A
DI ĐÀ
KINH SỚ SAO
Liên Trì Đại Sư soạn
Việt dịch:
Hòa Thượng Hành Trụ
-o0o-
QUYỂN THỨ
TƯ
Đất Cổ Hàng chùa Vân Thê Sa Môn Chu Hoằng thuật
lại.
Cảm Quả (phân ra
làm hai phần)
1. Phật hiện ngã
tiền (Phật hiện trước mặt ta)
2. Ngã vãng Phật xứ
(Ta sanh qua xứ phật)
PHẬT HIỆN NGÃ TIỀN
Người kia đến khi mạng
chung, Phật A Di Đà cùng các vị Thánh chúng hiện
ở trước mặt.
Sớ: "Người
kia" là chỉ người tu pháp trì danh niệm Phật.
Nương văn trên nói: Hễ được nhứt tâm bất loạn
thời đến khi sanh mạng sắp cuối cùng, Phật ắt
hiện trước mặt; do vì nhờ sức mình với sức Phật
lẽ cảm ứng lẫn nhau như trong hai bộ kinh và các
kinh nói.
Sao: "Sức
mình" là: Phàm người khi mạng chung, lúc thân
tiền hữu sắp mãn, thân hậu hữu chưa sanh thời cả
đời bình sanh làm việc ác hay việc thiện, tự
nhiên bây giờ nó hiện ra trước mặt, như: việc
thập ác, việc ngũ nghịch thời tướng địa ngục
hiện ra trước; xan tham tật đố thời tướng ngạ
quỉ hiện ra trước. Nhẫn đến tu ngũ giới, thập
thiện thời cảnh nhơn thiên hiện ra trước.
Nay người chuyên về
niệm Phật, nhứt tâm bất loạn thời tịnh niệm
thành tựu. Trong tâm thanh tịnh, lẽ nào Phật
không hiện ra trước mặt ư? Kinh Lăng Nghiêm nói:
"Nhớ Phật, niệm Phật hoặc hiện đời, hoặc đời
sau, quyết định thấy Phật", chắc vậy.
"Sức Phật" là: Kinh
Đại Bổn, ngài Pháp Tạng nguyện rằng: "Khi ta làm
Phật, trong 10 phương vô ương số thế giới các vì
chư Thiên, nhơn dân, ai có phát tâm Bồ Đề tu các
việc công đức, nguyện sanh về trong cõi của ta
thời đến khi mạng chung, ta cùng đại chúng hiện
ra trước mặt người đó để dẫn về nước".
Trong bài văn Tam
Bối Vãng Sanh, lại nói: "Người kia khi mạng sắp
chết, Phật cùng các vị thánh chúng đều đến rước
về". Trong Quán Kinh, văn Cửu Phẩm, hoặc nói
Phật A Di Đà
đến
trước người tu kia, hoặc nói đến chỗ người kia,
đều là cái ý hiện ra trước mặt vậy.
Nói các kinh là:
Kinh Xưng Dương Chư Phật Công Đức nói: "Nếu có
người được nghe danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ Như
Lai, nhứt tâm tin muốn, người đó khi mạng chung,
Phật A Di Đà cùng các vị tỳ kheo hiện ở trước
người đó; ma nó chẳng dám phá hoại cái tâm chánh
giác người kia".
Lại kinh Cổ Âm
Vương nói: "Trong tứ chúng (1), hoặc có người
nào hay chơn chánh thọ trì danh hiệu Phật kia.
Đến khi mạng chung, Phật A Di Đà liền cùng với
đại chúng hiện ra ở trước mặt người đó, khiến
cho người đó được thấy". Lại Kinh Hoa Nghiêm
quyển 46 nói: "Đức Như Lai có 10 món Phật Sự: 1.
Nếu có chúng sanh nào chuyên tâm nhớ niệm thời
Phật hiện trước mặt người đó" v.v... Chính chỗ
gọi rằng: chúng sanh niệm Phật, Phật rước cả
không bỏ sót một ai. Nếu y theo kinh Bát Nhã
thời sức mình lại có hai nghĩa: 1. Sức mình
niệm. 2. Sẵn có sức Phật tánh của mình và thêm
nhờ sức của Phật nguyện rước, mới thành ba sức.
"Sức sẵn có" là như chiếc thuyền. Sức niệm Phật
là như buồm chèo. Sức Phật nguyện rước là như
gió xuôi. Ba việc đủ trọn, ắt chóng lên bờ kia.
Sớ: "Phật và
các vị thánh chúngg là: Phật gồm cả Báo thân và
Hóa thân; thánh chúng gồm luôn các vị Bồ Tát,
hàng Thanh Văn v.v...
Sao: "Gồm
Báo thân, Hóa thân" là: Trong Quán kinh nói rõ
về Phật hiện. Trước nói thân Phật cao 60 vạn ức;
kế nói thân một trượng sáu; thứ nữa thì nói
người sanh về phẩm hạ, vị Hóa Phật đến rước. Thế
thời biết người sanh trong chín phẩm, chỗ thấy
Phật chẳng đồng. Trong Nhiếp Luận cũng nói: "Bực
Đăng Địa mới thấy được ông Phật Báo thân lần hồi
mỗi địa càng thấy thân Phật càng nhỏ nhiệm".
Kinh đây chỉ nói Phật hiện chớ không phân ông
Phật Báo thân hay ông Phật Hóa thân, do vì nói
một gồm nhiều.
"Gồm các vị Bồ Tát,
Thanh Văn" là như trong Quán kinh văn Thượng
Phẩm Thượng Sanh, nói: "Phật cùng Quan Âm, Thế
Chí, vô số Hóa Phật, trăm nghìn bí sô, Thinh Văn
đại chúng, vô lượng các đức chúa trời hiện ra
trước mặt người đó". Nhưng cũng có người niệm
Phật mà Phật không đến rước để các vị Bồ Tát đến
rước đấy. Văn đây theo phần nhiều Phật rước.
Sớ: Hỏi: Cơn
lâm chung Phật hiện ra trước, cũng có ma hiện
chăng? Đáp: Người xưa đã nói không ma; dẫu hoặc
có đó quí tại tự mình biện rành biết lấy.
Sao: "Không
ma" là: Riêng tu một pháp thiền định ma ngũ ấm
nó nổi lên như trong Lăng Nghiêm, trong Chỉ Quán
và các kinh, luận phân biện việc ma rất rành.
Kinh đây nói người niệm Phật nhờ sức oai thần
của Phật, sức bản nguyện của Phật trong hào
quang lớn của Phật che phủ, quyết không có việc
ma nó phá. Song cũng có người nghiệp chướng đời
trước sâu dày, hoặc không khéo dụng tâm để cho
có ma nổi lên, chưa chắc có thể quyết định được,
phải phòng biện rành biết lấy.
Như trong kinh,
luận nói: "Người tu thấy Phật muốn biện bạch
biết cho rành thời có hai phép như đây: 1. Thấy
Phật hiện mà không hiệp với trong kinh, luận thì
đó là ma sự; 2. Không hiệp với chỗ tu của mình
thì đó là ma sự. Sở dĩ vì sao? Do vì với người
riêng tu pháp thiền định thời gốc chỗ tu nhơn là
duy nhận có tự tâm, chớ không nhận có nương nơi
cảnh; cho nên ngoài tâm có Phật hiện, điều đó
thôi không cần luận, do vì quả chẳng hiệp nhơn.
Kinh nầy nói người niệm Phật, một đời nhớ Phật,
cơn lâm chung thấy Phật, nhơn quả phù hiệp, đâu
đặng cho là ma sự ư?
Nếu mà người chưa
đặng rõ quyết Phật hay là ma được thì phải như
hai phép trước kia để biện biệt xét biết mà
thôi. Hỏi Đã nói rằng không ma thời ắt là thiệt
Phật. Mà sao tôi nghe người xưa nói Phật không
khứ không lai, nay vì lẽ gì có Phật hiện ở trước
mặt người kia? Đáp: Với cái đạo lý cảm ứng nó
liên lạc lẫn nhau, cũng chẳng ngại gì. Với lẽ
không lai mà lai, không thấy mà thấy. Cho nên
ngài Vĩnh Minh bảo rằng: "Như huyễn chẳng thật
thời tâm và Phật đều quên; nhưng tướng huyễn
chẳng không thời không hoại tâm và Phật". Lại
nói: "Ông chơn thật pháp thân vốn không sanh
không diệt. Song từ nơi chơn Phật mà phát khởi
ra ông Phật Hóa thân để dẫn dắt người si mê. Đây
chính là công đức bản nguyện của Như Lai, khiến
những chúng sanh nào có duyên kia, chuyên tâm
tưởng niệm, hay ở trong tự tâm mình thấy Phật
đến rước; chẳng phải chư Phật thiệt có sai vị
Hóa thân đến rước". Thế thời với thân Phật vẫn
thường vắng lặng mà chúng sanh thấy có khứ, có
lai như hình trong gương, chẳng phải trong,
chẳng phải ngoài, như việc trong mộng, chẳng có
chẳng không.
Lại trong kinh Pháp
Hoa nói: "Do chúng sanh muốn cho được thân Phật
hóa độ thời đức Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện
thân Phật ra để vì thuyết pháp cho nghe", cũng ý
đây vậy. Cho nên hễ có nước trong thời trăng tự
đến, tâm thanh tịnh thời Phật tự hiện. Chỗ gọi
rằng cảm ứng đạo giao, khó nghĩ, khó bàn.
Sớ: Nên biết
khi lâm chung, thiết một tượng Phật và trợ niệm.
Văn đây chép trong kinh Phật, phép đây truyền ra
từ bên nước Tây vức; không nên nghi ngại.
Sao: Kinh
Hoa Nghiêm quyển 15, lời tụng nói: "Hễ thấy có
người lâm chung thì ta khuyên họ niệm Phật. Lại
trương tượng Phật cho họ xem kính; khiến người
đó đối với Phật rất sanh tâm qui ngưỡng theo
Phật cho nên đặng thành hào quang ấy". Lời sớ
nói: "Phép bên Tây Vức có người khi muốn bỏ sanh
mạng, dạy họ trở mặt về hướng Tây; ở trước để
một tượng Phật đứng, tượng kia cũng trở mặt về
hướng Tây. Dùng đảnh phan treo trên tay tượng,
bảo người bệnh tay nắm đuôi phan, tưởng vãng
sanh theo Phật, và bao nhiêu người cùng đốt
hương, đánh chuông trợ niệm danh hiệu Phật.
Chẳng những vong giả được sanh về trước Phật, mà
cũng trọn thành thấy được Phật quang. Nếu với
người xuất thần dạo đi các cõi, đi ở tự tại
không ngăn ngại, đó là bực siêu phàm để ngoài
lời luận. Còn hoặc người chưa được như vậy thời
phải gắng gổ làm theo trên đó. Nghĩa là riêng vì
trương tượng Phật để trợ việc vãng sanh; huống
chi người kia nhứt tâm bất loạn, cảm Phật hiện
ra trước mặt; chớ lo là ma sự mà tự sanh tâm
nghi ngại không nên!
Sớ: Xứng lý
thời tự tánh vọng cùng, chơn lộ là nghĩa "cơn
lâm chung Phật hiện".
Sao: Vọng
tâm chưa hết thời mờ mờ mịt mịt; đó là cái nghĩa
"mạng căn chưa đoạn". Mê hoặc dứt, chấp trước
không, tình lự tiêu, vọng kiến hết tỷ như người
chết nhà hư, khói tắt tro bay là cái nghĩa "mạng
chung" đấy. Các cái mê vọng hết rồi, không chơn
còn đợi gì nữa? Bấy giờ dẫu cầu Phật đừng hiện
ra trước mặt cũng không thể được vậy. Song mà
lòng từ của Phật vô hạn đâu đợi cơn lâm chung
mới là hiện ra trước. Thế cho nên có câu: "Luôn
luôn hiện trước kẻ thời nhơn mà kẻ thời nhơn tự
chẳng biết" (2).