KINH A DI ĐÀ YẾU GIẢI
Linh Phong Ngẫu Ích Trí
Húc Đại Sư Soạn
Việt dịch:
Bồ Tát Giới Đệ
Tử Tuệ Nhuận
-o0o-
PHẬT TÁNH
Lời tựa A Di
Đà Kinh Yếu Giải mới dịch ra tiếng Việt.
Tu Thiền Tông mau chóng thành Phật nhất, tu Tịnh Độ tông còn mau
chóng và chắc chắn hơn. Tu môn này thì mỗi tiếng niệm Phật danh là
thấy rõ Phật tính hiện tiền. Thấy rõ Phật tính là thành Phật quả,
thành Phật quả là chuyển hóa được quả đất Ta Bà thành quả đất Cực
Lạc, là diệt trừ được tai nạn chiến tranh tàn sát cho quần chúng hết
đau khổ, là trả lại hạnh phúc, hòa bình, tự do, bình đẳng cho tất cả
muôn loài.
Tuệ Nhuận
Phật nói: “Tất cả chúng sinh ai cũng có
tính Phật thì ai cũng sẽ thành Phật.”
Bồ Tát Giới nói: “Ông là Phật sẽ thành,
tôi là Phật đã thành, thường khởi tin như thế, giới phẩm đầy đủ
rồi…”
Theo Phật phải học Phật, học Phật có ba
môn: “Giới, Định, Huệ”, giống như 3 chân cái đỉnh trầm, gãy một chân
thành đồ vô dụng; người tam học thiếu một môn cũng là người vô dụng.
Học đủ 3 môn áp dụng vào đời sống của mình và của người, gọi là
thành Phật.
Học Phật tới đích thâm truyền, chỉ cần
hiểu suốt chính nghĩa một câu này, được đầy đủ 3 môn Giới, Định,
Huệ: “Tất cả chúng sinh đều có tính Phật, ai cũng thành Phật”. Nếu
ta áp dụng vào đời sống của ta và của muôn loài, ta có 4 thực hiện:
1) Ta thấy ta với mọi loài là bình đẳng
(1).
2) Ta không dám xâm lăng áp bức sát hại
một loài nào, dù là loài rất nhỏ mọn (2).
3) Ta giữ được định tâm bình đẳng đối
với ta và
đối
với mọi loài (3).
4) Ta có tính Phật, mọi loài cũng có
tính Phật, ta thành Phật, mọi loài cũng thành Phật (4).
Mắt thấy thế, tâm biết thế, là mắt
Phật, tâm Phật đấy rồi, còn phải tìm đâu nữa. Một người thấy và biết
như thế là người siêu phàm thoát tục, người xuất gia, xuất thế,
người thành Bồ Tát, thành Phật. Khế Kinh gọi là “người chính biến
tri”. Trái lại, kẻ nào không thấy, không biết như thế gọi là kẻ tà
kiến, tà tri, là phàm phu si ám, là chúng sinh mê muội trong 7 Thú:
Thiên, tiên, nhân, a tu la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục.
Tính Phật là tính hiểu biết sáng suốt,
không sai lầm một ly, tất cả muôn vật, muôn sự, muôn pháp trong vũ
trụ vô biên. Tất cả chúng sinh trong 7 thú, ai cũng có tính Phật
hiểu biết sáng suốt ấy, lẽ dĩ nhiên ai cũng là bình đẳng, ai cũng là
Phật; lẽ dĩ nhiên không còn ai xâm lăng, áp bức, sát hại. Lẽ dĩ
nhiên tai nạn chiến tranh phải tuyệt dứt, hạnh phúc, hòa bình phải
trở lại. Và lẽ dĩ nhiên không còn có những thế giới và những căn
thân của chúng sinh trong 7 thú nữa, chỉ còn một thế giới Cực Lạc
với một loại thân vô lượng thọ, vô lượng quang (Amita) mà thôi.
Đó là công nghiệp Tịnh Độ hóa cái thế
gian ngũ ấm 7 thú mà người theo đạo Phật phải làm ngay. Sự nghiệp
Tịnh Độ hóa thế gian ô trược này mà không thành thì sự học Phật của
mình chưa có gì, vì mình chưa đủ Giới, Định, Huệ, chưa hiểu Phật
tính là gì, chưa thực hiện được chính nghĩa bình đẳng của Phật.
Học Phật cần phải hiểu tính Phật, cốt
để hiểu biết tính của mình, tính của người, tính của muôn vật, muôn
pháp trong vũ trụ vô biên (tự giác, giác tha). Mình sở dĩ hiểu biết
sáng suốt chu biến như thế, là bởi tính Phật của mình nó hiểu biết.
Kinh Niết Bàn nói: “Tất cả chúng sinh
trong 7 thú và các vị Thanh Văn, Duyên Giác đều chẳng thấy được Phật
tính của mình. Các vị Thập Trụ Bồ Tát mới thấy được, nhưng thấy
không rõ. Chỉ có chư Phật và các vị đại Bồ Tát mới thấy được rõ
ràng”.
Ngài Sư Tử Hống Bồ Tát hỏi Phật: “Phật
tính của chúng sinh là một hay nhiều? Tất cả chúng sinh cùng có
chung Phật tính, hay là mỗi người có một Phật tính riêng biệt?”
Phật đáp: “Tất cả chúng sinh, tất cả
chư Phật cùng có chung một Phật tính; nhưng Phật tính chẳng phải
một, chẳng phải hai, Phật tính bình đẳng, giống như hư không”.
Nghe Phật dạy ngài Sư Tử Hống Bồ Tát
như thế, chúng sinh phàm phu si ám trong 7 thú, liệu có hiểu biết
Phật tính của mình nó thế nào không?
Ta nên nghe kỹ, nghe kỹ:
Phật nói: “Nó chẳng phải một”, rõ ràng
là nó nhiều. Nhưng Phật lại nói: “Nó chẳng phải hai”, vậy thì nó lại
là một. Phật lại nói: “Nó bình đẳng như nhau và nó giống như hư
không”, vậy nó vẫn là nhiều (vì nó bằng nhau), nhưng nó giống như hư
không thì nó phải là một (vì hư không vô biên, không thể có hai
được).
Ta tuy là phàm phu trong bảy thú, nhưng
nếu ta có chút thông minh, thẳng thắn mà suy nghĩ, ta cũng hiểu được
chính nghĩa lời Phật dạy bảo.
Một khi Phật nói: Phật tính của tôi,
của anh, của nó, của chúng sinh, của chư Phật đều là bình đẳng như
nhau, hẳn anh cũng hiểu như tôi rằng: Như nói Tính của anh, lẽ dĩ
nhiên không phải Tính của tôi. Và khi nói Tính của tôi, cố nhiên
cũng không phải Tính của anh. Rõ ràng, anh có một Tính, tôi một
Tính: Một với một là hai, đâu có phải là một (đó chính là nghĩa: Bất
Nhất). Chỉ có điều Phật lại nói: Tính anh và Tính tôi bình đẳng, rõ
ràng 2 Tính của hai ta bằng nhau. Khi đã nhận rõ 2 Tính bằng nhau,
nên coi 2 là 1, không nên phân biệt làm 2 (đó là chính nghĩa: Bất
Nhị). Phật lại nói: Phật tính của ta bình đẳng như hư không, thì dù
biết nó là nhiều, nhưng không ai có tài phân tách hư không ra làm
nhiều được, mà phải để nó hợp nhất với nhau làm một (đó là chính
nghĩa: “bất nhất mà lại bất nhị” và “bình đẳng mà lại như hư
không”).
Khi Phật nói: Phật tính của chúng sinh
là bằng nhau, ta phải ước lượng mỗi tính rộng rãi, cao là ngần nào,
xem nó có thật bằng nhau hay không. Nhưng Phật đã bảo Tính ấy rộng
lớn bằng cả hư không thì chẳng ai có tài đo được hư không vô biên
ấy, cũng không thể tách hư không ra làm hai hoặc làm nhiều được.
Vậy ta nên sáng suốt cố hiểu một tí:
Phật tính của chúng sinh là bình đẳng (bằng nhau), lẽ dĩ nhiên phải
có nhiều cái so sánh với nhau, mới thấy nó bằng nhau; chứ chỉ có một
cái thì bằng nhau với cái gì? – Ta đã nhận rõ tính Phật của ta là
bằng nhau, lẽ dĩ nhiên không có cái lớn, cái nhỏ, cái nào cũng phải
bằng nhau và phải rộng lớn bằng cả hư không; vậy tuy là nhiều, mà ta
đ
ành
phải để nó hợp nhất với nhau làm một, bởi vì chẳng ai có tài phân
tách hư không ra làm 2 hoặc làm nhiều được (đó là chính nghĩa: bất
nhị).
Anh và tôi, hai ta cùng sống chung trên
một quả đất, trong một hư không. Nhưng anh ở bên Đông, tôi ở bên
Tây, anh đừng mê muội, tưởng lầm quả đất và hư không phải cắt đôi ra
làm hai để anh nắm chặt lấy một phần làm của riêng anh và riêng cho
tôi một phần làm của riêng tôi! – Không phân tách được đâu!
Hư không và quả đất chẳng khi nào chịu
để hai ta chia sẻ nó, nếu ta tham vọng cố làm, thì chỉ thêm nhọc xác
gây oán thù với nhau đời đời vô cùng tận; gây cái mầm đại bất bình
đẳng, đại chiến tranh thế giới. Mầm ấy chỉ chờ duyên là kết quả tức
thì.
Phật tính của anh to bằng cả hư không,
Phật tính của tôi cũng phải to bằng cả hư không, thì mới gọi là bằng
nhau, là bình đẳng chứ.
Nếu anh và tôi có tài chia được hư
không ra làm hai khu vực Đông và Tây, thực sự thì hư không sẽ mất cá
tính hư không bình đẳng của nó rồi, còn chi là hư không bình đẳng
nữa. Lại nữa, hư không là vô biên (không có bến bờ), nếu ta có tài
chia được nó ra làm 2 khu vực khác nhau, thì nó sẽ mất cá tính vô
biên, nó sẽ thành 2 cái hư không hữu biên, là hai cái không thể có
được ở thế gian này, nó chỉ là hai cái: lông rùa và sừng thỏ. Phật
tính như hư không của hai ta là cá tính diệu chân như, “thường trụ
chu biến”.
Thế nào là “thường trụ”? Là nó thường
hằng ở suốt cả ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai, chứ nó không cố
định chỉ ở một thời gian này hay một thời gian kia. Giờ phút nào nó
cũng có mặt hiện tại, không đi đâu, không ở đâu đến.
Thế nào là “chu biến”? Là nó thường
hằng ở khắp cả mười phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, tứ duy, thượng, hạ,
chứ nó không cố định chỉ ở một phương này hay một phương kia. Chỗ
nào cũng phải có mặt nó hiện tại, nó không hề ở đâu đến, cũng không
hề đi đâu bao giờ.
Có hiểu được chính nghĩa bốn chữ
“thường trụ chu biến” mới hiểu được lời huyền vi của Phật. Phật tính
của chúng sinh không có cái lớn, cái nhỏ, cái nào cũng bình đẳng,
cái nào cũng rộng lớn bằng cả hư không. Khi mắt Phật, tâm Phật của
anh đã mở ra, anh thấy rõ, biết rõ hôm nay anh mới đến ở phương Đông
mà Phật tính như hư không của anh nó vẫn đã ở phương Đông từ hôm
qua, từ bao nhiêu kiếp trước rồi; dù ngày mai anh bỏ phương Đông đi
phương khác, Phật tính của anh vẫn ở mãi đấy không hề đi đâu.
Lại nữa, như hiện nay anh đang ở phương
Đông, tôi ở phương Tây, nhưng Phật tính của hai ta, nó không hề bị
bó buộc vào trong hai cái thân ta bé nhỏ mà ở ra làm hai nơi đâu!
Tuy thân chúng ta, mỗi người mỗi phương, mà Phật tính của ta, cũng
như hư không của ta, nó vẫn thường hằng ở khắp mười phương, chứ
không phải đút nút chặt vào trong cái thân ta như một tí hư không bị
đút nút chặt vào trong một cái hũ tí hon đâu!
Anh nên nghe kỹ lời Phật dạy dỗ tôn giả
Ananda trong kinh Surangàma:
Phật đặt ra một người rất ngu độn, vô
minh, tà kiến làm thí dụ, để diễn giảng cái tính Duy Thức (tức Tính
Phật) cho tôn giả nghe. Phật nói: Trong thế gian ngũ ấm của ông, có
cái Thức ấm, vốn là tính diệu chân như, tính Như Lai tạng nó rộng
lớn chu biến thường trụ giống như hư không. Bây giờ có người ở
phương Đông, lấy cái bình Tần Già (5) đút nút miệng bình lại, trong
bình ấy đựng đầy hư không, vác đi xa ngàn dặm bố thí cho người bạn ở
phương Tây. Người mê muội ấy vọng tưởng rằng cái bình Tần Già của
mình đã mang mất một ít hư không ở phương Đông đi rồi; khi họ đến
phương Tây, mở nút đổ ra, họ tưởng sẽ thấy một ít hư không của họ
lấy ở phương Đông đổ vào phương Tây! Không phải thế đâu, các ông
thiện nam tử ơi! Khi ông đem thân và bình đựng hư không đi khỏi
phương Đông thì hư không của ông ở phương Đông vẫn nguyên vẹn chẳng
mất đi tí nào. Và khi ông đến phương Tây đem hư không ở bình đổ ra,
hẳn ông cũng chẳng thấy ở phương Tây thêm ra được một tí hư không
nào!
Bây giờ mắt Phật, tâm Phật của ông đã
mở rộng ra, ông đã thấy rõ, biết rõ Phật tính của ông cũng như của
tôi, cũng như của chư Phật và của chúng sinh trong mười phương Pháp
giới đều là bình đẳng ngang nhau, không có cái nào to, cái nào nhỏ,
cái nào cũng rộng lớn bằng cả hư không, nó vẫn y nguyên ở khắp mười
phương, nó không đi đâu lại đâu cả, chỉ có cái thân của chúng sinh
vác cái bình hành nghiệp vọng thức, vác đi nay đây, mai đó, vòng
quanh trong 7 thú đấy mà thôi.
Chúng sinh mê muội trong 7 thú cứ tưởng
lầm cái thân ông này to, vác cái bình lớn đựng được nhiều hư không
Phật tính, còn cái thân con kiến, con ong bé tí, vác cái bình nhỏ
xíu đựng được ít thôi. Vì vô minh tưởng tượng ấy mà nảy nở ra biết
bao trí óc bất bình đẳng phân biệt nòi giống, màu da, mạnh ai nấy
được, tranh cướp lấy thật nhiều hư không về bè mình, định nô lệ hóa
những loài nhược tiểu! Rốt cuộc hư không chẳng cướp được, chỉ cướp
được cái bình nghiệp báo thật to. Than ôi! Chiến tranh chưa kết
liễu, bình đã vỡ, thân đã tàn. Hư không Phật tính của người nào vẫn
nguyên vẹn của người ấy, chẳng ai cướp được của ai một tí nào!
Vì muốn diệt khổ bất bình, chiến tranh,
tai nạn do chúng sinh mê muội trong 7 thú đã tạo ra, nên Phật Thích
Ca phải giáng sinh vào thế gian ngũ ấm ô trược và nói pháp cho chúng
sinh giác ngộ rằng: Phật tính của tất cả chúng sinh, của tất cả chư
Phật là bình đẳng, rộng lớn như hư không, bất nhất và bất nhị. Sự
nghiệp vô cùng vĩ đại của Phật và quyết định Duy Thức hóa và Tịnh Độ
hóa cái thế gian ngũ ấm ô trược đầy bất bình: sát, đạo, dâm, vọng,
tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, chuyển nó thành thế giới thất bảo
như thế giới Cực Lạc Tây phương của Phật A Di Đà
đã
chuyển.
Vậy đương khi ông ngồi đây niệm Phật
cầu sinh về Cực Lạc Tây phương, cách xa đây mười vạn ức Phật độ, thế
mà Phật tính của ông vẫn đã ở Cực Lạc rồi, chẳng phải chờ khi ông
chết, ông vác cái bình Tần Già
đựng
một ít hư không ở đây về Cực Lạc làm gì! Ông đừng tà kiến vô minh mê
muội tưởng lầm như thế.
Còn ai muốn niệm Phật cầu sinh về thế
giới Đông phương của Phật Dược Sư cách xa đây nhiều Phật độ hơn,
nhiều bằng mười số cát sông Hằng, thế mà Phật tính của người ấy cũng
vốn đã ở phương Đông rồi, người ấy đừng mê muội đựng một ít hư không
ở đây vào cái bình Tần Già mang đi, mang lại cho thêm phiền.
Như vậy, mỗi tiếng niệm Phật của ta ở
đây đã rung cảm Phật tính của ta ở khắp mười phương rồi, tùy ý ta
muốn hiện sinh ở phương nào, Phật tính của ta hiện thân ngay ở
phương ấy. Thật là Bản Như Lai Tạng diệu Chân Như tính của người,
của ta, của chúng sinh, của Phật bao giờ cũng thường hằng, linh
thông cảm ứng với nhau vô lượng vô biên, vô cùng vô tận!
Nam mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật.
Nam mô Vô Biên Thân Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Tuệ Nhuận
(1) Câu này là
đã
phát ra trí tính bình đẳng.
(2) Cây này là
đã
đủ giới luật rồi.
(3) Câu này là
đã
được nhất tâm bất loạn.
(4) Câu này là
đã
đủ trí tuệ đại quang minh đại bình đẳng.
(5) Nguyên tiếng Phạm Ấn Độ đọc là Kalavinka, dịch âm ra chữ Hán là Ca
Lăng Tần Già, là tên con chim ở núi Tuyết Sơn (Hymalaya), tiếng chim
hót hay hơn hết các loài chim. Người Ấn Độ rất yêu tiếng chim này,
nặn cái bình có hình tượng giống con chim này, nên gọi tắt là bình
Tần Già.
Lời tựa dịch Phật Thuyết A Di Đà Kinh
Yếu Giải
Người học Phật tinh thâm ai cũng biết
tên tuổi ngài Trí Húc Đại Sư là một lãnh tụ trong giới Thiền Tông.
Từ miệng Ngài đã nói ra: “Khi Húc mới xuất gia, tự phụ là Thiền
Tông, khinh miệt các giáo môn khác, dám nói rằng: "Phép Niệm Phật
riêng cho người trung căn và hạ căn". Về sau, nhân vì đau nặng mới
phát tâm cầu về Tây Phương, mới chịu nghiên cứu các sách: Diệu Tông,
Viên Trung, Vân Thê Sớ Sao, mới biết phép Niệm Phật Tam Muội thực
quý giá vô ngần, mới chịu hết lòng niệm Phật với một sức mạnh bằng
vạn con trâu kéo không lại.
Một ông bạn tu Tịnh Độ của tôi là ông
Khứ Bệnh, ông muốn cho ý nghĩa lớn lao của kinh này được rất rõ rệt,
mà lời giảng đừng rậm quá, ông yêu cầu tôi trước thuật một Yếu Giải,
tôi cũng muốn cùng với các hữu tình trong Pháp giới cùng sinh về Cực
Lạc, nên tôi không từ chối, cầm bút viết luôn từ ngày 27 tháng 9 năm
Đinh Hợi, đến mồng 5 tháng 10 vừa xong, tất cả mất chín ngày. Tôi
mong rằng mỗi câu, mỗi chữ là một môn tư lương, mỗi người thấy, mỗi
người nghe cùng lên ngôi Bất Thoái, người tin, người nghe cùng gieo
giống Bồ Đề, người chê, người khen cùng về nơi Giải Thoát.
Tôi ngửa trông chư Phật, Bồ Tát nhận
lấy và chứng minh cho, các bạn đồng học tùy hỷ giúp sức. Kinh Phật
nói rằng: "Đời mạt pháp, ức vạn người tu hành, ít có một người tu
đắc đạo; chỉ còn nhờ phép Niệm Phật mới được độ thoát". Than ôi! Nay
chính là
đời
Mạt Pháp rồi mà bỏ pháp môn Niệm Phật này thì còn có pháp môn nào tu
học được nữa?
Trên đây là lời văn kết luận trong sách
Yếu Giải kinh Phật thuyết A Di Đà của ngài Trí Húc Đại Sư. Riêng về
phần tôi, trước đây hơn 20 năm, tôi phát tâm học Phật, tôi cũng tự
phụ có đủ thông minh tu học được Thiền Tông, tuy không có thầy, mà
cũng mon men vào cửa ải ấy. Phúc cho tôi quá, ngày 26 tháng 3 năm
Canh Thìn (Mai 1940), tôi được gặp ngài Thái Hư Đại Sư qua chơi Hà
Nội, tôi đến bái yết Ngài trong một khách sạn, tôi hỏi Ngài về Thiền
Tông. Ngài nói: “Tôi xét thấy ở Việt Nam, cư sĩ đã tu Tịnh Độ rồi,
thế là hay hơn cả. Vả chăng, tu Tịnh Độ đến chỗ niệm Phật nhất tâm
bất loạn thì Thiền Tông của ngài Quán Thế Âm, hay của ngài Đại Thế
Chí đều ở cả trong chỗ ấy rồi”. Tôi liền quy y Ngài và xin Ngài cho
nghe thế nào là có nhiều thiện căn, nhiều phúc đức để sinh về Cực
Lạc. Ngài nói: “Thông thường, nghĩa thiện căn là tâm Bồ Đề mình có 5
căn: Tín, Tiến, Niệm, Định, Huệ. Phép tu Tịnh Độ là một pháp môn rất
khó tin. Người nào có tâm tin sâu mới chịu dốc lòng phát nguyện đi
sinh sống ở Tịnh Độ, chỉ người ấy mới có đủ thiện căn (bắt đầu đã có
Tín căn và Tiến căn rồi). Lại thêm có tâm niệm Phật luôn luôn không
ngừng, là có Niệm căn. Niệm mãi rồi có cái tâm nhất định là Định
căn. Thế là 5 thiện căn, đã có bốn, chỉ còn chờ đón ngày đi sinh
sang Tịnh Độ, nếu có thể thì trước khi sang, là ngày tỏ ngộ được “vô
sinh”, ấy là Huệ căn. Thế là 5 căn đầy đủ cả. Trong khi tu tập năm
căn ấy; lại tu thêm các món tư lương Bồ Đề là tu những phép: Trì
Giới, Nhẫn Nhục, Bố Thí v.v… cho có được nhiều duyên phúc đức, thì
mới đúng với cái nghĩa: “Đa thiện căn, đa phúc đức nhân duyên, đắc
sinh bỉ độ”.
Nghe xong, tôi sung sướng, không dám
ngồi lâu nữa, cho được nghe thế là
đại
phúc rồi, liền cáo từ. Ngài nói: “Tôi biết cư sĩ là một đạo khí, khi
về nước có pháp bảo sẽ gởi tặng sau. Chúc cư sĩ vào Như Lai Tạng đem
ân huệ Phật nhuần thấm sinh linh”.
Lại một hạnh phúc, tôi không nhớ vì
đâu, có lẽ là của một bạn hiền đem biếu, trong tủ kinh tôi có một
quyển Di Đà Yếu Giải, tôi đọc qua một lần như người mới tìm thấy vật
báu của mình mất đã nhiều đời. Tôi phát tâm dịch ra Việt văn để cống
hiến đồng nhân; vì ít phúc duyên, từ đấy đến nay vẫn không dịch
được. Nay tôi họp anh em lại diễn giảng sách ấy, mong có người nối
chí và giúp sức, nhưng chưa gặp ai, một thân vừa gìa vừa đau, tôi
cầu nguyện cho thân tôi được bệnh tật tiêu trừ, nhất là cái cố tật
Vô Minh; thời gian tao loạn cấp lắm, lần này tôi phải gắng hết sức
dịch cho xong. Ngửa mong chư Phật, Bồ Tát phù trì và các vị thiện
tri thức tùy hỷ gia bị, ngõ hầu cùng với hết thảy người nhất tâm tín
nguyện niệm “Nam mô A Di Đà Phật” cùng về Cực Lạc Tây Phương.
Trước khi dịch kinh này và
để
các vị chứng minh phép tu Tịnh Độ cao quý và chắc chắn hơn phép tu
Thiền Tông, tôi hãy dịch, của ngài Vĩnh Minh Thọ thiền sư, là một vị
đại đức trong Thiền Tông mà cũng phải tu Tịnh Độ. Bốn bài kệ của
Ngài như sau này:
Có Thiền tông, có Tịnh Độ,
Như thêm sừng cho mãnh hổ.
Đời hiện tại làm thầy người,
Đời vị lai làm Phật, Tổ.
Có Thiền tông, không Tịnh Độ,
Mười người tu, chín người rớt.
Ấm cảnh (1) nếu thấy hiện ra,
Chỉ chớp mắt là theo nó.
Không Thiền tông, có Tịnh Độ,
Vạn người tu, vạn người đỗ (đắc).
Đã được thấy A Di Đà,
Còn lo gì chẳng khai ngộ.
Không Thiền Tông, không Tịnh Độ,
Địa ngục đ
êm
ngày đau khổ.
Muôn đời nghìn kiếp còn lâu,
Nhờ cậy ai, ai tế độ?
Hà Nội, sáng ngày 7 tháng 10 năm Tân Mão (ngày 5 tháng 11 năm 1951).
Bồ Tát giới đệ tử.
Tuệ Nhuận cẩn tự.
(1) Ấm cảnh là cảnh Ngũ Ấm: Sắc, Thọ,
Tưởng, Hành và Thức. Năm cảnh này thường hiện ra để che lấp tâm Bồ
Đề. Người tu Thiền Tông cốt ngồi yên để soi thấy tâm Bồ Đề hiện ra.
Nhưng nếu chẳng thấy tâm Bồ Đề mà chỉ thấy ấm cảnh hiện ra, tức thì
phải theo nó đi làm chúng sinh mãi mãi.
CHÁNH VĂN
Lời Tựa Phật
Thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải
Nguyên là chư Phật thương xót lũ người
mê, phải tùy cơ của mỗi người mà bố thí cho lời giáo hóa.
Đưa người tới đích, tuy chỉ có một đích
thôi, mà dùng phương tiện để đưa đi, tất phải dùng nhiều phương
tiện. Trong hết thảy các phép phương tiện, tìm lấy một phép rất
thẳng, rất mau, rất tròn, rất chóng, thì không phép nào bằng phép
“niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ”. Lại trong các phép niệm Phật, tìm lấy
một phép giản dị, rất ổn đáng thì không phép nào bằng phép “tín,
nguyện, chuyên trì danh hiệu”. Thế cho nên ba bộ kinh nói về Tịnh Độ
đều có lưu hành, mà cổ nhân chỉ chọn lấy một bộ kinh A Di Đà làm
khóa tụng hàng ngày. Thế chẳng phải là một phép Trì Danh ấy hợp với
tất cả ba hạng người: thượng căn, trung căn, và hạ căn, tóm thâu
được cả phần Sự, phần Lý không còn thiếu sót. Cả Thiền tông và các
giáo môn khác cũng không thể ra ngoài được phép Trì Danh này. Thực
là một phép chẳng khá nghĩ bàn vậy.
Về việc chú thích và giải nghĩa kinh
này, thời đại nào cũng không thiếu người, nhưng còn để lại ở đời
không có mấy. Bộ sách Sớ Sao của ngài Vân Thê thì rộng lớn tinh vi,
bộ Viên Trung Sao của ngài U Khê thì cao cả sâu rộng, như hai vầng
mặt trời, mặt trăng ở giữa trời, ai có mắt mà chẳng thấy rõ. Chỉ vì
văn chương giàu có lắm, nghĩa lý phồn thịnh nhiều không bờ, không
bến chẳng ai đo lường được, đến nỗi những người mới học, biết ít,
khó bề ngoi lên để mở lòng tin và phát nguyện. Cho nên tôi chẳng
quản ngu hèn, lại trước thuật sách Yếu Giải này, chẳng dám cùng với
hai ông cạnh tranh mà lập dị, và cũng chẳng dám cố ép cho được đồng
ý với hai ông.
Trước hết, tôi rút ở trong những câu
văn của bộ kinh này, lấy 5 tầng nghĩa lý huyền vi mà giải thích:
I. Thích nghĩa rõ cái tên đề của bộ
kinh.
II. Biện luận thể chất của bộ kinh.
III. Nói rõ tôn chỉ của bộ kinh.
IV. Nói rõ lực dụng của bộ kinh.
V. Nói về giáo tướng của bộ kinh.
(Lời người dịch: Đọc tụng bộ kinh này,
phải biết rõ năm tầng nghĩa huyền vi ấy thì người tu mới thấy có
hiệu nghiệm và
đắc
đạo).