa quy về
Nhất thừa. Điều đó nghĩa là Như Lai vì một
đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời là muốn
làm cho chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến.
Phật tri kiến chính là nhất chân pháp giới,
Như lai tạng tâm. Đức Xá Na chứng đắc pháp
ấy gọi là Pháp giới hải hội phổ quang minh
trí, còn gọi là nhất thừa thường trụ chơn
tâm.
Lúc mới thành chánh giác nơi Bồ đề đạo
tràng, Đức Phật biểu hiện chơn tâm này mà
thuyết Hoa Nghiêm, trình bày lý pháp giới
viên dung vô ngại, dành riêng cho hàng căn
cơ lớn, còn hàng tiểu căn ngồi đó mà như đui
như điếc. Vì vậy đối tượng giáo hóa không
được rộng rãi, nghĩa là một cánh cửa hẹp,
chưa nói hết bản Hoài của Phật. Cho nên,
ngài xem cây kinh hành, trong 21 ngày tư
duy, Đức Thế Tôn đem pháp Nhất thừa chia làm
ba. Ngài thị hiện tâm đồng thể đại bi, không
rời khỏi chỗ ngồi mà biến hiện khắp mười
phương, dùng ứng hóa thân thị hiện từ trời
Đâu Suất xuống Hoàng cung, hiện tám tướng
thành đạo. Ở tại vườn Lộc Uyển thuyết pháp
Tứ đế độ mọi chúng sinh. Các vị Thanh văn
tuy chứng Niết bàn, nhưng đối với tri kiến
Nhất thừa không thể dự phần. Do vậy Đức Phật
phải mất 40 năm lập phương tiện quyền xảo ra
sức chỉ dạy, đào thải. Đến hội Pháp hoa thì
tâm trí đại chúng mới tinh thuần, tin vào
Phật tâm, tin vào sự thành Phật của mình. Vì
vậy tất cả mọi người đều được thọ ký, và như
vậy mới thành tựu bản Hoài xuất thế của Đức
Phật. Đây là nhân duyên lợi lạc quần sinh
sắp chấm dứt nên gọi là Chung giáo. Đứng về
phương diện giáo hóa đã xong mà gọi là
Chung, do Chung mà cũng gọi là Viên, do đem
mọi nhân quả và cứu cánh nhiếp vào sự viên
mãn của biển tâm, không an trụ ở sự viên mãn
ấy. Kinh Hoa nghiêm là Đốn viên như mặt trời
mới mọc, trước hết chiếu trên đỉnh cao của
ngọn núi, còn kinh Pháp Hoa này là Tiệm Viên
như hợp tất cả những dòng chảy khác nhau
cùng về biển cả. Trường hợp Long nữ thành
Phật cũng gọi là Đốn viên. Luận Trí Độ
thuyết minh về đường hướng của hai kinh rõ
ràng như ánh sáng mặt trời, xin xem phẩm
Phương tiện có thể thấy bản Hoài xuất thế
của Như Lai.
Trong kinh Pháp Hoa thí dụ ông Trưởng giả
oai đức số một, là chỉ cho báo thân của
Phật; nhà của Trưởng giả là Nhất chân pháp
giới. Sự giàu có của ông là vô lượng trang
nghiêm của Hoa tạng thế giới; xe trâu trắng
lớn là dụ cho Nhất thừa nhân quả. Thẳng đến
nơi Bảo sở là chỗ pháp giới thanh tịnh, còn
gọi là Diệu Trang Nghiêm hãi. Mọi thi thiết
đều đưa về pháp giới, mọi hiển lộ hiện tướng
có chỗ nào mà không rõ ràng? Cho nên cổ đức
cho rằng Hoa nghiêm là “căn bản pháp luân”,
Kinh Pháp hoa này là “nhiếp mạt quy bản pháp
luân”. Nội dung giáo pháp không ra ngoài Lý,
Hạnh, Nhân, Quả lấy lý và hạnh làm nhân,
chứng nhập làm quả. Tôi cho rằng bốn mươi
năm trước là thuyết pháp dẫn dụ, đến hội
Lăng Già nói về thánh trí tự giác, thức tạng
tức Như Lai tạng, làm hiển lộ lý tính viên
mãn và sự vi diệu của tâm. Như kinh nói” Đại
thừa của ta là vô thừa”, là đã có ý khai
quyền hiển thật (mở cái tạm để thấy cái
thật). Đến hội Pháp hoa thuần nói về thật
tướng, một sắc một hương đều quy về trung
đạo, trình bày công hạnh đã tròn đủ và cảnh
giới vi diệu. Lý hạnh đã tròn, tâm cảnh đều
diệu thì Tri kiến Phật ở đây mà thôi. Bản
Hoài của Phật không có gì khác hơn. Chúng
sinh căn cơ ba thừa đều khai mở tri kiến này
nên được thọ ký, đều nhập Niết bàn, do vậy
gọi là Chung, dẫn chúng sinh quy về pháp
giới mới là rốt ráo.
Ngài Hiền Thủ đứng về phương diện giáo hóa
mà ấn định Pháp Hoa làm Chung giáo thì rất
hợp lý. Ngài Ôn Lăng đứng về phương diện
trước sau (thỉ chung) mà phân biệt Hoa
Nghiêm là trước và Pháp Hoa là sau (chung),
suy cho cùng cũng có lý, tuy vậy chưa phát
huy hết ý nghĩa. Xem kỹ ý chỉ của kinh, dung
hội nghĩa lý phù hợp Phật tâm thì liễu thông
toàn kinh.
|
|
| ||||||