| ||||||
|
|
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Thông Nghĩa Đời Diêu Tần Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập phụng chiếu dịch. Đời Minh Sa môn Hám Sơn Thích Đức Thanh ở núi Nam Nhạc giảng. Thích Viên Giác dịch -o0o- QUYỂN I GIẢI THÍCH ĐỀ KINHĐề kinh gọi là Diệu pháp Liên hoa, là chỉ cho Nhất chân pháp giới, Như Lai tạng tâm, do vậy mà lập danh. Luận Khởi Tín nói: điều gọi là Pháp chính là tâm chúng sinh, tâm này bao trùm các pháp thế gian và xuất thế gian, tâm này là toàn thể pháp giới, phàm thánh, nhiễm tịnh, nhân quả đều bao trùm trong tâm ấy. Tâm ấy ở nơi Thánh không tăng, nơi phàm không giảm, ở nơi ô nhiễm không dơ mà xuất trần chẳng sạch. Do đó mà đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai chứng đắc cùng tột tâm này, tâm cảnh nhất như, phàm thánh bình đẳng. Tâm ấy chúng sanh vốn đầy đủ, nên Phật từng dạy rằng: Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng của Như Lai, chỉ vì vọng tưởng điên đảo chấp trước mà chẳng chứng được. Chư Phật do ngộ tâm này mà gọi là Phổ quang minh trí, còn gọi là Phật tri kiến. Chúng sanh mê muội tâm ấy thành vô minh nghiệp thức, là cội gốc sanh tử. Một khi thấy được tâm này thì tâm này là Phật, đây là sự vi diệu của tâm. Hoa tạng thế giới, y báo chánh báo trang nghiêm, trùng trùng vô tận, vi diệu viên dung, hạt bụi, sợi lông, cỏ rác.v.v… đều do nơi tâm này mà lập, thật tướng vô tướng là vi diệu của cảnh. Tâm cảnh chẳng hai, thuần túy nhất tâm nên gọi là Diệu pháp.
Tuy nhiên diệu pháp này đối với chúng sanh
mê muội thì gọi là Tạng thức, chư Phật giác
ngộ thì gọi là Như Lai tạng. Dựa vào tâm
nhất như này mà kiến lập pháp giới thì gọi
là Liên hoa tạng. Pháp này chân vọng xuyên
suốt, nhiễm tịnh dung thông, nhân quả đồng
thời, thỉ chung một lối. Do đó, về mặt dụ
thì lấy biểu tượng hoa sen, về mặt pháp thì
chỉ thẳng bản thể của tâm. Tâm này ở nơi
Phật gọi là Phổ quang minh trí, còn gọi là
thật trí, hay Nhất thiết chủng trí hoặc gọi
Tự giác thánh trí nên gọi là Phật tri kiến.
Tâm nầy ở nơi chúng sanh thì làm căn bản vô
minh, chúng sinh vốn có tuệ giác của Phật
nhưng do vô minh che lấp nên không biết. Chư
Phật ra đời vì chúng sanh mà tuyên bố tâm
này để làm cho họ tự mình thấy mà ngộ nhập.
Cho nên mới nói chư Phật Như Lai chỉ vì một
đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời, đó là
khai thị ngộ nhập Phật tri kiến, làm cho
chúng sanh đều đạt thanh tịnh. Chỉ lấy việc
này làm việc chính, ngoài ra không có việc
gì khác. Đây là bản Hoài xuất thế của Như
Lai. Thật quả tâm này thật khó ngộ vậy.
Đức Xá Na Như Lai, ban đầu mới thành chánh
giác nơi Bồ đề đạo tràng liền khai thị tâm
này, nói Kinh Đại Hoa Nghiêm, gọi là Kinh
Phổ chiếu pháp giới, còn gọi là Nhất thừa.
Chỉ có hàng chúng sinh căn cơ lớn thấy nghe
được lợi ích, còn hàng hạ căn liệt tuệ, thân
tuy ngồi trên tòa mà như mù như điếc. Do vậy
Đức Phật khởi lòng đại bi, quán thọ kinh
hành, đem pháp giới nhất thừa phân biệt nói
thành ba. Ngài hóa hiện ứng thân cùng một
lúc cả hai tướng (một là Bồ đề đạo tràng nói
kinh Hoa Nghiêm, một là vườn Lộc Giã thuyết
pháp).
Ở nơi vườn Lộc dã thuyết pháp Tứ đế cho hàng
Thanh văn nghe. Bản Hoài của Phật chủ yếu là
khai thị Phật tri kiến, nhưng vì chúng sanh
căn cơ chậm lụt nên từ khi thuyết pháp tại
Lộc Giã trở đi đã trải qua bốn mươi năm, Đức
Phật vất vả thiết lập các phương tiện khác
nhau, vậy mà căn cơ số đông vẫn chưa khai
ngộ, đến khi bị Phật quở trách mới có lòng
tin Phật. Cho đến hội Pháp hoa, Phật thấy
căn cơ chúng sanh đã thuần thục tin chắc tâm
này, tức thì thọ ký cho mọi người đều được
thành Phật. Điều đó gọi là biết tất cả pháp
là tự tánh của tâm. Thành tựu trí tuệ này
không phải nhờ người khác mà giác ngộ được.
Đến đây bản Hoài xuất thế của Đức Thích Ca
mới toại chí. Do vậy ngài tận tình thổ lộ
điều khổ tâm bức xúc đã qua để hiểu công
việc độ sanh. Trụ thế chẳng bao lâu Ngài
nhập Niết bàn, gọi là chấm dứt dấu vết hóa
hiện. Như ông Trưởng giả sắp chết giao phó
gia nghiệp cho con. Nên biết kinh này như là
chúc thư giao phó gia nghiệp làm lưu thông
giáo pháp một đời.
Vì một mực không nói nên gọi là hộ niệm,
ngày nay mới nói nên gọi là phó chúc. Sự
việc bao quát cả quá khứ đã qua nên ý nghĩa
nằm ngoài ngôn từ. Nếu cẩu thả không quán
chiếu pháp giới, khế hợp Phật tâm mà cứ khư
khư chấp nơi văn tự mà tìm cầu thì mờ mịt
không chỗ đi về.
Hiểu rõ đề kinh này tức hiểu ý chỉ toàn kinh hơn phân nửa rồi vậy. |
|
| ||||||