Giảng Giải
Kinh Duy Ma
Cật
Tác Giả: Lê Sỹ Minh Tùng
-o0o-
Chương Thứ Tư
Phẩm BỒ TÁT
(The Reluctance of the
Bodhisattvas)
1)Bồ-tát Di Lặc (Maitreya).
Vấn Đề Thọ Ký:
Bồ-tát Di Lặc tên là A Dật Đa
(Ajita) và họ là Từ Thị. Trong vô lượng kiếp quá
khứ, có Đức Phật hiệu là Đại Thống Trí Như Lai ra
đời thì cả Đức Thích Ca (tiền kiếp) và Bồ-tát Di Lặc
(tiền kiếp) cùng phát tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác. Nhưng mãi đến khi Đức Phật Nhật Nguyệt
Đăng Minh ra đời thì ngài Di Lặc mới phát tâm xuất
gia. Tuy xuất gia nhưng ngài Di Lặc không chú tâm tu
hành nên ngài sẽ thành Phật sau Đức Phật Thích Ca
gần mười tiểu kiếp. Về sau nhờ Đức Phật Thích Ca dạy
cho pháp tu Duy Thức nên ngài mới chứng được”Tam
giới duy tâm, Vạn pháp duy thức” và được thọ ký
đời sau sẽ thành Phật ở hội Long Hoa tại thế giới Ta
bà nầy. Hiện nay Bồ-tát Di Lặc đang tu ở cung trời
Đầu Xuất, chuyên giảng môn Duy Thức Học. Ngài đã thị
hiện thành nhiều thân ở cõi trần để hóa độ chúng
sinh, nhưng không ai hay biết. Một hiện thân rất
quen thuộc đối với người Việt Nam và Trung Hoa là Bố
Đại Hòa Thượng. Ngài thường quẩy cái đáy bằng vải và
đi khắp chợ búa xóm làng để giảng giải Phật pháp cho
thính chúng và phát kẹo bánh cho trẻ con. Mãi cho
đến đời Lương Niên Hiếu Trịnh Minh năm thứ ba thì
ngài tu hợp thính chúng tại chùa Nhạc Lâm và nói một
bài kệ:
Di Lặc chơn Di Lặc
Hóa thân thiên bách ức
Thời thời thị thời nhơn
Thời nhơn giai bất thức.
Nghĩa là:
Di Lặc thật là Di Lặc
Biến hóa trăm ngàn hóa thân
Thường hiện trong đời
Mà người đời chẳng ai biết.
Bố Đại Hòa Thượng có thân hình mập
mạp, bụng phệ, cười hoan hỷ. Ngày nay có những bức
tượng tạc Bồ-tát Di Lặc với sáu đứa trẻ bu quanh.
Sáu đứa trẻ nầy là ám chỉ cho Lục tặc thi nhau quấy
phá lục căn làm tâm bất tịnh.
Dựa theo Duy Thức Luận thì nếu con
người biết chuyển Thức thành Trí thì sáu tên Lục tặc
nầy tức là đại diện cho sáu thức sẽ được chuyển
thành hai trí. Ý thức hay thức thứ sáu có tác dụng
phân biệt sẽ biến thành “Diệu Quan Sát Trí”
tức là trí có năng lực quan sát thâm diệu có thể
thấy được hằng sa thế giới và thấy được tất cả tâm
niệm sở cầu trong mỗi chúng sinh. Nhờ sự quan sát
huyền diệu rốt ráo như thế mà tùy theo nguyện vọng,
tâm lý, sở cầu mà Bồ-tát làm lợi lạc cho chúng sinh.
Còn nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức và thân
thức sẽ biến thành “Thành Sở Tác Trí” tức là
cái trí nầy có những công năng vô cùng rộng lớn như
thị hiện thần thông, biến hóa, hiện ra ba món hóa
thân để tùy theo căn cơ của chúng sinh mà hóa độ.
Khi nói về Duy thức thì người học
Phật phải thấu hiểu là thức thì chưa siêu
việt bằng trí vì thức còn phân biệt còn trí
thì biết trực tiếp mà không cần phân biệt. Thí dụ
khi nhìn một cành hoa. Nếu chúng ta khởi niệm phân
biệt hoa tốt, xấu…là thức tức là Tri. Còn
không khởi niệm phân biệt hoa tốt xấu là Trí.
Do đó Tri cạn Trí sâu.
Trong Phật giáo thì Duy thức nói
về Có còn Bát nhã thì nói về Không. Tuy khác nhau về
hình tướng, phương tiện nhưng cứu cánh vẫn như nhau.
Người học Phật vì có bệnh chấp vào văn tự nên mới
nói có sự khác biệt vì thế khi nghe nói Có thì tin
thật có và khi nghe nói Không thì tin thật không mà
không chịu suy tư quán chiếu để thấy cái cứu cánh
của nó. Để phá hai căn bệnh chấp Có chấp Không của
người học Phật, Ngài Long Thọ căn cứ vào giáo phá
tướng (Kinh Bát Nhã) mà rộng nghĩa Không để phá bệnh
chấp Có. Còn Ngài Vô Trước thì hiễn bày lý diệu hữu
để phá bệnh chấp Không. Do đó mà Phật giáo có hai
tông: Không tông là tông Bát nhã và Tướng tông là
duy thức tông hay còn gọi là Hữu tông. Thí dụ cái
nhà của chúng ta. Nếu dựa theo Hữu tông thì cái nhà
là do gạch, ngói, cây, gổ, công thợ…tức là do duyên
hợp mà thành nên tuy cái nhà là Có mà tự tánh là
Không. Tuy nói diệu hữu nhưng cuối cùng cũng hiển
bày lý chơn không. Còn theo Không tông thì cái nhà
là do nhơn duyên sanh giả có nên cái nhà là Không.
Trên văn tự chúng ta thấy như có khác, Hữu tông nói
Có, Không tông nói Không, nhưng trên chỗ dung hội
thì tuy hai nhưng mà một. Đó là nói Không thì biết
cái Không của diệu hữu, còn nói Có thì biết chỉ cái
Diệu hữu của Chơn không.
Bồ-tát là viết tắc của chữ Bồ-đề
Tát Đỏa mà Phạn ngữ là Bodhisatwa có nghĩa là Giác
Hữu Tình tức là loài hữu tình đã giác ngộ và phát
nguyện làm cho chúng sinh cũng được giác ngộ như
mình tức là Hữu Tình Giác. Bồ-tát phải trãi qua 55
giai đoạn từ khi phát tâm Bồ-đề thì mới đạt được quả
vị đẳng giác là thành Phật. Đừng nên hiểu lầm là
Bồ-tát thì lúc nào trí tuệ hay tâm thanh tịnh cũng
cao hơn các vị A La Hán trong Thanh Văn.
Khi chúng ta mới phát tâm tu theo
Đại thừa, làm việc vì người quên mình tức là lấy lợi
tha làm phương châm hành động thì được gọi chung là
Bồ-tát. Tất cả Phật tử không phân biệt tại gia hay
xuất gia, nam hay nữ muốn phát tâm tu theo Bồ-tát
đạo, giữ Bồ-tát giới tức là 10 giới trọng và 48 giới
khinh để phá trừ tập khí ngã mạn, chấp ngã chấp pháp
và nguyện hy sinh mình mà lo cứu giúp chúng sinh đều
là Bồ-tát cả. Muốn thọ Bồ-tát giới thì người tu bắt
buộc phải ăn chay trường vì đã là Bồ-tát thì sao lại
còn ăn thịt chúng sinh? Càng quên mình, càng
hy sinh vì chúng sinh thì càng tiến sâu trong Bồ-tát
đạo. Nếu hy sinh những vật ngoài thân như tiền của,
nhà cửa, xe cộ, cúng dường để in kinh viết sách, vật
dụng…thì tương đối dễ làm nhưng Bồ-tát còn dám hy
sinh những gì về nội thân như hiến tặng tim, gan,
thận, máu huyết…đôi khi ngay cả thân xát của mình mà
họ vẫn hoan hỷ thực hành.
Giai đoạn đầu kể từ khi mới phát
tâm Đại thừa là Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập
Hồi Hướng và Tứ Gia Hạnh thì gọi là Đệ Nhất A Tăng
Kỳ Kiếp tức là Bồ-tát Địa Tiền có nghĩa là chưa bước
vào Thập Địa. Trí tuệ và tâm thanh tịnh của Bồ-tát
Địa Tiền không bằng các vị A La Hán vì họ đã vượt ra
khỏi tam giới, chứng đắc Niết bàn nên tâm rất thanh
tịnh.
Giai đoạn thứ hai là Bồ-tát tu từ
Sơ Địa đến Thất Địa tức là họ đã đạt được Hoan Hỷ
Địa, Ly Cấu Địa, Phát Quang Địa, Diệm Huệ Địa, Nan
Thắng Địa, Hiện Tiền Địa và Viễn hành Địa thì gọi là
Đệ Nhị A Tăng Kỳ Kiếp.
Giai đoạn thứ ba là họ tu từ Bát
Địa đến Thập Địa tức là Bất Động Địa, Thiện Huệ Địa
và Pháp Vân Địa thì gọi là Đệ Tam A Tăng Kỳ Kiếp.
Khi mãn Thập Địa đến địa vị Đẳng
giác, qua Đẳng giác đến Diệu giác tức là thành Phật.
Bồ-tát Đẳng giác và Diệu giác đã dứt trừ Trần sa
hoặc và Vô minh hoặc để đến chỗ giác ngộ hoàn toàn
là Phật. Khi chỉ còn một đời nữa là sẽ thành
Phật như Bồ-tát Di Lặc thì gọi là Nhất Sanh Bổ Xứ.
Thông thường các vị Bồ-tát đã
chứng quả vị cao trong Thập Địa tức là chứng được Đệ
Tam A Tăng Kỳ Kiếp thì họ thường thị hiện trong thế
gian nầy để giáo hóa và cứu độ chúng sinh dưới nhiều
hình tướng khác nhau, nhưng không bao giờ để lộ tung
tích thì chúng ta gọi họ là Siêu phàm Bồ-tát. Bố Đại
Hòa thượng là hiện thân của Bồ-tát Di Lặc vậy.
Bấy giờ Đức Phật gọi Bồ-tát Di
Lặc bảo:
- Di Lặc! Ông hãy đi thăm
bệnh trưởng giả Duy Ma Cật.
Bồ-tát Di Lặc thưa:
- Bạch Thế Tôn! Con không
kham lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh trưởng giả! Bởi
vì trước đây, trong một hôm nọ con vì Đầu Suất Thiên
Vương và một số chư Thiên quyến thuộc, dạy cho họ về
hạnh bất thối chuyển đối với quả Vô thượng Bồ-đề.
Bấy giờ, ông Duy Ma Cật đến bảo con rằng:
- Thưa ngài Di Lặc!
Thế Tôn thọ ký cho ngài một đời sẽ thành Vô thượng
Bồ-đề. Vậy ngài định dùng đời nào khi ngài nhận sự
thọ ký ấy? Đời quá khứ? Đời hiện tại? Hay đời vị lai
ư? Nếu đời quá khứ thì quá khứ đã qua rồi! Đời vị
lai thì chưa đến! Đời hiện tại? Có hiện tại nào lại
không vận động biến chuyển? Có hiện tại nào tồn tại
cố định? Đức Phật đã thường dạy:”Này các Tỳ Kheo!
Ngay bây giờ, các ông vừa có sanh, vừa có lão, vừa
có diệt vong!” Hay là ngài định sử dụng cái vô sanh
mà cho rằng được thọ ký ư? Nói đến vô sanh tức là
chánh vị. Đã là chánh vị thì không có vấn đề thọ ký
và cũng không có cái gì gọi là “được” quả vô thượng
Bồ-đề. Thế thì làm sao ngài Di Lặc lại “được thọ ký”
một đời? Hay là ngài dựa theo đời của chân như sanh
mà được thọ ký? Hay là đời của chân như diệt mà
được thọ ký? Nếu dựa theo đời của chân như sanh
thì không được. Vì chân như không có sanh. Nếu dựa
theo đời của chân như diệt thì cũng không được. Vì
chân như không có diệt. Ngài nên biết tất cả chúng
sinh đều NHƯ. Tất cả pháp đều NHƯ. Các thánh hiền
cũng NHƯ. Chính Di Lặc ngài cũng NHƯ. Nếu ngài được
thọ ký thì tất cả chúng sinh lẽ ra cũng được thọ ký.
Vì luận về nghĩa NHƯ thì không còn có cái hai. Không
có cái nào khác với cái nào. Nếu ngài được Vô thượng
Bồ-đề lẽ ra tất cả chúng sinh cũng được quả Vô
thượng Bồ-đề! Vì tất cả chúng sinh là tướng của
Bồ-đề. Nếu ngài được diệt độ thì tất cả chúng sinh
cũng phải được diệt độ. Vì chư Phật biết tất cả
chúng sinh là tướng của Niết bàn vốn đã vĩnh cửu
tịch diệt. Cho nên chẳng còn gì để diệt nữa. Vì vậy,
ngài không nên lấy pháp bất thối chuyển mà dạy cho
các Thiên tử. Thật ra không có người phát tâm Vô
thượng Bồ-đề và cũng không có người thối thất với
quả Vô thượng Bồ-đề. Ngài nên hướng dẫn cho các chư
Thiên nầy xả bỏ quan niệm chấp mắc về quả Bồ-đề. Vì
sao? Vì Bồ-đề không phải được từ nơi thân, cũng
không phải được từ nơi tâm. Tịch diệt là Bồ-đề, vì
diệt diệt hết các tướng chấp. Bất quán là Bồ-đề, vì
xa lìa hết các trần duyên. Bất hành là Bồ-đề, vì
không lưu một ức niệm, một hy vọng nào. Đoạn là
Bồ-đề, vì xa lìa kiến chấp. Ly là Bồ-đề, vì lìa xa
tất cả vọng tưởng. Chướng là Bồ-đề, vì chống lại tất
cả mong muốn. Bất nhập là Bồ-đề, vì không dính dáng
vào chuyện tục lụy. Thuận là Bồ-đề, vì thuận theo
chân như. Trụ là Bồ-đề, vì hằng trụ pháp tánh. Chí
là Bồ-đề, vì đạt đến chỗ thực tế của chân lý. Bất
nhị là Bồ-đề, vì xa rời ý căn và pháp trần. Đẳng là
Bồ-đề, vì bình đẳng như hư không. Vô vi là Bồ-đề, vì
không sanh, không trụ, không dị, không diệt. Tri là
Bồ-đề, vì rõ biết hết tâm hành của chúng sinh. Bất
hội là Bồ-đề, vì các nhập không nhóm được. Bất hiệp
là Bồ-đề, vì dẹp tan hết các phiền não. Giả danh là
Bồ-đề, vì biết rõ tánh của ngôn ngữ văn tự vốn
không. Như hóa là Bồ-đề, vì không còn dính ở thủ, xả
hai bên. Vô loạn là Bồ-đề, vì tự tâm thường trụ
tướng tịch tĩnh. Thiện tịch là Bồ-đề, vì thể tự tánh
lúc nào cũng vắng lặng. Bất thủ là Bồ-đề, vì xa lìa
hết các phan duyên. Bất dị là Bồ-đề, vì nhìn các
pháp bằng cái thấy bình đẳng. Vô tỉ là Bồ-đề, vì các
pháp không có tướng đối đải để so sánh. Vi diệu là
Bồ-đề, vì các pháp khó biết mà biết rõ tất cả.
Khi được Đức Phật Thích Ca thọ ký
cho một đời nữa sẽ thành Phật thì Bồ-tát Di Lặc tin
như vậy vì Phật nói không sai. Ngay cả khi đem hạnh
bất thối chuyển có nghĩa là sự tinh tấn nổ lực tu
hành, không nên thoái bước để tiến về chỗ giải thoát
giác ngộ cho các vị Trời thì cũng là lời Phật dạy.
Tu hành rốt ráo, thanh lọc thân tâm để chứng quả Vô
thượng Bồ-đề cũng là Phật nói. Như thế Bồ-tát Di Lặc
chỉ lập lại những lời Phật dạy để thuyết cho mấy vị
Trời thì hoàn toàn đúng như lời dạy của Phật thì tại
sao ông Duy Ma Cật lại bảo là sai?
Nếu đứng về Pháp Tướng mà nói thì
thời gian là tương đối, là sinh diệt, là vô thường
nên quá khứ đã qua, hiện tại không dừng và vị lai
chưa đến. Nhưng thật ra ngay trong hiện tại đã ngầm
chứa quá khứ và vị lai rồi chẳng hạn như trong một
đời hiện tại của con người thì cũng đã có đủ quá
khứ, hiện tại và vị lai là sinh, già, chết. Như vậy
nếu nói một đời thì dựa vào cái móc thời gian nào?
Còn trưởng giả Duy Ma Cật thì dựa vào Pháp Tánh mà
nói nên Pháp Tánh là tuyệt đối, không thay đổi, bất
sanh bất diệt là Như nên không phân biệt thời gian
có quá khứ, hiện tại hay vị lai. Thời gian được con
người đặt ra là dựa theo khái niệm tương đối. Thí dụ
như Tây phương thì họ chia là ngày, giờ, phút, giây,
năm, tháng. Còn người Đông phương thì có giờ ngọ,
giờ thìn…hay tháng tỵ, tháng mẹo…Cũng như nếu chúng
ta ở Mỷ thì tháng 12 là mùa Đông lạnh giá trong khi
ở Úc Đại Lợi lại là mùa hè nóng bức. Khi con người
đang hạnh phúc vui tươi thì tâm hồn lúc nào cũng như
mùa Xuân hoa nở. Còn gặp cảnh bất hạnh đớn đau thì
cho dù đang ở mùa Xuân họ vẫn thấy ảm đạm u buồn như
mùa Đông giá rét. Thế thì chẳng có cái gì là đồng
nhất cố định cả. Cho nên khi còn thấy có sự phân
biệt, thay đổi thì tâm còn vọng động tức là còn đau
khổ. Vì thế nếu dựa theo Pháp Tánh thì không còn
phân biệt thời gian và không gian nên không có vấn
đề một đời hay một kiếp mà trước sau như một tức là
không có quá khứ, hiện tại hay vị lai. Vì thế không
có cái gì gọi là một đời cả.
Trong lịch sử Việt Nam có ngài
Thiền Lão Thiền Sư mang sắc thái của thiền Mã Tổ.
Một hôm, vua Lý Nhân Tông vào núi gặp ngài bèn hỏi:
- Hòa thượng ở đây được bao
lâu rồi?
Ngài đáp:
Đản tri kim nhật nguyệt
Thùy thức cựu xuân thu
Nghĩa là:
Chỉ biết ngày tháng này
Còn xuân thu trước ai hay
làm gì
Vua hỏi tiếp:
- Hòa thượng ở đây làm gì?
Ngài đáp:
Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại
cảnh
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn
chân.
Nghĩa là:
Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh
khác
Trăng trong mây trắng hiện
toàn chân.
Qua bốn câu thơ trả lời của ngài,
chúng ta thấy ngài đang sống với thực tại chớ không
bị lệ thuộc vào thời gian. Ngài không nghĩ về quá
khứ mà cũng chẳng quan tâm đến tương lai và tất cả
cảnh vật trước mắt ngài đều từ chơn tâm hiển lộ. Vậy
người biết sống trong giây phút hiện tại là người có
hạnh phúc, có an lạc. Suy nghĩ về quá khứ hoặc
lo lắng quá nhiều cho tương lai chưa đến là đánh đổi
cái hạnh phúc an lạc trong tay mình bằng những phiền
não khổ đau không thể nắm bắt được. Thí dụ như nếu
chúng ta đang nấu nồi cơm thật nóng thật ngon thì cứ
thưởng thức hương vị thơm ngon của cơm bây giờ, tại
sao lại phải lo lắng về quá khứ hay tương lai thì
cũng như cơm đang nóng không ăn mà lại ăn cơm ngụi
hay cơm sống chưa nấu.
Còn nếu nói về vô sanh mà được thọ
ký thì vô sanh là cái bất sanh bất diệt, là khả năng
để thành Phật có sẳn trong tất cả mọi người. Do đó
nếu Di Lặc được thọ ký thì chúng sinh cũng được thọ
ký. Nếu Di Lặc được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác thì chúng sinh cũng được quả vị Vô thượng Bồ-đề
vì tất cả chúng sinh chính là tướng Bồ-đề.
Đứng về Pháp Tướng thì Di Lặc là
vị đại Bồ-tát sắp thành Phật còn chúng sinh thì vẫn
trầm luân trong lục đạo luân hồi. Nhưng nếu dựa vào
Pháp Tánh thì Di Lặc và chúng sinh đâu có khác gì
nhau bởi vì hai bên đều có Phật Tánh bình đẳng như
nhau, không hơn không kém. Di Lặc có trí tuệ thì
chúng sinh cũng sẳn có cái trí tuệ sáng suốt nầy. Di
Lặc được diệt độ thì chúng sinh cũng được diệt độ.
Đứng về Tướng thì thấy có chúng sinh để độ, có pháp
môn để tu, có quả vị để chứng, có phân biệt thời
gian, không gian, có phân biệt tốt xấu, thiện ác, có
tu bất thối chuyển…Đây chính là cái nhìn của Tiểu
thừa tức là giáo lý phương tiện để hướng dẫn những
người sơ cơ tu tâm sửa tánh, bỏ ác phục thiện. Họ
thấy có quả vị để chứng, có trí tuệ phát sinh nên
mới cố gắng tu hành. Đây cũng còn gọi là giáo lý bất
liễu nghĩa.
Nhưng thật ra dựa theo tư tưởng
Đại thừa tức là giáo lý liễu nghĩa thì Bồ-đề phát
xuất từ tự tánh thanh tịnh nên không có cái gì là
thối chuyển hay bất thối chuyển. Thật ra quả Bồ-đề
không là cái gì cả vì nó chẳng ở xa, chẳng ở gần,
chẳng ở thấp, chẳng ở cao, chẳng ở trên, chẳng ở
dưới. Nó không có kích thước nặng nhẹ, lớn nhỏ,
vuông tròn, không có màu sắc, hình tướng cho nên khi
Bồ-tát Di Lặc dạy các vị Thiên tử tu hạnh bất thối
chuyển để đạt quả vị Bồ-đề thì ngài dạy họ đạt cái
gì? Bởi vì Bồ-đề phát xuất từ trong tự tánh của mọi
chúng sinh. Nếu tự tánh của mình hoàn toàn thanh
tịnh, không còn phiền não vô minh, không còn các dục
vọng ô nhiễm thì có Bồ-đề nên không có vấn đề thối
chuyển hay không thối chuyển. Mọi người đều có tự
tánh Bồ-đề vì Bồ-đề là về mặt trí tuệ giác ngộ, nhận
thức chân lý và nhìn đời bằng con mắt khách quan
đứng đắn chớ không phải do ý niệm chủ quan thiên
lệch. Còn Niết bàn là về mặt giải thoát cho nên
không còn phiền não khổ đau thì có Niết bàn ngay. Do
đó cái tự tánh thanh tịnh khách quan cùng với nhận
thức chân lý khách quan trong sáng và không sai lầm
thì chính là Bồ-đề vậy. Vì thế dựa theo tư tưởng Duy
Ma Cật thì:
Tịch diệt là Bồ-đề. Tịch
diệt là vắng lặng tất cả những tham vọng, những lục
dục thất tình, những tham-sân-si, mạn nghi, phiền
não cho nên có tịch diệt là có Bồ-đề.
Bất quán là Bồ-đề. Quán là
tưởng tượng nhớ lại những chuyện về quá khứ hay
tương lai, chuyện gần chuyện xa, chuyện giàu chuyện
nghèo, chuyện mình chuyện người làm cho tâm bất
tịnh. Nếu không quán tưởng như thế tức là đừng có ảo
tưởng về quá khứ, đừng có mù quán về hiện tại và
đừng mộng tưởng về tương lai thì tâm thanh tịnh tức
là có Bồ-đề.
Bất hành là Bồ-đề. Hành tức
là tâm hành. Bất hành là tâm không còn nghĩ chuyện
quá khứ, chuyện hiện tại hay chuyện tương lai và
không còn nhớ thiện nhớ ác, nhớ tốt nhớ xấu. Vì thế
Lục Tổ cũng nói không nghĩ thiện, nghĩ ác thì thấy
được Chơn tâm tức là có Bồ-đề.
Đoạn là Bồ-đề. Đoạn là xa
lìa kiến chấp và lìa các vọng tưởng thì có Bồ-đề.
Ly là Bồ-đề. Nếu con người
lìa xa vô minh phiền não, lìa xa dục vọng là có
Bồ-đề.
Chướng là Bồ-đề. Chướng là
ngăn trở những mong muốn, tham vọng. Đánh tan những
ước vọng ảo huyền thì có Bồ-đề.
Bất nhập là Bồ-đề. Nhập tức
là sáu căn còn tham đắm nơi sáu trần nên gọi là lục
nhập. Sáu trần có sức hấp dẩn, quyến rủ làm sáu căn
ham thích mà thâu nhập nó vào làm tâm chất đầy vọng
tưởng. Bất nhập là mắt tai mũi lưỡi thân và ý vẫn
còn nguyên mà không bị sắc thanh hương vị xúc pháp
ảnh hưởng, tác động mà tạo ý niệm tham dục. Bất nhập
là không còn tham trước nên tâm được thanh tịnh tức
là có Bồ-đề.
Thuận là Bồ-đề. Thuận là
tùy thuận Pháp Tánh. Theo giáo lý của đạo Phật thì
tự tánh của mọi người là thanh tịnh bản nhiên cho
nên tùy thuận với tự tánh thanh tịnh bản nhiên là có
Bồ-đề.
Trụ là Bồ-đề. Khi lìa tâm
vọng tưởng, điên đảo mà quay về với Pháp Tánh thanh
tịnh thì có Bồ-đề.
Bất nhị là Bồ-đề. Bỏ tánh
phân biệt tốt xấu, cao thấp, thiện ác. Con người có
xóa bỏ được biên giới nhị nguyên để quay về với chân
lý Nhất Như tức là tất cả là một và một là tất cả
thì có Bồ-đề.
Đẳng là Bồ-đề. Bình đẳng
tức là không còn chấp ngã, chấp pháp. Mình cũng
không mà người và vũ trụ cũng không nên tâm thanh
tịnh tức là có Bồ-đề.
Vô vi là Bồ-đề. Vô vi là
không sanh diệt, không tạo tác, không thay đổi, xa
lìa Tướng hư vọng và là Thể Tánh của các pháp nên
rất thanh tịnh tức là Bồ-đề.
Trí tuệ của mọi người là thật tánh
để có khả năng trực nhận chân lý mà Tự tánh thanh
tịnh hay Phật Tánh là có sẳn trong tất cả mọi người.
Tự tánh luôn vắng lặng thanh tịnh thì cần gì phải
chứng đắc Niết bàn. Bồ-đề, Phật Tánh là có sẳn chớ
đâu phải tu hành đắc đạo mới có. Khi mê vọng điên
đảo thì không biết mình có Phật Tánh thanh tịnh. Lúc
thức tỉnh thì nó hiện ra cũng như trong túi luôn có
viên ngọc quý Ma ni mà không biết, chỉ cần thò tay
vô lấy thì sẽ hết nghèo đói, điên đảo khổ đau ngay.
Trong tánh Không tức là Tự Tánh thanh tịnh bản nhiên
thì không có trí tuệ hay chứng đắc gì cả. Vì thế Tâm
Kinh mới có câu:”Vô trí diệc vô đắc” và “Dĩ
vô sở đắc cố” là vậy. Trong Chân Không Diệu
Tánh, Phật Tánh thì luôn sẳn có cho nên chứng đắc
chỉ là cách nói, là giả danh để tìm thấy được con
người thật tức là Bản Lai Diện Mục của mình mà thôi.
Vì thế mà Kinh Hoa Nghiêm trong thời Nhật xuất tiên
chiếu thì Phật đã xác định là”Tất cả chúng sinh
sẽ thành Phật vì trong tất cả chúng sinh đều có đủ
phước đức trí tuệ Phật”. Và Đức Phật đã dạy
trong Kinh Pháp Hoa trước khi Ngài nhập Niết bàn
trong thời Nhật một hoàn chiếu là” Tất cả chúng
sinh đã thành Phật”.
Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật
Thích Ca dạy rằng “Như Lai không chứng đắc quả Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác gì cả”. Sở dĩ Ngài
không chứng mà thế gian đều tôn trọng Ngài là vì Như
Lai không có tướng ngã, không có tướng nhơn, không
có tướng chúng sinh và cũng không có tướng thọ giả.
Như Lai nhìn vạn pháp đều bình đẳng không thương,
không ghét, không giận không hờn, không thiên không
vị. Và Như Lai luôn sống trong thiện pháp chớ không
lọt vào trong quỷ đạo của ác pháp cho nên người đời
gọi Như Lai chứng quả Vô thượng Bồ-đề chớ thật ra
Như Lai đâu có chứng đắc gì đâu. Nhưng Như Lai nói
không chứng đắc mà thật ra Như Lai có chứng đắc. Cái
chứng đắc nầy là vô thực và vô hư tức là
không phải thật và cũng không phải là không. Tại
sao không là thật? Bởi vì cái mà Như Lai chứng
đắc thì không có hình tướng, không có màu sắc, không
có kích thước, nặng nhẹ, không có văn tự ngôn ngữ để
diễn tả. Thế thì cái mà Như lai chứng đắc là không
thật có. Nhưng nếu không thật thì phải là hư. Vậy mà
cái quả chứng đắc của Như Lai lại là vô hư. Tại
sao? Là vì Như Lai có đầy đủ trí tuệ để nhận
thức chân lý hoàn toàn đúng, đúng theo tự tánh Bồ-đề
và tự tánh thanh tịnh Niết bàn của sự vật hiện
tượng, đúng theo Thật Tánh của con người, đúng theo
Pháp Tánh của vạn pháp cho nên Như Lai không bao giờ
có vô minh phiền não khổ đau, tâm luôn thường trụ
Niết bàn. Thế thì quả chứng đắc chính là vô hư tức
là không phải là không có. Cho nên Tâm Kinh mới có
câu:”Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc” có
nghĩa là Có tức là Không và Không mới chính là Có
vậy. Khi vào chùa gặp các vị Tăng thì làm sao
chúng ta biết vị nào chứng đắc và vị nào chưa chứng
đắc? Trong Phật giáo thì chứng đắc là vô thực
thì đâu có ai cấp bằng hay chứng chỉ chứng đắc cho
ai đâu. Thượng Tọa, Hòa thượng là những danh xưng,
là những giả danh để gọi chớ nó không phản ảnh đúng
con người thật hay Bản tâm của họ được. Vì tu hành
là vô cầu vô sở đắc tức là ngay cả chứng đắc cũng
không mong cầu thì Thượng tọa hay Hòa thượng có sá
gì. Nhưng vô hư thì nó sẽ phản ảnh tướng mạo
uy nghi đạo đức, tư tưởng chân chính, lời nói thanh
cao hòa nhả, hành động đúng với chân lý, không
còn tánh tham tật đố, loại bỏ tập khí ngã mạn, làm
việc vì chúng sinh chớ không mong cầu lợi ích gì cho
riêng mình. Vị nào đạt được những đặc tính đó thì là
người chứng đạo. Có vô hư mới thành vô thực được.
Chỉ có tư tưởng Đại thừa tức là giáo lý liễu nghĩa
thượng thừa mới cho chúng ta cái nhìn thâm sâu huyền
diệu như vậy.
Như thế thì không riêng gì Bồ-tát
Di Lặc được Phật thọ ký mà chính Đức Phật cũng đã
thọ ký cho tất cả chúng sinh từ lâu rồi.
Thế là:
Chẳng cần chờ đến “Long Hoa
hội”
Tự tánh đã từng “thọ ký”
xong.
Nếu nói theo giáo lý phương tiện
là có pháp môn để tu, có Bồ-đề để chứng tức là vẫn
còn có chấp. Cũng vì còn chấp ngã, chấp pháp nên
Phật tử tại gia cúng vái cầu xin, còn người xuất gia
thì chấp cứng vào hình tướng, lấy phương tiện làm
cứu cánh, càng thêm ràng buộc thì làm sao có thể
giải thoát mà thấy được Bồ-đề? Vì thấy chỗ mắc kẹt
nầy mà tư tưởng Duy Ma Cật sẽ dẫn dắt chúng sinh đến
một thế giới của Bản Tâm thanh tịnh mà đã có sẳn
trong tất cả mọi người không phân biệt tại gia hay
xuất gia. Ông Duy Ma Cật giúp chúng sinh phá tan các
chấp, cho dù là chấp Có, chấp Không hay chấp ngã
chấp pháp để lìa Sự Tướng sinh diệt, biến đổi, vô
thường mà nhập vào Bản Thể Tự Tánh thanh tịnh sẳn có
của mình. Con người có lìa xa vọng tưởng điên đảo và
tùy thuận Pháp Tánh Chân Như thì tâm được hoàn toàn
thanh tịnh tức là Bồ-đề hiễn lộ và Niết bàn hiện
bày. Biết thế thì chúng sinh không cần phải cúng vái
cầu xin vì không cần đi tìm kiếm những gì mình đã có
sẳn. Trong Phật giáo cúng vái cầu xin là hình tướng
bên ngoài vì cầu mà được thì sinh ra kiêu căng, tự
phụ, mất tự tin. Còn cầu mà không được thì sanh ra
oán Trời trách Phật. Vì thế tư tưởng Đại thừa giúp
chúng sinh quay về sống với Tự Tánh thanh tịnh của
mình thì cuộc đời sẽ vô cùng an vui tự tại. Dù thuận
duyên có đến hay phải đối diện với nghịch duyên thì
cũng chẳng có gì quan trọng cả vì vạn pháp giai
không, duyên sanh như huyễn thì có gì thật đâu mà
phải bận lòng. Có hay không của thế gian cũng chỉ là
duyên giả huyễn vì duyên tan thì phải trả lại hết
cho thế gian. Có càng nhiều thì khổ càng to thế
thôi. Chấp nhận và sống hạnh phúc với những gì mình
có thì mới thật là an vui tự tại.
Con người đã có sẳn cái khả năng
nhận thức khách quan mà đạo Phật gọi là tự tánh
thanh tịnh bản nhiên. Chính cái tự tánh thanh tịnh
khách quan sẽ giúp chúng ta có khả năng nhận thức
mọi hiện tượng trong thế gian nầy một cách khách
quan, đứng đắn đúng với sự thật. Nhưng chúng ta lúc
nào cũng chạy theo chủ quan tức là chạy theo
tham-sân-si, mạn, nghi, phiền não, vô minh nên đánh
mất đi cái nhìn khách quan, cái tự tánh thanh tịnh
tức là cái trí tuệ trong sáng của mình nên chúng ta
không có Bồ-đề là vậy. Do đó khi ông Duy Ma Cật bảo
Bồ-tát Di Lặc đừng dạy các chư Thiên về pháp bất
thối chuyển để có Bồ-đề là vì trong tất cả chúng ta
đã có sẳn Bồ-đề rồi chớ còn tìm kiếm ở đâu xa. Bồ-đề
là giải thoát giác ngộ, là vô vi, là vô hình vô
tướng, là Chân Không Diệu Tánh thì làm sao mà tìm
thấy được. Chỉ cần con người biết Tịch diệt tức là
làm tâm vắng lặng bằng cách loại bỏ tham-sân-si,
mạn, nghi, phiền não để không còn giận còn hờn, còn
buồn còn khổ, còn tánh tham tật đố hay thực hành Bất
quán tức là đừng ngồi đây mà nhớ tới những chuyện
viễn vông không đâu bên Tây bên Tàu, mộng tưởng ảo
huyền những ước vọng tương lai về giàu sanh phú
quý…hay Bất nhập…thì có Bồ-đề ngay.
Nhiều Phật tử thường khoe tháng
này tôi ăn chay được 5 ngày, 10 ngày, hay nửa tháng,
một tháng…Thật ra ăn chay đậu hủ tương rau là cốt để
kiểm soát lại thân tâm của chính mình mà loại bỏ bớt
tham-sân-si, mạn, nghi, tà kiến. Nếu ăn chay mà tánh
tham chưa bỏ, tật đố vẫn còn, lòng còn buồn giận thì
tâm làm sao sáng suốt thanh tịnh được. Ăn chay như
vậy thì chỉ là tu theo hình thức bề ngoài mà thôi.
Tâm không thanh tịnh thì làm gì có Bồ-đề. Cho nên ca
dao Việt
Nam
cũng có câu:
Sân si nghiệp chướng không chừa
Bo bo mà giữ tương dưa làm gì?
Khi Bồ-tát Di Lặc tin vào lời nói
Thọ ký, tin vào văn tự Một đời sẽ thành Phật và tin
vào chứng quả Bồ-đề thì ngài tượng trưng cho Sai
Biệt Trí, còn cư sĩ Duy Ma Cật dựa vào Bản Thể, Pháp
Tánh thì không còn có sự phân biệt mà phải lìa tất
cả văn tự, ngôn ngữ để thấy tất cả không Hai tức là
Bất Nhị. Đây chính là Căn Bản Trí tức là giác tính
minh diệu mà mỗi chúng sinh vốn đã có sẳn nhưng bị
vô minh phiền não che lấp nên chưa được phát chiếu
cũng như chất vàng còn nằm trong quặng lẫn lộn với
đất, cát, sỏi, đá.
Có một cư sĩ mới học thiền, tới
hỏi ngài Trí Tạng Tây Đường:
- Bạch Hòa thượng có Phật
không?
Ngài trả lời:
- Có.
- Bạch Hòa thượng, có pháp
không?
- Có.
- Bạch Hòa thượng, có thiên
đường không?
- Có.
- Bạch Hòa thượng, có địa
ngục không?
- Có.
Hỏi cái gì ngài cũng đáp có. Ông
cư sĩ thắc mắc hỏi lại:
- Hòa thượng trả lời “Có”
thì có lầm chăng?
Hòa thượng hỏi:
- Trước khi đến đây ông có
hỏi ai những câu nầy không?
Cư sĩ thưa:
- Dạ, con có hỏi Hòa thượng
Cảnh Sơn.
- Vậy Hòa thượng đáp như thế
nào?
- Câu nào ngài cũng đáp
không, còn ở đây câu nào Hòa thượng cũng đáp có. Vậy
ai đúng, ai sai?
Ngài liền hỏi ông cư sĩ:
- Ông có vợ không?
- Dạ có.
- Hòa thượng Cảnh Sơn có vợ
không?
- Dạ không.
- Vì Hòa thượng Cảnh Sơn
không có vợ nên ngài đáp câu nào cũng không, còn ông
có vợ nên câu nào tôi cũng đáp có.
Ngài Cảnh Sơn không vợ là ý muốn
nói ngài không còn ái nhiễm, ngài đã ngộ được các
Pháp tự tánh là Không, nên ngài mới đáp không. Còn
ông cư sĩ mới học đạo, còn đầy ái nhiễm và mê chấp
nên ngài Tây Đường đáp “Có” để ông ấy sợ mà lo tu
hành. Đây là cách dùng phương tiện khéo léo để giáo
hóa chúng sinh mà thôi vì người thông suốt lý đạo
thì nói sao cũng được, không chấp trên văn tự ngôn
ngữ nên nói là để phá chấp mà phù hợp với lý chân
thật. Thật ra “Có” và “Không” đều đúng cả vì nếu dựa
theo sự Tướng bên ngoài thì Có. Còn theo Bản Thể
Chân Như thanh tịnh bên trong thì tất cả đều là
không. Nhưng Sắc tức thị Không cho nên Có tức là
Không và Không chính là Có tuy hai nhưng mà một tức
là bất nhị.
Bạch Thế Tôn! Bồ-tát Di Lặc
thưa. Khi trưởng giả Duy Ma Cật thuyết thời pháp ấy,
hai trăm Thiên tử được vô sanh pháp nhẫn. Vì vậy,
con không dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh.
Khi các vị Trời đã thấu hiểu rằng
Đức Phật không những chỉ thọ ký cho Bồ-tát Di Lặc mà
Ngài còn thọ ký cho tất cả chúng sinh vì ai ai cũng
sẳn có cái Phật Tánh thanh tịnh bản nhiên. Và một
đời sẽ thành Phật là nói theo giáo lý phương tiện
chớ thật ra không có cái móc thời gian nào có thể đo
được khi nào là một đời cả vì ngay trong đời hiện
tại thì chúng ta cũng đã có quá khứ và vị lại hiện
diện rồi. Nói một cách khác là về phương diện thời
gian không có bất cứ một thời điểm đặc biệt nào làm
thời điểm zero để sau đó phân chia cái âm thì thuộc
quá khứ hay cái dương thì thuộc về hiện tại như
trong toán học. Sau cùng cũng không có cái gì là
Bồ-đề hay chứng đắc cả vì nếu con người biết lìa xa
vọng thức mê lầm quay về sống với tự tánh thanh tịnh
bản nhiên của mình thì Bồ-đề hiễn hiện. Vì Chân lý
huyền diệu như vậy cho nên hai trăm vị Trời khi đã
am hiểu liền được vô sanh pháp nhẫn tức là thoát
khỏi vòng luân hồi sinh tử.