TRANG KINH ĐIỂN GIẢNG GIẢI

Tổng hợp các bài giảng
về Kinh - Luật - Luận

 NI GIỚI KHẤT SĨ

Huyền diệu trên đời Pháp rộng sâu, Trăm ngàn muôn kiếp dễ chi cầu. Nay con nghe thấy chuyên trì tụng, Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
 

 

 A DI ĐÀ KINH SỚ SAO
Liên Trì Đại Sư soạn
Việt dịch:
Hòa Thượng Hành Trụ
-o0o-
VŨ HOA
(phân ra làm ba phần)

1. Thiên vũ điệu hoa (Trời rải bốn thứ hoa quí)
2. Trì dĩ cúng Phật (chúng đem hoa cúng Phật)
3. Cúng dĩ tự thích (cúng rồi tự vui sướng)
 

      Thiên Vũ Điệu Hoa

      Ngày đêm sáu thời trời rải hoa Đà-La.

      Sớ: Nói trên quả đất vàng ròng đây thường rải hoa tốt đẹp vậy. Cõi kia không núi Tu Di và mặt nhựt, mặt nguyệt mà nói sáu thời là lấy hoa nở chim kêu làm chừng vậy.

      Hội niệm Phật ở non Lô Sơn dùng cái đồng hồ hình hoa sen là phỏng theo ý kinh này.

      Sao: Cõi này mặt nhựt, mặt nguyệt xoay vòng quanh núi Tu Di mà phân ra ngày đêm. Như vị trí Châu Thiệm Bộ chính ngay phía Nam núi Tu Di, ban ngày, lúc hừng sáng là mặt nhựt đi đã đến phân nửa Đông Châu; kế nó vòng qua Nam Châu. Lúc cuối ngày là mặt nhựt đi đã đến phân nửa Tây châu. Ban đêm, lúc đầu hôm là mặt nhựt nó đi đã đến phân nửa Tây châu; kế nó vòng qua Bắc châu; lúc cuối đêm là mặt nhựt đi đã đến phân nửa Đông châu. Mặt nhựt đi giáp một vòng như thế là phối với 12 giờ, 6 giờ ban ngày, 6 giờ ban đêm là một ngày vậy. Nước kia đã không núi Tu Di, lại không mặt nhựt, mặt nguyệt, sáng mãi không tối, ngày đêm không phân biệt, chỉ lấy hoa nở, chim kêu làm ngày; hoa xếp, chim đậu (nghỉ) làm đêm vậy. Song với mặt nhựt, mặt nguyệt có hay không? Thì các bản dịch nói chẳng đồng, như bản dịch đời nhà Hán nói: "Mặt nhựt mặt nguyệt ở giữa hư-không". Bản dịch nhà Ngô cũng như nhà Hán. Nhưng ngài Vương Nhựt Hưu lại nói: "Ở giữa hư không mà không vận chuyển". Bản dịch nhà Tào Ngụy chẳng nói có hay là không. Còn bản dịch nhà Đường và nhà Tống quyết định rằng không có. Nếu hòa hợp lại để nói thì là mặt nhựt, mặt nguyệt tuy có, nhưng do vì hào quang của Phật và thánh chúng che lấp ánh sáng thì dù có cũng như không vậy. Song mà xét cho tột lý, không có là phải hơn. Vì sao? Từ cõi trời Đao Lợi sắp lên, còn không cần ánh sáng của mặt nhựt, mặt nguyệt, huống chi nước Cực Lạc? Hay là bản dịch đời nhà Hán, trên hai chữ "nhựt nguyệt" thiếu hai chữ "không có" cũng chưa biết được?! Vậy nhờ bậc cao minh giải rõ cho!

      "Đồng hồ hình hoa sen" là: Tổ Huệ Viễn lập hội nhóm chúng niệm Phật tại non Khuôn Lô, chạm cây làm hình hoa sen đủ 12 cánh, dẫn giọt nước chảy vô ao hồ, chia phiên niệm Phật. Mỗi một giờ là nước ngập một cánh; ngày đêm 6 thời, thiền tụng không trễ. Các bậc hội viên tu niệm Phật được vãng sanh rất nhiều. Người đời nay phân thời tu Tịnh nghiệp là gốc của tổ Huệ Viễn căn cứ nơi kinh này.

      Sớ: "Mạn Đà La" là tên hoa trên trời, đây dịch là Thích Ý, lại dịch Bạch Hoa. Trời rải hoa là khen ngợi đạo đức như sự tích ông Không Sanh (Tu Bồ Đề) và trời Đế Thích.

      Sao: "Bạch hoa" là gì? Hoa trời nhiều thứ, như Mạn Thù Sa là thứ hoa đỏ; nay chỉ nói có một thứ hoa trắng là bớt văn cho gọn. Cũng có thể nói phương Tây thuộc Kim, lấy nghĩa là nghiệp trắng sạch.

      "Thích ý" là gì? Hoa trời xinh tốt, làm vui đẹp ý người vậy.

      Kinh Đại Bổn nói: "Tất cả chư thiên đều đem trăm nghìn hoa thơm trên cõi trời, đến cúng dường đức Phật kia, các vị Bồ Tát, cùng chúng Thinh Văn".

      "Khâm khen" là gì? Người đời làm lành, các vị trời hoan hỷ, huống chi nước kia đức Như Lai, các vị Bồ Tát và Hiền Thánh toàn là bậc Thượng Thiện cùng nhau nhóm hợp nên trời, thần khen ngợi rải hoa, lẽ cố nhiên, phải vậy. "Như ông Không Sanh (Tu Bồ Đề) và trời Đế Thích": ông Không Sanh (Tu Bồ Đề) yên ngồI, trời Đế Thích rải hoa. Ông Tu Bồ Đề hỏi: "Ai ở trên không rải hoa đó?" Đáp: "Tôi là Thiên Đế. Do vì tôn giả nói pháp Bát Nhã rất hay!"

      Xem đây nên biết, những người vãng sanh về Tịnh Độ là bực đều đặng nhứt tâm bất loạn thời các vọng niệm chẳng sanh, muôn pháp vắng lặng, tức là khéo nói pháp Bát Nhã, cảm động đến các trời, còn nghi chi nữa?

      Sớ: Lại hoa có hai thứ: 1) Hoa trời, 2) Hoa cây. Nay chỉ nói hoa trờI là vì hoa trời gồm cả hoa cây vậy.

      Sao: "Hoa trời" là từ trên trời rải xuống, nghĩa như văn trước đã giải.

      "Hoa cây": Kinh Đại Bổn nói: "Bốn phương tự nhiên nổi gió, reo ra năm trăm thứ tiếng thổi các hoa cây. Hoa tiết ra mùi hương lạ theo gió bay khắp bốn phương, bay đến chỗ các vị Bồ Tát, Thinh Văn đại chúng. Hoa rơi xuống đất, chứa dày bốn tấc, sáng ngời chói mắt, thơm tho không chi bằng. Đến lúc hoa hơi héo, tự nhiên gió thổi cuốn đi". Thế thì cõi kia cũng có rải hoa cây, cho nên nói "hoa trời đã gồm có hoa cây" là thế.

      Sớ: Xứng lý thời tự tánh mở tỏ nghĩa là hoa đẹp.

      Sao: Tự tánh còn mê như hoa còn búp; tự tánh thoạt ngộ, như hoa nở xòe. Lại màu sắc rực rỡ, không vẽ mà thành, mùi thơm bát ngát, chẳng đi mà đến. Hoa rải tự nơi không, chẳng trồng mà mọc, chẳng hái mà tự nhiên rơi xuống. Tự tánh thần linh thông đạt cũng lại như thế!

      Trì Dĩ Cúng Phật

      Chúng sanh cõi kia thường mỗi bữa sáng sớm, mỗi người lấy cái y kích, hứng đựng các thứ hoa đem đi cúng dường 10 muôn ức Phật ở phương khác. Ngay trong giờ ăn sớm, về đến nước mình.

      Sớ: Văn đây nói trời rải hoa, chúng sanh lấy đi cúng Phật. "Chúng sanh" là chừa Phật ra, còn thì đều là chúng sanh. "Sáng sớm" là một trong sáu giờ vậy. "Y kích" là cái đựng hoa. Cúng Phật rồi trở về nước còn trong thời ăn sớm là vì bay đi bằng phép thần túc thông vậy.

      Sao: "Chừa Phật ra" là duy có một mình Phật, riêng xưng là bậc Đại Giác, còn từ bực Bồ Tát sắp xuống, nhẫn đến kẻ sơ tâm phàm phu vãng sanh về nước kia đều kêu là "chúng sanh", với Phật tương đối.

      "Một trong sáu thời" là sáng sớm là thời trước nhứt trong một ngày. Lấy buổi sáng sớm đi cúng Phật là để tỏ lòng chí kỉnh vậy.

      Lại lúc sáng là lúc khí đêm còn thảnh mảnh (tươi vui). Sáng sớm cúng Phật là dùng tâm còn trong sạch vậy.

      Chúng sanh nước kia, tuy ngày đêm nhứt tâm (bất loạn) vốn không thanh trược; nhưng người chưa chứng lên bực Phật còn có chút vô minh, chạm việc gặp duyên, chi cho khỏi xúc động; cũng lấy lúc vừa rạng sáng, gọi là tâm thảnh mảnh. Cũng có thể là tùy thuận phương này mà tạm nói là sáng sớm vậy.

      "Thường" là gì? Vì mỗI bữa vẫn thường như vậy, vì không nhàm mỏi.

      "Mỗi người" là vì mỗi người đều như thế, vì không ai siêng năng, không ai lười biếng. "Đồ đựng hoa": Ngài Chơn Đế nói: "Y kích là cái đồ đựng hoa của người ngoại quốc; hoặc nói cái y khâm (giỏ lam), cũng như lấy vạt áo đựng hoa". Nói "phương khác" là từ nước mình đến phương khác; đây không nói nước mình là bớt văn. "Mười muôn ức đức Phật": Mỗi một đức Phật là một cõi Đại Thiên, 10 muôn ức là nói chỗ rộng xa vậy.

      "Thời ăn" là bữa ăn sớm mai; sáng sớm đến bữa ăn buổi mai là thời rất ít. Lấy thời rất ít cúng Phật rất nhiều là nói sự đi rất chóng vậy.

      Như Kinh Đại Bổn nói: "Các vị Bồ Tát nương oai thần của Phật chừng trong một bữa ăn khắp đến 10 phương vô lượng thế giới cúng dường các vị Phật. Đồ hoa hương, kỹ nhạc, y phục bảo cái, tràng phan, vô số đồ cúng. Hoặc muốn dưng hoa thời ở giữa hư không hóa thành cái bửu cái bằng hoa. Khắp 40 dặm nhẫn đến sáu trăm, tám trăm dặm, đều y theo ý muốn lớn nhỏ, đứng dừng giữa hư không. Cái thế nó đều xủ xuống, dùng thành pháp cúng dường. Lại dùng tiếng rất hay để khen ngợi đức Phật, nghe lãnh kinh pháp. Đã cúng dường xong, thoạt nhiên bay bổng, về đến nước mình còn chưa đến giờ ăn sớm.

      Cứ đây, thời có đủ thứ những đồ cúng dường, lại hóa tràng hoa thành những tán cái và cúng rồi nghe pháp nữa.

      Văn đây chỉ nói dùng hoa cúng dường đều là bớt văn vậy.

      Thế nào là thần túc? Như kinh Đại Bổn, ngài Pháp Tạng nguyện rằng: "Khi ta thành Phật, người trong cõi của ta đều đặng pháp Thần Túc Thông, trong một phút trải qua trăm nghìn vạn ức số na do tha thế giới".

      Lại nguyện rằng: "Liền đặng pháp túc mạng thông". Lại nguyện rằng thiên nhãn thông. Lại nguyện rằng thiên nhĩ thông. Lại nguyện rằng tha tâm thông.

      Thế thì biết, người sanh nước kia, sáu phép thần thông tự tại không những bay đi mà thôi; nhưng đây không nói cũng là bớt văn vậy.

      Sớ: Xét pháp thần túc thông đây, các vị Bồ Tát về bực Thập Trụ, Thập Hạnh mới có như trong kinh Hoa Nghiêm nói.

      Sao: Kinh Hoa Nghiêm nói: "Bực Bát Trụ Bồ Tát trong một giây phút dạo đi giáp vô số thế giới".

      Lại trong kinh Thập Hạnh, lời tụng nói: "Cõi Phật vô biên không có số đếm, vô lượng chư Phật ở trong đó. Các vị Bồ Tát ở trong đó thân cận cúng dường sanh tâm tôn trọng". Thế thời với pháp thần túc nay đây hàng Tiểu Thừa đâu dễ kịp ư?

      Hỏi: Thế thời ba món ý sanh thân sẽ thuộc về bực nào?

      Đáp: Kinh Lăng Già nói ba món chia ra thuộc Thinh Văn, Bồ Tát và bực Đại Thánh (4).

      Thời biết người sanh về nước kia, tùy chỗ tu của mình đều có chỗ sở chứng, lệ như trong văn cửu phẩm.

      Sớ: Xứng lý thời tự tánh tự trang nghiêm là nghĩa "đựng hoa cúng dường". Tự tánh tự biến khắp là nghĩa "mười muôn ức cõi Phật". Tự tánh tự lặng không là nghĩa "thời ăn về kịp". Tự tánh tự trụ là nghĩa "nước mình".

      Sao: "Tự trang nghiêm" là tâm vốn đủ trùm muôn đức; trở lại dùng muôn đức để nghiêm tâm. Đức mà không khoe chỗ đức, nghiêm mà không trụ chỗ nghiêm, đó mới chính là chơn thật cúng dường.

      Kinh Tư Ích nói: "Người mà hay cúng dường cho Phật thời người ấy thông đạt lý vô sanh".

      Kinh Bảo Võ nói: "Kẻ nào tư duy đúng như lý, tức là cúng dường đức Như Lai đó vậy". "Tự biến khắp" là do tự tâm khắp tất cả xứ, tức là đều dâng thờ mỗi vị Phật, không bỏ luống qua vậy.

      Cho nên kinh Duy Ma nói: "Đồng thời cúng dường, không trước, không sau". "Tự lặng không" là : Tâm thể vốn vắng không, không thì không tới, không lui. Cho nên chỉ thời ăn về kịp, chỉ đối với sự vất vả lặn lội ở phương này mà thôi. Thật ra thời không vượt ra ngoài sát na (một niệm) đã trở về nước rồi.

      "Tự trụ" là nguồn tâm vắng lặng, thường trụ không dời đổi; đó là cái chỗ: quê xứ ruộng đất để an thân lập mạng của mỗi người.

      Kinh Kim Cang nói: "Huờn chí bổn xứ" tức như kinh này nói: "Huờn đáo bổn quốc". Đấy mới đáng gọi là vụ bổn, gọi bằng quân tử vụ bổn; người quân tử chuyên về việc gốc là bổn phận.

      Cúng Dĩ Tự Thích

      Ăn cơm rồi đi kinh hành.

      Sớ: Nương văn trên nói giờ ăn, cho nên kế đây nói việc ăn. "Đi kinh hành" là nghĩa xoay vòng không dứt. Về rồi ăn, ăn rồi đi là cái dáng thảnh thơi, tự thích vậy.

      Sao: "Ăn cơm" là gì? Kinh Đại Bổn nói: những người được vãng sanh đến giờ ăn cơm, với các bình bằng bạc, bằng vàng, mỗi món bát báu tùy ý muốn thứ nào, tự nhiên nó hiện ra thứ nấy; trăm món ẩm thực dẫy đầy trong đó. Chua, mặn, ngọt, lạt, đều theo sở thích, không dư không thiếu, không vì sự ăn quá lượng. Ăn rồi tự tiêu, chứ không còn cặn phẩn. Hoặc người ăn bằng cách thấy sắc nghe hương, tưởng lấy làm cách ăn, tự nhiên no đủ, không đắm thèm chi, thân tâm nhẹ nhàng. Ăn xong rồi, các đồ nó tự biến hóa đi, đến giờ ăn nó lại tự hiện ra.

      "Xoay vòng" là như đường canh suốt đường chỉ, thoi dệt liên kết, qua lại không thôi vậy. "Ăn rồi lại đi" là: 1.- Do điều hòa thân thể, đừng để ngưng trệ. 2.- Điều hòa tâm trí, chớ cho buông lung. "Thảnh thơi" là ý nói rảo bước tự rỗi. Người đời ăn rồi, nếu không giong ruổi việc trần thời cũng mải mê giấc ngủ; còn ở nước kia, ăn rồi đi tản bộ bằng cách kinh hành, là với cái thể dạng giải thoát, cái trạng thái tiêu diêu, khá tưởng thấy vậy.

      Sớ: Chỉ nói ăn cơm, không nói đến áo mặc v.v... Chỉ nói đi kinh hành, không nói đến ngồi nằm v.v... cũng là bớt văn vậy.

      Sao: "Áo mặc" là kinh Đại Bổn, ngài Pháp Tạng nguyện rằng: "Khi ta thành Phật người trong cõi của ta, ý muốn có áo mặc thì nó tùy theo niệm liền đến, không cần cắt may, nhuộm đập giặt xả. Lại còn có vô lượng đồ y phục tốt đẹp như: mão, ngọc, vòng, xuyến, hoa tai, chuỗi anh lạc, tràng hoa dây chuyền, các ngọc báu rực rỡ, trăm nghìn sắc đẹp, tự nhiên hiện ở nơi mình".

      Lại nguyện rằng: "Còn có vô lượng như ý diệu hương, hương thoa, hương bột thơm tho bát ngát khắp cả nước Phật kia". Nên biết không nói áo mặc vì nói cơm ăn là gồm áo mặc và tất cả đồ nuôi sống.

      Không nói đến sự ngồi nằm đó, kinh giáo có chia ra bốn pháp tam muội: 1.-Thường hành Tam muội; 2.- Thường tọa Tam muội; 3.- Bán hành bán tọa Tam muội; 4.- Phi hành phi tọa Tam muội (5).

      Chính trong văn đây thời chỉ có pháp thứ nhứt, song trong hai bộ (Đại Bổn và kinh này) đều nói người vãng sanh ngồi trong hoa sen.

      Kinh Ban Châu Tam muội thời nói đứng, nên biết: vì nói pháp đi đã gồm pháp ngồi và luôn bốn oai nghi vậy.

      Sớ: Xứng lý thời tự tánh thường định là nghĩa ăn cơm. Tự tánh thường huệ là nghĩa đi kinh hành.

      Sao: Lấy thiền duyệt làm món ăn cho nên thiền định có nghĩa ăn. Trí hay vận chuyển cho nên huệ có nghĩa đi, như trong Luận lời tụng nói: "Yêu thích mùi pháp của Phật, lấy pháp thiền tam muội làm món ăn". Lại Luận Phật Địa nói: "Trong cõi tịnh độ, chư Phật, Bồ Tát hay giảng thuyết, hay thọ dụng pháp vị Đại Thừa". Lại nữa, để trì thân chánh báo thọ dụng mùi vị chơn như, hay giữ gìn giới thân huệ mạng khiến không đoạn hoại và nuôi lớn muôn pháp lành nên có nghĩa gọi là ăn.

      Lại Kinh A Hàm, luận Duy Thức v.v... đều nói năm món ăn ra khỏi đời: 1.- Thiền duyệt; 2.- Nguyện; 3.- Niệm; 4.- Giải thoát; 5.- Pháp hỷ. Nghĩa là do pháp thiền định nuôi dưỡng tinh thần, nhẹ nhàng vui đẹp, đó tức là nghĩa ăn. Sức nguyện giữ gìn chánh pháp thời pháp thân tăng trưởng, tức là nghĩa ăn. Sức niệm nhớ rõ thời Thánh Đạo hiện tiền, tức là nghĩa ăn. Giải thoát là hết chướng nghiệp, hẳn hòi được lợi ích, tức là nghĩa ăn. Món pháp hỷ là tu đắc pháp thì mừng trong tâm dẫy đầy nên no bằng rất vui mừng, tức là nghĩa ăn.

      Văn đây chỉ nói pháp thiền định là nói một gồm bốn vì trong pháp thiền định, không pháp nào mà chẳng thâu nhiếp. Kinh Duy Ma nói: "Người chưa phát ý Đại Thừa, ăn món cơm này, đến chừng phát ý Đại Thừa, mới tiêu; người đã phát ý đại thừa, đặng quả vô sanh nhẫn rồi mới tiêu. Người đặng vô sanh nhẫn, đến nhứt sanh bổ xứ mới tiêu".

      Kinh Hoa Nghiêm, văn Cụ Túc Ưu Bà Di nói: "Nếu các vị Bồ Tát nhứt sanh bổ xứ ăn cơm của ta, đều ở dưới cây Bồ Đề, thành bực chánh giác". Đều là lý tự tánh chơn như vô tận, mà làm món ăn vậy.

      "Đi kinh hành" là: Kinh Trì Thế nói: "Chỗ đi của Đức Như Lai là chỗ không đi. Chỗ không đi ấy là Chơn Huệ vậy".

      Cho nên biết, cầm thìa (muỗng), buông đũa, mỗi miếng không rơi; giở cẳng, động thân, mỗi bước đạp nhằm... Đâu đặng vùi đầu ăn cơm, luống qua một đời, ngắm nước xem non, uổng công muôn dặm.

 

Nguyện đem công đức lành, Hồi hướng cho tất cả. Chúng con với chúng sanh, Đều chứng thành Phật quả.

TRANG CHỦ     BAN THỰC HIỆN     LIÊN KẾT

Nguyện ai xem được trang này
Cây mầm tuệ giác đêm ngày phát sanh
     Pháp mầu nhuận thấm an lành
Đến bờ Bát Nhã tâm thanh nhẹ nhàng

 

Ban Chứng minh: NT. Tràng Liên, NT. Ngoạt Liên, NT Tân Liên

Ban Cố vấn: NT. Phục Liên, NT. Viên Liên, NT. Tố Liên
NT. Thẩm Liên, NT. Khiêm Liên, NS. Tín Liên, NS. Phụng Liên

Ban Chủ nhiệm: NS. Tuệ Liên, SC. Nghiêm Liên

 

Tịnh xá Ngọc Phương,
498/1 Lê Quang Định, P.1, Q. Gò Vấp, TP.HCM
 Bài vở, hình ảnh đóng góp, xin vui lòng gởi attachment
về Ban biên tập qua địa chỉ Email:
nigioikhatsi@gmail.com
Hoan nghênh mọi hình thức phổ biến trang này.