KINH A DI ĐÀ YẾU GIẢI
Linh Phong Ngẫu Ích Trí
Húc Đại Sư Soạn
Việt dịch:
Bồ Tát Giới Đệ
Tử Tuệ Nhuận
-o0o-
A. PHẦN TỰA (TỰ PHẬN)
Phần tựa phải chia làm hai là Thông Tự và Biệt Tự; trong phần
Thông Tự là nêu lên pháp hội, thời kỳ, xứ sở và
đại
chúng những ai cùng được nghe phép tu Tịnh Độ này.
I. THÔNG TỰ
Kinh văn
Hán: Như thị ngã văn: Nhất thời, Phật
tại Xá Vệ Quốc, Kỳ thụ Cấp Cô Độc viên.
Việt: Đúng thực như thế, chính tôi được
nghe: Một thời bấy giờ, tại nước Xá Vệ, Phật ở trong vườn ông Cấp Cô
Độc, có những cây của Thái Tử Kỳ Đà.
Đoạn này là mở ra hội nói phép tu Tịnh
Độ. Đây là lời của ngài A Nan, người chép kinh này nói ra.
Ngài nói: “Đúng thực như thế” là Ngài
nêu ra tấm lòng tín thuận của Ngài. Ngài nói: “Chính tôi được nghe”
là Ngài nêu rằng: “Chính tôi nghe thầy tôi nói như thế” (hai câu này
nguyên chữ Hán là: “Như thị ngã văn”)
“Một thời bấy giờ” là thời kỳ ấy, căn
cơ chúng sinh đã cảm động đến tâm Phật. “Phật” là một vị Giáo Chủ.
“Nước Xá Vệ, vườn Cấp Cô Độc” là chỗ Phật nói phép tu Tịnh Độ này.
Chân lý mầu nhiệm của Thực Tướng (Thực
Tướng là tâm tính của con người ta, nó đã tạo ra hết thảy các pháp
như thế nào thì A Nan chép vào trong bộ kinh này đúng như thế). Thực
Tướng ấy từ xưa đến nay chẳng hề biến đổi, nó vẫn như như cho nên
gọi là Như. Người ta y vào Lý Thực Tướng mà niệm Phật cầu sinh Tịnh
Độ, là một pháp nó tạo ra quyết định không sai, cho nên nói là Thị.
Thực Tướng là cái ta chân thực sống lâu
mãi mãi, không giống như cái thân người ta biến diệt đây, mà người
đời nhận lầm nó là thân ta, nó chỉ là cái ta giả tạm. Ngài A Nan
không bỏ cái ta giả tạm ấy cho nên Ngài vẫn xưng là “Ta”. Căn tai
của Ngài phát ra cái biết nghe ở tai, chính Ngài được nghe tiếng
Phật: cái nghe của Ngài với cái tiếng của Phật giống như hai cái hư
không in vào nhau thì gọi là “Nghe” (1). Ý nói cái nghe với cái
tiếng đều do Thực Tướng tạo ra, cùng ở trong Thực Tướng, giống như
hai hư không in vào nhau thành một.
Chữ “nhất thời” là một thời gian, không
phải là một pháp thực có, chỉ là lúc thầy trò đ
àm
đạo, thầy nói trò nghe xong rồi thì gọi là “một thời”.
Nghĩa chữ “Phật”: tự mình đã giác ngộ
rồi, đi giác ngộ cho người khác, mình và người đều giác ngộ đến cực
điểm, làm thầy cả cõi người và cõi trời thì gọi là “Phật”.
“Xá Vệ” là tiếng Ấn Độ, dịch ra chữ Hán
là “văn vật”, là cái tên nước lớn ở Trung Ấn Độ, là kinh đô của vua
Ba Tư Nặc.
“Kỳ Đà” là tiếng Ấn Độ, dịch nghĩa ra
chữ Hán là “chiến thắng” (thắng trận) là tên của Thái Tử con vua Ba
Tư Nặc.
Một quan đại thần ở nước ấy, tên Ấn Độ
là Tu Đạt Đa, dịch nghĩa ra chữ Hán là “Cấp Cô Độc” vì ông này giàu
lắm, hay cấp đỡ cho người cô thân, độc thân. Ông đem vàng ra trải
khắp cái vườn của thái tử Kỳ Đà, mua lấy được để cúng Phật, cúng
Tăng, thái tử cảm động quá, còn một ít đất chưa kịp lót vàng, thái
tử bảo thôi, xin đem một ít đất ấy và những cây cối trong vườn cúng
Phật, cúng Tăng. Vì thế mà chỗ Phật nói pháp đây được gọi bằng cả
hai tên thí chủ: “Cây của ông Kỳ, vườn của ông Cấp Cô Độc”.
Đoạn dưới đây nói về đại chúng có những
ai cùng dự nghe phép tu Tịnh Độ này, trong đại chúng chia làm ba
chúng: 1) Thanh Văn chúng 2) Bồ Tát chúng 3) Thiên, Nhân chúng.
Các vị Thanh Văn đứng đầu vì các Ngài
là hình tướng xuất thế gian, vì các Ngài thường theo Phật, vì các
Ngài là Tăng mà Phật và Pháp đều nhờ có Tăng mà lưu truyền được.
Các vị Bồ Tát ở giữa, vì các Ngài là
hình tướng bất định (vừa xuất thế vừa tại thế), vì các Ngài chẳng
thường theo Phật, vì các Ngài tiêu biểu cái nghĩa Trung Đạo.
Các vị Thiên và Nhân ở sau cùng vì các
Ngài là hình tướng thế gian, vì trong các Ngài có lẫn cả phàm và
thánh, vì các Ngài là chức ngoại hộ (đứng ngoài mà bảo hộ Phật
pháp).
1. THANH VĂN CHÚNG
Đây là số và loại các vị Thanh Văn.
Kinh văn
Hán: Dữ đại tỳ khưu tăng, thiên nhị
bách ngũ thập nhân câu.
Việt: Cùng với các bậc đại tỳ khưu
tăng, có một ngàn hai trăm năm mươi vị.
“Đại tỳ khưu” là người tu xuất gia, đã
được giữ Cụ Túc Giới, tỳ khưu là tiếng Ấn Độ, nguyên âm đọc là
Bhikkhu, có hàm 3 nghĩa:
1) “Khất sĩ” chỉ giữ một chiếc bát để
xin cơm nuôi thân, không súc tích tiền của chi cả, chuyên cầu xin
lấy đạo xuất thế gian. Khất Sĩ là kẻ đi xin ăn, xin đạo.
2) “Phá ác” dùng trí tuệ chân chính để
quan sát phá trừ mọi tật, các phiền não, chẳng sa đọa vào vòng ái
kiến.
3) “Bố ma” đã phát tâm thụ giới, phép
Yết Ma đã thành tựu, tức thời loài Ma trông thấy phải sợ hãi.
“Tăng” nguyên là Tăng già, tiếng Ấn Độ
đọc là Sangha, dịch nghĩa ra chữ Hán là Hòa Hợp Chúng. Cùng chứng
được lý vô vi giải thoát, gọi là Lý hòa. Thân hòa: cùng ở với nhau.
Miệng hòa: không cãi cọ nhau. Ý hòa: cùng đẹp lòng nhau. Kiến hòa:
cùng hiểu với nhau. Lợi hòa: cùng chia với nhau, gọi là Sự hòa. Tất
cả là Lục Hòa thì mới được gọi là Tăng già, là Hòa Hợp Chúng.
Trong số 1250 vị ấy thì ba anh em ông
Ca Diếp với học trò của ba ông cộng được 1.000 người. Ông Xá Lợi
Phất và ông Mục Kiền Liên với học trò của hai ông cộng được 200. Bọn
ông Gia Xá Tử có 50 người; đều là những người khi Phật mới thành đạo
được độ thoát trước tiên, vì cảm thâm ân của Phật nên thường theo
Phật.
Đây là nói về địa vị và
đạo
đức của các ngài Thanh Văn.
Kinh văn
Hán: Giai thị đại A La Hán, chúng sở
tri thức.
Việt: Đều là những bậc đại A La Hán,
chúng đều quen biết.
“Đại A La Hán” là tiếng Ấn Độ, nguyên
âm đọc là Arhan, có hàm 3 nghĩa:
1. “Ứng cúng”, người được cúng dường,
đó là quả Khất Sĩ.
2. “Sát tặc”, giết hết giặc phiền não,
đó là quả Phá Ác.
3. “Vô sinh” không còn sinh tử nữa, đó
là quả Bố Ma.
Lại có 3 bậc A La Hán khác nhau: 1) Tuệ
giải thoát; 2) Câu giải thoát; 3) Vô nghi giải thoát.
Các vị ở đây là “Vô nghi giải thoát”,
cho nên gọi là Đại A La Hán. Lại vì các vị ấy vốn là bậc Pháp Thân
Đại Sĩ (Bồ Tát đã chứng minh được Pháp Thân) thị hiện ra làm Thanh
Văn để chứng thực phép tu Tịnh Độ là một phép bất khả tư nghì, cho
nên gọi là Đại A La Hán.
Các vị theo Phật đi thuyết pháp, gọi là
“chuyển pháp luân” (lăn bánh xe pháp), làm lợi ích khắp cõi nhân và
cõi thiên, cho nên được chúng đều quen biết.
Đây là kể tên các vị đứng đầu:
Kinh văn
Hán: Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục
Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Si La, Ly
Bà Đa, Chu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba
Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu
La, A Nậu Lâu Đà, như thị đẳng chư đại đệ tử.
Việt: Là: Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha
Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Si La,
Ly Bà Đa, Chu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm
Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc
Câu La, A Nậu Lâu Đà, còn nhiều các vị đệ tử khác, cũng như thế nữa.
Tuổi cao đức trọng đều tôn quý thì gọi
là “Trưởng lão”; lại gọi là Tôn Giả, là người đáng tôn quý.
Ngài Xá Lợi Phất (Ấn Độ đọc là
Sariputra, chữ Hán là Thân Tử), trong hàng Thanh Văn, Ngài là bậc
Trí Tuệ đệ nhất.
Ngài Ma Ha Mục Kiền Liên (Ấn Độ đọc là
Mahamogallàna, chữ Hán là Đại Thái Thúc Thị), là bậc có phép thần
thông đệ nhất.
Ngài Ma Ha Ca Diếp (Ấn Độ đọc là Maha
Kasyapa, chữ Hán là Đại Ẩm Quang), thân Ngài có ánh sáng vàng, được
Phật truyền tâm ấn cho làm Tổ đệ nhất, Ngài là bậc tu hạnh Đầu Đà
đệ
nhất (hạnh Đầu Đà là khất thực, đi xin ăn).
Ngài Ma Ha Ca Chiên Diên (Ấn Độ đọc là
Maha Katyana, chữ Hán là Đại Văn Sức), là dòng Bà La Môn, là bậc có
tài nghị luận giỏi đệ nhất.
Ngài Ma Ha Câu Si La (Ấn Độ đọc là Maha
Kausthila, chữ Hán là Đại Tất), là bậc có tài trả lời các câu hỏi
hay đệ nhất.
Ngài Ly Bà Đa (Ấn Độ đọc là Revata, chữ
Hán là Tinh Tú), là bậc không điên đảo rối loạn đệ nhất (tức là ngồi
Thiền Định).
Chữ Chu Lợi Bàn Đà Già (Ấn Độ đọc là
Ksudra Panthaka, chữ Hán là Kế Đạo), là người rất đần độn, chỉ nhớ
nghĩa được một bài kệ mà thành người có tài biện luận giỏi vô cùng,
nên Ngài là bậc nhớ nghĩa hay đệ nhất.
Ngài Nan Đà (Ấn Độ đọc là Nanda, chữ
Hán là Khánh Hỷ), là em ruột của Phật, Ngài là bậc có uy nghi, dung
mạo đệ nhất.
Ngài A Nan Đà (Ấn Độ đọc là Ananda, chữ
Hán đọc là Khánh Hỷ), là em con chú của Phật, lại được làm Thị Giả
đứng hầu Phật, Ngài là bậc được nghe nhiều đệ nhất.
Ngài La Hầu La (Ấn Độ đọc là Rahula,
chữ Hán là Phú Chướng), là Thái tử của Phật, Ngài có đạo hạnh bí mật
đệ nhất.
Ngài Kiều Phạm Ba Đề (Ấn Độ đọc là
Gavampati, chữ Hán là Ngưu Tư), vì có tội ác khẩu từ kiếp trước nên
phải chịu quả báo còn sót lại: mồm nhai như con bò, Ngài là bậc được
hưởng cúng dường ở cõi Thiên bậc nhất.
Ngài Tân Đầu Lư Phả La Đọa (Ấn Độ đọc
là Pindola Bharadvaja, chữ Hán là Bất Động và Lợi Căn), Ngài ở lại
thế gian rất lâu dài để hưởng cúng dường ở đời mạt thế. Ngài là bậc
phúc điền đệ nhất, giống như một thửa ruộng tốt để người đời trồng
cây phúc.
Ngài Ca Lưu Đà Di (Ấn Độ đọc là
Kalodayin, chữ Hán là Hắc Quang), Ngài là sứ giả của Phật, là bậc
giáo hóa được nhiều người đệ nhất.
Ngài Ma Ha Kiếp Tân Na (Ấn Độ đọc là
Maha Kapphina, chữ Hán là Phòng Tú), là bậc biết xem sao đệ nhất.
Ngài Bạc Câu La (Ấn Độ đọc là Vakkula,
chữ Hán là Thiện Dung), Ngài là bậc có thọ mệnh sống lâu đệ nhất.
Ngài A Nậu Lâu Đà (Ấn Độ đọc là
Anirudha, chữ Hán là Vô Bần), Ngài cũng là em con chú của Phật. Ngài
là bậc có Thiên Nhãn, con mắt trông xa đệ nhất.
Các Ngài thường theo Phật luôn luôn,
cho nên gọi là Thường Tùy Chúng. Các Ngài vốn là bậc Pháp Thân Đại
Sĩ, là bậc Bồ Tát đã chứng được Pháp Thân, mà thị hiện ra làm Thanh
Văn, cho nên lại gọi các Ngài là Ảnh Hưởng Chúng, là các vị Tăng có
nhiều ảnh hưởng cho đạo Phật.
Nay các Ngài được nghe phép tu Tịnh Độ
là phép thu nhận được vô lượng công đức, các Ngài đều được lợi ích
là: Phật đã bố thí cho các Ngài được hiểu nghĩa đệ nhất trong giáo
lý của Phật. Các Ngài làm cho đường Đạo tăng lên, đường đời giảm
bớt, tự mình cải tạo cho đất nước mình trở nên thanh tịnh giác ngộ,
cho nên các Ngài lại được gọi là Đương Cơ Chúng, là các vị Tăng có
cơ đương nổi việc Phật.
2. BỒ TÁT CHÚNG
(Nói về Bồ Tát chúng hay Bồ Tát tăng)
Kinh văn
Hán: Tinh chư Bồ Tát Ma Ha Tát: Văn Thù
Sư Lợi pháp vương tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường
Tinh Tiến Bồ Tát, dữ như thị đẳng chư đại Bồ Tát.
Việt: Lại có các vị Đại Bồ Tát là: Văn
Thù Sư Lợi pháp vương tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát,
Thường Tinh Tiến Bồ Tát cùng nhiều vị đại Bồ Tát khác, cũng như thế
nữa.
Chữ Bồ Tát Ma Ha Tát tiếng Brahmana ở
Ấn Độ, nguyên âm đọc là Boddhi Sattvaya Maha Sattvaya (Bồ Đề Tát Đỏa
Bà Gia Ma Ha Tát Đỏa Bà Gia), dịch nghĩa ra chữ Hán là “đại đạo tâm
thành tựu hữu tình” (có tâm đạo lớn làm cho hữu tình được thành
tựu). Đó là một danh hiệu của một người đã vận dụng được cả hai tâm:
bi thương và trí tuệ, làm lợi lạc cả mình và người.
Phật là Pháp Vương (ông vua tạo ra vạn
pháp). Ngài Văn Thù Sư Lợi (nguyên tiếng Ấn Độ đọc là Manjusri, chữ
Hán là Diệu Đức, Diệu Cát Tường). Ngài vốn nối nghiệp nhà của Phật
nên được gọi là Pháp Vương Tử (con của đức Pháp Vương). Trong hàng
Bồ Tát Tăng, Ngài là bậc có trí tuệ đệ nhất. Chẳng là bậc có trí tuệ
chân thực dũng mãnh thì chẳng tài nào chứng được và hiểu được pháp
môn Tịnh Độ này, cho nên Ngài được đứng đầu.
Ngài A Dật Đa (tiếng Ấn Độ đọc là
Ajita, chữ Hán là Vô Năng Thắng, là tên riêng của Ngài Di Lặc Bồ
Tát, tiếng Ấn Độ đọc là Maitreya). Ngài là bậc sẽ được thành Phật,
sau đời Phật Thích Ca, hiện bây giờ Ngài ở ngôi Đẳng Giác Bồ Tát (Bồ
Tát thứ 10), Ngài lấy việc làm cho đất nước mình trở nên trang
nghiêm trong sạch, giác ngộ là việc thiết yếu của Ngài, cho nên Ngài
đứng thứ nhì.
Ngài Càn Đà Ha Đề (tiếng Ấn Độ là
Gandhahastin, chữ Hán là Bất Hưu Tức, tức là “chẳng ngừng nghỉ”). Vì
Ngài là người tu hành mãi mãi, lâu đời nhiều kiếp chẳng hề ngừng
nghỉ.
Ngài Thường Tinh Tiến là một vị Bồ Tát
thường làm lợi lạc cho cả mình và người mà không hề mỏi mệt.
Các vị này đều là các vị Bồ Tát ở ngôi
rất cao, các Ngài đều phải quyết chí cầu sinh Tịnh Độ, vì cớ rằng
các Ngài mong được thấy Phật luôn luôn chẳng rời, mong được nghe
Pháp luôn luôn chẳng rời, mong được thân cận cúng dường chúng Tăng
luôn luôn chẳng rời, có thế thì mới có thể mau chóng viên mãn được
tâm Bồ Đề của mình (Phép tu Tịnh Độ này về phần Sự là một nhân duyên
rất lớn lao, về phần Lý là một phép tu bí mật tạng, ta chớ nên bỏ
qua).
3. THIÊN, NHÂN CHÚNG
Đây là nói về thiên, nhân chúng (chúng
cõi thiên và cõi nhân).
Kinh văn
Hán: Cập Thích Đề Hoàn Nhân đẳng, vô
lượng chư thiên đại chúng câu.
Việt: Cả vua Đế Thích và các vua khác,
cùng với các đấng trên cõi Trời, và các cõi khác đông không xiết kể,
cùng đến dự hội.
Thích Đề Hoàn Nhân, nguyên tiếng Phạn
là Sakra Devà indra, chữ Hán là Năng Vi Chúa hay Năng Thiên Chúa,
tức là một vị Thiên vương ở cõi trời Đao Lợi, ở đỉnh núi Tu Di, cao
nhất thế giới.
Chữ Đẳng là kiêm cả hạ đẳng và thượng
đẳng tức là các vị vua chúa ở cõi Trời dưới vua Đế Thích và các vị ở
cõi Trời trên vua Đế Thích. Dưới vua Đế Thích có bốn vị thiên vương
ở lưng chừng núi Tu Di. Trên vua Đế Thích ở hư không, còn có vô số
các đấng ở các cõi trời khác, tức là 4 cõi Dục Giới: Dạ Ma, Đâu
Suất, Hóa Lạc và Tha Hóa, 18 cõi trời Sắc Giới và 4 cõi Vô Sắc Giới
(tất cả có 2 cõi trời Dục Giới ở núi Tu Di và 26 cõi trời ở trên Hư
Không, cộng là 28 cõi).
Chữ “đại chúng câu” là tóm tắt hết cả
các giới ở khắp mười phương, cõi trời, cõi người, tám bộ quỷ thần, a
tu la, nhân, phi nhân v.v… không một ai là không đến dự Hội nói pháp
này, không một người nào là không được thu hút vào trong pháp môn tu
Tịnh Độ (chỉ vì pháp môn này rất rộng lớn nên mới mầu nhiệm được như
thế).
Đến đây là hết phần Thông Tự.
II. BIỆT TỰ
Từ đây là phần Biệt Tự, hay Phát Khởi
Tự.
Phép tu Tịnh Độ là pháp môn mầu nhiệm,
chẳng khá nghĩ bàn, cho nên không có ai biết mà hỏi, tự Phật phải
khởi xướng lên. Phật nói cho biết trên cái thế giới kia (y báo) và
nhân vật ở thế giới kia (chính báo) để phát khởi cái tâm Tín Nguyện
của con người. Lại nữa, trí huệ Phật soi thấy căn cơ của chúng không
sai lầm, Phật thấy rõ tất cả đại chúng đây ai cũng có cơ được nghe
pháp tu Tịnh Độ này, ít ra cũng được một trong 4 lợi ích:
1) Nghe rồi thấy toàn thân sung sướng,
vui mừng.
2) Nghe rồi sinh tâm thích làm thiện.
3) Nghe rồi chừa bỏ hết tội ác, tật
xấu.
4) Nghe rồi hiểu thấu vào tới chỗ chính
lý của Thực Tướng.
Vì lẽ ấy mà Phật chẳng đợi ai hỏi mà tự
Phật phát khởi ra phép tu Tịnh Độ này. Cũng như trong kinh Phạm
Võng, nào có ai biết vị hiệu Phật là gì mà hỏi, cũng là tự Phật khởi
xướng lên mà nói rằng: "Chính vị hiệu của ta là Phật Lô Xá Na
(Rocana)." Ngài Trí Giả cũng cho đoạn kinh này là phần Phát Khởi Tự,
ta lấy đấy làm tỷ lệ thì đủ biết đoạn kinh này cũng là phần Phát
Khởi Tự.
Kinh văn
Hán: Nhĩ thời Phật cáo trưởng lão Xá
Lợi Phất: “Tùng thị Tây phương quá thập vạn ức Phật độ hữu thế giới
danh viết Cực Lạc. Kỳ độ hữu Phật hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết
pháp”.
Việt: Bấy giờ, đức Phật bảo ngài trưởng
lão Xá Lợi Phất rằng: “Từ đây đi về bên Tây Phương kia, trải qua
mười muôn ức Phật độ, có một thế giới, gọi là Cực Lạc. Cõi ấy có
Phật hiệu A Di Đà, hiện đang thuyết pháp.”
Pháp tu Tịnh Độ là một pháp môn thu
nhiếp được cả ba hạng người: thượng căn, trung căn, hạ căn; là một
pháp môn viên dung tuyệt đối, bất khả tư nghì. Pháp môn này thu được
tất cả, vượt được tất cả các pháp môn khác, xưa nay chưa nói rõ được
như thế. Một pháp môn rất sâu, rất khó tin, cho nên đặc biệt bảo cho
người đại trí tuệ. Vì rằng chẳng phải là người trí tuệ đệ nhất thì
chẳng cách nào hiểu ngay được mà không nghi ngờ (đủ thấy người trí
tuệ mới tu được, mà hiền ngu cũng tu được, thực là hai việc bất khả
tư nghì).
Hai chữ “Tây Phương” là Phật bảo: đi
tắt ngang thẳng sang phía Tây, là chỗ hiện đương có cõi Tịnh Độ ngay
lúc ấy.
Chữ “ức” ở đây là 10 triệu. Vậy 10 vạn
ức thành một ngàn ngàn triệu.
Chữ “Phật độ” là một khu vực của một vị
Phật hóa độ, có một ngàn triệu thái dương hệ, trong kinh Phật gọi là
một “tam thiên đại thiên thế giới”. Nay hãy nói thế nào là một Phật
độ (hay là tam thiên đại thiên thế giới). Ta lấy ngay quả đất của ta
ở đây, ta nói: Quả đất của ta có một núi Tu Di cao nhất, 4 bên:
Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi bên là một châu chung quanh có Thiết Vi bọc
lấy. Châu nào cũng cùng ở dưới một mặt trăng, một mặt trăng soi vào.
Mỗi châu là một thiên hạ; quả đất có bốn tứ thiên hạ, cho nên gọi là
“quả tứ thiên hạ”. Một nghìn quả Tứ Thiên Hạ gọi là một tiểu thiên
thế giới. Một nghìn tiểu thiên thế giới gọi là một trung thiên thế
giới. Một nghìn trung thiên thế giới gọi là một Đại Thiên Thế Giới
(Vậy chữ Tam Thiên ở đây nghĩa là 1 x 1.000 tiểu thiên. Lại 1.000 x
1.000 – Đại Thiên – 1.000.000.000 - một ngàn triệu). Nay Phật bảo:
Phải đi qua 10 vạn ức Phật độ như thế về phía Tây, đến đấy là thế
giới Cực Lạc.
Hoặc có người hỏi: Cớ gì Cực Lạc ở
phương Tây?
Thưa: Câu hỏi ấy không có nghĩa. Giả sử
nói Cực Lạc ở phương Đông thì ngài lại hỏi: “Cớ gì nó ở Đông?” Câu
hỏi ấy chẳng phải là câu đ
ùa
chơi (hý luận) là gì? (Không trả lời thế mới là trả lời rất hay, xưa
nay càng trả lời nhiều càng thêm hý luận). Huống chi, ngài đi quá ra
11 vạn ức Phật độ, ngài nhìn lại Cực Lạc thì nó lại ở đằng Đông rồi,
ngài còn nghi ngờ gì nữa?
Câu “hữu thế giới danh viết Cực Lạc”
(có thế giới gọi là Cực Lạc) là nói cái tên quả đất kia, là cái phần
y báo của Phật và nhân dân ở đấy (Y báo là quả báo do nghiệp ý của
con người đã tạo ra, để cho con người phải y vào đấy mà sinh sống).
Quả đất ấy vận chuyển luôn luôn, lúc này qua lúc khác thành ra nó có
3 đời: đời trước, đời này, đời sau, cho nên gọi nó là Thế. Quả đất ở
trong hư không, chung quanh nó là 10 phương: Đông, Tây, Nam, Bắc,
Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, Thượng và Hạ; phương nào nó
cũng có giới hạn ở phương ấy, cho nên gọi nó là Giới. Vì nó bị vận
chuyển trong tam thế và nó có giới hạn ở khắp thập phương nên gọi nó
là “Thế giới”.
Nước Cực Lạc, nguyên âm tiếng Brahmana,
Ấn Độ đọc là Sumati (Tu Ma Đề), chữ Hán là Cực Lạc, An Lạc, Diệu Ý,
An Dưỡng, Thanh Thái v.v… nghĩa là một đất nước yên vui, yên ổn đệ
nhất, vĩnh viễn thoát ly hết mọi khổ, xem xuống dưới còn thích nghĩa
rõ hơn.
Nhưng mà, Phật độ nào cũng có 4 cõi,
cõi nào cũng chia làm hai: Tịnh Độ và Uế Độ (câu này đính chính lại
các chỗ sai lầm):
1. Cõi Phàm Thánh Đồng Cư, chỗ nào ngũ
trọc nặng là Uế Độ, chỗ nào ngũ trọc nhẹ là Tịnh Độ (nhưng ở Tây
Phương thì cõi Đồng Cư là Tịnh Độ vì phàm với thánh ở đấy cùng một
lệ).
2. Cõi Phương Tiện Hữu Dư. Chỗ nào
người tu phép “Tích không chuyết độ” chứng vào ở đấy là Uế Độ; chỗ
nào của người tu phép “Thể không xảo độ” chứng vào ở đấy là Tịnh Độ
(nhưng Tây Phương thì cõi Phương Tiện là Tịnh Độ vì người tu Tiểu
Thừa ở đấy đã hồi tâm).
3. Cõi Thực Báo Vô Chướng Ngại, chỗ nào
của người tu phép Thứ Đệ Tam Quán chứng vào ở đấy là Uế Độ. Chỗ nào
người tu phép Nhất Tâm Tam Quán chứng vào ở đấy là Tịnh Độ (nhưng ở
Tây Phương thì cõi Thực Báo là Tịnh Độ vì là chỗ ở của người tu phép
Viên Chiếu).
4. Cõi Thường Tịch Quang, chỗ nào của
người tu Phận Chứng ở là Uế Độ; chỗ nào của người tu Cứu Kính Mãn
Chứng ở là Tịnh Độ (nhưng ở Tây Phương thì cõi Thường Tịch Quang là
Tịnh Độ vì 16 vị vương tử đều ở đấy, phần Bản và phần Tích đều cao).
Cái thế giới Cực Lạc nói ở trong kinh
này chính là cõi Đồng Cư Tịnh Độ mà 3 cõi Tịnh Độ trên cũng có đủ cả
ở ngay đấy. (Đây là bàn về Tu Đức, đức tu của mình lên cao nên chỉ
có Tịnh Độ thôi. Còn bàn về Tính Đức thì trong Tính Đức dù là một
hạt bụi nhỏ li ti cũng thế, trong hạt nào cũng có sẵn đủ 4 Phật độ
cả Tịnh và Uế. Nay rút vào phép tu chỉ có 3 món Tín, Nguyện, Hành
với danh hiệu đức Phật A Di Đà bất khả tư nghì, mà khiến được người
phàm phu cảm ứng hiện ra ở thế giới Cực Lạc một cõi Đồng Cư cực kỳ
thanh tịnh, mà ở trong những Phật độ khác ở khắp mười phương đều
không thể có được, chỉ riêng ở Cực Lạc mới có một cõi Đồng Cư như
thế mà thôi; có thế thì mới là tông chỉ phép tu Tịnh Độ ở Cực Lạc
(Xuống dưới này, những chỗ giảng nghĩa về Tịnh Độ đều như thế cả).
Câu “hữu Phật hiệu A Di Đà” (có Phật
hiệu là A Di Đà) là nói cái tên của đức Giáo Chủ kia, là cái phần
Chính Báo của vị Phật ở đấy (Chính Báo là cái quả báo do nghiệp ý
của con người đã tạo ra, nó là chính cái thân con người phải sinh
sống ở đấy). Xuống dưới này sẽ phiên dịch, thích nghĩa rộng nhiều.
Phật phải có 3 thân là: Pháp Thân, Báo
Thân, và Ứng Thân; thân nào cũng có thân đơn và thân kép.
Pháp Thân đơn là cái tính lý của người
tu đã chứng nhận được. Báo Thân đơn là những công đức và trí tuệ của
người tu đã tạo ra để chứng thực. Hóa Thân đơn là những màu sắc,
hình tượng 32 tướng, 80 hảo của người tu đã hiện ra.
Pháp thân kép thì:1) Cái Pháp Thân tự
tính nó vốn trong sạch (tự tính thanh tịnh pháp thân); 2) Cái Pháp
Thân rất mầu nhiệm đã thoát lìa hết trần cấu (hết mọi tà kiến, phiền
não nhơ bẩn).
Báo thân kép thì:1) Cái Báo Thân mình
tạo ra để cho mình thụ dụng (tự thụ dụng báo thân); 2) Cái Báo Thân
mình tạo ra để cho người khác thụ dụng (tha thụ dụng báo thân).
Hóa Thân kép thì 1) Cái Hóa Thân mình
thị hiện giáng sinh vào cõi nào (thị sinh hóa thân); 2) Cái Hóa Thân
mình ứng hiện ra (ứng hiện hóa thân). Lại còn 2 loại Hóa Thân nữa:
1) Hóa thân ở cõi Phật; 2) Hóa thân ở mỗi loài chúng sinh.
Tuy là phân tách ra thân đơn, thân kép
của 3 thân thì như thế (mà
đây
luận về Tính Đức) chứ thực ra thân của Phật chẳng phải một, chẳng
phải ba, mà là ba, mà là một, chẳng dọc, chẳng ngang, chẳng cùng,
chẳng khác (nói thế nào cũng không đúng, cũng lỗi lầm cả). Thân của
Phật phải thoát hết mọi lỗi lầm ấy, là cái thân chẳng khá nghĩ,
chẳng khá bàn.
Nay trong kinh này nói là: “Phật A Di
Đà” thì chính là chỉ vào cái Thị Sinh Hóa Thân ở trong cõi Đồng Cư
Tịnh Độ, nhưng cũng tức là Báo Thân, tức là Pháp Thân đấy (bởi vì
thân của Phật là tùy theo 4 cõi ngang nhau mà hiện ra).
Lại nữa, ở trên chữ “thế giới” và chữ
“Phật” đều có chữ “hữu”, thì chữ Hữu ấy nghĩa là “có” mà là “có
thực”. Trong chữ Hữu bao hàm 4 nghĩa (tứ tất đ
àn:
hoan hỷ, sinh thiện, phá ác, nhập lý).
Nói rằng “có thế giới”, “có Phật” là vì
đức Thích Ca muốn nêu lên một cảnh tượng chân thực, khiến cho người
tu vui cầu. Vì Ngài đem lời thành thực chỉ bảo cho, khiến người tu
phải chuyên chú Nhất Tâm. Thế giới Cực Lạc và Phật A Di Đà nói ở đây
chẳng phải là cảnh tượng “càn thành, dương diệm” (cảnh ma), chẳng
phải là cảnh tượng “quyền hiện khúc thị” (cảnh quyền giáo), chẳng
phải là cảnh tượng “duyên ảnh hư vọng” (cảnh tà), chẳng phải là cảnh
tượng “bảo chân thiên đản” (cảnh Tiểu Thừa). Nêu ra cảnh chân thật
này là vì Ngài muốn phá mọi cảnh: Ma, Quyền, Tà, Tiểu (phá Quyền là
phá cái ngụy biện trong sách Hoa Nghiêm Hợp Luận. Phá Tà là phá cái
tập quán của người đời mạt thế ngu mê. Hai điều này rất quan hệ).
Lại vì Ngài muốn người tu Tịnh Độ chứng sâu vào Thực Tướng, là tâm
tính của con người trong “có đủ cả”: có thế giới Cực Lạc, có thân
Phật A Di Đà thực, chỉ cần mình tu niệm là tự khắc hiện ra đầy đủ,
rõ rệt.
Câu: “kim hiện tại thuyết pháp” (nay
hiện đang thuyết pháp) đối với hai cảnh tượng hiện có (2 câu trên)
là ý báo: thế giới Cực Lạc và chính báo: thân Phật A Di Đà, thì cảnh
tượng “nay hiện đang thuyết pháp” đây chẳng phải là cảnh quá khứ đã
diệt, cũng chẳng phải là cảnh vị lai chưa thành (giống như cảnh Phật
Thích Ca chẳng ở lâu cõi này và cảnh Phật Di Lặc chưa giáng sinh, là
hai thời gian không có Phật để cho mình nương tựa) thì cảnh “kim
hiện tại thuyết pháp” đây chính là một cảnh để cho mình nên phát
nguyện cầu vãng sinh, để được thân cận Phật, được nghe Pháp, được
chóng thành Chính Giác.
Lại nữa, hai chữ Hữu và chữ Hiện Tại
đây là lời tựa để khuyên người tu mở lòng Tín. Chữ “thế giới danh
viết Cực Lạc” là lời tựa để khuyên người tu Nguyện. Chữ “Phật hiệu A
Di Đà” là lời tựa khuyên người tu phải thực hành cái hạnh tu mầu
nhiệm là Trì Danh (tức là niệm Phật).
Lại nữa, chữ “A Di Đà” là lời tựa về
Phật, chữ “thuyết pháp” là lời tựa về Pháp; chữ “hiện tại” trong có
hải hội nghe Pháp là lời tựa về Tăng. Phật, Pháp, Tăng cùng ở trong
một Thực Tướng là lời tựa về phần thể chất. Y theo vào thể chất ấy
(nhất thể Tam Bảo), mà khởi ra Tín, Nguyện, Hạnh là lời tựa về phần
tôn chỉ. Tín, Nguyện, Hạnh đã thành rồi, tất là
được
vãng sinh, được thấy Phật, được nghe pháp, là lời tựa về phần lực
dụng. Chỉ có một cảnh giới Phật dùng làm cảnh giới cho tâm mình chăm
chú vào (giống như cái kim chỉ nam) chẳng cho một sự tướng nào khác
xen lẫn vào tâm mình, đó là lời tựa về Giáo tướng. Lời nói sơ lược
mà ý nghĩa này rất chu đáo.
Phần Tựa (cả
Thông và Biệt) đến đây là xong.