Giảng Giải
Kinh Duy Ma
Cật
Tác Giả: Lê Sỹ Minh Tùng
-o0o-
Tiểu Sử
Pháp Sư
Cưu Ma La Thập
Pháp sư
Cưu Ma La Thập tiếng Phạn là KUMARATRA gốc người Ấn
Độ sinh ra trong thời Diêu Tần tức khoảng 400 năm
sau Tây lịch và gần 1000 năm sau khi Đức Phật nhập
diệt. Ngài là người trí tuệ vô song, làu thông tam
tạng kinh điển nên được gọi là Tam Tạng Pháp Sư.
Khi còn ở
Ấn Độ, dòng họ của Ngài là một gia đình nối truyền
nhau làm quan Tướng quốc (chức Thủ tướng ngày nay)
đến khi thân phụ ngài là Cưu Ma La Viêm (Kumarayàna)
thì ông nầy bỏ ngôi Tướng quốc, xuất gia tu Phật và
xuất ngoại vào nước Cưu Ty, miền Tây vực nay thuộc
tỉnh Tân Cương, Trung Hoa. Quốc vương nước nầy rất
kính mến nên phong ông làm Quốc sư. Nhà vua có người
em gái tên là Kỳ-Bà (Jivà) mới hai mươi tuổi mà tư
chất thông minh xuất chúng nên muốn đem ép gả cho
Cưu Ma La Viêm. Sau đó sinh ra ngài Cưu Ma La Thập.
Tuy tuổi rất trẻ nhưng ngài đã biểu hiện nhiều thiên
tài thần diệu. Lúc lên bảy tuổi ngài theo mẹ vào
chùa để xuất gia, thấy một cái bình bát làm bằng
thiết thì ngài liền lấy đội lên đầu. Lúc ấy trong
tâm ngài phát sinh ý niệm cái bình bát nầy rất nặng
thì bổng nhiên cái bình bát nặng lên mấy trăm lần.
Nhưng điều thần diệu là tự nhiên trong ngài sinh lực
cũng tăng lên mấy trăm lần tương xứng với sức nặng
của bình bát để giúp ngài đủ sức đội. Từ đó mà ngài
thấu được câu:”Vạn Pháp Duy Tâm” có nghĩa là
tất cả mọi việc trong thế gian nầy đều do tâm mình
tạo. Khi tâm mình nghĩ thiện thì có cảnh thần tiên,
ngược lại nếu tâm mình nghĩ ác thì thấy cảnh địa
ngục, A-tỳ.
Sau khi
xuất gia không lâu, ngài học hiểu, thông suốt tất cả
tam tạng kinh điển và phát sinh đại trí tuệ. Ngài có
biện tài vô ngại nên nhà vua rất quý trọng bèn sai
đúc một cái pháp tọa bằng con sư tử vàng để ngài
ngồi lên mà thuyết pháp.
Bấy giờ ở
bên Trung Hoa vào đời nhà Đông Tấn có vua Tần Phù
Kiên của nước Tần vì nghe đại danh của ngài Cưu Ma
La Thập nên sai đại tướng Lữ Giang cử bảy vạn binh
đánh vào Tây vực buộc vua nước Cưu Ty phải giao Pháp
sư cho họ. Vua nước Cưu Ty khước từ nhưng cuối cùng
bị thất trận đành phải giao Pháp sư cho vua Tần. Khi
vừa đến đất Lương Châu thì nghe tin vua Tần Phù Kiên
bị ông Dao Trành giết chết, Lữ Giang tự chiếm đất
Lương Châu và tự phong mình làm vua là Tam Hà Vương,
lập ra nhà Hậu Lương.
Vua Dao
Trành lập ra triều đại Hậu Tần mà kinh điển thường
gọi là Dao Tần hay Diêu Tần. Vua Dao Trành qua đời
con là Dao Hưng lên nối ngôi mới cất binh qua đánh
vua Lữ Giang, nhưng Lữ Giang vừa qua đời con là Lữ
Long lên thay chịu đầu hàng. Nhà vua liền rước Pháp
sư về Tràng An, tôn làm Quốc sư và ngự tại Tiêu Diêu
Viên và Tây Minh Các để kiểm duyệt lại tất cả kinh
điển.
Pháp sư
Cưu Ma La Thập xem xét lại kinh điển thì thấy phần
lớn đều sai lệch chẳng đúng với phạm-bản liền cho
mời các vị danh tăng như Tăng Triệu, Tăng Duệ, Tăng
Lãnh, Đạo Sanh, Đạo Dung, Đạo Hằng, Huệ Quang, Huệ
Nghiêm, Đạo Thường, Đạo Phiêu mà được người đời gọi
là :”Thập môn, Thập triết” tức là mười nhà, mười vị
bác học cùng với các vị Đại đức khác tổng cộng trên
108 người cùng nhau dịch ra các bản kinh luật mới,
trước sau hơn 390 quyển.
Trước khi
lâm chung, ngài Cưu Ma La Thập cho mời tăng chúng
đến dặn rằng:
- Sau
khi ta mệnh chung, hãy đem nhục thể của ta hỏa
thiêu. Nếu quả thực các kinh điển do ta phiên dịch
không có điều gì sai lầm thì lưỡi của ta không bị
hoại. Còn như nếu là sai với tâm ý của Phật thì lưỡi
của ta tất bị thiêu hóa.
Sau khi
lửa tàn, thi thể cháy hết mà lưỡi của Pháp sư vẫn
giữ màu hồng tươi như khi còn sống. Xem như vậy mới
biết rằng tất cả các kinh do ngài Cưu Ma La Thập
phiên dịch hoàn toàn không sai lạc, thật đúng với
tâm ý của Phật.