Giảng
Giải
Kinh Duy Ma Cật
Tác Giả: Lê Sỹ Minh
Tùng
-o0o-
Chương Thứ Ba
Phẩm Đệ Tử
(The Disciples’ Reluctance
to Visit Vimalakirti)
Hàng Thanh Văn
1) Tôn giả Mục Kiền Liên
(Maha Moggalyana):
Vấn Đề Thuyết Pháp.
Trong số đại đệ tử của Phật,
tôn giả Mục Kiền Liên nổi danh là đệ nhất thần thông.
Sau khi ngài Xá Lợi Phất từ chối không dám đi, Đức
Phật liền gọi tôn giả Mục Kiền Liên và bảo rằng:
- Mục Kiền Liên! Ông hảy đến
thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật.
Ngài Mục Kiền Liên liền thưa:
-
Bạch Thế Tôn! Con không dám lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh ông ấy. Trước đây có lần con đi vào
thành Tỳ Xá Ly. Trong một thôn xóm nọ, con vì một
nhóm cư sĩ nói pháp cho họ nghe. Bấy giờ, trưởng giả
Duy Ma Cật đến nói với con rằng:
- Thưa ngài Mục Kiền Liên!
Vì hàng bạch cư sĩ nói pháp Ngài không nên nói những
pháp như vậy. Vả chăng nói pháp phải đúng như pháp
mà nói. Bởi vì pháp không có tướng chúng sinh, xa
lìa sự cấu nhiễm về chúng sinh. Pháp không có ngã vì
lìa ngã cấu. Pháp không có tướng thọ mệnh, xa lìa
sanh tử ưu bi. Pháp không có tướng nhơn, vì thời
gian trước và thời gian sau không phải một. Pháp
thường vắng lặng vì dứt bặt các tướng. Pháp ly tất
cả tướng vì nó không phải đối tượng sở duyên. Pháp
không có tên, không có lời để gọi vì ngoài sự nghĩ
ngợi nói năng. Pháp không có gì để nói vì nó ly các
giác quán. Pháp không hình tướng vì nó như hư không.
Pháp không như trò giởn vì nó hoàn toàn rỗng lặng.
Pháp không phải là ngã sở vì nó rời ngoài ngã sở.
Pháp không thể phân biệt vì nó vượt ngoài sự nhận
thức đánh giá. Pháp không có thể so sánh vì nó không
ở trong vòng đối đãi. Pháp không lệ thuộc vào nhân
vì pháp tồn tại ở duyên. Pháp hòa đồng pháp tánh vì
nó dung nạp với pháp tánh. Pháp tùy thuận với pháp
“NHƯ” vì nó không chỗ tùy. Pháp trụ nơi thật tế vì
pháp bất đồng với bên hữu bên vô, bên đoạn bên
thường. Pháp không có giao động vì nó không tương
can với lục trần. Pháp không có đến đi vì pháp vốn
là bất trụ. Pháp thuận với không, tùy vô tướng, hợp
với vô tác. Pháp rời tốt xấu. Pháp không tăng nhiều,
không giảm thiểu. Pháp không có chỗ qui thú, nó vượt
qua nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, tâm. Pháp không có
cao thấp, pháp thường trú bất động. Pháp xa lìa tất
cả sự nghĩ ngợi và thi thố.
Hằng ngày ngài Mục Kiền Liên vào
thành khất thực và sau đó thuyết pháp cho Phật tử
tại gia nghe để họ thấu biết thêm về giáo lý Đức
Phật. Những gì ngài Mục Kiền Liên nói là dựa theo
lời Phật thuyết pháp thế mà cư sĩ Duy Ma cật bảo là
không nên nói như vậy. Không lẻ ông Mục Kiền Liên
nói sai? Pháp của Phật giáo có nhiều loại: Đó là
pháp tánh và pháp tướng, pháp liễu nghĩa và pháp bất
liễu nghĩa, pháp tiểu thừa và pháp đại thừa. Chẳng
hạn như khi nói về tứ diệu đế, thập nhị nhân
duyên…là nói về pháp tướng tức là pháp có sinh có
diệt. Còn pháp tánh là nói về chân không, bản thể
tuyệt đối, không hình tướng bởi vì nó là pháp ở
trong tâm. Mà cái không hình, không sắc thì làm sao
diễn tả được nên nó phải lìa văn tự, ly ngôn thuyết
và ly tâm duyên mà Bồ-tát gọi pháp tánh nầy là NHƯ.
Đức Phật đã khẳng định rằng tất cả
mọi chúng sinh đều có Phật tánh như nhau do đó nếu
muốn chúng sinh nghe pháp và thấu hiểu mà thực hành
được viên mãn thì phải nói pháp cho đúng với chân
lý, hợp với Phật tánh tức là NHƯ. Như có nghĩa là tự
nó sao cứ để vậy, đừng để tâm phân biệt so sánh,
thêm bớt vì nó đã lìa tất cả văn tự, ngôn ngữ…cho
nên khi nói pháp thì phải nói với tâm vô phân biệt,
vô quái ngại tức là nói pháp vì lợi ích cho chúng
sinh chớ không phải vì danh văn lợi dưỡng cho mình.
Khi nói về pháp tướng thì có bốn tướng: ngã, nhân,
chúng sinh và thọ giả mà pháp tánh là Bản thể tuyệt
đối thì làm gì còn có ta, có người, có chúng sinh
hay có thọ giả và dĩ nhiên làm gì còn sinh tử luân
hồi.
Thưa ngài Mục Kiền Liên!
Pháp như thế thì làm sao mà có thể nói được? Luận
đến chỗ cứu cánh của vấn đề thuyết pháp thì người
nói không nói gì hết, không phô bày gì hết. Người
nghe không nghe gì hết và không được có một sở đắc
nào. Ví như nhà ảo thuật làm ra người ảo, người ảo
lại nói chuyện ảo. Phải xác lập ý thức kiên định như
thế rồi mới nên thuyết pháp.
Tuy ông Mục Kiền Liên lập lại lời
của Phật để thuyết pháp giúp chúng sinh được thức
tỉnh nhưng đây chỉ là phương tiện tương đối để đi
đến Chân lý mà thuyết pháp tự nó không phải là Chân
lý tuyệt đối. Bởi vì Chân Lý thì không thay đổi,
biến thiên theo thời gian và không gian. Lúc nào
cũng vậy và ở đâu cũng thế. Pháp mà ông Duy Ma Cật
muốn nói ở đây chính là Pháp tánh và đó mới là Chân
lý tuyệt đối, là Phật tri kiến, là Bản lai diện mục,
là Bản Thể Chân Như…Chính cái pháp tánh nầy không
hình, không tướng thì làm sao có thể diễn tả bằng
lời nói, ngôn ngữ cho nên những gì mà ông Mục Kiền
Liên có thể nói được thì chỉ là pháp tướng mà thôi.
Pháp mà có thể nói được thì phải có đối đãi, so sánh
mà so sánh, đối đãi là tướng chớ không phải tánh.
Tất cả những kinh điển, giáo lý cũng chỉ là pháp
tướng có nghĩa là phương tiện, là ngón tay mà đừng
quên cứu cánh vẫn là ánh sáng chân lý, là mặt trăng,
là pháp tánh vậy. Cùng ý nghĩa nầy trong kinh Kim
Cang có câu:”Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng;
nhược kiến chư tướng Phi Tướng tức kiến Như Lai”
có nghĩa là cái gì mà có hình tướng là giả huyễn, là
không thật, là sinh diệt; còn nếu thấy được cái
Tướng Không của mọi sự vật thì sẽ thấy được Chân lý.
Nếu đứng về phương diện Bản Thể
Chân Như thì Chân Lý không thể nào diễn bày được cho
nên nói mà không nói, nghe mà không nghe và chứng
đắc mà không chứng đắc. Một ngày nọ tôn giả Tu Bồ Đề
đang ngồi thiền trong hang núi Linh Thứu, có vị trời
Đế Thích đến rãi hoa cúng dường. Tôn giả nói:
- Vì lẽ gì ông đến đây rãi
hoa?
- Vì tôn giả nói kinh Bát Nhã hay
quá nên con đến cúng dường.
- Từ hồi nào đến giờ tôi
chưa từng nói một câu, sao ông lại nói tôi thuyết
Bát nhã?
- Tôn giả không nói, tôi
cũng không nghe. Không nói, không nghe mới là Bát
Nhã chân chính.
Lại có một lần nọ Bồ-tát Văn Thù
thỉnh Phật một lần chuyển pháp luân nữa thì Đức Phật
bảo rằng:
- Trong thời gian bốn mươi
chín năm ta chưa từng nói một chữ nào, sao ông lại
thỉnh ta chuyển pháp luân một lần nữa? Hóa ra trước
đây ta đã từng chuyển pháp luân rồi sao?
Nói mà không nói mới là chân Bát
nhã.
Mặc dù cứu cánh là Chân Lý, là Bản
Thể Chân Như nhưng con người cần phải dùng phương
tiện là pháp tướng tức là có người nói và có kẻ nghe
thì Chánh pháp mới có thể lưu truyền được. Bởi vì
nếu khéo dùng phương tiện thì đạt tới cứu cánh viên
mãn. Do đó nói pháp bây giờ cũng như người huyễn
thuyết pháp cho người huyễn nghe. Người nói là huyễn
mà người nghe cũng là huyễn. Tuy biết là huyễn mà
vẫn dùng huyễn làm phương tiện để đi tới Chân Lý.
Tuy Bồ-tát biết tất cả mọi pháp thế gian là huyễn,
nhưng họ vẫn thuyết, vẫn dùng cái huyễn như là nền
móng để dẫn dắt chúng sinh thấy cái chân thật. Toàn
bộ giáo lý của Đức Phật là giúp chúng sinh thấy được
tà để quay về với chánh, thấy huyễn để tìm về với
chân tức là hướng dẫn chúng sinh lìa tướng mà chứng
nhập pháp tánh. Cũng như những làn sóng nhấp nhô của
đại dương, sóng biển là Tướng và Thể nước yên tịnh
tận dưới lòng đại dương. Do đó muốn thấy được Thể
thì con người phải biết Tướng vì Thể và Tướng cũng
đều do nước mà ra, bất khả phân ly.
Thêm nữa, thưa ngài Mục Kiền
Liên! Người thuyết pháp phải biết căn tánh chúng
sinh. Trước một hay nhiều đối tượng phải đọc thấy rõ
ràng căn tánh của họ lợi hay độn,
Căn cơ của chúng sinh thì có cao
có thấp, sâu cạn khác nhau vì thế căn nhà giác ngộ
mới có tám vạn bốn ngàn cánh cửa để vào. Cũng như có
ba con thú sang sông. Con sông là Phật pháp không
cạn không sâu. Con dê nhỏ thì lội ngập đầu cũng ví
như người chưa biết đạo. Con nai lớn hơn thì lội
ngập cổ ví như người chỉ biết pháp hữu vi sanh diệt.
Còn con voi thì chỉ ngập ống chân ví như người đã
thấu hiểu lý Không, Bát nhã. Ngày xưa chính Đức Phật
phải đợi đến hai mươi năm mới đem diệu lý Bát nhã mà
thuyết cho đệ tử và cũng cần đến hai mươi hai năm
mới thuyết xong Chân lý nầy. Khi xuống núi Linh Thứu
vào thành Vương Xá thì Đức Phật thuyết cho Phật tử
tại gia. Ngài dạy họ đời là khổ não, cần phải tu tâm
dưỡng tánh mà không cần lìa bỏ gia đình, quyến
thuộc, thực hành Bồ-tát đạo và phát tâm cầu vô
thượng Bồ-đề, sống với lòng vị tha vô ngã để tâm
được thanh tịnh thì cũng chứng được vô sanh pháp
nhẫn tức là giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Khi về
lại núi Linh Thứu thì Ngài thuyết cho hàng xuất gia
để loại bỏ Tham-Sân-Si, ái dục mà chứng đắc Niết
bàn. Nên nhớ pháp chỉ là phương tiện, là chiếc bè
nên khi đến được bờ bên kia thì phải bỏ bè mà lên bờ
giác ngộ. Do đó khi thuyết pháp thì phải biết đối
tượng, phải hợp với căn cơ thì chúng sinh mới thấu
hiểu những bài pháp thoại và đó là yếu tố không thể
thiếu của một vị pháp sư. Chúng sinh có Tri mới có
Hành và nếu họ thực hành rốt ráo thì tâm mới khai mở
và sau cùng trí tuệ sẽ phát sanh.
Người thuyết pháp phải lấy
tâm đại bi mà khen ngợi đại thừa.
Tâm đại bi là biết thương xót
chúng sinh cho nên phát tâm đại thừa muốn cứu giúp
tất cả chúng sinh thoát ra khỏi biển trầm luân đau
khổ để hoàn thành Phật đạo viên mãn chớ không ích kỷ
mong cầu giải thoát cho riêng mình.
Phải nghĩ rằng thuyết pháp
là truyền bá, duy trì cho ngôi Tam Bảo cửu trụ thế
gian.
Thuyết pháp nhằm để báo đáp
thâm ân Phật. Phải lập chí như vậy, rồi sau mới
thuyết pháp.
Chư Phật ra đời chỉ vì một đại sự
nhân duyên là khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri
kiến. Vì thế Phật tri ân mà không bao giờ cầu báo
đáp. Nhưng người Phật tử có bổn phận phải báo đền ơn
đức nầy. Nhưng làm thế nào để báo ơn Phật?
Xây chùa to, tạc tượng lớn, in kinh, cúng kiến…chỉ
là hình thức bề ngoài không có giá trị thiết thực.
Chỉ có một phương pháp đứng đắn và hiệu quả nhất là
người Phật tử nghe theo lời Phật dạy, y giáo phụng
hành và tinh tấn nổ lực tu hành để khai mở trí tuệ
mà được giải thoát giác ngộ. Tự độ cho mình cũng
chưa đủ mà còn phải còn phải độ tha là cứu giúp mọi
người cùng đến chỗ giác ngộ thì cũng như cúng dường
cho chư Phật rồi vậy. Y pháp bất y nhân trong tứ y
pháp của kinh Đại Niết Bàn cũng xác định là sau khi
Phật nhập diệt thì phải lấy pháp làm Phật và giới
làm thầy. Do đó thuyết pháp là cố để trả ơn Phật vì
Phật đã chỉ cho ta con đường khai mở trí tuệ chớ
thuyết pháp không phải là phương tiện để khoe mình
thông kinh liễu nghĩa.
Ngôi Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng.
Nếu đứng về mặt pháp tướng mà nói
thì Phật chính là Đức Thích Ca Mâu Ni. Pháp là những
kinh điển ghi lại những lời Phật dạy để giúp chúng
sinh viên thành Phật đạo. Và Tăng là những đệ tử
xuất gia giữ gìn đầy đủ giới luật, tuân theo Lục Hòa
và đại diện cho Phật để dẫn dắt chúng sinh tu học.
Nếu tăng sĩ mà phá giới và không sống theo Lục hòa
tức là chia rẽ, chạy theo danh văn lợi dưỡng, lập bè
kết đảng thì đâu còn xứng đáng là tăng? Nhiều người
ngày nay vẫn còn lầm tưởng rằng có nhiều chùa, có
nhiều tăng sĩ là Phật giáo hưng thịnh. Thật ra trong
chiều dài lịch sử của Phật giáo đã chứng minh rằng
Phật giáo chỉ hưng thịnh khi nào có những vị cao
tăng đắc đạo làm gương sáng cho mọi người noi theo
mà tu đạo. Phẩm chất tốt lúc nào cũng cao quý hơn số
lượng nhiều là vậy. Thêm nữa, lịch sử nhân loại trên
mấy ngàn năm đã chứng minh hùng hồn rằng triều đại
nầy tan, triều đại khác đến nhưng Chân lý của Đức
Phật thì trường tồn bất biến. Do đó nếu con người
chạy theo thời thế là chạy theo sinh diệt còn sống
với Chân lý là tìm về với giải thoát, an vui và tự
tại.
Còn nếu đứng về pháp tánh mà nói
thì Phật là Chánh giác, là đấng Giác ngộ và Phật là
trí tuệ. Pháp là cái trí để giúp con người thấy được
chánh tri chánh kiến. Sau cùng Tăng chính là sự
thanh tịnh, không bị ô nhiễm. Vì thế khi nói đừng để
ngôi Tam Bảo bị hủy diệt cũng có hai ý nghĩa.
1)Nếu hiểu theo nghĩa cạn thì đừng
cho chùa chiền, kinh điển và chư tăng biến mất ở
trong thế gian nầy.
2)Nhưng nếu hiểu theo nghĩa sâu
thì đừng để cho sự giải thoát giác ngộ, cái trí tuệ
để biết chánh tri chánh kiến và sự thanh tịnh không
ô nhiễm biến mất trong tâm của chúng ta.
Một khi con người phá được màn vô
minh hắc ám và quay về sống với tự tánh thanh tịnh
để được giải thoát giác ngộ thì đây là một tấm gương
sáng cho chúng sinh noi theo và dĩ nhiên ánh đạo
vàng sẽ luôn bừng sáng trong tâm khảm của tất cả mọi
người. Có được như thế thì ngọn đèn tâm của chúng
sinh hòa nhập với ngọn đèn Phật để cùng đem ánh sáng
Chân Lý lưu truyền khắp năm châu bốn bể và mãi mãi
vô cùng vô tận về sau.
Sau cùng trưởng giả Duy Ma Cật đã
khẳng định với tôn giả Mục Kiền Liên rằng có thực
hiện đầy đủ những điều ở trên thì mới đúng với Pháp,
đúng với Chân lý vì một khi còn có kẻ nói, người
nghe là còn kẹt trong pháp tướng sinh diệt mà
phải đi thẳng tới pháp tánh thanh tịnh bản nhiên
rốt ráo. Đó là không có người nói mà cũng chẳng có
người nghe thì đây mới thật là chân thuyết pháp.
Sau khi ông Duy Ma Cật nói thời
pháp đó, có tám trăm cư sĩ phát tâm vô thượng Bồ-đề.
Bạch Thế Tôn! Con không được
biện tài như thế, cho nên con không dám lãnh trách
nhiệm đi thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật.
Chủ trương của kinh Duy Ma Cật là
nhắm vào hàng Phật tử tại gia để khuyến khích họ
phát Bồ-đề tâm và đi theo Bồ-tát đạo. Trọng tâm của
kinh nầy vẫn là chuyễn tâm thì cảnh sẽ chuyển theo.
Do đó chúng sinh tu ở đâu cũng được. Tu nhà, tu chợ,
tu trong sở làm, tu trong siêu thị…hay bất cứ nơi
nào cũng là đạo tràng thanh tịnh cả. Khi hàng Phật
tử tại gia thấy ông Duy Ma Cật có biện tài vô ngại
làm cho hai đại đệ tử của Phật là Xá Lợi Phất và Mục
Kiền Liên không đối đáp được nên có 800 cư sĩ hoan
hỷ tu theo ông Duy Ma Cật và phát tâm cầu vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác.