Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Thông Nghĩa
Đời Diêu Tần Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập phụng
chiếu dịch.
Đời Minh Sa môn Hám Sơn Thích Đức Thanh ở núi Nam
Nhạc giảng.
Thích Viên Giác dịch
-o0o-
QUYỂN VII
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
PHẨM DIỆU ÂM BỒ TÁT
THỨ HAI MƯƠI BỐN
Đại ý phẩm này là do phẩm trước trình bày về
lý đã tròn đủ, nay phải trình bày về sự hành
trì để thuyết minh nhập Phật tri kiến.
Trước hết là dạy về pháp Bồ tát, sau là dựa
vào lời dạy mà tu tập để thật sự đạt được
kết quả. Lấy ngài Dược Vương để thuyết minh
sự hành trì, ý cho rằng hàng nhị thừa tuy
giác ngộ đầy đủ về lý, nhưng còn có vi tế vô
minh tập khí chưa sạch, khó mà ở trong thế
tục để độ sinh. Do đó, cần trải qua nhiều
kiếp phụng sự chư Phật, thực hành nhiều công
hạnh, trong đó phải nhờ phương thuốc chỉ và
quán điều trị làm dứt sạch vi tế vô minh,
phá được câu sinh ngã chấp và pháp chấp, lấy
đó làm diệu hạnh mới có thể chứng nhập. Cho
nên đầu tiên hỏi ngài Dược Vương rằng: Làm
sao ở nơi cõi Ta bà mà thực hành trăm ngàn
ức việc khổ hạnh khó làm? Điều đó chính là
trình bày hàng nhị thừa khi đi vào con đường
nguy hiểm của sinh tử phải nhờ vào năng lực
tu chỉ và quán. Cho nên lấy chuyện ngài Dược
Vương xưa kia nhân nghe kinh Pháp Hoa mà đạt
được định “ Hiện nhất thiết sắc thân” nhờ đó
mà phá được hai loại chấp thủ là Câu sinh
ngã và Pháp chấp. Có thể dùng thần lực cúng
dường Phật, được thọ ký và phó chúc. “Đốt
thân cúng dường Phật” là tượng trưng cho
việc phá chấp ngã câu sinh. “Đốt cánh tay
cúng dường” là tượng trưng cho phá chấp pháp
câu sinh. Hai chấp đều không, bởi sức mạnh
của Pháp Hoa tam muội. Qua đó thấy rõ công
đức trì kinh mà thấy được sự tối thắng của
diệu pháp. Vì vậy và ngợi khen rộng rãi kinh
này. Người có tu thì không ai không được lợi
ích, nên mới có phẩm này.
Hai loại chấp thủ là Phân biệt và Câu sinh.
Ban đầu do khai thị ngộ Phật tri kiến, dứt
được một phần vô minh, phá được hai loại
chấp thuộc phân biệt mà chứng được sơ địa.
Hai loại chấp thuộc câu sinh, từ nhị địa cho
đến thất địa thuộc câu sinh ngã chấp; từ bát
địa đến Phật địa đoạn câu sinh pháp chấp.
Nay nói phá nhị chấp là biểu hiện từ nhị địa
đến thất địa, ở đây gọi là “Phân biệt nhị
chứng cực hỷ vô” (hai loại chấp thủ phân
biệt đến sơ địa thì hết) “Nhị chấp câu sinh
địa địa trừ” (Hai loại chấp thủ câu sinh các
địa khác thì dứt). Nên gọi là nhập Phật tri
kiến rất rõ vậy.
Kinh lăng Già thuyết minh Bồ tát lấy sức chỉ
và quán để phá hai loại chướng ngại, thật
chứng chân lý. Từ nhị địa trở lên thất địa
thì xả bỏ tàng thức và vào bát địa. Từ đây
về sau đắc được ba loại ý sinh thân. Một là
Tam muội lạc ý sinh thân. Hai là Giác pháp
tự tính ý sinh thân. Ba là Chủng loại câu
sinh vô hành tác ý sinh thân. Đây chính là
bát địa đắc được nhất thiết sắc thân tam
muội, đó là Tam muội lạc ý sinh thân. Hai
phẩm Diệu Âm và Quán Thế Âm theo thứ tự phối
hợp hai loại sinh thân sau. Do đắc được kinh
này mới có kinh nghiệm thực chứng. Do ý sinh
thân này nhập định thì có, còn xuất định thì
mất nên gọi là Tam muội lạc, ở nơi vị trí
thất địa.
1.Từ câu: “Nhĩ thời Tú Vương Hoa” đến câu:
“Văn giai hoan hỷ” (Bấy giờ Tú vương Hoa …
nghe đều vui mừng).
Đoạn này hỏi về khổ hạnh của ngài Dược
Vương, do ngài Tú vương Hoa phát khởi. Ý
muốn nói thuở xưa hạnh tu phù hợp với chân
lý, lấy đó làm nhân chính để thành Phật.
Ngài Dược Vương ở trước đã nguyện ở thế giới
Ta bà giảng rộng kinh này, nay nói rõ công
hạnh là lấy hạnh vào đời độ sinh hoằng
truyền kinh làm diệu hạnh. Do vậy hỏi ngài
Dược Vương làm sao ở nơi thế giới ta bà có
trăm ngàn muôn ức điều khổ hạnh khó làm. Xin
giải nói cho một ít để mọi người vui mừng… Ý
muốn nói pháp Chỉ và Quán là cốt yếu để đi
vào cuộc đời, muốn cho các vị Bồ tát mới
được thọ ký đều được tâm thức không sợ cảnh
tệ ác của cõi ta bà. Bốn hạnh an lạc ở trước
chỉ nói tránh được sự hủy báng ganh tỵ, còn
đây là diệu hạnh Chỉ và Quán, là diệu hạnh
để chứng và thể nhập.Ý muốn nói rằng phải
trải qua các giai đoạn điều tâm mới đối trị
được vi tế vô minh, do vậy xin Phật nói cho
chúng thanh văn được vui mừng. Nếu không có
diệu hạnh chỉ quán này thì không dám vào cõi
Ta bà, do đó mà thỉnh cầu Phật nói.
2. Từ câu: “Nhĩ thời Phật cáo” đến câu:
“Thuyết pháp Hoa kinh” (Lúc đó Phật bảo …
nói kinh Pháp Hoa).
Đoạn này sắp sửa trình bày sự khổ hạnh của
ngài Dược Vương, do đó Đức Phật trước hết
thuật lại nhân duyên xưa: Thầy của ngài hiệu
là Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức, đó là biểu
tượng dùng chánh trí quán chiếu diệt trừ vô
minh, làm sạch cấu nhiễm. Pháp quyến của
Phật ấy có tám mươi ức Bồ tát, bảy mươi hai
hằng sa Thanh văn, ý nói là phá thức thứ bảy
“Nhiễm ô vô tri tập khí”, sắp hiển lộ thức
thứ tám “Thể tính viên minh” khế hợp với bản
giác chân tâm. Vì bản giác diệu thể không
ngoài tứ đại, căn trần nên Phật thọ bốn vạn
hai ngàn năm. Trí thanh tịnh viên mãn, chấm
dứt các nhiễm ô nên đất nước không có nữ
nhân và bốn ác đạo. Thức thứ bảy vốn là bình
đẳng tính trí cho nên “Đất bằng phẳng như
bàn tay”. Thức thứ tám vốn là tạng thể của
Như Lai, đại viên cảnh trí gọi là “Chất lưu
ly làm thành”. Có đủ hằng sa đức hạnh nên
gọi là “Cây báu trang nghiêm” các Bồ tát,
Thanh văn đều ngồi trên tòa báu. Nói ba thừa
đều nương ở hai thức bảy và tám tu hành mà
được thành tựu, tự nhiên đắc quả, khiến “Chư
thiên tấu nhạc cúng dường Phật”. Ngài Hỷ
Kiến là tiền thân của ngài Dược Vương, do
nghe thuyết kinh Pháp Hoa là thật tướng diệu
hạnh có thọ ký mà đến nhận thọ ký. Đức Phật
ấy vì Bồ tát Nhất thiết chúng sinh hỷ kiến
mà thuyết kinh Pháp hoa. Tất cả chúng sinh
thấy mà vui, vì ly nhiễm được thanh tịnh.
Đây là tiền thân của ngài Dược Vương, nghe
kinh Pháp Hoa nhờ sự khổ hạnh ban đầu, là
công hạnh có nguồn gốc vậy.
3. Từ câu: “Thị nhất thiết chúng sinh hỷ
kiến Bồ tát” đến câu: “Sắc thân tam muội”
(Ngài Nhất thiết chúng sinh hỷ kiến Bồ tát …
sắc thân tam muội).
Đoạn này nói về tiền thân của ngài Dược
Vương, nhân nghe kinh giúp cho công hạnh
nhiều lợi ích.
Ngài Hỷ Kiến tinh tấn kinh hành nhất tâm cầu
thành Phật. Vì nghe diệu pháp, lấy chỉ quán
để điều tâm, mà trong kinh Lăng Già gọi là
Vô gián hạnh, còn Khởi Tính Luận gọi là Nhất
hành tam muội, nên gọi là nhất tâm. Do quán
thật tướng của tất cả pháp là không có tướng
khác, cho nên quán chân như gọi là vô gián
hạnh, còn gọi là nhất hành. Mãn một vạn hai
nghìn năm đắc được tam muội Hiện nhất thiết
sắc thân. Trong kinh Lăng Già ngài Đại Huệ
hỏi về vô gián hạnh, Phật dạy người tu hành
nhờ đại phương tiện đạt được vô sinh pháp
nhẫn, an trụ đệ bát địa, đắc ly tâm ý thức,
năm pháp tự tính và hai tướng vô ngã. Đắc ý
sinh thân. Ý sinh thân có ba loại: Kinh nói:
“Thế nào là tam muội lạc chánh thọ ý sinh
thân?” Nghĩa là từ địa thứ ba, tư, và năm là
tam muội lạc chánh thọ, các pháp tự nơi tâm
tịch tịnh, an trụ trong biển tâm. Sự nổi
sóng của thức không sinh,biết tự tâm hiện
cảnh giới tính phi tính, đó gọi là tam muội
lạc chánh thọ ý sinh thân. Giải thích rằng.
Ban đầu lên sơ địa chứng được bình đẳng chân
như, đã xã tàng thức, cho nên gọi là tự tâm
các pháp tịch tịnh. Những ngọn sóng của thức
thứ bảy không khởi nên gọi là an trụ biển
tâm. Các làn sóng thức không khởi là đã đoạn
câu sinh ngã chấp. Ngã chấp đã đoạn thì cảnh
giới không có chỗ y cứ, nên gọi là biết tự
tâm hiện cảnh giới tính phi tính. Đây là chỗ
định lực được duy trì cũng gọi là lực trì
thân, gọi là tam muội lạc chánh thọ ý sinh
thân. Địa thứ bảy chứng cái này mà gọi là
địa thứ ba, tư, và năm, trong đó bao gồm sơ
địa cho đến các địa sau.
Kinh văn nói: “Một lòng cầu cầu Phật” chính
là an trụ chân như nhất tâm. Do thức thứ bảy
bị phá thì căn và trần tự mất, nên gọi là
“Mãn một vạn hai ngàn năm” an trụ trong tam
muội chân như viên minh, chiếu khắp tất cả
không có chướng ngại. Tất cả các hình sắc
đều hiện trong tâm tam muội, như ngọc ma ni
tùy duyên mà hiện, nên gọi là “Tam muội lạc
chánh thọ ý sinh thân”. Do gọi là đắc hiện
nhất thiết sắc thân tam muội, hoặc nói trong
tam muội hiện ra. Ở trước phẩm Pháp Sư công
đức nói người trì kinh này được sáu căn
thanh tịnh mà thôi, chưa có khả năng hiện
nhất thiết sắc thân. Nay ngài Hỷ Kiến trì
kinh, nhờ nương nơi ngộ thật tướng mà tu
hành, nhập chân như tam muội, nương công
hạnh mà thành tựu, nên gọi là nhất tâm cầu
Phật mà được Hiện nhất thiết sắc thân tam
muội. Nên phân định phẩm này về sau là nhập
Phật tri kiến. Nghĩa là nương nơi lý giải mà
khởi công hạnh. Hạnh khởi thì lý giải hết,
mà đượcï chứng nhập. Cho nên Kinh Lăng Già
nói ba loại ý sinh thân là trình bày hành
tướng thật chứng vô gián hạnh. Trên cơ sở ấy
mà giải thích mới thấy kinh này là thực
chứng nhập Phật tri kiến mà sáu phẩm sau
chẳng phải là phần lưu thông. Người trí xin
nhìn sâu sẽ thấy.
4. Từ câu: “Đắc thử tam muội” đến câu: “Dĩ
cúng dường Phật” (Đặng tam muội đó … để cúng
dường Phật).
Đoạn này nói về cảnh tượng ngài Hỷ Kiến do
được lợi ích của pháp, dùng sức tam muội,
đoạn trừ tập khí. Nghĩa là nghe diệu pháp
thật tướng nên đắc tam muội. Nay muốn tùy
thuận thật tướng chân như để làm chánh nhân
thành Phật, do vậy trên hư không rải hoa
cúng dường. Do chân như tam muội huân tập
thay đổi tập khí, nên mưa hương cúng dường.
Tam muội là khí phần của chân như nên hương
có giá trị ở cõi Ta bà.
5. Từ câu: “Tác thị cúng dường dĩ” đến câu:
“Kỳ thân nải tận” (Cúng dường thế đó rồi…
thân Bồ tát mới hết).
Đoạn này nói ngài Hỷ Kiến đốt thân, biểu
tượng việc phá trừ câu sinh ngã chấp.
Ở trên dùng thần lực vận dụng cúng dường, là
tam muội vô tác diệu lực. Ở đây nói đốt thân
là biểu tượng chân như tam muội tiến phá câu
sinh ngã chấp, nên gọi là từ tam muội khởi.
Nhờ tam muội huân tập chuyển hóa tập khí
sạch hết căn trần, nên gọi là “Uống các loại
hương mãn một nghìn hai trăm năm”. Huân biến
thân căn nên gọi là “ Lấy dầu thơm xoa
thân”. Đã xả tàng thức cấu nhiễm, nên gọi là
“Dùng y báo cõi trời mà tự quấn thân” Vì
toàn thể chân như nên “Rưới các thứ dầu
thơm”. Ngã chấp bị phá nên gọi là “Tự đốt
thân”. Tạng thức đã xả thì tám thức viên
minh, hằng sa vô minh đều trở thành diệu
giác, gọi “Aùnh sáng soi khắp cả tám mươi ức
hằng sa thế giới” trong đó chư Phật đồng
thời khen ngợi. Đó là do tinh tấn nhất tâm.
Ngã chấp đã phá thì khế hợp pháp thân nên
khen là “Chơn thật tinh tấn” còn gọi là
“Chân pháp cúng dường Như Lai”. Trong các
loại cúng dường, cúng dường pháp là tối
thượng, nên gọi “Hoa hương các vật đến đất
nước thành trì … đem cúng dường đều không
bằng”.
Chân như thật chứng, thì diệu tuyệt vong
ngôn nên các ngài đều im lặng. Vì căn trần
đều mất, ngã chấp cũng hết, nên “Lửa cháy
1200 năm thân ấy mới hết”.
6. Từ câu: “Nhất thiết chúng sinh hỷ kiến”
đến câu: “Cúng dường thử Phật” (Ngài Nhất
thiết chúng sinh hỷ kiến … cúng dường Đức
Phật đó).
Đoạn này nói ngài Hỷ Kiến đốt thân được lợi
ích hóa sinh.
Do nhiễm ô đã trừ, ngã chấp đã phá tức chứng
được Chân như thanh tịnh, gọi là Bạch Tịnh
thức. Do đó chuyển sinh vào hoàng cung vua
Tịnh Đức. Vì từ đệ bát địa mà xuất khởi chân
như tam muội, đó gọi là Ý sinh thân, Kinh
nói: “ Ngồi kiết già phu toạ bỗng nhiên hóa
sinh ra, vì cha mà nói kệ” để trình bày nhờ
nhân duyên đời trước mà hiện tiền đủ lục
thông túc mạng.
Nói: “Đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật nay
vẫn hiện còn” là Phật tri kiến chưa quên,
Pháp chấp vẫn còn. Nhờ chứng thật tướng chân
như nên tất cả thế đế, ngôn ngữ, sự nghiệp…
đều phù hợp chánh pháp, vì thế gọi là do
cúng Phật mà được “Giải nhất thiết chúng
sinh ngữ ngôn Đà la ni”. Đà la ni dịch là
Tổng trì, là tên gọi khác của chân như, do
từ địa thứ tám mà khởi. Với địa vị pháp sư
khéo léo thuyết pháp, lại nghe kinh Pháp Hoa
tám trăm ngàn muôn ức bài kệ. Đây chính là
pháp chấp chưa mất. Sắp sửa phá chấp này nên
nói là “Tôi nay lại nên cúng dường Đức Phật
ấy”.
7. Từ câu: “Bạch dĩ tức toạ” đến câu: “Do cố
tại thế” (Thưa xong liền ngồi … vẫn còn ở
đời ư).
Đoạn này nói cách thức ngài Hỷ Kiến trở lại
gần gũi đức Bổn sư. Vì ngã chấp đã phá, thể
nhập pháp tính không nên gọi là “Bay lên hư
không” Vì sắp ngang bằng bậc đẳng giác nên
nói là “ Qua đến chỗ Phật” Do phần bản giác
hiện nên “ Con vừa từng cúng dường, nay lại
về thân thấy” mà nói Đức Thế Tôn còn ở đời.
Đó là nói tri kiến Phật chưa mất. Tông Vân
Môn nói: Pháp thân cũng có hai thứ bịnh: Đạt
đến pháp thân, đó là pháp chấp chưa hết, cái
đã thấy vẫn còn. Ngồi một bên pháp thân, đây
là một thứ bịnh. Dầu chưa thấu suốt được
pháp thân, bỏ qua thì không thể, kiểm điểm
kỹ lưỡng tương lai có hôi hám gì, cũng là
bịnh. Trong tông môn này pháp thân có hai
thứ bịnh, cái trước thuộc về giáo nghĩa, sau
thuộc pháp thân văn từ, đều không nhiếp vào
trong giáo. Nay nói phá pháp chấp chính là
bịnh thứ nhất trong Vân môn, đó gọi là vi tế
pháp chấp. Nói “Thế Tôn còn ở nơi đời” chính
là cái thấy về pháp thân ở trong Tông môn,
cần phá cái chấp này mới có thể bước vào chỗ
diệu đạo.
8. Từ câu: “Nhĩ thời Phật Nhật Nguyệt Tịnh
Minh Đức” đến câu: “Dạ hậu phần nhập ư Niết
bàn” (Bấy giờ đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức
… cuối đêm nhập Niết bàn).
Đoạn này nói về ngài Hỷ Kiến trì kinh được
pháp lợi ích, khế hợp với pháp thân, có thể
nối tiếp tuệ mạng Phật pháp. Cho nên Đức
Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức sắp nhập Niết
bàn, giao phó đại sự cho ngài.
Nói ngài sắp nhập Niết bàn, đem Phật pháp mà
di chúc rằng “Tất cả các đệ tử Bồ tát cùng
với pháp Bồ đề, pháp giới tam thiên đại
thiên, thế giới thất bảo, chư thiên hầu hạ
cùng với xá lợi sau khi Phật diệt độ; tất cả
đều giao phó cho”. Do vì quả Bồ đề được
chứng ngộ, thành phần quyến thuộc trang
nghiêm, Chánh báo, Y báo và pháp thân Xá
lợi… đều do tu diệu pháp mà thành tựu nhất
chân thật tướng, nên đều giao phó hết. Đó là
điều gọi là giao toàn bộ gia nghiệp. Nói
“Phật pháp” là nói về pháp ứng cơ. “Dặn dò
nên xây tháp” ý muốn nói pháp thân nương vào
chỗ giữ gìn chân cảnh tịch diệt. Cho nên làm
cho tuệ mạng không dứt; phó chúc xong liền
vào Niết bàn.
9. Từ câu: “Nhĩ thời nhất thiết chúng sinh
Hỷ kiến Bồ tát” đến câu: “Huyền chư bảo
linh” (Lúc đó ngài Nhất thiết chúng sinh hỷ
kiến Bồ tát … treo các linh báu).
Đoạn này nói ngài Hỷ Kiến lãnh thọ phó chúc
mà xây tháp, tiếp nối tuệ mạng của Phật.
Chiên đàn có tác dụng mát mẻ, làm nguội nóng
bức, khó chịu. Sử dụng chiên đàn làm củi đốt
cúng Phật. Đó gọi là cảnh nhập pháp thân
thanh tịnh mát mẻ. Thâu lấy xá lợi tám vạn
bốn ngàn, xây tháp như số đó.Ý là một khi
vào pháp thân tịch diệt thì tám vạn bốn ngàn
phiền não đều chuyển hóa thành tịch diệt
chân tế. Nói “Chưng dọn trang nghiêm…” nghĩa
là pháp thân vốn đủ tính đức trang nghiêm
vậy.
10. Từ câu: “Nhĩ thời nhất thiết” đến câu:
“Sắc thân tam muội” (Bấy giờ ngài Nhất Thiết
… sắc thân tam muội).
Đoạn này nói về ngài Hỷ Kiến đốt cánh tay,
biểu tượng cho sự phá câu sinh pháp chấp.
Nói “Làm việc cúng dường đó là lòng còn chưa
đủ” là nói sở chứng chưa viên mãn, không cho
được chút ít là đủ. “Hàng Bồ tát đại đệ tử
và trời rồng” là chúng được phó chúc từ Đức
Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh đức. Do vì trước
kia đốt thân chưa đủ cúng dường, nay đốt
cánh tay mới là hết lòng. Ý nói hai loại
chấp thủ câu sinh bị phá mới gọi là thật sự
chứng ngộ. Hai loại chấp thủ đều phá thì tám
vạn bốn ngàn phiền não đều trở về nơi tịch
diệt; vậy bảy thức trước chấp trì giác quan
và đối tượng, các pháp đó cũng đều trở về
tịch diệt. Cho nên gọi là “Đốt cánh tay cúng
tám vạn bốn ngàn Tháp xá lợi đến bảy vạn hai
ngàn năm”. Hai chấp đã phá thì xả bỏ tiểu
thừa tức nhập vô thượng chánh giác. Nên vô
số người cầu thanh văn đều phát tâm Bồ đề và
được an trụ tam muội “Hiện nhất thiết sắc
thân”.
11. Từ câu: “Nhĩ thời chư Bồ tát” đến câu:
“Đắc vị tằng hữu” (Lúc đó các Bồ tát … được
việc chưa từng có).
Đoạn này nói chư Bồ tát, trời người, bát bộ
… thấy ngài hỷ Kiến không có tay đều buồn
lo; vì pháp ái nhiễm khó bỏ. Kinh Viên Giác
nói: “ Pháp ái nhiễm không còn trong tâm thì
tuần tự có thể thành tựu” Ngài Hỷ Kiến lập
lời thề xong hai tay trở lại như cũ, đó có
nghĩa là chỉ phá chấp mà không phá nơi pháp.
Đến như đắc quả Phật thì không gì không đầy
đủ, nên hoàn lại như cũ. Bởi việc hy hữu nên
ứng hiện điềm lành. Ở trên là trình bày nhân
duyên đời trước của ngài Dược Vương vậy.
12. Từ câu: “Phật cáo tú Vương Hoa” đến câu:
“Vạn ức na do tha số” (Đức Phật bảo ngài Tú
Vương Hoa … muôn ức na do tha như thế).
Đoạn này đúc kết những việc xưa chứng minh
cho việc ngày nay. Cho nên nói rằng: “Bồ tát
Nhất Thiết Chúng sinh Hỷ Kiến tức là Dược
Vương Bồ tát vậy”.
Ngài Dược Vương xả thân bố thí vô lượng trăm
ngàn muôn ức na do tha, nghĩa là các loại
ngã, pháp hai loại chấp thủ. Ban đầu phẩm
Pháp Sư đã nói kinh này khó trì, kế đó phẩm
An lạc hạnh dạy phương pháp trì kinh. Tuy
nhiên bốn hạnh ấy chỉ có thể tránh xa cường
bạo mà không thể giáo hóa kẻ tăng thượng mạn
mà chưa thể quên Phật kiến và Pháp kiến. Đối
với tri kiến Phật khó mà chứng nhập. Đều là
do câu sinh ngã pháp hai loại chấp chưa thể
đoạn trừ, khó mà khế hợp pháp thân. Cho nên
nói ngài Dược Vương đốt thân mà được phó
chúc, đốt cánh tay để nối tuệ mạng. Ý ở nơi
tinh tiến phá hai chấp mới được diệu hạnh
trì kinh; mới nhập tri kiến Phật được.
13. Từ câu: “Tú Vương Hoa” đến câu: “Chư
trân bảo vật nhi cúng dường dã” (Tú vương
Hoa … các vật trân báu mà cúng dường).
Đoạn này nói muốn đắc quả Bồ đề, có thể đốt
một ngón tay, ngón chân để cúng dường xá
lợi; hơn cả đem đất nước, vợ con, tam thiên
quốc độ, các vật trân bảo mà cúng dường. Ý
nói có thể phá một ít phần vi tế chấp pháp,
thì có thể khế hợp pháp thân; siêu việt và
thù thắng hơn công đức hữu vi. Thế nên diệu
hạnh trì kinh coi trọng việc tự phá hai loại
chướng ngại là phiền não và sở tri.
14. Từ câu: “Nhược phục hữu nhân” đến câu:
“Kỳ phước tối đa” (Nếu lại có người… phước
của người ấy rất nhiều).
Đoạn này so sánh sự trì kinh, chỉ một bài kệ
bốn câu, phước đó hơn công đức đem bảy thứ
báu đầy cả tam thiên thế giới cúng dường
Phật. Vì công công đức kia phước điền hữu
tướng, khó so sánh với công đức pháp thân vô
vi. Vì pháp thân vô vi không lệ thuộc số
lượng, nên siêu việt hơn.
15. Từ câu: “Tú Vương Hoa” đến câu: “Chư
kinh trung vương” (Tú Vương Hoa … là vua
trong các kinh).
Đoạn này diễn rộng diệu pháp có đủ mười loại
công đức đệ nhất thù thắng, nên siêu việt
hơn tam thừa, nên dùng mười thí dụ để minh
chứng.
1. Sâu rộng như biển, các dòng nước không
bằng được. Nên có nơi gọi là trí tuệ chư
Phật thâm sâu vô lượng.
2. Rất cao như núi Tu di, các núi khác không
bằng được.
3. Soi sáng đêm dài như mặt trăng, các ngôi
sao không bằng được
4. Phá tối tăm như mặt trời, hàng sinh vật
mù tối được lợi ích.
5. Rất cao quý như vua chuyển luân.
6. Thống lĩnh nhiếp phục tất cả, như trời Đế
Thích là vua của 33 cõi trời. Kinh này thống
lĩnh pháp nghĩa của chư Phật.
7. Làm chỗ nương tựa cho tam thừa, như Phạm
thiên vương là cha của chúng sinh.
8. Là đệ nhất trong tam thừa, như hàng nhị
thừa là đệ nhất trong phàm phu.
9. Là đệ nhất trong các kinh, như trong tam
thừa Bồ tát là đệ nhất
10. Là vua trong các pháp, như Phật là đấng
pháp vương.
Lấy mười ví dụ này để dụ chung cho Kinh Pháp
Hoa này.
Trong một thời giáo lớn thì diệu pháp nhất
thừa là tối thượng, hết sức thù thắng. Trên
là trình bày pháp thù thắng, dưới đây trình
bày công hạnh thù thắng.
16. Từ câu: “Tú Vương Hoa” đến câu: “Giải
nhất thiết sinh tử chi phược” (Tú Vương Hoa
… mở sự trăn trói cho tất cả sinh tử).
Đoạn này nói về công năng thù thắng của diệu
pháp, có thể cứu vớt tất cả và có thể phá
nỗi khổ sinh tử của chúng sinh.
Có thể xa lìa khổ não, nhân của khổ và quả
của khổ; làm lợi ích cho chúng sinh. Tức là
nguyện được đầy đủ. Đây là ba lần nêu lên
công năng thù thắng như dụ ao nước trong mát
và mười hai thí dụ để trình bày sự thù thắng
ấy. Từ câu: “Kinh Pháp Hoa này” trở xuống là
nói pháp hợp với các dụ trên.
Tóm lại mà nói thì có thể làm cho chúng sinh
đoạn trừ tất cả bịnh khổ não, cởi bỏ tất cả
trói buộc của sự sinh tử. Chúng sinh bị cái
khổ trói buộc đều do vô minh sai lầm kết tụ.
Nay tri kiến Phật khi đã khai mở, ánh sáng
trí tuệ hiện tiền có thể phá trừ vô minh tức
thì các khổ tự diệt, đó gọi là “Như tối tăm
gặp đèn sáng”.
17. Từ câu: “Nhược nhân đắc văn” đến câu:
“Diệc phục vô lượng” (Nếu người đặng nghe …
cũng là vô lượng).
Đoạn này nói về được nghe diệu pháp nhờ có
công năng thù thắng. Cho nên người biên chép
công đức vô biên và cúng dường công đức cũng
vô lượng.
18. Từ câu: “Tú Vương Hoa” đến câu: “Hậu bất
phục thọ” (Tú Vương Hoa … không còn thọ lại
nữa).
Đoạn này nói nếu nghe một phẩm Dược Vương
cũng được vô lượng công đức.
Đối với quẻ dịch nói càn khôn, lấy càn làm
dương, lấy khôn làm âm; nên càn là nam, khôn
là nữ. Lấy càn làm cương, lấy khôn làm nhu.
Kinh Pháp Hoa này nói Phật tính chủng tử như
kim cương, chắc chắn không bị hư hoại. Cho
nên người nữ trì kinh nhập tri kiến Phật
cũng vĩnh viễn làm nhân chính bát nhã. Phật
tính chủng tử trải qua nhiều kiếp không mòn,
do vậy không trở lại thọ thân nữ nữa.
19. Từ câu: “Nhược Như Lai diệt hậu” đến
câu: “Chư cấu sở não” (Sau khi Như Lai diệt
độ … các tánh nhơ làm khổ).
Đoạn này nói người nữ có thể như pháp tu
hành, thâu hoạch nhiều lợi ích; so sánh với
người nam thì người nữ thù thắng hơn.
Tây phương cực lạc Thế giới là liên hoa hóa
sinh. Phật nói người có thể niệm Phật tức
được vãng sinh. Nay người nữ ở đời ác có thể
dựa vào lời dạy của kinh mà tu liền được
vãng sinh. Vì nhập Phật tri kiến, phá hết vô
minh và phiền não; nhờ tâm thanh tịnh nên
Phật độ cũng thanh tịnh. Đó là nhân duyên
của tịnh độ. Tuy nhiên tham dục, sân nhuế,
ngu si, kiêu mạn, tật đố, là tâm lý nặng nề
của người nữ. Nay y theo kinh này tu hành
mau chóng đoạn trừ không bị chúng làm hại.
Thân được thanh tịnh mà vãng sinh tịnh độ.
Thật vậy, nói sau năm trăm năm Phật diệt độ,
nghĩa là năm trăm năm đầu là thời kỳ giải
thoát kiên cố, năm trăm năm thứ hai là thiền
định kiên cố, năm trăm năm thứ ba là đa văn
kiên cố, năm trăm năm thứ tư là phước đức
kiên cố; người nữ ở trong thời gian này khó
trì kinh mà trì được thì lợi ích rất lớn.
Người nữ mà như vậy thì người nam có thể
biết.
20. Từ câu: “Đắc Bồ tát thần thông vô sinh
pháp nhẫn” đến câu: “Trí tuệ chi lực” (Đặng
thần thông vô sinh pháp nhẫn của Bồ tát …
sức trí tuệ công đức như thế).
Đoạn này căn cứ vào người nữ trì kinh sinh
tịnh độ mà nói về công đức.
Đắc vô sinh pháp nhẫn là hàng đăng địa Bồ
tát, đã chứng được chân như bình đẳng, đã
phá được vọng kiến nên nhãn căn thanh tịnh,
chuyển được căn trần của bảy thức. Cho nên
thấy được bảy trăm muôn hai ngàn ức na do
tha hằng hà sa chư Phật, vì pháp thân chư
Phật ứng nơi ý niệm hiện tiền, do vậy ở xa
mà thấy và tán thán.
Câu “ Ông có thể ở trong” trở xuống đến câu
“ Không có ai bằng ông” Đó đều là lời khen
ngợi của chư Phật, do không phải là công đức
hữu vi nên không bị lửa đốt, nước trôi; vì
phù hợp với pháp giới tính nên nói không thể
hết được. Nói “Phá các ma”.v.v.. các ma tức
là ngũ ấm ma. “Quân sinh tử” tức là Tử ma.
Nói “Các oán địch khác” tức là phiền não ma.
Nói “Thảy đều trừ diệt” đó gọi là cùng với
ngũ ấm ma, phiền não ma, ma chiến đấu. Có
đại công huân, ra khỏi tam giới, phá dẹp
lưới ma, nên nói là “Thảy đều trừ diệt”.
Do đắc tuệ mạng của chư Phật nên chư Phật
đồng hộ niệm. Vì siêu việt thế gian nên trời
người không bằng; vì đắc nhất thừa Phật tuệ
nên thiền định của ba thừa không thể ngang
bằng được. Do tâm chưa đắc tuệ Phật, vậy câu
kết nói rằng vị Bồ tát này thành tựu sức
mạnh công đức trí tuệ như thế. Đây là mượn
người nữ để ca ngợi, nên nói là kết lợi ích
rộng lớn vậy.
21. Từ câu: “Nhược hữu nhân văn” đến câu:
“Như thượng sở thuyết” (Nếu có người nghe …
như đã nói ở trên).
Ở trên nói có thể y theo toàn kinh mà tu
hành, còn đoạn này nói có thể tùy hỷ một
phẩm Dược Vương mà được lợi ích. Có thể tùy
hỷ khéo tán dương thì thiệt căn được thanh
tịnh, nên miệng thường phát ra mùi hương hoa
sen xanh. Đã ngộ được xác thân là pháp thân,
nên trong các lỗ chân lông phát ra mùi thơm
chiên đàn, công đức nói không hết được. Ngài
La Thập sau khi mất, trước tháp ngài mọc lên
một cành hoa sen xanh, khi mở tháp ra thấy
hoa sen từ lưỡi ngài mọc ra. Đó là sự hiệu
nghiệm do dịch kinh Pháp Hoa.
22. Từ câu: “Thị cố Tú Vương Hoa” đến câu:
“Bất lão bất tử” (Tú Vương Hoa! vì thế …
chẳng già chẳng chết).
Đoạn này lấy một phẩm kinh mà giao phó cho
Tú Vương Hoa. Ý nói trì kinh này lấy sự khổ
hạnh làm căn bản.
Năm trăm năm sau trong cõi diêm phù đề, là
thời pháp Phật yếu mà pháp ma mạnh; nếu
không khổ hạnh thì không thể truyền bá rộng
kinh này được. Nếu không có sự gia hộ thì
không thể tránh được sự chướng ngại.
Vậy nên ngài dặn dò Tú Vương Hoa đừng để cho
pháp ma phát triển thuận lợi; đặc biệt phải
nhắc nhở Tú Vương Hoa phải dùng thần lực để
giữ gìn kinh này. Vì kinh này là thuốc hay
cho kẻ bịnh nơi cõi diêm phù đề, như vị cam
lồ của cõi trời. Cho nên nói: “ Bệnh liền
tiêu diệt, chẳng già chẳng chết”.
Kinh này Phật phó chúc cho chúng từ đất vọt
lên, ý nói là ở nơi mười phương thế giới mà
qua lại truyền bá rộng rãi kinh này. Hơn nữa
ngay cả ngài Dược Vương là người thường ở
cõi Ta bà mà còn không hợp ý Phật, nay lấy
phẩm này giao cho Tú Vương Hoa; dặn ở nơi
cõi diêm phù đề truyền bá rộng rãi. Diêm phù
đề là một trong bốn châu, cõi ấy rất hẹp,
con người rất hung ác. Sao Phật lại coi
trọng riêng cõi này? Mười phương dù rộng vốn
thật là tâm Phật. Do vì Phật giáo hóa ở cõi
Ta bà nên ba châu kia không hiện, chỉ hiện
diêm phù đề, là chỗ dùng thân để giáo hóa.
Con người nhiều sự tệ ác cho nên phó chúc
cho. Ý nói người nơi cõi diêm phù cùng với
kinh này có duyên với nhau nên kinh là lương
dược, không phải kinh này thì không thể
nhiếp hóa được. Không có khổ hạnh thì không
thể truyền bá rộng rãi được. Cho nên lấy
riêng phẩm này làm trọng vậy.
23. Từ câu: “Tú Vương Hoa” đến câu: “Sinh
cung kính tâm” (Tú Vương Hoa … sinh lòng
cung kính như thế).
Đoạn này dặn dò Tú Vương Hoa kính thuận
người trì kinh.
“ Hoa sen xanh” là dụ cho tâm mầu nhiệm
thanh tịnh và trong sáng. “Hương bột” là dụ
cho thần thông vi diệu. Nói: “Người trì kinh
đó” là nói đã đủ kinh này. Cho nên lấy đây
để tán thán người kia. Vì người này không
bao lâu sẽ ngồi nơi đạo tràng phá ma quân,
thuyết pháp độ người ra khỏi biển sinh tử,
cần phải cung kính tưởng như Phật vậy.
24. Từ câu: “Thuyết thị” đến câu: “Ngữ ngôn
Đà la ni” (Lúc Phật nói phẩm … ngữ ngôn Đà
la ni).
Đoạn này nói nghe phẩm này được lợi ích.
Vì nhập Phật tri kiến, chứng được thật
tướng. Cho nên đạt được ngôn ngữ của tất cả
chúng sinh đều nhập pháp tính, đắc được pháp
môn tổng trì Đà la ni. Nói ngài Dược Vương
đắc được “ Hiện nhất thiết sắc thân tam
muội” tức là tất cả sắc thân đều là Phật
thân. Nay nói ngôn ngữ Đà la ni tức là nói
tất cả âm thanh ngôn ngữ đều là pháp âm. Do
vì bậc bát địa Bồ tát ra khỏi định chân như
tiến đến cửu địa, xứng đáng là địa vị pháp
sư, hiện thân thuyết pháp. Đây ở thất địa đã
đủ thể, nhưng nhỏ nên làm cơ sở thăng tiến ở
các địa sau.
25. Từ câu: “Đa Bảo Như Lai” đến câu: “Nhất
thiết chúng sinh” (Đức Đa Bảo Như Lai … tất
cả chúng sinh).
Đoạn cuối này nhân nói về việc khổ hạnh trì
kinh ngày xưa của ngài Dược Vương đều khế
hợp pháp thân. Cho nên ngài Đa Bảo tán thán
TúùVương Hoa mà hỏi việc này. Vì để lợi ích
cho chúng sinh nên trình bày khen ngợi. Đức
Đa Bảo xuất hiện vốn là để chứng minh kinh
này. Ý nơi việc có được người tiếp nối tuệ
mạng. Nay tán thán Dược Vương, kế đến lại
mời ngài Diệu Âm. Đã được người rồi thì mãn
pháp hội không còn gặp lại nữa./.