KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA HUYỀN TÁN
Đại Sư Khuy Cơ biên soạn – Việt dịch: Cố
Hòa thượng Thích Chân Thường
Biên soạn: Giáo sư Trương Đình Nguyên – Tu chỉnh
và hiệu đính: Tỳ kheo: Thích Đồng Bổn
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, Hà Nội 2005
-o0o-
QUYỂN THỨ SÁU (PHẦN TRƯỚC)
Sa môn KHUY CƠ, chùa ĐẠI TỪ ÂN soạn
PHẨM THỨ BA THÍ DỤ
(tiếp theo).
-Kinh văn : “Đức Phật muốn
giảng lại nghĩa này” tới “có một căn nhà
lớn”.
Tán rằng : dưới đây là tụng, tổng cộng có 165 tụng,
chia làm hai phần :
• Phần đầu gồm 84 tụng rưỡi, trước tiên tụng về pháp
dụ, sau đó là :
“ Bảo với Xá Lợi Phất !
Bọn ông các người thảy,
Đều là con của ta,
Ta tức là cha lành”.
• Phần sau gồm Tám mươi tụng rưỡi, là đoạn lớn thứ
ba khuyên hãy tín giải kinh này, thích sẽ thành được
Phật trí.
Trong phần đầu lại có ba ý :
- 65 tụng rưỡi, tụng về dụ thuyết nói trên.
- 18 tụng, tụng về hợp thuyết nói trên.
- Một tụng, tụng về kết thuyết trước : vì nhân duyên
đó mà mười phương thực sự truy cầu (Phật thừa này),
ngoài ra không có thừa nào khác, trừ phương tiện của
Phật.
Trong 65 tụng rưỡi đầu lại chia làm hai :
53 tụng rưỡi, tụng về dụ : “xưa là Quyền+
(thừa)”.
12 tụng, tụng về dụ “nay là Thực+
(thừa)”.
Văn đầu chia làm bốn :
a) Nửa tụng đầu, tụng về dụ “ba
cõi có Phật”.
b) 32 tụng rưỡi, tụng về dụ “năm
nẻo nguy vong”.
c) 14 tụng, tụng về dụ “thấy
(chúng sinh khổ) bèn đặt ra phương tiện quyền nghi”.
d) 6 tụng rưỡi, tụng về dụ “y
theo lời (Phật), tránh khỏi tai nạn”.
Dụ đầu trường hàng có sáu, nay chỉ tụng hai :
1) Gia chủ.
2) Trạch tướng.
Trước kia nói rằng ông rưởng giả có nhiều ruộng
nương nhà cửa. Ở đây chỉ nói có một nhà lớn, có ba
cách giải thích như trước .
*
-Kinh văn : “Nhà đó đã lâu cũ” tới
“tường vách đều long lở”.
Tán rằng : dưới đây là đoạn thứ hai gồm 32 tụng
rưỡi, tụng về năm nẻo nguy vong.
Trường hàng có 4 ý, nay chia làm ba :
- 3 tụng đầu, nói về nhà cửa mục nát nguy hiểm.
- Nửa tụng, nói về người đông đức.
- 29 tụng, nói về tai họa từ các phương dấy lên.
Chẳng tụng về ý thứ tư là các con du cư. Trong phần
nhà cửa mục nát nguy hiểm lại chia làm hai :
+ 7 câu thuyết minh chung về tam giới ngũ uẩn vô
thường.
+ 5 câu thuyết minh riêng về nghĩa sắc thân Vô
thường, Vô ngã, Bất tịnh, Không.
Đây là phần đầu gồm 7 câu :
1. “Nhà đó đã lâu cũ” : nếu bổ dọc mà bàn thì là
thức uẩn vô thủy, niệm niệm sinh diệt, giống như
huyễn sự, gọi là “lâu cũ”.
2. “Mà lại rất đốn tệ” : nếu cắt ngang mà xét thì
thành đốn tệ (hư hoại ngay trong một lúc), chẳng
phải là diệt dần dần. “Tệ” có nghĩa là bại, là hoại,
tức là hư hoại.
3. “Nhà cửa vừa cao nguy” : chỉ sắc uẩn vô thường.
Lấy nhà thang gác, cao ắt dễ nghiêng, nguy ắt chẳng
yên, giống như đám bọt, chẳng kiên cố chắc chắn.
4. “Chân cột lại mục nát” : ví với hành uẩn vô
thường, niệm niệm đổi thay tàn tạ, nghiệp tận đều
chết, nên gọi là “mục nát”ù tồi hủ. “Tồi” là gãy đổ,
“hủ” là hủy hoại, ví như cây chuối.
5. “Xà cột đều nghiêng ngã” : Ví với thụ uẩn vô
thuờng, đã mất chính thụ thì sao yên được, ví như
bọt bóng nổi vậy.
6. “Nền móng đã đổ nát” : cũng tức là hành uẩn.
Nghiệp tự gọi là nền móng, vì là chỗ để đặt cái cột
mệnh căn. “Đồi” : có nghĩa là sụt lở, sập xuống.
“Hủy”: nghĩa như hoại (hư hoại) hành uẩn nhiếp nhiều
pháp, nghiệp quả hai thứ khác nhau nên phải dùng hai
câu.
7. “Tường vách đều long lở” : là ví với tưởng uẩn vô
thường.
* Chữ [
圮
] (thường đọc là Dĩ) âm đọc là phiên thiết của hai
âm Phụ Mỹ (Phỉ), có nghĩa là huỷ hoại, đổ nát.
* Chữ [
坼
] đọc là Sách, có nghĩa là nứt. Ngọc Thiên giải
thích là phân, tức tách ra.
Bảy câu trên thuyết minh chung về tam giới ngũ uẩn
vô thường.
*
-Kinh văn : “Đất bùn rơi rớt xuống” tới
“đầy khắp những uế tạp”.
Tán rằng : đây là 5 câu dưới thuyết minh riêng về
các nghĩa của sắc thân vô thường :
- 3 câu nói về vô thường.
- 1 câu nói về vô ngã.
- 1 câu nói về bất tịnh.
Do ba nghĩa này cho nên thành Không.
* “Nê đồ” : (Bùn trát, vữa) ví với thịt. Thiết Vận
nói : “Đồ” là chỉ lớp lợp, lớp trát ở trên hoặc ở
ngoài.
- “Trĩ” [
阤
], có nghĩa là sụt lở, đổ nát. Chữ [
阤
] đọc là Trĩ. Sách Thuyết Văn có chữ Trĩ [
褫
] là rũ áo. Sách Thiết Vận có chữ Trĩ [
阝多
] là núi lỡ. Sách Ngọc Thiên nói chẻ củi theo thớ
gọi là Trĩ [
阤
]. Có bản chép là [
褫
] chẳng biết căn cứ vào đâu.
Nay nên dùng chữ [
阤
]. Sách Quãng Nhã giải thích [
阤
] có nghĩa là [
脫
] Đoạt, đó là phương ngôn, có nghĩa là Hoại. Sách
Thuyết Văn nói núi lở gọi là Trĩ [
阤
] có khi viết là [
阝多
].
- “Tranh lợp” (Phú thiêm) : ví với da dẻ, bị rối
loạn và sắp bong. Sách Nhĩ Nhã nói : lợp bằng cỏ
tranh trắng (Bạch cái) [
白
蓋
] thì gọi là thiêm [
苫
]. Bện cỏ tranh trắng làm thành các tấm tranh để lợp
nhà thì gọi là thiêm [
苫
].
- “Duyện lữ” [
椽
木呂
] (đòn tay, tàu bảy) : chữ [木呂
] đọc là Lữ, là thanh gỗ đặt ở đầu mút vỉ kèo, nay
gọi là “Tước lữ”õ[雀
木呂
]. Chữ [
差
] có hai âm Si và Sai. Chữ [脫
] có hai âm Đoạt và Thoát.
“Đòn tay, tàu bảy” [
椽
木呂
] ví với xương, khớp, gân, mạch, nối liền với nhau
mà vô thường.
“Đòn tay (chuyên) xê lệch” : ví với xương cốt vô
thường.
“Tàu bảy cũng bong (thoát) [脫
]” : ví với gân, mạch vô thường.
Du Già quyển 19 dẫn kinh tụng nói : “có thành, xương
làm tường. Gân, thịt là vữa trát. Trong đó có tham,
nhuế, mạn, phú để giữ thành”. Từ Thị giải thích
rằng : “ thành ấy là chỉ tám thức; xương được coi là
gạch đá; gân được coi là dây dợ chằng buộc; thịt coi
như vôi vữa đắp trát hình hài để làm tường thành vây
kín xung quanh”.
Trong thành này có bốn loại ác pháp giữ thành. Hai
loại do tại gia khởi lên đó là Tham và Sân. Hai loại
do ngoại đạo khởi lên đó là Mạn và Phú.
Tại gia do trước dục, ác hành tương ứng, ở trong
chính pháp vẫn chẳng tín thụ, huống chi là việc tu
thiện, làm sao mà có thể làm được, nếu có khuyên răn
giảng giải cho thì lại sinh ra giận dữ, sân nhuế.
Ngoại đạo cậy ác thuyết pháp mà sinh kiêu mạn, chẳng
thể tự nhiên theo tới chỗ Tam bảo. Tam bảo tới giáo
hóa cho họ, thì họ do bị phú chướng che lấp, vẫn
chẳng hối lỗi, phát lộ các điều ác, huống hồ làm sao
mà còn có thể tin giải tu các thiện pháp. Hai loại
thành lũy của tâm ấy ngay đến việc đột nhập còn
chẳng thể được, huống chi là việc chiếm lấy làm của
mình.
Kinh Niết Bàn cũng nói : “thân này ví như một tòa
thành. Máu, thịt, gân, xương, da bọc ở trên; chân
tay là lô cốt chống địch, mắt là lỗ châu mai; đầu là
điện đường; tâm vương ở chính giữa, nên lấy thịt làm
vữa trát, da làm tấm lợp; gân làm đòn tay, tàu bảy”.
Trên đây là chỉ sắc thân là pháp vô thường.
* “Chu chướng khuất khúc” : “Chướng [
障
] âm đọc là phiên thiết của Chi Thượng. Sách Thuyết
Văn nói : chướng có nghĩa là ngăn cách. Dùng phên mà
ngăn cách thì gọi là chướng. Theo sách Ngọc Thiên,
chữ [
障
] có hai âm Chướng và Chương. Có sách viết là [
王章
].
“Chướng” có nghĩa là ranh giới ngăn cách làm cho
úng tắc. Đây ví với vô ngã : trong nhà xung quanh có
chướng, quanh co khó vượt, cho nên biết rõ là vô
ngã. Nếu hữu ngã thì thuần nhất không có sự quanh
co, cũng không có chướng ngại.
“Uế tạp đầy khắp” : ví với bất tịnh vì như thân Dục
giới đầy rẫy ba mươi sáu vật.
Do ba nghĩa Vô thường, Vô ngã, Bất tịnh này, nên
cũng thành Không.
*
-Kinh văn : “Có đến năm trăm người
Đang dừng ở trong đó”.
Tán rằng : đây là tụng về người ở đông đúc.
*
-Kinh văn : “Chim Ó, ưng, diều, cắt” tới
“cũng hoành hành xông xáo”.
Tán rằng : dưới là đoạn thứ ba có 29 tụng nói
về các phương tai họa dấy lên. Chia làm ba phần :
17 tụng rưỡi đầu là thuyết minh chung về tướng biến
quái của trùng quỹg
.
10 tụng rưỡi thuyết minh riêng về lý do phân khởi
trùng tạp của trùngg
quỷ.
1 tụng cuối : kết thành nạng
trên.
Thuyết minh chung về biến quái, tức là phân tích
chung về mười tướng phiền não. Thuyết minh riêng về
phân khởi, tức là thuyết minh riêng về Hoặc tướng
của tam giới.
Trường hàng tai khởi chỉ thuyết lửa thiêu. Nay thêm
trùng quỷ, thuyết các ác tướng vì muốn khiến các
chúng sinh ghét sợ sâu sắc. Như ba thứ độc v.v… cần
phải chê trách, cho nên đặt ra đủ thứ tên.
Trong phần đầu lại chia làm ba :
- 6 tụng thuyết minh về chim quái, trùng độc,
vì hơi trì độn, nên ví với năm thứ là tham v.v…
- 10 tụng thuyết minh về thần linh quỷ dị vì nhanh
nhẹn hơn, nên ví với ngũ kiến.
- 1 tụng rưỡi kết luận chung về hai mục này.
Trong phần đầu này có hai : 5 tụng rưỡi là thuyết
minh riêng, một nửa tụng là kết luận.
Văn đầu chia năm :
1) Nửa tụng đầu dụ về Tham.
2) Một tụng rưỡi dụ về Sân.
3) Một tụng dụ về Si.
4) Một tụng dụ về Nghi.
5) Một tụng rưỡi dụ về Mạn.
Đây là phần đầu và phần thứ hai. Trong này phối
thuộc, không có giáo văn riêng, cứ theo hành tướng
tương ứng thì nghĩa phối hợp với nhau, thuận theo
thời cổ là như thế, Luận vốn chẳng giải thích, vì lý
chẳng cần thế, nghĩa phù thuận, nên không hẳn chẳng
phải như thế.
• Tham ái có bốn :
1) Hiện hữu ái. 3) Tham hỉ câu hành ái.
2) Hậu hữu ái. 4) Bỉ bỉ hỉ lạc ái.
Đều căn cứ vào hành tướng riêng, vì thể hiện ra có
thể thấy được.
Cắt, Ưng, Ó, Diều : theo thứ tự mà phối với thượng
phẩm Tứ ái.
Quạ, Thước, Cưu, Câu : thì theo thứ tự mà phối hợp
với hạ phẩm Tứ ái.
Hoặc là Tính độn tham, Hiện quái tham, Đại lực tham,
Động thân tham, Phi pháp tham, Phát ngữ tham, Ty hạ
tham, Đa dâm tham theo thứ tự mà phối hợp với tám
loại chim dữ trên. Tám loại chim trên phần nhiều là
tham lam nên lấy làm ví dụ.
• Sân dụ có mười một thứ :
1/ Con Nguyên xà. Chữ [蛇]
có âm đọc là Nguyên, còn có âm là Ngoan. Theo Kinh
Di Giáo thì đó là Hắc đoản xà. Về từ “Huyền nguyên”
trong Hán thư, Vi Chiêu giải thích “Huyền”là đen;
“Nguyên” là con thằn lằn (Tích dịch). Thôi Báo giải
thích đó là con Xà y, con to dài ba thước, màu đen
nhánh, giỏi chài người. Loại này có bốn tên gọi khác
nhau : gọi là Vinh nguyên, Tích dịch, Yển diên và
Thủ cung.
Sách Ngọc Thiên nói đó là con Xà y, ở nhà thì gọi là
con Thủ cung, ở đầm thì gọi là con Yển diên. Căn cứ
vào đó thì lẽ ra Kinh Di Giáo phải gọi là con Hắc
nguyên, nhưng lại viết lầm là chữ Xà (rắn). Nay giải
chữ Nguyên [螈]
có hai nghĩa : một là con Tích dịch, hai là con Hắc
đoản xà. Cho nên Kinh Di Giáo nói rằng : “Rắn ngủ ra
rồi mới ngủ yên được”. Nên kinh đó chẳng phải là
viết sai song gọi là Hắc nguyên thì chẳng phải là
Vinh nguyên, có chỗ chép là Nguyên [黿]
chỉ loài thuỷ trùng tính hung ác (chữ Nguyên này là
con giải) xét về lý cũng chẳng đúng vì bản đó là
Nguyên thuộc bộ Mãnh [黿],
chẳng phải là chữ Nguyên thuộc bộ Trùng [螈]
như ở đây.
2/ Rắn : chỉ các loài rắn thường.
3/ Con Phúc xà, sách Nhĩ Nhã nói : Phúc xà là loại
Nguyên xà, bề ngang tới ba tấc, đầu to như ngón tay
cái, từ vùng Giang Hoài trở về nam gọi Nguyên xà là
Phúc xà, có răng, rất độc, trên mũi có vòi, còn gọi
là Phản tỵ xà, sắc như vằn thao đen, giữa vằn có
mào, con to dài tới bảy tám thước, trích vào tay thì
đứt rời tay, vùng Lĩnh Nam có nhiều rắn này.
4/ Bò cạp.
5/ Rết. Sách Tự Lâm gọi là con Tức thư, rất có khả
năng trị được rắn. Loại mình xanh lục chân đỏ thì
tốt (dùng làm thuốc), loại chân vàng thì chẳng dùng
được. Người ta thường hay đốt để khiến chân nó thành
đỏ, đó chẳng phải là thứ thật.
6/ Con Do diên. Con to loại này ở vùng Giang
Nam gọi là Ngô công.
7/ Con Thủ cung. Vùng Sơn Đông gọi là con Thúc mịch,
từ Thiểm trở về phía tây gọi là con Bích cung, lấy
máu của nó bôi vào tay phụ nữ, nếu có tư tình thì
rửa không sạch, nên có thể dùng nó để giữ nhà, vì
vậy gọi là thủ cung. Còn nói rằng : ở đá thì gọi là
Tích dịch, ở đầm thì gọi là Yển diên, ở nhà thì gọi
là Thủ cung, tên gọi chung là Vinh nguyên.
8/ Con Bách túc.
9/ Con Dứu. Sách Thiết Vận nói : tên loại trùng
giống tựa con chuột thì viết là [
鼬
] Dứu, tên loại thú giống tựa con vượn thì viết là [
貁] Dứu.
* Sách Ngọc Thiên nói rằng con Dứu [貁]
giống như con chồn hay bắt chuột, khác với giải
thích của Thiết Vận. Con Dứu giống như con chuột xù
nhưng ăn thịt chuột. Cũng gọi là con Sinh thử. Vì
kinh này có bản chép là [
鼬
], có bản chép là [貁], theo Tự Lâm thì viết là [犭穴
], cổ văn viết là [虫隹]
chẳng những có âm đọc là Dứu, còn có âm đọc là Dụy,
là tên gọi của con kiến.
Bình Sơn Hải Kinh nói : “Lịch sơn có nhiều con Dụy”.
Quách Phác giải thích nói rằng : con này giống con
đười ươi mặt to, màu đen bóng đuôi dài bốn năm
thước, giống như đuôi rái cá nhưng đầu có hai chẽ,
khi trời mưa thì nó tự treo ngược lên cây, lấy đuôi
mà bịt lỗ mũi. Vùng Giang Đông nuôi loại này để nó
bắt chuột, loại này nhanh khỏe.
* Sách Nhĩ Nhã nói : con Dụy mũi hếch, đuôi dài. Nay
theo Thiết Vận, viết là [貁 ]. Đây là loài vượn, hình
dáng giống như loài chó, loài này tính không ác nên
không lấy. Nên lấy chữ Dứu bộ Thử [鼬
] đồng âm với chữ [貁 ]. Đây là loài cùng loại với
con Hoàng yêu, tính hay sát thương, hình nó nhỏ.
Theo cổ văn thì viết là [
虫隹
], nếu theo Ngọc Thiên thì viết là[豸虫
] . Theo Tự Lâm thì viết là [貁 ]. Có bản chép là [犭虫
], chẳng biết căn cứ vào đâu.
10/ Con Chồn : còn gọi là Dã miêu.
* Nên viết là [貍
], không có chữ [狸
] (Ly). Sách Thuyết Văn nói : chữ này thuộc bộ Trĩ [豸
], âm đọc quan hệ với chữ Lý [里
].
11/ Con Hề thử (chuột nhắt).
* Thuyết Văn giải thích đó là Tiểu thử (chuột nhắt).
Sách Ngọc Thiên nói rằng loại này có nọc độc, ăn
thịt người và chim muông, dẫu bị ăn hết mà chẳng
biết đau. Sách Xuân Thu gọi là con Thực Giao ngưu
giác. Nay gọi là con Cam khẩu thử.
Các loài có nhiều độc hại này ví với Sân, vì sân có
các biệt tướng duyên vào 10 sự mà nảy sinh :
1) Kỷ thân (bản thân mình).
2) Sở ái hữu tình (loài hữu tình mà mình yêu).
3) Phi ái hữu tình (loài hữu tình chẳng được yêu).
4) Quá khứ oán thân.
5) Vị lai oán thân.
6) Hiện tại oán thân.
7) Bất khả ý cảnh (cảnh chẳng vừa ý).
8) Ghen ghét.
9) Túc tập (thói cũ).
10) Tha kiến.
Nói chung thì Sân có 1,
k mà biệt hành có 10, phối hợp với 11 loại
trên.
Phẫn, hận v.v… trong Tùy phiền não gọi là các loại
ác trùng, gặp duyên sinh khởi thì gọi là “hoành hành
xông xáo”.
Thêm nữa, dưới đây nêu 11 loại sân :
1. Mãnh lợi sân.
2. Bị não sân.
3. Báo oán sân.
4. Hiện tướng sân.
5. Hại độc sân.
6. Bất đoạn sân.
7. Tật đố sân.
8. Phiền uyển sân.
9. Tư thiết sân.
10. Tổn sát sân.
11. Tiềm kế sân.
Theo thứ tự ví với 11 loại ác trùng trên.
“Hoành hành xông xáo” là kết luận về sân nói trên.
*
-Kinh văn : “Chỗ thối tha cứt đái” tới
“mà tụ tập trên đó”.
Tán rằng : đây là ví với Si, 36 vật như nước tiểu,
phân v.v…, Si tăng thượng nên chấp trước coi thân
mình là quý báu như con bọ hung tụ tập ở chỗ nhơ ác
mà chẳng biết là bất tịnh, đam mê sinh tử, ngu cả ba
thời khởi chín trong mười loại (9/10), nên gọi là
Các trùng, vì có nhiều loại.
Du Già quyển 9 nói : chỗ thối chẳng thể ưa thích,
rất đáng khinh ghét.
* “Thối” (xú) là ác khí. Chữ [
處
] nếu đọc là xử, có nghĩa như tức. Ác xử : tức là
“ác xử tức” là mùi hôi thối. Sách Thiết Vận nói chữ
này đọc là “Si thứ phản” (Xử). Ngọc Thiên giải thích
là Cư (ở, chỗ ở), nghĩa như Chỉ (dừng, ở). Đọc khứ
thanh, tức đọc là Xứ, chỉ “Tiện ác xứ sở” (chổ tiêu
tiểu bẩn thỉu).
*
-Kinh văn : “Cáo, sói, cùng dã can” tới
“xương thịt bừa bãi ra”.
Tán rằng : đây là dụ về nghi.
* Chữ [
狐
] đọc là “hồ”. Ngọc Thiên giải thích rằng đây là
loài yêu thú, quỷ hay ốp vào.
Hồ (cáo), có ba đức tính :
1) Màu nó trung hòa.
2) Trước nhỏ sau to.
3) Chết vẫn giữ gò.
“Dã can” : lông màu vàng xám, giống như chó, thường
đi thành đàn, rú lên về ban đêm giống như chó sói,
có thể leo lên cây làm ổ chỗ cây cao tại ghềnh đá
chon von.
“Hồ” thân hơi to, “Dã can” nhỏ hơn. Hai loại này
hình dáng giống nhau, chỉ khác nhau về cở to nhỏ.
Cho nên Thiền kinh nói rằng : thấy một con “Dã hồ”
lại thấy con “dã can”, con lang có thể biết được.
Đây là nghi Tam bảo, tam thế, tam giới, cho nên
thuyết ba loài thú trên.
* Chữ [咀
] đọc là Thư, còn đọc là Sử. Chữ [
嚼
] đọc là Tước. Sách Ngọc Thiên giải thích chữ [咀
] Thư có nghĩa là nhấm nháp, nhâm nhi. Có chỗ viết
là [齟
]. Còn Tước [嚼
] có nghĩa là cắn, nhai, ăn. Ngậm mà nhai gọi là Thư
[咀
]. Cắn mà nhai thì gọi là Tước [嚼
].
Xỏ chân vào giày thì gọi là Tiễn đạp [
踐
蹋
] còn có nghĩa là giày xéo, chà đạp. Làm đứt gân cốt
thì gọi là Tệ [
齒齎
]. Làm tổn thương da thịt thì gọi là Khiết [
齧
]. Chữ [
齒齎
] đọc là Tệ. Ngoạm tới răng thì gọi là Tệ [口齊
], còn chữ [
齒齎
] không biết có xuất xứ từ đâu. Sợ răng kinh bản đã
chép sai chữ [
口齊
] thành [
齒齎
]. Đúng ra phải chép là [
口齊
齧
] Tệ khiết (1)
Cắn mà lôi đi thì gọi là Tệ [
齒齎
]. Chữ này còn đọc là Tiệt [截
] không rõ xuất xứ. Chữ [齧
] đọc là Khiết. Nghĩa như Phệ, Giảo [
噬
,
齒交
] nhai nhiều lần thì gọi là Khiết (nghiến ngấu), cắn
ngập răng thì gọi là Tệ [口齊
].
Do đó mà xương thịt mới tới mức vung vãi bừa bãi.
Nghi mà phát ra miệng thì như cắn như nhai, tâm nghi
đế lý thì như giày xéo giẫm đạp. Nghi nhuyễn pháp
của Khổ Tập thì như cắn đến ngập răng, nghi kiên
pháp của Diệt Đạo thì như cắn xé làm tổn thương da
thịt, do đó mà cái thây sinh tử bị vương vãi bừa
bãi.
*
-Kinh văn : “Do đó mà đàn chó” tới
“những biến trạng như vậy”.
Tán rằng : một tụng rưỡi đầu dụ về mạn, nửa tụng sau
là kết luận.
Mạn có nhiều thứ nên gọi là “đàn chó”, phần nhiều do
nghi mà sinh ra, nên nói là “do đó”.
* Chữ “Bác” có nghĩa là đánh, đập. “Toát” có nghĩa
là cầm lấy, giữ lấy. Chữ [
搏
] đọc là Bác, nghĩa là đánh bằng tay. Sách Ngọc
Thiên giải thích là đập ([拍
] :phách), vỗ ([扌府
] : Phủ). Chữ [
撮
] đọc là Toát, có nghĩa là lấy bằng tay. Sách Thích
Danh nói : “Toát” có nghĩa là (lấy) hết, ý nói tạm
thời lấy hết (Toát). Sách Ngọc Thiên và sách Tứ Khuê
nói : “Toát đồng” có nghĩa là dùng ba ngón mà tuốt.
Cầm vào tay rồi tuốt, đọc là Toát, nay chẳng phải
nghĩa đó.
Làm cao lấn át người khác thì gọi là Bác [
搏
]. Hòng người theo mình thì gọi là Toát [
撮
].
Thói Ty liệt mạn : mình chẳng bằng người, như kẻ đói
vì cứ ngóng ngớp hoài. Tâm tuy cao nhưng lại run sợ
thì gọi là “chương hoàng” (hồi hộp). Chỗ nào cũng có
thì gọi là “xứ xứ” (chốn chốn, khắp chốn). Tâm
thường xuyên chẳng cho là đủ, như người cầu được ăn,
đó đều là tướng Ty mạn. Tâm mạn khinh miệt người
khác thì gọi là “đấu tranh”. Thân khởi mạn tướng thì
gọi là Trá.
* Chữ [樝
] đọc là Tra, sách Thích Đanh nói Tra là bốc, có
nghĩa là thò cả năm ngón tay ra mà bốc lấy. Sách
Ngọc Thiên giải thích Tra [
樝
] là dùng cả năm ngón tay mà bắt mà đánh. Cũng có
nghĩa là nắm lấy. Sách Thiết Vận thì nói chữ này có
nghĩa là lấy ngón tay mà ấn đùa.
Chữ [
掣
] có âm đọc là Xiết, Tự Thư giải thích là kéo, Ngọc
Thiên giải thích là kéo rồi lại buông ra. Còn đọc là
Xích, có nghĩa là kéo lê, có nghĩa là dùng năm ngón
tay bắt lấy mà kéo lê, dùng ngón tay nắm vào mà co
kéo. Hoặc kéo rồi lại ngả về phía trước thì gọi là
Tra [樝
], vì phải cuối thấp xuống hướng tới người khác. Lôi
về phía sau thì gọi là Xiết [掣
], ví Ngã mạn như kẻ nằm mà lôi về phía sau vậy. Có
chỗ chữ Tra viết là [
齒樝
], sách Thuyết Văn giải thích là răng chẳng ngay,
chẳng phải nghĩa này.
Nói ra lời kiêu mạn thì gọi là “ngãi sãi cao phệ”.
Lộ cả môi răng thì gọi là “ngãi sãi”. Gầm rống oang
oang thì gọi là “cao phệ” (như chó sủa ông ổng).
* Chữ [口涯
] đọc là Ngãi, chỉ chó cắn nhau. Chữ [齒此
] đọc là Sãi, vốn có nghĩa là răng chẳng ngay thẳng,
còn viết là [齒此
,
齒樝
] há miệng nhe răng thì gọi là “sãi ngãi”. Lại chẳng
biết chữ [口紫
] Sãi này từ đâu mà ra.
“Cao” là tiếng gầm của gấu, hổ. Sách Ngọc Thiên giải
thích “Cao” là Bào [
咆
] (gầm rống), như khóc mà gào lên. Đây là kết luận
về ngôi nhà ấy biến trạng đáng sợ như vậy.
*
-Kinh văn : “Khắp nơi đều có những” tới
“nuốt ăn cả thịt người”.
Tán rằng : dưới là 10 tụng thuyết minh về thần linh
quỷ dị, ví với ngũ kiến, chia làm năm :
3 tụng rưỡi đầu dụ về tà kiến.
'
2 tụng rưỡi dụ về giới'
thủ.
1 tụng rưỡi dụ về thân kiến.'
Nửa tụng dụ'
về kiến thủ.
Hai tụng dụ về biên kiến.'
Trong phần đầu lại chia làm hai :
1 tụng tổng dụ về tự thể tài
kiến.
2 tụng rưỡi dụ về hành tướng saii
biệt.
Đây là phần đầu.
* [
魑
] đọc là Ly, [
魅
] đọc là Mỵ. Thuyết Văn, Ngọc Thiên giải thích đó là
Lão vật tinh. Theo từ ngữ thông tục văn thì : quái ở
núi đầm gọi là ly mỵ. Tây Kinh phú của Trương Bình
Tử nói rằng : thần núi hình giống hổ gọi là Ly. Thần
đầm hình người đầu lợn có đuôi gọi là Mỵ.
[
魍
] đọc là Võng, [
魎
] đọc là Lưỡng. Theo từ ngũ thông tục thì : gỗ đá
biến thành quái gọi là võng lưỡng. Xuân Thu và Ngọc
Thiên nói : đó là thủy thần.
Thêm Dạ xoa, ác quỷ. Tổng cộng có năm loại để ví với
tà kiến duyên bát ngũ môn, duyên bát ngũ pháp. Tâm,
tâm sở v.v… có năm hành tướng đó là báng nhân quả,
tác dụng thực sự và phi tứ kiến. Các tà kiến
khác làm tổn thương thiện pháp, hủy hoại ruộng lành.
Chỗ nào cũng sinh thì gọi là “khắp nơi đều có”. Tổn
hại rộng lớn như ăn thịt người.
*
-Kinh văn : “Các loài trùng độc dữ” tới
“đều tự tàng hộ vậy”.
Tán rằng : dưới là 2 tụng rưỡi nói về hành tướng sai
biệt của tà kiến, trong đó chia làm hai :
1 tụng đầu nói rõ do tà kiến sinh độn phiền não,
lại do phiền não mào
sinh tà kiến.
1 tụng rưỡi sau nói rõ do tà kiến mà sinh ra cáco
ác kiến và bất thiện hành.
Đây là phần đầu. Các phiền não khác gọi là Trùng
thú.
* Chữ [
孚
] đọc là Phu. Sách Ngọc Thiên giải thích là mái nằm
phủ phục, là ấp trứng, là sinh. văn thông tục đọc là
Phu, từ trứng nở ra thì gọi là Phu. Sách Quãng Nhã
nói : Phu là sinh nở. Đó là câu như phương ngôn nói
gà ấp trứng mà chưa nở vậy.
Chữ [
乳
] đọc là Nhũ, còn gọi là Nhu. Thương Hiệt, Ngọc
Thiên nói : Nhũ là nuôi con vậy. Chữ Sinh [
生
] tuy có hai âm bình, khứ, nhưng nên đọc là âm bình.
Ngọc Thiên nói : Sinh sản có nghĩa là tiến thêm vậy.
Sinh dưỡng là tạo ra vậy. Nhân vật tạo biến thì gọi
là Sinh. Sản [ 產 ] cũng là sinh. Chim ấp trứng
thì gọi là Phu [孚
], thú nuôi con thì gọi là Nhũ [
乳
]. Do tà kiến nên sinh ra các phiền não, cũng như
phu nhũ. Sinh các phiền não cũng ví như “sản sinh”.
Các thứ phiền não duyên vào năm loại tà kiến mà lần
lượt nảy sinh thì gọi là “đều tự tàng hộ”. Theo từ
ngũ thông tục thì “tàng hộ” có nghĩa là “tư
dưỡng”. Hoặc là các phiền não ví với các loại trùng
thú, sinh trưởng tà kiến thì gọi là “tự tàng hộ”.
*
-Kinh văn : “Quỷ dạ xoa ùa tới” tới
“thật rất là đáng sợ”.
Tán rằng : đây là thuyết minh do tà kiến mà sinh ra
các ác kiến và bất thiện hành.
Các ác kiến v.v… ví như dạ xoa ngày ngày tăng trưởng
gọi là “ùa tới”. Nhân khởi phiền não, lại sinh ác
hành gọi là “tranh cướp mà ăn”. Ăn là nghĩa tư
trưởng, nên ác thân hành mãn gọi là “ăn đã no”. Tà
kiến càng nhiều gọi là “ác tâm càng mạnh”, rồi thể
hiện ra lời nói gọi là “tiếng đấu tranh”. Ba nghiệp
ác hành tà kiến tăng thêm, tổn hại càng nhiều thì
gọi là “rất đáng sợ”. Cho nên do tà kiến mà sinh ra
tam ác hành, chẳng phải do tà kiến đích thân phát ra
thân ngữ. Nhân thế viễn sinh, nên thuyết như vậy.
*
-Kinh văn : “Những quỷ Cưu bàn đồ”
tới “nô đùa chơi phóng túng”.
Tán rằng : dưới đây là 2 tụng rưỡi, dụ về giới
thủ. Trong đó chia làm hai :
1 tụng rưỡi đầu, dụ tổng hành tướng.z
1 tụng sau, dụ biệtz
hành tướng.
Đây là phần đầu.
Các thày xưa thoạt tiên đều không có chính văn, phần
nhiều lấy tiểu thừa mà giải giới tướng. Nay y vào
văn mới mà giải theo nghĩa đại thừa, học giả nên
biết.
“Cưu bàn đồ” : là loài quỷ đáng sợ, loài này ví với
giới thủ. Cố chấp tùy thuận các kiến, giới cho nên
chẳng duyên vào pháp khác, như ngồi bệt trên đống
đất.
* Tự Lâm nói : “Tuân” là ngồi xổm. [
踞
] đọc là Cứ, là ngồi bệt chân buông thõng. [
埵
] đọc là Đóa là nắm đất nhỏ, là đất cứng. Ngọc Thiên
đọc là Đoa : đống đất nhỏ, cũng có nghĩa là đất rắn,
cũng đọc là Đôi : là gò đất. Không đúng.
Nếu chỉ chấp giới làø thắng hơn, từ đó sinh ra chấp
thủ thì gọi là “lìa đất một thước”.
Chấp cái việc tuân theo giới cấm là thắng (hơn), từ
đó sinh ra chấp thủ thì gọi là “lìa đất hai thước”.
Hoặc là, chấp giới thằng (hơn) thì giống như “lìa
đất một thước”. Còn chấp giới là nhâ để sinh thượng
giới, thì giống như “lìa đất hai thước”.
Giới thủ ắt phải đủ hai tướng này. Nếu không thì
thuộv vềø tà kiến, chẳng cần tách riêng ghép với
thượng giới nhị thủ, vì chẳng thuyết về các Hoặc
khác thông với thượng giới, mà chỉ nói về cái chấp
hân cầu cái quả Diệtû thuộc về xuất thế.
Tới sinh ở cõi người cõi trời thì gọi là “Vãng”.
Quay lại chìm đắm ở ác đạo thì gọi là “Phản”.
Thường chìm đắm trong vòng sinh tử, phí công khổ
hạnh thì gọi là “Du hành”.
Chấp giới là tối thắng, trái ngược chính đạo
thì gọi là “phóng túng” (túng dật).
Chấp giới là chính nhân, nhiễm trước sinh tử thì gọi
là “nô đùa” (hi hí).
*
-Kinh văn : “Nắm bắt hai chân chó” tới
“dọa chó để tự vui”.
Tán rằng : đây là thuyết minh riêng về hành tướng
của giới thủ.
Niết bàn giải thoát mà ngoại đạo mong cầu chẳng phải
là thắng pháp thật sự.
Sinh tử đáng ghét ví như con chó, được giới cấm đó
giống như hai chân, là Niết bàn nhân, nên ví như
chân.
Giới và Cấm tách ra nên gọi là hai. Hoặc chấp là
thắng là nhân nên gọi là hai.
Cố chấp giới cấm như bắt chân chó. Chấp trước vào
giới cấm rồi hành trì tuân theo đó, ví như nắm chân
chó rồi quật ngã nó.
* [
撲
] đọc là Phác : có nghĩa là quật ngã. Thông tục văn
gọi là tranh giành mà ngã thì gọi là Phác, có bản
viết là [
扑
] (Phác), có nghĩa là đánh. Ngọc Thiên giải thích là
kích (đánh), có nghĩa là đánh bằng tay. Đây chẳng
phải nghĩa này, cũng chẳng phải là chữ [
扑
].
Đề cao khổ hạnh và loại Niết bàn để chỉ cho chúng
sinh ví như khiến chó la thất thanh.
Chấp trước cho rằng giới cấm như vậy có thể tới được
Niết bàn, giống như chân chó đặt lên cổ chó.
Yên chí theo cách này rồi tu khổ hạnh để cầu Niết
bàn, giống như đùa nghịch dọa cho chó sợ ; mãi
nghịch không bỏ, tuy khổ mà vẫn bảo rằng sướng, để
thỏa thích tình mình, nên gọi là tự lạc (tự lấy làm
vui).
*
-Kinh văn : “Lại còn có các quỷ” tới
“gào thét đòi thức ăn”.
Tán rằng : đây là dụ về thân kiến.
Thâ kiến cùng với sinh thân (câu sinh khởi), là tâm
hành từø thời vô thủy đến nay lúa nào cũng có, cho
nên gọi là “trường đại”.
Phân biệt khởi cùng tính bất thiện, không biết hổ
thẹn thì gọi là trần truồng (lõa hình). “Lõa” có
nghĩa là lộ ra, vì không biết hổ thẹn.
Bị vô minh che, thì gọi là đen. Mê không đúng chính
lý thì gọi là gầy.
Kiên chấp ngũ uẩn, chẳng hề tạm ngừng thì gọi là
“thường trụ trong”
Các phiền nãûo nhân đó mà khởi lên.
“Ngã ngữ thủ” nhân đó mà sinh thì gọi là “phát ác
thanh”.
Chốn chốn đều khởi, ngã kiến càng lớn, ví như các
quỷ kêu đòi thức ăn.
*
-Kinh văn : “Lại còn có loại quỷ
yết hầu nhỏ như kim”.
Tán rằng : đây là dụ về kiến thủ.
Có loại quỷ đầu nó như núi, yết hầu rất nhỏ, nhỏ như
cái kim, chẳng thể ăn vào.
Kiến thủ cũng thế. Chấp tự kiến là nhân là thắng,
cho là to như núi, chẳng thụ tha kiến, như kim cực
nhỏ.
*
-Kinh văn : “Lại còn có loại quỷ” tới
“hoặc ăn cả thịt chó”.
Tán rằng : dưới đây là 2 tụng về biên kiến. Chia làm
hai :
- Tụng đầu dụ về hành tướng chung.
- Tụng sau dụ về hành tướng riêng.
Đây là phần đầu.
Đầu như đầu trâu, đầu có hai sừng. Mỗi sừng là một
biên kiến, hai sừng là thường kiến và đoạn kiến.
Thường kiến và đoạn kiến ắt y vào ngã kiến, sau mới
khởi lên, như y vào đầu trâu mà có hai sừng.
“Hoặc là ăn thịt người” đó là dụ ví với đoạn
kiến, vì vậy gây tổn hại rất nặng cho thiện pháp do
đoạn kiến.
“Hoặc ăn cả thịt chó” : đó là dụ ví với thường kiến,
vì chẳng phương hại đến việc nảy sinh thiện pháp,
chỉ gây tổn hại nhỏ, nên giống như ăn chó.
*
-Kinh văn : “Đầu tóc rối bù lên” tới
“chạy cuống quít kêu la”.
Tán rằng : đây là dụ về hành tướng riêng của biên
kiến.
Nhân biên kiến này mà sinh ra 47 kiến trong số 62
kiến.
Dụ như “tóc rối bù” : vì kiến này cùng các kiến của
ngoại đạo bài xích lẫn nhau.
Dụ như “tàn hại hung hiểm” : vì vọng kiến của ngoại
đạo gọi là hung hiểm. Hung hiểm có nghĩa là hung ác
hiểm trở.
Vì không có cơm chính giáo, và nước chính lý để nuôi
dưỡng khôn lớn, cho nên ví như “bị đói khát thúc
ép”.
Nội tâm cũng thế, cho nên phát tiếng ra lời nói kế
chấp, dụ như “kêu la”.
Thân vội theo đó mà hành động, cho nên dụ như “chạy
cuống quít” (trì tẩu).
*
-Kinh văn : “Dạ xoa cùng quỷ đói” tới
“thật đáng sợ vô cùng”.
Tán rằng : đây là kết thành.
Vì ngoại đạo khởi phiền não hư vọng điên đảo
nên như dạ xoa, quỷ đói.
Vì tại tục khởi phiền não, đam trước, vô tri, nên
như các chim muông ác.
Đó là nhắc lại những điều đã thuyết minh ở trên. Do
khởi các thứ đó, cho nên chẳng thông đạt chính lý,
nghèo không trí tuệ như bị đói quá. Tại tục khắp bốn
vị : sinh, lão, bệnh tử, chỗ nào cũng gặp ác duyên,
cho nên sinh Hoặc, như đói quá cuống quít hướng ra
bốn hướng (cơ cấp tứ hướng).
Ngoại đạo chẳng có thể nhìn đúng cửa Niết bàn nhân,
chỉ tu sằng khổ hạnh mà quán chính lý giống như nhìn
cửa sổ, mà chẳng chính hành, cho nên dụ như “rình
xem nơi cửa sổ”.
“Rất nhiều nạn như vậy,
Thật đáng sợ vô cùng”.
Thuyết qua khổ hoặc, các nạn còn thế, huống hồ các
ác nghiệp, lý dụ làm sao kể xiết được.
*Chữ khuy [
闚
] còn viết là [
窺
] có nghĩa là dòm. Phàm là nhìn trộm, vùng Nam Sở
đều gọi là Khuy (dòm).
*
-Kinh văn : “Nhà này cũ mục nát” tới
“lửa cháy đều hừng hực”.
Tán rằng : dưới là 10 tụng rưỡi thuyết minh riêng về
nguyên do khiến trùng quỷ nhao nhao khởi lên. Có ba
phần :
- 2 tụng đầu nói rõ : chủ có nhà thì không có tai
họa, chủ vắng nhà thì tai họa xảy ra.
- 1 tụng sau nói rõ : do bị lửa thiêu mà nhà cửa bị
sụp đổ.
- 7 tụng rưỡi cuối : tiếp theo họa này là trùng quỷ
ùa ra quấy nhiễu.
Đây là phần đầu.
* Chữ [
屬
] đọc là Chúc, chúc nghĩa như “do chúc” : “do có
liên quan”.
Ý nói Bồ tát nhân vị tại nhà, tới khi thành Phật rồi
ở tại thế gian làm lợi cho vật, nên sinh tử phiền
não tai nạn liền hết. Phật nhập Niết bàn, Bồ tát ẩn
mất, lợi ích cho vật cũng mất, sinh tử phiền não tai
nạn mới nảy sinh. Cũng giống như chủ ở trong nhà thì
sửa sang quản lý, đôn đốc con cái, nên tai nạn chẳng
sinh. Chủ nếu lìa nhà, không ai sửa sang không ai
đôn đốc, con cái phóng dật nên tai họa nảy sinh, nhà
bị sụp đổ.
Bởi vậy tòa nhà tam giới nếu như có Phật thì tai nạn
chẳng sinh, nếu không có Phật thì tai nạn mới xảy
ra, cho nên nói là “liên quan đến một người”, đó là
dụ ví với Phật Bồ tát vậy. Chẳng do ngoại đạo, chỉ
do Phật pháp, nên nói là “một người”.
Thêm nữa [
屬
] còn đọc là Thuộc, có nghĩa là nhiếp thuộc. Ba cõi
đều là của Phật, cho nên nói Phật là chủ và đều
thuộc Phật.
“Người đó thân cận xuất” : nhập Niết bàn, ẩn
ly tam giới sinh gọi là “thân cận xuất”.
Như nhà không chủ, “bỗng nhiên bùng cháy” : đây là
dụ cho các phiền não tổn hại thân khí, như lửa làm
tổn hại nhà cửa. Phải dùng chữ Thuộc [
屬
]. Không có lý do gì mà có, thì gọi là “bỗng nhiên
bùng cháy”.
Từ sinh đến tử, mọi chỗ đều khởi lên thì gọi là “bốn
phía đồng một lúc”.
Nhân đó mà phát sinh vô lượng ác nghiệp, nên gọi là
“lửa cháy đều hừng hực”.
*
-Kinh văn : “Rui xà và kèo cột” tới
“tường vách đều đổ sập”.
Tán rằng : do lửa đốt cháy, nhà cửa sụp đổ.
“Rui xà” : chỉ thụ uẩn. “Kèo” như khớp xương, chỉ
sắc uẩn. “Cột” chỉ hành uẩn.
“Tiếng nổ ” : là dụ cho sinh khổ.
* [
爆
] đọc là Bạo, chỉ lửa cháy dữ dội; còn đọc là Pháo.
Thuyết Văn giải thích là rang (Chước [
灼
]). Ý nói như bị rang (nôå) tung tóe ra. Theo Ngọc
Thiên, chữ này có ba âm : Bạo, Bộc, Pháo. Có nghĩa
là rang, phơi hong cho nóng. Cũng viết là [
曝
] có nghĩa là bùng lên, thời xưa viết là [暴皮,
曝
] hai dạng khác nhau, nhưng âm nghĩa như nhau.
“Chấn động nứt toác” (chấn liệt) : ví với lão khổ.
“Chấn” [
震
] có nghĩa là kinh động. Lão khổ tại thân như sấm
kinh động rất đáng sợ. Hoặc viết là [
振
].
“Tàn phá” (tồi chiết) : ví với bệnh khổ, tàn phá
thân mệnh, làm yếu người khoẻ.
“Rơi rụng” (đoạ lạc) : là dụ ví với tử khổ, vì hoại
thọ mệnh.
Sinh lão bệnh tử đều ví như cột, cùng là hành uẩn vô
thường, ở cuối ba uẩn, trước tưởng uẩn. Thuyết minh
về bốn tướng tức là muốn thuyết minh sinh lão bệnh
tử ở khắp năm uẩn.
“Tường vách sụp đổ” : ví với tưởng uẩn nội ngoại vô
thường.
Trên đây là thụ, sắc, hành, tưởng bốn uẩn vô thường
ở tại ngôi nhà thức (thức uẩn dụ như ngôi nhà).
Đoạn văn trước đã nói rõ : Trong nhà lửa cháy,
thuyết minh chung về năm uẩn có sinh, lão, bệnh, tử,
vô thường bại hoại, rất đáng chán ngán lo ngại.
-Hỏi : tai nạn trong nhà đều là phiền não, cớ
sao có khi nói là lửa, có khi lại nói là
trùng, quỷ?
Đáp : thiêu đốt thân tâm thì ví là lửa
; vô tri mà gây tổn hại thì ví với trùng, quỷ. Muốn
khiến cho thật lo sợ chán ghét, cho nên dùng đủ mọi
cách ví dụ.
Thức là chỗ sở y, ví với nhà cửa. Phiền não y vào
đó y khởi lên, nên ví với lửa và trùng. Bốn uẩn đều
là năng y, nên nói là do lửa hủy hoại làm rơi rụng,
chẳng nói đến trùng quỷ, vì (trùng quỷ) cũng y vào
lửa mà ngao du.
*
-Kinh văn : “Các loại quỷ thần thảy” tới
“chẳng thể tự ra được”.
Tán rằng : dưới là 7 tụng rưỡi nói rõ : nối tiếp
liền với tai họa này, trùng quỷ ùa ra quấy nhiễu. Có
ba phần :
- 1 tụng rưỡi là dụ về tai hoạ của Dục giới.
- 3 tụng rưỡi là dụ về tai hoạ của Sắc giới.
- 2 tụng rưỡi là dụ về tai họa của Vô sắc giới.
Đây là phần đầu.
“Các quỷ thần thảy” là dụ về ngoại đạo xuất gia, tục
nhân tại gia bị các nỗi khổ bức bách bèn cất tiếng
kêu to giống như trùng thú.
Cho nên Thập Địa luận nói rằng : ngoại đạo biết rõ
sinh, lão, bệnh, tử sinh ra chán ngán, nên cất tiếng
kêu to. Nay chung cho cả tại gia.
Thêm nữa, tại gia vì nảy ra thói tham v.v… mà đấu đá
tranh giành, ngoại đạo nảy ra các kiến mà đấu đá
tranh giành, cất tiếng kêu to. Đây là câu luận
chung.
Do khởi lên độn phiền não như tính tham v.v… nên ví
như chim diều chim ó. Do khởi tật lợi phiền não là
các kiến, nên ví như Cưu bàn đồ v.v… . Đây là câu
nói riêng.
Tuy bị khổ bức bách, đến nỗi “cất tiếng kêu to” :
nhưng tục nhân tại gia lại si ái, nên sinh não.
Ngoại đạo xuất gia vì khổ muốn xả khổ. Đó đều gọi là
:
“Chu chương hoàng bố
Bất năng tự xuất”.
(Luống cuống và hốt hoảng,
Chẳng thể tự ra được)
* “Chu chương” là hốt hoảng sợ hãi. Chữ Chương [
章
] có chỗ viết là [
章
], có nghĩa là châu lưu. “Châu lưu” : có nghĩa là
châu biến (khắp hết). Do chạy quẩn quanh ở dưới nên
gọi là Châu chương. Chữ Chương ở đây phải viết là [
章
] , nội dung cũng là kinh hoàng. Chữ Bố [
怖
] có nghĩa là kinh sợ.
Cho nên “hốt hoảng kinh sợ” ở đây là dựa vào câu
“cất tiếng kêu to” ở phần đầu mà giải thích. Nếu dựa
vào phần sau mà giải thích thì tại tục và ngoại đạo
khởi Lợi độn hoặc, thường đấu đá cãi cọ, do đó mà
hối hả trong vòng sinh tử, kinh sợ tất bật sớm tối,
há biết lửa Hoặc thiêu đốt, trùng quỷ độc hại mà cầu
xuất ly đâu ! Giả sử có muốn cầu xuất ly, cũng không
có cách nào để tự xuất ly được.
*
-Kinh văn : “Loài ác thú trùng độc” tới
“cũng trú ở trong đó ”.
Tán rằng : dưới đây là 3 tụng rưỡi dụ về tai
họa của Sắc giới. Có ba :
- 1 tụng dụ : tục nhân, ngoại đạo đều sinh ở cõi đó.
- 1 tụng dụ : tuy có tịnh định chiết phục phiền não,
phiền não vẫn khởi lên.
- 1 tụng rưỡi dụ : tuy cầu ly dục, chấp đó là
thắng trội, phiền não lại sinh.
Đây là phần đầu.
Sắc giới định sâu giống như hang hốc, tại tục sinh ở
đó như trùng chui lủi vào, ngoại đạo quỷ sinh, cho
nên nói là “cũng trú”.
* [
竄
] đọc là Thoán, có nghĩa là trốn lủi. Ngọc Thiên
giải thích là ẩn nấp.
*
-Kinh văn : “Do vì phúc đức mỏng” tới
“uống máu ăn thịt nhau”.
Tán rằng : đây là ví với sự tuy có tịnh định, chiết
phục phiền não, phiền não vẫn khởi.
Thánh nhân có tịnh định, phiền não chẳng sinh. Đó
tuy có tịnh định, nhưng không có phúc tuệ thật sự,
gọi là “bạc phúc đức” (phúc đức mỏng), lại càng bị
các phiền não là tham, si, mạn, nghi, thân kiến,
biên kiến thiêu đốt, gọi là “vi hỏa sở bức” (bị lửa
bức bách).
Chẳng thể đoạn diệt các phiền não này, vẫn khởi kiến
thủ, bài xích lẫn nhau gọi là “cộng tương tàn hại”.
Chấp đạo tự thắng (tự cho mình là hơn) ví như “uống
máu”, vì duyên kiến tế. Khởi giới thủ kiên chấp dụ
như “ăn thịt”, vì duyên sự thô.
* Chữ [
噉
] có âm đọc là Đạm, có nghĩa là ăn, cũng như chữ [
啖
] Đạm. Còn có âm đọc là Đảm.
*
-Kinh văn : “Những loài thú dã can” tới
“đầy rẫy khắp bốn phía”.
Tán rằng : tuy cầu ly dục, nhưng vì chấp vào điều đó
coi là thắng trội, nên phiền não lại sinh.
“Dã can” (con chồn) ví với loại phiền não như nghi
trong Dục giới, cùng với các phiền não khác đều đã
chết rồi vì đã bị chiết phục đoạn trừ từ trước.
Do thủ định coi là thắng trội, khởi mọi loại phiền
não như Ái, Kiến, Mạn, Nghi … trong Sắc giới gọi là
đại ác thú (thú dữ lớn). Các phiền não này lần lần
tăng trưởng, dụ như các thú dữ lớn “đua nhau chạy
đến ăn”. Lửa Hoặc đã cháy, càng cháy càng to. Nhân
định sinh Hoặc, chẳng thể ưa thích, ví như khói hôi
: “khói hôi bốc nồng nặc”, gọi là bồng bột.
* Chữ [
篷
] đọc là Bồng. Chỉ có hai chữ [
篷
,
菶
] (đều đọc là Bồng). Khí như cỏ bồng rối bời, thì
nên viết là [
篷
]. Có bản chép là [
篷
]. Theo Ngọc Thiên, đó là chữ Phong trong từ Phong
hỏa (lửa hiệu), chữ này không có âm đọc là bồng.
Chữ [ ] âm đọc là Bột, có nghĩa là
lớn, là thịnh. Nếu là bụi bốc lên thì viết là [ 垿
]. Nếu là mùi nồng nặc thì viết là [
] (sực nức, nồng nặc). Nay mùi hôi này
nồng nặc bời bời như cỏ bồng, mùi hôi của Hoặc bốc
to lên như cỏ bồng. Có bản chép là [
] (bột) chẳng biết xuất xứ từ đâu.
Cái Hoặc này sinh khắp tứ định, không đâu không có,
ví như đầy rẫy khắp bốn phía.
*
-Kinh văn : “Con rết, con do diên” tới
“bắt được là ăn liền”.
Tán rằng : dưới đây là 2 tụng rưỡi, ví dụ về tai nạn
ở Vô sắc giới.
- 1 tụng rưỡi đầu dụ về Hoặc ở ba địa dưới.
- 1 tụng sau dụ về Hoặc sinh ở Hữu đỉnh địa.
Đây là phần đầu.
Loài rết v.v… là dụ về hạng phàm phu, bị Hoặc ở Sắc
giới bên dưới thiêu đốt, cầu được sinh ở Vô sắc giới
ví như “chạy khỏi hang”.
Sinh ở ba địa dưới, quỷ Cưu bàn đồ ví với kẻ ngoại
đạo. Ngoại đạo phần nhiều chấp hai địa ở trên, coi
đó là Niết bàn. Trừ các phàm phu chẳng chấp, coi đó
là nhân của Niết bàn thù thắng. Phàm khởi Hoặc thì
như quỷ thấy trùng “hễ bắt được là ăn liền”. Ăn, có
nghĩa là để giúp cho sự tăng trưởng, vì theo đuổi
thứ đó làm cho Hoặc càng tăng.
*
-Kinh văn : “Thêm nữa, các ngạ quỷ” tới
“cuống quýt chạy quanh quẩn”.
Tán rằng : đây là dụ về phiền não sinh ở Hữu đỉnh
địa.
Ngoại đạo đó thì gọi là ngạ quỷ (quỷ đói). Vì là
đỉnh của ba cõi nên gọi là “trên đầu”. Phiền não
càng sinh, gọi là “lửa cháy”.
Không có thức ăn chính pháp và nước chính pháp để ăn
uống để tế độ cho, nên gọi là “đói khát”. Bị phiền
não bức bách như bị “nhiệt não”.
Thường không được yên thì gọi là “chu chương”. “Chu
chương” nghĩa như “châu lưu”, có nghĩa là loanh
quanh, quẩn quanh. Luân hồi trong năm nẻo thì gọi là
“muộn tẩu”, có nghĩa là chạy lẩn quẩn.
* Chữ Chương có chỗ viết là chướng [
障
], có nghĩa là sợ hãi cuống quýt.
Thuyết các dụ nói trên dụng ý là khiến chán ghét sợ
hãi. Nên có nhiều loại biến danh, bậc trí giả nên
hiểu rõ.
*
-Kinh văn : “Nhà ấy như vậy đó” tới
“nhiều nạn chẳng phải một”.
Tán rằng : đoạn văn này là mục thứ ba kết luận về
các nạn nói trên. Hoạn nạn đã nhiều, chẳng thể kể
hết.
* Chữ [
眾
] có hai âm : Chúng và Trọng.
*
-Kinh văn : “Lúc bấy giờ chủ nhà,
Đứng ở nơi ngoài cửa”.
Tán rằng : dưới là đoạn lớn thứ ba có 14 tụng : thấy
chúng sinh khổ, liền đặt ra thí dụ để làm phương
tiện quyền nghi.
Trường hàng có bốn. Trong đây cũng thế :
- 3 tụng đầu tụng về dụ thấy chúng sinh khổ thì xót
thương.
- 5 tụng sau là dụ về khai thị Đại thừa, nhưng chúng
sinh chẳng mong muốn.
- 3 tụng dụ về việc nghĩ phương tiện để cứu vớt.
- 3 tụng cuối chính thuyết dụ về tam thừa.
Phần đầu có hai ý :
• 2 tụng đầu tụng về thấy khổ.
• 1 tụng cuối tụng về bi mẫn chúng sinh.
Trong phần thấy khổ :
+ 2 câu đầu dụ về việc Phật xuất tam giới.
+ 1 tụng rưỡi dụ về lại nghe thấy những sự chúng
sinh ở trong cảnh hoạn nạn đáng thương xót.
Đây là phần đầu.
“Chủ” có nghĩa là thân, là bề trên, là người nắm
phép tắc, là người lãnh đạo, là người giữ gìn.
“Môn” có hai loại :
1) Giáo môn.
2) Hạnh môn.
Phật trụ trong quả, ra ngoài nhân môn. Tức là ngôi
vị ở diệu lý, cũng là lý xuất giáo môn. Đó là nhất
thừa môn vậy. Cho nên nói là “ngoài cửa” (môn
ngoại).
Do trường hàng nói : “Ta tuy có thể ở chỗ cửa bị
cháy này mà ra ngoài được yên ổn”, nay nói “đứng ở
bên ngoài cửa” thì có bốn nghĩa :
1/ Dáng đứng đợi, để đợi con ra khỏi nhà.
2/ Dáng sắp đi, sắp đi vào cứu nên gọi là đứng.
3/ Đứng là tướng chẳng đi, chờ thời cơ chín muồi sẽ
đi cứu, cho nên chưa đi ngay.
4/ Đứng có nghĩa là dậy để hoàn thành.
Chúng sinh đang ở trong vòng sinh tử, chưa dậy chưa
thành Phật, như ngồi. Phật đã dậy và thành, nên đứng
vậy.
*
-Kinh văn : “Nghe thấy có người nói” tới “chỉ vui
vầy ham đắm”.
Tán rằng : đây là dụ nghe nói chúng sinh ở trong
cảnh hoạn nạn.
Trường hàng đằng trước nói rằng : “Trưởng giả nhìn
thấy đám cháy to này”. Phẩm Phương Tiện nói : “Ta
dùng Phật nhãn mà quan sát”. Nay nói “nghe thấy”
(văn), là có hai nghĩa :
1) Hình ảnh tự, tha nổi rõ. Chẳng những tự thấy
chúng sinh chìm đắm khổ sở, còn nghe lời truyền
thuyết của tha tam thế Phật. Thân, sơ làm nổi bật
cho nhau.
2) Tận mắt nhìn thấy chúng sinh khổ sở là thân, nên
gọi là nhìn thấy (kiến). Trụ đợi cơ duyên mới cứu
giúp được, đó là sơ, nên gọi là nghe thấy (văn).
Từ vô thủy tới nay, phóng túng buông trôi, khởi
phiền não phân biệt, đó là “trước đây vì dạo chơi”.
Chịu quả khổ ở ba cõi, gọi là “mà đến vào nhà này”.
Từ vô thủy tới nay vì Hoặc nghiệp cảm bởi thức v.v…,
cho nên trái với đạo lý, ngược với chân nghĩa, đó
gọi là “lai nhập” (đến vào). Nhập có nghĩa là ở đó,
chẳng phải là trước kia đã xuất, nên nay mới gọi là
nhập. Nếu kẻ ấy đã tu Giải thoát phần thì gọi là
xuất. Quả thực là vì chẳng tu, nên gọi là nhập.
Chủng tính tam thừa chưa phát hiện hành. Giả thử
phát đại (thừa) tâm, nhưng thoái chuyển cầu tiểu
(thừa) quả, thế thì gọi là “ấu trĩ nhỏ dại” (trĩ
tiểu).
* Chữ trĩ [
稚
] đọc là Trĩ, có nghĩa là thơ ấu yếu ớt.
Bị ngu si che lấp thì gọi là “vô tri”. Ở quả khổ này
mà vẫn buông tuồng sáu tình thì gọi là “vui vầy”
(hoan ngu). Tham nhiễm các cảnh thì gọi là “ham đắm”
(nhạo trước).
*
-Kinh văn : “Trưởng giả vừa nghe xong” tới “khiến
con không bị hại”.
Tán rằng : dụ này là dụ bi mẫn chúng sinh.
Vào nhà cứu họ, thương xót chúng sinh, nên gọi là
“kinh”. Tùy thuận sinh tử, gọi là “vào nhà lửa”. Do
lần vào này thì sau mới “phương” cùng đồng thời với
chúng sinh ra khỏi nhà lửa. Tuần hoàn ứng cứu, chẳng
kể hoạn nạn, gọi là nên “cứu giúp thích nghi”, vì
cứu đúng lúc.
*
-Kinh văn : “Mà bảo dụ các con” tới
“liên tục không hề ngừng”.
Tán rằng : dưới đây là 5 tụng dụ về việc (Phật) khai
thị đại thừa, mà (chúng sinh) chẳng mong cầu. Có hai
:
• 4 tụng bí mật cho biết những nỗi khổ
để truyền thụ đại thừa.
• 1 tụng nói về chúng sinh không mong cầu được pháp
đại thừa.
Phần đầu được chia làm hai :
- 1 tụng rưỡi là phần mách bảo chung về Hoặc khổ vẫn
còn nảy sinh.
- 2 tụng rưỡi là phần mách bảo riêng từng chỗ ác
khiến phải chán ghét.
Đây là phần đầu.
Thuyết về các thứ hoạn nạn như nhà hư hại, bị hỏa
tai, trùng quỷ quấy nhiễu.
“Ác quỷ” : dụ cho các kiến chấp của ngoại đạo.
“Độc trùng” : dụ cho các Hoặc khác của hàng Bạch y
(tại gia, thế gian).
Hai thứ này là duyên sinh ra mọi phiền não,
như hỏa tai liên miên chẳng dứt.
* “Man diên” [
蔓
筵
] chỉ tình trạng liên tục, có nơi giải thích âm đọc
là Mạn diên. Tức là như cỏ mọc lan, lại như chiếu
(diên tịch [
筵
蓆
]) trải dài. Có chỗ diên viết là [
延
] (kéo dài), giống như cỏ mọc vươn dài liên tục
không ngừng. Có nơi đọc hai chữ trên là “vạn diến”.
Như Tây Kinh phú có câu : kỳ hình vạn diến (hình nó
kéo dài).
Sách Quảng Nhã nói : “Mạn” nghĩa như “trường” (dài),
“diến” nghĩa như “biến” [
遍
] (khắp, khắp lượt), cả hai chữ đều đọc khứ thanh,
như lửa đồng (dã hỏa) liên miên, thế lửa cháy mãi
chẳng dứt.
Vì nhà lửa (hỏa trạch) sinh, mà gọi là :
“cháy nhà, lửa lan mãi”.
Vì nhà lửa hoại, mà gọi là :
“Các sự khổ thứ lớp,
Tương tục không hề dứt”.
Ý này chỉ rõ “vì Hoặc mà sinh khổ”.
Trong lý Duyên sinh : sau Vô minh, Hành, thì có năm
thứ như Thức v.v…. ; sau Ái, Thủ, Hữu, thì có Sinh,
Lão, Tử. “Vì khổ mà sinh Hoặc”, sinh tử nối nhau
không lúc nào dứt. Sau Xúc, Thụ có Ái, Thủ. Sau Lão
Tử lại có Vô minh. Cho nên sinh tử gọi là vòng luân
chuyển.
*
-Kinh văn : “Loài rắn độc, nguyên, phúc. (tên các
loài rắn độc)” tới “lại còn thêm lửa
to”.
Tán rằng : đấy là bảo riêng từng chỗ ác khiến phải
chán ghét.
“Rắn độc v.v …” dụ cho sân.
“Dạ xoa” dụ cho ác nghiệp.
“Cưu bàn đồ” dụ cho giới thủ.
“Dã can” dụ cho nghi.
“Chó” dụ cho mạn.
“Diều cắt” dụ cho tham ái.
“Các thú loài Bách túc” dụ cho các thứ phiền não.
Vì thiếu pháp thực, bị đói khát, nên sinh não. Não
phiền bời bời bức bách gay gắt, rất đáng sợ. Nhìn
Hoặc tướng đó, thì thấy đây là nơi chốn cực ác khổ
nạn đã chẳng thể vui, huống chi là ngôi nhà kết quả
bị thiêu bởi nguyên nhân cháy lớn, ngày đêm thiêu
đốt, sao đáng tham hám nữa.
Hoặc lại còn phiền não như vậy : trùng quỷ quấy
nhiễu bấy nhiêu ác tướng, khổ đã khó ở, huống hồ ở
đây lại bị tổn hại thiêu đốt. Từ nay về sau, tai nạn
lửa lớn trong thế gian chẳng giải thích như ở đây
nữa. Trùng quỷ là lửa, có gì khác nhau ?
* Nan sử, nạn xứ [
難
,
處
] có hai nghĩa :
1) Khó thể ở yên. Kinh Thi có câu : “Mạc ngã hoàng
xử” (chẳng có chỗ nào tôi được ở yên). Chữ Xử có
nghĩa là cư, tức là ở.
2) Nơi chốn khổ nạn.
*
-Kinh văn : “Các con nhỏ không hiểu” tới
“Chơi đùa mãi không thôi”.
Tán rằng : một tụng này nói về việc chúng sinh không
mong muốn chọn lấy pháp đại thừa.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ trưởng giả kia” tới
“Làm ta thêm sầu não”.
Tán rằng : dưới đây là đoạn thứ ba có 3 tụng, là dụ
về nghĩ cách cứu vớt.
Có hai phần :
- 1 tụng nói về ý càng thêm thương xót chúng sinh.
- 2 tụng nói về ý đang nghĩ cách cứu vớt.
Đây là phần đầu.
Nói về ý chúng sinh bị khổ, phiền não tăng trưởng
lại càng khiến tâm bi mẫn của Bồ tát tăng thêm.
*
-Kinh văn : “Nay trong ngôi nhà này” tới
“Nên bày các phương tiện”.
Tán rằng : đây là đang nghĩ cách cứu vớt.
“Đam” : có nghĩa là ham thích.
“Miến” : là say mê, chơi bời phóng túng. Các ý khác
có thể biết được.
* Hai chữ [
] đều đọc là Đam, có nghĩa là ưa thích. Ham chơi thì
viết là [ ]. Ba chữ đều được.
Chữ [ ] đọc là Miến. Cũng có nghĩa
là ham thích, nghiện ngập, là loạn. Cổ văn viết là [
] , có chỗ viết là [ ,
愐
], chẳng biết từ đâu. Chữ [ ]
: Thuyết Văn giải thích là đam mê rượu chè.
*
-Kinh văn : “Bảo với các con rằng” tới
“Những xe
báu tốt đẹp”.
Tán rằng : dưới đây là đoạn bốn có 3 tụng là dụ về
chính thuyết tam thừa. Chia làm ba :
- 1 tụng bảo chung, hứa cho xe.
- 1 tụng : bày xe ở ngoài.
- 1 tụng : nói xe từ đâu.
Đây là phần đầu.
*
-Kinh văn : “Nào xe dê, xe hươu” tới
“Các ngươi mau ra đi”.
Tán rằng : đây là bày xe ở ngoài.
Quả xuất từ cửa nhân, lý vượt ra ngoài giáo cho nên
nói là “ra ngoài cửa”. Thể của xe là vô lậu, chẳng
bị trói buộc, nên gọi là “ngoại”, vì như lìa khỏi ba
cõi, như chỗ không còn phải thi hành việc giáo hóa
nữa. Có nghĩa là ở ngoài tam thừa môn. Phật ở ngoài
nhà (lửa) cho nên gọi con ra, nghĩa này cũng giải
thích như trên.
*
-Kinh văn : “Ta chính vì các ngươi” tới
“Có thể để dạo chơi”.
Tán rằng : đây là nói về xe từ đâu mà có.
Niết bàn bảo sở vô vi đã có từ trước, chẳng nói “do
ta làm ra”. Xe là Bồ đề, là thể hữu vi, cho nên nói
là tạo (“tác”).
“Tác” có nghĩa là khởi lên. Xe trâu ví với chủng
trí, do giáo hành mà sinh ra, nên gọi là tạo (“tác”)
v.v…. Hai xe dê, hươu là chỉ sự bày đặt về danh
giáo, cũng nói là “ta làm ra”.
Tuy đều nói là làm (“tác”). Nhưng xe trâu thì làm
thể, còn xe dê, xe hươu thì làm danh, cho nên đều
gọi là làm (tác).
Tùy theo căn cơ mà cứu giúp thì gọi là “tùy ý sở
lạc” (tùy theo ý thích).
*
-Kinh văn : “Các con nghe cha nói” tới
“Lìa rời các khổ nạn”.
Tán rằng : dưới là đoạn lớn thứ tư có 6 tụng rưỡi,
tụng ví dụ về việc nghe theo lời dạy, tránh khỏi
hoạn nạn. Chia làm hai :
- 1 tụng rưỡi nói về con tránh khỏi tai nạn,
- 5 tụng nói về cha được yên lòng.
Đây là phần đầu.
“Lập tức cùng đua nhau” : có nghĩa là khuyến khích
lẫn nhau.
“Phóng nhanh ra khỏi nhà” : chỉ sự tinh tiến dũng
mãnh.
“Tới nơi chỗ đất trống“ (Đáo ư không địa) : có
nghĩa là tùy theo sở ứng, lìa được ba chướng, ở địa
vị nhị không, tức nhị thừa vô học (địa) và nhập Sơ
địa. Có nghĩa là xuất ly được khổ nạn của Phân đoạn
tử, vì không còn sinh nữa.
Quả ác gọi là “khổ ”, nhân ác gọi là “nạn”.
*
-Kinh văn : “Trưởng giả thấy các con” tới
“Ta nay rất vui mừng”.
Tán rằng : dưới là 5 tụng, nói về cha cuối cùng được
yên lòng. Chia làm hai :
- 1 tụng rưỡi nói về ý thấy thế rồi tự mừng thầm,
- 3 tụng rưỡi nói về ý mừng hết mức liền bảo với
người khác.
Đây là phần đầu.
“Bốn đường thông nhau”, (tứ cù) : dụ cho lý tứ đế.
Con đã ra trụ ở “tứ cù”, cha bèn ngồi trên tòa sư
tử, vì được vô uý, vì biểu thị đã yên lòng. Bở vì
đoạn dưới nói là :
“Bấy giờ các người con,
Biết cha đã an toạ”.
Cho nên “tòa sư tử” là tòa của cha vậy.
Khéo hợp với lòng cha nên nói là “vui mừng” (khoái
lạc).
Người xưa đã được Bồ đề. Kẻ hậu sinh còn ở địa vị tu
nhân, cho nên phải nhờ đến thuyết pháp đúng thời để
chỉ rõ cho họ biết ý ngài muốn rủ lòng cứu vớt.
Trông đợi con, bởi vậy nói là “đứng (lập)”.
Nay con quả mãn, đã ra khỏi nhà lửa, cha đi không
còn phải đợi nữa và đã yên lòng, nên nói là “ngồi
(tọa)”.
*
-Kinh văn : “Những đứa
con ta đây” tới
“Bốn phía đều khởi dậy”.
Tán rằng : dưới là 3 tụng rưỡi nói về ý mừng quá bảo
với người khác. Chia làm hai :
- 2 tụng nói về các con ngày trước ở trong hoạn nạn.
- 1 tụng rưỡi nói rõ ta nay cứu được, thỏa lòng.
Đây là phần đầu.
Thiện căn khó khởi lên, thì gọi là “sinh dục thậm
nan”. Dục có nghĩa là trưởng dưỡng (nuôi cho khôn
lớn).
Vô minh che lấp lâu, thì thiện căn chẳng lớn, gọi là
“ngu nhỏ vô tri”.
Chìm đắm trong ba cõi thì gọi là “vào nhà nguy
hiểm”. Hoặc xưa kia đã được giáo hóa mà nay đều
quên, nên gọi là “vì nhỏ nên vào trong nhà lửa”.
Rong ruổi trong vòng trần tục ví như “có nhiều trùng
độc”.
Ngoại đạo tà học thì ví như “ma quỷ đáng sợ”.
Phiền não rất nhiều thì ví như “cháy to lửa mạnh”,
gặp duyên liền nảy sinh ví như “bốn phía đều khởi
dậy”.
*
-Kinh văn : “Mà các con nhỏ
này” tới
“Ta nay rất vui mừng”.
Tán rằng : đây nói rõ ta nay cứu được các con cho
nên thỏa lòng, tự thấy vui mừng, lại bảo cho người
khác biết cái ý vui sướng của mình.
Trên đây là 53 tụng rưỡi nói về việc ngày xưa thuyết
về phương tiện quyền nghi.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ các người con” tới
“Ba loại xe báu lạ”.
Tán rằng : dưới đây là đoạn thứ hai có 12 bài
tụng về việc nay thuyết về thực thừa. Trường hàng
chia làm bốn, nay đây cũng thế :
- 3 tụng đầu : các con đòi ba thứ xe.
- 1 tụng rưỡi giải thích : chí cha đã thành.
- 6 tụng nói đến ý cha chỉ cho một thứ xe.
- 1 tụng rưỡi : vượt khỏi điều mong muốn của con, vì
trước sau khác nhau.
Phần đầu chia làm hai :
+ 1 tụng rưỡi đầu nêu rõ các con đòi ba xe.
+ 1 tụng rưỡi sau nhắc lại điều cha đã hứa trước.
Đây là phần đầu : thể theo ý cha không còn lo âu,
cho nên nói là “biết cha đã an tọa”.
*
-Kinh văn : “Như điều cha hứa
trước” tới
“Xin thương mà cấp cho”.
Tán rằng : đây là nhắc lại điều mà cha đã hứa trước,
cho nên mới dám hy vọng : đúng thời, ứng với căn cơ
của người tu học, xin rủ lòng thương mà ban phát
cho.
Chữ “Duy” nghĩa là kính xin. Ý nói kính xin cha.
Ngụ ý hy vọng được vận dụng tam thừa.
*
-Kinh văn : “Trưởng giả rất giàu có” tới
“Làm ra các xe lớn”.
Tán rằng : đây là phần hai, nói về chí cha đã thành.
“Trưởng giả rất giàu có” (ví với) kho tàng hữu vi,
vô vi rất nhiều, chu cấp cả một nước, vẫn chẳng dùng
hết, huống chi các con. Cho nên dùng các thứ châu
báu thực sự mà làm xe lớn, có nghĩa là muốn giáo hóa
khiến chúng sinh tu tập để được kết quả mỹ mãn.
Nói tóm lại nhất thiết chủng trí, vô lậu ngũ uẩn là
tướng của xe này. Xả bỏ Sắc vô thường mà được Thường
sắc. Thụ, Tưởng, Hành, Thức cũng giống như vậy.
Nếu nói chân như là thể của xe này, tức là Bảo sở.
Cớ sao lại nói là tạo tác ? Bày đặt Hóa thành để mà
giáo hóa cũng có thể nói đó là “do ta hóa làm”. Lẽ
nào nói rằng Bảo sở cũng là tạo tác ra. Cho nên xe
trâu được đặt ra là để thuyết minh về thể của Bồ đề.
*
-Kinh văn : “Trang sức rất đẹp đẽ” tới
“Rủ xuống khắp mọi chỗ”.
Tán rằng : dưới là đoạn thứ ba có 6 tụng, nói về ý
cha chỉ cho một thứ (tức nhất Phật thừa).
Trong đây chia làm bốn phần :
- 4 tụng nói về trang sức (của xe).
- 1 tụng về tướng trâu.
- Nửa tụng nói về người tùy tòng.
- Nửa tụng nêu chung về việc cho xe.
Phần đầu có chín loại trang sức. Đây có sáu loại :
1) Nói chung về trang sức.
2) Lan can xe.
3) Lục lạc treo trên xe.
4) Các dây rợ chằng chéo.
5)ø Tàn lọng tua ngù. Đều bằng các lưới trân châu.
* Chữ [
施
] đọc âm là Thí.
6) Tràng hoa dùng hoa vàng mà tô điểm. Cho nên
gọi là các tràng hoa vàng, ngoài ra không có gì
khác.
*
-Kinh văn : “Các màu điểm xen
nhau” tới
“Dùng trải trùm trên nệm”.
Tán rằng : đây là ba loại trang sức :
7) Trang sức bằng các lụa màu.
8) Đệm xe, nói rõ trong xe hai lớp chiếu trải. Tức
là trong trường hàng nói là chiếu đệm.
* Thiết Vận giải thích là : Nhân là Nhục [褥]
đều có nghĩa là đệm. “Nhục” : tức là thảo nhục. Là
đệm làm hoa văn hình hoa cỏ, có chỗ giải thích là
đệm bằng cỏ gọi là Nhân Nhục.
Chữ [茵]
Nhân có chỗ viết là [裀].
Theo Ngọc Thiên, đó là thân áo. Nếu viết là [革因]
thì chỉ bằng da hổ, có hoa văn dùng để đệm với xe ở
dưới sau ba lớp đệm xe nên viết là [茵褥].
Chữ [繒]
Tăng : là chỉ chung các loại lĩnh, gấm ngũ sắc. Chữ
nhục [縟]
chỉ loại đệm bằng bông mềm. Đem các loại lĩnh gấm,
bông mềm mà làm đệm xe, cho nên biết là đệm thêu hoa
văn hình hoa cỏ.
9) “Cửu phú ba” : tức là gối Thế Đan. Văn trường
hàng gọi là “Thủ diệt định”. Loại này dùng để dựa
vào cho khỏi mỏi. Đây ví với trí dụng thiện xảo ở
khắp trên đệm tịnh mệnh. Cho nên ví với trí để che
đậy. Vì có điều mong muốn khác, nên cũng không trái
ngược nhau.
Đây có sáu đức :
1/- Thần dụng vô phương, gọi là Thượng diệu.
2/- Vi diệu bí mật khó biết, gọi là Tế.
3/- Tích lũy công hạnh, nhân hoa mà có tác dụng, do
tu tập mà nên, đó gọi là Điệp.
* Chữ Điệp [疊毛]
đọc là Điệp, sách Thiết Vận giải thích là vải bông
mịn (Tế mao bố). Nay chẳng gọi thế. Còn có loại vải
điệp hoa dệt thành, gọi là Bạch Điệp. Còn loại dệt
bằng lông thì gọi là Hạt [褐].
4/- Hơn hẳn mọi thứ, đức thần khó lường, gọi là “Giá
trị ngàn ức”.
5/- Tự tính trong trắng, gọi là Trắng tinh (thiên
bạch).
6/- Thể lìa hai chướng là Tịnh khiết (trong sạch).
Sáu đức trên đây là Diệu dụng của Hậu trí. Bao trùm
khắp trong tịnh mệnh, ví với “trùm lên trên đệm”.
*
-Kinh văn : “Có con trâu trắng to” tới
“Để thắng vào xe báu”.
Tán rằng : đây là tướng trâu. Có bốn đức :
1) Trâu trắng.
2) Béo khỏe tức là da căng.
3) Sức gân cốt.
4) Đẹp đẽ ngay ngắn.
*
Kinh văn :-
“Có nhiều người tùy tùng” tới
“Mà ban cho các con”.
Tán rằng : nửa tụng trên là người tùy tùng, nửa tụng
dưới là nêu lên việc cho xe.
* Chữ [儐]
đọc là Tấn, nghĩa như chữ [相]
Tướng : người giúp việc. Sách Ngọc Thiên giải thích
là người hướng dẫn (Đạo [導]).
Người ra ngoài để tiếp tân thì gọi là Tấn, người vào
trong để giúp lễ thì gọi là Tướng. Thêm nữa, Tấn là
người dẫn đường, bẩm trình. Có bản viết thành chữ
Tân [檳].
Nay người đi trước dẫn đường thì gọi là Tấn [儐],
người theo đằng sau thì gọi là Tòng [從]
.
Tướng mạo của xe được thuyết minh ở trên giống với
trường hàng, riêng về số thì khác trước, tùy theo
văn cảnh mà hiểu. Các độc giả nên lần lượt đối chiếu
với trường hàng mà giải thích. Nay sợ rườm rà, nên
dừng.
*
-Kinh văn : “Các con lúc bấy giờ” tới
“Tự tại không ngăn ngại”.
Tán rằng : đây là ý thứ tư : vượt điều mong muốn của
con.
“Rong chơi khắp bốn phương” ví với việc giáo hóa bốn
loại chúng sinh. Vì được trí giác nên “chơi đùa”. Vì
được lý diệt cho nên “sung sướng”. Vì được thần
thông cho nên “tự tại”. Lìa được các chướng cho nên
“vô ngại”.
Tự tại có mười thứ :
l
1. Tài (của cải).
2. Tâm.
3. Thọ.
4. Nghiệp.
5. Sinh.
6. Thắng giải.
7. Nguyện.
8. Thần lực.
9. Pháp.
10. Trí.
như đã thuyết minh ở các chỗ khác.
Lại có bốn tự tại :
l
1) Tướng. 2) Thổ.
3) Trí.
4) Nghiệp.
nay đều đạt được cả.
Trên đây là 65 tụng rưỡi, tụng về Dụ thuyết.
*
-Kinh văn : “Bảo Xá Lợi Phất này !” tới
“Cha lành của thế gian” .
Tán rằng : dưới đây là 18 tụng, tụng về Hợp thuyết.
Cũng như trên, đây chia làm hai phần :
- 11 tụng hợp thuyết xưa là quyền (thừa).
- 7 tụng hợp thuyết nay là thực (thừa)
Trong phần xưa là quyền (thừa), có bốn ý :
+ 1 tụng hợp thuyết ba cõi đều có Phật
+ 3 tụng hợp thuyết năm nẻo (ngũ thú) nguy vong.
+ 5 tụng rưỡi hợp thuyết thấy (chúng sinh khổ) bèn
đặt ra phương tiện quyền nghi.
+ 1 tụng rưỡi hợp thuyết y theo lời dạy, tránh khỏi
tai nạn.
Đây là văn phần đầu, ý giống như đã giải thích trong
phần trường hàng ở trước.
*
-Kinh văn : “Hết thảy các chúng sinh” tới
“Không có chút tuệ tâm”.
Tán rằng : dưới là ý thứ hai, có 3 tụng hợp thuyết
năm nẻo nguy vong. Chia làm ba phần :
- 1 tụng hợp thuyết người đông, các con du cư trong
thế gian, hạng vô chủng tính, vì dẫu chẳng giống như
con đẻ, nhưng cũng là con nuôi.
- 1 tụng hợp thuyết nhà cửa mục nát nguy hiểm.
- 1 tụng hợp thuyết các phương tai hoạ khởi lên.
Đây là phần đầu.
Vì đắm trước dục lạc thế gian quá sâu (thâm trước
thế lạc), nên khởi lên điều ác rất sâu.
Cũng có bản chép là “thâm trước ngũ dục”. Lấy bản
đầu làm chính, vì thông cả ba cõi.
“Không có chút tuệ tâm” : có nghĩa là không có thiện
ý.
*
-Kinh văn : “Ba cõi đều không yên” tới
“Cháy dữ chẳng tắt dứt” .
Tán rằng :
- Đầu tiên là một tụng nói về nhà cửa mục nát nguy
hiểm, năm uẩn đều bị bốn khổ bức bách, biến đổi tàn
tạ.
- Sau đó là một tụng nói về các phương đều có tai
họa khởi lên khắp trong bốn vị Sinh, Lão, Bệnh, Tử
đều bị lửa mạnh phiền não thiêu đốt.
* Chữ [
熾
] đọc là Xí : có nghĩa là Thịnh (mạnh, vượng).
*
-Kinh văn : “Đức Như Lai đã lìa” tới
“Ởû yên nơi rừng ruộng”.
Tán rằng : dưới đây là ý thứ ba, có 5 tụng rưỡi, hợp
thuyết về thấy chúng sinh khổ bèn đặt ra phương tiện
quyền nghi. Có ba phần :
- 3 tụng đầu, hợp thuyết về thấy chúng sinh khổ, xót
thương chúng sinh.
- 1 tụng hợp thuyết về (việc Phật) khai thị đại
thừa, chúng sinh chẳng muốn.
- 1 tụng rưỡi cuối hợp thuyết về (việc Phật) chính
thuyết tam thừa. Cứu giúp một cách vô tư (vô tư
phương bạt tế).
Phần đầu lại chia làm ba :
+ 1 tụng đầu thuyết minh về tự mình ra khỏi nhà.
+ 1 tụng nói rõ nhà thuộc về ta.
+ 1 tụng nói rõ sức mình có thể.
Đây là phần đầu.
Chứng Niết bàn, cho nên “vẳng lặng” (tịch nhiên). Ra
khỏi vòng sinh tử, cho nên “nhàn rỗi, ở không” (nhàn
cư).
Thường tại trong định, cho nên rất là phóng khoáng.
“Ở yên nơi rừng ruộng” : vì định ấy là rừng công
đức. Như có bài tụng nói rằng :
Voi chúa ở đồng rộng.
Phóng khoáng lòng không lo.
Trí giả ở núi rừng.
Tiêu dao vui vẳng lặng.
*
-Kinh văn : “Hiện nay ba cõi này” tới
“Đều là con của ta”.
Tán rằng : nhà thuộc về ta, chúng sinh đều là con
ta.
*
-Kinh văn : “Mà nay ba cõi này” tới
“Có thể cứu hộ được”.
Tán rằng : đây là nói sức mình có thể, chứ chẳng
phải ai khác có thể.
*
-Kinh văn : “Dẫu lại dạy dỗ nữa” tới
“Bởi vì tham trước sâu”.
Tán rằng : một tụng hợp thuyết về khai thị đại thừa,
mà chẳng muốn.
“Giáo” nghĩa là huấn. “Chiếu” là soi sáng (minh).
Tuy giáo huấn rõ ràng mà (chúng sinh) chẳng tin đại
thừa vì đam trước dục lạc quá sâu.
* Có người nói : từ Giáo chiếu [教
詔
]vốn là Giáo chiêu [
教
招] và
Chiêu có nghĩa là dụ [誘]
(dỗ dành), vì dẫn dụ dạy bảo rõ ràng.
*
-Kinh văn : “Bởi vậy nên phương tiện” tới
“Đạo pháp xuất thế gian”.
Tán rằng : đây là hợp thuyết về việc Phật chính
thuyết tam thừa.
*
-Kinh văn : “Các người con này đây” tới
“Hoặc Bất thoái Bồ tát”.
Đây là ý thứ tư : hợp thuyết về chúng sinh y theo
lời dạy, tránh khỏi tai nạn.
“Tâm quyết định” : có nghĩa là chẳng nghi tứ đế,
chứng được chân đế.
“Có đủ sáu thần thông” : đó đắc quả A la hán, còn
hai quả khác có thể biết được.
Luận nói : “Bất thoái” là bậc trụ Sơ địa trở lên,
xuất ly Phân đoạn sinh.
“Tam minh” gồm :
- Túc mạng minh.
- Thiên nhãn minh.
- Lậu tận minh.
Cứ theo thứ tự mà có thể biết được ba đời quá khứ,
vị lai, hiện tại, trừ được sự ngu si ba đời, những
điều hiểu biết là thắng trội, cho nên chỉ riêng ba
thứ này gọi là Tam minh.
*
-Kinh văn : “Này ông Xá Lợi Phất” tới
“Được trọn thành Phật đạo”.
Tán rằng : dưới đây có 7 tụng hợp thuyết về nay Phật
thuyết thực thừa. Chia làm hai :
- 2 tụng hợp thuyết : cha chỉ có một.
- 5 tụng tán thán công đức của thừa thắng trội.
Đây là phần đầu.
*
-Kinh văn : “Phật thừa này vi diệu” tới
“không có gì cao hơn”.
Tán rằng : dưới đây là 5 tụng tán thán đức của thừa.
Chia làm bốn :
• 1 tụng tán thán bốn đức của thừa.
• 1 tụng điều tán thán của thánh.
• 1 tụng nói về toàn bộ các món vui thích.
• 2 tụng nói về điều vui đệ nhất.
Đây là phần đầu : nêu bốn đức :
1) Vi diệu, vì rất thắng trội.
2) Thanh tịnh, vì lìa chướng.
3) Đệ nhất, vì là trội nhất.
4) Vô thượng, vì không gì hơn được.
*
-Kinh văn : “Là thứ Phật ưa thích” tới
“Và cúng dàng lễ bái”.
Tán rằng : đây là thứ mà thánh khen ngợi. Chẳng
những Phật ưa mà khen ngợi, mà còn có thể khiến
chúng sinh ba nghiệp (tức là chúng sinh trong ba
cõi) đều hướng về nương tựa (quy y).
* Tam nghiệp : ba cõi.
1. Phước nghiệp : nghiệp chiêu cảm thiện quả cõi
Dục.
2. Phi phước nghiệp : nghiệp chiêu cảm ác quả cõi
Dục.
3. Bất động nghiệp : nghiệp chiêu cảm thiện quả cõi
Sắc và cõi Vô sắc.
*
-Kinh văn : “Đến vô lượng ức thiên” tới
“Cùng pháp khác của Phật”.
Tán rằng : đây là tụng về toàn bộ các món vui thích.
*
-Kinh văn : “Đắc được thừa như vậy” tới
“Mà thẳng tới đạo tràng”.
Tán rằng : đây là tụng niềm vui đệ nhất.
Ngày đêm kiếp số thường được chơi đùa. Ba thừa đều
lên Sơ địa trở lên, nhờ chủng trí nhất thừa này trải
qua hai A tăng kỳ mới tới Phật vị. Nếu người nhị
thừa nhờ Vô lậu giáo cùng Hữu lậu thừa thì phải mất
một đại A tăng kỳ mới nhập Sơ địa. Như vậy gọi chung
là “ngày đêm kiếp số”.
Ba loại ý sinh thân do nhờ nhất thừa quý báu vô lậu
này mà thẳng tới đạo tràng là ngôi vị của Phật, Bồ
đề, Niết bàn, Uẩn sinh đạo xứ, đó gọi là đạo tràng.
Hoặc nhờ nhân thừa chủng trí mà tới đạo tràng đại
bát Niết bàn trong Phật vị. Hoặc tới đạo tràng chân
như Phật quả. Đấy chính là nhân thừa mới tới quả
thừa.
Do đó những điều tổng thuyết về Giáo Lý Hạnh Quả ở
trên đều là thừa thể.
*
-Kinh văn : “Vì bởi nhân duyên này” tới
“Trừ Phật dùng phương tiện”.
Tán rằng : đây là tụng về lời văn kết đáp ở đoạn lớn
thứ ba trong trường hàng.
Cần phải biết rằng chư Phật dùng sức phương tiện đối
với một Phật thừa mà phân biệt thuyết ba
(thừa).
Vì lý đã thuyết minh ở trên đó, mà cho dù có tìm
thật kỹ ở khắp các cõi mười phương cũng không có cái
thể của nhị thừa. Trừ Phật phương tiện giáo thuyết
có ba (thừa), cũng không hề có cái thể cực quả của
ba (thừa), trừ thuyết về nhân của nó thì phương tiện
có ba.
*
-Kinh văn : “Bảo Xá Lợi Phất rằng” tới
“Khiến ra khỏi ba cõi”.
Tán rằng : đây là đoạn văn lớn trong chính dụ giáo
hóa. Có ba.
Trên đây đã tóm tắt chỉ rõ lý do Phật đáp là hứa sẽ
thuyết giáo và chính thuyết pháp dụ khiến họ hiểu
rõ.
Dưới đây là đoạn thứ ba có 80 tụng rưỡi, tụng về ý
khuyên tín giải kinh này, ưa Phật trí tương lai. Có
hai phần :
- 14 tụng rưỡi nói rõ : pháp có quyền thực, khiến họ
bỏ quyền lấy thực.
- 66 tụng chỉ rõ cái sai cái đúng của con người,
khiến họ học cái đúng trừ cái sai.
Trong phần đầu lại có hai :
+ 2 tụng nói rõ cha con tình sâu, thấy con khổ
thì hay cứu.
+ 12 tụng rưỡi chính thức nói rõ quyền thực khiến họ
lấy thực bỏ quyền.
Đây là phần đầu.
* Chữ [累]
đọc là Lũy, có nghĩa là tích lũy.
*
-Kinh văn : “Ta dẫu ngày trước nói” tới
“Chỉ có Phật trí tuệ”.
Tán rằng : dưới là 12 tụng rưỡi chính thức nói rõ về
quyền thực, khiến bỏ quyền lấy thực. Trong đó có hai
:
• 1 tụng rưỡi nêu chung về xưa là quyền nay là thực.
• 11 tụng thuyết minh riêng về nay thực, xưa quyền.
Đây là phần đầu.
Ta tuy trước nói các ngươi sẽ diệt độ, chỉ là có thể
hết được Phân đoạn sinh tử đó để được Niết bàn, hậu
hữu chẳng còn tiếp tục. Còn Biến dịch sinh chẳng
phải là do biệt nghiệp chiêu cảm, vì chẳng gây
chướng ngại cho hạng Vô học nhập vô dư Niết bàn. Ở
đây giấu đi chẳng nói : “sự diệt độ của các ngươi
thực ra chẳng phải là đại bát Niết bàn, chẳng phải
thực sự diệt độ”.
Thứ mà các ngươi cần tu tập thêm chỉ là Phật trí tuệ
mà tính là pháp thân, tướng là đại tuệ; vì trí chứng
lý cho nên hai chướng chẳng sinh, bèn được giải
thoát. Gọi là đại Niết bàn vì ba sự đầy đủ.
*
-Kinh văn : “Nếu có Bồ tát nào” tới
“Đều là Bồ tát cả”.
Tán rằng : dưới đây là 11 tụng nói về nay thực, xưa
quyền. Trong có hai phần :
• 9 tụng rưỡi thuyết minh về nay là thực, xưa là
quyền.
• 1 tụng rưỡi là kết luận.
Phần đầu lại có hai ý :
- 2 tụng đầu nói rõ nay là thực (thừa).
- 7 tụng rưỡi sau nói xưa là quyền (thừa).
Đây là ý đầu.
*
-Kinh văn : “Nếu có người tiểu trí” tới
“Chân thực không sai khác”.
Tán rằng : dưới đây là 7 tụng rưỡi nói rõ xưa là
quyền. Trong đó có hai phần :
- 6 tụng đầu thuyết minh về quyền tứ đế.
- 1 tụng rưỡi sau giải thích về đắc quyền xứ.
Phần đầu có bốn ý :
+ 2 tụng về khổ đế.
+ 1 tụng rưỡi nói về tập đế.
+ 1 tụng rưỡi nói về diệt đế.
+ 1 tụng nói về đạo đế.
Đây là phần đầu.
Kẻ chấp trước sâu về ái dục, thì sở ái là nội thân,
sở dục là ngoại cảnh, đều là khổ đế.
Tụng đầu nói về khổ đế, ý nói chẳng bỏ thế đế mà
nhập chân đế.
Tụng sau nói về “chúng sinh hoan hỉ”, bởi vì được
nhập thánh, được pháp chưa từng có (đắc vị tằng
hữu).
“Đức Phật thuyết khổ đế,
Chân thực không khác”
Giải thích khổ là đế, đế có nghĩa là thực.
Kinh Di Giáo nói : Phật thuyết khổ đế chẳng thể
khiến cho sung sướng vì đó thực sự là khổ.
*
-Kinh văn : “Nếu có các chúng sinh” tới
“Mà phương tiện thuyết đạo”.
Tán rằng : đây là tập đế.
“Khổ nhân (nguyên nhân của khổ)” : là tập đế, là
nghiệp, phiền não vậy.
“Đạo” có nghĩa là nhân, tức là thể tập đế, vì là khổ
đế nhân. Đoạn tập thì gọi là đạo đế.
*
-Kinh văn : “Nguyên nhân của các khổ”
tới
“Gọi là đế thứ ba”.
Tán rằng : đây là diệt đế.
“Tham” là gốc khổ. Gốc còn tồn tại thì khổ nảy sinh.
Nếu diệt gốc tham, thì quả khổ sẽ diệt. Chỗ nó y chỉ
là khổ quả thân. Để diệt tập khổ, nên thuyết diệt
đế.
*
-Kinh văn : “Vì để chứng diệt đế”
tới
“Gọi là được giải thoát”.
Tán rằng : đây là đạo đế,
Do đạo chứng diệt, vì “lìa khổ phược” nên gọi là
chứng Niết bàn,” được giải thoát”.
*
-Kinh văn : “Người đó ở nơi đâu” tới
“Giải thoát hẳn hết thảy”.
Tán rằng : đây là giải thích về đắc quyền xứ.
Hai câu đầu là hỏi. Bốn câu sau là đáp.
Cứ lìa hư vọng phiền não, nghiệp, khổ, phân đoạn
sinh tử, thì gọi là được giải thoát, vì chứng được
Hữu tác Tứ thánh đế. Chưa được tới mức hai chướng,
hai nghiệp, hai tử thảy đều diệt tận.
“Giải thoát hẳn hết thảy” (nhất thiết giải thoát)
làchứng nhập Pháp không trí (tức là đạo đế) của Vô
tác Tứ thánh đế.
“Hữu tác tứ đế” gồm :
a
- Phân đoạn sinh tử là khổ đế.
- Nghiệp, phiền não là tập đế.
- Hữu Vô dư Niết bàn là diệt đế.
- Sinh không trí phẩm là đạo đế.
“Vô tác tứ đế” gồm : a
- Biến dịch sinh tử là khổ đế.
- Sở tri chướng là tập đế.
- Vô trụ Niết bàn là diệt đế.
- Pháp không trí phẩm là đạo đế.
Cho nên Kinh Thắng Man nói rằng : “Tám thánh đế như
vầy chẳng phải là điều mà các hạng Thanh văn, Duyên
giác biết được.
*
-Kinh văn : “Phật nói rằng người này” tới
“khiến họ tới diệt độ”.
Tán rằng : đây là kết luận thứ hai trong phần thuyết
minh về nay thực, xưa quyền.
Ý này có hai :
1) Phật nói nhị thừa trụ quyền, chưa thực diệt độ,
vì người ấy chưa được đạo Vô thượng.
2) Ý ta cũng chẳng muốn khiến cho kẻ nhị thừa trụ
quyền ấy lập tức tới được vô dư diệt độ.
Ý nói muốn khiến họ tranh thủ đạo Vô thượng đại bát
Niết bàn. Chẳng khiến hạng trụ quyền ấy được cứu
cánh Diệt ngay.
Trên đây là 14 tụng rưỡi, thuyết minh về vấn đề
quyền thực của pháp, khiến bỏ quyền, lấy thực.
*
-Kinh văn : “Ta là đấng pháp vương” tới
“Nên hiện ở thế gian”.
Tán rằng : dưới đây là 66 tụng chỉ rõ sự đúng sai
của con người, khiến học cái đúng, trừ cái sai. Chia
làm bốn phần :
- 2 tụng rưỡi đầu nói rõ ta biết căn khí, bởi vậy có
thể thuyết. Các ngươi chẳng biết, chớ tuyên truyền
bậy.
- 8 tụng sau nói rõ người tin thì ngôi cao, đều vun
trồng gốc đức đã lâu.
- 36 tụng rưỡi nói về tội tướng của người vô trí
chẳng tin.
- 19 tụng : đối với người có trí thì nên thuyết cho
họ.
Trong phần đầu lại có hai :
• 1 tụng : ta biết căn khí, bởi vậy có thể thuyết
được.
• 1 tụng rưỡi nói về các ngươi chẳng biết, chớ tuyên
truyền bậy.
Đây là phần đầu.
“Là pháp vương” cho nên thông hiểu biết rõ thuốc,
bệnh …
“Tự tại nơi các pháp” phân biệt rõ pháp dược, “làm
cho chúng sinh an ổn”, phân biệt biết rõ căn khí, có
khả năng thuyết pháp ứng với căn cơ, “cho nên xuất
hiện ở thế gian” .
*
-Kinh văn : “Này ông Xá Lợi Phất” tới
“Chớ có tuyên truyền bậy”.
Tán rằng : đây là thuyết minh về ý các ngươi chẳng
biết, chớ tuyên truyền bậy.
* “Pháp ấn” : có nghĩa là diệu lý nhất thừa ấn đại
thừa giáo, vì khiến quyết định.
Ta vì lợi ích, nên thuyết ấn này. Các ngươi đã chẳng
biết thuốc cùng với bệnh, thì chớ tuyên truyền bậy
vì sợ sẽ sinh họa.
*
-Kinh văn : “Nếu có ai được nghe” tới
“Là A bệ bạt trí”.
Tán rằng : dưới là ý thứ hai có 8 tụng : người tin
thì ngôi cao, đều trồng gốc đức lâu ngày. Trong có
sáu ý :
1) Một tụng : ngôi cao năng tín.
2) Một tụng rưỡi : nói về duyên đi gặp Phật, đã từng
được nghe nên mới tin.
3) Một tụng rưỡi : nếu có ai có thể tin tưởng điều
mà ngươi thuyết thì cũng giống như đã gặp ta.
4) Một tụng : nói về trí sâu có thể tin tưởng, còn
thức nông thì chẳng thể.
5) Một tụng : nói về loại quyết định tính nhị thừa
chẳng thể tin tưởng.
6) Hai tụng cuối nói về loại bất định tính nhị thừa
mới thuận theo sinh tín.
Đây là phần đầu.
Có người nào nghe kinh này tâm sinh hoan hỉ, cả thân
lẫn tâm đều đỉnh lễ cung kính mà tin tưởng, thì nên
biết rằng người đó đã trụ ở địa vị bất thoái.
“A bệ bạt trí”, ở phương đây dịch là bất thoái
(chẳng lùi). Còn có bản viết là A duy việt trí, A tỳ
bạt trí. Theo A bệ bạt trí, coi đó là đúng, các âm
khác đều sai.
Bốn bất thoái : Tín, Vị, Chứng, Hành, tất cả đều bất
thoái, vì căn cơ đã chín muồi.
*
-Kinh văn : “Nếu có ai tín thụ” tới
“Cũng được nghe pháp này”.
Tán rằng : đây là ý thứ hai : duyên xưa gặp Phật, đã
từng được nghe nên mới tin tưởng, vì có túc nhân.
*
Kinh văn :-
“Nếu người nào có thể tin những điều ngươi nói”
tới “cùng các hàng Bồ tát”.
Tán rằng : đây là ý thứ ba : nếu tin lời ngươi nói,
thì là nhìn thấy thân ta, vì Tỳ kheo, Bồ tát, Tam
bảo không khác, vì Tam bảo đồng thể.
Nếu là biệt thể thì ắt trực tiếp thấy, tức là thấy
ngươi.
Chúng ta đều muốn khiến họ đều được nghe pháp này,
vì lý không khác.
*
-Kinh văn : “Nói Kinh Pháp Hoa này” tới
“mê hoặc chẳng hiểu được”.
Tán rằng : đây là ý thứ tư : trí sâu thì có thể tin
tưởng vì lý thâm diệu.
Nhận thức nông cạn thì chẳng thể tin được. Đó là nói
hạng phàm phu ngu si.
*
-Kinh văn : “Hết thảy hàng Thanh văn” tới
“Sức kia chẳng hiểu được”.
Tán rằng : đây là ý thứ năm : đây là điều mà hạng
quyết định nhị thừa chẳng thể hiểu được vì trái với
bản tâm.
Kẻ chẳng ngu về pháp thì có thể tin về nghĩa, nhưng
không thuận tu hành.
*
-Kinh văn : “Chính ngươi Xá Lợi Phất”
tới
“Chẳng phải trí của mình”.
Tán rằng : đây là ý thứ sáu : Bất định tính nhị thừa
mới thuận sinh tín.
Ngươi là loại tối thượng căn mà còn dùng lòng tin,
tin lời ta mới dần dần chứng nhập, huống chi là hạng
Thanh văn bất định tính. Bồ tát nghe pháp đó có thể
ngẫm nghĩ lựa chọn mà nhập.
* Chữ [尚]
là phiên thiết của Thường lưỡng. Ngọc Thiên đọc là
Thượng, có nghĩa là “ngõ hầu, vả lại”.
*
-Kinh văn : “Lại nữa Xá Lợi
Phất” tới
“Thì chớ thuyết kinh này”.
Tán rằng : đây là đoạn thứ ba gồm 36 tụng rưỡi, nói
về tội tướng của hạng vô trí chẳng tin. Có hai phần
:
• 2 tụng đầu nói về hạng phàm phu ngoại đạo nếu có
bảy điều ác thì đừng thuyết cho họ.
• 34 tụng rưỡi sau nói về tướng ác nhân ác quả trong
việc nếu thuyết cho họ mà họ chẳng tin.
Trong phần đầu có hai ý :
- 1 tụng ý nói : nếu có đủ bốn điều ác thì chớ
thuyết cho.
- 1 tụng ý nói : có đủ ba điều ác cũng đừng thuyết
cho.
Đây là phần đầu. Bốn điều ác gồm :
1/ Kiêu : cậy vào chủng tính, sắc lực, thông minh,
của cải mà say sưa phóng dật.
2/ Mạn : có đủ bảy mạn để lấn lướt người khác, ít
đức nói là nhiều đức. Như bọn 5.000 người thoái
tịch.
3/ Giải đãi (lười nhác) : phóng dật, phóng túng, du
đảng mãi không chán.
4/ Ngã kiến : hạng ngoại đạo.
Nếu ai rất ghét cảnh sinh tử, thiết tha mong cầu
xuất ly thế gian, tự mình nhún nhường tôn trọng
người khác, khiêm tốn, yêu pháp, siêng năng chẳng
phóng dật, trừ hoặc, quán vô ngã, tin theo kinh này,
thì mới nên thuyết cho họ.
Nếu đủ bốn ác thì chẳng nên thuyết cho họ. Dưới đều
theo đúng như vậy thì có thể biết.
*
-Kinh văn : “Hạng phàm phu thức cạn” tới
“Cũng đừng thuyết cho họ”.
Tán rằng : đây có ba điều ác :
1) Kiến thức nông cạn lại giả bộ thông minh, thức
đạt chẳng xa.
2) Chấp trước quá sâu vào ngũ dục. Tức là hạng tại
gia say đắm ngũ dục, thân tâm phiền não nặng.
3) Nghe mà chẳng thể hiểu nổi, đó là hạng phàm phu
ngu độn vô chủng tính và hạng nhị thừa định tính ngu
pháp.
Nếu là các hạng như trên thì chớ có thuyết cho họ.
*
-Kinh văn : “Nếu có người chẳng tin” tới
“Thế gian Phật chủng vậy”.
Tán rằng : dưới đây là 34 tụng rưỡi nói về tướng ác
nhân ác quả nếu như thuyết cho họ mà trong lòng họ
chẳng tin. Có hai phần :
• 4 tụng rưỡi ý nói : vì chẳng tin cho nên gây thành
ác nhân.
• 30 tụng nói về vì chẳng tin cho nên phải chịu ác
quả.
Phần đầu chia làm hai phần :
- 1 tụng ý nói : vì chẳng tin cho nên thiện diệt,
- 3 tụng rưỡi nói về vì chẳng tin cho nên ác sinh.
Đây là phần đầu.
Diệt nhân hữu lậu thì gọi là đoạn thế gian chủng.
Diệt nhân vô lậu thì gọi là đoạn Phật chủng. Do tin
lý này, đầu tiên là huân đúc hữu lậu thiện chủng tử,
cho nên sinh ở cõi người cõi trời, được hưởng thù
thắng diệu lạc, bồi dưỡng nên Vô lậu pháp nhị chủng
tử, sau đó dần dần gia nhập hàng ngũ các bậc thánh.
Vô lậu mới sinh phát triển dần dần cho tới khi
thành quả Phật. Cho nên, nếu tin kinh này thì :
+ Gần thì thành cái nhân của cả cõi người cõi trời.
Thuộc về thế gian.
+ Xa thì thành Phật nhân. Sau này thành Phật lợi lạc
vô biên.
Nếu tự mình chẳng tin, hủy báng kinh này, gây chướng
ngại chẳng cho lưu hành, khiến người khác chẳng tin
kinh này, thì há chẳng phải là đoạn hai loại chủng
đó ư ? (hai loại chủng : chỉ thế gian chủng và
Phật chủng). Bởi vì đó chính là chọc mù con mắt của
người, của trời, hoặc là đoạn hết thảy Phật chủng
của thế gian, tổn phá vô lậu chủng tử pháp.
Do đó kinh nói rằng : nếu có ai khuyến phát Bồ đề
tâm thì Phật chủng chẳng đoạn. Cho nên phỉ báng kinh
này là đoạn Bồ đề tâm, gọi là đoạn Phật chủng. Pháp
chẳng thực hành, cho nên gọi là đoạn Pháp chủng. Đã
chẳng phát tâm, chẳng chứng thánh đạo, thì cũng gọi
là đoạn Tăng chủng. Nay thuyết theo thứ trội nhất,
nên chỉ nói là đoạn Phật chủng.
*
-Kinh văn : “Hoặc có kẻ cau có” tới
“Kinh điển như thế này”.
Tán rằng : dưới đây là 3 tụng rưỡi nói về ý : vì
chẳng tin, nên ác sinh. Có hai ý :
• 2 tụng đầu nói về vì chẳng tin ở pháp, đã khởi ba
nghiệp ác.
• 1 tụng rưỡi sau nói về vì chẳng tin ở người, đã
khởi tứ ác hành.
Đây là phần đầu.
* “Cau có” (Tần xúc) : là tướng thể hiện bản thân
chẳng tin. Nếu là cau mày thì Tần viết là [顰].
Nay viết là [頻]
có nghĩa là cau mày nhiều lần. Cũng có nghĩa như
Tính [併]
(chập vào nhau, gộp vào nhau), nghĩa là lông mày
chập một chỗ.
Chữ [蹙]
đọc là Xúc, có nghĩa là sát vào. Cũng viết [
] là tướng thể hiện tâm trạng
chẳng tin kẻ nghi hoặc, là tướng thể hiện lời lẽ
chẳng tin của kẻ phỉ báng.
Đoạn kinh này lẽ ra phải nói là :
“Dù Phật còn tại thế,
Hay sau khi diệt độ,
Nếu có kẻ phỉ báng,
Kinh điển như thế này,
Hoặc có kẻ cau có,
Mà ôm mối nghi hoặc,
Ngươi hãy nghe ta nói,
Tội báo của kẻ đó”.
Trong văn có sự đảo lộn (trật tự câu văn).
*
-Kinh văn : “Thấy có ai đọc tụng” tới
“Ngươi nay lại lắng nghe”.
Tán rằng : đây là mục nói về chẳng tin người thì sẽ
khởi tứ ác hành.
Thấy bốn loại người :
1. Đọc,
2. Tụng,
3. Chép,
4. Trì,
kinh này mà chẳng tin rồi khởi ác hành.
Nếu nói gộp tất cả thì có tới mười loại người thực
hành mười loại pháp hành. Thấy những người này mà
chẳng tin rồi khởi muời ác hành. Trong này tóm lược,
cho nên chỉ nêu khởi tứ ác hành đối với bốn loại
người “độc, tụng, thư, trì thử kinh”.
“Tứ ác hành” gồm :
1. Khinh rẻ. 2. Ghét
3. Ghen.
4. Hằn thù (kết hận).
Chỉ nói sơ qua bốn loại nhân gây tội nhẹ nhất này.
Thực ra còn đánh mắng, chém giết, chằng trói, cướp
đoạt, phỉ báng, nói xấu, tức giận, làm hại v.v… đều
là các loại nhân gây tội nặng, nhưng lược đi chẳng
nêu.
Hãy nghe về quả báo của các loại tội đó.
*
-Kinh văn : “Người đó mệnh chung” tới
“Cho tới vô số kiếp”.
Tán rằng : dưới đây là 30 tụng nói về tướng thụ khổ
quả, vì chẳng tin tưởng. Chia làm hai phần :
• 28 tụng nói về quả bất tín.
• 2 tụng là kết luận.
Phần đầu lại có hai ý :
- Đầu là 22 tụng nói về tướng lần lượt trải qua ba
nẻo, thụ quả dị thục;
- Sau là 6 tụng nói về tướng trải chung bốn nẻo, thụ
hai quả Tăng thượng và Đẳng lưu.
Trong ý đầu này lại chia làm ba :
+ 1 tụng rưỡi : Thụ địa ngục quả tướng.
+ 10 tụng rưỡi : Thụ súc sinh quả tướng.
+ 10 tụng : Thụ nhân trung quả tướng.
Chẳng nói đến Ngạ quỷ, vì Ngạ quỷ phần nhiều do tham
sinh. Kẻ chẳng tin kinh này sinh tham thì ít, cho
nên lược đi chẳng thuyết. Thực ra không phải là
không có, văn dưới cũng có.
Quyển một trước đây đã nói năm nẻo được phân biệt
bằng 6 môn. Trên đã giải thích 3 môn :
1) Danh.
2) Thể.
3) Khai hợp.
Nay phân tích thêm 3 môn còn lại :
4) Xứ sở.
5) Quả tướng.
6) Thọ lượng.
XỨ SỞ
XỨ SỞ CỦA NẺO ĐỊA NGỤC
Xứ sở của nẻo địa ngục, tức là địa ngục, tiếng Phạm
gọi là Nại lạc ca. Có ba loại :
A. Căn bản ; B. Cận biên. C.
Cô độc.
A. Địa ngục Căn bản :
Tức là Bát nhiệt, Bát hàn.
I. Địa ngục Bát nhiệt :
1) Đẳng hoạt. 5) Đại hào khiếu.
2) Hắc thằng. 6) Thiêu nhiên.
3) Chúng hợp. 7) Cực thiêu nhiên.
4) Hào khiếu. 8) Vô gián.
II. Địa ngục Bát hàn :
1) Bào. 5) Hổ hổ hoàn.
2) Bào liệt. 6) Thanh liên hoa.
3) Yết tích cô. 7) Hồng liên hoa.
4) Hách hách hoàn. 8) Đại hồng liên hoa.
III. Vị trí của Bát nhiệt, Bát hàn :
Phía dưới đây cách ba vạn hai ngàn du thiện na có
ngục Đẳng hoạt. Dưới Đẳng hoạt bốn ngàn du thiện na
có ngục Hắc thằng v.v… cả thảy bảy loại địa ngục. Cứ
như vậy sáu nại lạc ca ở dưới đều cách nhau hai ngàn
do tuần.
Còn Bát hàn địa ngục đều nhỏ hơn Bát nhiệt địa ngục.
Các ngục nói trên đều là căn bản địa ngục. Có nghĩa
là còn rất nhiều loại địa ngục, bởi vì các loại địa
ngục trên dưới trùng điệp.
Tính sơ qua thì đáy ngục Vô gián cách mặt đất tất cả
là 12 vạn 8 ngàn do tuần. Ở đây giải thích chẳng
phải như thế. Núi Diệu Cao cách phía dưới nước, chỉ
nói là 8 vạn, tức ở kim luân, hẳn chẳng thể thế.
Có chỗ giải thích rằng : phía dưới đây cách 3 vạn 2
ngàn do tuần có ngục Đẳng hoạt. Dưới Đẳng hoạt cách
bốn ngàn (do tuần) có bảy ngục còn lại. Bảy ngục còn
lại chẳng phân trên dưới mà cùng ngang hàng.
Ngục Sơ hàn ngang cùng Đẳng hoạt. Bên dưới Sơ hàn
cách hai ngàn (do tuần) có bảy Hàn còn lại. Bảy Hàn
cũng cùng ngang nhau, chẳng phân trên dưới. Tám địa
ngục ấy rộng mười ngàn do tuần, chẳng nói trên dưới.
Du Già chỉ nói : “dưới (nơi) đây ba vạn hai ngàn có
ngục Đẳng hoạt. Dưới Đẳng hoạt bốn ngàn có các Na
lạc ca khác. Sơ hàn ở cạnh Đẳng hoạt. Dưới đây
(cách) hai ngàn có các Hàn na lạc ca khác. Na lạc ca
xứ rộng mười ngàn”. Chẳng nói riêng trên dưới cách
nhau đến bốn ngàn và mỗi một địa ngục đều (rộng)
mười ngàn.
Cho nên theo Tỳ Bà Sa luận có hai thuyết. Còn Câu Xá
thì lại nói rằng : dưới quá hai vạn (do tuần) là tới
đáy (ngục) Vô gián, rất là nông gần.
B. Địa ngục cận biên :
Tức là bên ngoài cửa ngục Bát nhiệt đều có bốn cửa,
Câu Xáù gọi đó là 16 Tăng : chỉ các (ngục) Đường ôi,
Thi phân, Phong nhẫn, Liệt hà….
C. Địa ngục cô độc :
Tức là một hoặc nhiều chỗ thụ tội trong núi, ngoài
đồng, dưới cây, trên không. Loài bàng sinh vốn ở
biển cả, trôi dạt đi ở chỗ khác.
Kinh Chính Pháp Niệm nói : phía dưới cách 500 do
tuần có nước của Diệm ma vương, sau trôi đi chỗ
khác.
Loài người ở bốn đại châu, bốn trung châu, mỗi thứ
mỗi loại đều có 500 tiểu châu để làm quyến thuộc.
Loài trời thì ở Lục dục, Sắc giới, Vô sắc giới. Tứ
đại thiên vương chúng thì ở tầng bậc thứ tư lại lưng
chừng núi Diệu Cao. Câu Xá nói là trụ ở chỗ đầu đỉnh
Diệu Cao. Tam thập tam thiên trụ tại đỉnh núi Diệu
Cao. Các trời khác thì dần dần theo thứ tự trụ ở
không trung phía bên trên.
Đỉnh núi Tu Di trở xuống cách 8 vạn du thiện na. Các
trời bên trên cách đất gấp đôi (số ấy). Dạ ma thiên
cách đất 16 vạn. Tri túc thiên cách đất 32 vạn. Trừ
Vô vân thiên, cho đến bên trên đều cứ theo như vậy
mà tính thì sẽ biết.
Vô sắc giới thiên sẽ tùy theo chỗ nhập định trước ở
Dục giới, Sắc giới mà thụ quả.
Loài Phi thiên căn bản trụ ở dưới biển Bắc hải, tại
phía bắc núi Diệu Cao.
Các loại bàng, tiểu khác thì tùy theo loại ở bốn
châu như trên đã nói.
QUẢ TƯỚNG
QUẢ TƯỚNG CỦA 5
LOÀI THUỘC DỤC GIỚI
Tướng thụ quả : chỉ việc loài
hữu tình ở địa ngục phần nhiều phải chịu nỗi khổ của
các cực hình.
- Loài hữu tình ở bàng sinh phần nhiều phải chịu nỗi
khổ vì ăn thịt lẫn nhau.
- Loài hữu tình ở ngạ quỷ phần nhiều phải chịu cực
khổ vì đói khát.
- Loài hữu tình ở nhân thú (tức loài người) phần
nhiều phải chịu đủ mọi nỗi khổ vì sự thiếu thốn, đeo
đuổi cầu cạnh.
- Loài hữu tình ở thiên thú (tức loài trời) phần
nhiều phải chịu nỗi khổ vì sự suy não trụy một.
A. QUẢ TƯỚNG Ở ĐỊA NGỤC.
I. Tướng thụ khổ ở địa ngục Bát nhiệt :
1) Khổ tướng ở ngục Đẳng hoạt : hữu tình ở đó phần
nhiều cùng nhau tụ tập, các loại khổ cụ do nghiệp
tăng thượng sinh ra lần lượt khởi lên, tàn hại lẫn
nhau, ngất lăn ra đất, sau đó trong hư không có
tiếng nói to : “Các hữu tình này có thể trở về Đẳng
hoạt, có thể trở về Đẳng hoạt”. Sau đó hữu tình ở đó
bỗng nhiên lại trở dậy, lại phải chịu các khổ cụ, bị
tàn hại như trước, do nhân duyên này mà thụ khổ lâu
dài, thậm chí khi mọi nghiệp ác bất thiện gây ra
trong đời trước chưa hết thì vẫn chưa được ra (khỏi
địa ngục này).
2) Khổ tướng ở ngục Hắc thằng : hữu tình ở đó phần
nhiều bị ngục tốt dùng thừng đen gom lại, hoặc thành
bốn phương, hoặc thành tám phương, Hoặc thành các
loại hoa văn đồ họa. Bọn đó sau khi đã bị gom lại
rồi, thì tùy theo từng nơi chốn hoặc bị đục, bị đẽo,
bị chẻ, bị khoét, do các nhân duyên như vậy mà bị
khổ lâu dài, đến khi nghiệp hết thì mới được ra.
3) Khổ tướng ở ngục Chúng hợp : hữu tình ở đó có khi
xoay sở tụ tập hòa hợp, lúc ấy liền có ngục tốt xua
đuổi khiến phải vào giữa hai núi sắt lớn hình đầu
dê. Khi chúng vào hết rồi thì hai núi ép lại. Sau
khi bị ép, máu từ mọi cửa ứa ra chảy vào hai (núi)
đầu dê sắt. Các núi sắt đầu ngựa, đầu voi, đầu sư
tử, đầu hổ cũng như thế. Sau lại khiến hòa hợp lại,
rồi đem đặt vào trong tàu sắt lớn và ép như ép mía.
Sau khi bị ép, máu liền tứa ra. Lại hòa hợp lại thì
có núi sắt lớn từ trên rơi xuống khiến hữu tình ở đó
ngã lăn ra trên nền sắt. Kẻ thì bị đẽo, kẻ thì bị
đâm, kẻ thì bị giã, kẻ thì bị xé. Sau khi bị đẽo,
đâm, giã, xé, máu liền tứa ra, bị khổ lâu dài, đến
khi nghiệp hết thì mới được ra.
Nỗi khổ của ngục này có ba :
1/ Hai núi kẹp.
2/ Tàu sắt ép.
3/ Núi sắt đè.
4) Khổ tướng ở ngục Hào khiếu : hữu tình ở đây tìm
kiếm nhà cửa, bèn vào trong buồng sắt lớn. Vừa mới
vào xong, lửa liền bùng cháy, chúng bị lửa này thiêu
đốt, thiêu đốt hết mức, thiêu đốt khắp cả; khi bị
thiêu đốt rồi, khổ đau ghê gớm, cất tiếng kêu gào,
bị khổ rất lâu, đến khi nghiệp hết thì mới được ra.
5) Khổ tướng ở ngục Đại hào khiếu : khác với ngục
trên, nhà buồng ở đây giống như thai tạng, khổ hơn
ngục trước, nên kêu to hơn.
6) Khổ tướng ở ngục Thiêu nhiên : ngục tốt ở đó đem
các hữu tình đặt lên chảo sắt lớn vô lượng du thiên
na Tam nhiệt, lật phải lật trái, rán đốt trong
ngoài; lại như nướng cá, dùng xiên sắt lớn mà xiên
suốt từ dưới qua đỉnh đầu rồi lật đi lật lại mà
nướng khiến các căn, các lỗ chân lông, trong miệng
của các hữu tình đó đều bốc lửa. Lại đem các hữu
tình đó đặt lên trên nền sắt lớn như trên hoặc ngửa
hoặc sấp rồi lấy chày sắt lớn Tam nhiệt hoặc quật,
hoặc đánh, hoặc nện, đánh khắp, nện khắp, khiến nát
như giã giò, bị khổ lâu dài, đến khi nghiệp hết thì
mới được ra.
Nỗi khổ ở đây có ba :
1/ Bị thiêu rán khắp.
2/ Xiên sắt xiên nướng.
3/ Hèo sắt giã nện.
7) Khổ tướng ở ngục Cực thiêu nhiên : khác với ngục
trên¬¬. Có nghĩa là dùng chĩa ba sắt Tam nhiệt xiên
từ dưới lên, xiên suốt hai cánh tay và đỉnh đầu. Do
vậy mà mắt, tai, miệng, lỗ chân lông lửa mạnh bốc
ra. Lại dùng lá đồng lá sắt lớn Tam nhiệt gói thân
chúng lại, rồi đem chúng quăng vào vạc sắt lớn đựng
nước tro Tam nhiệt đầy ắp như trên mà nấu mà ninh.
Khi nước vạc sôi thì khiến hữu tình trong này lăn
lộn lặn ngụp cùng với nước sôi, khiến cho máu thịt
cùng với da dẻ gân mạch của chúng đều tiêu tan rữa
nát, chỉ còn trơ lại xương cốt gông cùm. Lát sau lại
đem lọc ra, rồi đặt lên trên nền sắt nóng khiến da
thịt máu mạch lại sinh như cũ. Lại đặt vào chảo rồi
lại làm như ở trong Đại nhiệt na lạc ca, bị khổ lâu
dài, đến khi nghiệp hết thì mới được ra.
Nỗi khổ ở ngục này có ba :
1/ Bị chĩa ba xiên.
2/ Bị gói bằng lá sắt.
3/ Bị ninh nấu bằng nước sôi.
8) Khổ tướng phải chịu ở trong ngục Vô gián Đại na
lạc ca : trên nền sắt Tam nhiệt lớn nhiều trăm du
thiện na ở phương đông có chông lửa mạnh, bốc lửa mà
đâm hữu tình ở đó thủng da thấu thịt, đứt gân vỡ
xương, lại thấu tận tủy, cháy như đuốc mỡ, như vậy
khắp người thành lửa mạnh. Cứ như vậy các chỗ khác
cũng bị ngọn lửa đâm như thế. Do vậy mà loài hữu
tình ở đó hòa lẫn với lửa mạnh, chỉ thấy thành một
đống lửa. Từ bốn phương ngọn lửa kéo tới hòa trộn
vào nhau, không có chỗ nào hở. Nỗi khổ đau phải chịu
cũng không có lúc nào ngơi. Chỉ nghe tiếng kêu gào
đau đớn, mới biết là có chúng sinh.
Lại lấy nia sắt đựng đầy than sắt nung đỏ mà rê sảy
các hữu tình đó, rồi đặt trên nền sắt nóng, bắt
chúng trèo lên núi sắt cực nóng, lên rồi lại xuống,
xuống rồi lại lên, rút lưỡi của chúng từ trong miệng
ra, dùng trăm đinh sắt đóng căng lưỡi ra, khiến lưỡi
không nhăn, như căng da trâu. Lại lật ngửa ra trên
nền sắt nóng lấy kìm sắt nóng kẹp miệng khiến phải
há miệng ra, rồi nhét viên sắt nung đỏ vào miệng,
lập tức thiêu cháy cả miệng và yết hầu, thấu tận phủ
tạng rồi từ phía dưới mà ra ngoài. Lại đổ nước đồng
sôi vào trong miệng chúng, thiêu đốt yết hầu và
miệng của chúng, thấu tận phủ tạng, rồi từ phía dưới
mà chảy ra ngoài. Các khổ não khác thì như ở ngục
Cực thiêu nhiên, bị khổ lâu dài, đến khi nghiệp hết
thì mới đựơc ra.
Nỗi khổ ở ngục này có sáu :
1/ Bốn phương lửa đâm.
2/ Than sắt rê sảy.
3/ Lên xuống núi sắt.
4/ Lưỡi đóng đinh sắt.
5/ Bắt nuốt viên sắt.
6/ Nước đồng đổ miệng.
Nay ở đây chỉ nói qua về các khổ cụ thô hiển (các
hình phạt nặng nề rõ rệt), chứ chẳng phải là trong
đại địa ngục không có các khổ cụ khác.
Trên đây là nói về khổ tướng của tám Nhiệt địa ngục
căn bản.
II. Khổ tướng ở địa ngục cận biên
Mỗi một đại na lạc ca đều có bốn cửa ở nơi bốn bờ
theo bốn phương, tường sắt vây quanh. Ngoài mỗi cửa
đều có bốn vườn :
1/ Vườn Đường ôi : Tro nóng ngập tận đầu gối. Các
hữu tình ở đó ra tìm nhà cửa, đi tới nơi đây, vừa
đặt chân xuống da thịt gân cốt liền bị cháy rụi,
nhấc chân lên lại mọc ra.
2/ Vườn Thỉ phân : Phân cứt là bùn. Các hữu tình này
tìm kiếm nhà cửa sau khi ở vườn trên ra rồi, dần dần
đi tới sa xuống vườn này, đầu chân chìm lỉm. Ở trong
bùn lại có các dòi bọ thân dài một thước mỏ trắng
đầu đen, xuyên vào trong da thịt, cắt gân phá xương,
lấy tủy mà ăn.
3/ Vườn Phong nhẫn : vườn này chia làm ba :
a) Đường Quát nhẫn : có gươm sắc, đặt ngửa lưỡi lên
để làm đường. Các hữu tình đó từ vườn trước ra đi
tới nơi đây, vừa đặt chân xuống lập tức da thịt gân
cốt đều bị tiêu nát, lúc nhấc chân lên lại lành như
cũ.
b) Rừng Kiếm diệp : các hữu tình đó vừa ra khỏi
đường trên, đi tới chỗ bóng rợp của rừng đó, vừa mới
ngồi xuống dưới bóng cây, gió nhẹ bèn thổi, lá kiếm
rụng xuống chặt đứt mọi chi tiết trên thân chúng,
khiến chúng liền ngã lăn ra đất, có chó đen tuyền
nhảy xổ tới đớp vào lưng bụng chúng mà ăn thịt
chúng.
c) Rừng Thiết thích : có rừng chông sắt tua tủa
giống như gai cây bồ kết. Các hữu tình đó sau khi ra
khỏi rừng trước liền tới rừng này, vì bị chó cắn,
bèn trèo lên trên cây, vừa lúc leo trèo, liền bị các
mũi chông nhọn đâm xuống. Chúng muốn tụt xuống,
miệng hướng lên trên lại bị chông đâm xuyên suốt cả
người, khắp mọi chi tiết. Lúc ấy liền có chim lớn mỏ
sắt đến đậu ở trên đầu, trên cánh tay chúng, mổ móc
mắt chúng ra mà ăn.
4/ Vườn Liệt hà : có sông rộng lớn, nước tro sôi sục
đầy ắp trong sông, các hữu tình đó sau khi ra khỏi
vườn trước, tới sa xuống sông này giống như đậu bị
để trong vạc lớn dùng lửa mạnh thiêu đốt mà ninh mà
nấu, khiến chúng bị quay cuồng lặn ngụp theo đà nước
sôi, hai bên bờ sông có các ngục tốt tay cầm gậy gộc
thừng chão cùng với lưới to, ngăn chẳng cho các hữu
tình đó ra khỏi sông này, hoặc dùng vợt lưới vớt
chúng đem lên đặt lên trên nền sắt nóng bỏng rộng
lớn, lật ngửa chúng lên mà hỏi rằng : “các ngươi
ngày nay muốn gì?”. Chúng đáp : “tôi nay chẳng còn
biết gì hết. Song bị đủ thứ đói khổ bức bách”. Bấy
giờ các ngục tốt đó liền lấy kìm sắt banh miệng
chúng ra, rồi đem viên sắt nung đỏ nóng bỏng nhét
vào miệng chúng. Các điều khác thì như đã nói. Nếu
chúng đáp “Tôi nay khát khổ” thì ngục tốt liền lấy
nước đồng nung chảy đổ vào mồm. Chúng bị khổ lâu
dài, đến khi nghiệp hết thì mới được ra.
III. Khổ tướng ở địa ngục cô độc.
Nơi chốn tuy nhỏ, nhưng các khổ cụ thảy đều đầy đủ.
Tướng này đã được giảng kỹ trong Kinh Diệu Cát Tường
vấn Đại thái Lục đậu tử.
IV. Khổ tướng ở Bát hàn địa ngục.
1) Bào na lạc ca : hữu tình thụ sinh (ở đây) bị
lạnh thấm vào, mọi chỗ trên người đều co rúm
giống như phổng nhọt.
2) Bào liệt na lạc ca : giống như phổng vỡ,
máu
mủ chảy ra, vết thương co rúm.
3) Yết triết cô.
4) Hách hách phàm.
5) Hổ hổ phàm : hữu tình thụ tội ở ba ngục này
tiếng kêu khổ khác nhau, cho nên đặt tên ngục theo
các tiếng kêu ấy.
6) Thanh liên hoa na lạc ca : khổ vì bị giá
rét
cực độ, mọi chỗ trên người thảy đều xanh tím,
da dẻ rách nứt tới năm, sáu chỗ.
7) Hồng liên na lạc ca : qua ngục Thanh liên
đó
rồi thì da biến thành màu đỏ tía, rách nát
thành mười chỗ hoặc nhiều chỗ.
8) Đại hồng liên na lạc ca : Thân chúng cực kỳ
đỏ tía, da dẻ nứt toác hàng trăm chỗ hoặc
nhiều hơn nữa.
B. QUẢ TƯỚNG Ở LOÀI BÀNG SINH.
Loài bàng sinh lại tàn hại nhau như kẻ gầy yếu bị
bọn khỏe mạnh sát hại, phải chịu đủ mọi nỗi khổ vì
chẳng được tự tại, bị kẻ khác xua đuổi, thường bị
đánh đập trở thành công cụ mưu sinh của người của
trời, do nhân duyên này mà phải chịu đủ mọi nỗi khổ
não nặng nề.
C. QUẢ TƯỚNG Ở LOÀI NGẠ QUỶ.
Loài ngạ quỷ đại để có ba loại :
I. Do ngoài chướng ngại ẩm thực.
II. Do trong chướng ngại ẩm thực.
III. Ẩm thực không có chướng ngại.
I. Loại ngạ quỷ do ngoài chướng ngại ẩm thực.
Do cực kỳ bủn xỉn, nên phải sinh trong loài quỷ,
thường bị đói khát, da thịt huyết mạch thảy đều khô
đét giống như tro than, đầu tóc rối bù, mặt mày đen
đủi, mồm miệng khô nẻ, thường dùng lưỡi liếm mặt,
đói khát cuống cuồng chạy chọt khắp nơi, đến suối ao
nào thì cũng có các hữu tình khác tay cầm dao gậy và
thừng vợt, xếp hàng canh giữ, chẳng cho xuống uống.
Nếu cứ cố xuống uống thì liền thấy suối ao ấy biến
thành máu mủ, tự mình chẳng muốn uống nữa. Như vậy
thì gọi là do ngoài chướng ngại ẩm thực.
II. Loại ngạ quỷ do trong chướng ngại ẩm thực.
Loại hữu tình đó hoặc họng nhỏ như cái kim, hoặc
miệng như đuốc lửa, hoặc cổ nhỏ bụng to, do nhân
duyên này mà dù được ăn uống không có chướng ngại gì
khác, tự nhiên cũng chẳng thể ăn uống được. Do vậy
mà gọi là loại do trong chướng ngại ẩm thực.
Loại yết hầu nhỏ như kim đã nói ở trên đều thuộc
loại này.
III.Loại ngạ quỷ ẩm thực không có chướng ngại.
Loại ngạ quỷ gọi là Mãnh diệm man, loại này hễ ăn
uống thứ gì vào là đều bị thiêu đốt. Do đó mà thường
bị cực khổ vì đói khát.
Lại có loại ngạ quỷ gọi là Thực phân uế (ăn phân
hôi); hoặc có một số ăn phân uống nước tiểu, hoặc
lại có một số chỉ có thể ăn uống các thứ sinh thục
xú uế cực kỳ bẩn thỉu, dẫu được thứ thơm ngon cũng
chẳng thể ăn; hoặc có một số tự cắt thịt mình mà ăn,
dẫu được các thức ăn khác cũng chẳng thể ăn. Các
loại như vậy thì gọi là loại ẩm thực không có chướng
ngại.
D. QUẢ TƯỚNG Ở LOÀI NGƯỜI.
Trong loài người cũng có nhiều kẻ bị nỗi khổ này. Có
nghĩa là nỗi khổ của sự đói khát thiếu thốn vì từ
nhỏ đã nghèo túng, nên điều mong muốn chẳng thể đạt
được. Khổ vì thiếu thốn, ăn uống kham khổ, nỗi khổ
thiếu thốn, khiến phải cầu cạnh, khúm núm trước
người khác, bị chủ bức bách. Thời tiết đổi thay bị
rét bị nóng. Trong cảnh đen tối bị khổ sở vì thiếu
thốn gây chướng ngại khiến các sự nghiệp chúng làm
đều bị phế bỏ. Nỗi khổ vì thiếu thốn còn khiến chúng
bị biến hoại lão, bệnh, tử. Khổ do các na lạc ca, ở
đó chúng coi chết là sướng nên loại địa ngục đó
chẳng đặt ra tên gọi là Khổ.
E. QUẢ TƯỚNG Ở LOÀI TRỜI.
Trong nẻo trời thì không có nỗi khổ bị cắt chân tay
mà có nỗi khổ bị chết bị đọa. Như trong kinh nói khi
các thiên tử sắp mất thì có năm tướng thể hiện ra
trước :
1) Quần áo bẩn thỉu.
2) Vòng hoa héo rũ.
3) Nách đỗ mồ hôi.
4) Phân tiểu hôi thối.
5) Thiên và Thiên tử chẳng thích chổ mình ngồi.
Bấy giờ các thiên tử ấy nằm sấp giữa rừng. Tất cả
thái nữ cùng các thiên tử khác cùng nhau chơi đùa.
Họ trông thấy thế rồi thì sinh ra nỗi khổ lớn vì lo
lắng.
Lại còn có nỗi khổ vì bị khinh miệt, sợ hãi. Lúc các
thiên tử nhờ có phúc tụ to lớn và ngũ dục to lớn
sinh ra, các thiên tử cũ bạc phúc khác nhìn thấy rồi
thì phải chịu nỗi khổ lớn vì lo lắng.
Những điều nói trên là chung cho cả Lục dục thiên.
Hai trời dưới đó còn phải chịu nỗi khổ vì bị đẽo
chặt, phá hoại, xua đuổi tàn hại do lúc cùng đánh
đấm tranh giành với các phi thiên. Thiên cùng phi
thiên chống đối lẫn nhau thì cầm bốn loại binh khí :
bằng vàng, bằng bạc, bằng pha lê, lưu ly mà đánh
nhau. Bấy giờ thiên và phi thiên hoặc đứt chân tay,
hoặc toạc mình mẩy, hoặc còn bị chết. Nếu thân bị
thương, chân tay bị đứt thì lại lành như cũ. Nếu đầu
bị đứt thì chết ngay. Thiên và phi thiên, có khi kẻ
này thắng, có khi kẻ khác thắng. Song phần nhiều là
thiên thắng, vì sức mạnh hơn. Song hai loại đó, nếu
kẻ này bị kẻ kia thắng thì liền lùi vào cung của
mình, đồng loại của nó chẳng hề an ủi, do nhân duyên
đó mà trong lòng lo buồn. Nếu thiên đắc thắng thì
liền vào cung của phi thiên để cướp đoạt con gái của
nó, gây nên cảnh chiến tranh. Nếu phi thiên đắc
thắng thì vào thiên cung để đòi bốn loại Tô Đà vị,
rồi sinh ra đánh nhau.
Lại có loại thiên tử có sức mạnh hễ nỗi cơn tức giận
là đuổi các thiên tử yếu thế ra khỏi cung của họ.
Cho nên chư thiên phải chịu ba nỗi khổ :
1/ Khổ bị chết bị đọa.
2/ Khổ bị lấn lướt khinh miệt.
3/ Khổ bị đẽo chặt, phá hoại, tàn hại, xua đuổi.
QUẢ TƯỚNG CỦA SẮC GIỚI, VÔ SẮC
GIỚI
Trên đây là nỗi khổ của Dục
giới.
Còn ở Sắc giới, Vô sắc giới thì hữu tình không có
các nỗi khổ ấy, vì các hữu tình đó chẳng phải là Thụ
khổ khí. Song do Thô trọng khổ, cho nên nói là họ
khổ, vì có phiền não, có định chướng, chẳng được tự
tại về tử và trụ. Do ba cõi này đều có khổ cả, cho
nên chẳng thể ưa thích.
Chỉ có cõi Vô lậu là mọi nỗi khổ thô trọng đều vĩnh
viễn đoạn diệt. Cho nên chỉ có cõi này là ưu thắng
an lạc.
Trên đây là quả tướng.
THỌ LƯỢNG
I. Thọ lượng của 5 loài thuộc Dục giới.
Người Thiệm Bộ Châu thọ lượng chẳng nhất định. Người
ở đó lấy 30 ngày đêm làm một tháng, 12 tháng là một
tuổi. Có lúc thọ vô lượng tuổi, gọi là Thành hoại
kiếp.
Hoặc ở một thời thọ 8 vạn tuổi gọi là Trụ kiếp.
Thời sơ giảm hoặc ở một thời thọ giảm nhanh dần,
thậm chí tới 10 tuổi, thời ba tai dấy lên. Người
đông Tỳ đề ha thọ tăng tới 250 tuổi. Người tây Cù đà
ni thọ tăng tới 500 tuổi. Người bắc Câu lư châu thọ
tới 1000 tuổi.
Lại nữa, 50 năm ở cõi người là 1 ngày đêm của chúng
thiên Tứ thiên vương, lấy số này làm tháng, lấy
tháng này gom thành năm, thì họ thọ 500 tuổi.
100 năm ở cõi người là 1 ngày đêm của Tam thập tam
thiên, lấy số này làm tháng năm, thọ mệnh 1000 tuổi.
Cứ như vậy cho tới Tha hóa tự tại thiên ngày đêm và
tuổi thọ đều tăng gấp đôi trước.
Thêm nữa, Tứ thiên vương chúng thiên đầy đủ 500 tuổi
thì bằng một ngày đêm của Đẳng hoạt đại na lạc ca,
tức là lấy đó tích thành tháng năm, thì tuổi thọ ở
đó là 500 tuổi.
Cứ như vậy thọ lượng của Tam thập tam thiên bằng thọ
lượng ở địa ngục Hắc thằng.
Lấy thọ lượng của Thời phân thiên làm thành thọ
lượng của địa ngục Chúng hợp.
Lấy thọ lượng của Tri túc thiên làm thành thọ lượng
của ngục Hào khiếu.
Lấy thọ lượng của Lạc biến hóa thiên làm thành thọ
lượng của ngục Đại hào khiếu.
Lấy thọ lượng của Tha hóa tự tại thiên làm thành thọ
lượng của ngục Thiêu nhiên.
Thọ lượng của địa ngục Cực thiêu nhiên bằng nửa
trung kiếp.
Thọ lượng địa ngục Vô gián bằng một trung kiếp. Có
nghĩa là từ 8 vạn giảm xuống 10 tuổi, lại từ 10
tuổi, tăng tới 8 vạn tuổi thì gọi là 1 trung kiếp.
Đó là kiếp lượng của Vô gián. Loài phi thiên thọ
lượng bằng Tam thập tam thiên. Thọ lượng của các
loài bàng sinh, ngạ quỷ không nhất định.
Thêm nữa, thọ lượng của Bát hàn địa ngục theo thứ tự
tương ứng với (từng địa ngục trong) Bát nhiệt địa
ngục và bằng gần một nửa. Trong hai loại địa ngục
Cận biên và Cô độc thọ lượng không nhất định.
Trên đây là nói về thọ lượng của 5 loài thuộc Dục
giới.
II. Thọ lượng của Sắc giới.
Thọ lượng Phạm chúng thiên bằng 20 trung kiếp làm
một kiếp.
Phạm phụ thiên thọ 40 trung kiếp làm một kiếp.
Đại phạm thiên thọ 60 trung kiếp làm một kiếp.
Thiểu quang thiên thọ 80 trung kiếp làm hai kiếp.
Các trời từ đây trở lên so với nhau tăng dần gấp
đôi. Chỉ trừ Vô vân (thiên), nên biết rằng trời đó
thọ giảm ba kiếp.
III. Thọ lượng của Vô sắc giới.
Không vô biên xứ thọ 2 vạn kiếp. Thức vô biên xứ thọ
4 vạn kiếp.
Vô sở hữu xứ thọ 6 vạn kiếp. Phi tưởng phi phi tưởng
xứ thọ 8 vạn kiếp.
Các loại nói trên trừ Bắc Câu Lư châu, còn ở mọi chỗ
đều có chuyện chết yểu giữa chừng.
Dẫu hết thảy loài hóa sinh thân chết đều không có
cặn bẩn, song người, quỷ và bàng sinh thời nay đều
có thân cặn bã nhơ bẩn. Trời và địa ngục mất cùng
với thức, không có thân cặn bã nhơ bẩn.
Kinh Chính Pháp Niệm v.v… nói rằng 136 địa ngục, đó
là mỗi một trong số 8 đại địa ngục đều có 16 ngục
cận biên tứ môn viên quán, tổng cộng có 128 chỗ (8 x
16 = 128), cộng với 8 ngục căn bản thành ra 136 chỗ.
Chẳng kể ngục Bát hàn và ngục Cô độc, nếu tính cả số
này thì địa ngục rất nhiều.
Du Già luận nói rằng : Dưới đây cách 32.000 do tuần
có ngục Đẳng hoạt. Thế thì biết rõ dưới châu này có
địa ngục. Tiểu thừa nói khác. Nếu cứ theo như Kinh
Chính Pháp Niệm thì dưới núi Tu Di có đại địa ngục.
Trên đây là nói về thọ lượng.
THÂN LƯỢNG
I. Thân lượng của Dục giới.
Người Thiệm Bộ châu thân lượng không nhất định. Có
lúc thì cao to, có lúc thì thấp bé.
Nếu lấy theo độ dài cẳng tay của mỗi người làm đơn
vị tính, thì chiều cao của người châu này bằng 3
cẳng tay rưỡi.
Người ba châu khác cũng cao bằng 3 cẳng tay rưỡi của
họ, thân có khi cao lớn.
Thân Tứ thiên vương thiên bằng một phần tư của một
Câu lư xá.
Thân lượng Tam thập tam thiên lại tăng thêm một Túc.
Một Túc có nghĩa là một câu lư xá chia làm bốn phần,
một nửa của phần ấy gọi là một Túc (1 Túc = 1 phần 8
của câu lư xá).
Thân lượng Đế thích bằng một nửa câu lư xá. Thân
lượng Thời phân thiên cũng bằng nửa câu lư xá. Trên
đây là thân lượng Dục thiên. Nên biết là dần dần đều
tăng một Túc.
II. Thân lượng của Sắc giới.
Phạm chúng thiên nửa du thiên na. Phạm phụ thiên một
du thiện na. Đại phạm thiên một du thiện na
rưỡi. Thiểu quang thiên hai du thiện na.
Các trời từ đây trở lên dần tăng gấp bội, chỉ trừ Vô
vân thiên. Nên biết rằng trời đó giảm ba du thiện
na.
III. Thân lượng của Vô sắc giới.
Vô sắc thì vô hình, chẳng nói thân lượng. Song luận
lại nói rằng : Sắc, Vô sắc thiên biến thân vạn ức
cùng đứng trên đầu lông không lượng địa giới.
Kinh Nhân Vương kể tới Vô sắc giới chúng. Kinh A Hàm
nói : Vô sắc giới thiên nước mắt như mưa phùn mùa
xuân, đứng bên cạnh Phật. Đó đều là hóa ra làm vậy,
to nhỏ tùy lúc, chẳng phải là thân nghiệp quả.
Còn trong đại địa ngục, thân lượng chẳng nhất định.
Hoặc gây tạo hoặc tăng trưởng nghiệp bất thiện cực
nặng thì thân to lớn, ngoài ra thì chẳng thế. Hàn
địa ngục chỉ có một (thân lượng). Cận biên, bàng
sinh, ngạ quỷ cũng thế.
Thân lượng của các phi thiên bằng Tam thập tam
thiên. Đây nói căn bản phi thiên nếu tại châu này
thì thân lượng nhỏ, không cố định.
Dựa vào yếu nghĩa, tạm phân biệt sơ qua về các loài.
Còn mọi nghĩa khác, cứ theo như lý (mà suy) thì sẽ
biết.
Giải thích Kinh văn :
Tiếng Phạm A Tỳ Chí, đây gọi là Vô gián.
Du Già nói : vì ở đó phải thụ khổ (liên tục) không
gián đoạn, lửa cháy không gián đoạn. Do báng kinh
nên phải thụ đủ một kiếp, một trung kiếp, mệnh cực
tới kiếp đó hết thì lại sinh. Cứ xoay vần như vậy
tới vô số kiếp.
Kinh Bát Nhã nói : đó là do phỉ báng đại thừa,
phương này địa ngục tận, thì sinh ở phương đông, cứ
xoay vần như vậy khắp hết ngục ở mười phương. Mười
phương địa ngục tận, lại sinh ở trongngục phương
này.
Cho nên ở đây nói là : “cứ xoay vần như vậy, cho tới
vô số kiếp”. Chẳng phải chỉ riêng trong ngục Vô
gián, mà cũng còn đọa ở chốn khác, vì trong này chỉ
nêu một chỗ nặng. Đây chỉ một nghiệp được đặt tên
theo lúc sơ thụ, chỉ gọi tên là sinh báo.
Tội nghịch chung, theo cả ba thừa gồm : Giết cha,
hại mẹ, giết A la hán, làm thân Phật đổ máu, phá hòa
hợp Tăng. Kinh Tát Già Ni Kiền Tử nói : Đại thừa ngũ
nghịch (năm tội nghịch theo thuyết đại thừa) gồm :
1) Phá hoại chùa tháp, thiêu đốt kinh tượng, dùng
trộm tài vật của Tam bảo.
2) Phỉ báng Tam thừa pháp, nói đó chẳng phải là
thánh pháp, gây khó khăn chướng ngại, giấu diếm bưng
bít.
3) Đối với mọi người xuất gia, bất kể họ có giới hay
không giới, giữ giới hay phá giới đều đánh đập chửi
mắng, kể lể lỗi lầm của họ, giam cầm họ trong lao
ngục, hoặc lột cà sa của họ, bức bách họ hoàn tục,
bắt họ sưu dịch, điều đi chỗ khác, làm đứt mệnh căn
của họ.
4) Giết cha, hại mẹ, làm thân Phật chảy máu, giết A
la hán, phá hòa hợp Tăng.
5) Khởi tà kiến lớn, phỉ báng (nói là) : không có
nhân quả.
Vì trong đêm dài thường làm mười nghiệp bất thiện,
cho nên nay chẳng tin kinh này, vào ngục Vô gián rồi
thì cứ như vậy mà xoay vần tới vô số kiếp.
Câu Xá luận nói : trong ngũ nghịch thì phá tăng là
nặng nhất, nhất định phải thụ khổ (báo) một kiếp ở
trong ngục Vô gián. Nay vượt quá số ấy nên nói là
“kiếp mãn hết lại sinh”.
*
-Kinh văn : “Từ nơi địa ngục ra” tới
“Nên chịu tội báo này”.
Tán rằng : dưới là đoạn thứ hai có 10 tụng rưỡi nói
về thụ báo phải làm súc sinh. Có bốn phần :
- 3 tụng rưỡi đầu nói về thụ báo phải làm con chó,
con Dã can (giống con dúi).
- 2 tụng nói về thụ báo phải làm lạc đà, lừa.
- 2 tụng nói về thụ báo phải làm con dã can.
- 3 tụng nói về thụ báo làm thân con trăn.
Đây là phần đầu.
* Chữ [畜]
đọc là Súc, chỉ lục súc. Còn đọc là Húc, nghĩa là
nuôi dưỡng. Khi có nghĩa là tích tụ, tụ tập thì có
hai cách đọc là Húc và Súc. Nay theo cách đọc là
Súc.
Theo đại thừa, một nghiệp có thể chiêu cảm nhiều
quả. Nay theo quả đầu lấy đó làm tên gọi là súc sinh
vì đều thuộc quả này cả. Kinh này nói : “từ địa ngục
ra sẽ đọa vào súc sinh”. Dưới cứ theo đó thì biết.
*Chữ [ ] đọc là Khất. Sách Tam
Thương giải thích là : đầu hói không có tóc. Thông
Tục văn, Thiết Vận giải thích là hói trọc lóc và nói
và âm đọc giống chữ Quật [窟].
Thêm nữa Khất sấu [
瘦] có
nghĩa là da thịt khô đét (gầy đét). Vì dưới đã có
chữ “khô kiệt” rồi, nên giải thích theo cách trước
(tức là hói) thì hay hơn.
Nay chữ [ ] có khi đọc là Ngật. Lẽ
phải viết là [ ], nhưng chưa
rõ âm (là gì). Chữ [梨]
đọc là Lê. Phương ngôn có câu : “mặt tựa lê bị
cóng”. Có khi viết là [黧].
Ngọc Thiên nói đọc là Lê, có nghĩa là đen, là già,
cũng chỉ màu lốm đốm. Đen tuyền thì là chữ
[ ] . Có hai âm :
1/. Đàm, đồng âm với chữ [
], chỉ màu ngựa đen.
2/. Còn đọc là Thậm, tức màu tím đen như quả dâu
chín (tang chi thậm [桑
之
葚]).
Nếu là mầu xanh đen thì là chữ [
] đọc là Yểm. Chữ [嬈]
đọc là Nhiểu, nghĩa như Não. Nếu là đùa cợt trêu
chọc nhau thì là chữ [
] Niễu. Còn nhiễu loạn thì là chữ [
] Náo. Ngọc Thiên nói chữ [
] có khi viết và đọc như chữ [擾]
Nhiễu, nhưng vẫn có nghĩa là đùa cợt trêu ghẹo.
Chó có mười báo quả :
1) Hói trọc. 5) Bị trêu chọc.
2) Gầy gò. 6) Bị người ghét bỏ rẻ rúng.
3) Màu sắc đen đủi. 7) Thường bị đói khát.
4) Lở ghẻ. 8) Xương thịt khô
kiệt.
9) Lúc sống thì bị đánh đập khổ sở.
10) Lúc chết thì bị ngói đá đè.
Các ác quả này lẽ ra đều phải nói rõ nguyên nhân gây
ra nhưng sợ rườm rà, nên thôi.
*
-Kinh văn : “Nếu sinh làm lạc đà” tới
“Mà bị tội như vậy”.
Tán rằng : 2 tụng này nói về quả báo phải làm lạc
đà, làm lừa. Đây có bốn quả :
1) Mang nặng. 3) Thèm ăn.
2) Bị đánh đập. 4) Vô tri.
* Chữ [ ] đọc là Lạc. Cũng đều chỉ
con lạc đà. Con vật này có chỗ gọi là Lạc, có chỗ
gọi là Đà. Chữ Lạc [駱]vốn
chỉ có màu sắc của ngựa, nhưng chẳng phải nghĩa ở
đây. Chữ Đà viết là [駝]
hoặc [ ] đều
được.
*
-Kinh văn : “Có khi làm dã can” tới
“Hoặc có lúc bị chết”.
Tán rằng : đây là nói về quả báo phải làm con dã can
(con dúi). Có bốn quả :
1) Lở ghẻ.
2) Không có một mắt nào, cũng không có hai mắt, như
kẻ chỉ tin tiểu thừa. Chỉ vì chẳng tin đại thừa, cho
nên không có một mắt nào.
3) Bị đánh bị ném.
4) Tới mức bị chết.
*
-Kinh văn : “Từ đây vừa chết đi” tới
“Mà bị tội như vậy”
Tán rằng : đây là quả báo phải làm thân con trăn. Có
năm quả :
1) Thân to.
2) Điếc.
3) Ngu si.
* Chữ [
騃
] đọc là Ngãi, nghĩa là si.
4) Không có chân.
5) Bị bọ con ăn.
Có bản nói là “thân bị co cuộn”.
* Chữ [ ] đọc là Uyển. Nay đây chỉ
thân co cuộn, cho nên phải là chữ [
](uyển). Có bản chép là [宛]
cũng đọc là Uyển.Theo sách Ngọc Thiên
[宛](Uyển)
là lỗ nhỏ; bốn phía cao, chính giữa thấp thì gọi là
Uyển [宛].
Sách Thiết Vận giải thích là kéo cỏ gục xuống để tự
che, vốn chẳng phải là dùng chữ [宛]
trong từ Uyển chuyển. Bởi vậy phải là chữ [
] (Uyển).
Chữ [ ] theo Ngọc Thiên thì đọc là
Sáp. Le nhạn ăn bằng miệng thì gọi là sáp. Nay đã
vào miệng rồi thì nên dùng chữ Táp [咂]. Thời xưa
viết là [ ] chỉ chim ăn. Tức là
chữ Sáp trong từ sáp tráp [
] (mổ ăn, mò ăn). Chữ [ ] đọc là
Sáp. Chữ [
] đọc là Tráp. Theo Tự Lâm : chữ Sáp trong từ sáp
huyết (ngậm máu, bôi máu vào miệng để thề) cũng viết
là
[ ].
*
-Kinh văn : “Nếu được sinh làm người” tới
“Không có chỗ nương tựa”.
Tán rằng : dưới đây là 10 tụng nói về kẻ ác bị quả
báo. Có hai phần :
- 7 tụng đầu : có ác báo.
- 3 tụng sau : không thiện quả.
Trong phần đầu có bốn ý :
+ 3 tụng đầu nói về hình dáng xấu xí.
+ 1 tụng : không chỗ nương nhờ.
+ 2 tụng : bạc phúc đức.
+ 1 tụng bị tai bay vạ gió.
Đây là ý đầu, có 17 quả :
1) Đần độn.
2) Lùn.
* Chữ [ ] đọc là Tòa, có nghĩa là lùn.
3) Xấu xí.
* Chữ [ ] đọc là Lậu, nghĩa
như là chữ [醜]
(xấu), đều có ý là xấu xí.
4) Tay co quắp.
* Chữ [ ] đọc là Luyến, chỉ bệnh tay bị
co quắp, lẽ ra phải viết chữ này, nhưng có chỗ lại
viết là [ ] không đúng với nghĩa
đâu. Chữ [ ] này vốn có nghĩa xích
buộc chim ưng (để chim ưng đậu trên cánh tay thợ săn
khi đi săn). Nay đã là bệnh thì nên viết là [
].
5) Què chân.
* Chữ [躄]
đọc là Tích. Tay khoèo thì gọi là Luyến, chân què
thì gọi là Tích. Có bản chép là [癖].
chỉ bệnh ăn không tiêu là bệnh ở trong bụng, chẳng
phải nghĩa là chân què.
6) Mù.
7) Điếc.
8) Lưng gù.
* Chữ [傴]
đọc là Ủ. Chỉ lưng gù chẳng ưỡn thẳng được.
9) Người chẳng tin.
10) Miệng thối.
11) Quỷ ám.
12) Nghèo túng.
13) Thấp hèn.
14) Bị người khác sai khiến.
15) Lắm bệnh.
16) Gầy mòn.
* Chữ [ ] đọc là Tiêu, tên bệnh khát
(tức bệnh tiêu khát).
17) Không nơi nương tựa.
18) Gày còm. Cũng có thể lập riêng “Gày” thành một
mục. Vì bệnh gày còm khác với bệnh tiêu khát, như
vậy thì thành 18.
Trên đây một tụng về ý nghiệp quả, một tụng về ngữ
nghiệp quả, một tụng về thân nghiệp quả. Do ý đầu
tên dắt dẫn mà thành ra quả báo là bị lùn, xấuv.v…
*
-Kinh văn : “Tuy thân cận nương người” tới
“Rồi sau lại quên mất”.
Tán rằng : đây là nói về không nơi nương nhờ.
* Chữ [附]
đọc là Phụ, nghĩa là gần, gần gũi.
Có hai quả, có thể biết.
*
-Kinh văn : “Nếu học nghề thầy thuốc” tới
“Mà bệnh càng nặng thêm”.
Tán rằng : phúc mỏng, ít phù trợ.
Có hai quả có thể biết.
*
-Kinh văn : “Hoặc người khác phản nghịch” tới
“Bỗng dưng bị tai ương”.
Tán rằng : đây là nói về quả báo bị tai bay vạ gió.
* Chữ [抄]
đọc là Sao. Có chỗ viết là [炒]
hoặc
[鈔].
Theo Ngọc Thiên : nghĩa chữ [抄]
Sao giống nghĩa chữ [掠]
Lược (cưỡng đoạt), có nghĩa là cưỡng đoạt lấy đồ
vật, ăn trộm, ngang ngược vô lý mà tới chiếm.
*
-Kinh văn : “Những tội nhân như vậy” tới
“Chẳng bao giờ nghe pháp”.
Tán rằng : dưới là 3 tụng nói về 8 nạn, cho nên
không có thiện quả. Có ba ý :
- 1 tụng : nói về một nạn là sinh ra trước Phật hoặc
sau Phật, cho nên chẳng thấy Phật.
- 1 tụng : nói về sáu nạn : sinh ra ở các chỗ chướng
nạn là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, Bắc châu, Trường
thọ thiên, cậy mình có thế trí biện thông hoặc điên
cuồng đui điếc mãi mãi chẳng nghe pháp.
- 1 tụng : nói về một nạn thường thường các căn bị
khuyết tật.
Gộp lại là 8 nạn, cho nên không có thiện quả.
Đây là ý đầu và ý thứ hai.
*
-Kinh văn : “Trải qua vô số kiếp” tới
“Các căn chẳng đầy đủ”.
Tán rằng : đây là nói các căn bị khuyết tật, là 1
trong 8 nạn.
*
-Kinh văn : “Thường ở nơi địa ngục” tới
“Bị tội như vậy đó”.
Tán rằng : dưới có 6 tụng thuyết minh chung về
(chúng sinh) trải qua bốn đường, thụ tăng thượng
Đẳng lưu quả. Chia làm bốn mục :
1) Nửa tụng nói về địa ngục.
2) Nửa tụng nói về ngạ quỷ.
3) Một tụng về súc sinh.
4) Bốn tụng về ác nhân (kẻ ác).
Đây là ba mục đầu.
* Viên quán : vườn quán. Chữ [觀]
ở đây đọc là Quán, tức là chữ Quán trong từ “lâu
quán”. Còn Quán trong “quán xá” thì viết là [
].
Các đường ác khác : chỉ ngạ quỷ v.v… vì phỉ báng
chính pháp, tham lam bủn xỉn, chẳng chịu tu đạo, nên
sinh ở loài ngạ quỷ. Luận cứ trên ở đây ít, nên
chẳng nói riêng.
*
-Kinh văn : “Nếu được sinh làm người” tới
“Dùng để làm quần áo”.
Tán rằng : dưới đây là 4 tụng nói về quả báo của
hạng người ác. Có bốn mục :
1) Một tụng về ác nghiêm (trang sức xấu xí).
2) Một tụng về ác phục (y phục xấu).
3) Nửa tụng về ác trạng (dáng dấp xấu).
4) Một tụng rưỡi nói về ác hành (hành vi xấu).
Đây là hai quả đầu.
* Chữ Ấm cũng có nghĩa như chữ Á, đều có nghĩa là
câm, chẳng nói được. Chữ Ấm [ ]có
chỗ viết là [ ]. Theo Tự Lâm thì
chữ [ ] có nghĩa như chữ [
]. Chữ [ ] đọc là Tạ.
Chữ [ ] có chỗ viết là [啞],
theo Tự Lâm thì đọc là Ách, chỉ tiếng cười.
Theo Thiết Vận thì Ách [ ] có
nghĩa câm chẳng nói được. Chữ [疽]
đọc là Thư, nghĩa như chữ [ ] chỉ ung
nhọt.
*
-Kinh văn : “Thân thể thường
hôi hám” tới
“Mà bị tội như vậy”.
Tán rằng : đây là Ác trạng và Ác hành. Vì quá chấp
trước ngã kiến, si tăng thượng, nên tham sân có thể
biết được tới mức nào.
*
-Kinh văn : “Bảo cho Xá Lợi Phất” tới
“Đừng nên thuyết kinh này”.
Tán rằng : 28 tụng trên là thuyết minh về Bất tín
quả.
Hai tụng này là kết luận.
*
-Kinh văn : “Nếu có người lợi căn” tới
“Mới nên thuyết cho họ”.
Tán rằng : đây là 66 tụng chỉ rõ cái đúng cái sai
của con người, khiến nên học đúng trừ sai.
Trong có 4 đoạn; trên là 3 đoạn; đoạn thứ tư ở dưới
có 19 tụng ý nói : đối với người có trí thì nên
thuyết cho họ. Có hai phần :
• Phần đầu gồm 17 tụng nói về tướng nên thuyết cho.
• Phần sau là 2 tụng để kết luận.
Trong phần đầu lại có ba đoạn nhỏ :
1) Đoạn đầu là 1 tụng rưỡi, nói về những người từ
trước tới nay chưa hề phát tâm thì phải nghiệm thấy
là có Phật chủng tính, mới đáng thuyết cho họ.
2) Thứ đến 10 tụng rưỡi, nói về những người tuy phát
tâm rồi, nhưng phải có sự tu tập về Lục độ thì mới
có thể thuyết cho họ.
3) Cuối cùng là 5 tụng, nói về những người tuy có
Phật chủng tính, có sự tu tập về Lục độ rồi, nhưng
còn phải có tâm trọng pháp cầu pháp nữa, mới có thể
đáng để được thuyết cho.
Đoạn đầu này nói phải nghiệm thấy có 6 đức :
1/ Lợi căn, vì nghe thì hiểu ngay.
2/ Trí tuệ phân biệt được đúng sai.
3/ Sáng suốt, vì chẳng mê ám.
4/ Đa văn (kiến thức rộng), vì trước có sự học tập
bồi dưỡng.
5/ Cường thức (trí nhớ tốt), tinh tường lanh lợi.
6/ Muốn được thuyết Pháp Hoa cho, vì cầu chuộng đạo
Phật chứ chẳng phải là đạo khác, thích siêu trần
thoát tục, hoặc là tính cầu giác lộ, chẳng thích ngu
mê. Như vậy thì mới đáng để thuyết cho.
*
-Kinh văn : “Nếu lại đã từng thấy” tới
“Mới nên thuyết cho họ”.
Tán rằng : đây là mục nói về tuy đã phát tâm nhưng
phải có sự tu tập về Lục độ. Trong đó có sáu ý :
a) 1 tụng rưỡi : đã từng vun trồng Thí tập (có sự tu
tập về hạnh Bố thí).
b) 1 tụng Tinh tiến tập.
c) 1 tụng rưỡi nói về Định tập.
d) 3 tụng nói về Giới tập.
e) 1 tụng rưỡi nói về Nhẫn tập.
f) 2 tụng nói về Tuệ tập.
Đây là ý đầu : vì đã từng được thấy Phật, cho nên từ
lâu đã vun trồng Thí tập. Như vậy mới có thể thuyết
cho họ. Những điều nghiệm thấy nêu ra dưới đây tùy
theo từng sự giống như ở Bồ tát địa mà kiểm nghiệm
rồi thuyết cho họ.
*
-Kinh văn : “Nếu là người tinh tiến” tới
“Mới nên thuyết cho họ”.
Tán rằng : đầu tiên là 1 tụng nói về Cần (tinh tiến,
siêng năng).
Sau đó là 1 tụng rưỡi nói về Định.
*
-Kinh văn : “Lại nữa, Xá Lợi Phất” tới
“Mới nên thuyết cho họ”.
Tán rằng : đây là 3 tụng nói về Giới tập.
Đầu tiên là 1 tụng rưỡi nói về xả ác, cận thiện
duyên. Phẩm An Lạc Hạnh sẽ thuyết về tướng này.
Sau đó là 1 tụng rưỡi nói về kiên trì tịnh giới.
* Chữ [潔]
có âm đọc là Khiết, nghĩa là thanh tịnh.
*
-Kinh văn : “Nếu người nào không sân” tới
“Mới nên thuyết cho họ”.
Tán rằng : 1 tụng rưỡi đầu nói về Nhẫn tập, 2 tụng
sau nói về Tuệ tập.
Chất trực an thụ là Khổ nhẫn. Thường mẫn nại oán là
Hại nhẫn. Kính Phật đế sát là Pháp nhẫn.
*
-Kinh văn : “Nếu có Tỳ kheo nào” tới
“Mới nên thuyết cho họ”.
Tán rằng : dưới đây là 5 tụng nói về ý còn hay cầu
pháp trọng pháp. Chia làm hai phần :
• 2 tụng rưỡi đầu nói về ý một mực cầu đại thừa.
• 2 tụng rưỡi sau nói về ý thành tâm cầu đại thừa.
Phần đầu này có hai :
- 1 tụng đầu nói về ý cầu pháp đỉnh thụ.
- 1 tụng rưỡi sau nói về ý chẳng cầu kinh khác. Kinh
khác ở đây chỉ kinh tiểu thừa.
Kinh Thiện Giới nói : nếu trong học đại thừa mà chưa
rốt ráo thì chẳng được học thừa khác, tứ minh luận
khác. Nếu trong đã rốt ráo rồi thì hằng ngày hai
phần học đại thừa nội minh, một phần học kinh khác.
Trong này hoàn toàn không cho phép học kinh khác dù
chỉ một kệ, như vậy là để cho hạng sơ học chuyên cầu
đại thừa học và tu lâu dài.
*
-Kinh văn : “Nếu người nào chí tâm” tới
“Mới nên thuyết cho họ”.
Tán rằng : đây là thuyết minh về hạng thành tâm cầu
đại thừa. Có hai ý :
- Đầu tiên là 1 tụng nói về ý
thành tâm cầu đại thừa.
- Sau đó là 1 tụng rưỡi nói về ý chẳng cầu ngoại
điển, chí tâm chẳng khinh đại thừa.
Hạng như vậy thì mới nên thuyết cho, vì chí thành có
thể cảm ứng với thần, nhất niệm có thể thành thánh.
*
-Kinh văn : “Bảo Xá Lợi Phất rằng” tới
“Kinh Diệu Pháp Liên Hoa”.
Tán rằng : đây là mục : đối với người có trí thì nên
thuyết cho họ.
Trong này có hai phần : trên kia là tướng nên thuyết
cho ; còn đây là kết luận.
KINH PHÁP HOA HUYỀN TÁN
QUYỂN THỨ SÁU - PHẦN TRƯỚC
XONG
Ngày mồng 4 tháng 12 năm Bảo
An thứ 3, sau khi đem bản của Viên Như phòng, chùa
Hưng Phúc ngắt câu xong. Sư Tăng Giác chùa Pháp Long
đem in.
để pháp trụ lâu dài, vãng sinh cực lạc..
Bản được chọn là bản do các
bậc có danh tiếng cao, chấm ngắt văn mạch.