A
DI ĐÀ
KINH SỚ SAO
Liên Trì Đại Sư soạn
Việt dịch:
Hòa Thượng Hành Trụ
-o0o-
KẾT
THÍCH CHÚ Ý
(Kết giải ý nghĩa chú vãng sanh)
Bài thần chú Đà La Ni
Nhổ Tất Cả Cội Gốc Nghiệp Chướng, Đặng Sanh Về
Cõi Tịnh Độ".
Sớ: Giải
thích đại ý của bài thần chú này: Do chú để giúp
với kinh, kinh có thần chú thời kinh càng rõ. Do
kinh trước chú, chú có kinh văn thời chú càng
linh, xen nhau mà dùng nên cần phải kết giải.
Chú này rõ thấy trong truyện Bất Tư Nghì Thần
Lực.
Người trì chú này,
hết tội được vãng sanh. Nên dùng danh nghĩa là
"nhổ hết nghiệp chướng được sanh về Tịnh Độ".
Chữ Đà La Ni dịch
là Tổng Trì vậy.
Sao: Nghiệp
chướng là: kể chướng có ba nghĩa: 1. Phiền não
chướng. 2. Nghiệp chướng. 3. Báo chướng. Nay nói
nghiệp chướng là nói cái giữa thì đã gồm luôn
cái trước và cái sau. Bởi sao? Vì phiền não là
cái Nhơn của nghiệp; vì báo chướng là Quả của
nghiệp. Nghiệp ắt có Nhơn; nghiệp ắt chịu Quả;
nên nói nghiệp chướng thì đã gồm hai chướng kia.
Nay chúng ta muốn trừ chướng, quí nhứt là trừ
cội gốc của nó. Như gốc tuyệt thời không đâm
chồi; chồi không nẩy thời cành lá hoa trái đều
không sống vậy.
Nay trì chú này
thời phiền não không khởi là nghĩa "nhổ trốc gốc
nghiệp chướng" vậy.
Như trong truyện
nói: Ngày đ
êm
đều trì ba hoặc bảy hay là 21 biến diệt được tội
ngũ nghịch, tội báng pháp v.v... các tội; phải
vậy.
"Đặng sanh về Tịnh
Độ" là: Chúng sanh luân hồi trong cõi Ta Bà
đều
là do nghiệp chướng, nghiệp chướng đã không thời
hột giống cõi uế độ liền diệt, tùy nguyện vãng
sanh, nên được sanh về cõi nước Cực Lạc Phật A
Di Đà.
"Tổng trì" là tổng
thống, nhiếp trì lại không sót và mất; tức là
tên riêng của chú nầy.
Truyện tên "Bất Tư
Nghì Thần Lực Chú", tức kinh này tên là "Bất Tư
Nghì Công Đức Kinh".
Trì thần chú hay
trì danh hiệu Phật cũng đều được vãng sanh một
cách nên đồng tên là "Bất Tư Nghì".
Đời nhà Tống, niên
hiệu Nguyên Gia (30), nước Thiên trúc, ngài Tam
Tạng tên Cầu Na Bạt Đà La dịch ra thần chú này.
Sớ: Chữ Tống
là tên nước thuộc về đời Nam Bắc triều (31),
Nguyên Gia là niên hiệu. Chữ Thiên Trúc là nước
Tây Vức, Cầu Na Bạt Đà La dịch Công Đức Hiền.
Sao: Đời
Tống mà nói là
đời
Nam Bắc đây, là
đương
thời đời đó Nam Bắc phân chia làm vua. Vua nhà
Tống ở miền Giang Nam thì gọi là Lưu Tống (32).
Chữ Nguyên Gia là
vua Văn Đế niên hiệu Nguyên Gia năm rốt vậy
(453). Nước Thiên Trúc có chỗ khác nói: Nước
Thân Độc, Thiên Trúc có năm nước đều chung gọi
là cõi Tây Vức.
Ngài Bạt Đà là
người rộng thông ba tạng, rất chuyên pháp Đại
Thừa nên hiệu ngài là Ma Ha Diễn. Nhưng cái thần
dị đặc sắc của ngài chẳng phải một, chép đủ
trong bộ truyện ký; đây sợ nhiều không dẫn. Có
một bổn dịch hai chữ Đà La, mà dưới chữ Đà không
có chữ La. Hoặc có người nghi là ngài Cầu Na Bạt
Ma. Do vì hai Ngài đồng thời đó, chưa rõ thần
chú nầy là của ngài nào dịch (mà dầu của Ngài
nào dịch cũng đều đúng cả).
Tụng chú như đây:
Nam mô A Di Đa Bà
Dạ, đa tha dà
đa
dạ đa điệt dạ tha: A di rị đô bà tỳ, a di rị đa
tất đam bà tỳ, a di rị đa tỳ ca lan đế, a di rị
da tỳ ca lan đa, già di nị, dà dà na, chỉ đa ca
lệ, ta bà ha.
Nếu có thiện nam
tử, thiện nữ nhơn nào hay tụng chú này thời Phật
A Di Đà thường đứng trên đỉnh đầu người đó, ngày
đ
êm
ủng hộ không cho kẻ oán thù làm hại, đương đời
thường đặng an ổn, đến khi mạng chung, được tự
tại vãng sanh.
Sớ: Các bổn
kia nghe phân câu cách có hơi khác; nay y theo
bản xưa, với thần chú không phiên dịch bất tất
gì cưỡng giải.
Sao: "Các
bổn chẳng đồng" là: Như câu: Nam mô A Di Đa bà
dạ, một bổn khác viết: "Nam mô a di đa bà da
đa", lấy chữ Đa ở đầu câu kế đem liên thuộc với
câu trên, cho nên nói là "có hơi khác". Nay bất
tất gì nhọc nhằn tìm xét phải quấy, miễn y theo
một bổn, chí tâm tụng trì tự thành lợi ích.
Lại có chỗ nói: câu
"Nam mô a di đa bà dạ, dịch: "Kính lạy đức Vô
Lượng Thọ Phật"; câu" "đa tha dà
đa
dạ" tức là câu "đa đ
à
a dà
độ"
dịch Như Lai. Câu "Đa điệt dạ tha", bản tân
dịch: "Tha đích giả thát", bản cựu dịch: "Đát
điệt tha".
Chữ "điệt" bộ Mịch,
âm chữ Điệt bộ Xước, tức hai chữ "địa dạ" nói
nhập lại làm một tiếng, dịch: ‘tức thuyết chú
viết". Từ đây sắp sau mới thiệt là lời mật ngữ:
Song câu thần chú
từ xưa dịch để nguyên âm chứ không dịch nghĩa,
lược nói có năm ý:
1. Như lời mật chỉ
của vị quốc chủ, chớ quấy rao truyền, vì chỉ
phải kính vưng.
2. Hoặc một danh từ
hàm có nhiều nghĩa, ví như chữ Tiên Đà Bà (33).
3. Hoặc phương này
không có ví như cây Diêm Phù Đề (34).
4. Hoặc thuận theo
văn xưa ví như chữ A Nậu Bồ Đề.
5. Hoặc tôn trọng,
chẳng phải tiếng nói của người Tàu đối chiếu
đặng, ví như chữ "Bát Nhã" (dịch "Trí Huệ" cũng
chưa hết nghĩa).
Có một chỗ nói:
"Cũng có thể cưỡng giải", nhưng đã nói rằng
"cưỡng" chi bằng nín là hơn.
Sớ: Kinh và
chú tương liên với nhau, chính là nghĩa Hiển và
Mật viên thông.
Sao: Rõ bày
nước kia, y chánh trang nghiêm và môn Tín, Hạnh,
Nguyện như trong kinh đã giải rõ đó gọi là Hiển.
Tuân theo lời kín
nhiệm của Phật, chỉ tụng chú này thời liền đặng
vãng sanh, đó gọi là Mật.
Hiển là bày rõ chỗ
Mật ấy ra. Mật là giấu kín chỗ Hiển vậy. Gồm
tụng cả hai thời đều tốt cả. Riêng tụng trì
chừng một cũng tóm thâu không sót, nên nói rằng
Viên Thông.
Sớ: Tuy nói
rằng tóm thâu không sót, nhưng mà pháp chuyên
trì danh hiệu còn hơn trì chú, cũng hơn thần chú
khác và cũng hơn tất cả công đức khác.
Sao: Riêng
khen pháp trì danh niệm Phật là:
1. Hơn thần chú
Vãng Sanh này. Vì lời giải của thần chú nói:
"Tụng 30 vạn biến thời mới được thấy Phật A Di
Đà", mà pháp trì danh niệm Phật này thời chỉ một
ngày được nhứt tâm liền có Phật hiện trước mặt.
Lại chú nói: "Ngày
đ
êm
6 thời đều 3 hoặc 7 biến, hay là 21 biến diệt
được tội ngũ nghịch cùng các tội khác", mà pháp
trì danh thời chỉ chí tâm niệm Phật một tiếng
liền diệt được 80 ức kiếp đường sanh tử tội
nặng.
2. Hơn các thần chú
khác là: Chuyên niệm danh hiệu Phật tức là chú
Đại Thần, chú Đại Minh, chú Vô Thượng và chú Vô
Đẳng Đẳng.
Vì do 10 tiếng niệm
Phật liền đặng vãng sanh, một phen sanh liền
đặng bất thối, oai linh chẳng lường, thế gọi là
Đại Thần; còn mấy nghĩa khác so đó để biết vậy.
Hỏi: Công đức của
Chuẩn Đề rất rộng, rất lớn mà thế nào chỉ niệm
danh hiệu Phật lại đặng hơn kia?
Đáp: Vì phẩm và
lượng của Chuẩn Đề là còn ở nơi Nhơn Địa Bồ Tát,
còn Di Đà là quả vị Như Lai. Vậy nhơn đó để so
mà biết được rằng:
Trì chú Chuẩn Đề đã
có thần lực rất rộng rất lớn như thế thì niệm
Phật A Di Đà há chẳng linh ứng nhiều hơn chú
Chuẩn Đề à?
Cho nên trong kinh
nói: "Niệm 62 ức số hằng hà sa danh hiệu các vị
Bồ Tát, chẳng bằng niệm một tiếng Nam Mô Quan
Thế Âm Bồ Tát, phước kia bằng nhau".
Lại nói: "Niệm vô
lượng vô số danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ Tát,
chẳng bằng niệm một tiếng Nam Mô Địa Tạng Bồ
Tát, phước kia bằng nhau". Đó, niệm Bồ Tát còn
được như thế, huống chi là niệm Phật?
3. Cũng hơn các
công đức khác là: Lục Độ vạn hạnh, pháp môn vô
lượng, nhưng chuyên niệm một danh hiệu A Di Đà
thì gồm thâu được tất cả công đức của mỗi mỗi
pháp môn khác do vì không ngoài một lý Nhứt Tâm
như trong văn trước đã nói rộng.
Vậy xin các bạn
giữa "Tịnh nghiệp đệ tử" nên chuyên một đức tin,
chuyên một tâm niệm Phật mà thôi, chớ đừng lưỡng
lự gì nữa. Như trong kinh nói: "Dầu có một pháp
nào cao hơn cõi Niết Bàn đi nữa, cũng là chẳng
đoái đến".
Trong Thiền tông
các vị tri thức có dạy người chỉ giữ một câu
thoại đầu (một câu niệm Phật) không cần tu các
pháp nào khác.
Nên biết rằng:
Nguyên những người đã tu học các pháp môn khác,
còn phải bỏ đi để tu theo pháp niệm thay, huống
chi những người vốn đã tu pháp môn niệm Phật lại
đổi chỗ sở thú của mình mà chuộng về môn khác ư?
Thế là tâm muốn
hàng hai, chí chẳng qui nhứt, làm sao để đặng
thành tựu pháp Tam Muội?
Rủi tới cơn vô
thường, luống không đặng chi, chẳng xét nhớ lỗi
mình, trở đem phao lời hủy báng. Than ôi! Lầm
lắm!!
Sớ: Xứng lý
thời tự tánh nó không thì vẫn là không là nghĩa
"nhổ trốc hết nghiệp chướng".
Tự tánh nó có thì
cũng vẫn có nó là nghĩa Đà La Ni. Tự tánh nó
chẳng có chẳng không là nghĩa "sanh về Tịnh Độ".
Sao: Tìm tâm
rốt không thể đặng thời là nghĩa tất cả nghiệp
chướng ai làm cội gốc? Tức là tâm nó không chỗ
nào mà chẳng đủ tất cả công đức, không đức nào
nó chẳng tổng trì!
Đương khi nó tổng
trì mà chẳng dính một mảy trần thì cái có đó là
có bằng "tức không".
Thể nó không có cội
gốc mà sanh ra cả muôn pháp thì cái không đó là
không bằng cái "tức có".
Tức có thời chẳng
phải thật không, tức không thời chẳng phải thật
có. Chẳng không chẳng có, chỉ có nhứt Tâm, chẳng
vượt ngoài nhứt tâm, ấy gọi là Tịnh Độ.
Chú Thích Kinh
Di Đà Sớ Sao - Quyển Thứ Tư
1. "Tứ chúng": 1.
Tỳ Kheo (Bhiksu). 2. Tỳ Kheo Ni (Bhiksuni) 3. Ưu
Bà Tắc (Upasaka). 4. Ưu Bà Di (Upasika).
2. "Thời nhơn tự
chẳng biết": Xưa nói: "Di Lặc thật Di Lặc, hóa
thân nghìn trăm ức, mỗi giờ hiện trước người, mà
tự người không biết".
3. "Hơi ấm": Cái
thân của người ta lúc chết,chỉ có nơi trái tim
là còn hơi ấm rốt sau, vì cái thức A Lại Da nó
còn ở tại đó. Đến chừng mà nơi đó lạnh là thức
ấy lìa khỏi xác, gọi bằng "khứ hậu, lai tiên"
lúc chết thì nó đi rốt sau; lúc đầu thai thời nó
đến trước (trong luận Duy Thức có nói rõ).
4. "Ghét thương cha
mẹ": Sau khi thở hơi cuối cùng, thần thức nó bỏ
cái thân tiền ấm (tử thi), lìa ra, nó hóa sanh
làm cái thân trung ấm ở giữa không gian. Bấy
giờ, đối với nó, cả vũ trụ toàn là
đen
tối, chỉ chỗ nào có nhơn duyên với nó là nó thấy
ánh sáng: Lửa dâm dục của cha mẹ đương hành dâm
thì nó đến liền nhanh hơn chớp; hoặc thương cha
ghét mẹ nếu nó sắp đầu thai để sanh làm con gái;
hoặc thương mẹ ghét cha nếu nó sẽ là con trai;
vì tình thân ái khiến nó phải như thế; gọi là
"nhơn ái tình làm giống". Kế đó, nó sanh tâm
niệm vọng tưởng: Chính nó hành dâm với giống đực
nếu nó là giống cái. Với vọng tưởng ấy, gọi là
"tối sơ nhứt niệm điên đảo", vì nó tưởng chính
nó hành dâm, chớ không còn thấy có cha mẹ nữa,
nên nói là
điên
đảo. Bấy giờ nó đã đầu thai rồi gọi là" nạp
tưởng thành thai" (xem bài tựa thứ nhứt của bộ
Duy Thức Tam Tự Kinh thấy rõ).
5. "Tiểu thánh sơ
tâm": 1. Đối với Đại Thừa thì 4 quả Thánh Thinh
Văn gọi là Tiểu Thánh; 2. Đối với Phật thừa thì
các Bồ Tát trong Đại Thừa, gọi là Tiểu thánh vì
chỗ chứng ngộ còn cạn thấp Sơ tâm: Hoặc mới phát
tâm cầu học đạo Bồ Đề, hoặc mới phát tâm học đạo
Đại Thừa Bồ Tát. Tiểu thánh sơ tâm đây cũng chưa
biết được chỗ "sanh lai tử khứ" của mình vì lòng
vọng hoặc còn nhiều, đương dứt hoặc, chứng chơn
chưa được mấy, nên có chỗ bảo: "Sanh bất tri
tùng hà xứ lai, tử bất tri tùng hà xứ khứ", gọi
là "Bồ Tát cách ấm hôn mê": Cái thân ngũ ấm hiện
nay cách biệt với thân ngũ ấm đời trước nên nói
là hôn mê, không nhớ được quá khứ bởi còn vô
minh (trừ bực Đẳng Giác Bồ Tát).
6. "Chưa biết chỗ
xuất nhập": Các Hiền Thánh trong pháp xuất thế
gian cũng nhiều vị chưa tự biết sự luân hồi của
mình nếu chưa chứng ngộ pháp "thập nhị nhơn
duyên" và chưa chứng pháp túc mạng thông. Huống
chi là các Hiền Thánh trong thế gian thì làm gì
biết được? Như các ngài: Nghiêu, Thuấn, Vũ,
Thang, Châu Công, Khổng Tử... đều được thiên hạ
từ xưa nay tôn sùng là bực Thánh; thế mà các
Ngài cũng đều chưa tự biết kiếp trước là gì. Các
ngài Trần Nhơn Tôn, Trần Hưng Đạo trở về già
đều
có đi tu cả mà cũng chưa chứng "túc mạng thông".
Chí như đức Thánh Tổ Hoàng Đế là vua Khang Hy đã
từng than rằng: "Ngã bổn Tây thiên nhứt nạp tử,
vân hà
đọa
lạc đế vương gia"? (Ta vốn là một nhà sư của đạo
Phật, thế sao sa vào nhà
đế
vương?) Cũng có hơi biết nhưng mập mờ! Vì chưa
được tự sáng suốt. Trừ các ngài và những bực đã
có chứng túc mạng thông và cả lục thông, từ bực
La Hớn sắp lên.
7. "Nên gọi là
điên
đảo": Khi trung ấm đến để đầu thai, với giữa cha
mẹ nó, nó tư tưởng là nó làm sự ái ân, chớ nó
không còn nhận thấy sẽ là cha mẹ của nó. Đó là
với cái thân ngày nay đây, gọi cái tương tự làm
ái ân hồi đầu thai đó, là tối sơ nhứt niệm đảo
điên (xem ở số 4 trên).
8. "Bảy thú": Bảy
chỗ để đến (thú) đầu thai: 1. Địa ngục thú
(narakagati); 2. Ngạ quỉ thú (preta); 3. Súc
sanh thú (tiryayoni); 4. Nhơn thú (manusya); 5.
Thần tiên thú (bsi); 6. Thiên thú (deva); 7. A
Tu La thú (Asura). Kinh Lăng nghiêm cuốn 9 nói:
"Các thú: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, nhơn
loại, thần tiên, thiên loại và tu la, xét ra các
thú ấy đều bị khổ tối tăm trầm nịch! Về với các
cái thân tướng hữu vi, chúng vọng tưởng để thụ
sanh, chúng vọng tưởng để theo nghiệp". Bảy thú
ấy đều ở trong ba giới, đều chịu cái công lệ
luân hồi sanh tử mà không tự biết được cái kiếp
đời sống thác của mình, gọi là "túy sanh mộng
tử" (sống say chết mộng).
9. "Ngài Tứ Minh":
Đời Tống, ngài Trí Lễ pháp sư ở núi Tứ Minh (núi
nầy ở phía Nam phủ Khánh Nguơn, Ninh Ba tỉnh
Chiết Giang) để chấn hưng chánh nghĩa của tông
Thiên Thai, nên gọi Tứ Minh tôn giả. Ngài Pháp
Trí tôn giả, húy Trí Lễ, tự ước ngôn; người đời
sau nhơn chỗ ngài ở nên xưng là Tứ Minh đại sư.
Ngài xuất gia từ hồi 7 tuổi; 15 tuổi thụ Cụ Túc
giới, chuyên tinh học bộ luật Thiên Thai Tông,
hậu học đa sùng tôn trọng.
10. "Trí đức, đoạn
đức": Soi rõ được chơn lý là Trí đức, dứt hết
phiền não là Đoạn đức, tức là Bồ Đề và Niết bàn.
Luận Vãng Sanh lời Chú Giải rằng: "Luận về Trí
thì không nghĩa nào không thông; nói về đoạn thì
bao tập khí cũng không còn. Với Trí Đoạn đều đủ
mới có thể làm ích lợi cho đời".
11. "Việt, Ngôn,
Yên, Tần": Việt: Nước Việt, tức là giống U Việt,
nay là tỉnh Chiết Giang. Nước Ngô nay là
địa
phận đất huyện Vô Tích, tỉnh Giang Tô. Nước Yên,
nay là
đất
các tỉnh Phụng Thiên, Trực Lệ và Bắc bộ của nước
Triều Tiên. Nước Tần nay là các tỉnh Cam Túc,
Thiểm Tây.
12. "Dao giết
trâu": Sách Luận Ngữ nói: "Đức Khổng Tử qua ấp
Vũ Thành nghe tiếng cầm, sắt và ca xướng, ngài
chúm chím mỉm cười rằng: "Với việc cắt cổ gà
đâu
lại dùng đến cái dao thọc cổ trâu"! Lời chú Vũ
Thành là cái ấp nhỏ, hà tất dùng đến cái dao
lớn? "Cát kê": Cắt cổ gà, tỷ dụ: Với cái tài
năng lớn lại đem sử dụng vào việc nhỏ, nên nói:
"Cát kê yên dụng ngưu dao".
13. "Nước Ngô thành
ao": Người xưa là ông Ngũ Tử Tư, tổ quán nước
Sở, đời Xuân Thu. Ông nói: "Nước Việt nó sanh
nở, sống chung chừng 10 năm, giáo dục huấn luyện
lối 10 năm, sau 20 năm đó, nó sẽ đánh nước Ngô
thành ao vũng mà chớ". Lời chú: Cả cung thất
thành lũy của nước Ngô đều thành ao nước nhơ
đục!
14. "Sáu thù": 24
thù là 1 lượng, 16 lượng là 1 cân. Phía Nam nước
Ấn Độ, có hòn núi tên là Ngưu Đầu vì hình núi
giống cái đầu trâu. Núi ấy nó sản xuất thứ cây
Chiên Đàn đỏ có kết tinh hương quí giá ấy.
15. "Tố pháp thân":
Pháp thân suông. Chữ Tố nghĩa là không trơn. Như
không thật sự làm việc mà có ăn lương bổng gọi
là "tố xan". Không chức tước phẩm vị gì cả mà
giàu có gọi là "tố phong". Đời Tấn, ông Đỗ Dự
xưng tụng đức Khổng Tử là "Tố Vương" do vì kẻ
thất phu mà làm thầy cả muôn đời, bởi không
nương cậy nơi uy quyền mà thế lực cũng đồng bực
với Đế Vương. Tố pháp thân chỉ có cái hiện thể
của pháp thân mà chẳng đủ những công đức của
pháp thân. Ngài Thiên Thai bảo là "Lý tức Phật"
chính là cả chúng sanh giữa 3 ác đạo. Sách Tứ
Giáo Nghi nói: "Nay dù rằng Tức Phật; đây là
"Phật bằng lý" cũng là ‘Tố pháp thân’ thì Phật
ấy có quan hệ gì với công tu chứng đâu, vì chưa
có phước đức công hạnh để trang nghiêm thân
thể". Lời chú giải rằng: Không việc rõ công đức
trang nghiêm, thể pháp thân trống không, là chỗ
bị Thiên Long Bát bộ khinh hèn.
16. "Cây thụ
vương": Lớn nhứt giữa các loại cây trên thế giới
nên gọi Thụ vương (cây chúa). Tự phẩm kinh Pháp
Hoa nói: "Cõi nước tự nhiên xinh đẹp lạ lùng,
như bông nở rộ của cây chúa trên trời". Cây lớn
nhất thế giới đây tức là cây Ba Lợi Chất Đa ở
trên cung trời Đao Lợi mà trong kinh Khởi Thế
cuốn thứ 6 và kinh Trường A Hàm cuốn 20 đều có
nói.
17. "Nhứt Thế Nghĩa
Thành": Gọi đủ là "Nhứt Thế Nghĩa Thành Tựu" tức
tên hồi còn làm Thái Tử của Phật, mà dịch nghĩa
bởi danh"Tát Bà Hạt Thích Ca Tất Đạt" (đời Đường
dịch Nhứt Thế Nghĩa Thành Tựu), cựu dịch Tất Đạt
là sai. Với nghĩa trên, thấy trong cuốn 7 bộ Tây
Vực Ký. Kinh Hoa Nghiêm cuốn 12 nói: "Với giữa 4
châu thiên hạ, đức Như Lai hoặc là "Nhứt thế
nghĩa thành tựu" hoặc tên là "Thích Ca Mưu Ni".
Vì "Nhứt thế nghĩa thành tựu" là: "Trọn nên tất
cả nghĩa".
18. "Dịch địa giai
nhiên": Đương thuở thái bình mà ông Vũ, ông Tắc
đã 3 lần đi ngang qua cửa ngõ đều chẳng vào nhà
mình, vì cần với bổn phận đương làm việc nên
được đức Khổng Tử khen ngợi. Đương thời loạn lạc
mà thầy Nhan Uyên ở nơi xóm hẻm nhỏ, trong lều
tranh chỉ có một đảy cơm, một bầu nước mà thôi.
Theo người ta thì chẳng xiết nỗi âu lo mà thầy
Nhan vẫn không đổi chí vui nên cũng được đức
Khổng Tử khen ngợi. Thầy Mạnh nói: "Hạ Vũ, Hậu
Tắc và Nhan Uyên đồng một đạo thể". Lại nói:
"Các ngà: Vũ Tắc, Nhan Tử, đổi địa vị thì đều
thế". Vì vẫn vui với bổn phận dù cảnh ngộ,
trường hợp có khác, chứ tâm địa vẫn đồng.
19. "Tự thệ tam
muội": Như tiền thân của Phật Thích Ca là ngài
đại thần Bửu Hải phát nguyện tương lai ở cõi
Kham Nhẫn uế độ thành Phật để tế độ chúng sanh;
mà nay lời thệ nguyện đó Ngài đã chứng đặng rồi
nên nói: "Riêng một mình Ngài chứng đặng tự thệ
tam muội", đủ thấy trong Như Lai Độc Chứng Tự
Thệ Tam Muội kinh".
20. "Phạm vương tên
Nhẫn": Kiếp sơ là ban đầu. "Kiếp thành" nghĩa là
bắt đầu mới thành cái thế giới Kham Nhẫn này.
Trước nhứt Trời Phạm vương đọa xuống làm người,
do lấy tên người đặt tên cho cõi nên nói là Kham
Nhẫn thế giới. Vì người tên Nhẫn, cõi phải tên
Nhẫn, người, cõi Kham chịu với nhau nên gọi Kham
Nhẫn. Sách Huyền Tán cuốn 2 nói: "Các khổ khốn
ngặt mà chúng sanh vẫn kham chịu nhọc nhằn; các
Bồ Tát ra làm lợi lạc cho, lại bị nhiều ganh
ghét mà Bồ Tát cũng kham chịu được, nên chung
lập thành tên cho cõi này là Kham Nhẫn".
21. "Đời ác thế" là
cái thời kỳ mà loài người làm việc ác rất thạnh
hơn hết. Sách Tán Thiện Nghĩa gọi là ngũ trược
ác thế. Trong kiếp "Trụ" từ cái thời kỳ mà loài
người mỗi người còn sống được 2 vạn tuổi (kiếp
giảm) là bắt đầu sanh 5 điều ác trược. Kiếp
trược là phần chung, 4 trược kia là phần riêng
vì giữa kiếp trược nó có 4 trược ấy. Bởi có 4
trược đó nên gọi là kiếp trược. Trong kiếp
trược, từ mỗi người sống còn được 2 muôn tuổi
thì cả thế giới đã bắt đầu xảy ra 5 trược nhưng
còn nhẹ ít; dần dần theo thời đại biến giảm
xuống thì cái trình độ 5 trược càng tăng kịch
lên cao. Mà
đức
Thích Ca ra đời nhằm cái thời mỗi người chỉ sống
còn có trăm tuổi thì trược nó lại quá ư kịch
liệt! Huống nữa lại giảm xuống đến thời mà mỗi
người chỉ còn 10 tuổi là kiếp giảm đã cực điểm
thì trược nó lại càng không thể tưởng tượng
được! Hiện nay mỗi người còn sống được trong
ngoài 70 tuổi, trược nó đã quá với thời Phật ở
đời (100 tuổi), vậy từ nay bắt một kể đi... thì
còn 9.000 năm nữa mới đến cái thời mà con người
chỉ còn có 10 tuổi là một đời (hết tiểu kiếp thứ
9). Thế thì giữa thời kỳ "chín ngàn năm" đó, ở
thế giới này, chúng sanh làm gì có những đại
đồng, tự do, hạnh phúc? Vì ngũ trược còn kịch
liệt kia mà!
22. "Ngũ thanh":
Năm điều thanh tịnh: 1. Kiếp thanh là bên cõi
nước Thanh Thái chẳng có cái kiếp giảm, xảy ra 4
trược như cõi uế độ nên gọi Kiếp thanh; 2. Kiến
thanh: Nhận thấy không mê lầm như Thân kiến,
Biên kiến, Tà kiến của cõi này; 3. Ý thanh: Ý
thức không tham, sân, si.... phiền não mê tín tu
lầm luyện sái như cõi này; 4. Mạng thanh: Thọ
mạng vô lượng, không tăng lên 8 vạn 4 nghìn
tuổi, không giảm xuống còn chỉ 10 tuổi, mà phải
chịu cái khổ thọ mạng rút ngắn bằng sanh, lão,
bệnh, tử; 5. Chúng sanh thanh: toàn chư thiện
nhơn cu hội nhứt xứ, đều là bực Thánh; chứ chẳng
phải như nhơn gian này: cái thân quả báo sút
kém, cái tâm tối dốt khiếp nhược; khổ nhiều
phước ít như chúng sanh cõi này. Vì đều được kết
quả bởi đa thiện căn phước đức nhơn duyên bằng
cái tu nhơn trì danh niệm Phật đã thanh tịnh.
23. "5 thống, 5
thiêu, 5 ác": Tạo tác 5 điều ác là: Sát sanh,
thâu đạo, tà dâm, vọng ngữ và ẩm tửu đó thì khi
còn sống bị lấy pháp luật của nước nhà làm hại.
Lúc chết sa vào ác đạo gọi là 5 điều thống khổ
làm cho thân tâm bị đau khổ như lửa cháy nên dụ
là "5 điều thiêu đốt". Kinh Vô Lượng Thọ nói:
"Ta nay làm Phật giữa thế giới này ở trong 5
thống 5 thiêu rất là kịch khổ để giáo hóa chúng
sanh khiến chúng sanh bỏ 5 ác, trừ 5 thống, lìa
5 thiêu. Thế mà chúng sanh không bỏ, cứ say sưa
trong biển hồ sanh tử, Phật rất đau lòng khác
nào người con bất hiếu không nghe lời, cứ tạo
nghiệp, cha mẹ lòng thương lo lắng!"
24. "Tưởng diệt
Nam": Trên hội Linh sơn, Phật thuyết kinh Pháp
Hoa, bấy giờ bực thượng đức Thinh Văn nghe chẳng
nổi pháp Nhứt Thừa thật tướng, đứng dậy lạy Phật
rồi lui về, kể có 5.000 người, gọi bằng "Ngũ
thiên thối tịch". Và trên hội Hoa Nghiêm, những
chúng chẳng thấy được cái thân tốt của Phật Xá
Na cũng là
đồng
một hạng nghe pháp không hiểu nổi, đ
ành
chịu thua lui về, như quân sĩ bại trận nên bảo
là "bại Bắc". Ngài Đức Sơn, hiệu là Châu Kim
Cang, chẳng tin cái thuyết đơn truyền trực chỉ
của Nam Tông, ngài chép ra bộ "Thanh Long Sao"
để làm tài liệu đem qua phương Nam, đặng đánh đổ
Nam Tông. Đến gần biên cảnh, ghé vào quán nước
để dùng điểm tâm. Mụ quán hỏi: "Ngài mang thứ
chi đó?" "Kim Cang Thanh Long Sao". "Kinh Kim
Cang nói 3 tâm chẳng thể có, vậy ngài điểm tâm
nào?" Đức Sơn Ngài không trả lời được! Sau đến
nơi ngài Long Đàm gạn hỏi đôi phen, bỗng đặng
giác ngộ, bèn than rằng: "Lẽ mầu đã biện tột
rồi, bộ Thanh Long Sao như mảy lông để giữa
không; cả lý do của thế gian dường như một nhễu
nước thả xuống biển thẳm, có ăn nhập vào đâu?"
Rồi ngài đốt luôn bộ Kim Cang Thanh Long Sao. Ba
tâm: Quá Khứ tâm, Hiện Tại tâm và Vị Lai tâm.
25. "A Tu La có 4
loại": Kinh Pháp Hoa, phẩm Tự kể 4 loại A Tu La:
1. Bà Trĩ A Tu La vương ; 2. Khư La Khiên Đà A
Tu La vương; 3. Tỳ Ma Chất Đa La Vương; 4. La
Hầu A Tu La vương đều có hàng trăm hàng ngàn
quyến thuộc. Kinh Khỉ Thế chép rằng: "Giữa loài
A Tu La có một nhóm rất liệt nhược ở trong chốn
núi sâu cõi nhơn gian, tức giữa núi phương Tây
có một cái hang đá rất sâu, ở đó có rất nhiều
cung điện A Tu La". Kinh Pháp Hoa Văn Cú cuốn
năm nói: "Thứ A Tu La thuộc về quỉ đạo thì ở bên
đại hải, thứ A Tu La thuộc về súc sanh đạo thì ở
dưới đáy biển".
26. "Qua đời tương
lai" là nói về khoản: Cuối tiểu kiếp thứ 9 và
đầu
tiểu kiếp thứ 10. Kinh La Hán Hộ Pháp chép rằng:
"Cuối tiểu kiếp thứ 9 này, lúc mà cả nhơn loại
mỗi người chỉ sống còn có 10 tuổi là mãn đời đó,
bấy giờ cả thế giới đều nổi lên cái tai đao
binh. Chỉ trong 7 ngày, toàn cả loài người tàn
sát lẫn nhau. Lúc đó (hết tiểu kiếp thứ chín)
giáo pháp của đức Thích Ca phải tiêu diệt lần.
Sau cái tai đao binh 10 ngày, bắt đầu qua cái
tiểu kiếp thứ 10" v.v...
27. "Kinh Thủ Lăng
Nghiêm diệt trước": Vì nghĩa lý quá ư sâu xa cao
thượng mà tâm trí của nhơn loại bấy giờ lại cực
kỳ đơn giản tối tăm nên không tu học nổi kinh
pháp ấy! Đã chẳng học nổi thì còn ai đâu hoằng
truyền pháp Thủ Lăng Nghiêm tam muội nữa, thành
thử nó phải tiêu diệt trước là vậy.
28. "Thời chánh
pháp đã diệt": Kể từ ngày mà Phật nhập diệt về
sau đủ một ngàn năm là cái thời kỳ chánh pháp.
Trong đời chánh pháp đó, hễ người xuất gia thụ
giới đức hoàn toàn, thuộc lòng cả 3 tạng, nhứt
là tạng Luật nên giới hạnh dễ ấn tâm truyền khẩu
với nhau về cái quan điểm "giải thoát kiên cố",
nên gọi là chánh pháp; nghĩa là chánh thức giữ
đúng phép của Phật. Mà ở đây nói đời "chánh pháp
đã diệt" là
đã
qua khỏi một ngàn năm nói trên rồi, tức là thuộc
về đời Tượng pháp: nó tương tợ chớ không được
chánh thức. Vì kẻ xuất gia phần nhiều không
thuộc lòng tam tạng, chẳng giữ trọn hạnh giới,
chỉ chuyên về văn tự ngữ ngôn hơn tu chứng.
29. "Sức Tổng Trì":
Đà La Ni (Dharani) dịch là Tổng Trì gồm giữ
nghĩa là: Với việc lành giữ không cho mất, với
việc ác giữ chẳng cho gây. Thể nó là Niệm, Định
và Huệ, là chỗ của Bồ Tát tu đủ công đức. Tổng
trì có bốn: 1. Pháp tổng trì cũng gọi là Văn
tổng trì: Với giáo pháp của Phật, nghe nhớ giữ
không quên. 2. Nghĩa tổng trì: Với nghĩa lý của
Pháp gồm giữ không cho mất. 3. Chú tổng trì: Bồ
Tát y nơi tâm định rồi khởi niệm để trì tụng
thần chú, trì chú đã được thần lực linh nhgiệm,
trừ được tai nạn bịnh hoạn cho nhân dân. 4. Nhẫn
tổng trì: Trí chơn thật của Bồ Tát nhẫn chịu giữ
được thật tướng của Pháp mà không cho mất. Trong
Chơn Ngôn tông, Đà La Ni đây tức là Chú tổng trì
đây vậy.
(A) "Riêng để kinh
này một trăm năm": Tức là kinh Vô Lượng Thọ cũng
là kinh A Di Đà: Về tiểu kiếp thứ 10, trong thời
kỳ tăng, bấy giờ từ 10 tuổi đó, tăng lên, đến
chừng mà mỗi người sống được 8 vạn tuổi thì kinh
pháp của đức Thích Ca đều diệt hết, chỉ còn lại
A Di Đà cũng như pháp "trì danh niệm Phật" còn
lại một trăm năm độ sanh, vì chỉ có 6 tiếng dễ
học dễ tu với trình độ của chúng sanh. Trong
thời gian đó tăng đến mỗi người sống đủ 8 vạn 4
nghìn tuổi là thời tăng đã mãn, trở lại giảm
xuống đến lúc mà mỗi người sống còn 8 vạn tuổi.
Bấy giờ đức Di Lặc ra đời v.v...
30. "Nguơn gia":
Niên hiệu của Văn Đế (dương lịch 424, trước Dân
quốc 1488 năm) đời Lưu Tống miền Nam bên Tàu bấy
giờ (theo dương lịch thì trong khoảng: 420 -
476).
31. "Nam Bắc
Triều": Từ đời Đông Tấn Nguơn Đế (317) về sau,
gọi là Nam Bắc triều: Chiếm cứ về khu vực phương
Nam gọi là Nam triều, có 4 triều là: Tống, Tề,
Lương, Trần đều là Hán tộc; chiếm cứ về miền Bắc
là Bắc Ngụy, Bắc Tề, Bắc Châu. Cả Nam Bắc triều
khởi từ năm Canh Thân (420) đến năm Ất Dậu (589)
là hết vì Tùy văn Đế thống nhứt nước Tàu, lên
ngôi năm ấy kỷ hiệu là Khai Hoàng nguơn niên.
32. "Lưu Tống": Gọi
riêng về Tống Nam triều, bởi ông Lưu Dũ làm vua
xưng Tống, nên gọi Lưu Tống, để cho riêng biệt
với triều Tống là ông Triệu Khuông Dẫn làm vua
sau này cũng xưng Tống.
33. "Tiên đ
à
bà": Với danh từ "Tiên đ
à
bà" đủ có bốn nghĩa là: 1. Muối. 2. Nước. 3.
Ngựa. 4. Đồ vật dụng. Chỉ có một bề tôi đủ trí
thức mới có thể hiểu được. Nghĩa là: Như lúc mà
nhà vua dùng bữa, Ngài gọi rằng: Tiên đ
à
bà thì vị trí thần hiểu ngay là vua cần dùng
muối. Lúc nhà vua tắm gội, gọi "Tiên đ
à
bà!", trí thần biết liền là hoàng thượng cần
dùng nước. Khi nhà vua làm công chuyện, bảo:
"Tiên đ
à
bà!", vị trí thần ấy rõ ngay là thánh thượng
ngài cần dùng đồ đạc gì đó. Lúc nhà vua, ngài
muốn ra dạo chơi, gọi rằng: "Tiên đ
à
bà!" thì quan trí thần ấy tức hiểu là Thiên Tử
Ngài cần dùng ngựa.
34. "Diêm Phù Đề":
Đọc đủ là Diêm Phù Đề Bệ Ba (Jampudvipa): châu
Diêm Phù, nghĩa là giữa trung tim châu này có
rừng cây Diêm Phù, dùng tên cây để đặt tên cho
châu này; lại ở về phía Nam núi Tu Di nên gọi là
Nam Diêm Phù Đề bệ ba, tức là cái châu mà loài
người chúng ta ở đây. Luận Cu Xá cuốn 11 chép
rằng: "Phía Bắc núi Đại Tuyết có núi Hương Túy,
khoảng giữa 2 núi ấy, có cái ao nước lớn, tên là
Vô Nhiệt. Bên ao ấy có rừng cây Thiệm Bộ tức
Diêm Phù, hình cây rất cao lớn, trái rất ngon
ngọt. Nhơn danh rừng cây ấy nên đặt tên cho châu
này là Thiệm Bộ Châu, cũng như Diêm Phù Châu".