A
DI ĐÀ
KINH SỚ SAO
Liên Trì Đại Sư soạn
Việt dịch:
Hòa Thượng Hành Trụ
-o0o-
CHÚ THÍCH KINH A DI ĐÀ SỚ SAO
QUYỂN THỨ HAI
1. "Chẳng phải số chúng
sanh": Nghĩa gồm hai thứ:
- Bốn bực Thánh:
Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, là những vị
đã tiến lên cảnh giới trí huệ giác ngộ nên không
ở trong số chúng sanh.
- Bốn châu thế
giới: Đông Thắng Thần, Nam Thiệm Bộ, Tây Ngưu
Hóa, Bắc Cu Lô và núi, sông, cây, cỏ... là những
vật vô tri giác nên cũng gọi không trong số
chúng sanh, vì cái danh từ chúng sanh tức là
"hữu tình" nghĩa là có cái tình thức, bởi biết
cảm tình về vui cười, khổ khóc v.v...
"Thường và vô
thường": Giữa 3 thế gian, cái thể tánh mà có cái
lý bất sanh, bất diệt gọi là thường; còn cái
hiện tượng mà có sanh trụ, dị, diệt, gọi là vô
thường.
2. "Căn bản trí" là
cái trí do Chơn Trí mới phát sanh tỏ hợp với
chơn lý; chứng được cái thực trí của chơn lý ấy.
Nó làm gốc cho tục trí để biết sự này, tướng nọ
giữa pháp hữu vi, nên gọi nó là Căn Bản Trí.
3. "Hậu Đắc trí" là
cái tục trí do sau khi đắc chơn trí rồi nó soi
rõ được cả muôn sự vật của pháp hữu vi; vì cái
trí nầy nó sanh ở sau cái trí căn bản, nên gọi
là Hậu Đắc Trí.
4. "Phiền não
chướng": Các điều tham, sân, si... làm rối loạn
trong thâm tâm của chúng hữu tình nên gọi là
phiền não. Nó hay làm chướng ngại cho tâm trí
giác đạo nên nói là chướng, phiền não chướng. Nó
do cái bệnh "Ngã chấp" sanh ra. Đoạn chướng nầy
chứng Niết Bàn nhị thừa.
5. "Sở tri chướng":
Cũng gọi tri chướng, bởi ngu si mê ám, không
hiểu thấu được sự tướng và thực tánh của các
pháp nên bảo là "tri chướng". Cái chướng này do
bệnh pháp chấp sanh ra. Đoạn luôn cái chướng
này, Bồ Tát cũng chưa đắc Bồ Đề vì hai chướng có
rộng hẹp.
6. "Chơn đế": Do
trí của bực thánh xét thấy được cái lý tánh chơn
thật, vì lìa bỏ điều hư vọng nên gọi là chơn. Lẽ
nó quyết định chẳng còn bị lay động nên bảo là
Đế. Lại, cái lý tánh đây, với Thánh là thật nên
nói là Đế (chắc thực).
7. "Tục đế": Tánh
tình còn mê muội nhận thấy những sự tướng giữa
cõi đời. Vì thuận theo cái phương pháp của phàm
tục, mê tình nên gọi là Tục. Nó là cái đạo lý về
phàm tục nên bảo là Đế, vì người đời cho là
quyết định không lay động. Lại sự tướng ấy, với
thế tục nhận làm thật nên bảo là Đế (cho là
thực).
8. "Sáu nghĩa tức
Phật": 1. Lý tức Phật: vì tất cả chúng sanh đều
có tánh Phật. 2. Danh tự tức Phật: vì hiểu biết
kinh điển, nghe tiếng biết chữ. 3. Quán hạnh tức
Phật: vì y theo giáo pháp để tu, tức là các vị ở
trong ngôi ngũ phẩm. 4. Tương tợ tức Phật vì
phát cái huệ giải tương tợ tức là các vị ở trong
ngôi Thập Tín. 5. Phần chứng tức Phật: vì phá
được một phần vô minh thì chứng đặng phần pháp
thân, trí giác, tức là các vị ở trong bậc Sơ Trụ
Nhẫn đến ngôi Đẳng Giác. 6. Cứu cánh tức Phật:
vì đoạn vô minh, chứng trí giác đều đã viên mãn
rồi, tức là ngôi Diệu Giác.
9. "Phật có 10
thân": 1. Chánh giác Phật; 2. Nguyện Phật; 3.
Nghiệp báo Phật; 4. Trụ trì Phật; 5. Niết Bàn
Phật; 6. Pháp giới Phật; 7. Tâm Phật; 8. Tam
muội Phật; 9. Bổn tánh Phật và 10. Tùy nhạo
Phật.
1. Bồ Đề thân
(chánh giác Phật): thân Phật bằng cách thị hiện
ra 8 cái tướng để thành đạo Chánh Giác. 2.
Nguyện thân (nguyện Phật): cái thân Phật bằng
khi mà nguyện sanh ở cung trời Đâu Suất. 3. Hóa
thân (hóa Phật): cái thân Phật bằng cách ứng hóa
sanh ở nơi cung vua lại có hiện hóa thân, ắt
hiện diệt thân nên gọi Niết Bàn Phật. 4. Trụ trì
thân (trụ trì Phật): cái thân bằng cách sau khi
nhập diệt để xá lợi của tự thân lại, đặng trụ
trì Phật pháp. 5. Tướng hảo trang nghiêm thân
(nghiệp báo Phật): cái thân Phật trang nghiêm
bằng vô biên tướng hảo; đền trả lại cho những
công đức bởi tu nhơn đủ muôn hạnh nghiệp nhơn
lành nên gọi là nghiệp báo Phật. 6. Thế lực thân
(Tâm Phật): dùng từ tâm của Phật để thâu phục
tất cả nên nói thế lực thân. 7. Như ý thân (ý
sanh thân): đối với các vị Bồ Tát trước Thập Địa
và trên Thập Địa để hiện ra cái Phật thân bằng
như ý. 8. Phước đức thân (tam muội Phật): cái
thân thường ở trong tam muội vì tam muội là cực
điểm của phước nên gọi là phước đức. 9. Trí thân
(tánh Phật) là cả 4 trí như Đại Viên Cảnh Trí
v.v... 4 trí đều là tánh đức bổn hữu nên gọi là
tánh Phật. 10. Pháp thân (pháp giới Phật) là bổn
tánh để cho trí thân hiểu rõ.
10. "Lìa tứ quá":
1. Có 2. Không 3. Cũng có cũng không 4. Phi có
phi không. Với 4 điều trên vì chấp là thật nên
thành quá thất (lầm lỗi).
11. "Tuyệt bách
phi": Cả 4 câu trên đều có gốc, ngọn, 3 đời, đã
sanh khởi, chưa sanh khởi, cộng thành 100 câu,
đều phi chân thiệt nên nói là "phi". Vả như:
"Có" có 4 câu là:
1. Có có 2. Không không 3. Có cũng có cũng
không; 4. Có phi có phi không.
"Không" có 4 câu
là: 1. Không có 2. Không không 3. Không cũng có
cũng không 4. Không phi có phi không.
"Cũng có cũng
không" có 4 câu là: 1. Cũng có cũng không có 2.
Cũng có cũng không không 3. Cũng có cũng không
có cũng không 4. Cũng có cũng không phi có phi
không.
"Phi có không" có 4
câu là 1. Phi có phi không có 2. Phi có phi
không không 3. Phi có phi không cũng có cũng
không 4. Phi có phi không phi có phi không.
Nghĩa là: với cái
lẽ chơn thật của nó, nếu bảo rằng (có) là phạm
về cái lỗi tăng thêm; còn bảo rằng (không) là
phạm điều lỗi giảm bớt; hoặc cho là (cũng có
cũng không) là phạm cái lỗi tương vi (trái nhau,
mâu thuẫn); cho là (phi có phi không) là phạm
điều lỗi hí luận. Bởi lẽ chơn thật nó lìa ngữ
ngôn văn tự nên hễ nói ra bằng cách nào cũng đều
phạm lỗi cả, gọi là "ngôn sanh lý tán, thuyết
tắc đầu giác sanh" (nói ra thì mất lý, nói ra
thì đầu mọc sừng, tức là sanh vọng).
12. "Đọc lời người
xưa": Sách Trang Tử chép rằng: "Vua Tề Hoàn Công
đọc sách trên nhà. Thợ đẽo bánh xe tên là Biển
đương đẽo bánh xe nhà dưới, buông dùi đục và
đồ
nghề, lên nhà trên tâu hỏi:
- Xin tâu Bệ Hạ, Bệ
Hạ đọc sách gì đó?
- Sách của người
xưa.
- Người xưa còn
sống không?
- Qua đời rồi.
- Thế thì sách bị
đọc nó là cặn bã của người xưa thôi?
- Quả nhân đọc
sách, quan Luân Nhơn sao đặng phép lên nghị luận
ư? Vậy Quả nhân giao rằng: Hễ nói có lý do thì
được sống, còn nói mà chẳng lý do là phải tội
chết!
- Tâu Bệ Hạ! Xin
lấy cái nghề nghiệp của thần hạ để xét thử như
thế nầy: Với việc đẽo bánh xe đây, nếu quá chậm
thì nó non lỏng mà chẳng chắc; còn quá mau thì
nó già gắt mà không lọt vào. Vậy không mau không
chậm, vừa đắc nơi tâm, vừa hiện nơi tay, có cái
lý số còn mãi. Với nghề hay ấy, hạ thần không
thể truyền cho con mình được mà con của hạ thần
nó cũng không thể nối truyền được cái tài nghệ
của hạ thần. Thế nên năm nay đã 70 tuổi mà lụi
đụi rồi đây, cái nghề hay đẽo bánh xe này nó
cũng chỉ đồng lão hủ theo với hạ thần mà thôi,
chả còn mấy ai nữa! Ôi! Cái điều mà người xưa
chẳng thể truyền được đó nó đã theo người xưa
qua rồi! Thế thì cái mà bị Bệ Hạ đọc đó, nó bất
quá là bã xác của cổ nhơn vậy thôi; chớ nào phải
sốt dẻo ngon lành gì?
- Quan Luân Nhơn
nói đúng lắm, quả nhơn này chỉ gián tiếp với văn
tự của cổ nhơn, chứ phi trực tiếp với cổ nhơn
bằng đạo lý hay đạo vị gì cả".
13. "Tứ vô lượng
tâm": 1. Từ vô lượng tâm: cái tâm ban vui cho vô
lượng chúng sanh. 2. Bi vô lượng tâm: cái tâm
cứu khổ cho vô lượng chúng sanh. 3. Hỉ vô lượng
tâm: cái tâm thấy chúng sanh lìa khổ được vui mà
mừng rỡ tán thành. 4. Xả vô lượng tâm: với 3 cái
tâm trên đều xả hết mà lòng không chấp trước.
Với kẻ thân, người
thù lòng vẫn bình đẳng; hỉ xả cho kẻ ân người
oán, lòng công bình làm lợi cho chúng sanh thì
gọi là "tứ đẳng tâm". Lòng không phân biệt mà
phổ độ tất cả chúng sanh thì gọi là "Tứ vô lượng
tâm". Với 4 tâm ấy nương theo 4 thiền định để
tu; hễ tu được là
được
sanh lên cõi Phạm thiên nên cũng gọi là "tứ phạm
hạnh".
14. "Vô học": Trong
ngôi tu hành, người đã chứng đến quả vị thứ 4,
tức là A la Hán. Vì đã dứt hết rồi những vọng
hoặc trong tâm, chứng đủ cả chân đế của thánh
trí nên gọi là vô học, bởi không còn vọng tâm
đâu nữa để dứt, không còn thánh trí đâu nữa để
chứng. Đã giải thoát ra ngoài tâm vọng hoặc của
chúng sanh trong 3 giới. Còn 3 quả thánh nhân
kia là hữu học vì còn đoạn hoặc chứng chân.
15. "Tam minh": Ở
Phật là tam đạt; ở La Hán là tam minh (có cái
trí hiểu các pháp sự vật rõ được cả nên gọi là
minh). 1. Túc mạng minh: Biết cả sự sanh tử từ
đời trước của thân ta với thân chúng sanh; 2.
Thiên nhãn minh: Hiểu cả tướng sanh tử về kiếp
sau của thân ta với thân chúng sanh; 3. Rõ cả
cái khổ tướng sanh tử hiện đời nầy của thân ta
và thân của chúng sanh: Nhờ có cái trí đó mà ta
tự dứt được tất cả phiền não. Chữ lậu là phiền
não, lậu tận là hết phiền não rồi. Phiền não là
tham, sân, si, thất tình, lục dục.
16. "Lục thông":
Các thánh trong tam thừa tu đắc thần thông có
sáu phép, là: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông,
tha tâm thông, túc mạng thông, thần túc thông,
và lậu tận thông. 1. Đắc nhãn căn như con mắt
trời Sắc giới; ngó lâu không mỏi nháy, thấy suốt
không chi làm chướng ngại nên gọi thiên nhãn
thông. 2. Đắc nhĩ căn như lỗ tai của trời về Sắc
giới: nghe rõ biết tiếng cả chúng sanh không chi
làm chướng ngại nên gọi là thiên nhĩ thông. 3.
Chứng đặng cái trí sáng suốt biết cả tâm niệm
của chúng sanh nên gọi tha tâm thông. 4. Đắc cái
trí tự biết cả sanh mạng từ đời nầy suốt nhiều
kiếp trước của mình và của chúng sanh lục đạo
nên gọi túc mạng thông. 5. Đắc cái thần lực dạo
đi qua lại rất nhanh tự tại, không chi làm trở
ngại nên gọi thần túc thông. 6. Lậu tận thông
tức là lậu tận minh đã nói ở tam minh trên.
Chỉ có người tu
Phật, chứng La Hán mới đắc cái lậu tận thông;
còn 5 thông trước, những kẻ ngoại đạo tu tiên,
kẻ tu pháp thiền hữu lậu, kẻ tu luyện thuốc,
luyện chú, luyện bùa, luyện ngảI; cho đến các
ông trời ở tam giới, các thần linh, các yêu
quỉ... đều chứng được: hoặc 5 thông, 4 thông, 3
thông, 2 thông và 1 thông. Nhưng rốt rồi đều
phải luân hồi lại phàm nhơn vì chưa chứng được
cái lậu tận thông. Chữ "thông" nghĩa là tác dụng
tự tại, không chi làm trở ngại.
Phật, Bồ Tát, ngoại
đạo tiên nhơn tu chứng đặng thì gọi là "tu đắc
thông lực" vì tam thừa thánh hiền tu tam học mà
đắc
lục thông, ngoại đạo tiên nhơn tu thiền định mà
hiện được ngũ thông. Còn 3 giới các trời đều có
ngũ thông, nhẫn đến quỉ thần cũng có một vài
thông đều chung gọi "báo đắc thông lực" vì y nơi
quả báo tự nhiên có đặng. Lại quỉ thần, hồ ly
tinh sở đắc là "nghiệp thông" vì nương nơi
nghiệp lực mà
đắc.
(Tu theo Phật mới
được 6 thông, các đạo kia chỉ có 5 thông còn bị
luân hồi sanh tử, vì chưa diệt được ý thức vi tế
vọng tưởng dù tu lên cõi trời Phi Phi Tưởng
nhưng chỉ diệt được phần thô).
17. "Rồng chịu
thua": Hai anh em rồng Nan Đà, Bạt Nan Đà
đều
ở biển bên núi Tu Di. Phật thường lên cung trời
Đao Lợi, hai rồng ấy nổi giận rằng trách: "Cớ
sao người trọc cứ đi trên chỗ ta ở?" Lần sau,
Phật lại lên Đao Lợi nữa, hai rồng ấy hà hơi
khói thành mây đen làm tối mù mịt trời đất. Các
thầy tỳ kheo xin phép để ngăn dẹp nó mà Phật
không cho; đến ông Mục Kiền Liên ra xin, Phật
mới chấp thuận. Con rồng ấy nó biến hiện cái
thân cực kỳ dài lớn, quấn núi Tu Di giáp 7 vòng,
đuôi đập nước biển, đầu gác trên đảnh núi. Ngài
Mục Liên hoá ra cái thân rồng lớn dài gấp hai nó
quấn giáp núi 14 vòng, đuôi quậy thấu đáy biển,
đầu cất tới cung trời Phạm Thiên. Hai rồng ấy
lại càng giận dữ, hóa phép mưa đá sạn tuôn
xuống. Ngài Mục Liên hóa đá sạn ấy biến ra hoa
sen, mềm mại khá yêu. Rồng còn giận mãi chẳng
thôi, Mục Liên lại hóa làm những con giòi rất
nhỏ, chun vào trong mỗi cái vảy, để cắn rứt lung
tung, từ mắt chun vào tai, từ tai chun vô mũi,
cứ chun vô, bò ra lúc nhúc như thế. Rồng bị đau
quá phải chịu thua, nguyện qui y tam bảo.
18. "Chẳng cho dời
núi": Có một phái ngoại đạo, cả thầy trò là 5
trăm ông lão sư, dùng sức luyện thần chú để dời
núi đổi chùa tiên. Chúng luyện hơn một tháng,
núi đã lay động. Mục Liên lấy làm cảm thương vì
núi ấy dời đi, tất cả nhân dân quanh vùng bị
nhiều thiệt hại.
Ngài lên đảnh núi
ngồi thiền định, núi đứng yên lại như xưa. Chúng
ngạc nhiên nói: "Pháp của chúng ta làm núi đã
động, chừng vài bữa nữa là dời được, cớ sao cứng
lại như trước? Tất nhiên có đệ tử Phật lòng từ
khiến thế!" Chúng tự biết phép yếu, dẫn nhau đầu
Phật.
19. "Đem con cháu
họ Thích giấu trên cung trời": Vua Lưu Ly đánh
giết họ Thích; Mục Liên muốn cứu mà Phật cho là
do cái định nghiệp khó trốn. Nếu cứu là làm việc
bất bình vì Lưu Ly vương mất nợ! Tuy đã biết lẽ
nhơn quả báo ứng giữa họ Thích với vua Lưu Ly,
nhưng Mục Liên không nỡ điềm nhiên tọa thị, ông
hóa phép thần thông: đem được 500 người Thích
chủng giấu trong bình bát để tản cư lên cung
trời Đại Phạm. Trận giặc ấy chấm dứt rồi, Mục
Liên lên đem bình bát về để giở nắp ra coi thì 5
trăm người Thích chủng kia đâu mất mà chỉ còn là
một bình bát máu vậy thôi. Thế đủ biết rằng: Với
nghiệp lực quả báo, Phật cũng không thể binh vực
để cứu bằng cách bất bình cho bên đòi!
20. "Ngăn xe, đốt
nhà": Kỳ Vực là ông Tổ thầy thuốc của Ấn Độ, là
đệ
tử của Mục Liên, đã mãn phần, sanh lên cung trời
Đao Lợi. Nhơn một đồ đệ đau bệnh nan y, Mục Liên
lên trời để hỏi thuốc. Gặp các trời trẩy hội
rong chơi, Kỳ Vực ngồi trên xe không bước xuống,
chỉ chào thầy bằng cách chấp tay mà thôi, Mục
Liên dùng thần lực ngăn không cho xe chạy. Buộc
lòng Kỳ Vực phải xuống xe để thú tội rằng: "Chư
thiên vì sự hưởng phước bắt buộc vui say, đến
đỗi chẳng còn rỗi rảnh để ngó mặt nhau! Tôn giả
ngài muốn gì mà hạn chế điều tự do vui sướng của
đệ tử thế nầy?" Ngài Mục Liên cho biết việc đi
tìm thuốc chữa bịnh ấy. Kỳ Vực đáp rằng: "Với
chứng bịnh đó chỉ còn có phương pháp thiên y,
nghĩa là nhịn đói thì tự nhiên lành bệnh, dẫu
không lành đi nữa thì cũng mau giải thoát được
cái xác khổ". Bấy giờ Mục Liên buông xe cho Kỳ
Vực mới được đi chơi với các trời (ông Kỳ Vực có
chỗ nói ông Kỳ Bà).
Đức Chúa Trời Đế
Thích sau khi chiến thắng mặt trận cùng đánh với
thần A Tu La, kiến thiết một lầu đ
ài
bằng thất bửu kỳ diệu trang nghiêm để kỷ niệm
cuộc thắng trận và thưởng tướng khao binh. Tiệc
tùng ăn lễ, biểu diễn lắm trò vui mừng thắng
thưởng. Nhơn dịp ngài Mục Liên ghé vào, đức
Thiên Chủ đón tiếp, rước đi xem cuộc triển lãm
và cắt nghĩa giới thiệu danh nầy cảnh nọ. Thấy
Mục Liên nghĩ là ông thầy tu ở nhơn gian mới
lên, các ả gái trời làm bộ e lệ, trẻn trờ, lỏn
núp trong các bức màn ngọc trướng hoa mà rỉ rịch
vì không được tự tiện múa hát để hầu đức Chúa
của chúng ả. Mục Liên biết vì thế mà
đức
Chúa nó không tu tỉnh được; cũng bởi một cớ ấy
Mục Liên dùng thần lực hóa lửa tam muội chân hỏa
ra phừng phừng hực hỡ. Cả bà con của đức Thiên
Chủ đều thấy ngôi nhà thắng trận bị phát hỏa
thiêu rụi! Cả trời chúa, tôi buồn chán và than:
"Vui nọ chưa no, buồn nầy dồn đến". Thừa dịp Mục
Liên an ủi, giảng: "Tam giới vô an, du như hỏa
trạch. Lạc thị khổ nhơn. Vô thường, vô ngã"....
Đức Chúa Đế Thích nghe được hết mê, hồi đầu giác
ngộ, hoan hỉ lo tu, trả tù binh lại cho thần A
Tu La vương. Bấy giờ, Mục Liên thâu pháp thần
thông lại, thì ra bà con tôi chúa thấy nhà thắng
trận vẫn còn nguyên hiện, mới biết phép thần của
tôn giả cảm hóa v.v...
21. "Hai chữ tảo
chửu": Tảo: quét; chửu: cây chổi. Kinh Pháp Cú
chép: "Nước Xá Vệ, có thầy tỳ kheo tên là Bàn
Đặc. Sau khi xuất gia học hoài không thuộc vì
quá ư ngu dốt, bởi tối dạ lắm! Đến đỗi Phật giao
cho năm trăm thánh A la Hán, luân phiên mỗi ngày
hai vị để thay đổi dạy ông học một bài kệ rằng:
"Cần tảo già lam
địa,
Thời thời phước huệ
sanh,
Tuy vô tân khách
chí,
Diệc hữu thánh nhơn
hành".
NGHĨA:
Siêng quét đất vườn
chùa,
Mỗi giờ sanh phước
huệ,
Dù không khách khứa
đến,
Cũng có thánh nhơn
đi.
Đã 8 năm qua, mà
ông học chưa thuộc! Anh của ông là Châu Lợi quở
rằng: "Em không thể học thuộc được, tốt hơn là
thôi! về tục làm cư sĩ cho xong!" Bàn Đặc đến
đứng dựa cửa Kỳ Hoàn mà khóc và than tiếc rằng:
"Nếu hoàn tục thì làm sao hằng ngày được thấy
đức Thế Tôn?" Phật thấy, ra hỏi: "Cớ gì thế?"
"Năm trăm thánh tăng đã chán dạy vì con tối dạ,
lại bị anh con đuổi hoàn tục, e không được
thường thấy Phật nên con khóc!" "Thôi đừng khóc!
Vào đây". Phật nắm tay dắt về Tịnh Xá, bảo ở với
Phật, Phật đưa cho một cây chổi và dạy cho học
hai chữ: "Chổi quét". Ông đọc được "chổi" lại
quên chữ "quét", mà hễ nhớ được chữ "quét" thì
lại quên chữ "chổi". Cứ như thế mãi, luôn đến
mấy ngày. Đến chừng xét biết ông sắp hết nghiệp
chướng, Phật mới thừa dịp để khai thị rằng: "Với
2 chữ ‘chổi quét’, nó có sự và lý thế nầy: Sự là
cầm cây chổi vật hữu hình để quét sạch bụi bặm
và rác rến nơi ngoài nhà là cư địa, đặng trông
mát khỏe cho ta lẫn người. Lý là gìn cây chổi
pháp vô hình để quét sạch bụi bặm là phiền não
nơi trong nhà là tâm địa, đặng giữ thanh tịnh
cho ta với người. Tóm lại, quét sạch cả bụi trần
cấu uế trong thân tâm ta và chúng, chớ có gì lạ
lùng đâu mà không nhớ?" Phật vừa dứt lời, ông
liền sáng suốt, chứng quả La Hán, đủ 6 phép thần
thông.
Bấy giờ, bên phái
Lục Quần Bý Xu Ni có tịnh xá riêng, đã lạy Phật
thỉnh giáo giới. Phật sắp đặt: mỗi ngày có một
Bý Xu sớm mai đến giáo giới, rồi về Kỳ Hoàn. Đến
phiên ông Bàn Đặc đi giáo giới, các Bý Xu Ni đều
ngơ ngác mà hỏi với nhau: "Sư huynh ấy tối dốt
tận mạng đi, mà nay đến huỷnh làm gì giáo giới
được. Có lẽ huỷnh cậy sư huynh của huỷnh là
huynh Câu Lợi thay thế cho, chớ huỷnh mà giáo
giới gì?" Đương còn dư luận, không dè ông đã reo
gậy tích trước sân. "Ủa! Huỷnh đã tớI! A ha!
Huỷnh thiệt", bà nào cũng xầm xì, mủm mỉm, có ý
cười cợt bằng cách dễ ngươi. Nhưng, giới luật
bắt buộc nên phải ra rước vào, làm lễ, dưng cơm,
rồi hầu nghe thuyết pháp. Bà nào cũng lấy vạt áo
cà sa che miệng và sụt sịt cười hoài nên chả dám
để trống. Ngồi trên pháp tòa thầm nghĩ mình kém
đức nên mới có cái cảnh ngộ nầy; ông bố cáo
rằng: "Kính cùng các pháp tỷ; mặc dù tối dốt,
chớ đệ đã học hiểu được vài nghĩa của hai chữ
"chổi quét" mà Phật chứng truyền. Vậy các chị
hãy để tâm yên lặng nghe đệ giảng coi có hợp
pháp với chương trình giáo giới không? Thưa các
đại tỷ! Người tu Phật, tùy mỗi trình độ mà học
hỏi tu niệm có nhiều phương pháp, nhưng yếu điểm
cũng không ngoài phủi giũ cho sạch bụi trần cũng
như đ
ào
thải cho hết phiền não, nhứt là tảo thanh những
chướng ngại vật là ngã mạn khinh ngạo để cho
thân khẩu ý 3 nghiệp đều khiết bạch, 6 căn được
thanh tịnh như gương lau sạch bụi. Cốt được như
thế mới mong minh tâm kiến tánh, chứng quả vô
lậu. Ấy là nghĩa của hai chữ "chổi quét" v.v...
Vậy có thể nói: với 8 vạn 4 nghìn pháp môn, cũng
không ngoài ý nghĩa của 2 chữ "chổi quét" là vì
quét sạch 8 vạn 4 nghìn bụi trần lao. Đó các chị
xét có phải thế không?" Tôn giả vừa hỏi rồi, các
tỳ kheo ni đều giật mình, chứng ngộ quả A La
Hán, sạch lòng khinh mạn, đủ niệm kính thành,
khấp khởi hoan nghinh, ân cần bái tống. Bấy giờ
vua Ba Tư Nặc thỉnh Phật và chúng tăng vào cung
thụ trai, Phật đưa bình bát cho Bàn Đặc bưng,
bảo đi sau chót, Phật đi trước hết, kế 1 ngàn 2
trăm 50 Tỳ kheo, lần lượt vào cửa thành. Sau rốt
đến Bàn Đặc bị quân lính gác cửa ngõ cản lại
không cho vào và chỉ trích rằng: "Chúng tôi là
cư sĩ không thể học được nhiều vì bận việc quân
chánh, gia đình, nhưng cũng thuộc được một hai
bổn để hôm sớm tụng niệm; còn huynh đã làm tỳ
kheo, một bài kệ 20 chữ mà 3 năm rồi cũng học
chưa thuộc! Thế có tài đức gì đâu hòng vào thụ
của nhà vua cúng?"
Đến giờ Phật lên
trai đ
àn
tưởng bình bát để cơm vào, ông ở ngoài ngọ môn
dùng thần lực kéo dài cánh tay đưa bình bát đến
ngay trước Phật; cả vua cùng bá quan lấy làm
kinh ngạc! Vì chỉ thấy cánh tay quá dài mà không
thấy người nào đâu cả? Phật phải giới thiệu để
cho vua biết rằng: "Đây là cánh tay của Bàn Đặc
đó, vì quân lính không cho La Hán ấy vào mà bình
bát của ta giao cho ông ấy bưng, biết trong này
tới giờ thụ trai nên dùng thần biến đưa bình bát
vào". Vua sai các quan vội ra rước vào... Cuộc
trai phạn rồi, vua hỏi: "Đức tôn giả đây vì sao
tối dạ? Lại học cách nào được chứng quả như
thế?" Phật dạy rằng: "Kiếp trước là người tu học
thông lắm, chỉ vì muốn để một mình làm thầy quán
chúng nên bỏn xẻn không bố thí pháp cho chúng,
sợ chúng hơn mình. Bởi cái tội lẫn pháp đó,
thành thử đời nầy mắc quả tối dốt. Nhưng nhờ có
lòng ham tu và mến ta mà tội diệt phước sanh,
chướng kia tỉa hết, huệ nọ sáng thêm, chỉ học 2
chữ mà chứng quả như thế". Cả trai đ
àn
đại hội vua quan ai nấy đều được nghe biết: cái
tội tiếc pháp như thế kia, và không dám (khinh
người) như thế. Tiệc rồi bái tạ, đưa Phật, Tăng
về. Tôn giả từ đây mới được chúng kính trọng.
22. "Phóng ngưu":
Tiếng Phạn (Nanda) Nan Đà, dịch Hỷ, cũng tên là
Phóng Ngưu. Sách Pháp Hoa Huyền Tán chép rằng:
"Nguyên là người chăn nuôi trâu bò. Gặp Phật,
ông hỏi thắc mắc về cái nghề chăn nuôi, nghĩ
bụng cho Phật chắc là chưa hiểu đến cái nghề hèn
mọn ấy. Phật giảng về nghề chăn nuôi có 11 sự
v.v... Ông biết Phật là
đủ
trí biết tất cả, đầu Phật xuất gia, rất thông
minh. Phật sai ông làm giáo giới, 500 tỳ kheo ni
nghe pháp rồi đều chứng quả La Hán.
23. "Ăn lúa ngựa":
Một trong 10 chướng nạn mà Phật còn chịu dư báo
hay là dư ương, thấy trong Trung Bản Khỉ kinh
cuốn hạ, Đại Phương Tiện Phật Báo Ân kinh cuốn
3, kinh Luật Dị Tướng cuốn 5, Trí Độ Luận cuốn
6, và kinh Hưng Khởi Hạnh đều chép rằng: Bên
nước Tỳ La Phiến, vua A Kỳ Đạt (Agnidatta) thân
ngự đến Kỳ Hoàn để rước Phật và 500 đệ tử tỳ
kheo về bổn quốc 3 tháng an cư. Phật và chúng
Tăng kiết hạ cấm túc rồi; bấy giờ có ông trời
Thiên Ma vương giáng hạ nhập vào thân tâm của
vua làm vua mê sa tửu sắc, ca nhạc với cung phi
mỹ nữ trong nội điện, lại nghiêm cấm cả 3 tháng
không cho tâu việc lớn, nhỏ, ra, vô gì hết. Thì
ra quên không cúng Phật hộ Tăng. Chúng Tăng xin
phép đi khất thực, Phật không cho vì đã thụ
thỉnh ở đây, lại đi hóa trai nơi khác thì đâu
trọn lời hứa với đ
àn
việt đây. Bấy giờ có người nước Ba la Nại lùa
bầy ngựa cho đi ăn đến thành Tỳ La Nhiên thấy
Phật và chúng Tăng vì chịu hứa cấm túc mà phải
bị khổn, động lòng cảm thiết, phát tâm thảo luận
với chúng Tăng rằng: "Không dám nào! Tôi chỉ có
chở theo mấy xe lúa để nuôi ngựa đây, tính muốn
bớt ra một mớ, làm gạo cơm bánh để cúng Phật hộ
Tăng trong vài tháng này, không biết Phật có thụ
dụng chăng?" Chúng Tăng vào bạch... Phật dạy
rằng: "Phải tùy nghiệp thụ dụng chớ sao!" v.v...
Còn 7 ngày nữa các nhà hào phú, cư sĩ xa gần
nghe biết, đem vật thực vào cúng dường. Đến ngày
giải cấm (giải chế) Phật bảo A Nan vào cáo vua,
mãn hạ, từ giã về Kỳ Hoàn. Trời Ma Vương thăng,
vua được tỉnh lại biết là bị Ma vương ám ảnh,
rất ân hận lạy Phật và
đại
chúng xin cho sám hối! Chứ sự quá si điên, đã dĩ
lỡ ra rồi, ăn năn không kịp! Phật khuyên nhủ
rằng: "Nhà vua chớ buồn! Vì đấy cũng là Ma
chướng quả báo mà chúng ta hết nợ với nhau rồi!"
Về đến chùa, kế thấy vua và các quan xe giá chở
tứ sự đến cúng dường, để xin hỏi qua về quả báo
vừa rồi. Phật bảo rằng: "Đời trước rất lâu xa,
có đức Phật Tỳ Diếp La ra đời. Trong thành Ma
Bạt, vua là Bàn Đầu mời Phật và chúng Tăng vào
nội cung cúng dường.
Bấy giờ có người bà
la môn tên Nhơn Đề Kỳ Lợi là một nhà
đại
triết học, thâu dạy được 500 đệ tử. Thấy vua
sùng bái cúng dường Phật, Tăng, sanh tâm tật đố
rằng: "Với bọn trọc đầu đó, có lúa ngựa mà cho
chúng nó ăn, chớ đồ ngon vật quí đâu mà cho
uổng!" Cả thầy trò cũng đồng ganh ghét chế nhạo
như thế... Phật kết luận: "Này đại chúng có biết
chăng? Người bà la môn ấy nay là Ta vậy. 500 đồ
đệ kia chính 500 La hán đây. Vì nhơn duyên đó,
ta cùng các ngươi phải chịu khổ tam đồ, nay dù
chứng quả như thế nầy hãy còn dư ương phải trả!"
Kinh Lăng Nghiêm
cuốn 6, Phật cũng nói: "Chính như Ta phải ăn lúa
ngựa để trả quả báo".
24. "Tháp không
chịu tiền của vua": Vua A Dục (Asoka) đi chiêm
lễ các ngôi tháp của chư La Hán. Khi đến lạy
tháp của ngài Bạt Câu La, vua đọc vài câu có ý
nhắc đời rằng: "Tuy tự luyện vô minh vu thế
thiểu lợi ích", lúc ngài còn ở đời dù chơn tu
bằng cách ở chỗ vắng vẻ để rèn dứt vô minh,
thành ra ít có lợi ích cho đời" và cúng 20 cái
bửu bối (tiền bạc bằng ốc xà cừ), nhưng rồi tiền
bửu bối ấy từ trong tháp bay ra theo dính nơi
chơn của vua. Các đại thần thấy thế cả kinh,
phục rằng: "Lúc tôn giả còn ở nhơn gian, ưa một
mình nơi vắng, thiểu dục tri túc nên nay ngôi
tháp của tôn giả, cũng vẫn còn không chịu dụng
tiền của thế gian". Thanh liêm đến nỗi!
25. "Voi mọc sáu
ngà": khi đức Văn Thù sanh, trong xứ hiện 10
điềm tốt: 1. Ánh sáng hực đầy buồng; 2. Sương
ngọt sa đầy sân; 3. Dưới đất nổi lên bảy báu; 4.
Thần tài mở kho đã giấu; 5. Gà nở con chim
phụng; 6. Heo đẻ con lợn rồng; 7. Ngựa sanh con
kỳ lân; 8. Bò đẻ con bạch trạch; 9. Kho lúa hóa
thóc vàng; 10. Voi mọc 6 ngà.
26. "Hội Long Hoa":
Đức Di Lặc Bồ Tát, hiện nay (1953) ở nội viện
trên cung trời thứ tư là trời Đâu Suất Đà; đương
thời ông Đinh Phước Bảo (trước đây 20 năm) tính
còn năm mươi sáu ức bảy ngàn muôn năm nữa là Di
Lặc ra đời. Kinh Di Lặc Hạ Sanh chép: "Đến vườn
Hoa Lâm, ngồi dưới cây Long Hoa bồ đề thành
Phật, mở pháp hội thuyết pháp độ sanh, nên gọi
là Long Hoa hội". Kinh Tăng Nhứt A Hàm cuốn 44
chép: "Cách thành Trĩ Đầu không xa mấy, có đạo
thụ gọi là cây Long Hoa, Bồ Tát ngồi đó thành
đạo quả vô thượng". Kinh Di Lặc Đại Thành Phật
chép: "Nguyên tên cây ấy là Bôn Na Già, nhánh nó
hình như con rồng, nở bông có nhiều tia báu quí
rất đẹp". Kinh Đại Nhựt cuốn 7 chép: "Bôn Na Già
là hoa cây rồng". Sách Pháp Uyển Châu Lâm chép:
"Hoa nhánh như hình đầu rồng nên gọi là Long Hoa
Bồ Đề thụ". Xin xem bài Long Hoa tam hội ở cuốn
trung sách Qui Nguyên Trực Chỉ mới rõ hơn...
27. "Đường tẻ mất
dê... bắn trúng chim hộc": Sách Liệt Tử biên
rằng: Có một người ở bên xóm thầy Dương Tử mất
dê, người ấy đã dẫn cả gia nhơn, lại còn mượn
thêm kẻ đồng tử của thầy Dương nữa để rượt theo
kiếm dê. Thầy Dương hỏi: "Chỉ mất có một con dê,
rượt theo chi đông lắm thế?" Người đáp: "E vì
nhiều đường tẻ như ngã ba, ngã tư chẳng hạn, nên
phải có đông người đặng chia ra để kiếm theo mỗi
con đường mới được". Mà rồi trở về chớ không tìm
thấy dê
đâu
cả bởi vì trong đường tẻ lại có nhiều đường tẻ
nũa, thành thử rốt rồi chả biết con dê nó ở chỗ
nào? Nên nói: Với cái đạo cả tỷ như nhiều ngả
mới mất dê, là
để
tỏ rằng kẻ học đạo bởi lòng ham học lấy nhiều
phương nên mất sống; kêu bằng: "Đa thư loạn tâm.
Nghĩa lộ thái đa, lý độ quá. Đa hư bất như thiểu
thiệt".
"Chim hộc" là cái
đích giữa tấm da để thi bắn. Bên Tàu xưa thuở
đời Đường, đời Ngu dùng vải hoặc da làm bia,
chính giữa vẽ con hộc, hoặc hình gấu, cọp, beo,
hươu, nai. Những khi chọn thi hoặc cùng tân
khách yến ẩm, dựng bức bia ấy lên, hễ ai bắn
trúng đích là
được
phần thắng nên gọi là "xạ hộc" (bắn tên da).
28. "Trao lại cho
Quán Âm Thế Chí": Kinh Bi Hoa chép lời Phật
Thích Ca thuyết pháp tiên tri rằng:
Đức Phật A Di Đà
trao lại cho ngài Quán Thế Âm lên làm Phật hiệu
là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai; sau rồi
đức Phật ấy trao lại cho ngài Đại Thế Chí lên
làm Phật hiệu là Thiện Trụ Công Đức Bửu Vương
Như Lai. Hỏi: Di Đà, Quan Âm, Thế Chí và Thanh
Tịnh Đại Hải chúng mà thường bữa tụng công phu
tới đó, quí thầy gọi là lạy tứ thánh hiệu; 3
hiệu trên đã hiểu rồi, còn hiệu sau đó chưa được
biết danh tích là chi và có trao tiếp làm Phật
sau đức Thế Chí không?
Đáp: Không, vì là
một hiệu (chung tất cả), chứ phi là hiệu riêng
như Quán Âm, Thế Chí. Bởi rằng: Thanh Tịnh tức
là Tịnh Độ; Đại Hải chúng: cả biển chúng, nghĩa
hơn cả biển người. Vậy biết: "Nam mô Thanh Tịnh
Đại Hải chúng Bồ Tát" nghĩa là: kính lạy cả biển
chúng Bồ Tát trong cõi nước Thanh Tịnh. Vì Tịnh
Độ là gọi tắt câu "thanh Tịnh trang nghiêm quốc
độ".
29. "Ca chiên lân đ
à":
Sách Pháp Uyển Châu Lâm chép rằng: "Chim Ca
Chiên Lân Đà, sanh trưởng ở cù lao biển; ôm đụng
đến, thân tâm sướng lạ hơn cái sướng của trời
Lục Dục". Kinh Chánh Pháp Niệm chép: "Ca Chiên
Lân Đà dịch Khả Ái điểu (chim khá yêu), sanh ở
trong bể, chạm đến rất vui sướng. Tại thế giới
này, đến thời kiếp tăng, mỗi người đều sống đủ 8
vạn 4 ngàn tuổi, có Chuyển Luân Vương ra đời,
tức có thứ chim ấy cũng sanh ra vì là vật quí
báu trong thất bửu, mà do nơi hạnh phúc của Luân
Vương mới xuất hiện. Chim ấy hình như chim oan
ương, cũng loài thủy điểu. Tuy vậy nhưng mà
không bằng đụng thứ cỏ công đức bên cõi tịnh độ,
sự vui sướng bội thắng hơn.
30. "Tình lự": Tình
là tình cảm, Lự là tư lự, là tất cả những hỉ,
nộ, ái, ố... tư duy vọng tưởng mà trong kinh
sách Phật gọi là kiến hoặc, tư hoặc, cả 8 vạn 4
nghìn phiền não chướng. Nước ở thế giới Ta Bà,
người ta tắm chỉ sạch được cái bụi phiền não
ngoài thân nhưng chỉ được một chập lát mà thôi
vì là uế độ. Nước bên cõi Thanh Tịnh hễ tắm rồi
là sạch luôn bụi phiền não trong tâm nữa là khác
nên gọi "tâm tịnh, độ tịnh", vì là tịnh độ, cả y
báo, chánh báo đều thanh tịnh trang nghiêm.
31. "Miệng ra mùi
thơm của sen": Truyện chép: "Ông Âu Dương Vĩnh
Thúc ra làm quan Tri Châu tại đất Dĩnh. Ở đó có
một quan ủy (nghĩa là
đĩ
nhà quan) vì chỉ có quan lớn nhứt trong châu mới
được, bởi nàng có sắc hơn hết, lại miệng và mồ
hôi đều phưởng phất tươm ra hơi liên hương. Có
nhà Tăng biết túc mạng của nàng: Kiếp trước cũng
làm thân phụ nữ, thường tụng kinh Pháp Hoa suốt
30 năm. Giờ rảnh lại thường ngâm luôn mấy câu:
"thanh liên hoa hương"... Nhưng ngài Tri Châu
cũng chưa chịu tin; nhà Tăng thí nghiệm cho biết
rằng cách đọc trước vài câu thì nàng ấy tiếp ứng
khẩu đọc luôn trọn bộ bằng cách thuộc lòng; còn
đọc kinh khác thì nàng chả biết một chữ nào ráo.
Chừng đó quan Tri Châu mới tin chắc rồi hỏi
rằng: "Kiếp trước đã tu trì đến bực đó, sao đã
chẳng siêu lại đọa như vậy?" Bởi một niệm sai
lầm, nên đến nông nỗi!
32. "Tu phước đời
là nhơn hữu lậu": Lương Vũ Đế hỏi đức Sơ Tổ
rằng: "Quả nhơn dựng chùa, lên cốt Phật, tu đủ
việc phước thiện, sẽ được bao công đức?" Sơ Tổ
đáp rằng: "Hẳn không công đức". "Vì sao không
công đức?" "Nó chỉ là cái quả phúc nhỏ của trời
và phú quới của nhơn gian, vì là cái nhơn hữu
lậu như bóng theo hình, dù có nhưng không thật".
"Thế nào là công đức chơn thật?" "Dẹp hết vọng
tâm, lòng không chấp trước, thí tài, thí pháp,
phước huệ đều tu, người tức là ta, không phân bỉ
thử, không nghĩ như trồng cây mong sau ăn trái,
tâm cảnh như thế, mới là công đức".
Vũ Đế hiểu được
khen phải và than: "Với việc làm mà tâm được như
thế, thật là khó làm. Nhưng nếu không làm, cũng
chưa phải là người biết học Phật!"