KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA HUYỀN TÁN
Đại Sư Khuy Cơ biên soạn – Việt dịch: Cố
Hòa thượng Thích Chân Thường
Biên soạn: Giáo sư Trương Đình Nguyên – Tu chỉnh
và hiệu đính: Tỳ kheo: Thích Đồng Bổn
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, Hà Nội 2005
-o0o-
QUYỂN THỨ NHẤT (PHẦN TRƯỚC)
Sa môn KHUY CƠ, chùa ĐẠI TỪ ÂN soạn
VI. GIẢI THÍCH KINH
VĂN
A. PHÂN TÍCH BỐ CỤC.
B. GIẢI THÍCH KINH VĂN.
A. PHÂN TÍCH BỐ
CỤC.
A. 1- Phân tích theo ngài Cổ
Tuân.
Pháp sư Cổ Tuân nói rằng : 28
phẩm chia làm hai phần. Phẩm thứ nhất nói về duyên
do bắt đầu khởi hoá của Như Lai. Còn lại 27 phẩm nói
về chính hóa của ngài. Phẩm Tựa nói về duyên do ban
đầu, chính hóa thuyết minh về lợi ích của kinh này,
vì cho đến cuối kinh đều có ích cả.
A. 2- Phân tích của ngài Cát
Tạng.
Đại sư Cát Tạng nói rằng : phẩm
thứ nhất là phần tựa , 15 phẩm rưỡi sau đó gọi là
chính tông, tức là từ phẩm thứ hai cho đến phần đầu
phẩm Phân Biệt Công Đức, đến cuối phần tụng cách
lượng trở đi, chỗ cuối bài tụng đức Thế tôn đáp lời
ngài Di Lặc :
“ Học rộng hay tổng trì,
Tùy nghĩa giải lời Phật,
Những người như thế đó,
Nơi đây không có nghi. ”
Phần này thuyết minh về thừa
quyền, thừa thực, thân quyền, thân thực , đó là phần
chính tông.
Thu Tử ba lần thỉnh Phật thuyết minh về thừa quyền
thực, Di Lặc ba lần cầu thỉnh Phật thuyết minh về
thân quyền thực, tức là từ nửa sau của phẩm Phân
Biệt Công Đức, là đoạn văn xuôi trường hàng thứ hai
sau bài tụng nêu trên (“được nghe giảng về thọ lượng
này và tin hiểu thì công đức không có hạn lượng”),
cùng 11 phẩm ở dưới gọi là phần lưu thông.
A. 3- Phân tích theo ngài Nghĩa
Tịnh.
Pháp sư Nghĩa Tịnh nói: phẩm
thứ nhất gọi là phần tựa, thứ đến 19 phẩm sau đó thì
gọi là phần chính tông. Từ phẩm Thần Lực trở xuống
có 8 phẩm gọi là phần lưu thông. Tuy có sự phân chia
như vậy, nhưng chẳng giải thích lý do.
A. 4- Phân tích theo luận này.
a. Cách thứ nhất, chia làm ba
phần :
- Phần thứ nhất : phẩm thứ nhất
gọi là phần tựa.
- Phần thứ hai : tám phẩm sau
đó gọi là phần chính tông, chính thuyết nhất thừa,
thụ ký cho ba loại căn cơ, làm cho ba loại này căn
bản đều đã được lợi ích, vì đã giáo hóa cho các hạng
nhị thừa kia ra khỏi nước đục.
Phần cuối cùng của kinh này nói
rằng : “Nay trong kinh này chỉ thuyết nhất thừa, còn
xưa kia trước các Bồ tát, Phật chê hạng Thanh văn ưa
thích tiểu pháp, song Phật thực ra là dùng đại thừa
để giáo hóa”.
Thêm nữa, trong phẩm Đề Bà Đạt
Đa, Trí Tích Bồ tát bạch Phật Đa Bảo có thể trở về
bản thổ. Cho nên biết rằng công việc đã xong xuôi
mới thỉnh trở về, biết rõ chỗ thuyết nhất thừa chính
là tông chỉ của cả bộ kinh.
Nếu chẳng thuyết nhất thừa, hễ
chỗ nào thu được lợi ích đều là chính tông, thì
trong phẩm Phổ Hiền, vô lượng Bồ tát đắc Đà la ni,
tam thiên thế giới vi trần số Bồ tát thực hành đạo
Phổ Hiền, cũng là chẳng thuyết về nhất thừa mà được
lợi ích, đó đều là chính tông.
Nếu thế thì lời giải của ngài
Cổ Tuân chính là kim chỉ nam. Lại nữa, sự việc nếu
chưa xong, cớ sao Trí Tích Bồ tát lại nửa chừng xin
về ?
Hoặc gộp thêm nửa phẩm Pháp Sư
thành tám phẩm rưỡi là chính tông, vì nửa đầu phẩm
Pháp Sư Phật đã thụ ký cho những người khác hiện
diện trong tòa bất kể là bậc thánh hay người phàm,
nếu thấy Phật nghe kinh mà tùy hỉ đều sẽ được chứng
quả Bồ đề.
- Phần thứ ba : 19 phẩm (hoặc
18 phẩm rưỡi) còn lại đều gọi chung là lưu thông, vì
là phần nói về các việc chứng tán, thụ mệnh, phó
chúc (cho các đệ tử) về việc hành trì.
Phẩm (Khuyến) Trì tuy thụ ký
cho Tỳ kheo ni hiện diện tại tòa, nhân thưa với Phật
xin trì kinh, nên Phật bèn thụ ký cho, nhưng vẫn nói
rằng trước đã thụ ký chung cho hết cả rồi, chẳng
thuyết nhất thừa nữa, nên chẳng phải là chính tông.
b. Cách thứ hai, chia làm năm
phần :
- Phần đầu : là phần Tựa như
trên không khác.
- Phần hai : từ phẩm Phương Tiện trở xuống tới phẩm
(Khuyến) Trì tất cả là 12 phẩm đều thuyết minh về
Cảnh nhất thừa.
- Phần ba : hai phẩm An Lạc Hạnh, Tòng Địa Dũng Xuất
là thuyết minh về Hạnh nhất thừa.
- Phần bốn : từ phẩm Như Lai Thọ Lượng trở xuống tới
phẩm Thường Bất Khinh, tất cả năm phẩm này thuyết về
Quả nhất thừa.
Thuyết về Cảnh để cho biết rõ
thừa nào là Quyền, thừa nào là Thực, khuyên nên bỏ
quyền mà lấy thực. Hạng Thanh văn lĩnh ngộ được lý
này thì được thụ ký.
Thuyết về Hạnh để cho họ biết
cái nhân nào là đúng, cái nhân nào là sai, khuyên
nên học cái đúng và trừ bỏ cái sai, người học do đó
mà “tòng địa dũng xuất”.
Thuyết về Quả để cho họ biết
thân nào là chân, thân nào là hoá, cái nào là quả,
cái nào là nhân của sự chứng ngộ, khuyên họ nhận
thức được cái hóa, cầu chứng được cái chân, dần dần
thu được đức tốt của Nhân vị và Quả vị. Bồ tát biết
rõ lý này thì sẽ chứng
được đạo, thể hiện đầy đủ đức tốt thành tựu ở nhân
vị và quả vị.
- Phần năm : từ phẩm Thần Lực
trở xuống đều gọi là lưu thông, vì trình bày các
việc phó chúc, vâng mệnh tuân hành.
Duyên do những điều trên này
đều sẽ được giải thích ở phần sau.
B. GIẢI THÍCH KINH
VĂN.
Từ đây đến cuối sách, giải
thích theo thứ tự các phẩm kinh.
PHẨM TỰA THỨ NHẤT
A. GIẢI THÍCH TÊN PHẨM
1-
BẢY LOẠI NGHĨA THÀNH TỰU
Luận nói rằng : phẩm Tựa có bảy
loại thành tựu. Thành tựu có nghĩa là đầy đủ viên
mãn, muốn chứng minh rằng trong phẩm Tựa có đầy đủ
bảy nghĩa, bảy nghĩa đó viên mãn vì các kinh khác
không có.
1) Tự phẩm thành tựu : Vì mới
bắt đầu các lý do chung mà đã đầy đủ viên mãn. Có
núi, có thành đầy đủ, tượng trưng cho sự tốt đẹp có
thừa, cho nên riêng được gọi tên là phẩm Tựa, thực
ra bảy thành tựu đều là tựa cả.
2) Chúng thành tựu (nhiều
thành tựu): một là Số; hai là Hành; ba là Nhiếp công
đức; bốn là Uy nghi như pháp trụ viên mãn. Đó là
thành tựu mà các kinh khác không có.
3) Như Lai dục thuyết pháp thời
chí thành tựu (ý nói Như Lai đã đến lúc muốn
thuyết pháp) : đó là đoạn từ : “vì các Bồ tát mà
thuyết kinh Đại thừa” trở xuống. Vì trước tiên Phật
thuyết Kinh Vô Lượng Nghĩa có đủ 17 tên gọi hơn hẳn
các kinh khác.
4) Sở y thuyết pháp tùy thuận
uy nghi trụ thành tựu (ý nói những thứ để dựa vào đó
mà thuyết pháp đều tùy theo uy nghi của Phật mà an
trụ) : đó là đoạn từ “Phật thuyết kinh này xong thì
ngồi kết già-phu” trở xuống. Vì y vào Chỉ định (pháp
tọa thiền ngưng lặng), Khí thế gian và chúng sinh,
ba loại pháp này kinh khác không có.
5) Y chỉ thuyết nhân thành tựu
: đó là đoạn từ “bấy giờ, Phật phóng hào quang từ
giữa lông mày…” trở xuống. Vì thấy được các sự năng
chiếu, chiếu cảnh, sở chiếu, sinh hi hữu tâm, là
những sự kinh khác không có.
6) Đại chúng hiện tiền dục văn
pháp thành tựu (ý nói đại chúng trước mắt đang muốn
nghe pháp) : đó là đoạn từ “bấy giờ Di Lặc Bồ tát
nảy ra ý nghĩ rằng” trở xuống, vì tuy hỏi một người
mà nhiều người được nghe, sinh tâm hy hữu, các kinh
khác không có.
7) Văn Thù Sư Lợi đáp thành tựu
: vì nhờ Túc mạng trí, hiện thấy tướng nhân quả thời
quá khứ, thành tựu mười hai sự như hiện tại đây, cho
nên có thể đáp được, điều này kinh khác không có.
2. Phân Định Thông Biệt.
Trong bảy thành tựu trên lại
chia làm hai loại :
• Hai thành tựu đầu là Thông tự
(tựa chung).
• Năm thành tựu sau là Biệt tự
(tựa riêng).
Trong đó, phần Thông tự có năm
:
1) Tổng hiển dĩ văn (thể hiện
chung là đã nghe).
2) Thuyết giáo thời (lúc thuyết giáo).
3) Thuyết giáo chủ (người chủ trì việc thuyết giáo).
4) Sở hoá xứ (chỗ được giáo hoá).
5) Sở bị cơ (căn cơ được gia bị).
Các ý nghĩa trên hòa nhập vào
nhiều nghĩa, nhưng tạo thành ý nghĩa của Tựa (lời mở
đầu) chỉ có bốn chữ “Tôi nghe như vầy”, đó tức là
lời mở đầu, để khiến cho người nghe kinh tin tưởng
rằng người thuật lại đã được nghe Phật thuyết kinh
này.
Luận bản chỉ nói : Tựa có hai
thành tựu : một là thành, hai là núi. Hai chỗ này
tốt đẹp hơn, khác với kinh khác. Sở dĩ thuyết minh
thiên về lúc được nghe (thuyết kinh) và về Phật
(thuyết kinh) chẳng khác các kinh khác, là vì tuy
kinh có đủ (các điều nói trên) nhưng chẳng nêu lên
làm điểm trội hơn.
B. GIẢI THÍCH KINH VĂN
-Kinh văn : “Tôi nghe như vầy”.
Tán rằng : đây là câu mở đầu
của hết thảy kinh. Ở phẩm này dùng ba môn để phân
biệt :
• I. Nguyên do thuyết kinh.
• II. Mục đích đặt lời ấy.
• III. Chính thức giải kinh văn.
I.
NGUYÊN DO THUYẾT KINH
Như Kinh Đại Thuật v.v… thuyết
về bản duyên, lúc Phật sắp Niết bàn, lúc Phật bảo ai
có điều nghi hoặc gì cứ hỏi, Ưu Ba Ly, A Nậu Lâu Đà
bảo A Nan xin được phép hỏi bốn điều :
Một là sau khi Phật diệt độ,
các Tỳ kheo v.v… biết lấy ai làm thầy-
?
Hai là y vào đâu mà an trụ ?
Ba là Tỳ kheo tính ác-
thì trị phạt thế nào ?
Bốn là đầu hết thảy các-
kinh nên đặt lời gì?
Phật dạy rằng : sau khi ta diệt
độ cứ lấy Ba La Đề Mộc Xoa làm thầy cả của ngươi; y
vào giới mà tu hành; y vào Tứ niệm xứ mà an trụ bản
tâm; đối với hạng Tỳ kheo tính ác cứ dùng Phạm-đàn
mà trị, vì Phạm-đàn lẳng lặng, chẳng cần đánh chửi,
cứ lẳng lặng đuổi cổ đi; đầu tất cả các kinh nên đặt
những lời “Tôi nghe như vầy”.
Sau A Nan vào hội kết tập kinh
Phật, cứ theo y như lời Phật dạy, thuật rộng duyên
do, đều như kinh thuyết.
II.
MỤC ĐÍCH ĐAT RA LỜI ẤY
Mục đích là làm cho chúng sinh
tín thuận.
Trí Độ luận nói rằng : “Tôi
nghe như vầy” là để sinh tín vậy. “Tín thụ phụng
hành” là sinh trí vậy.
Tín thì năng nhập, trí thì năng
độ. Tín là cơ sở ban đầu để nhập pháp, trí là
huyền thuật cứu cánh. Tín thì lý nói ra sẽ thuận,
thuận thì đạo làm thầy sẽ thành. Do tín nên pháp
được thuyết đều có thể thuận tòng. Do thuận nên quan
hệ thầy nói trò nghe được kiến lập.
Ở trong tín này tóm lược thành
mười điều giải thích :
1) Đó là cái nhân ban đầu để
hướng tới cực quả, như theo Kinh Nhân Vương v.v...
đó là cái nhân ban đầu để đạt tới thánh vị. Cho nên
trong 40 tâm lấy tín làm đầu. Ban đầu phát tâm đại
Bồ đề, cần phải đủ mười đức, khởi ba diệu quán. Tâm
đại Bồ đề lấy thiện căn làm tự thể, lấy thiện hữu
làm duyên, lấy không lui sụt làm sách tấn phát
tâm. Thiện căn tức là tín, tinh tiến, niệm, định,
tuệ. Cho nên Nhiếp Đại Thừa luận nói rằng : “thanh
tịnh, tăng thượng lực, kiên cố tâm, thắng tiến thì
gọi là Bồ tát, thoạt đầu phải tu vô số tam đại
kiếp”.
2) Đó là nền tảng dần dần ngộ
nhập đế lý. Các luận đều nói : “sắp nhập thánh vị
thì có tín căn, tín lực. Có tín căn nên muôn điều
thiện nhân đó mà sinh. Có tín lực nên bốn loại ma
đều chẳng khuất phục nổi”. Vì thế đầu kinh đặt ra
(mấy lời ấy) để người nghe sinh tín.
3) Đó là sự chứng tịnh thông
với diệu chân. Năng vượt khỏi đường ác, lìa nhân
nghèo hèn, nên nhập thánh rồi thì chứng được bốn bất
hoại tín. Vì tín Tam bảo, nên vượt khỏi đường ác. Vì
tin ở giới, nên lìa được nhân nghèo hèn. Cho nên
luận cũng nói về tín hiện quán.
4) Đó là chỗ dựa tốt của những
đức tột vời. Tỳ-Bà-Sa luận nói rằng : “tín là tay
giỏi ăn pháp vị. Người học Phật pháp ví như con long
tượng lớn, lấy Tín làm tay, lấy Xả làm răng, lấy
Niệm làm cổ, lấy Tuệ làm đầu, ở trên vai gồng gánh
các thiện pháp nhóm lại”. Con voi (tức long tượng)
ăn uống đều lấy vòi làm tay, nên người học Phật pháp
đầu tiên phải sinh tín.
5) Đó là mầm mống ban đầu của
bảy loại thánh tài. Đó là pháp tài ban đầu của người
tu học cũng như số vốn ban đầu của người lái buôn
lớn. Nhờ sự giáo hoá của Pháp bảo mà được thánh tài,
nên đầu tiên là sinh tín. Hiển dương luận nói: “bảy
loại thánh tài đó là Tín, Giới, Văn, Xả, Tuệ, Tàm,
Quý”. Tín là một loại trong đó.
6) Đó là con đường tốt cho cái
nhân căn bản của các thiện pháp, vì là căn bản của
thiện pháp. Du Già luận viết rằng : “để vào các
thiện pháp, (dục) lòng ham muốn là căn bản, do tác ý
chỗ sinh ra, do tiếp xúc mà nhóm khởi, do cảm
thụ mà dẫn nhiếp. Thiền định là tăng thượng, trí tuệ
là tối thắng, giải thoát là kiên cố, Xuất ly là đằng
sau”.
Dục là căn bản, vì nó khởi hy
vọng. Do tác ý sinh ra, nên thường xuyên phải
cảnh giác. Bởi từ xúc mà nhóm khởi, nên hoà hợp các
thắng duyên của tâm và tâm sở. Bởi do thụ dẫn nhiếp,
mà lĩnh hội tại tâm. Định là tăng thượng, vì tâm vốn
lặng. Tuệ là tối thắng, vì lựa chọn thiện ác. Giải
thoát là kiên cố, vì giảm bỏ được triền phược. Xuất
ly là đằng sau, vì giác đạo viên mãn. Tín đã là chỗ
dựa của dục, nên trước tiên phải cho nó khởi lên.
7) Đó là tay cừ mở cửa cơ
duyên, vì là tay tiếp giáo. Câu Xá luận nói : “cứu
vớt chúng sinh ra khỏi vũng bùn sinh tử, hơn nữa sau
đó còn trình bày chính tông cho chúng sinh đó là tay
Phật giáo”. Phẩm Tựa khiến (chúng sinh) sinh tín, đó
là tay chúng sinh, vì hai tay đó bắt lấy nhau để ra
khỏi vũng bùn. Còn Trí Độ luận thì nói rằng : “như
người có tay tới núi châu báu muốn lấy gì thì lấy.
Nếu không có tay thì uổng công chẳng lấy được gì.
Người có tín tâm vào núi báu của Phật thì được các
đạo quả. Nếu không có tín tâm, tuy hiểu nghĩa kinh
văn cũng chẳng thu hoạch được gì”.
8) Đó là hạt châu thanh lọc cho
tâm thủy lắng trong, vì nó khiến tâm thanh tịnh.
Thành Duy Thức luận nói : “tín như hạt thủy châu có
khả năng lọc được nước đục,vì nó trị được sự vẩn đục
của Tín tính”.
9) Đó là điều kiện tốt để kiến
lập Danh đạo. Tuyên Ni (tức Khổng Tử) nói rằng :
“trong ba thứ binh đao, lương thực và đức tin, thì
tín chẳng thể bỏ được. Từ xưa ai cũng đều phải chết,
nhưng con người ta mà không có đức tin thì chẳng
đứng vững được, như xe lớn không có đòn nghê, xe nhỏ
không có đòn ngột. Con người ta mà không có đức tin
thì chẳng biết sẽ làm được trò trống gì”.
10) Đó là sự truyền cảm
tốt về tấm lòng thành. Sách Xuân Thu nói rằng: “nếu
có đức tin sáng láng thì ngay đến các loại rau dại
như rau tần, rau phồn, rong lác ở đầm ao suối khe
cũng đều có thể đem dâng quỷ thần, đem thết vương
công, huống hồ là đức tin mà người quân tử giao kết
giữa hai nước”.
Trong mười nghĩa này, tám nghĩa
đầu y theo chân đế, hai nghĩa sau y theo tục đế.
Đức tin quan trọng như thế, cho nên đầu kinh mới đặt
mấy chữ : “Tôi nghe như vầy” để chứng tỏ rằng kinh
nghĩa như vầy đích thân được nghe từ lời Phật
thuyết. Lìa được cái lỗi thêm bớt. Để khiến chúng
sinh khởi tín tâm mà thuận lòng tu học.
III. CHÍNH THỨC GIẢI KINH
VĂN
-Kinh văn : “Tôi nghe như vầy”.
Tán rằng : Phật Địa luận nói :
từ “như vầy” (như thị) chuyển theo bốn nghĩa :
1) Theo thí dụ, như có chỗ nói
rằng: giàu sang như vầy, như Tỳ-Sa-Môn pháp được
truyền, được nghe như vầy, như lời Phật thuyết, nhất
định không khác, nhất định là cái nhân của phương
tiện lợi lạc. Hoặc câu văn đương thời Phật thuyết
như vầy, đúng như điều xưa kia tôi được nghe.
2) Theo sự dạy bảo, như có khi
nói rằng : ngươi nên đọc tụng kinh luận như vầy.
Trong này “như vầy” xa thì là sự dạy bảo của Phật,
gần thì là sự giáo hối của người truyền pháp. Hoặc
bảo với đại chúng đương thời : nên nghe những điều
xưa kia tôi đã được nghe như vầy.
3) Theo sự vấn đáp, có nghĩa là
nếu có người hỏi : ngươi định thuyết giảng những
điều xưa kia chắc chắn đã được nghe ư ? Cho nên ở
đây đáp lại rằng : “Tôi nghe như vầy”.
4) Theo sự đồng ý, như có khi
nói rằng : tôi sẽ vì người mà nghĩ như vầy, mà làm
như vầy, mà nói như vầy. Có nghĩa là khi kết tập,
các chúng Bồ tát đều cùng thỉnh rằng : ngươi được
nghe thế nào thì nên thuyết giảng lại như vậy. Bồ
tát truyền pháp bèn đồng ý mà nói : “tôi sẽ nói như
vầy đúng như điều tôi đã được nghe”. Hoặc tin tưởng
khẳng định mà nói rằng: “việc ấy như vầy”. Ý nói
pháp như vầy xưa kia tôi đã được nghe, sự ấy như
vầy, đúng như những điều đã nói, nhất định không
khác.
Do bốn nghĩa trên, nên đầu kinh
đều đặt bốn chữ “Tôi nghe như vầy.”
Ngài Chân Đế Tam Tạng]
nói rằng : “Luật vi tế nói rõ A Nan khi lên tòa kết
tập pháp tạng, thân như chư Phật đủ mọi tướng đẹp,
khi xuống tòa lại trở lại nguyên hình”. Trong Tập
Tạng truyện cũng nói như thế. Vì thế khiến cho đại
chúng có ba điều ngờ :
1/- Ngờ rằng Phật đại bi từ cõi
Niết Bàn trở dậy nói thêm diệu pháp.
2/- Ngờ rằng còn có Phật từ phương khác đến trụ ở
đây thuyết pháp.
3/- Ngờ rằng ngài A Nan kia đã hóa thân thành Phật
mà thuyết pháp cho đại chúng.
Nay nói rõ pháp được thuyết như
vậy là pháp mà đích thân tôi đã từng được nghe xưa
kia lúc tôi làm thị giả cho đức Phật, chứ chẳng phải
là Phật lại trở dạây, chẳng phải là Phật từ cõi khác
tới, chẳng phải là A Nan hóa thân thành Phật. Để trừ
bỏ các điều nghi ngờ trên, nên đầu kinh đặt lời “Tôi
nghe như vầy”, duyên kết tập như kinh chương đã
thuyết.
Chú Pháp Hoa nói rằng : “như”
có nghĩa là như điềm]
lành cảm ứng, vì thuận cơ mà được gọi. “vậy” có
nghĩa là “không sai”. Chúng sinh vì thấy “không sai”
nên cảm, Phật vì thấy “thuận cơ” nên ứng. Người
truyền kinh muốn tỏ rõ danh giáo xuất phát từ sự cảm
ứng, nên đặt ra lời “như vầy”.
Chú Vô Lượng Nghĩa nói rằng :
tới người thuyết]
pháp chỉ nói là như, chỉ như mới đúng, nên nói là
“như vầy”.
Ngài Bảo Công nói : để lìa khỏi
năm điều phỉ báng]
bắt bẻ, nên nói là “như vầy” :
Câu thứ nhất : như vậy-
kinh này lìa được điều phỉ báng chấp Hữu rằng có sự
thêm thắt.
Câu thứ hai : như vậy kinh này trừ được điều phỉ-
báng chấp Vô rằng có sự bớt xén.
Câu thứ ba : như vậy-
kinh này lìa được điều phỉ báng chấp vừa Hữu vừa Vô
trái ngược nhau.
Câu thứ tư : như vậy kinh này lìa được điều phỉ-
báng chấp phi Hữu phi Vô ngu si.
Câu thứ năm : như vậy-
kinh này lìa được điều phỉ báng chấp là hí luận phi
phi Hữu, phi phi Vô.
Ngài Quang Trạch nói : “như
vậy” tức là cái được]
nghe, sẽ nêu lên một bộ kinh đã được nghe giảng
trước đây, nay được truyền lại. Cả một bộ kinh “như
vậy”, tôi đích thân được nghe từ Phật. Nói là “tôi
nghe” để hô hào người ta phải chú ý lắng tai.
Lương Vũ Đế nói rằng :
] “như vầy” có nghĩa là như thế. Đó là lời
Phật đã thuyết nên nói là “như vầy”.
Trường Nhĩ Tam Tạng nói : “như
vầy” có ba ý nghĩa
] :
Một là theo Phật. Chư Phật ba
đời đều thuyết như nhau chẳng khác nên-
gọi là “như”. Vì thuyết giống nhau, nên gọi là
“vậy”.
Hai là theo-
Pháp. Thực tướng các pháp xưa nay chẳng khác, nên
gọi là “như”. Vì như mà thuyết, nên gọi là “vậy”.
Ba là theo Tăng. Vì-
ngài A Nan hy vọng rằng những điều mình truyền đạt
lại không khác với bản giáo của đức Phật mà ngài đã
được nghe, cho nên gọi là “như”. Tuyệt đối chẳng sai
nên gọi là “vậy”.
Do cùng nói giống nhau như thế,
đúng lý không sai, truyền lại chẳng khác, nên kinh
này đáng tin.
Trên đây tổng cộng có 15 điều
giải thích.
Nói “tôi nghe”, có nghĩa là
người truyền pháp tựa
chỉ bản thân mình. Ý nói pháp như vầy, đích thân tôi
được nghe từ Phật, nên gọi là “tôi nghe”, chứ chẳng
phải nói “tôi” là nhất định thuộc về một người.
“Tôi” chỉ là giả danh chư uẩn thế tục.
Song “tôi” có ba loại :
Một là cái tôi vọng chấp, đó là
chỉ cái tôi vọng chấp của các ngoại-
đạo.
Hai là cái tôi giả thiết, là
chỉ cái ngã trong-
Lạc, Tịnh, Thường, Ngã, mà trong Kinh Đại Niết Bàn
tạm đặt ra để trừ điên đảo của hàng nhị thừa.
Ba là cái tôi lưu truyền ở thế
gian, chỉ các loại-
thiên thụ (trời truyền cho) từ thụ (thần truyền cho)
mà thế gian cùng lưu truyền. Nay người truyền pháp,
tùy thuận thế gian, chỉ tự mình xưng “tôi”, khác với
hai loại “tôi” nói trên, đó tức là đại ngã vô ngã
(cái tôi lớn vô ngã).
1 -HỎI : chư Phật thuyết pháp
là để trừ ngã chấp, cớ sao chẳng xưng mà vô ngã và
lại nói là “tôi nghe” ?
ĐÁP : có bốn nghĩa :
1) Để nói năng cho dễ. Vì vô
ngã chỉ chung uẩn, giới, xứ, thế thì biết ở đây nói
ai?
2) Để thuận theo thế gian.
3) Trừ nổi sợ vô ngã. Nói vô
ngã thì ai tu học?
4) Có sự phân biệt tự tha,
nhiễm tịnh, nhân quả, sự nghiệp vv… Bởi vậy xưng là
“tôi”.
2 -HỎI : nếu vậy cớ sao chẳng
xưng tên mà chỉ xưng tôi ?
ĐÁP : có ba nghĩa :
1) Tỏ rõ chẳng trái với thế
tục. Tông chỉ vốn nhằm hiển dương chân đế, nhưng
ngôn ngữ chẳng trái với thế tục. Lý tuy muốn tỏ rõ
là vi diệu, nhưng lời lẽ chẳng thể trái khoáy vì
muốn nêu rõ chân đế chẳng lìa tục đế vậy.
2) Từ “tôi” (ngã) có nghĩa là
chủ tể tự tại. Tập Pháp truyện nói rằng : có ba A
Nan :
Một là A Nan Đà, có nghĩa là
Khánh Hỉ, trì Thanh văn tạng. Hai là A Nan Bạt Đà,
tức Hỉ Hiền, trì Độc giác tạng. Ba là A Nan Già La,
tức Hỉ Hải, trì Bồ tát tạng. Đó chỉ là một người,
tùy theo từng đức tính mà gọi tên khác nhau.
Do A Nan này là bậc Đa văn
(được nghe nhiều biết rộng), Văn trì (nghe rồi thì
nhớ được), tích tập được những điều tai nghe, ba tuệ
đều đủ, văn nghĩa đều nhớ, tổng trì tự tại đối với
Tam tạng giáo. Nếu xưng tên thì tuy thuận với chính
lý, nhưng không có cái nghĩa “được tự tại đối với
các pháp”, do vậy mà xưng là tôi, chẳng nói là A
Nan.
3) “Tôi” có nghĩa chỉ đích
thân. Thế gian cũng nói là “tôi thấy”, “tôi nghe” và
cho như thế là thân chứng. Nếu nói A Nan nghe thì có
khi chẳng phải là đích thân nghe Phật thuyết mà từ
người khác truyền thụ lại.
Nay tỏ rõ đích thân được nghe
Phật thuyết pháp, chứ chẳng phải do người khác
truyền lại. Vì vậy để phá trừ lưới nghi nên chẳng
xưng tên, mà chỉ nói là tôi nghe.
“Nghe” (văn) có nghĩa là nhĩ
căn nghe nhận hiểu biết những điều Phật nói. Nay bỏ
sự phân biệt tách bạch tai nghe, theo tên gọi chung
là “tôi”, cho nên nói là “tôi nghe”, dẫn theo Đại
thừa thì căn, thức, tâm sở khi đối cảnh hòa hợp nhau
mới gọi là nghe (văn).
Song căn có năm nghĩa hơn thức,
cho nên gọi căn là nghe (văn). Năm nghĩa của căn là:
y, phát, thuộc, trợ, như căn. Như căn tức là căn
sáng suốt hay tăm tối như thế nào thì thức cũng sáng
suốt hay tăm tối như thế ấy. Nếu chỉ nghe thấy âm
thanh thì có thể chỉ tại ở tai, đã duyên vào Danh
vào Nghĩa thì là ở trong ý, cho nên Du Già nói rằng:
“nghe là tỉ lượng”. Nhĩ căn gọi là nghe vì đích thân
nghe âm thanh, nhưng phải cùng với ý, mà ý là chủ
yếu, thì mới nghe hiểu. Dùng cái thứ hai (tức là ý)
làm chủ yếu mà huân tập thường xuyên, nhân nghe được
mà thành tên gọi chung là “nghe”, bỏ sự phân biệt
tách bạch nhĩ căn, ý căn mà gọi chung là “tôi nghe”.
3 -HỎI : Khánh Hỉ lúc bấy giờ
cũng đích thân nhìn thấy, cảm nhận, biết rõ là Phật
thuyết pháp. Cớ sao chỉ nói là “tôi nghe” mà chẳng
nói là “tôi (nhìn) thấy” v.v…
ĐÁP : có ba nghĩa :
1) Vì muốn chứng lý sâu, trước
hết phải nghe pháp, kế đến phải hiểu nghĩa, mà Danh
để nói Nghĩa, chẳng phải nói Sắc.
2) Vì cõi này dùng âm thanh mà làm Phật sự, dựa vào
Thanh mà có Danh.
3) Vì muốn chứng Bồ Đề phải dùng nghe mà huân tập,
do nghe huân tập mà thành bậc Xuất thế gian.
Do vậy, mà ở đầu kinh chẳng nói
“Nhìn (thấy), cảm (nhận), biết (rõ)”. Chỉ nói là
“Tôi nghe”.
Thực ra thì lúc đó Khánh Hỉ
cũng nhìn thấy Phật nói và thấy các cõi Phật khác
nhờ ánh quang minh của Phật mà làm Phật sự. Có thể
nói là nhìn thấy v.v… Ở trong nghĩa này cũng nên
phân biệt.
4 -HỎI : đó là Phật thuyết pháp
nên nói là “tôi nghe được” hay là Phật chẳng thuyết
mà nói là “tôi nghe” ?
ĐÁP : có hai cách giải thích :
1) Ngài Long Quân nói : Phật chỉ có ba pháp đó là
đại định, trí và bi. Từ lâu ngài đã lìa bỏ hí luận,
không hề thuyết pháp. Nhờ duyên lực bản nguyện từ bi
của Phật, trong thức của chúng sinh nảy sinh ra
tướng văn nghĩa. Tướng văn nghĩa này tuy đích thân y
vào lực thiện căn của mình mà nảy sinh. Nhưng để gây
tác động mạnh nên nói là “Phật thuyết”. Do lực nhĩ
căn cùng ý thức của mình biến thành, nên gọi là “tôi
nghe”, lấy đó làm thể tính.
Cho nên ngài Vô Tính nói rằng : bất kỳ lúc nào,
trong thức của người nghe hiển hiện lên tất cả những
điều Phật trực tiếp nói, hoặc chẳng trực tiếp nói,
lấy đó làm thể tính. Người đó tự hỏi rằng : nếu thế
thì tại sao Bồ tát lại có thể thuyết pháp được ?
Luận ấy lúc đầu nói rằng Bạc Già Phạm trước đã nhập
Đại thừa Bồ tát thuyết phẩm Nhiếp Đại Thừa để chứng
tỏ cái thể của Đại thừa to lớn, cho nên đặt ra câu
hỏi này. Luận lại tự giải đáp rằng : vì ngài là bậc
tăng thượng sinh, nên làm ra thuyết ấy cũng ví như
chư thiên nhờ tăng thượng lực nên trong giấc mộng
vẫn được Luận chú.
Kinh cũng nói rằng : Phật từ lúc bắt đầu mới thành
đạo cho tới lúc cuối cùng nhập Niết bàn. Trong thời
gian giữa chừng ấy chẳng nói một chữ, như người mẹ
chỉ hé răng ra hiệu với con mà con hiểu là mẹ gọi.
2) Ngài Thân Quang nói rằng : thân Phật có đủ uẩn,
giới, xứ .v..v., do lìa phân biệt nên gọi là không
hý luận, chứ đâu phải là chẳng thuyết pháp thì gọi
là không hý luận. Có nghĩa là do thích nghi với
duyên lực bản nguyện thiện căn của người nghe mà
tướng văn nghĩa nảy sinh ra trong thức của Như Lai.
Tướng văn nghĩa này là thiện căn lợi tha của Phật
khởi lên, đó gọi là “Phật thuyết”. Trong thức của
người nghe tuy chẳng đích thân tự có được, nhưng
dường như tướng ấy hiển hiện rõ ràng, cho nên gọi là
“tôi nghe”.
Ngài Thế Thân nói rằng : điều đó có nghĩa là vì các
sự sai biệt khác nảy sinh ra liên tục trong thức,
nên khiến cho thức sai biệt tương tục khác nảy sinh,
hỗ trợ lẫn nhau mà thành Tăng thượng duyên. Do đó
kinh nói : “pháp mà ta đã nói như lá trong tay. Các
pháp chưa nói như lá trong rừng, vì chúng như Trống
trời Mạt-ni không nghĩ mà làm Phật sự”.
Trong này hai cách giải thích, tùy theo hai loại văn
đó mà giải thích thêm cho nhau.
Cần phải biết rằng nói câu “Tôi nghe như vầy” là có
ý tránh lỗi lầm thiếu sót hoặc thêm phần khác vào.
Có nghĩa là pháp như vầy tôi nghe từ đức Phật, chứ
chẳng phải được tỏ rõ là nhờ người khác xoay vần
truyền lại. Người nghe mà có khả năng nghe hiểu, thì
những điều họ nghe được không có sự thêm bớt nào,
chẳng phải như kẻ ngu si không có khả năng nghe
hiểu, thì những điều họ nghe được có khi có sự thêm
bớt.
Lúc kết tập pháp, người truyền lại lời dạy của Phật,
cứ theo đúng y như lời Phật dạy, nên đầu tiên phải
nói câu này để khiến cho chúng sinh cung kính, tin
nhận. Ý nói pháp như vầy tôi nghe từ Phật, văn nghĩa
dứt khoát không hề có sự thêm bớt. Cho nên người
nghe cần phải nghe cho đúng đắn, rồi cứ theo đúng
như lý mà suy ngẫm, siêng năng tu học.
*
-Kinh văn : “Một thời”.
Tán rằng : thứ hai là nói về thời gian.
Ở đây có hai nghĩa :
1. Đấng Pháp vương bắt đầu giáo hóa, cơ duyên, khí
lượng, không gian, thời gian đều hội đủ, việc thuyết
pháp và nghe pháp xong xuôi thì gọi chung là “một
thời”.
2. Người thuyết pháp và người nghe pháp cùng nhau
hội ngộ, thời gian không phân biệt cho nên gọi là
“một thời”, vì thời gian cơ cảm và thời gian ứng hóa
không có sự tách bạch phân biệt. Đầu tiên căn cứ vào
các sát-na tương tục không gián đoạn, người thuyết
kẻ nghe cho đến rốt ráo thì tạm gọi là “một thời”.
Ở đây có hai
a cách giải thích :
1) Thời đạo lý : cả hai bên người thuyết pháp kẻ
nghe pháp tuy chỉ là hiện tại các hành năm uẩn
sát-na sinh diệt, nhưng chính hiện pháp này mang ý
nghĩa thù ứng cái trước dẫn tới cái sau, tức là dùng
cái thù ứng giả danh là quá khứ, dùng cái dẫn tới
giả danh là vị lai, đối đãi với hai loại này mà nói
là hiện tại. Đời quá khứ vị lai này đều giả lập
trong pháp hiện tại, tức là người thuyết pháp kẻ
nghe pháp, các pháp năm uẩn sinh diệt từng sát-na,
trước sau liên tục, sự việc rốt ráo thì giả danh là
ba đời và gọi chung là “một thời”, chứ chẳng phải là
“một thời” của một lần sinh diệt.
2) Thời duy thức : hai bên người thuyết, kẻ nghe
trong thức tâm biến thành tướng trạng ba thời mà
khởi lên, thực ra là hiện tại, tùy theo phần hạn của
tâm mà biến thành sự tình dài ngắn xong rồi thì gọi
chung là “một thời”. Như những thứ thấy ở trong mộng
tuy là có nhiều, nhưng khi thức tỉnh biết chỉ là tâm
biến hiện, đều không có cảnh thực. Người nghe pháp,
tâm biến ba đời cũng thế, chỉ là duyên theo ý.
Những thứ Bất tương ưng hành uẩn, được pháp
giới, pháp xứ thu nhiếp đó, ở đây gọi là “một thời”
:
Một là số sát na chẳng nhất định.-
Hai là sự tương tục-
không nhất định.
Ba là bốn thời, sáu thời, tám thời, mười hai thời-
không nhất định.
Bốn là thời gian số năm sau khi thành đạo không
- nhất định, đó gọi là “một thời”.
Thế nhưng người nghe pháp do căn cơ chín muồi cảm
nhận được điều Phật thuyết, người thuyết pháp từ bi
ứng cơ mà thuyết. Việc thuyết pháp nghe pháp xong
xuôi thì gọi chung là “một thời”.
Giải thích về ý nghĩa bốn loại không nhất định của
a “một thời” nói trên :
1/- Số sát na không nhất định, có nghĩa là người
nghe pháp có khi căn khí trì độn, thời gian thuyết
pháp tuy ngắn, nhưng thời gian để nghe hiểu lại dài.
Hoặc thời gian người thuyết pháp dài, mà người nghe
cũng lâu, trong một sát na vẫn chưa hiểu nổi, do vậy
chẳng phải chỉ một sát na.
2/- Sự tương tục cũng chẳng nhất định, có nghĩa là
do người giỏi thuyết pháp đắc Đà-la-ni, chỉ nói một
chữ mà nghĩa hết thảy đều hiểu rõ. Hoặc người biết
nghe đắc nhĩ căn, ý căn thanh tịnh, chỉ nghe một
chữ, thời thảy đều hiểu được, cho nên chẳng phải là
liên tục. Do người nghe ở một hội căn cơ kẻ thì lanh
lợi, người thì trì độn, Như Lai dùng thần lực có khi
kéo dài niệm ngắn thành ra kiếp dài, khi thì rút
ngắn nhiều kiếp lại thành niệm ngắn, cũng chẳng nhất
định, cho nên việc thuyết pháp, nghe pháp xong thì
gọi chung là “một thời”.
3/- Thời gian bốn thời, sáu thời, tám thời, mười hai
thời v.v… cũng chẳng nhất định, có nghĩa một mặt
trời, một mặt trăng soi bốn thiên hạ dài ngắn, nóng
lạnh, gần xa, ngày đêm các phương cũng chẳng nhất
định, vì thường xuyên chỉ hai thiên hạ cùng khởi
dụng. Hơn nữa trừ chư thiên cao thấp, không có bốn
thời và tám thời như ở đây. Kinh muốn lưu thông ở
khắp phương trên dưới, nếu nói bốn thời v.v… thì lưu
hành chẳng khắp.
4/- Thời gian số năm sau khi thành đạo cũng chẳng
nhất định, có nghĩa là vì báo thân, hóa thân đức
Phật mà kẻ phàm người thánh ba thừa nhìn thấy, tuổi
tác ngắn dài, từ khi thành đạo tới nay gần xa mỗi
nơi mỗi khác. Kinh muốn cho kẻ phàm người thánh ba
thừa cùng nghe nên chẳng nói tách bạch là sau khi
thành đạo bao nhiêu năm tháng. Song trong các kinh
đều có nói tới sự tương tục.
Kinh này phần dưới nói : “thuyết kinh Pháp Hoa này
tròn sáu mươi tiểu kiếp” chính là sự này.
Có kinh nói tới bốn thời, như Kinh Niết Bàn nói ngày
rằm tháng hai. Có lúc nói sáu thời, tám thời, mười
hai thời, như Kinh Niết Bàn nói vào lúc tước cành
dương (xỉa răng) buổi sáng sớm; Kinh Kim Cương Bát
Nhã nói lúc chính ngọ ăn cơm nước rồi, thu dọn áo
bát, rửa chân xong xuôi, trải tòa mà ngồi; Kinh
Thượng Sinh nói lúc đầu đêm, khắp người phóng hào
quang; Kinh Di Giáo nói lúc nửa đêm, vắng lặng im
ắng.
Có kinh nói thời gian năm tháng sau khi thành đạo,
như Kinh Thập Địa nói : “tới tuần bảy ngày thứ hai
thuyết kinh Hoa Nghiêm trong Ma Ni bảo điện ở cung
trời Tha Hóa Tự Tại; sang tuần bảy ngày thứ ba
nghiền ngẫm kỹ rồi thì chuyển pháp luân Tứ đế ở nước
Ba La Nại. Lại nữa Kinh Vô Lượng Nghĩa nói rằng :
“Ta từ khi thành đạo tới nay đã hơn bốn mươi
năm”. Tuy có nói thế, song cũng là căn cứ theo những
điều mà chúng sinh được hóa độ ở một phương một khu
vực nghe thấy, nhìn thấy mà kết tập, hơn nữa nói
những lời ấy chẳng phải lúc đầu tổng đề thuyết pháp.
Bởi vậy cho nên đều phải nói chung là “một thời”.
-HỎI : trong Xứ (nơi chốn)ù có tịnh, có uế; nếu tùy
theo căn cơ, thì nhất định là trong Xứ và Thời (thời
gian) thuyết pháp, kẻ phàm, người thánh phải có sự
khác nhau, nếu chẳng phân biệt mà thuyết, sao được ?
ĐÁP : Xứ thuyết pháp có thể nêu rõ tịnh, uế vì tịnh
uế có thể biết chắc. Thời thuyết pháp có ngắn có
dài, có kẻ phàm người thánh chẳng thể chuẩn đích.
Trong một hội, cơ nghi có kẻ lanh lợi, có kẻ trì
độn, thời gian dài ngắn khác nhau làm sao mà xác
định chắc chắn được. Cho nên Xứ có thể nói cụ thể,
còn Thời thì chỉ nói chung là “một thời”.
*
-Kinh văn : “Phật”.
Tán rằng : thứ ba là Giáo chủ thuyết pháp.
Tiếng Phạm là Phật đà, ở đây gọi tắt là Phật, chỉ vị
chúa có tuệ. Tiếng Đường (chữ Trung Quốc) gọi là
Giác giả (đấng giác ngộ).
Giác có ba nghĩa :
Một là tự giác, hơn hẳn-
phàm phu vì phàm phu chẳng tự giác
Hai là giác tha, hơn-
hạng nhị thừa, vì hạng này chẳng giác tha.
Ba là giác hạnh viên-
mãn, hơn các Bồ tát vì Bồ tát tuy vẫn tu, nhưng đối
với nhị giác (tự giác, giác tha), hạnh vẫn chưa viên
mãn.
Phật Địa luận nói : có
] đủ nhất thiết trí, nhất thiết chủng trí, có
khả năng tự khai giác, cũng có khả năng khai giác
cho hết thảy hữu tình, như ngủ mơ mà tỉnh giấc, như
hoa sen xòe nở nên gọi là Phật.
a) Nhất thiết trí, tức là Năng tự khai trí, như sự
hiểu biết khi ngủ mơ, có năng lực quán sát về
Không trí, Lý trí, Chân trí, Vô phân biệt trí như là
sở hữu. Tóm lại mà nói, đó là đoạn được Phiền não
chướng.
b) Nhất thiết chủng trí, tức là Giác hữu tình trí.
Là trí như hoa sen khai nở, có năng lực quán sát về
Hữu trí, Sự trí, Tục trí, Hậu sở đắc trí, có hết mọi
thứ. Tóm lại mà nói, đó là đoạn được Sở tri chướng.
Theo bản tiếng Phạm của các kinh, đều gọi Phật là
Bản sư, là Bạc Già Phạm. Phật giáo đặt ra từ này vì
nó bao hàm các đức tính. Người chủ trì việc phiên
dịch, ý muốn tỉnh lược, tùy địa phương khéo xưng,
nên gọi tên là Phật.
-HỎI : trong ba thân này, thân nào quyền nhiếp ?
ĐÁP : theo Xứ theo Cơ, ứng với Thanh văn thì là Hóa
Phật, theo Văn theo Khí, dạy bảo Bồ tát thì là Báo
thân.
Vì người cảm nhận căn cơ và phẩm loại khác nhau mà
Phật hiện ứng thân, cho nên thông cả Báo, Hoá. Xuất
hiện nơi thành Vương Xá, non Thứu lĩnh, để thuyết
pháp Thu Tử và chúng sinh từ tầng trời sơ thiền trở
xuống nghe, tức là Hóa Phật.
Cõi ta yên ổn thọ lượng lâu dài, Văn Thù hóa hiện ở
trong cõi này, tức là Báo thân. Song, ứng hoá chẳng
phải là chân Phật, cũng chẳng phải là người thuyết
pháp.
Từ hành trạng mà qui về bản thể, tức là Pháp thân.
Cho nên trụ ở Pháp giới tạng mà xưng tán công đức
kinh Đại thừa, chứng tỏ là Pháp thân thuyết.
Phật Địa kinh v.v… nói 18 thứ viên mãn trụ ở Bảo hoa
vương, đó chính là Báo thân thuyết.
Sự tích ở thành Vương Xá theo kinh này, đó tức là
Hóa Phật thuyết.
Theo lý mà nói, thực ra thông cả ba Phật, tùy ứng
với chúng sinh mà hiện thân, chẳng phải nhất định là
một thân nào. Trong Kinh Lăng Già nói : ba thân Phật
thuyết pháp mỗi thân mỗi khác, vì đều thuyết pháp.
Do đó trưởng giả Cù Sư La nhìn thấy Phật hiện tướng
ba thước mà phát tâm, năm trăm Bà la môn thấy các La
hán dùng Hỏa quang tam muội thiêu thân thành tro mà
khởûi tín tâm. Bồ tát thân vô biên cao tới tận cùng
thượng giới mà vẫn còn thừa. Kẻ phàm phu trụ ở quả
thánh nhỏ xem thân Phật cao một trượng sáu mà thấy
vô tận.
Nay để chứng tỏ bậc Giáo chủ là tôn quí, sự giáo hóa
của ngài được tùy thuận. Chắc chắn là tốt đẹp nên
đầu tiên nêu cao Giáo chủ để người nghe sinh tâm
hoan hỉ.
*
-Kinh văn : “Trụ trong núi Kỳ Xà Quật, thành Vương
Xá”.
Tán rằng : thứ tư là nơi được giáo
hóa.
Du hóa, cư trú thì gọi là trụ. Trụ có nghĩa là cư
trú, du hóa, ăn ở. Cư trú tại núi, du hóa trong
thành, đó là thân hạnh của Phật trong suốt cuộc đời
hành đạo. Người xưa nhân đó mà giải thích thành các
loại trụ : Thánh, Thiên, Phạm, Phật. Các loại trụ ấy
về danh tuy đồng, nhưng về ý nghĩa hoàn toàn khác
nhau.
Trong kinh có những chỗ lý lẽ thâm thúy, ý nghĩa sâu
kín nhưng người phiên dịch không hề lưu tâm, khi
hành văn dùng danh từ giống nhau mà nghĩa lý lại
khác nhau, đó chỉ là phô trương viện dẫn chứng cứ
hão huyền, thế là chưa được.
Tiếng Phạm : thành Cư Xa Yết La Bổ La, tiếng Đường
(chỉ tiếng Hán) gọi là “thành Thượng Mao”, ở chính
giữa nước Ma Kiệt Đà, là nơi đóng đô của vua chúa
thời xưa, chốn này có nhiều cỏ tranh Cát tường
thượng hảo hạng, nhân lấy đó mà đặt tên thành.
Núi cao bao bọc bốn phía xung quanh làm lớp thành
ngoài, phía Tây thông với đường hẻm, phía bắc mở ra
cửa núi, địa hình xứ này Đông Tây dài, Nam Bắc hẹp,
chu vi hơn 150 dặm. Cung thành chu vi 40 dặm, cây
Yết Ni Ca trồng đầy đường, cây này hoa thơm đặt
biệt, vàng rực như màu vàng ròng, vào tháng cuối
xuân, rừng cây đều rực rỡ sắc vàng.
Ngoài cửa Bắc cung thành có một ngôi tháp, đó là chỗ
Đề Đà Đạt Đa kết bạn thân với vua Vị Sinh Oán (vua A
Xà Thế) cùng thả con voi say Hộ Tài ra định hại Như
Lai, nhưng đầu ngón tay Như Lai đã phóng ra năm con
sư tử thuần phục được con voi say đó.
Thứ đến phía Đông Bắc cũng có tháp, đó là nơi Xá Lợi
Tử gặp Tỳ kheo Ma Thắng sau một cuộc đối đáp ngắn,
ngài đắc sơ quả. Thứ nữa đến cách phía chính
Bắc không xa có một hố to sâu, tiếng Phạm gọi là
Thất Lợi Cúc Đa, ở phương đây gọi là Thắng Mật, đó
là nơi dùng hố lửa, cơm bỏ thuốc độc định hại đức
Phật.
Từ cung thành đi theo hướng Đông Bắc chừng 14-15 dặm
tới núi Kết Lật Đà La Cư Tra, tiếng Đường (tức tiếng
Hán) gọi là Thứu phong, còn gọi là Thứu đài, một
mình sừng sững nối tiếp với núi Bắc, được cho là chỗ
chim Thứu đậu, lại nom giống như cái đài màu non
biếc đậm in trên nền trời xanh nhạt. Sau khi thành
đạo suốt gần 50 năm, Phật phần nhiều ở núi này mà
thuyết rộng về diệu pháp.
Bản dịch cũ dịch là núi Kỳ Xà Quật, lại gọi núi Linh
Thứu. Chim Thứu ăn xác người ở đấy, gọi là Linh Thứu
vừa sai, vừa là cách gọi tắt. Để nghe pháp, vua Tần
Bà Sa La đã sai người ghép đá thành bậc rộng hơn 10
bước, dài 5-6 dặm, vượt qua hoang động, ghềnh đèo đi
suốt từ chân núi tới đỉnh núi. Trên đường đi có hai
tháp : một tháp gọi là Hạ thừa, vua tới đây thì đi
bộ mà lên, một tháp gọi là Thoái phàm, có nghĩa là
loại bỏ hạng phàm nhân, không cho cùng đi lên. Đỉnh
núi này chiều Đông Tây dài, chiều Bắc Nam hẹp. Trên
bãi phía Tây kề bên vách đá có tòa tinh xá bằng gạch
qui mô cao rộng kiểu dáng kỳ lạ, làm cửa mở ra hướng
Đông. Lúc Như Lai còn tại thế phần nhiều ở đây để
thuyết pháp. Nay làm tượng Phật thuyết pháp to đúng
bằng thân Như Lai.
Phía đông tinh xá có mảng đá dài là chỗ Phật đi dạo,
bên cạnh có đá to cao trượng tư trượng rưỡi, chu vi
hơn 30 bước, đó là nơi mà Thiên Thụ (tức Đề Bà Đạt
Đa) đứng từ xa ném đá làm chảy máu chân Phật. Phía
Nam tinh xá có một tòa tháp, đó là nơi Phật thuyết
Kinh Pháp Hoa. Đi khỏi cửa Bắc thành núi chừng hơn
một dặm thì tới rừng trúc Ca Lan Đà có tháp do vua
Vị Sinh Oán xây dựng để cúng dường phần Xá Lợi Phật
mà vua đã được chia.
Phía Tây Nam rừng trúc đi chừng năm sáu dặm tới núi
Nam trong rừng trúc có hang đá lớn, đó là nơi Đại Ca
Diếp Ba kết tập pháp tạng. Cách phía Bắc rừng trúc
hơn hai trăm bước tới ao Ca Lan Đà. Phía Tây Bắc ao
này cách chừng hai ba dặm có thành
Hạt-La-Xà-Kết-Lị-Tứ, tiếng Đường (tức tiếng Hán) gọi
là thành Vương Xá, thành ngoài đã bị hư hỏng, không
còn sót mảnh tường nào, thành trong tuy bị hủy hoại,
nhưng nền móng vẫn còn.
Thành này chu vi hơn 20 dặm, mặt có một cửa. Xưa vua
Tần Bà Sa La đóng đô ở cung thành Thượng Mao, nhà
dân thường bị hỏa hoạn, một nhà cẩu thả bốn bên hàng
xóm đều bị tai hoạ, dân chúng ca thán vì chẳng được
an cư lập nghiệp. Vua nói : “vì ta bất đức, dân
chúng mang vạ. Vậy muốn trừ được tai họa này thì
phải tu đức nghiệp gì”? Bầøy tôi tâu rằng : “đại
vương thi hành đức hóa. Nhưng dân đen chẳng cẩn
thận. Vậy xin đặt ra luật lệ hình phạt nghiêm khắc
để răn đe người sau đừng vi phạm, nếu còn vi phạm
nữa thì dời tới Rừng Lạnh. Rừng Lạnh là nơi vứt xác,
tục gọi là đất chẳng lành, không ai thèm qua lại
chơi bời, thì cũng giống như bị vứt xác. Dân chúng
đã coi chuyện phải dời đến ở nơi này là điều sỉ
nhục, thế thì tự họ sẽ phải giữ gìn cẩn thận”.
Vua bèn nghe theo lời tâu ấy đặt thành luật lệnh
nghiêm khắc để thi hành. Nào ngờ trong cung lại thất
hỏa trước tiên. Vua nói : “ta phải dời thôi”! bèn
sai Thái tử ở lại giám quốc nhiếp chính, rồi tự dời
đến rừng này. Vua Phệ Xá Ly nghe tin vua Tần Bà Sa
La trú ở giữa đồng bèn đem quân tới đánh, thám tử ở
biên giới biết tin tâu về, vua bèn xây thành mà ở.
Vì vua là người đầu tiên xây nhà ở đây, nên gọi là
thành Vương Xá.
Có người nói : sau khi Vị Sinh Oán nối ngôi rồi mới
xây thành này. Thực ra là chỉ xây cho thành cao dày
thêm, chứ chẳng phải là xây mới. Tới khi vua Vô Ưu
dời đô đến Ba Tra Ly thì đem thành Vương Xá bố thí
cho Bà la môn, cho nên trong thành này ngày nay chỉ
toàn là Bà la môn, không còn có dân thường nữa. Tất
cả có một ngàn nhà, người xưa có kẻ nói: thành núi
là thành Vương Xá có chín ức nhà. Hoặc nói : để ngàn
vua ở đây ! Các thuyết trên đều sai.
Kinh đô của vua đã ở thành Vương Xá, Phật trụ ở núi
Thứu phong, thành và núi cả hai nơi đều được nêu
lên, hai hóa tự, tha cùng thuyết cả, đó là để lợi
cho cả chúng xuất gia và chúng tại gia.
Luận nói “phần tựa thành tựu” có nghĩa là pháp môn
a này hiển bày hai loại nghĩa thành tựu :
1) Hơn hết trong mọi pháp môn, ví như thành Vương Xá
hơn hết thảy mọi thành xá khác. Thành này chính là
nơi nhà vua đóng đô, ở ngay giữa nước Ma Kiệt Đà,
biểu trưng cho nhất thừa là trung đạo của tam thừa,
là nơi an trụ của Pháp vương, vì thành đã hơn các
thành khác, thì kinh cũng hơn các kinh khác.
2) Hiển bày công đức tự tại, cho nên như núi Kỳ Xà
Quật hơn các núi khác, rõ ràng là pháp này cũng hơn.
Thành Câu Tô Ma đã là thành núi, ở gần Vương Xá,
chính là nơi có nhiều núi, riêng một mình núi này
hơn hẳn vì vừa cao vừa nổi bật, tượng trưng cho pháp
cao hiển hơn hẳn nhị thừa, có đầy đủ mọi công đức
vòi vọi tự tại.
Hoặc như thành hơn các thành khác, không có vật đẹp
nào mà không có; Pháp hơn các pháp khác, không đức
tốt nào mà không có đủ; Núi hơn các núi khác,
vì là nơi các chim đẹp đậu ở; Pháp hơn pháp khác, vì
là chỗ bậc thượng nhân dạo chơi.
Lại nói : ví dụ về sự diệu mầu là chung cho cả Giáo
và Lý, hoặc Giáo diệu như thành, vì chứa đựng diệu
Lý, Lý cao như núi, vì hơn hẳn Nhị thừa, bởi vậy
kinh này nói tại thành Vương Xá ở núi Thứu lĩnh là
có ý nghĩa biểu trưng vậy. Trí Bát Nhã thông suốt
năm môn, thành Xá Vệ dồi dào bốn đức, nên phần nhiều
ở đó mà chẳng y vào nơi khác. Vàng sinh ra ở nơi
sông nước đẹp, đó là câu tục ngữ phương Đông vẫn lưu
truyền(*)
Thuyết xưa nói rằng : kinh này thuyết cả thảy ở
a bốn nơi. Lúc đầu ở Linh sơn, sau đó ở trong
tháp vọt lên không trung, sau nữa ở cõi tịnh độ mà
Phật tập hội, cuối cùng thì phân thân Phật trong
phẩm Chúc Lụy sau khi trở về lại ở uế độ.
Nay giải thích rằng :
a nơi có ba, nhưng thuyết chỉ tại hai.
a. Về nơi :
+ Nơi có ba : có nghĩa là không quay trở về uế độ
nữa. Từ phẩm Chúc Lụy về sau, các phân thân mới đến
cõi này cho tới cuối kinh, đều chỉ là tịnh độ. Khi
các phân thân trở về bổn độ, cõi này lại biến thành
uế thì lúc ấy thuyết kinh đã xong.
+ Tịnh uế chỉ hai : một là ban đầu tại uế độ ở Linh
Sơn, hai là lúc các phân thân Phật tập hợp chư Phật
thì biến thành tịnh. Cùng với tháp vọt lên trên
không nữa, thế là có ba nơi.
b. Về thuyết (pháp) chỉ ở hai :
+ Đầu tiên mở hội Linh Sơn trên mặt đất để tuyên
thuyết về nhất thừa cho hạng nhị thừa.
+ Sau đó tháp vọt lên không, các phân thân Phật tập
hợp, Thích Ca và Đa Bảo cùng ở một tòa khuyên tin
kinh này cho tới cuối kinh, Phật bảo ai nấy trở về,
việc thuyết kinh xong Phật mới xuống đất, sau đó
chẳng thuyết Kinh Pháp Hoa nữa. Cho nên biết rằng
nơi thuyết pháp chỉ có hai.
Nay để nêu việc mở hội, nên nói đến thành núi; cốt ý
nêu ra nơi chốn giáo hóa. Phật nói về hóa thân Phật
là muốn khiến cả ba thừa đều vui vẻ ưa thích nhất
thừa, thể hiện đức từ bi sâu sắc của Phật, thừa và
thân đều diệu mầøu, vì đã có thể thi hành việc giáo
hóa ngay tại nơi uế độ. Nếu nêu cao báo thân và biểu
hiện tịnh độ, thì sợ rằng chúng nhị thừa ngờ là
chẳng phải phần mình, vì chẳng thể tu được. Do đó mà
chỉ hiển thị uế xứ, hóa thân.
*
-Kinh văn : “Cùng với
chúng đại Tỳ kheo gồm một vạn hai ngàn
người”.
Tán rằng : đó là Chúng
thành tựu, thành tựu thứ hai trong bảy thành
tựu.
Chúng thành tựu được giải thích bằng năm môn :
Một là tỏ rõ lai
- ý,
Hai là nêu rõ quyền thực,
-
Ba là định rõ nhiều
- ít,
Bốn là nói rõ thứ tự,
-
Năm là giải-
thích theo luận.
1. Lai ý : (dụng ý đến dự pháp hội của chúng đại Tỳ
kheo) có năm :
1.1- Để chứng tín, vì thính chúng giúp vào việc
chứng minh rằng Khánh Hỷ (tức A Nan) được nghe pháp
là đáng tin cậy. Điều ngờ của đại chúng có ba : một
là ngờ rằng đó là lời Khánh Hỷ tự nói, hai là ngờ
rằng đó là lời A Nan nghe người khác nói lại, ba là
ngờ rằng đó là do người khác thuyết. Nay tỏ rõ là
cùng được nghe và chứng nhận rằng kinh này là đáng
tin cậy. Trí Độ luận nói rằng : “nói rõ thời gian,
nơi chốn và người nghe là cốt để cho người ta tin”.
1.2- Để nêu rõ đức, như thiên Đế thích có chư thiên
vây quanh, Đại phạm thiên vương có phạm chúng vây
quanh, nay nêu rõ Pháp vương có chư thánh vây quanh.
1.3- Để khải thỉnh (Phật thuyết pháp), cách làm lợi
lạc cho chúng sinh là phải đáp ứng điều mong muốn
của họ mà thuyết pháp theo trình tự : trước nói về
nhân sau nói đến quả, Thân là thể hiện của quả, Hành
là tính chất của nhân, Thừa là điều phải học.
Trong phẩm Phương Tiện, ông Thu Tử, (tức Xá Lợi
Phất) ba lần thỉnh Phật thuyết về vấn đề Quyền Thực
của các thừa, nên đức Thế tôn đã nói rõ khiến chúng
sinh bỏ quyền cảnh mà lấy thực thừa.
Trong phẩm An Lạc Hạnh, ngài Văn Thù cố thỉnh, chính
là để nói rõ chẳng tu theo Quyền thừa mà hành theo
Thực thừa.
Trong phẩm Thọ Lượng, ngài Di Lặc ba lần thỉnh Phật
nói về vấn đề Quyền và Thực của thân, nên đã bày tỏ
phải bỏ quả quyền thừa mà cầu quả thực thừa.
Kinh nói về nhân duyên để trừ pháp mạn, nếu chẳng
nhân lời thỉnh mà thuyết pháp thì khó nảy sinh ra
cái tâm khao khát mong cầu. Cho nên hàng Thanh văn
thỉnh Phật thuyết về cảnh nhất thừa, chính là nhằm
vào căn cơ của họ để khiến tỏ ngộ. Bồ tát thỉnh Phật
nói về Hạnh và Quả nhất thừa thì việc tán thán sự
chứng (quả nhất thừa) và cái nhân (của quả nhất
thừa) cũng lợi cho họ.
1.4- Để đương cơ, người thoái tâm Bồ Đề tùy theo ba
căn khác nhau mà lĩnh ngộ, vì thế Phật phải thuyết
giảng về nhất thừa tới ba lượt.
Khi đức Thế tôn thuyết phẩm Thọ Lượng v.v… thì hàng
Bồ tát và thính chúng lĩnh ngộ tùy theo từng loại
căn cơ mà được ích lợi khác nhau. Thanh văn phàm phu
xa lìa trần cấu phát tâm Bồ Đề, bậc thánh trong hạng
này hồi hướng đại thừa. Bồ tát phàm phu (những kẻ
phàm phu trong hàng Bồ tát) đều trừ được lưới nghi,
chứng ngộ chân lý, đạt được thánh quả. Bậc thánh
trong hàng Bồ Tát chứng được Vô sinh pháp nhẫn sẽ
được Bồ đề, cho nên (Phật) vì ba loại căn cơ mà
thuyết diệu pháp này.
1.5- Để dẫn nhiếp, đương thời chúng Tỳ kheo vân tập
để dẫn nhiếp các chúng sinh khác, lúc đó khiến họ sẽ
phát tâm. Kinh trình bày đầy đủ điều trên để dẫn dắt
chúng sinh thời nay phát tâm. Nếu không có các bạn
tốt hỗ trợ thì niềm tin thanh tịnh sẽ chẳng nảy
sinh.
Phật Địa luận nói rằng : “liệt kê ra hàng Bồ tát để
giúp cho sự viên mãn, liệt kê ra các hạng thiên,
long v.v… để chỉ quyến thuộc viên mãn”. Cõi tịnh độ
còn thế huống chi là uế độ.
Năm nghĩa trên đây đều là của lai ý.
2. Nêu rõ vấn đề Quyền và Thực.
Phật Địa luận nói rằng : trong một xứ uế độ hay tịnh
độ của hóa Phật, thì Thanh văn là thực, Bồ tát là
quyền. Trong báo độ thì Bồ tát là thực, Thanh văn là
quyền. Nay ở đây có cả hóa và báo, tùy cơ ứng hiện
hai thực, hai quyền.
Đầu tiên liệt kê ra hóa Phật ở hội Linh sơn, trong
này Bồ tát là quyền. Chúng sinh nhìn thấy thế giới
cháy rả vào thời kiếp tận, nhưng thực sự thì cõi
tịnh độ của Như Lai thường xuyên an lạc, thọ lượng
của Như Lai thực là vô biên. Các chúng Thanh văn ở
cõi báo độ của báo thân chẳng phải là thực, huống
chi là Phật Đa Bảo, các Phật phân thân đều là hóa
hiện. Như vậy thì biết rõ cái lý về Báo Hóa, Quyền
Thực.
Trong luận đã nói có hạng hóa Thanh văn như ông Mãn
Từ (tức Phú Lâu Na) v.v… Ngoài ra có các hóa chúng
khác như Phật Đa Bảo, các phân thân v.v…
3. Định rõ nhiều ít.
3.1- Lúc đầu có 15 chúng :
1) Cao danh đại đức chúng,
2) Vô danh đại đức chúng,
3) Tôn trọng chư ni chúng,
4) Nội quyến chư ni chúng,
5) Thánh đức nan tư chúng,
6) Đế thích chư thiên chúng,
7) Tam quang tứ vương chúng,
8) Nhị tự tại chúng,
9) Sắc giới chư thiên chúng,
10) Long chúng,
11) Khẩn Na La chúng,
12) Càn Thát Bà vương chúng,
13) A Tu La chúng,
14) Ca Lâu La chúng,
15) Nhân vương chúng.
3.2- Lúc sau lại có thêm sáu chúng :
1) Đa Bảo,
2) Phân thân,
3) Long cung,
4) Dũng xuất,
5) Diệu Âm,
6) Phổ Hiền.
Các chúng này chia làm các bộ đôi : nghe pháp chứng
pháp, hành pháp trì pháp, thuyết pháp hộ pháp khác
nhau.
3.3- Trong này có sáu món khác :
1- Ba thừa không có Độc giác. Độc giác phần lớn xuất
hiện trong thế giới không có Phật, tuy được hưởng
giáo pháp đầy đủ, nhưng thời đó không có quả để mà
chứng, nên chẳng ở trong hội Pháp Hoa này. Trong
Kinh Nhân Vương thì có cả loại này. Văn dưới cũng
trình bày rõ là có quả Độc giác này.
2- Ba cõi không có cõi Vô sắc. Aùnh sáng Phật soi
đến kẻ có duyên thì họ có thể tới nghe pháp. Cõi đó
ánh sáng soi chẳng tới, căn cơ cũng chẳng chín, bởi
vậy chẳng tới. Kinh Nhân Vương cũng nói có cõi đó.
3- Năm nẻo không có nẻo địa ngục. Hào quang Phật tuy
soi đến, nhưng nẻo đó vô duyên nên chẳng tới.
Tới có hai nghĩa (tức đủ hai điều kiện) : một là
sáng soi, hai là có duyên. Địa ngục dù được sáng
soi, nhưng chẳng có duyên thì cũng chẳng tới. Còn
cõi Vô sắc thì đều tối, bởi vậy nên cũng chẳng tới.
Nếu hành giả tu tập nhất thừa, thân ắt ung dung; còn
chúng sinh ở địa ngục bị nỗi khổ bức bách, không có
lúc nào rảnh rỗi mà tu tập.
Kinh Đà La Ni vốn có uy lực dẹp trừ mọi nỗi khổ, nên
địa ngục cũng tới. Kinh này tiến thiện, nẻo địa ngục
ấy không được rảnh rỗi, nên chúng chẳng tới. Sở dĩ
hào quang của Phật soi tới địa ngục là để chúng sinh
ở đó, chán nơi đó thấy hào quang Phật thì phát tâm
Bồ đề nên khỏi khổ.
4- Bốn chúng không có Ưu bà tắc, Ưu bà di. Trong uy
nghi thành tựu ở dưới đều liệt kê đầy đủ. Đây là
đoạn mở đầu của kinh văn nên lược đi.
5- Tám bộ không có Dạ Xoa và Ma Hầu La Già. Dưới đều
có đủ.
6- Hai vua không có vua Chuyển Luân thánh vương, chỉ
có tiểu vương. Dưới đều có đủ.
Ba thứ không có cuối cùng này, sẽ nêu sau trong phần
nói về uy nghi thành tựu.
4. Nói rõ thứ tự.
Các chúng ban đầu chia làm bốn loại : một là Thanh
văn chúng, hai là Bồ tát chúng, ba là Bát bộ chúng,
bốn là Chư vương chúng. Hoặc xếp thứ tự từ nội hộ
đến ngoại hộ :
4.1- Trong nội hộ, thì thứ tự từ Thanh văn đến Bồ
tát. Trong Thanh văn thì thứ tự từ Tăng đến Ni.
Trong Tăng thì từ hạng hữu danh đến hạng vô danh.
Trong Ni thì từ hạng tôn trọng đến hạng quyến thuộc.
4.2- Trong ngoại hộ thì từ Bát bộ đến vua người.
Trong Bát bộ thì xếp thứ tự từ thiên đến phi thiên.
Trong chư thiên thì từ loại địa cư đến loại không
cư. Trong loại địa cư thì theo thứ tự từ vua đến
quan. Trong loại không cư thì từ hạng phi thiền chủ
đến thiền chủ.
4.3- Thứ tự các chúng sau đó thì từ :
1) Chứng pháp chúng,
2) Khai tháp chúng,
3) Kinh lợi quảng đại chúng,
4) Trì pháp vô biên chúng,
5) Tha phương hành pháp chúng,
6) Tha phương khuyến trì chúng.
4.4- Lý do xếp Thanh văn trước Bồ tát : trong các
chúng ban đầu, Thanh văn ở trước, Bồ tát ở sau, điều
này Phật Địa luận tuy có giải thích, nhưng nay có
bốn ý giải thích như sau:
1) Hình tướng khác nhau : Thanh văn xuất gia hình
giống chư Phật, Bồ tát chẳng thế.
2) Xứ có xa gần : Thanh văn gần Phật, Bồ tát xa
Phật.
3) Giới đức khác nhau : Thanh văn xuất gia trì giới
xuất gia; Bồ tát chẳng thế vì phải tùy loại mà hóa
sinh.
4) Vì muốn khiến cho Bồ tát bỏ thói kiêu mạn đối với
Thanh văn.
Song Kinh Lăng nghiêm, Kinh La Ma Già, Kinh Cự Lâu
Vương, Kinh Hòa Lưu, Kinh Đại Ngũ Trược đều xếp Bồ
tát trước, Thanh văn sau, là vì căn cứ vào đức lớn
hay nhỏ mà xếp thứ thự trước sau.
5. Giải thích theo luận.
Luận giải thích trong Chúng thành tựu có bốn món: Số
thành tựu, Hành thành tựu, Nhiếp công đức thành tựu,
Uy nghi chư pháp trụ thành tựu.
5.1- Số thành tựu :
Có nghĩa là đại chúng nhiều vô số. Nói chung thì là
vô số, nhưng luận lại nêu riêng từng hạng, nên nói
rằng có 1.200 đại Tỳ kheo chúng.
5.2- Hành thành tựu, có bốn :
- Một là các Thanh văn tu hạnh tiểu thừa dựa vào
việc khất thực v.v… mà tự nuôi sống, gọi tên là Tỳ
kheo v.v…
- Hai là Bồ tát tu hạnh đại thừa, muốn giác ngộ và
làm lợi lạc cho loài hữu tình, được gọi tên Bồ Đề
Tát Đỏa.
- Ba là Bồ tát nhờ lực thần thông tùy thời thị hiện,
nay tu hạnh đại thừa như nhóm 16 người gồm Bạt Đà Bà
La v.v… , có đủ mọi sự không thể nghĩ bàn của Bồ
tát, do bất định nên có thể thị hiện thành hình bốn
chúng chư Ưu bà tắc v.v… , nói là Bồ tát.
- Bốn là người xuất gia có uy nghi nhất định, chẳng
giống Bồ tát, do uy nghi nhất định đó nên gọi là Tỳ
kheo.
5.3- Nhiếp công đức thành tựu :
Đó là 16 câu tán thán công đức Thanh văn, 13 câu tán
thán công đức Bồ tát. Song trong bản luận chẳng nêu
riêng từng loại vì văn nghĩa đã rõ.
5.4- Uy nghi như pháp trụ thành tựu :
Tức là câu “bấy giờ Thế tôn có bốn chúng vây quanh”
v.v… nói rõ tướng bốn chúng đó nhiễu Phật, uy nghi
cung kính, nghe pháp mà trụ. Tuy việc ai nấy đều lễ
Phật cũng là uy nghi, nhưng chẳng phải là tướng nghe
pháp, nên ở đây không nói.
Trong 15 chúng gồm có ba loại
• :
a) Loại Bồ tát Thanh văn đủ bốn thành tựu.
b) Loại hữu học, vô học và Tỳ kheo ni chỉ có ba
thành tựu, vì chẳng khen đức.
c) Ngoài ra chư thiên v.v… chỉ có hai thành tựu,
không hạnh không đức.
Luận nói rằng : trong Chúng thành tựu, lý ra có bốn
thành tựu, nhưng chẳng nói mỗi thứ đều đủ cả bốn
loại. Song trong kinh thuyết minh về Chúng thành tựu
có hai đoạn :
- Đoạn đầu thuyết minh tách bạch về 15 chúng.
- Đoạn sau thuyết minh về uy nghi.
Trong đoạn đầu lại có hai : đầu tiên liệt kê ra các
chúng, sau đó nói rõ ai nấy lễ Phật rồi lui ra.
Trong 15 chúng lại chia
• làm hai : đầu tiên nói rõ nội hộ chúng, sau
đó nói rõ ngoại hộ chúng.
- Nội hộ chúng có hai : đầu tiên kể rõ Thanh văn,
sau đến Bồ tát.
- Thanh văn có hai : đầu tiên nói rõ Tỳ kheo, sau
mới kể đến ni chúng.
- Trong Tỳ kheo có hai loại : đầu tiên là loại cao
đức hữu danh, sau đó là đến loại đại đức vô danh.
- Trong loại đầu có ba :
1/- Nêu loại nêu số.
2/- Tán thán công đức.
3/- Kể tên.
Loại đầu này có hai thành tựu : một là số, hai là
hành.
Cùng với (dữ) : có
• nghĩa là gồm, gộp, cùng, với. Ngài Long Thụ
giải thích rằng : cùng một xứ, một thời, một tâm,
một giới, một kiến giải, một đạo giải thoát như nhau
thì gọi là “cùng” (cộng).
Đại Tỳ kheo : Trí Độ luận nói rằng : có ba nghĩa
• để giải thích chữ đại : tối đại trong các
chúng, đại chướng ngại đoạn, đại nhân cung kính.
Ngài Chân Đế có ba cách giải thích :
1) Thắng đại : là loại ưu thắng trong số hữu học và
vô học.
2) Thể đại : công đức trí tuệ cực cao rộng.
3) Số đại : một vạn hai ngàn người nay gồm có sáu:
1/- Số đại.
2/- Ly đại, vì đoạn được đại chướng ngại.
3/- Vị đại, vì là A la hán.
4/- Đức đại, vì như kinh đã nói.
5/- Danh đại, vì danh tiếng vang xa.
6/- Thức đại, vì là tri thức của đại nhân,
đại chúng.
Tiếng Phạm là Bật Sô, phương này phiên âm là Tỳ
kheo, vì có đủ năm nghĩa, bởi vậy chẳng dịch thành
tiếng Hán :
1) Bố ma (khiến ma phải sợ), vì lúc mới xuất gia đã
khiến cung ma chấn động.
2) Khất sĩ, vì sau khi xuất gia rồi thì khất thực
tự sống.
3) Trì tịnh giới, vì dần dần gia nhập Tăng số, phải
trì giới.
4) Tịnh mệnh, vì đã thụ được giới rồi thì ba nghiệp
khởi lên đều xuất phát từ không tham, chẳng dựa vào
tham lam gian tà mà nuôi mạng sống.
5) Phá ác, vì y vào đạo thánh dần dần diệt được
phiền não.
Chúng : tức là Tăng
• vậy.
Lý và Sự hai thứ ấy hòa hợp với nhau thì gọi là
Chúng. Ba người trở lên thì gọi là Tăng.
*
-Kinh văn : “...Đều là A la hán” tới
“...tâm được tự tại”.
Tán rằng : đoạn này tán thán công đức kinh có sáu
câu, trong bản mới dịch và bản luận cũ có 16 câu
rằng : “...Đều là A la hán các lậu đã hết, không còn
phiền não, được chân tự tại”.
Luận rằng : “tâm được tự tại, tâm khéo giải thoát,
tuệ khéo giải thoát”. Luận nói rằng: “khéo được tâm
tuệ giải thoát như ngựa điều tuệ”.
Luận rằng : “tâm khéo điều phục cũng như rồng lớn đã
làm việc phải làm, đã lo việc phải lo, vứt các gánh
nặng, đạt được lợi mình, hết chư hữu kết, chánh trí
giải thoát”. Luận rằng : “khéo được chánh trí giải
thoát” tới “tâm tự tại” là đệ nhất cứu cánh.
Luận có ba cách giải thích :
- Một là Thượng thượng khởi môn.
- Hai là Tổng biệt tướng môn.
- Ba là Nhiếp thủ sự môn.
1. Thượng thượng khởi môn :
Có nghĩa là do câu trên nên câu dưới mới được khởi;
Hoặc do câu dưới, câu trên mới khởi; Sự khởi ấy
chẳng phải là duy nhất nên gọi là Thượng thượng
khởi.
Luận dùng câu thứ hai để giải thích câu thứ nhất,
nói : “các lậu đã hết, nên gọi là A la hán”, tức là
Luận nói rằng: “phải vĩnh viễn trừ được giặc phiền
não rồi, nên mới gọi là A la hán”.
Luận dùng năm môn để phân biệt “Lậu” :
1.1) Giải thích tên gọi chung.
Các luận đều nói rằng phiền não hiện hành khiến tâm
liên tục rò rỉ tán loạn chẳng dứt thì gọi là lậu,
như chậu rò, nhà dột, rất đáng chán ghét, chỗ hư
hỏng hoen ố rộng, bị lỗi lầm chê trách, nên gọi tên
là Lậu. Đây là chỉ phiền não hiện hành, vì không còn
phiền não nữa đó mới là chủng tử, nên căn cứ vào
thực tế mà gọi tên chung như vậy.
1.2) Liệt kê tên gọi các loại lậu.
Lậu có ba loại : một là dục lậu, hai là hữu lậu, ba
là vô minh lậu.
1.3) Xuất thể (nói rõ thể của lậu).
Dục giới, Kiến đạo có 40 phiền não, vì Tứ đế, mỗi đế
đều đủ 10 phiền não, cộng với sáu của Tu đạo là
tham, sân, mạn, vô minh, biên kiến, thân kiến. Trong
đó trừ đi 5 vô minh (lậu), còn lại là 41 căn bản
phiền não, gộp với 20 tùy hoặc, gồm phẫn, hận v.v...
đều gọi là dục lậu.
Sắc giới, Vô sắc giới vì không có sân, nên mỗi giới
có 41, trong đó mỗi giới trừ đi 5 si, gộp lại là
72 căn bản phiền não, cộng với xiểm, cuống (nói dối)
của Sắc giới và kiêu của cả hai giới, thêm với 4
tiểu tùy hoặc, 16 đại tùy phiền não ở đấy, thì gọi
là hữu lậu.
1.4) Ly hợp phế lập (chỉ việc tách, gộp, đặt bỏ tên
gọi các lậu).
Cõi Dục giới chỉ là Tán địa, chỉ là Hữu lậu địa, là
thông Ngũ thú địa, Cụ tứ sinh địa, là Bất thiện hữu
phú vô ký nhị tính hoặc địa, bởi vậy lập riêng là
một dục lậu.
Các cõi trên đều định, thông Vô lậu địa. Phiền não ở
một nẽo, một đời, một tính, do đó lập gộp lại thành
một hữu lậu.
Vô minh lực tăng thông suốt cả hai loại tương ưng và
bất cộng, là chỗ dựa của hai loại trên, vì có đủ 11
sự hơn hẳn, nên tách ra khỏi các hoặc mà đặt thành
vô minh lậu.
1.5) Rõ được lý do đặt tên các lậu.
Tuy biết rằng hết thảy mọi phiền não của ba cõi lẽ
ra đều được gọi là hữu lậu. Lậu ở tam hữu (chỉ sự
luân hồi sinh tử trong tam giới) vì là lậu của hữu
(chỉ sự sinh tử), nên phiền não ở cõi dưới phần
nhiều duyên theo dục mà khởi lên, bởi thế căn cứ
theo tính trội này mà gọi tên là dục lậu.
Các hoặc ở cõi trên không có tính trội gì khác, nên
chỉ căn cứ vào bản danh mà gọi là hữu lậu.
Vô minh không lấy pháp khác mà đặt tên, muốn nêu rõ
hành tướng của tự thân nó, nên gọi là vô minh lậu.
Lậu này chẳng phải chỉ có một, nên gọi là chư lậu
(các lậu) .
Song theo sách Du Già thì có cách giải thích khác,
vì văn rườm nên tạm dừng.
- Lấy câu thứ 4 giải thích câu thứ 2, nói rằng :
“chứng đắc chân tự tại, nên gọi là các lậu đã hết.
Do chứng được chân vô vi, lậu hết, được tự tại nên
gọi là các lậu hết”.
Lấy câu thứ 2, thứ 3 giải thích câu thứ 4, nói rằng
: “vì hết, không còn phiền não nữa, nên gọi là đắc
chân tự tại”.
Hết có nghĩa là các lậu đã hết. Không có phiền não
có nghĩa là không còn phiền não nữa. Vì không có
hiện chủng hoặc, nên đắc chân tự tại.
Cũng có bản nói là : “vì không có phiền não nên gọi
là đắc chân tự tại” và không có chữ hết (tận). Chỉ
dùng câu thứ 3 để giải thích câu thứ 4.
Thêm nữa còn dùng câu thứ 5, thứ 6 để giải thích câu
thứ 4 rằng : “vì khéo được tâm giải thoát, khéo được
tuệ giải thoát nên gọi là được chân tự tại”. Vì lìa
được Định chướng, nên gọi là tâm giải thoát. Vì lìa
được Tính chướng, nên gọi là tuệ giải thoát.
Thêm nữa, lìa được vô minh, tham ái v.v... thì gọi
là tuệ giải thoát. Vì tâm tương ưng kia lìa được
phược, nên gọi là tâm giải thoát. Do lìa được hai
thứ đó, chứng được vô vi, nên được chân tự tại.
- Lấy câu thứ 2 giải thích câu thứ 3 rằng : “vì xa
lìa năng kiến và sở kiến, nên gọi là không còn phiền
não”. Chỉ lấy chủng tử làm thể của phiền não, xa
được cái năng kiến, có nghĩa là lìa được tương ưng
phược. Lìa được cái sở kiến tức là lìa được sở duyên
phược. Vì lìa được hai phược của các lậu hiện hành,
nên gọi là không còn phiền não.
Hoặc còn giải thích đơn thuần rằng : “năng kiến đó
là tâm chấp ngã, sở kiến là sở chấp ngã. Do không có
cái tâm năng chấp ngã kiến, cho nên cái tướng sở
chấp ngã đương nhiên cũng chẳng xuất hiện, đó gọi là
lìa nhị kiến”. Hết các lậu nói trên thì gọi chung là
vô phiền não. Vô phiền não đây là không còn ngã
kiến, vì ngã kiến là nguồn gốc sinh ra các lậu, cho
nên cũng chẳng trái nhau.
- Lấy các câu thứ 5, thứ 6 giải thích cho câu thứ 7
thì nói rằng : “vì khéo được tâm tuệ giải thoát nên
gọi là tâm khéo điều phục, nên như con ngựa hay,
tính nó điều thuận”.
- Lấy hai câu thứ 9, thứ 10 giải thích cho câu thứ
8, nói rằng : “cũng như rồng lớn, đi trên các đường
dữ mà như trên đường bằng phẳng không hề vướng mắc,
đường cần phải đi thì cứ đi, nơi cần phải đến thì đã
đến”. Cho nên kinh mới (dịch) nói rằng : “đã làm
việc phải làm, đã lo (liệu) việc phải lo, cho nên
giống như rồng lớn”. Do đã làm Đạo đế, đã đầy đủ
Diệt đế, bởi vậy như rồng. Như rồng (có) uy đức tuy
dạo nơi sinh tử hiểm trở cũng như đi trên đường bằng
phẳng không hề có vướng mắc khó khăn gì, được tự tại
trong sinh tử, vì nhân quả sinh tử đều đã hết, Diệt
(đế), Đạo (đế) đều đã viên mãn.
Luận giải thích riêng câu thứ 9 như sau : “việc cần
làm thì đã làm, rồng lớn trong loài người đã đối
trị, hàng phục được kẻ thù địch là phiền não, vì Đạo
đế viên mãn, nên có thể hàng phục được kẻ thù địch
là Tập đế phiền não”.
Luận giải thích riêng câu thứ 10 nói : “việc cần làm
đã lo liệu xong có nghĩa là chẳng còn tái sinh nữa,
vì như sự tương ưng đã làm xong, Khổ đế đã hết, Diệt
đế đã mãn”.
- Lấy câu 9, câu 10 giải thích câu 11, nói : “lìa
các gánh nặng có nghĩa là đã làm các việc cần làm,
đã lo xong các việc phải lo, vì gánh nặng của lần
sinh sau đã lìa bỏ”. Do Diệt, Đạo viên mãn đã bỏ các
pháp sinh tử của hậu thân, đó gọi là vứt gánh nặng.
- Lấy câu 11 giải thích câu 12 nói : “đạt được lợi
mình có nghĩa là vì vứt bỏ gánh nặng, chứng được
Niết Bàn, thì coi Niết Bàn là lợi mình”.
- Lấy câu 12 giải thích câu 13 nói : “hết được chư
hữu kết có nghĩa là đã đạt được lợi ích của mình, vì
đoạn trừ được cái nhân của các phiền não. Phiền não
là nhân của sinh tử, nên gọi là hữu kết, đó là kết
của tam hữu”. Vì đã đạt được lợi ích của mình là
Niết bàn, bởi vậy có thể hết được kết của tam hữu.
Nhân của sinh tử có thể hòa hợp, khổ có thể kết, nên
gọi là kết. Kết này có chín loại: ái kết, huệ kết,
mạn kết, vô minh kết, nghi kết, kiến kết, thủ kết,
tật kết, xan kết. Do chín loại này thường xuyên xuất
hiện, tổn não Tự, Tha, gây nên các nỗi khổ, nên lập
riêng thêm mà gọi là kết.
- Lấy câu 2 giải thích câu 14, nói rằng : “chánh trí
giải thoát có nghĩa là vì các lậu đã hết. Vì các lậu
hết, nên chánh trí có thể chứng được vô vi giải
thoát gọi là Trí giải thoát”.
- Giải thích riêng câu 15 nói : “đạt đến tâm tự tại
có nghĩa là thiện xảo trí vượt qua Kiến đạo, Tu
đạo”. Vì trụ ở Kiến đạo Tu đạo, thì tâm vẫn chưa tự
tại, vẫn còn có hoặc. Do thành được các câu trên,
nên tới địa vị Vô học đạo mọi hoặc đều hết, tâm được
tự tại.
- Lấy câu 14 giải thích câu 16 nói : “đệ nhất cứu
cánh có nghĩa là vì khéo được chánh trí tâm giải
thoát, khéo được các công đức như thần thông, Vô
Tránh tam muội v.v... nên trở thành bậc Thanh văn
đáo bỉ ngạn (sang tới bờ bên kia – chỉ sự giác ngộ,
giải thoát).
Căn cứ vào luận văn trên thì chỉ có ba câu lấy dưới
giải thích trên, gọi là Thượng khởi, đó là lấy câu 2
giải thích câu 1, lấy câu 4 giải thích câu 2, lấy
câu 9 câu 10 giải thích câu 8. Ở đây lấy sở khởi gọi
là khởi. Thượng tức khởi thì gọi là Thượng khởi. Nếu
năng khởi gọi là khởi, thì khởi của câu thượng gọi
là Thượng khởi. Loại này chẳng phải chỉ một thì gọi
là Thượng thượng khởi.
Theo luận thì có bảy câu lấy câu trên giải thích câu
dưới gọi là Thượng khởi, đó là :
Lấy câu 2 giải thích câu 3,
Lấy câu 5 câu 6 giải thích câu 7,
Lấy câu 9 câu 10 giải thích câu 11,
Lấy câu 11 giải thích câu 12,
Lấy câu 12 giải thích câu 13,
Lấy câu 3 giải thích câu 14,
Lấy câu 14 giải thích câu 16.
Ở đây lấy năng khởi gọi là khởi, câu “Thượng tức là
khởi” thì gọi tên là Thượng khởi. Nếu lấy sở khởi
gọi là khởi, thì câu trên gọi là Thượng khởi, loại
này chẳng phải chỉ một thì gọi là Thượng thượng
khởi.
Theo luận thì chỉ có ba câu được giải thích đơn độc,
đó là các câu 9, 10, 15. Hoặc câu 3 cũng là câu được
giải thích đơn độc. Có hai câu không giải thích đó
là các câu 5, 6. Có một câu lấy trên giải thích
dưới, cũng lấy dưới giải thích trên, đó là câu 4.
Tổng thuyết tụng rằng :
“ Dưới giải trên có ba.
Trên giải dưới có bảy.
Ba đơn, hai chẳng giải
Một thông suốt trên dưới.”
Hoặc :
“ Trên giải dưới có sáu,
Bốn đơn, hai chẳng giải.”
Nay theo kinh văn này, trong 16 câu, chỉ tóm lại có
6 câu :
- Lấy dưới giải trên có một câu, đó là lấy câu “các
lậu đã hết” để giải thích câu trên “đều là A la
hán”.
- Lấy trên giải dưới có hai câu, đó là lấy câu “các
lậu đã hết” để giải thích câu “không còn phiền não”,
lại lấy câu “đạt được lợi ích của mình” để giải
thích câu “hết chư hữu kết”. Còn các câu khác có
nghĩa hoàn chỉnh, nên lấy ngay câu đó mà tự giải
thích.
Lậu : như trên đã giải
• thích, chỉ kể hết thảy phiền não hiện hành.
Các lậu này đã hết, thì
• gọi là A la hán : tức là nên lấy cái nghĩa
“vĩnh viễn diệt trừ được giặc phiền não” mà giải
nghĩa từ A la hán. Cho nên nhập Thập địa, được gọi
là A la hán.
Luận nói rằng : xa lìa năng
: Không còn phiền não
• kiến, sở kiến nên gọi là không còn phiền
não. Phiền não chủng tử được gọi tên là phiền não.
Đây có thể do vị đó đã lìa được cả hai thứ phược :
Sở duyên tương ưng hiện hành, các lậu đều hết, không
còn có phiền não chủng tử để mà có thể đoạn trừ nữa,
cho nên gọi là xa lìa năng kiến, sở kiến. Hoặc tổng
lậu hết, biệt chấp cũng diệt, nên xa lìa nhị kiến và
gọi là không còn phiền não.
Còn nữa (Phục) : có nghĩa là lặp lại (Trùng).
• Chủng tử đoạn, nên không còn sinh ra nữa.
Do đoạn trừ được pháp sinh tử lưu chuyển, nên gọi là
vứt gánh nặng, cho nên có thể đạt được lợi ích của
mình là chứng Niết bàn.
* Chữ đãi đọc âm đãi, giải thích đúng bản âm, nghĩa
như chữ chí [
至
], chữ cập [
及
].(có nghĩa là tới, đạt tới).
Do đạt được lợi ích của mình là chứng Hữu dư Niết
bàn, nên có thể vĩnh viễn tận trừ được cái nhân của
ba cõi, tức cửu kết phiền não.
Do lậu đã hết như nói ở trên, mà có bốn câu dưới đây
: “bậc A la hán đó khéo vượt Kiến đạo, Tu đạo trí,
nên tâm được tự tại. Lìa Tính sự chướng, tám giải
thoát mãn, cũng được gọi là tâm được tự tại”. Lời
văn này đã thiếu sót nên chẳng thể lần lượt theo
luận mà giải thích. Nhưng nói chung có thể lấy đại ý
của luận mà giải thích kinh văn. Các bậc trí giả nên
tự mình xem xét cho kỹ.
2. Tổng biệt tướng môn.
Chỉ câu “đều là A la hán” là Tổng tướng môn. Còn lại
là 15 câu khác là Biệt tướng môn.
A la hán : tên chung có
• nghĩa là Ứng.
Ứng có 15 nghĩa, đó là từ câu “các lậu đã hết” trở
xuống :
1) Ứng thụ các thứ cung kính cúng dàng, như đồ ăn
thức uống v.v... tức là các lậu đã hết, đáng làm
ruộng phúc.
2) Ứng cúng đại chúng, giáo hóa hết thảy, vì không
còn phiền não, lìa hẳn lợi danh.
3) Ứng nhập tụ lạc thành ấp v.v... vì chứng đắc chân
tự tại, chẳng bị dục cảnh lôi kéo, mê hoặc.
4) Ứng hàng phục ngoại đạo v.v... vì tâm khéo giải
thoát, đầy đủ trí tuệ biện tài.
5) Ứng với việc dùng trí tuệ quan sát pháp một cách
mau chóng, vì tuệ khéo giải thoát, hiểu rõ các pháp.
6) Ứng với việc thuyết pháp chẳng chậm chẳng nhanh,
vì như pháp tương ưng chẳng sinh mỏi mệt, như ngựa
Điều tuệ khéo xứng tâm vậy.
7) Ứng với việc tĩnh tọa ở chỗ thanh nhàn, các thứ
giúp cho cuộc sống như đồ ăn thức uống, quần áo
trang phục v.v... thảy đều chẳng hề tích tụ, ít muốn
biết đủ, vì giống như rồng lớn lìa chỗ nhốn nháo.
8) Ứng với việc một mực tu hành thiện hạnh, chẳng
chấp trước các thứ thiền, việc cần làm đã làm,
thường xuyên tinh tiến tu tập.
9) Ứng hành Không thánh hạnh, vì đã lo liệu việc
phải lo liệu, chẳng còn có ngã, ngã sở.
10) Ứng hành Vô tướng thánh hạnh, vì đã vứt các gánh
nặng, quán được Diệt lý.
11) Ứng hành Vô nguyện thánh hạnh, vì đã đạt được
lợi ích của mình, chẳng nguyện sinh tử.
12) Ứng với việc hàng phục thiền định thế gian, tịnh
tâm chẳng sinh chấp trước vào thiền vị của nhị giới
(chỉ Dục giới và Sắc giới) vì các hữu kết đều đã
hết, thậm chí chẳng sinh ái vị đối với thiền định
của nhị giới.
13) Ứng với việc khởi Chư thông thù thắng công đức,
chánh trí giải thoát, vì giải thoát tức là thần
thông.
14) Ứng với việc đạt tới đệ nhất nghĩa công đức, vì
đạt tới mức tâm tự tại, chứng được vô vi.
15) Ứng như thực tri, cùng chúng sinh được các công
đức, vì đó là đệ nhất cứu cánh để làm lợi ích cho
hết thảy chúng sinh, vì Ba la mật đa Thanh văn rộng
độ chúng sinh khiến cùng lợi mình, được các công
đức.
Câu thứ 8 tu hành không ngừng, câu thứ 12 đối với
thiền chẳng chấp trước, đó là hai món Biệt ý. Sợ
chán văn rườm rà, nên chỉ phối hợp các câu với nhau
mà giải thích một cách sơ lược. Ý nghĩa trong đó, cứ
theo sự giải thích có thể biết rõ.
Ứng thuyết tụng rằng :
Thụ, Tương, Nhập, Hàng, Dĩ.
Trung, Tĩnh, Hành thiện hạnh.
Không, Vô tướng, Vô nguyện.
Phục, Khởi, Đáo, Thực tri.
Sáu câu trong kinh chỉ có câu thứ 1 trong 15 câu
trên đây là chỉ việc ứng thụ diệu cúng. Câu thứ 2
ứng tương đại chúng giáo hoá. Câu thứ 11 ứng hành vô
nguyện thánh hạnh. Câu thứ 12 ứng hàng phục thế gian
thiền tịnh tâm. Câu thứ 14 ứng đáo đệ nhất nghĩa,
lần lượt phối hợp với năm câu dưới vì câu đầu “A la
hán” là câu chung (Tổng cú).
3. Nhiếp thủ sự môn
Dùng 15 câu mà nhiếp thủ 10 loại Sự công đức để thị
hiện quả Khả thuyết và quả Bất khả thuyết. Trong này
ý nói : trong 15 câu nhiếp 10 loại Sự công đức để
nói rõ quả mà A la hán chứng được có quả hữu vi Khả
thuyết và quả vô vi Bất khả thuyết ; Quả trước là
quả thô, hữu tướng ; Quả sau là quả tế, vô tướng,
hai quả khác nhau.
Dưới đây là 10 Sự công đức tùy ứng mà phối hợp:
1) Nhiếp thủ đắc công đức, có hai câu. Đó là các câu
“các lậu đã hết, không còn phiền não”. Nếu hai hoặc
là Triền và Tùy miên còn tồn tại, thì chẳng thể
nhiếp thủ công đức. Vì hai hoặc trên tiêu vong, nên
mới có thể nhiếp thủ công được công đức.
2) Nhiếp thủ chư công đức, có ba câu. Đó là các câu:
“được chân tự tại, tâm khéo giải thoát, tuệ khéo
giải thoát”. Trong ba câu này, câu “được chân tự
tại” chỉ công đức hàng phục thế gian. Tâm của thế
gian chẳng được tự tại, bị nhiều thứ hoặc quấy
nhiễu. Do được chân tự tại nên trừ hẳn được các hoặc
khỏi bị quấy nhiễu. Hai câu “tâm khéo giải thoát,
tuệ khéo giải thoát” chỉ công đức hàng phục học nhân
xuất thế gian, vì học nhân chưa lìa được hai phược.
3) Nhiếp thủ bất vi công đức, có một câu “tâm khéo
điều phục”. Vì tùy thuận giáo hạnh của Như Lai giống
như lương mã luôn phục tùng theo ý người.
4) Nhiếp thủ thắng công đức, có một câu “cũng như
rồng lớn” có uy linh lớn, thần lực viên mãn nên
giống như rồng.
5) Nhiếp thủ sở ưng tác thắng công đức, có một câu.
Đó là câu “phải làm việc cần làm”. Vì việc cần phải
làm là theo đúng phép mà cúng dàng, cung kính, tôn
trọng Như Lai. Chẳng phải là Tài cúng dàng gọi là
việc cần phải làm, mà chính hành pháp cúng dàng đó
mới là việc phải làm. Các vị đó đều đã làm Đạo đế
pháp hạnh này cúng dàng Phật.
6) Nhiếp thủ mãn túc công đức, có một câu. Đó là câu
“đã lo liệu xong việc phải lo liệu”, vì đã đầy đủ
học địa. Học địa đầy đủ cả rồi nên đắc đạo đế viên
mãn.
7) Nhiếp thủ quá công đức, có ba câu. Đó là các câu
“vứt các gánh nặng, đạt được lợi mình, hết các hữu
kết”. Vì câu đầu chỉ rõ đã vượt qua được ái, vì gánh
nặng sinh tử không gì nặng hơn là tham ái, nay đã
vượt được. Câu sau ý nói đã vượt qua được sự cầu
mệnh cúng dàng cung kính. Các sự cầu cúng dàng cung
kính đều để giúp cho mệnh. Nay đã được lợi mình, đã
chứng Niết bàn, đã vượt qua thói vì tà mệnh mà cầu
lợi dưỡng. Câu sau ý nói đã vượt qua được thượng hạ
giới, vì đã vượt quá học địa.
Hữu kết : chỉ cửu kết. Nay đã vượt qua địa vị hạng
hữu học, vượt qua thượng hạ giới, nên hết các hữu
kết.
8) Nhiếp thủ thượng thượng công đức , có một câu. Đó
là câu “chánh trí giải thoát”. Giải thoát là quả vô
vi, vì là bậc tối thượng thượng trong các đức.
9) Nhiếp thủ ưng tác lợi ích chúng sinh công đức, có
một câu. Đó là câu “đạt tới tâm tự tại”. Do đắc thần
thông nên tâm được tự tại. Và tự nội tâm lìa hệ
phược, nên nhiếp thủ được lợi ích hành.
10) Nhiếp thủ thượng thủ công đức, có một câu. Đó là
câu “đệ nhất cứu cánh”. Ý nói Ba la mật đa Thanh văn
có thể đến được bờ bên kia, hơn hẳn các hạng độn căn
khác.
Ứng thuyết tụng rằng :
Một, hai là Nhiếp thủ.
Thứ ba Nhiếp chư đức.
Lần lượt nghĩa bốn câu.
Thuận, Thắng, Tác, Mãn túc.
Ba câu là Nhiếp quá.
Quá ái, Mệnh, Nhị giới.
Thượng thượng, Lợi, Thượng thủ.
Đều gọi là Nhiếp đức.
Sáu câu kinh này (kinh văn) trong nhiếp thủ mười
đức, chỉ nhiếp ba đức :
Một là Nhiếp thủ công-
đức, có hai câu. Đó là các câu “các lậu đã hết,
không còn phiền não”.
Hai là nhiếp thủ quá công đức, có hai câu. Đó là-
“đạt được lợi mình, hết các hữu kết”. Vượt qua được
cầu tà mệnh và vượt qua được tà nhị giới.
Ba là Nhiếp thủ ứng tác lợi ích chúng sinh công-
đức, có một câu. Đó là câu “đạt tới tâm tự tại”.
A la hán là tổng, bởi vậy chẳng nhiếp thủ, chỉ có 15
câu dưới nhiếp công đức.
Trong Thành
a Duy Thức, A la hán có ba điều kiện :
Phải trừ được hẳn giặc-
phiền não.
Phải được thụ diệu cúng dàng của thế-
gian.
Phải vĩnh viễn không còn thụ phân đoạn sinh-
nữa.
Thượng thượng khởi môn : nhiếp ứng vĩnh hại tặc,
• vô phân đoạn sinh.
Tổng biệt tướng môn : nhiếp ứng thụ diệu
• cúng.
Nhiếp thủ sự môn : chẳng phải ba nhiếp đó. Ba thứ
• đó chỉ ước định theo nghĩa quyết định mà
thuyết, vì hết thảy A la hán đều chẳng quá ba thứ
đó. Vì Nhiếp thủ sự môn chỉ hạng đều đã giải thoát,
tới bờ bên kia mới thành được.
Thêm nữa, Thượng thượng khởi môn trừ hẳn phiền não.
Tổng biệt tướng môn kham thụ diệu cúng. Nhiếp thủ sự
môn vô phân đoạn sinh tử. Tông nghĩa hợp với các
điều ấy, chẳng phải lý quy định như vậy.
Kinh mới dịch nói “trừ một mình A Nan Đà ở học địa”,
trong này lượt bớt.
*
-Kinh văn : “Tên các vị đó là” tới “Na
Đề Ca Diếp”.
Tán rằng : dưới đây, giải thích theo điều thứ 3 :
Định rõ nhiều ít. (đã nói ở trước) Liệt kê tên
họ có hai thứ :
Đầu tiên kể tên từng người.-
Sau đó kết-
luận danh cao.
Trong 21 người này, hoặc căn cứ vào việc xuất gia
trước hay sau mà sắp xếp thứ tự.
Kinh Báo Ân nói rằng : “thoạt đầu độ cho 5 người,
sau đó độ cho Da Xá và môn đồ 50 người, sau đó độc
cho Ưu Lâu Tần Loa và môn đồ 500 người, sau đó độ
cho Già Da và môn đồ 300 người, sau đó độ cho Na Đề
và môn nhân 200 người, sau đó độ cho Thu Tử và môn
nhân 100 người, sau đó độ cho Mục Liên và môn nhân
100 người. Tổng cộng lại là 1.250 người”.
Hoặc xếp thứ tự theo hạnh đức từ lớn tới nhỏ. Như Ca
Diếp ở hàng thứ hai, Thu Tử ở hàng trên Ca Chiên
Diên v.v… tùy theo sự thích ứng, chẳng nhất định.
Kinh Vô Cấu Xưng, phẩm Đệ Tử sắp xếp thứ tự theo đức
biện, vì sai thăm người ốm phải nhờ ở tài trí biện
mới biết đối đáp.
Kinh Thập Nhị Do : “lúc mới thành đạo, năm thứ 2 độ
cho năm vị Tỳ kheo, năm thứ 3 độ cho ba anh em Ca
Diếp, năm thứ 5 độ cho Mục Liên”. Vì cơ nghi khác
nhau, các bộ kết tập kinh tụng khác nhau.
A Nhã Kiều Trần Như :
•
Kinh Vô Lượng Thọ nói : “bậc liễu bản tế tức là A
Nhã Kiều Trần Như”.
Tiếng Phạm gọi là A Nhã Đa Kiều Trần Na. Kiều Trần :
là một họ thuộc dòng Bà la môn; Na : là tiếng chỉ
nam giới. A Nhã Đa : có nghĩa là Giải, có tên như
vậy là vì người đầu tiên ngộ giải.
Trong Kinh Nhân Quả nói rõ là đã độ cho bốn người
gồm A Nhã Đa Kiều Trần Na, Ưu Lâu Tần Loa, Già Da và
Na Đề. Bởi vậy lúc đầu sau khi Thái tử vượt thành,
vua cha đã sai nội ngoại thân tộc gồm năm người đi
bảo vệ Thái tử. Năm người tranh cãi với nhau về tu
khổ lạc hạnh, cho đó là đạo chân chính. Thái tử răn
bảo họ và chọn tu khổ lạc hạnh theo cách tu của
ngoại đạo, còn hơn cả việc tu hành của bọn họ, nhưng
thấy đều chẳng phải là thuật đúng đắn bèn bỏ, rồi ăn
cháo sữa, nhận cỏ Cát tường và thành đạo dưới gốc
cây Bồ đề.
Sau đó ngài tới Lộc viên độ cho năm người đó. Lúc
mới bắt đầu chuyển pháp luân, Phật hỏi hiểu chưa?
Trong năm người thì Trần Na là người đầu tiên đáp là
tôi nay đã hiểu, Tịnh cư thiên v.v… cũng đáp là đã
hiểu, vì vậy mà lấy đó làm tên, gọi là Giải. Họ Kiều
Trần đông người, lấy Giải để nêu danh. Na là tiếng
chỉ nam giới để phân biệt với nữ, cho nên thêm Na
vào sau họ. Kinh Đại Bát Nhã gọi là Giải Kiều Trần
Na.
Ma Ha Ca Diếp Ba
• :
Tiếng Phạm : Ma Ha Ca Diếp Ba. Ma Ha có nghĩa là
đại, là lớn. Ca Diếp Ba là họ. Ở phương đây dịch là
Ẩm Quang (uống ánh sáng), là một họ Bà la môn. Thời
thượng cổ có vị tiên trên thân có ánh sáng che
khuất, uống mất cả ánh sáng mặt trời mặt trăng, Ca
Diếp chính là dòng giống của vị đó. Ca Diếp trên
mình cũng có ánh sáng có thể uống mất ánh trời, ánh
trăng. Vì lấy họ làm tên nên gọi tên là Ẩm Quang, là
con vị trưởng giả rất giàu có, đã bỏ cả gia tài và
dòng họ lớn mà đi xuất gia, tu được hạnh lớn là hạnh
ít muốn biết đủ. Là hạnh diệt được thói đa dục, được
các bậc đại nhân biết tiếng, nên nêu danh Đại, để
phân biệt với các Ca Diếp khác.
Kinh Nhân Quả quyển ba và Di Lặc sớ đều nói rõ hai
nguyên nhân của họ trên.
Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp
• :
Thứ đến ba vị Ca Diếp đều thuộc dòng Ẩm Quang, là ba
anh em trai.
Tiếng Phạm : Ô Lô Tần Loa, phương này phiên là Ưu
Lâu Tần Loa, là sai. Ở đây gọi là Mộc Qua (quả đu
đủ), gọi tên như vậy vì trước ngực vị này gồ lên
giống như hình quả mộc qua. Thêm nữa, rồng trong ao
cũng gọi tên là mộc qua, theo đó mà gọi, nên lấy đó
làm tên.
Già Da Ca
• Diếp :
Già Da là tên núi, tức Tượng Đầu sơn (núi đầu voi),
cũng là tên thành. Vì thành gần núi đó nên gọi là
thành Già Da.
Na Đề Ca Diếp :
•
Tiếng Phạm : Nại Địa Ca, phiên là Na Đề là sai. Đó
là tên sông.
Kinh Chính Pháp Hoa nói rằng : đó là thượng thời,
tượng, giang. Ba vị Ca Diếp vậy.
Song Kinh Nhân Quả nói rằng : ba người này đều tu
đạo ở bên sông. Đức Phật đã dùng phép thần thông hóa
độ cho họ nhập pháp. Người anh cả có chỗ gồ trên
ngực giống như mộc qua, nên lấy đó làm tên, hoặc đặt
tên theo ý nghĩa rồng ao. Người thứ hai đặt tên theo
núi. Người thứ ba đặt tên theo sông.
*
-Kinh văn : “Xá Lợi Phất” tới “Kiếp Tân
Na”.
Tán rằng :
Xá Lợi Phất :
•
Tiếng Phạm là Xá Lợi Phất Đát La, gọi là Xá Lợi Phất
là phiên dịch sai. Xá Lợi nghĩa là chim Thu, tức là
chim Bách thiệt (trăm lưỡi), còn gọi là Xuân anh.
Phất Đát La có nghĩa là con, vì mẹ ngài có tài nói
năng bẻo lẻo, nên ví như chim Thu. Ngài là con của
vị đó.
Lại còn nói rằng : thân quá khứ của ngài là thợ nề,
gặp Phật Thích Ca, ngài phát nguyện nguyện làm đệ tử
đức Thích Ca, như vậy thì chẳng những là nguyện vọng
ngày nay mà cũng là phù hợp với nguyện xưa, nên còn
có tên là Ưu Ba Đề Xá, vì giỏi nghị luận nên được
kiêm cả tên đó.
• Đại Mục Kiền Liên :
Tiếng Phạm : Ma Ha Một Đặc Gia La. Phiên âm là Đại
Mục Kiền Liên, đó là phiên sai. Ở đây (chỉ Trung
Quốc) dịch nghĩa là Đại Thái Thúc Thị (thái thúc :
có nghĩa là hái đậu). Thời thượng cổ có vị tiên ở
nơi núi non thanh vắng thường hái đậu xanh mà ăn,
nhân đó mà đặt làm họ. Mẹ của Mục Kiền Liên Tôn giả
thuộc họ này. Lấy họ mẹ làm tên, lại chứng đắc đại
thần thông, cho nên gọi là Đại Thái Thúc Thị để phân
biệt với những người khác trong họ này.
Nếu gọi theo cha thì tên là Câu Lợi Ca, còn gọi là
Câu Địch Đa; trước đây gọi là Câu Luật Đà đó là gọi
sai.
Kinh Đại Bát Nhã gọi tên hai vị này là Xá Lợi Tử,
Đại Thái Thúc Thị. Nhân duyên hai người này như
trong Di Lặc sớ có dẫn.
Ma Ha Ca Chiên Diên :
•
Tiếng Phạm : Ma Ha Ca Đa Diễn Na. Phiên âm là Ca
Chiên Diên cũng sai. Kinh Đại Bát Nhã gọi là Đại Ca
Đa Diễn Na. Ở phương đây gọi là Đại Tiễn Thế Chủng
Nam.
Tiễn Thế Chủng là một họ thuộc dòng Bà la môn. Thời
thượng cổ có nhiều vị tiên ở tại các nơi tĩnh mịch
trong núi, vì lâu năm nên râu tóc rất dài không có
ai cắt cho, vì theo phép Bà la môn thì coi việc cắt
tóc là ô uế. Có vị tiên có con là hai anh em trai
đều đến thăm cha. Người con nhỏ bèn cắt tóc cho các
tiên. Các tiên nguyện bảo hộ cho người này sau này
trở thành bậc tôn quí trong các tiên. Từ đó trở đi,
việc làm giống như vậy đều gọi là Tiễn Thế. Tôn giả
bản thân là nam, uy đức đặc biệt cao; Để phân biệt
với họ khác nên gọi là Đại Tiễn Thế Chủng Nam (người
đàn ông vĩ đại thuộc giòng họ Tiễn Thế).
Thêm nữa, Tây phương cũng có người lấy họ mẹ, nay để
làm nổi bật họ cha, nên đặt tên là Nam (xưa dịch gọi
là Thằng Phiến). Mẹ quyến luyến con chẳng chịu tái
giá, như dây (thằng) buộc vào quạt (phiến) cho nên
gọi tên là Thằng Phiến. Ngài Chân Đế gọi là Tư
Thắng, đều sai.
• A Nậu Lâu Đà :
Tiếng Phạm : A Nê Luật Đà. Ở phương đây gọi là Vô
Diệt, đó là em họ của Phật. Phiên âm là A Nậu Nâu Đà
là phiên sai. Chả biết chữ Nậu có xuất xứ từ đâu.
Nên là chữ Nê mới đúng.
• Kiếp Tân Na :
Ở phương đây dịch nghĩa là Phòng Túc. Phật cùng vị
này ở chung phòng, ngài hóa làm vị Tỳ kheo già rồi
thuyết pháp cho vị này, nhờ vậy mà đắc đạo nên đặt
tên là Phòng Túc. Có người nói là Phòng Tinh. Vị này
sinh ra đúng vào lúc sao Phòng xuất hiện nên gọi tên
là Phòng Tinh.
*
-Kinh văn : “Kiều Phạm Ba Đề” tới “Ma Ha Câu Hi La”.
Tán rằng :
Kiều Phạm Ba Đề :
•
Tiếng Phạm : Cấp Phòng Bát Để. Ở phương đây gọi là
Ngưu tướng (tướng trâu). Thời quá khứ vì hái một
bông lúa đánh rơi mấy hạt xuống đất, nên trong 500
lần sinh phải làm thân trâu để đền. Nay tuy làm thân
người, nhưng vẫn còn tướng chân trâu, mõm trâu, vì
thế mà có biệt hiệu là Ngưu tướng Tỳ kheo.
Ly Bà Đa
• :
Tiếng Phạm : Hiệt Lệ Phạt Đa, ở phương đây gọi là
Thất tinh, tên một ngôi sao ở phương Bắc, vì cúng
sao này mà sinh con, nên đặt tên như vậy. Gọi là Ly
Bà Đa là gọi sai. Có chỗ còn gọi là Giả Hòa Hợp tức
là chuyện hai con quỷ ăn thịt người trong Trí Độ
luận.
Tất Lăng Già Bà Sa
• :
Tiếng Phạm : Tất Lận Đà Phiệt Sa, ở phương đây gọi
là Dư Tập (thói xấu còn sót lại). Gọi là Tất Lăng
Già Bà Sa, đó là gọi sai. Trong 500 đời, đều là Ba
la môn thô ngôn ác khẩu, nay tuy đắc quả, thói cũ
vẫn còn, như chửi cả thần sông Hằng, nên gọi tên là
Dư Tập.
Bạc Câu La
• :
Tiếng Phạm : Bạc Củ La, ở phương đây gọi là Thiện
Dung. Gọi là Bạc Câu La là gọi sai. Sau khi Phật Tỳ
Bà Thi nhập Niết bàn có một vị Tỳ kheo bị bệnh nhức
đầu rất nặng, bấy giờ Thiện Dung là người nghèo đem
thuốc Ha Lê Lặc đến bố thí cho vị Tỳ kheo ốm yếu đó.
Vị Tỳ kheo này uống xong liền khỏi bệnh. Do việc bố
thí thuốc men đó mà 91 kiếp được hưởng phúc sung
sướng trên cõi trời, trong cõi người. Nay sinh ở nhà
Bà la môn, mẹ đẻ mất sớm gặp mẹ kế ác độc dùng
phương tiện mà giết đi, nhưng qua năm lần mà chẳng
chết, sau cầu xuất gia, chứng được quả A la hán.
Xuất gia 80 năm mà chẳng hề bị nhức đầu, mắt chẳng
nhìn mặt nữ, cũng chẳng vào chùa ni, chẳng thuyết
một câu pháp nào cho nữ. Sau vua Vô Ưu đi tuần du
tới tháp để bố thí, biết ngài là bậc thiểu dục chỉ
thí một đồng tiền. Tháp vọt lên, vua bèn đặt tiền
xuống đất, ngài vẫn chẳng thèm nhận, vua mới biết
ngài thật sự là người ít muốn. Nhân duyên này cũng
đúng như truyền thuyết trong Phó Pháp Tạng truyện.
Ma Ha Câu Hy La
• :
Tiếng Phạm : Ma Ha Câu Sắt Sỉ La, ở phương đây gọi
là Đại Tất. Tất có nghĩa là đầu gối. Gọi tên là Câu
Hy La, là gọi sai. Đó là cậu ruột của Xá Lợi Phất,
nhân cùng với Phật luận bàn mà ngộ giải đắc quả, như
trong luật đã nói.
*
-Kinh văn : “Nan Đà” tới “La Hầu La”.
Tán rằng :
Nan Đà
• :
Tiếng Phạm gọi là Nan Đà, ở phương đây phiên dịch là
Hỉ, căn bản đó là người chăn trâu, vì nhân hỏi Phật
11 sự trong việc chăn trâu, biết Phật có đủ Nhất
thiết trí do vậy mà được quả A la hán, là người cực
kỳ thông minh, âm thanh cực hay.
Tôn Đà
La Nan Đà :
•
Tiếng Phạm : Tôn Đạt La Nan Đà, ở phương đây gọi là
Diễm Hỉ. Gọi là Tôn-Đà-La, là sai. Diễm là tên vợ.
Nhan sắc xinh đẹp đoan nghiêm không gì sánh nổi, nên
gọi tên là Diễm. Hỉ là tự danh, để phân biệt với Mục
Ngưu Nan Đà (Nan Đà chăn trâu) đã nói ở trên, nên
gọi là Diễm Hỉ, vì là Hỉ của Diễm. Đó là em trai của
Phật, mình cao 1 trượng 5 thước 2 tấc. Phật tới bản
thành 2 ngày thì độ cho ông ta, đó là con của Đại
Thắng Sinh Chủ sinh ra.
Phú Lâu Na Di Đa La
• Ni Tử :
Tiếng Phạm : Bổ Lạt Noa Mai Đát Lợi Duệ Ni Phất Đát
La, ở phương đây gọi là Mãn Từ Tử. Gọi là Phú Lâu Na
Di Đa La Ni Tử, là gọi sai. Mãn là tên vị đó, Từ là
họ mẹ, tính mẹ hiền từ, nay lấy họ mẹ. Vị Mãn tôn
giả này là con của Từ nữ. Hoặc Mãn và Từ đều là hiệu
của mẹ, nên gọi là Mãn Từ Tử.
Tu Bồ Đề :
•
Tiếng Phạm : Tô Bổ Để, ở phương đây gọi là Thiện
Hiện, xưa phiên dịch là Tu Bồ Đề, dịch nghĩa là
Thiện Cát, đó là sai.
A Nan :
•
Tiếng Phạm : A Nan Đà, ở phương đây gọi là Khánh Hỉ,
nhưng nói rằng A Nan phiên dịch ra là Hoan Hỉ thì
sai. Phật thành đạo trong ngoài đều mừng, A Nan Đà
sinh ra đúng lúc vui mừng này, nên gọi tên là Khánh
Hỉ.
La Hầu La
• :
Tiếng Phạm : La Hỗ La, ở phương đây gọi là Chấp Nhật
(bắt mặt trời). Bản cũ phiên âm là La Hầu La, dịch
nghĩa là Chướng Tế (ngăn che), đó là phiên dịch sai.
Chín người trong này : 1. Ma Ha Ca Diếp, 2. Xá Lợi
Phất, 3. Đại Mục Kiền Liên, 4. Ma Ha Ca Chiên Diên,
5. A Nậu Lâu Đà, 6. Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, 7. Tu
Bồ Đề, 8. A Nan, 9. La Hầu La, trong Kinh Vô Cấu
Xưng, Thanh Văn phẩm, sớ quyển ba và quyển bốn đã
thuyết giảng rất rộng về lai lịch của họ. Ở đây sợ
rườm, cho nên chẳng thuật lại.
*
-Kinh văn : “Như vậy” tới “Đại A la
hán”.
Tán rằng : kết luận bằng danh cao vậy.
Luận rằng : vì các vua chúa, vương tử, nhân dân, Đế
thích, Phạm thiên vương đều quen biết. Thêm nữa vì
Thanh văn, Bồ tát, Phật v.v… là các bậc thắng trí
đều có thiện cảm, nên gọi là bậc mà các chúng đều
quen biết :
Đầu tiên giải thích đó là bậc mà đại chúng sang hèn
đều-
biết.
Sau đó giải thích đấy là bậc mà thánh chúng lớn-
nhỏ đều quen.
Kinh Vô Cấu Xưng nói : “(đó) đều là những vị mà mọi
chúng đều quen biết, ngưỡng vọng”. Bao hàm cả hai
nghĩa này, nêu lên 21 người làm ví dụ để suy ra các
người khác, nên dùng chữ “vân vân” (đẳng).
Đều là đại : Luận tự giải rằng : “vì họ tâm được
• tự tại, đã tới được bờ bên kia”. Sở dĩ phải
nói là “vân vân” , vì “A la hán v.v…” chẳng phải đều
là A la hán cả, vì (như) A Nan Đà mới chứng được Sơ
quả.
*
-Kinh văn : “Còn có các hạng hữu học, vô học gồm hai
ngàn người”.
Tán rằng : hàng thứ hai đó là chúng đại đức vô danh.
Lấy ba thứ chính là giới định tuệ làm học thể (nội
dung tu học), tiến thủ tu tập, đó gọi là hữu học. Sự
tiến thủ đã viên mãn, dừng việc tu tập, đó gọi là vô
học, chỉ lấy pháp vô lậu làm thể.
*
-Kinh văn : “Ma Ha Ba Xà Ba Đề” tới
“cùng sáu ngàn người”.
Tán rằng : hàng thứ ba đó là tôn trọng chư ni chúng
vậy.
Ma Ha Ba Xà Ba Đề
• :
Tiếng Phạm : Ma Ha Bát Lạt Xà Phục Để, ở phương đây
gọi là Đại Thắng Sinh Chủ. Mẹ Phật có ba vị, đây là
vị tiểu mẫu, Bà Đại Thuật sinh Phật được bảy ngày
thì bà mất. Vị ni này là người đã nuôi Phật. Vì là
em của bà Đại Thuật, nên gọi là dì. Đại Thắng Sinh
Chủ vốn là tên gọi của Phạm vương. Hết thảy chúng
sinh đều là con của vị đó. Cho nên cầu tự được từ vị
đó, nên lấy đó mà đặt tên.
Thêm nữa mọi đệ tử của Phật đều gọi là Đại sinh,
thánh chúng ba thừa gọi tên là Thắng sinh. Vì là
người nuôi Phật, nên bà được gọi là Đại Thắng sinh.
Chúa của Đại Thắng sinh nên gọi là Đại Thắng Sinh
Chủ. Tuy từ Phạm vương mà xin được, nhưng cũng còn
lấy nghĩa làm danh. Bản dịch cũ phiên là Ba Xà Ba
Đề, dịch nghĩa tên là Đại Ái Đạo. Đó đều là dịch sai
và phiên tắt. Còn Phật độ cho người này nhân duyên
ra sao thì cứ như trong luật đã nói.
*
-Kinh văn : “Mẹ La Hầu La” tới “cũng cùng quyến
thuộc đều đến”.
Tán rằng : hàng thứ tư đó là chư ni chúng nội quyến.
Da Thâu Đà La
• :
Tiếng Phạm : Da Thú Đạt La, ở phương đây gọi là Trì
Dự. Gọi là Da Thâu Đà La là phiên âm sai, hình dung
xinh đẹp nổi tiếng khắp gần xa, sinh ra La Hầu, trời
người đều ca ngợi, cho nên gọi tên là Trì Dự. Dự là
tiếng khen vậy.
Tương truyền có cách giải thích rằng đó là con gái
Càn Thát Bà. Càn Thát Bà nếu sinh trai thì làm nhạc
thần, sinh gái thì là ngọc nữ. Nếu đã gọi là ngọc
nữ, thì làm sao mà sinh con được. Thêm nữa, sau khi
Phật xuất gia rồi, cha mẹ Trì Dự muốn được đem Trì
Dự về, thế thì rõ ràng chẳng phải là ngọc nữ.
Các Kinh Vị Tằng Hữu, Tu Đạt Nã, Thụy Ứng đều nói :
La Hầu là con của Cù Di.
Phật có ba phu nhân :
- Một là Cù Di.
- Hai là Da Thâu.
- Ba là Lộc Dã.
Mỗi người đều có hai vạn thái nữ. Bà Cù Di không
con, vì là ngọc nữ. Các kinh ấy lấy tên theo mẹ cả
cũng không có gì là sai trái.
Thêm nữa, kinh nói Phật có ba người con :
- Một là Thiện Tinh.
- Hai là Ưu Bà Ma Da.
- Ba là La Hầu.
Cho nên Kinh Niết Bàn nói rằng :
“Thiện Tinh Tỳ kheo là con của Bồ tát khi còn tại
gia”.
Hai ni chúng nói trên đều được xuất
gia, đạo hạnh thành tựu đã lâu, mong được nghe diệu
pháp, hữu duyên đều tới, quyến thuộc đều đến.
KINH PHÁP HOA HUYỀN TÁN
QUYỂN THỨ NHẤT - PHẦN SAU
ĐÃ XONG