KINH A DI ĐÀ YẾU GIẢI
Linh Phong Ngẫu Ích Trí
Húc Đại Sư Soạn
Việt dịch:
Bồ Tát Giới Đệ
Tử Tuệ Nhuận
-o0o-
NGŨ TRÙNG HUYỀN NGHĨA
(Năm tầng nghĩa huyền vi)
III. NÓI VỀ TÔN CHỈ CỦA BỘ KINH
Tôn chỉ là
đường
lối thiết yếu tu hành, là then chốt để nhận rõ
Thực Tướng của tâm tính mình. Nó là cương lĩnh
của muôn vàn đức hạnh tu trì. Cương là
đầu
mối của cái lưới, hễ nắm được cương thì các mắt
lưới đều phải giương lên. Lĩnh là cổ áo, hễ nắm
được lĩnh thì tay áo và vạt áo đều buông thẳng
xuống. Cho nên sau khi đã biện luận Thể Chất của
bộ kinh rồi, phải biện luận Tôn Chỉ của nó, để
người tu học nắm lấy cương lĩnh của bộ kinh,
dùng làm then chốt, đường lối cho muôn vàn công
hạnh tu trì.
Kinh này dùng cái tâm TÍN và NGUYỆN với
việc TRÌ DANH (tức là Niệm Phật) làm Tôn Chỉ
thiết yếu tu hành. Chẳng có tâm Tín, chẳng đủ
sức phát Nguyện. Chẳng phát nguyện, chẳng đủ sức
đi đến chỗ thực hành. Chẳng thực hành được cái
hạnh tu mầu nhiệm Trì Danh (tức là việc niệm
Phật) thì chẳng làm được cho mình mãn nguyện và
chứng thực được cái pháp mình đã tin theo (tức
là
được
sinh sống cái đời sống trong sạch ở nơi trong
sạch - tịnh thân ở Tịnh Độ).
Trong kinh này, trước hết chỉ bày cho
thấy rõ phần Y Báo là chỗ ở trong sạch tức là
Tịnh Độ, và phần Chính Báo, là cái thân trong
sạch, tức là tịnh thân để người tu thấy rõ, hiểu
rõ, để sinh lòng Tin chắc thật. Sau rồi chỉ bảo
cho phép Trì Danh, là phép niệm danh hiệu Phật,
để người tu lên thẳng ngôi Bất Thoái (lên ngôi
này chẳng còn thoái lui xuống nữa, tức là ngôi
Bồ Tát).
TÍN là tin, tin ở mình (tín tự), tin ở
người ta (tín tha), tin ở nhân, tin ở quả, tin ở
sự, tin ở lý.
NGUYỆN là cầu nguyện cho mình chán bỏ
được chỗ ở cực ác: cõi Sa Bà, cầu nguyện cho
mình vui thích chỗ ở chí thiện cõi: Cực Lạc.
HÀNH là phải thực hành việc chấp trì
danh hiệu (tức là việc niệm Phật). Niệm Phật sao
cho đến chỗ: “Nhất tâm bất loạn”, nghĩa là niệm
Phật để giữ cái tâm mình cho nó rất yên tĩnh, nó
không bị những thành kiến, tà kiến, những lòng
tham dục, giận dữ, ngu si, kiêu mạn, nghi ngờ,
luôn đến, luôn làm cho tâm mình bị rối loạn.
TÍN
1. Thế nào là tin ở mình? Người
tu học mà tin ở mình là: tin ở cái tâm tính của
mình (1), nó chỉ hiện ra trong một loáng (một
niệm). Tâm tính của mình đây chẳng phải là trái
tim thịt đâu, chẳng phải là những cái bóng trần
duyên mình tưởng tượng thấy hiện ra ở trong khối
óc, trái tim đâu. Tâm tính của mình đây: về thời
gian, nó không có lúc nào là kiếp trước của nó,
không có lúc nào là kiếp sau của nó; về không
gian, nó không có chỗ nào là bến bờ của nó. Lúc
nào cũng có nó, chỗ nào cũng có nó, nó tràn đầy
khắp cả vũ trụ, khắp không gian vô biên, khắp
thời gian vô tận. Tâm tính của mình, suốt ngày
nó theo mọi trần duyên, suốt ngày nó chẳng hề
biến đổi.
Cả quãng hư không mênh mông bát ngát
khắp mười phương và bao nhiêu thế giới nhiều như
vi trần đang quay cuồng ở trong đó, đều là những
vật bị tạo ra ở trong tâm tính của mình trong
một niệm hiện ra đây. Mặc dầu mình tối tăm điên
đảo, mê hoặc, không nhận rõ được tâm tính của
mình nó bao la rộng lớn như thế, nhưng nếu mình
chịu hồi tâm trong một niệm (một loáng) thì
quyết định là mình sẽ được sinh vào cái thế giới
Cực Lạc, là cái thế giới vốn sẵn có đủ ở trong
tâm tính của mình, không còn nghi ngờ gì nữa.
Tin như thế gọi là Tin ở mình (tức là
tin ở cái tâm tính chân thực của mình, trong nó
có sẵn mầm nhân để tạo ra thế giới Cực Lạc).
2. Thế nào là tin ở người?
Người tu học tin ở người, là tin Phật
Thích Ca không nói dối, tin Phật A Di Đà không
nguyện xuông, tin chư Phật ở sáu phương có tướng
lưỡi rộng dài, quyết không nói hai lời. Phải
thuận theo lời dạy bảo chân thực của chư Phật,
quyết chí cầu sinh sang Cực Lạc, không còn nghi
hoặc nữa.
Tin như thế gọi là tin ở người (tức là
mình tin lời dạy bảo của người).
3. Thế nào là tin ở nhân?
Người tu học tin ở nhân là tin rất sâu
rằng: Kẻ niệm Phật mà tâm tán loạn cũng còn tạo
ra được hạt giống để thành Phật mai sau, huống
chi là người niệm Phật nhất tâm bất loạn thì sao
lại chẳng được sinh sang Tịnh Độ.
Tin như thế gọi là tin ở nhân (vì mình
tin cái tiếng niệm Phật ấy tức là cái nhân thành
Phật).
4. Thế nào là tin ở quả?
Người tu học tin ở quả là tin rất sâu
rằng: Các vị thượng thiện nhân đang tụ hội ở cõi
Tịnh Độ kia, đều là những người đã theo phép
Niệm Phật Tam Muội mà
đã
được sinh sang đấy, giống như người trồng nhân
dưa đã được quả dưa, trồng nhân đậu đã được quả
đậu. Cũng giống như bóng phải theo hình, vang
phải theo tiếng, quyết không hư hỏng chút nào.
Tin như thế gọi là tin ở Quả (vì mình
tin sự kết quả của những người đã được sinh
kia).
5. Thế nào là tin ở sự thật?
Người tu học tin ở sự thật là tin rất
sâu rằng: Cái tâm tính của mình tuy nó chỉ hiện
ra trong một niệm (một loáng), mà thực ra nó
rộng lớn vô cùng, chẳng biết đến đâu là hết
được; thế thì những thế giới khắp mười phương
xuất hiện ở trong tâm tính mình cũng chẳng biết
bao nhiêu là hết được. Vậy thời thế giới Cực Lạc
ở cách đây mười vạn ức Phật độ là một thế giới
có thực, rất thanh tịnh trang nghiêm, chứ chẳng
phải thế giới tưởng tượng ở trong bài ngụ ngôn
của Trang Tử.
Tin như thế gọi là tin ở sự thực (vì
mình tin cảnh giới Tịnh Độ là một sự thực có).
6. Thế nào là tin ở lý?
Người tu học tin ở lý là tin rất sâu
rằng: Mười vạn ức Phật độ tuy là nhiều lắm, xa
lắm; mà thực ra nó chỉ ở trong tâm tính của ta
hiện ra trong một niệm đây. Nó không thể ở ra
ngoài tâm tính của ta được, bởi vì tâm tính của
ta không có đâu là ngoài để cho nó ở. Vả lại tin
rất sâu rằng: Ở Tây Phương, Tịnh Độ của thế giới
Cực Lạc với tịnh thân của vị Giáo Chủ và của các
bạn (2) đều giống như những cái bóng hiện ra ở
trong cái gương tâm tính của ta đây hiện ra
trong một niệm.
Hoàn toàn những sự ấy tức là lý, hoàn
toàn những vọng ấy tức là chân, hoàn toàn phần
tu ấy tức là phần tính, hoàn toàn phần người
khác ấy tức là phần mình; bởi vì tâm tính của
mình tràn đầy khắp cả. Tâm tính của Phật cũng
tràn đầy khắp cả. Tâm tính của hết thảy chúng
sinh cũng tràn đầy khắp cả. Thí dụ như nghìn
ngọn đ
èn
cùng ở trong một căn nhà, ánh sáng của đ
èn
nào cũng tràn đầy khắp cả nhà; ánh sáng này, ánh
sáng khác nó giao chập vào với nhau chẳng hề
chướng ngại gì cả. Tin sâu như thế gọi là tin ở
Chính Lý (vì mình tin toàn thể cái khối Nhất
Chân Pháp Giới ấy là chính lý).
NGUYỆN
Người tu học đã có sáu sức mạnh tin như
thế rồi thì hiểu rằng: Cõi Sa Bà ô uế này là do
tâm tính mình ô uế đã tạo ra nó, lý ưng mình
phải chán bỏ nó ra; cõi Cực Lạc trong sạch kia
là do tâm tính mình trong sạch tạo ra nó, lý ưng
mình vui cầu lấy nó (sự thật này tức là lý
thật).
Mình đã chán ô uế thì nên bỏ, mà
đã
nên bỏ thì phải bỏ cho thật rốt ráo, không còn
phải bỏ đi, bỏ lại nữa. Mình đã thích trong sạch
thì nên lấy, mà
đã
lấy thì cũng lấy cho kỳ rốt ráo, không còn phải
lấy đi lấy lại nữa. Sách Diệu Tông nói: “Người
nào đã bỏ hết rồi, đã lấy hết rồi tức là người
không còn phải bỏ, phải lấy gì nữa. Nếu ai chẳng
làm cho trọn hết cái việc lấy và bỏ, mà
đã
vội nói rằng tôi chẳng lấy, chẳng bỏ gì cả, thế
là người chỉ nói lý xuông, mà chẳng chịu làm cho
xong phận sự. Phần Sự đã bỏ chẳng chịu làm cho
xong thì phần Lý cũng chẳng bao giờ được trọn
vẹn”.
Nếu mình đã hiểu thấu được (và tin chắc
được) hoàn toàn Sự ấy tức là Lý ấy, thời mình
chí nguyện lấy sự này tức là
đúng
lý mà lấy, và mình chí nguyện bỏ sự kia, cũng là
đúng
lý mà bỏ; một khi bỏ, một khi lấy chỉ là bỏ Pháp
Giới này lấy Pháp Giới kia đấy thôi. Và
đều
đúng lý cả.
Cho nên sau khi đã có tâm Tín rồi, thì
phải phát nguyện cho rõ ràng (chí nguyện bỏ hay
là chí nguyện lấy).
HÀNH
Bây giờ nói đến Hành là người chấp trì
danh hiệu, nhất tâm bất loạn, tức là người niệm
danh hiệu Phật để cho tâm mình đậu vào một chỗ,
chẳng bị rối loạn. Niệm danh hiệu Phật là niệm
công đức Phật (đã tin sâu như thế thì cứ tin,
đừng suy nghĩ nữa mà hỏng việc). Công đức của
Phật chẳng khá nghĩ, chẳng khá bàn cho nên danh
hiệu của Phật cũng chẳng khá nghĩ, chẳng khá bàn
(vì trí tuệ mình thấp kém quá, nghĩ bàn sao được
mà nghĩ bàn!) Danh hiệu của Phật và công đức của
Phật đều chẳng khá nghĩ bàn, cho nên người niệm
danh hiệu Phật mà tâm tán loạn cũng đã tạo được
hạt giống thành Phật mai sau và người niệm Phật
nhất tâm bất loạn sẽ được lên ngay ngôi Bồ Tát
Bất Thoái.
Các kinh nói về phép tu Tịnh Độ rất
nhiều, có nghìn vạn phép khác nhau, như là những
phép ngồi quán tưởng Phật, phép ngồi quán tượng
và các phép: lễ bái, cúng dường, ngũ hối, lục
niệm v.v… Trong các phép ấy, tu được một phép
nào cũng được sinh về Tịnh Độ.
Duy chỉ có một phép Trì Danh là phép
Niệm Phật này là thu được hết mọi hạng người, ai
tu cũng được. Và ai bắt tay vào tu cũng thấy rất
dễ. Cho nên không ai hỏi mà
đức
Thích Ca tự nói ra kinh này, Ngài đặc biệt hướng
vào ông Xá Lợi Phất, là người đại trí tuệ, mà
nói cho nghe. Đủ biết phép này là một phép Liễu
Nghĩa Vô Thượng (3) rút ra ở trong các phương
tiện liễu nghĩa đệ nhất, và là một phép tối cao
viên đốn (4) rút ra ở trong các phép Viên Đốn.
Cho nên nói rằng: “Ngọc minh châu bỏ vào nước
đục, nước đục tất phải trong. Danh hiệu Phật
gieo vào cái tâm rối loạn, tâm rối loạn tất phải
thành Phật”.
Cái tâm Tín và Nguyện với cái việc Trì
Danh ở kinh này là cái mầm nhân chân thực của
đạo Nhất Thừa (5), tức là bốn cõi Tịnh Độ. Gây
được nhân thời quả tất phải theo nhân mà mọc ra.
Cho nên dùng cái tâm Tín và Nguyện với cái việc
Trì Danh làm tôn chỉ chính đáng của bộ kinh này.
Còn tướng trạng của bốn cõi Tịnh Độ, ở
bộ Diệu Tông Sao và kinh Phạm Võng Huyền Nghĩa
đã nói rất tường tận, ở đây không thể nói hết
được. Xuống dưới này, ở chỗ thích nghĩa Y Báo và
Chính Báo, tôi sẽ nói lược thêm.
(1) Người tu học đừng có hững hờ, chểnh
mảng, phải hết lòng đặt mình vào với cái tâm
tính chân thực này, và phải gắng hết sức diệt
cho hết cái tâm nghĩ ngợi lăng xăng nó luôn đến
luôn luôn, làm rối loạn và bưng bít mất tâm chân
thực không cho hiện ra.
(2) Chữ “bạn” đây là bạn lữ: tất cả
người trong đoàn thể tôn thờ một đức Giáo Chủ.
(3) Liễu nghĩa vô thượng là nghĩa rốt
ráo cao hơn hết.
(4) Tối cực viên đốn là
đầy
đủ mau chóng cực điểm.
(5) Nhất Thừa tức là Phật Thừa, là phép
tu duy nhất thành Phật, khác với những phép tu
Nhị Thừa, Tam Thừa, Đại Thừa và Tiểu Thừa.