KINH A DI ĐÀ YẾU GIẢI
Linh Phong Ngẫu Ích Trí
Húc Đại Sư Soạn
Việt dịch:
Bồ Tát Giới Đệ
Tử Tuệ Nhuận
-o0o-
C. PHẦN LƯU
THÔNG(LƯU THÔNG PHẬN)
Một pháp môn Tín, Nguyện, Trì Danh này hoàn
toàn thu được tất cả và vượt lên trên tất cả các
pháp môn. Về bề dọc thì giống với hết thảy các
pháp môn, về bề ngang thì khác hẳn với các pháp
môn (Câu nói này rất là minh bạch. Trong các
kinh luận, cũng có nghĩa về bề ngang là tùy
người tu đoạn trừ được mê hoặc nhiều hay ít, tức
là ở một cõi Đồng Cư mà thấy được 3 cõi trên.
Như thế: Bề ngang có nghĩa là chứng được quả vị;
bề dọc có nghĩa là
đoạn
trừ mê hoặc).
Kinh này đã là kinh
“không ai hỏi mà tự Phật nói ra” thì chẳng ai có
thể lưu thông, truyền bá được. Chỉ có Phật cùng
Phật mới có tài năng thấu hết được Thực tướng
của mọi pháp, vậy kinh này chỉ có ở cảnh giới
Phật và chỉ có chư Phật mới có thể cùng nhau mà
lưu thông cho nhau được mà thôi.
Đoạn văn kinh này
chia làm 2 phần lớn:
1. PHỔ KHUYẾN
(khuyên tất cả nên tu).
2. KẾT KHUYẾN (kết
lại khuyên tu).
Trong phần Phổ
Khuyến, có 3 đoạn:
1. Khuyến Tín Lưu
Thông.
2. Khuyến Nguyện
Lưu Thông.
3. Khuyến Hạnh Lưu
Thông.
PHỔ KHUYẾN
1. KHUYẾN TÍN
LƯU THÔNG
Trong đoạn Khuyến
Tín Lưu Thông, trước là chư Phật nêu cái tên
kinh lên, sau là Phật Thích Ca thích nghĩa tên
kinh (Kinh này, theo bản dịch đời Đường thì có
những 10 đoạn nói về 10 phương; nhưng bản dịch
này rút bớt đi, chỉ có 6 đoạn về sáu phương
thôi). Dưới đây là chư Phật trong sáu phương nêu
cái tên bộ kinh này lên.
1. Phương Đông
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất!
Như ngã kim giả tán thán A Di Đà Phật bất khả tư
nghị công đức chi lợi. Đông phương diệc hữu A
Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật,
Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật, như thị đẳng
hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất
quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại
thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ
đẳng chúng sinh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả
Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm
kinh”.
Việt: Xá Lợi Phất
ơi! Như ta ngày nay khen sự lợi ích về công đức
của Phật A Di Đà chẳng xiết nghĩ bàn thì bên
Đông phương cũng có chư Phật: Phật A Súc Bệ,
Phật Tu Di Tướng, Phật Đại Tu Di, Phật Tu Di
Quang, Phật Diệu Âm, còn nhiều Phật khác như cát
sông Hằng cũng như thế nữa, đều ở nước mình và
đều
hiện ra tướng lưỡi rộng dài che khắp ba nghìn
đại thiên thế giới, nói lời thành thật rằng:
Chúng sinh ngươi nên tin kinh này là một bản
kinh “tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và
được
hết thảy chư Phật hộ niệm”.
Bốn chữ “bất khả tư
nghị” là chẳng khá nghĩ bàn. Giải thích lược qua
có 5 ý nghĩa:
1. Người niệm Phật
có thể vượt tắt ra ngoài tam giới ngay, chẳng
phải cứ đợi đến ngày đoạn trừ mê hoặc.
2. Cứ sinh sang Tây
Phương rồi là
được
lên đủ cả 4 cõi Tịnh Độ, chẳng phải noi lên dàn
dần từng cõi một (Ý nghĩa này là nói người niệm
Phật sinh sang Tây Phương là
được
thành Bồ Tát bất thoái và Nhất Sinh Bổ Xứ ngay).
3. Cứ chuyên trì
niệm danh hiệu Phật thôi, chẳng cần đến các phép
phương tiện nào khác như là tu Thiền Định và
quán tưởng (ý nghĩa này có công đức lớn lao
trong phép tu Tịnh Độ).
4. Trong một tuần 7
ngày có thể thành công, chẳng cần đến nhiều
kiếp, nhiều đời, nhiều năm, nhiều tháng.
5. Cứ trì niệm một
danh hiệu Phật A Di Đà, tức là
được
chư Phật hộ niệm, chẳng khác gì người trì niệm
danh hiệu của hết thảy chư Phật.
Năm ý nghĩa này đều
nhờ ở Nguyện lớn và Hạnh lớn của thầy ta mới
được thành tựu như thế. Cho nên Phật Thích Ca
nói rằng: “Đây là sự lợi ích về công đức của
Phật A Di Đà chẳng khá nghĩ bàn”.
Lại còn ý nghĩa nữa
là: Người tu hành cứ việc Tín, Nguyện, Trì Danh
sẽ thu nhiếp được hoàn toàn công đức của Phật A
Di Đà làm thành công đức của mình cho nên cũng
nói rằng: “Đây là sự lợi ích về công đức của
Phật A Di Đà chẳng thể nghĩ bàn” (chỉ cậy sức
mình giỏi mà tu thành được thì hiếm lắm!)
Lại ở bài dưới,
Phật Thích Ca còn nói rằng: “Công đức chẳng xiết
nghĩ bàn của chư Phật kia… và công đức của ta
chẳng xiết nghĩ bàn…” Thế là chư Phật kia và
Phật Thích Ca cũng đều lấy công đức của Phật A
Di Đà làm của mình vậy.
Chữ A Súc Bệ là
tiếng Ấn Độ, dịch ra chữ Hán là Vô Động, nghĩa
là không chuyển động. Mỗi vị Phật đều có vô
lượng công đức, cho nên tùy cơ mà lập ra vô
lượng danh hiệu. Có khi lấy nghĩa về nhân, hoặc
về quả, về tính, về tướng, về hạnh, về nguyện
v.v… Tuy nói một quả, mà trong vẫn đủ 4 phần lợi
ích Tất Đàn. Cứ tùy theo mỗi một danh hiệu là
hiểu rõ ra một công đức, nhiều lắm nói đến cả
kiếp cũng chẳng nói hết được.
Quãng hư không đi
về phương Đông chẳng thể đi đến đâu là hết được
thì những thế giới ở đấy nhiều lắm, cũng chẳng
thể nói hết được. Những thế giới ở đấy đã chẳng
thể nói hết được thì chư Phật ở những thế giới
ấy nhiều lắm cũng chẳng thể kể ra hết được, mà
phải tạm nói là “nhiều bằng số cát sông Hằng”
đấy thôi.
Các vị Phật nhiều
như thế, vị nào cũng hiện ra tướng lưỡi rộng dài
khuyên nên tin kinh này mà tu hạnh niệm Phật,
thế mà chúng sinh vẫn chẳng chịu tin thì ngoan
cố, u minh lắm lắm.
Người thường giữ
được giới Bất Vọng Ngữ trong 3 đời, khi sinh ra
có lưỡi rộng dài, lè ra uốn lên đến mũi. Đức
Phật của Tạng Giáo giữ giới Bất Vọng Ngữ trong 3
đại a tăng kỳ kiếp cho nên khi sanh ra lưỡi mỏng
và rộng dài lè ra che kín cả mặt. Nay Ngài đã
triệt để chứng được pháp môn mầu nhiệm Đại Thừa
Tịnh Độ này cho nên lưỡi che khắp Đại Thiên Thế
Giới là
để
nêu rõ chính lý pháp thân thực xứng hợp với chân
thân là một sự thực có vậy.
Trong 6 đoạn văn
nói về 6 phương, đoạn nào chư Phật cũng nêu ra
cái tên kinh này ra, gọi là kinh: “Xưng Tán Bất
Khả Tư Nghị Công Đức, Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ
Niệm” chính là căn bản lưu thông truyền bá kinh
này. Ngài pháp sư Cưu Ma La Thập thuận theo
người ở đây ưa nói vắn tắt, mà dịch tên kinh này
là kinh A Di Đà, tật là khéo dịch, hợp với hạnh
tu Trì Danh (kinh niệm Phật A Di Đà). Ngài pháp
sư Trần Huyền Trang lại dịch là kinh “Xưng Tán
Tịnh Độ Phật Nhiếp Thụ”. Lời văn tuy có tường
tận hay sơ lược khác nhau, nhưng chính nghĩa vẫn
không có thêm, bớt.
2. Phương Nam
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất!
Nam phương thế giới hữu Nhật Nguyệt Đăng Phật,
Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di
Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật, như thị đẳng
hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất
quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại
thiên thế giới, thuyết thành thực ngôn: “Nhữ
đẳng chúng sinh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả
Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm
kinh”.
Việt: Xá Lợi Phất
ơi! Thế giới Nam Phương cũng có chư Phật: Phật
Nhật Nguyệt Đăng, Phật Danh Văn Quang, Phật Đại
Diệm Kiên, Phật Tu Di Đăng, Phật Vô Lượng Tinh
Tấn, còn nhiều Phật khác như cát sông Hằng cũng
như thế nữa, đều ở nước mình và
đều
hiện ra tướng lưỡi rộng dài che khắp ba nghìn
đại thiên thế giới, nói lời thành thật rằng:
Chúng sinh ngươi nên tin kinh này là một bản
kinh “tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và
được
hết thảy chư Phật hộ niệm”.
3. Phương Tây
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất!
Tây phương thế giới hữu Vô Lượng Thọ Phật, Vô
Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang
Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang
Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư
kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú
tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực
ngôn: “Nhữ đẳng chúng sinh đương tín thị Xưng
Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật
Sở Hộ Niệm kinh”.
Việt: Xá Lợi Phất
ơi! Thế giới Tây Phương cũng có chư Phật: Phật
Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng Tướng, Phật Vô Lượng
Tràng, Phật Đại Quang, Phật Đại Minh, Phật Bảo
Tướng, Phật Tịnh Quang, còn nhiều Phật khác như
cát sông Hằng cũng như thế nữa, đều ở nước mình
và
đều
hiện ra tướng lưỡi rộng dài che khắp ba nghìn
đại thiên thế giới, nói lời thành thật rằng:
Chúng sinh ngươi nên tin kinh này là một bản
kinh “Tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và
được
hết thảy chư Phật hộ niệm”.
4. Phương Bắc
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất!
Bắc Phương thế giới hữu Diệm Kiên Phật, Tối
Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sinh Phật,
Võng Minh Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư
Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt
tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới,
thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sinh
đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức
Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm kinh”.
Việt: Xá Lợi Phất
ơi! Thế giới Bắc Phương cũng có chư Phật: Phật A
Diệm Kiên, Phật Tối Thắng Âm, Phật Nan Trở, Phật
Nhật Sinh, Phật Võng Minh, còn nhiều Phật khác
như cát sông Hằng cũng như thế nữa, đều ở nước
mình và
đều
hiện ra tướng lưỡi rộng dài che khắp ba nghìn
đại thiên thế giới, nói lời thành thật rằng:
Chúng sinh ngươi nên tin kinh này là một bản
kinh “tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và
được
hết thảy chư Phật hộ niệm”.
5. Hạ phương
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất!
Hạ phương thế giới hữu Sư Tử Phật, Danh Văn
Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng
Phật, Trì Pháp Phật, như thị đẳng hằng hà sa số
chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt
tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới,
thuyết thành thực ngôn: “Nhữ đẳng chúng sinh
đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức
Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm kinh”.
Việt: Xá Lợi Phất
ơi! Thế giới Hạ phương cũng có chư Phật: Phật Sư
Tử, Phật Danh Văn, Phật Danh Quang, Phật Đạt Ma,
Phật Pháp Tràng, Phật Trì Pháp, còn nhiều Phật
khác như cát sông Hằng cũng như thế nữa, đều ở
nước mình và
đều
hiện ra tướng lưỡi rộng dài che khắp ba nghìn
đại thiên thế giới, nói lời thành thật, rằng:
Chúng sinh ngươi nên tin kinh này là một bản
kinh “tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và
được
hết thảy chư Phật hộ niệm”.
Trong đoạn này có
danh hiệu đức Phật Đạt Ma là tiếng Ấn Độ, dịch
ra chữ Hán là Pháp.
(Trong 6 phương,
Phật nói về 4 phương Đông, Tây, Nam, Bắc thì ta
còn có thể hiểu được, đây là nói về Hạ phương và
đoạn
sau nói về Thượng Phương thì người không học
Phật rất khó hiểu, khó tin).
Thế nào là Hạ
phương? Là cái phương ở bên dưới quả đất của ta
đây, nghĩa là ở dưới cái vòng phong luân, thủy
luân, kim luân của quả đất này, lại có các tầng
trời cao nhất, như là cõi trời Phi Phi Tưởng
v.v… và xuống mãi, xuống mãi còn có trùng trùng
điệp điệp vô cùng tận hằng hà sa số thế giới nữa
(Thế là ở bên dưới quả đất của ta ở đây, lại có
vô số các ông trời ở đấy. Bên dưới quả đất lại
có các ông trời ở thật là một sự lạ. Chỉ kinh
Phật nói thế, xưa nay chưa có đạo nào, kinh sách
nào nói thế. Ý tưởng người không có Phật học tin
làm sao được, thật là một sự rất khó tin trong
muôn vàn sự khó tin).
6. Thượng Phương
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất!
Thượng phương thế giới hữu Phạm Âm Phật, Tú
Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật,
Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân
Phật, Ta La Thọ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật,
Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật,
như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ
quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam
thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thực
ngôn: “Nhữ đẳng chúng sinh đương tín thị Xưng
Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật
Sở Hộ Niệm kinh”.
Việt: Xá Lợi Phất
ơi! Thế giới Thượng Phương cũng có chư Phật:
Phật Phạm Âm, Phật Tú Vương, Phật Hương Thượng,
Phật Hương Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tạp
Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, Phật Ta La Thọ Vương,
Phật Bảo Hoa Đức, Phật Kiến Nhất Thiết Nghĩa,
Phật Như Tu Di Sơn, còn nhiều Phật khác như cát
sông Hằng cũng như thế nữa, đều ở nước mình và
đều
hiện ra tướng lưỡi rộng dài che khắp ba nghìn
đại thiên thế giới, nói lời thành thật, rằng:
Chúng sinh ngươi nên tin kinh này là một bản
kinh “tán thán công đức chẳng xiết nghĩ bàn và
được
hết thảy chư Phật hộ niệm”.
Thế nào là Thượng
phương? Là cái phương ở trên quả đất của ta ở
đây, đã có các cõi trời cao nhất như là cõi trời
Phi Phi Tưởng v.v… thế mà ở trên các tầng trời
ấy, lại có vô số quả đất khác cũng có đủ các
vòng kim luân, thủy luân, phong luân và tam giới
v.v… lên mãi, lên mãi còn có trùng trùng điệp
điệp vô cùng tận hằng hà sa số thế giới nữa (Thế
là ở trên chỗ các ông trời ở, lại có vô số trái
đất và người ở, thế có lạ không? Người không có
Phật học tin làm sao, hiểu làm sao được? Mắt
Phật soi thấu triệt đến thế là tuyệt đối, chỉ vì
Phật đã triệt để dùng được tâm Bồ Đề Vô Thượng
của Phật).
Hoặc có người hỏi:
Trong các phương, phương nào cũng có Tịnh Độ, cớ
gì chỉ tán thán riêng Tịnh Độ ở Tây Phương?
Xin thưa: Ngài hỏi
thế, chẳng phải là câu hỏi có ý nghĩa gì (thật
khéo trả lời). Giả sử tôi tán thán Tịnh Độ của
Phật A Súc Bệ thì ngài lại nghi mà hỏi: Cớ gì
chỉ tán thán riêng Tịnh Độ ở Đông Phương? Câu
hỏi của ngài thành ra lẩn quẩn, đ
ùa
chơi!
Lại có người hỏi:
Thế sao không tưởng niệm cả 10 phương pháp giới?
(nghiên cứu kỹ câu trả lời dưới đây, đủ biết câu
hỏi này cũng là câu lẩn quẩn, đ
ùa
chơi!)
Xin thưa: Vì có 3
nghĩa: 1) Khiến người mới vào đạo nhận được tâm
Bồ Đề của mình 2) Vì bản nguyện của Phật A Di Đà
hơn hết thảy 3) Vì Phật A Di Đà với chúng sinh ở
cõi này có duyên riêng.
Bởi vì Phật độ
chúng sinh và chúng sinh chịu giáo hóa của Phật,
giữa quãng ấy có khó, có dễ, có thiển, có thâm,
tóm lại đều tại duyên cả. Tại duyên là phải có
nhiều ân đức vừa sâu vừa rộng (tức là bản nguyện
hơn hết thảy), và phải có nhiều lối mở dạy cho
người ta (tức là nêu cái tâm Bồ Đề cho người ta
thấy rõ). Có thế thì mới đủ 4 lợi ích bố thí cho
người ta:
1) Khiến cho người
ta vui mừng, tin sâu vào đạo (tức là lợi ích
Hoan Hỷ).
2) Khiến cho người
ta phải xúc động cái mầm thiện gieo từ kiếp
trước (tức là lợi ích Sinh Thiện).
3) Khiến cho ma
chướng không thể cản được người ta nữa (tức là
lợi ích Phá Ác).
4) Khiến cho người
ta mở rộng được thể tánh Bồ Đề của người ta (tức
là lợi ích Nhập Lý).
Chư Phật vốn là từ
trong Pháp Thân của các Ngài mà hiển hiện ra
hình tích lưu lại cho đời, cốt để cố kết lấy cái
mầm duyên với đời, cho cả người thế gian và
người xuất thế gian, hết thảy đều thần diệu
chẳng khá nghĩ bàn. Các Ngài tôn trọng giáo lý
Đại Thừa, đem tuyên dương vào hải hội (tức là vì
cả thế giới). Các Ngài lăn vào bể khổ (tức là vì
nhân loại đối trị tính ác). Tâm nhân từ của các
Ngài khế hợp với tâm Thường Tịch Quang (tức là
Đệ Nhất Nghĩa), vì thế mà vạn đức phải kính vâng
các Ngài, quần linh phải chầu cả về các Ngài.
Ta lại nên biết mầm
thành Phật phải nhờ duyên mới khởi lên được,
duyên ấy tức là cả Pháp Giới; vậy thì một niệm
tức là hết thảy niệm, một chúng sinh tức là hết
thảy chúng sinh, một hương, một hoa, một thanh,
một sắc… cho đến một khi chịu sám hối, được thụ
ký, được xoa đầu, được dắt tay v.v… khắp cả 10
phương, suốt cả ba đời, không một chỗ nào, không
một giây phút nào mà không lan tràn, dung hòa
khắp cả tâm một, cho nên cái nhân tăng thượng
duyên này (cái duyên làm cho tăng thêm lên) được
gọi là pháp giới duyên khởi.
Đó chính là cái
nghĩa “biến duyên pháp giới”, tức là tưởng niệm
và kết duyên với cả 10 phương pháp giới vậy. Như
thế (thì vẫn chẳng ra ngoài pháp giới), người tu
ở ngôi thấp kém vẫn có thể quyết chí chuyên cầu
sinh sống ở Tây Phương được. Và người tu ở ngôi
cao sâu (thì còn pháp giới nào nữa) mà phải bỏ
Tây Phương để mong cầu riêng lấy một thế giới
Hoa Tạng?
Nếu người nào còn
bảo Tây Phương là Quyền Giáo, Hoa Tạng mới là
Thực Giáo, Tây Phương là Tiểu Thừa, Hoa Tạng mới
là Đại Thừa thì hoàn toàn là sa đọa vào hạng
chúng sinh mang cái thức tính Biến Kế Chấp (là
cái ý tưởng mơ hồ). Bởi vì người ấy chẳng hiểu
thế nào là Quyền, là Thực, là Đại, là Tiểu, tất
cả 4 giáo môn chỉ là
đồng
một thể, mà không có tự tính riêng biệt (câu này
phá tan được cái tâm nghi hoặc từ hơn một nghìn
năm nay)
Dưới đây, Phật
Thích Ca thích nghĩa cái TÊN bộ kinh này:
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất! Ư
nhữ ý vân hà? Hà cố danh vi Nhất Thiết Chư Phật
Chi Sở Hộ Niệm? Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam
tử, thiện nữ nhân văn thị kinh, thọ trì giả, cập
văn chư Phật danh giả, thị chư thiện nam tử,
thiện nữ nhân giai vi nhất thiết chư Phật chi sở
hộ niệm, giai đắc bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La
Tam Miệu Tam Bồ Đề. Thị cố Xá Lợi Phất! Nhữ đẳng
giai đương tín thụ ngã ngữ cập chư Phật sở
thuyết.
Việt: Xá Lợi Phất
ơi! Ý ông thế nào? Sao gọi kinh này là kinh
“Nhất thiết chư Phật hộ niệm”? Xá Lợi Phất này!
Nếu có thiện nam hay là thiện nữ nghe kinh này
rồi, mà chịu nhớ lấy cả những danh hiệu chư Phật
sáu phương, nghe rồi nhớ lấy thì thiện nam ấy
hay thiện nữ ấy đều được hết thảy chư Phật hộ
niệm và
được
tới cõi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề chẳng hề
lui chuyển. Vì thế cho nên, ông Xá Lợi Phất cùng
các ông đây đều nên tin chịu lời ta và lời chư
Phật đã nói.
Bộ kinh này chuyên
nói về tâm yếu vô thượng (tức là nói cái tâm
trọng yếu hơn hết), những danh hiệu của chư
Phật, hết thảy đều hiểu rõ muôn ngàn công đức
đầy đủ rốt ráo trên hết, cho nên người nào được
nghe kinh này và danh hiệu của chư Phật ở kinh
này đều được chư Phật hộ niệm. Lại người nghe
kinh và thụ trì kinh tức là người chấp trì danh
hiệu (người niệm Phật). Bởi vì danh hiệu của
Phật A Di Đà bao giờ cũng được chư Phật hộ niệm.
Hoặc có người hỏi:
Chỉ nghe danh hiệu chư Phật mà chưa giữ được
nghĩa kinh thì có được chư Phật hộ niệm (24) lên
ngôi Bất Thoái không?
Thưa: Cái nghĩa
“nghe” ở đây có phần Cuộc và phần Thông.
Về phần Cuộc thì
như kinh Chiêm Sát có nói: “Kẻ nào mang cái tâm
tạp loạn nhơ bẩn thì tuy có niệm danh hiệu của
ta mà vẫn chẳng phải là
đã
được nghe danh hiệu của ta, vì tâm người ấy chưa
quyết định tin và hiểu, thì chỉ được quả báo
phúc thiện ở thế gian thôi, chẳng được lợi ích
mầu nhiệm sâu xa rộng lớn. Nếu người niệm Phật
đã được đến chỗ Nhất Hạnh Tam Muội (25) thì mới
thành được cái tâm có đức hạnh mầu nhiệm rộng
lớn và
được
gọi là
đã
lên ngôi Tương Tự Vô Sinh Pháp Nhẫn (26). Có thế
mới thật là người đã được nghe danh hiệu chư
Phật ở khắp mười phương.”
Vậy thời chữ “nghe”
ở đoạn kinh này cũng phải có nghĩa sâu xa như ở
trong kinh Chiêm Sát. Cho nên cần phải nghe rồi,
phải niệm Phật đến chỗ Nhất Tâm Bất Loạn thì mới
đáng là “người đã được nghe danh hiệu của chư
Phật, được Phật hộ niệm”. Thế là “nghe” ở đây
thuộc về nghĩa Cuộc.
Còn nghĩa chữ
“nghe” thuộc về phần Thông là: tâm từ bi chư
Phật chẳng khá nghĩ bàn, công đức danh hiệu của
chư Phật chẳng khá nghĩ bàn, cho nên người nào
một khi được nghe một danh hiệu Phật rồi thì bất
luận người ấy là người hữu tâm hay vô tâm, tin
hay chẳng tin đều đã thành ra cái mầm duyên tốt
rồi. Huống chi Phật độ chúng sinh là bình đẳng,
coi kẻ oán, kẻ thân như nhau, không hề mỏi mệt.
Miễn là
được
nghe danh hiệu Phật tất là
được
Phật hộ niệm, còn nghi gì nữa?
Nhưng cứ theo như
bộ Kim Cương Tam Luận nói thì một vị Bồ Tát có
căn đã chín rồi mới được Phật hộ niệm, tức là
được
ở vào ngôi Địa Bồ Tát về Biệt Giáo, hay là ngôi
Trụ Bồ Tát về Viên Giáo, bởi vì người nào cứ
đúng sức mình tu (tự lực) mà tu, tất là phải tu
vào bậc “Đồng Sinh Tính” (27) rồi mới được Phật
hộ niệm.
Còn như tu Niệm
Phật là lối tu nhờ vào sức người (tha lực) thì
mau, cho nên lên ngôi “Tương Tự Vô Sinh Pháp
Nhẫn” cũng đã được Phật hộ niệm rồi. Và cả đến
những người còn ở dưới ngôi Tương Tự ấy cũng đều
có cái nghĩa “được Phật hộ niệm” về phần Thông.
Và xuống đến dưới nữa là hạng người chỉ một khi
được nghe danh hiệu Phật thôi (nhất văn Phật
danh), đối với Đồng Thể Pháp Tính (28) của người
ấy đã có một sức mạnh phát ra rồi, thì cũng đã
gây được cái nhân tốt về đời sau này, chẳng bao
giờ lui mất.
Chữ “A Nậu Đa La”
nguyên âm Ấn Độ đọc là Anuttara, dịch ra chữ Hán
là Vô Thượng, nghĩa là “trên hết”. Chữ Tam Miệu
Tam Bồ Đề nguyên âm Ấn Độ đọc là Samyak
Sambodhi, dịch ra chữ Hán là Chính Đẳng Chính
Giác, nghĩa là giác ngộ bình đẳng chân chính
hoàn toàn. Vậy Anuttara Samyak Sambodhi là cái
quả chính giác ngộ hoàn toàn của bậc Đại Thừa.
Chữ Bất Thoái ở đây
là “viên tam bất thoái”, nghĩa là viên mãn đầy
đủ ba ngôi Bất Thoái như trên đã giải thích.
Viên Tam Bất Thoái là một danh từ khác nhưng
cùng một nghĩa với danh từ “nhất sinh thành
Phật” nghĩa là chỉ có một lần sinh chót ấy là
thành Phật. Bởi thế, Phật Thích Ca cố khuyên bọn
ông Thân Tử (tức Xá Lợi Phất) đều nên tin chịu
lời kinh này vậy.
Công đức được nghe
danh hiệu Phật mầu nhiệm như thế, Phật Thích Ca
và chư Phật khắp mười phương đều tuyên truyền
nói ra như thế, mà ta lại còn không tin ư?
Đoạn thứ nhất
“Khuyến Tín Lưu Thông” đến đây là hết.
2. KHUYẾN NGUYỆN
LƯU THÔNG
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất!
Nhược hữu nhân dĩ phát nguyện, kim phát nguyện,
đương phát nguyện, dục sinh A Di Đà Phật quốc
giả; thị chư nhân đẳng giai đắc bất thoái chuyển
ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, ư bỉ quốc độ,
nhược dĩ sinh, nhược kim sinh, nhược đương sinh.
Thị cố, Xá Lợi Phất! Chư thiện nam tử, thiện nữ
nhân nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện
sinh bỉ quốc độ.
Việt: Xá Lợi Phất
ơi! Nếu có những người muốn sinh sang nước Phật
A Di Đà mà
đã
phát nguyện, hoặc nay mới nguyện, hoặc mai mới
nguyện thì những người ấy đều được tới cõi A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề chẳng hề lui chuyển, và
đều
được sinh sang cõi nước kia; ai đã phát nguyện
thì đã sinh rồi, ai nay mới nguyện thì nay được
sinh; còn mai mới nguyện thì mai được sinh. Bởi
thế, cho nên Xá Lợi Phất ơi! Các thiện nam ơi,
các thiện nữ ơi, nếu có ai tin thì nên phát
nguyện sinh sang nước kia.
Trong đoạn kinh này
có mấy câu: Ai đã phát nguyện thì đã sinh rồi;
ai nay mới nguyện thì nay được sinh; còn mai mới
nguyện thì mai được sinh… Đó chính là lời Phật
Thích Ca hiển rõ cho ta biết rằng: “Ai đã y cứ
vào cái tâm Tịnh Tín của mình mà phát ra lời
nguyện cầu sinh Tịnh Độ thì lời nguyện ấy quyết
không là nguyện hư ảo vậy.”
Hễ không có Tín thì
chẳng thể nào phát nguyện được, mà
đã
không có Nguyện, không có Tín, thì cũng chẳng
thể nào được sinh. Cho nên Phật Thích Ca nói:
“Nếu có ai TIN thì nên phát NGUYỆN…”
Lại còn Nguyện ấy
là khoán ước của Tín và là then chốt của Hạnh,
thì Nguyện phải là một việc thiết yếu lắm. Phật
nói một chữ Nguyện thì phải hiểu chữ Tín và chữ
Hạnh đều ở cả trong chữ Nguyện ấy rồi. Vì thế mà
Phật phải ân cần đến ba lần khuyên phát nguyện.
Lại còn câu cuối
đoạn kinh này là: “Nguyện sinh bỉ quốc độ”
(nguyện sinh sang nước kia). Câu kinh này tức là
2 pháp môn Hân và Yểm (Hân là hân hoan vui
thích, Yểm là yểm ly: chán bỏ).
A) Pháp môn Yểm là
yểm ly Ta Bà (chán bỏ cõi Ta Bà vì tệ ác lắm!),
phép này cùng với phép tu: Y vào Khổ Đế và Tập
Đế mà phát ra 2 hoằng nguyện là: “Chúng sinh vô
biên thệ nguyện độ” và “phiền não vô tận thệ
nguyện đoạn” cùng ứng hợp với nhau.
B) Pháp môn Hân là
hân cầu Cực Lạc (vui cầu sang Cực Lạc, vì yên
tĩnh lắm!), phép này cùng với phép tu: Y vào Đạo
Đế và Diệt Đế mà phát ra 2 hoằng nguyện là:
“Pháp môn vô lượng thệ nguyện học” và “Phật đạo
vô thượng thệ nguyện thành”.
Vì có Phật nguyện
rộng lớn như thế, cho nên Phật mới bảo: “Thì
những người ấy đều được tới cõi A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề chẳng hề lui chuyển” tức là
đắc
đạo Bồ Đề, lên ngôi Bất Thoái.
(Đoạn văn này là cả
một bí quyết của tông Tịnh Độ mà người đời phần
đông mơ mộng không hiểu được rõ ràng đến nơi đến
chốn, vì thế mà hiện nay tuy có rất nhiều người
niệm Phật mà rất ít người được thành công).
Hoặc có người hỏi:
Như ai nay phát nguyện thì chỉ nói là: rồi mai
sẽ được sinh mới phải, cớ sao lại nói: “Ai nay
phát nguyện thì nay được sinh” là nghĩa làm sao?
Thưa: Câu này cũng
có 2 nghĩa:
1. Chữ “nay” ở
trong câu này là rút vào một thời kỳ mà nói là
“nay”. Như người nào giờ phút này phát nguyện
niệm danh hiệu Phật thì đến giờ phút lâm chung
(sắp chết) quyết định được sinh Tịnh Độ (Phải có
cái nghĩa này mới khiến người niệm Phật chỉ tu
trong một đời, một thời kỳ thiết yếu là nhất
định thành công không thể sai lạc. Nay phát
nguyện thì nay được sinh, chính là nghĩa thế.
Chữ “nay” ở đây có nghĩa là: Chỉ trong một đời
này).
Chữ “nay” ở trong
câu này là rút vào “một niệm” (một giây phút,
một sát na) mà nói là “nay”. Nghĩa là mỗi một
niệm mà tâm mình ứng hợp với tâm Phật thế là
ngay một niệm ấy mình đã được sinh rồi. Niệm
nào, niệm nào cũng ứng hợp như thế thì niệm nào,
niệm nào mình cũng đã được sinh ngay rồi (Phải
có cái nghĩa này mới khiến người niệm Phật thâm
nhập vào phép tu “Nhất Hạnh Tam Muội” hay là
“Niệm Phật Tam Muội”, bởi thế mà nói: Nay phát
nguyện thì nay được sinh).
Nhân mầu nhiệm và
quả mầu nhiệm của người niệm Phật đều chẳng bao
giờ lìa khỏi. Một tâm (một tâm tức là tâm mình
và tâm Phật ứng hợp với nhau làm một), nhân và
quả ấy giống như 2 đầu cán cân, hễ lên thì đồng
thời lên ngay, xuống thì đồng thời cũng xuống
ngay.Vậy thì, người niệm Phật cần gì phải đợi
đến hết kiếp Ta Bà rồi mới được sinh vào ao thất
bảo? Không, chỉ ngay giờ phút này ta có tín tâm,
ta có phát nguyện, ta niệm danh hiệu Phật thì
bóng đ
ài
sen vàng tươi sáng sủa của ta đã hiện ra ngay
rồi. Ta không phải là người trong cõi Ta Bà nữa!
(Câu này là một sự thực có đúng với chân lý, chứ
không phải là chỉ lý luận suông đâu!) Thực là
một phép tu: cực viên, cực đốn, nan nghị, nan tư
(rất đầy đủ, rất mau chóng, rất khó bàn, rất khó
nghĩ) chỉ có các bậc đại trí tuệ mới thâm tín,
thâm hiểu được.
3. KHUYẾN HẠNH
LƯU THÔNG
Trong đoạn Khuyến
Hạnh Lưu Thông, trước là lời chư Phật khen ngợi
đức Giáo Chủ Thích Ca, sau là lời đức Giáo Chủ
kết lại mà than thở.
Kinh văn
Hán: Xá Lợi Phất!
Như ngã kim giả, xưng tán chư Phật bất khả tư
nghị công đức, bỉ chư Phật đẳng diệc xưng tán
ngã bất khả tư nghị công đức, nhi tác thị ngôn:
“Thích Ca Mâu Ni Phật năng vi thậm nan hy hữu
chi sự, năng ư Ta Bà quốc độ ngũ trược ác thế:
kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng
sinh trược, mạng trược trung đắc A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề, vị chư chúng sinh, thuyết thị
nhất thiết thế gian nan tín chi pháp.
Việt: Xá Lợi Phất
ơi! Như ta ngày nay ngợi khen công đức chẳng
xiết nghĩ bàn của chư Phật kia, thì chư Phật kia
cũng lại ngợi khen công đức của ta chẳng xiết
nghĩ bàn mà nói câu này: “Phật Thích Ca Mâu Ni
làm được những việc rất khó hiếm có, ở ngay giữa
cõi Ta Bà kham khổ, lại vào cái đời có năm ác
trược: một là kiếp trược, hai là kiến trược, ba
là phiền não trược, bốn là chúng sinh trược, năm
là mạng trược, thế mà chứng được A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề; lại vì chúng sinh nói ra phép ấy
là phép hết thảy thế gian khó tin.
(Câu kinh cuối cùng
này hệ trọng ở hai chữ “Trì Danh”, cho nên thuộc
về Khuyến Hạnh Lưu Thông).
Trí tuệ và công đức
của các đức Phật đều là bình đẳng như nhau cả,
nhưng mà
đem
ra bố thí giáo hóa thì có chỗ dễ và có chỗ khó.
Như ở cõi Tịnh Độ mà tu thành Bồ Đề thì dễ, mà ở
cõi đời trược thế này thì khó lắm! Vì chúng sinh
ở trược thế nói pháp Tiệm (hiểu dần dần) còn dễ,
chứ nói pháp Đốn (hiểu ngay) thì khó nữa! Vì
chúng sinh ở trược thế nói các pháp Đốn khác còn
dễ, mà nói cái pháp Đốn vượt tắt ngang sang Tịnh
Độ thì lại càng khó nữa!
Vì chúng sinh ở
trược thế nói cái pháp diệu quán “đốn tu, đốn
chứng để vượt tắt ngang sang Tịnh Độ” đã chẳng
dễ gì, thế mà nay lại nói cái pháp “tu chứng”
này chẳng cần cù khó nhọc gì, chỉ có trì niệm
danh hiệu Phật A Di Đà thôi mà
được
lên ngay ngôi Bồ Tát Bất Thoái thì thực là một
phép phương tiện đệ nhất, đặc biệt lạ lùng, mầu
nhiệm hơn hết, vượt hẳn ra ngoài sức tưởng tượng
nghĩ bàn của loài người. Đó là một khó khăn
trong các khó khăn. Bởi thế mà chư Phật ở khắp
mười phương, không một vị nào là không suy tôn
đức Phật Thích Ca của ta là một vị Phật dũng
mãnh hơn hết.
Ngũ trược ác thế
(đời có 5 vẩn đục độc ác):
1) Kiếp Trược là
thời đại tụ hợp toàn những pháp vẩn đục cả.
Không có cái hạnh tu Niệm Phật này là một hạnh
tu mang cả ác nghiệp mà vượt tắt ra ngoài vòng
Kiếp Trược thì không tài nào mà
độ
thoát được những chúng sinh ở trong ở trong vòng
Kiếp Trược ấy (phép tu này giống như người bị
quân cướp bao vây phải phá vòng vây mà ra).
2) Kiến Trược là
thời đại có 5 tà kiến, nó sai khiến con người
mau lẹ lắm, thịnh hành lắm (ngũ lợi sử tà kiến
tăng thịnh).
Năm tà kiến ấy là:
1. Thân kiến là si
mê lầm tưởng thấy thân ta và những vật của ta là
thực có.
2. Biên kiến là khi
đã cố chấp thân ta và vật của ta là thực có, tất
phải thiên về một bên nào: hoặc theo chủ nghĩa
thân ta chết là hết chuyện, là
đoạn
diệt, là Vô; hoặc theo chủ nghĩa thân ta chết mà
vẫn còn, không mất, không thay đổi, thân ta là
thường trụ, là Hữu.
3. Kiến thủ kiến là
học theo những ý kiến chủ nghĩa tà ngụy, kém
cỏi, hẹp hòi của các tà thuyết, tà
đạo,
cho là mầu nhiệm hay hơn hết.
4. Giới thủ kiến là
học theo những giới luật nhảm nhí của bọn tà ma
để cầu sinh lên trời v.v… cho thế là chân chính
giữ được giới và
đắc
đạo.
5. Tà kiến là học
theo tất cả những lý luận, những chủ nghĩa,
những đạo giáo sai lầm cho là
đời
người không có nhân, có quả chi hết, cũng không
có thiện báo, ác báo chi cả.
Chúng sinh và loài
người ở vào thời đại có 5 tà kiến này nó làm cho
tối tăm mù quáng, đắm chìm vẩn đục, cho nên gọi
là
đời
Kiến Trược. Không có cái hạnh tu Niệm Phật này
là một hạnh tu chẳng cần đến phép Phương Tiện
nào khác mà cũng khai ngộ được tâm của mình thì
độ thoát làm sao được những chúng sinh ở trong
vòng Kiến Trược ấy? (Phép tu này là một quyết
định chặt chẽ, không cho một ý kiến nào khác xen
lẫn vào nữa).
3) Phiền Não Trược:
Là thời đại có 5 phiền não, nó cứ ngấm ngầm sai
khiến con người, nó nguy lắm và thịnh hành lắm
(ngũ độn sử phiền hoặc tăng thịnh).
Năm phiền não ấy
là:
A. Tham lam: yêu
thích, ham muốn.
B. Sân hận: giận
dữ, thù hằn.
C. Si mê: ngu dốt,
mê muội.
D. Mạn: kiêu ngạo,
khinh người, trịch thượng.
E. Nghi ngờ: không
có tín tâm chân thật.
Năm cái Tâm Sở xấu
xa này luôn luôn ngấm ngầm làm phiền não, rung
động, rối loạn, vẩn đục cái tâm tính yên tĩnh
trong sạch, sáng suốt của con người cho nên gọi
là
đời
Phiền Não Trược. Không có cái hạnh tu Niệm Phật
này là một hạnh tu nhận ngay cái tâm phàm là tâm
Phật thì không có phép nào độ thoát được những
chúng sinh ở trong vòng Phiền Não Trược ấy!
(Phép tu này là bình đẳng, không lấy riêng ai,
không bỏ riêng ai cả!)
4) Chúng Sinh
Trược: là cái thân thể và cái thế giới của ta ở
đây do 5 Kiến Trược và và 5 Phiền Não Trược cảm
ứng mà hiện ra 5 phần (ngũ ấm) hòa hợp với nhau.
Nó rất thô bỉ, tệ ác, nó giả tạm mà gọi là “thân
thể chúng sinh”.
Thân Ngũ Ấm có một
phần Sắc (tức là cái thân có 5 căn và cái thế
giới có 6 trần) và 4 phần Tâm (tức là Thụ,
Tưởng, Hành, Thức). Cả một phần Sắc và 4 phần
Tâm đều hủ lậu, đ
ê
liệt, vẩn đục cho nên gọi là Chúng Sinh Trược.
Không có cái hạnh tu Niệm Phật này, là một hạnh
tu vui cầu Cực Lạc, chán ghét Ta Bà, thì lấy gì
mà
độ
thoát được những người ở trong vòng Chúng Sinh
Trược ấy? (Phép tu này là một phép tu rõ ràng
lấy thiện, bỏ ác.)
5) Mạng Trược là
phần nhân, phần quả đều kém cỏi, mạng sống ngắn
ngủi quá, già lắm cũng chẳng đầy đủ một trăm năm
cho nên gọi là
đời
Mạng Trược. Không có cái hạnh tu Niệm Phật này
là một hạnh tu chẳng cần phí nhiều thời giờ,
ngày, tháng, năm, đời, kiếp và cũng chẳng phải
khó nhọc, cần khổ gì, thì không thể nào độ thoát
ngay được những chúng sinh ở trong vòng Mạng
Trược ấy? (Phép tu này vừa với sức lượng của
từng người, ai tu cũng được thỏa mãn.)
Lại còn nữa, là chỉ
cứ một tâm Tín Nguyện trang nghiêm như thế mà
niệm Phật thì mỗi một tiếng niệm Nam Mô A Di Đà
Phật là:
- Chuyển ngay được
Kiếp Trược thành ra Thanh Tịnh Hải Hội (một hội
tu của các vị Bồ Tát rất trong lặng như bể
khơi).
- Chuyển ngay được
Kiến Trược thành ra Vô Lượng Quang (trí quang
sáng suốt vô lượng).
- Chuyển ngay được
Phiền Não Trược thành ra Thường Tịch Quang (tâm
thường trụ, vắng lặng, sáng suốt).
- Chuyển ngay được
Chúng Sinh Trược thành ra thân Liên Hoa Hóa Sinh
(thân ở trong hoa sen hóa sinh ra).
- Chuyển ngay được
Mạng Trược thành ra Vô Lượng Thọ (mạng sống lâu
vô lượng).
Thế cho nên mỗi một
tiếng niệm Nam Mô A Di Đà Phật là một phép tu
tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề mà
đức
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã chứng được ở ngay
giữa đời ngũ trược ác thế này (nghĩa lý câu này
thực hiếm có, đó là bí quyết của tông Tịnh Độ từ
nghìn xưa, nhất đán mở tung ra cho mọi người
thấy rõ). Nay Ngài đem toàn thể quả Phật ấy,
Ngài trao cho các chúng sinh ở đời Ngũ Trược ác
thế này, theo đấy mà tu. Đó là cảnh giới hành vi
của chư Phật; vậy chỉ có Phật Thích Ca cùng với
chư Phật khắp 10 phương mới thấu suốt hết được.
Ngoài giới Phật còn 9 giới khác (là Bồ Tát,
Duyên Giác, Thanh Văn, thiên, nhân, A Tu La, địa
ngục, ngạ quỷ, súc sinh) thì tự lực mình chẳng
thể nào mà tự hiểu, tự tin được.
Trong đoạn này, chữ
“chư chúng sinh” là chỉ riêng cho hạng chúng
sinh ở đời ngũ trược ác thế.
Chữ “nhất thiết thế
gian” là chỉ suốt các khí thế gian trong 4 cõi
và các tình thế gian trong 9 pháp giới (khí thế
gian là trái đất, tình thế gian là những thân
chúng sinh ở trên trái đất).
Trong đoạn văn
Khuyến Hạnh Lưu Thông, lời chư Phật ở khắp mười
phương khen ngợi đức Giáo Chủ Thích Ca đến đây
là hết.
Dưới đây là lời đức
Giáo Chủ Thích Ca tự kết lại mà than thở với tôn
giả Xá Lợi Phất và giao phó cho tôn giả.
Kinh văn:
Xá Lợi Phất! Đương tri ngã ư ngũ trược ác thế
hành thử nan sự, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề, thuyết thử nan tín chi pháp, thị vi thậm
nan!
Việt: Xá Lợi Phất
ơi! Ông nên biết rằng: Ở giữa cõi đời có năm
trược ác mà Ta đã làm việc rất khó kia: là
đã
chứng được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề và Ta
đã nói phép khó tin ấy, để cho hết thảy các thế
gian nghe, như thế thực là những việc rất khó.
Chỉ có một hạnh tu
“Tín, Nguyện, Trì Danh” chẳng xen lẫn vào một
việc nào khác nữa, mà chuyển được cả năm trược
ác, đó là một cảnh giới tu hành chẳng thể nào
nghĩ bàn được. Giả sử không có đức Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni giáng sinh vào đời ác thế, không có
Ngài thị hiện tu đắc đạo tâm Bồ Đề, không có
Ngài dùng trí tuệ lớn lao và tâm thương cứu rộng
lớn để thấy rõ hạnh tu này, để thực hành hạnh tu
này, để nói ra hạnh tu này thì bọn chúng sinh ta
nhờ vào đâu mà bẩm thụ được hạnh tu này?
Nhưng loài người
chúng ta:
A) Hiện đang ở
trong Kiếp Trược quyết định là bị cái thời đại
vẩn đục này nó vây bọc ta, nó làm khổ não, áp
bức ta.
B) Hiện đang ở
trong Kiến Trược, quyết định là ta bị cái trí
xảo trá của bọn tà sư nó trói buộc.
C) Hiện đang ở
trong Phiền NãoTrược, quyết định là ta bị cái
tâm tham dục nó hãm hại và cái nghiệp độc ác nó
kích thích.
D) Hiện đang ở
trong Chúng Sinh Trược, quyết định là ta đ
ành
chịu ở yên trong cái thân bẩn thỉu này mà chẳng
biết rõ là bẩn thỉu, cam chịu cái thân hèn kém,
yếu ớt này mà chẳng thể nào bay cao lên được.
E) Hiện đang ở
trong Mạng Trược, quyết định là ta bị cái ma lực
vô thường nó nuốt mất đời sống nhanh như tia lửa
chớp nhoáng, trở bàn tay không kịp (năm đoạn này
nên hợp với 5 đoạn trên nói: Nếu không có phép
Niệm Phật này thì quyết không độ thoát được ra
ngoài 5 vòng trược ác).
Nếu chúng ta không
biết đích xác phép tu Tín, Nguyện, Trì Danh này
là một việc rất khó khăn, thì có lẽ ta cứ mơ
tưởng có một phép tu nào khác có thể cứu ta ra
khỏi được vòng ngũ trược! (Ta nên biết cái tôn
chỉ thậm nan này, từ xưa đến nay, chưa ai nói rõ
ra được đích xác như thế!)
Kiếp người chúng ta
ví như ở vào trong cái nhà lửa cháy bốn bên rồi,
mà vẫn cứ nô đ
ùa,
bàn cãi suông chơi với nhau hoài. Chỉ có ai biết
đích thực là một việc rất khó khăn thì mới giết
cho chết hẳn cái tâm tham dục, tà ngụy đi, và
mới biết quý báu phép tu Nhất Hạnh này (tức là
phép Niệm Phật chánh định: Nhất Hạnh Tam Muội
hay là Niệm Phật Tam Muội. Bảo cho người biết
quý báu phép tu niệm Phật là công đức đến muôn
đời về sau).
Chỉ vì thế mà
đức
Phật Bổn Sư phải hết lời nói đi, nói lại: “Khó
lắm! Khó lắm!”Đó là thâm tâm Ngài muốn phó chúc,
bọn ta cần phải biết.
Phần Phổ Khuyến đến
đây là hết.
KẾT KHUYẾN
Kinh văn
Hán: Phật thuyết
thử kinh dĩ, Xá Lợi Phất cập chư tỳ khưu, nhất
thiết thế gian, thiên, nhân, a tu la đẳng, văn
Phật sở thuyết, hoan hỷ tín thụ, tác lễ nhi khứ.
Việt: Phật nói kinh
này, khi đã xong rồi, ngài Xá Lợi Phất và các tỳ
khưu, hết thảy thế gian, cõi trời, cõi người,
cõi A Tu La và các cõi khác, nghe lời Phật nói,
vui mừng tin chịu, làm lễ rồi đi.
Pháp môn Niệm Phật
này thực chẳng khá nghĩ bàn, rất khó tin, khó
hiểu, trong đệ tự Phật, không có một người nào
biết đến mà hỏi Phật.
Trí tuệ Phật soi
thấy cơ duyên chúng sinh thành Phật đã chín rồi.
Mặc dầu không ai hỏi, mà tự Phật nói ra phép
Niệm Phật này khiến chúng sinh được 4 lợi ích
(đây là thích nghĩa 8 chữ: hoan hỷ, tín thụ, tác
lễ, nhi khứ).
Phật nói phép tu
Niệm Phật này, giống như một trận mưa hợp thời
làm cho nhân vật, cỏ cây mát mẻ, thấm nhuần, nảy
nở, lớn lên, thế gọi là “hoan hỷ” (vui mừng). Đó
là phần lợi ích do pháp Phật bố thí cho toàn thể
thế giới.
Trong tâm không còn
nghi hoặc một tơ hào nữa, thì gọi là Tín (tin).
Lãnh nạp lấy nghĩa Phật vào tâm chẳng giờ phút
nào quên, thế gọi là Thụ (chịu). Đó là hai phần
lợi ích vì tin lời Phật mà làm thiện, vì chịu
lời Phật mà bỏ ác.
Đem thân mạng quay
về với Phật, ứng hợp với toàn thể pháp giới
trùng trùng duyên khởi, thế gọi là “tác lễ” (làm
lễ). Đó là phần lợi ích được hiểu suốt vào Đệ
Nhất Nghĩa của Phật.
Nhưng trong mỗi một
lợi ích, thực ra lợi ích nào cũng có đủ cả 4 lợi
ích (được một lợi ích tức là
được
cả 4 lợi ích). Đấy chỉ là muốn cho dễ hiểu mà
tạm phân biệt ra làm 4 đấy thôi. Người nghe kinh
tự mình đã thực hành, đã được 4 phần lợi lợi ích
rồi, cứ một chiều tiến mãi không lui, đem kinh
này đi mà lưu thông truyền bá khắp nơi để báo
đền ân Phật, thế gọi là “nhi khứ” (rồi đi). Đi
mãi suốt đời vị lai, giáo hóa cho mọi người được
4 phần lợi ích ấy nó vô cùng tận.
Kinh Phật có nói:
“Đến đời Mạt Pháp, ức vạn người tu hành, ít khi
có một người đắc đạo, chỉ còn nhờ vào phép tu
Niệm Phật này mà
được
độ thoát thôi!” Than ôi! Đời bây giờ chính là
đời
Mạt Pháp rồi (thổ lộ hết tâm can), nếu chúng ta
bỏ pháp môn Niệm Phật này là một pháp bất khả tư
nghị, thì còn có pháp môn nào để cho ta tu học
được nữa?
Húc tôi đây, khi
mới xuất gia, tự phụ là một nhà Thiền Tông,
khinh thường các giáo điển, dám nói bậy rằng
phép tu “Trì niệm danh hiệu Phật” chỉ là một
phương tiện bày ra riêng cho bọn người trung căn
và hạ căn (hiện thân thuyết pháp). Về sau, nhân
vì tôi đau nặng, mới chịu phát tâm cầu sinh về
Tây Phương, rồi tôi lại chịu nghiên cứu 2 bộ
sách Diệu Tông và Viên Trung, cả bộ Di Đà Sớ Sao
của ngài Vân Thê và nhiều sách khác nữa, tôi mới
biết phép Niệm Phật Tam Muội thực là một viên
ngọc châu quý giá vô ngần, tôi mới chịu hết lòng
chấp trì danh hiệu Phật với một sức mạnh bằng
vạn con trâu cũng không kìm lại được.
Ông Khứ Bệnh, bạn
thân của tôi, ông theo nghiệp tu Tịnh Độ đã lâu
năm, ông muốn cho tôn chỉ rất lớn của bộ kinh
Phật Thuyết A Di Đà này được thật rõ rệt mà lời
nói đừng có phiền phức, ông thỉnh cầu tôi làm ra
Yếu Giải, và ý tôi cũng muốn cùng với tất cả hữu
tình trong pháp giới này cùng sinh sống ở cõi
Cực Lạc, lý ưng tôi không thể từ chối được (lời
nói bất đắc dĩ). Tôi cầm bút viết vào ngày 27
tháng 9 năm Đinh Hợi đến mồng 5 tháng 10 vừa
xong, tất cả có 9 ngày, hoàn thành bộ A Di Đà
Kinh Yếu Giải. Tôi cầu nguyện mỗi một câu, một
chữ trong bộ sách này sẽ là một món tư lương để
người ăn đường về Cực Lạc (quả nhiên mỗi chữ là
một món ăn thực sự). Và mỗi một người được thấy
hay một người được nghe, sẽ đều được lên ngôi
Bất Thoái cả. Cả người tin và người nghi cũng
gieo được mầm đạo, người tán thán và người phỉ
báng cũng đều được giải thoát về Tịnh Độ.
Tôi ngưỡng mong chỉ
có chư Phật, chư Bồ Tát nhiếp thọ chứng minh
cho. Và các bạn đồng học tùy hỷ gia hộ cho.
Phật Thuyết A Di Đà
Kinh Yếu Giải đến đây là hết.
Tây Hữu đạo nhân,
Ngẫu Ích Trí Húc gác bút viết lời bạt này năm 49
tuổi.
PHƯƠNG PHÁP THỰC
HÀNH TU TỊNH ĐỘ
Phép niệm Phật A Di
Đà cầu sinh Tịnh Độ là một Đốn pháp, khiến người
tu thấy rõ ngay tâm tính Bồ Đề của mình sống lâu
vô lượng và sáng suốt vô lượng, cũng như tâm
tính Bồ Đề của Phật Thích Ca, Phật A Di Đà và
chư Phật, chư Bồ Tát các loài chúng sinh ở khắp
mười phương pháp giới, hết thảy ai ai cũng có
tâm tính Bồ Đề (tâm tính Phật) bình đẳng như
nhau, không hơn, không kém.
Ai muốn thực hành
đạo Bồ Tát để chứng nhận được tâm Bồ Đề của
mình, hãy nên thọ giới Tam Quy, mỗi tháng ăn
chay 6 ngày, mỗi ngày niệm sáu chữ Nam Mô A Di
Đà Phật trong nửa giờ để ổn định tinh thần, dụng
công niệm được càng nhiều, càng lâu, càng chóng
thấy rõ tâm Bồ Đề của mình, của Phật và của
chúng sinh hiện ra. Bởi vì tâm Bồ Đề của mình
thể tính của nó vốn yên tịnh, mình dùng sức động
đến nó thì nó mới hiện ra, mà nó chỉ hiện ra
trong một giây lát thôi (tức là một niệm, một
sát na thôi). Nếu mình không niệm Phật luôn để
giữ lấy nó thì nó liền bị lu mờ bởi những niệm
khác lấn át nó đi, nó không hiện ra được nữa.
Tiến lên một bậc
nữa, là phát nguyện giữ 5 giới, hoặc 1,2 3, 4
giới cũng được, mỗi tháng ăn chay 10 ngày, hoặc
ăn chay mỗi năm 3 tháng hoặc ăn trường kỳ.
Niệm danh hiệu Phật
A Di Đà mỗi ngày từ 10 tràng cho đến 50 tràng
hoặc 100 tràng (mỗi tràng là 108 quả, mỗi quả là
một tiếng niệm, cho cẩn thận).
Ăn chay mỗi tháng 6
ngày là: mồng 8, 14, 15, 23, 29, 30 (tháng thiếu
ăn sụt lại ngày 28 và 29). Ăn chay mỗi tháng 10
ngày là mồng 1, 8, 14, 15, 23, 24, 28, 29 30
(tháng thiếu ăn sụt lại ngày 27, 28, 29). Ăn
chay thì không được ăn hành, hẹ, kiệu, tỏi,
thịt, cá, chỉ ăn rau, đậu, trái quả, nấm mộc
nhĩ, các loại thảo mộc thôi.
Thọ giới Tam Quy là
Quy Phật, Quy Pháp, Quy Tăng rồi thì không được
theo các đạo thần, thánh, chúa, tiên nào khác
nữa.
Thọ năm giới:
1. Không được sát
hại chúng sinh, động vật.
2. Không được trộm
cắp, lừa đảo, làm giặc, ăn cướp.
3. Không được tà
dâm, gian dâm, ngoại tình.
4. Không được nói
dối, chửi rủa, nói đòn xóc hai đầu, nói thêu
dệt, khiêu dâm.
5. Không được uống
rượu và ăn các thứ có chất say mê.
Hơn nũa, là mỗi
ngày tụng thần chú này, gọi là thần chú:
Bạt Nhất Thiết
Khinh Trọng Nghiệp Chướng, Đắc Sinh Tịnh Độ Đà
Ra Ni
(đây là dịch âm Ấn
Độ sang chữ Hán) Nại ma lạt đáp nạp, đặc ra gia
giã. Nại ma a rị giã, a mi đả bạt giã, đát đạt
cả đát giã. A ra hát đế, tam mê tam bất đạt dã.
Đạt đích giã thát:
Úm, a mi rị đế, a mi rị đả, ôn ba vĩ. A mi rị
đả, tam ba vĩ. A mi rị đả, cát rị tỷ. A mi rị
đả, tiết đế. A mi rị đả, đế tế. A mi rị đả, vi
kiết lan đế. A mi rị đả, vi kiết lan đế. Quả mi
nễ. A mi rị đả, quả quả nại, kiết rị đế cát rị.
A mi rị đả, đốn độ tỷ. Tô oa rị, tát rị oa, a
tặc thát, tát đát nễ. Tát rị oa. Quả rị ma. Cát
rị xá. Cát rị giả. Cát rị sa hát (142 chữ).
(Đây là dịch âm Ấn
Độ bằng chữ La Mã thì đúng hơn).
Nam mô ra tờ na, tờ
ra gia gia. Nam mô a rị gia, a mi ta bà gia, ta
ta ga ta gia, a ra ha tê, sam mia sam bồ đ
à
gia.
Ta đi gia tha: aum,
a mi ri tê. A mi ri ta, ôn ba vi. A mi ri ta,
sam ba vi. A mi ri ta, ca ri pi. A mi ri ta, pi
tê. A mi ri ta, tê chê. A mi ri ta, vi ga lan
tê. A mi ri ta, vi ga lan tê. Ga mi nê. A mi ri
ta, ga ga nai. Ga ri tê ca ri. A mi ri ta, tôn
tô tô pi. Sô oa ri. Sa ri oa. A lắt thát, sa ta
nê. Sa ri oa. Ga ri ma. Ca ri xa. Ca ri gia. Ca
so ha (142 chữ).
Thần chú này lại
còn có tên gọi là:
Vô Lượng Thọ Quang
Như Lai căn bản chân ngôn.
Thần chú này do
ngài Tam Tạng Pháp Sư Sa Ra Ba mới dịch rất
tường tận, hiện có chép trong sách Niệm Phật
Trực Chỉ ta nên tụng trì.
Người tụng chú này
sẽ được đại tinh tấn, mau chóng sinh Tịnh Độ.
Tụng được một biến, tức thì diệt được ở trong
thân hết thảy mọi tội ngũ nghịch, thập ác. Tụng
được 10 vạn biến, tức thì nhận được tâm Bồ Đề
nhớ mãi chẳng quên. Tụng được 20 vạn biến tức
thì cảm thấy mầm Bồ Đề đã sinh. Tụng được 30 vạn
biến, Phật A Di Đà thường ở đỉnh đầu, quyết định
sinh Tịnh Độ.
Ăn chay niệm Phật
trì chú lâu ngày, tự nhiên tâm mình yên lặng,
dẹp hết tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, hào
quang tuệ giác hiện ra, thế là thấy Phật A Di
Đà, được sinh Tịnh Độ hiện lúc đang sống ở đời
này, chứ không phải chỉ chờ đến lúc chết rồi mới
được sinh.
LỜI NGUYÊN BẠT
Kinh Phật nói: “Tam
giới duy tâm, vạn pháp duy thức” (29). Cổ nhân
nói: “Niệm tự tính Di Đà, sinh duy tâm Tịnh Độ”
(30). Hợp hai câu này lại mà soi xét thì cái
nghĩa câu “Thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật;
tâm ngoại vô Phật, Phật ngoại vô tâm” (31) rất
rõ vậy.
Người đời sau chẳng
hiểu được cái nghĩa ấy liền bỏ cõi Cực Lạc Tây
Phương mà nói cõi Tịnh Độ Duy Tâm nào khác kia.
Và bỏ danh hiệu Phật A Di Đà mà nói cõi Phật A
Di Đà tự tính nào khác kia. Có lẽ họ cho rằng
ngoài cái tâm họ, có ông Phật nào chăng? Hay là
ngoài Phật A Di Đà, còn có cái tâm nào khác
chăng?
Ngài Linh Phong Đại
Sư (32) đã hiểu suốt được toàn thể cái tâm tính
của con người, nói vốn không có chỗ nào là ngoài
cả (33). Đặc biệt đem bộ kinh này ra, Ngài rút
lấy những yếu giải; mỗi khi mở ra đọc, người có
tín, nguyện, trì danh tự mình có thể cầm lấy
những nghĩa ấy làm khoán ước cho mình được.
Chẳng những lời nói
giản dị mà ý nghĩa chu đáo, lại còn khiến cho
cái tông chỉ rất khó, hiếm có này, vang lên như
tiếng mõ, tiếng trống. Mở hết tạng kinh ra,
không còn giấu diếm gì, thực là xưa nay chưa
từng có vậy.
Đặt tên là sách Yếu
Giải chính vì là tâm yếu vô thượng vậy.
Cổ Ngô đệ tử Tịnh
nghiệp Khứ Bệnh Chính Tri cẩn chí.
Sách Yếu Giải của
ngài Ngẫu Ích đại sư phát minh được tôn chỉ chân
chính về phép tu Niệm Phật ở trong kinh Di Đà
này, chỉ điểm cho quy vào cái tâm Tín và Nguyện,
cứu độ được cả ba hạng người: thượng căn, trung
căn và hạ căn, tóm thâu được cả muôn hạnh tu
hành vào trong đó.
Lại còn lời nói rất
giản dị mà ý nghĩa rốt ráo phần sự, phần lý dung
hòa cai quát được cả, đặt tên sách là Yếu Giải
thì thực là thiết yếu lắm vậy.
Tôi biên tập bộ
sách Tịnh Độ Hội Nguyên, tôi cũng lược bỏ phần
Quán Hạnh chỉ chuyên chú phần Trì Danh để hợp
với sách Yếu Giải này thành một bộ, khiến người
tu Tịnh nghiệp biết rõ các thuyết tu Tịnh Độ đều
phù hợp với Phật thuyết, ngõ hầu người ta mới
chịu chuyên một hạnh tu niệm Phật mà không còn
nghi ngờ gì nữa.
Tháng Mạnh Hạ, năm Canh Tý
Hậu học Ngô Chiếu chí
Dịch xong ngày 25 tháng 5 chánh, năm Nhâm Thìn
(17-6-1952)
Tuệ Nhuận
Kiểm lại ngày 18 tháng 5 dư, năm Nhâm Thìn
(9-7-1952)
(1) Đoạn này thích
nghĩa bốn chữ “Như thị ngã văn”. Trên đầu các
kinh của Phật nói bao giờ cũng phải có 4 chữ
này, là một sự tối quan trọng. Khi Phật sắp vào
Niết Bàn, ngài A Nan hỏi: “Sau này con chép kinh
Phật thì phải chép thế nào?” Phật dạy: “Bao giờ
cũng phải viết một câu: “Như thị ngã văn” lên
trên hết”. Bởi thế mà các vị học giả phải giải
thích nghĩa câu này cho cực kỳ hết nghĩa tinh
vi. Mỗi khi Phật ấn chứng cho một pháp nào là
chính pháp, Phật thường nhắc đi, nhắc lại hai
chữ “như thị”. Theo nghĩa thế gian, chữ “như
thị” chỉ có nghĩa là như thế này, hay như thế
kia mà thôi. Nhưng theo nghĩa huyền vi của Phật
thì phải hiểu Phật dạy: “Như thị” là như thế nào
có hiểu được rốt ráo thì mới phải là người đã
giác ngộ. Trong kinh Pháp Hoa, Phật đã giải
thích tất cả các pháp trong thế gian này đều
phải ở trong khuôn khổ mười cái “như thị” tức
là: Tướng, tính, thể, lực, tác, nhân, duyên,
quả, báo và bản mạt cứu kính đẳng. Bởi vì tâm
tính của con người ta nó như như bất động mà nó
tạo ra vạn pháp thì vạn pháp phải đúng như thế.
Cho nên tất cả các pháp chép ở trong các kinh
Phật đều là: “Như thị” không sai. Và như thị đây
là tôi được nghe của Phật nói, chứ không phải
tôi nói.
(2) 8 cái khổ phận
đoạn là:1) Sinh. 2) Lão. 3) Bệnh. 4) Tử. 5) Cầu
chẳng được. 6) Xa lìa người yêu. 7) Gặp người
oán ghét. 8) Thân ngũ ấm bừng bừng như lửa cháy.
(3) Người ta phải
có 6 căn để mà hưởng thụ cái vui là: nhĩ căn,
nhãn căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, và ý căn.
Những cái để cho người ta hưởng thụ có 6 trần
là: thanh trần, sắc trần, hương trần, vị trần,
xúc trần, và pháp trần. Mỗi căn đối với một
trần, phát ra 6 cái biết vui hay khổ, gọi là Lục
Thức. Sáu căn, sáu trần, sáu thức cộng lại thành
18 giới, tức là hết thảy mọi nhân vật ở các thế
gian, Phật gọi là Pháp Giới.
(4) Sát na là tiếng
Ấn Độ, ta gọi là một loáng, là một thời gian
ngắn hơn một giây đồng hồ nhiều lắm.
(5) Vô lậu: là
không chảy ra, tức là trong sạch, không còn mọi
phiền não xấu xa, bẩn thỉu chảy ra.
(6) Tà mệnh: Các tỳ
kheo làm việc chẳng đúng như pháp để sống gọi là
“tà mệnh”, nghĩa là cái mạng sống gian tà. Có 4
tà mạng: 1) Làm ruộng, làm vườn, làm thuốc để
kiếm cơm, áo, gọi là Hạ Khẩu Thực. 2) Làm những
phép ngửa xem trăng, sao, mặt trời, mưa, gió,
sấm, sét, chớp để kiếm cơm áo, gọi là Ngưỡng
Khẩu Thực. 3) Nịnh hót những người hào phú,
quyền thế, đi sứ bốn phương, nói khoác kiếm
nhiều lợi, gọi là Phương Khẩu Thực 4) Học những
phép bùa chú, tà thuật, bói toán cát hung để
kiếm cơm áo, gọi là Duy Khẩu Thực.
(7) Chữ “ảnh” và
“chất” rút ở kinh Lăng Già quyển 1. Phật thí dụ
cái thức A Lại Gia của mỗi người nó tạo ra vạn
pháp, giống như một cái gương rất lớn không có
bến bờ giới hạn nào. Vạn vật vạn pháp khắp tam
giới, khắp vũ trụ, giống như cái bóng hiện ra
trong cái gương Thức đại khổng lồ ấy. Ý Phật
muốn nói vạn pháp và trời đất chỉ có thể hiện ra
được ở trong thể chất của thức A Lại Gia, cũng
như vạn cái bóng (ảnh) chỉ có thể hiện ra được ở
trong thể chất (chất) của cái gương. Chỗ có chất
gương thì phải có ảnh bóng, chỗ có ảnh bóng tức
là chỗ có chất gương; nhưng phải cái chất gương
của thức A Lại Gia thì chỗ nào cũng có, vì nó
không có giới hạn, bến bờ. Nó không giống như
chất gương soi của thế gian có cạnh, có góc. Câu
này nói: Tâm Phật và tâm chúng sinh cùng làm
ảnh, chất lẫn cho nhau. Thân độ của chúng sinh
làm ảnh thì tâm Phật làm chất gương. Ý nói: Phật
ở trong tâm thức chúng sinh, chúng sinh ở trong
tâm thức của Phật, tuy ở trong nhau mà không
dính chặt lấy nhau, giống như ảnh bóng ở trong
chất gương, mà không dính chặt lấy chất gương
vậy!
(8) “Thử tức, điểu
không” là câu chế giễu người học Phật ngu si,
chỉ thấy nói thì cũng nói mà không hiểu, không
tin, không tự thân thực hành gì cả. Đại khái như
nghe nói: “Phật tức tâm, tâm tức Phật” thì cũng
cứ lập lại “tức tức” giống như tiếng chuột kêu
“tức tức”, mà chẳng hiểu “tức tức” là gì. Lại
nghe nói: “Vạn pháp là không” thì cũng nói:
“Không, không” giống như tiếng chim kêu “không
không” mà chẳng hiểu “không không” là cái gì.
“Thử tức” là chuột kêu tức tức, “điểu không” là
chim kêu không không.
(9) Bản Giác là cái
tâm tính giác ngộ của mình vốn sẵn có từ vô
thủy.
(10) Thủy Giác là
cái tâm tính giác ngộ của mình mới bắt đầu tỉnh
thức dậy từ giờ phút này. Người niệm Phật cần
phải hiểu cái danh hiệu Phật A Di Đà là Bản
Giác, cất tiếng lên niệm Phật A Di Đà là Thủy
Giác.
(11) Nói rằng tu
“thành Phật” mà chính nghĩa thì không có “thành”
và cũng không có nghĩa “bất thành”, là thế nào?
- Bởi vì trong Tính đức của con người thì ai ai
cũng có sẵn cả ba thân Phật rồi, chứ có phải bây
giờ mới tu thành đâu, cho nên không có nghĩa là
“thành”. Lại bởi vì tuy có sẵn cả 3 thân Phật
đấy, nhưng mà phải có Tu đức thì mới “thành” ra
được. Thế là nói về Tính đức thì không có nghĩa
“thành”; nói về Tu đức thì không có nghĩa “bất
thành”, mà phải có nghĩa “thành”.
(12) Nhị Thừa là 2
bậc Thanh Văn và Duyên Giác. “Định tính” là cái
tính quyết định chỉ ở Tiểu Thừa thôi.
(13) Câu này ý nói
mình niệm Phật thì thành cho mình và
đồng
thời cũng thành cho người khác; cũng như Phật A
Di Đà
đã
tu cho mình thành Phật mà
đồng
thời cho cả chúng sinh thành Phật. Như thế gọi
là “một quả đã thành, hết thảy quả đều thành”
(nhất thành, nhất thiết thành).
(14) Chữ Trụ ở đây
có lẽ là lầm, Tín thì phải hơn vì ở dưới nói
ngôi Trụ thứ nhất của Viên Giáo đã là Niệm Bất
Thoái.
(15) Đối với các
ngôi của người dân ở Cực Lạc, thì hết thảy các
ngôi đều chẳng phải là ở vào ngôi nào cả, mà lại
ở vào hết thảy các ngôi.
(16) Chỉ một đời là
tu trọn vẹn, đầy đủ, được thành Phật.
(17) Ở đời có một
hạng người chỉ cố niệm Phật để đ
è
nén vọng tưởng thôi, chẳng biết cầu vãng sinh,
cho nên phải hết sức nói vỡ ra cái ý nghĩa này.
(18) Câu này nghĩa
sáng rõ như ban ngày, người có mắt sáng đều
thấy: “Tây phương A Di Đà Phật thị ngã tâm tạo”.
Chữ “tạo” chính nghĩa là “tạo tác” (nghĩa này
đúng với nghĩa: “Nhất thiết duy tâm tạo”). Kẻ
nào xuyên tạc chữ “tạo” ra một nghĩa khác, tức
là ma thuyết. Nhưng cái tâm tạo ra Phật đây là
tâm Bồ Đề thường trụ sống lâu và sáng suốt vô
cùng, tràn đầy khắp cả vũ trụ, chứ không phải
vọng tưởng sinh diệt ở trong óc, trong tim.
(19) Nhị Biên chính
là Nhị Biên Kiến, tức là tà kiến có hai biên,
chấp lấy một bên nào cũng là tà kiến. Chấp vạn
pháp là Hữu, là Vô, là Thường, là Đoạn đều là
Biên Kiến. Nó làm rối loạn tâm mình, tạo ra 2
cảnh điên đảo là sinh tử của phàm phu và Niết
Bàn của Tiểu Thừa.
(20) “Khẳng tâm” là
bằng lòng chịu. Bằng lòng chịu diệt cho hết vọng
tâm nghĩ lăng xăng, để cho Chân Tâm mình niệm
Phật, mà cứ để cho cái tâm nó nghĩ lăng xăng;
thế là không phải tâm mình niệm, thế mà mình cứ
mê say tưởng là mình niệm. Cho nên các Tổ phải
đánh thức mình bằng một câu hỏi thật mạnh:
“Người niệm Phật là ai?” để cho mình giật mình
tỉnh lại, mà thốt ra rằng: “Chết rồi, không phải
tâm tôi niệm ra, cái ma chướng nó nhập vào tôi
nó niệm, mà tôi lại nhận lầm nó là tôi” (Rõ ràng
là Vô Ngã, mà cố chấp là Hữu Ngã).
(21) Đại Viên Kính
Trí là nói cái trí sáng của Phật giống như gương
tròn to bằng cả vũ trụ. Hải Ấn Tam Muội là
định
tâm của Phật lắng trong như nước bể in được cả
trời đất vào trong.
(22) Nguyên âm
Brahma, Ấn Độ đọc là Udumbara, dịch nghĩa ra chữ
Hán là Linh Thụy, Tường Thụy (điềm thiêng, điềm
lành), là một giống cây ở Ấn Độ, cao hơn một
trượng, không có hoa mà có quả (giống như cây
sung và cây vả của ta), người đời nói 3.000 năm
nó mới khai hoa một lần, là khi có vua Kim Luân
hay có Phật ra đời. Trong kinh Pháp Hoa, mỗi khi
Phật nói đến nhân vật nào hiếm có, Phật dùng nó
làm thí dụ.
(23) Tập là tập
quán, Khí là khí lực (hơi sức) tức là những hơi
sức của mọi tập quán như tham lam, giận dữ, ngu
si, ngạo mạn, nghi ngờ, tà kiến v.v… đều là tập
quán của con người từ vô thủy, khó mà trừ diệt
được hết thật sạch tột cùng, dù tu đến bực A La
Hán, Bồ Tát vẫn chưa hết.
(24) Hộ: hộ trì
giúp đỡ, niệm: quyến niệm thương nhớ.
(25) Tam Muội là
tiếng Ấn Độ, đọc là Samadhi, nghĩa là chính
định, định tâm. Nhất Hạnh Tam Muội tức là Niệm
Phật Tam Muội hay là Nhất Tâm Niệm Phật, không
còn loạn tưởng. Chuyên tâm niệm một danh hiệu
Phật thôi.
(26) Vô Sanh Pháp
Nhẫn là một ngôi Bồ Tát đã soi thấy vạn pháp đều
là bất sanh bất diệt, nhưng “tương tự” là “gần
giống như” thì chưa được chính thức, còn phải
niệm Phật nhiều nữa thì mới được là “chân Vô
Sanh Pháp Nhẫn”.
(27) Đồng Sinh Tính
là Phật tính, vì nó sinh ra đồng với Phật.
(28) Pháp Tính là
pháp thân, là tâm Bồ Đề. Đồng thể là
đồng
một thể chất.
(29) Câu này nghĩa
là: ba cõi Dục giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới chỉ
duy tâm mình tạo ra, vạn pháp chỉ duy thức mình
tạo ra.
(30) Câu này nghĩa
là: Mình niệm ông Phật Di Đà của cái tính của
mình kia để cầu sinh vào cõi Tịnh Độ của cái tâm
của mình kia.
(31) Câu này nghĩa
là: Tâm ấy nó tạo tác ra Phật, tâm ấy nó là
Phật. Ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật không
có tâm.
(32) Linh Phong Đại
Sư là tên hiệu của tổ Trí Húc.
(33) Vì Tổ đã giác
ngộ được thể chất của tâm, nó rộng lớn như hư
không, nó không bờ, không bến, thì còn có chỗ
nào là ngoài tâm nữa? Chỗ nào cũng là tâm cả,
cõi Tịnh Độ, Phật A Di Đà cũng chỉ ở nội trong
tâm mình thôi, chẳng có chỗ nào ngoài tâm mình
để cho cõi Tịnh Độ và Phật A Di Đà ở.
Kẻ nào bỏ Phật A Di
Đà ở Tây Phương Cực Lạc không niệm không cầu mà
lại đi cầu Phật A Di Dà và cõi Tịnh Độ nào khác
của cái tâm tính của mình kia thì chỉ là kẻ si
mê, không hiểu cái tâm tính của mình nó rộng lớn
thế nào và cũng chẳng hiểu biết Phật và Tịnh Độ
ở đâu cả!
Hết