KINH A DI ĐÀ YẾU GIẢI
Linh Phong Ngẫu Ích Trí
Húc Đại Sư Soạn
Việt dịch:
Bồ Tát Giới Đệ
Tử Tuệ Nhuận
-o0o-
NGŨ TRÙNG HUYỀN NGHĨA
(Năm tầng nghĩa huyền vi)
V. NÓI VỀ GIÁO TƯỚNG CỦA BỘ KINH
Mỗi giáo pháp của Phật nói ra đều có một tướng
trạng riêng, gọi là Giáo tướng. Giáo tướng của
bộ kinh này thuộc về loại Đại Thừa Bồ Tát Tạng.
Lại là một bộ kinh “không ai hỏi mà tự Phật nói
ra”. Kinh này được tấm lòng triệt để Đại Từ của
Phật phù trì thêm cho, có năng lực khiến những
hữu tình nhiều nghiệp chướng ở đời Mạt Pháp nhờ
đấy mà
được
lên thẳng ngôi Bất Thoái.
Bởi thế mà
đến
đời sau, đời kinh Pháp của Phật đã diệt hết rồi,
chỉ riêng kinh này còn được lưu lại ở đời một
trăm năm nữa, để độ cho loài hàm thức (1) được
thật nhiều. Thật là một vị thuốc A Dà Đà cứu
chữa được vạn bệnh, một bộ kinh tuyệt đối viên
dung chẳng khá nghĩ bàn. Những phép tu bí áo
trong kinh Hoa Nghiêm (là 10 đại nguyện của đức
Phổ Hiền), những phép tu cốt tủy trong kinh Pháp
Hoa (là thành Phật), là tâm yếu của hết thảy chư
Phật, là kim chỉ nam cho nghìn vạn lối tu của Bồ
Tát, đều rút cả vào trong bộ kinh này rồi; muốn
tán thán và nói rộng mãi ra thì dầu hết bao
nhiêu kiếp cũng chẳng hết, người trí giả phải tự
mình nên biết lấy.
(1) Hàm là ngậm. Thức là cái hiểu biết.
Hàm thức tức là chúng sinh hay hữu tình, là các
loài có hiểu biết, có tình cảm bao hàm ở trong
thân thể.
Bây giờ bắt đầu vào văn kinh, phải chia
làm ba phần:
A. PHẦN TỰA (từ câu: “Như thị ngã văn”
đến câu: “Kim hiện tại thuyết pháp”)
B. PHẦN CHÍNH TÔNG (từ câu: “Bỉ độ hà
cố danh vi Cực Lạc?” đến câu: “Văn thị thuyết
giả, ưng đương phát nguyện sinh bỉ quốc độ”)
C. PHẦN LƯU THÔNG (từ câu: “Như ngã kim
giả, tán thán A Di Đà Phật…” cho đến hết.)
Ba phần này gọi Sơ Thiện, Trung Thiện
và Hậu Thiện, nghĩa là phần đầu, phần giữa và
phần cuối, phần nào cũng hoàn thiện, cũng quan
hệ.
Phần Tựa giống như đầu người ta, có đủ
ngũ quan.
Phần Chính Tông giống như thân người có
đủ lục phủ, ngũ tạng.
Phần Lưu Thông giống như chân tay, vận
động, hành vi không ngưng trệ.
Cho nên ngài Trí Giả thích nghĩa kinh
Pháp Hoa, ngay phẩm thứ nhất đều cho là phần
Tựa. Về sau mười một phẩm rưỡi đều cho là phần
Lưu Thông. Lại trong một thời kỳ, hai môn Bản và
Tích, mỗi môn chia làm ba đoạn, thế thời từ phẩm
Pháp Sư trở xuống 5 phẩm đều là phần Lưu Thông
của Tích Môn.
Bởi vì phần Tựa phải là cương lĩnh của
cả một bộ kinh, phần Lưu Thông là phần Pháp thí
không úng tắc, cả hai phần đều quan hệ rất lớn.
Người sau không hiểu nghĩa ấy, thấy văn kinh hơi
có chút nghĩa lý liền cho vào phần Chính Tông
đến nỗi phần Tựa và phần Lưu Thông chỉ còn một
ít sáo cũ. Thế thì sao gọi là phần đầu cũng hoàn
thiện và phần cuối hoàn thiện được?