A
DI ĐÀ
KINH SỚ SAO
Liên Trì Đại Sư soạn
Việt dịch:
Hòa Thượng Hành Trụ
-o0o-
2.
TƯỜNG THÍCH
(Giải thích rõ 10 môn trên)
Trước từ Giáo khởi sở
nhơn đến 10 là Biệt giải văn nghĩa.
GIÁO KHỞI SỞ
NHƠN (phân ra làm hai phần)
1. Tổng: Giải rõ
phần chung.
2. Biệt: Giải rõ
phần riêng.
1. TỔNG
Chánh Văn:
Trước nói rõ phần Tổng là chỉ vì nhơn duyên của
một việc lớn mà
đức
Như Lai, Ngài phải xuất hiện ra thế giới này.
Giáo pháp của Ngài thuyết ra trong một đời, tóm
chỗ đại ý: chỉ vì muốn khai thị cái tri kiến của
Phật cho chúng sanh ngộ nhập. Nay kinh này cố ý
chỉ ngay cho chúng sanh: dùng tâm niệm Phật để
vào chỗ tri kiến của Phật.
Chú Giải:
"Đại sự nhân duyên" (52) là dẫn câu văn trong
kinh "Pháp Hoa". Kinh kia nói lý do đức Như Lai
ra đời, bổn ý Ngài muốn độ tất cả chúng sanh đều
được thành Phật. Vì bất đắc dĩ mà Ngài phải
quyền biến nói ba thừa, đến sau căn cơ của các
đệ tử thuần thục, Ngài mới hội ba thừa qui về
Nhứt Thật, mới vừa cái bổn ý của Ngài. Nên biết:
Từ nói kinh "Hoa Nghiêm" về sau, kinh "Pháp Hoa"
về trước, trong khoảng thời gian đó tuy Phật
thuyết có nhiều pháp môn cao, thấp, không đồng;
nhưng đâu chẳng phải vì một đại sự nhân duyên
đây. Trừ ngoài một đại sự ấy, lại không có một
đại sự thứ hai nữa.
Nay kinh này nói:
"Hễ nhứt tâm trì danh hiệu của Phật A Di Đà, tức
được bực bất thối chuyển". Đây là chỉ ngay tự
tâm của phàm phu rốt ráo được thành quả Phật.
Nếu tin chắc như thế, cần gì phải trải qua ba
thừa để học, lâu xa nhiều kiếp để tu, mà chỉ
không vượt ra ngoài một niệm, mau chứng quả Bồ
Đề, đâu không phải là
đại
sự hay sao?
2. BIỆT
Chánh Văn:
Biệt là chuyên theo kinh này cũng có mười nghĩa:
1. Vì lòng đại bi
thương xót chúng sanh, nên Phật nói kinh này để
làm cầu bến cho đời mạt pháp.
2. Vì trong vô
lượng pháp môn riêng rút ra một phương tiện tối
thắng này.
3. Vì chê khổ khen
vui để cho chúng phàm phu trong đường sanh tử
dấy lòng ưa cõi vui, nhàm cõi khổ.
4. Vì giáo hóa dẫn
dắt hàng nhị thừa chấp không chẳng tu Tịnh Độ.
5. Vì khuyên các
người mới phát tâm hành Bồ Tát Đạo, nên gắng tới
niệm Phật, để được gần gũi Như Lai.
6. Vì thâu nạp hết
căn lợi, độn thảy đều được độ thoát.
7. Vì hộ trì người
tu hành nhiều chướng nạn, để khỏi bị sa đọa.
8. Vì chính chỉ
ngay nơi cái tâm hữu niệm, đặng chứng vào cái lý
vô niệm.
9. Vì cách chỉ dạy
rất khéo là nhơn cầu vãng sanh mà thật ra là ngộ
quả "vô sanh".
10. Vì chỉ rõ đường
tắt tu hành, lại đường tắt trong đường tắt nữa.
Chú Giải:
Với lời giải thích sẽ thấy văn sau mà mỗi bài
nổi lên có lớp lang liên tiếp, dụ như sợi dây
chuyền tròng kế nhau luôn.
1. Bởi chúng sanh
mê
đắm,
Phật vì đó làm cầu bến.
2. Sở dĩ làm cầu
bến được là vì nhờ có phương tiện tối thắng.
3. Sao là phương
tiện tối thắng? Vì có cái tài độ chúng phàm phu.
4. Không những chỉ
độ chúng phàm phu mà cũng độ cả hàng nhị thừa
thánh nhơn nữa.
5. Chẳng những hàng
nhị thừa mà cũng độ cả đến Bồ Tát kia.
6. Đâu những riêng
độ trong loài người mà cũng phổ độ tất cả chúng
sanh ở các loài.
7. Chẳng những chỉ
độ chúng sanh lúc bình thường, cũng độ cả trong
khi bị chướng nạn.
8. Tuy rằng độ sanh
rộng lớn như thế, thật ra không ngoài một niệm
của chúng sanh đặng vào lý "Vô Niệm".
9. Đã nói hữu niệm
đặng lý "Vô Niệm" thì cũng ngay nơi vãng sanh
đặng chứng quả "Vô Sanh".
10. Vì gồm suốt
chín môn trước, để biết Pháp môn trì danh niệm
Phật đây là
đường
tắt (trì danh) trong đường tắt (các pháp niệm
Phật).
Lại do vì đường tắt
trong đường tắt đây, mới có thể làm cầu, bến cho
đời mạt pháp.
Thế là trước, sau
thứ lớp; đầu, cuối xoay vần, cho nên nói: "Cũng
như dây chuyền".
Chánh Văn:
Một: Vì lòng đại bi thương xót nên làm cầu, bến
cho chúng sanh đời Mạt Pháp là khi Phật thành
đạo đã đương thời ác trược, huống chi nhằm đời
Mạt Pháp, chính ở vào thời kỳ đấu tranh kiên cố,
lần hồi thảng mảng (mòn mỏi) sau lại càng sau,
đều nhờ thần lực kinh này cứu vớt chúng - sanh
sau đẻ muộn ở đời rốt, kiếp tàn; như vậy, đâu
chẳng phải là lòng từ bi cực điểm dự phòng để
pháp tế độ ư!
Chú Giải: Đã
đương thời ác trược là thế giới này, đến khi mà
con người ai cũng sống còn chỉ có hai vạn tuổi,
tức đã bắt đầu vào cái thời kiếp trược. Thuở đức
Thích Ca ra đời, người sống chỉ còn trăm tuổi,
đã là khá thương! Vì trải qua đời ác trược đã
lâu lắm!
"Chính vào thời kỳ
đấu tranh" là: Năm trăm năm trước nhứt, về thời
kỳ giải thoát kiên cố; dần dần mỗi số; năm trăm
năm thứ nhì là thời kỳ tu Thiền định; 500 năm
thứ ba, người thông thái học đạo; 500 thứ tư,
dựng lập chùa tháp. Nay chính đương thời kỳ thứ
năm là
đấu
tranh kiên cố (53) lại là
đáng
thương!
"Sau lại càng sau"
là nhẫn đến khi mà thời kỳ pháp diệt hết, lại
càng đáng thương hơn nữa. Thế nên Phật nói kinh
này, lược kể lòng đại bi có ba điều cảm khái chí
mật thiết:
1. Thưở Phật còn
tại thế, vì rất thương chúng sanh trong số kiếp
ngũ trược ác thế này, nên Ngài nói pháp trì danh
niệm Phật là pháp mà chúng sanh lấy làm khó tin,
đây là lòng đại bi thương xót chúng sanh lần thứ
nhứt.
2. Sau khi Phật
diệt độ về sau, kẻ tu hành phần đông là hạng
phước huệ càng ngày càng kém, tội chướng mỗi bữa
một thêm nhiều, làm gì mong thấy được Phật, nên
Phật nói kinh này là
để
chúng sanh đời sau tuy không được thấy Phật và
Phật đã diệt, nhưng pháp trì danh niệm Phật vẫn
còn; hễ ai có lòng tín niệm, thì chóng khỏi
đường sanh tử, được vãng sanh thấy Phật Di Đà.
Đây là lòng đại bi thương xót chúng sanh lần thứ
hai.
3. Như trong kinh
Đại Bổn nói: Sau Phật diệt độ khoảng lâu xa đến
cuối đời mạt pháp, các bổn kinh to dài dòng, và
đạo
pháp khó tu, đều lần hồi tiêu diệt hết, vì chúng
sanh không đủ sức để học tu kinh pháp ấy! Chỉ
riêng còn một bổn kinh này ở đời độ sanh, đến
rốt sau mới diệt. Thế thì đủ biết: lúc nước ngập
nhẫy trời, còn có thuyền từ cứu vớt, đ
êm
khuya tăm tối hãy còn đuốc huệ sáng soi. Đây là
lòng đại bi thương xót chúng sanh lần thứ ba
vậy.
Ví như đấng cha
lành lo nghĩ cho đoàn con dại, vì lòng thương vô
hạn, dành để lại nghề nuôi sống, có thể với chắt
chít sâu xa, dòng dõi thừa sót, đến nỗi gia sản
điêu tàn, thân hình bần khổ cũng còn chỗ nhờ
cậy. Nên nói lòng từ bi rất tột, phòng để pháp
tế độ chúng sanh.
Chánh Văn:
Hai: Đặc biệt là với vô lượng pháp môn đưa ra
một môn phương tiện tối thắng.
Vào đạo có nhiều
môn vốn không lựa chọn, nhưng với chỗ đ
èo
cao, đồng bằng, đường cong, nẻo thẳng thì khó,
dễ tự phân, nên ở trong vô lượng pháp môn, chỉ
có một môn niệm Phật là phương tiện tối thắng,
lược kể có bốn:
1. Phương tiện thứ
nhất: Với kiếp không gặp Phật ra đời, song mà
thường được thấy Phật.
2. Phương tiện thứ
hai: Dầu chưa đoạn hoặc nghiệp cũng được thoát
kiếp luân hồi.
3. Phương tiện thứ
ba: Không nhọc công tu các hạnh khác mà
đặng
chứng pháp ba la mật.
4. Phương tiện thứ
tư: Không phải trải qua nhiều kiếp mà chóng được
giải thoát.
Chú Giải:
Pháp môn là cái thể của đạo, nó kín nhiệm thậm
thâm, phải từ cửa mới bước vào được. Mà lập pháp
môn không đồng vì mỗi căn cơ khác nhau nên nói
vô lượng; khéo léo dắt dẫn khiến được nhập môn,
gọi là phương tiện. Mà nói chữ "Thắng" là phương
tiện trong phương tiện. Tức trong "Quán kinh"
chỗ nói rằng khác đó là
đây.
"Nhiều môn" là: Có
người hỏi rằng: Với những pháp môn khác đều có
thể vào đạo được, hà tất riêng tu môn niệm Phật
mới được vãng sanh?
Đáp: Các môn tuy
nhiều nhưng có khó và dễ khác nhau, thế nên
không ngại chi với cái không lựa chọn mà có thể
nói lựa chọn.
Hiểm đường đ
èo
ải gập ghềnh khó đi. Khúc đường quanh quẹo khó
đến là dụ các pháp môn kia. Bằng thẳng thì dễ
đi, là dụ như pháp môn niệm Phật, ai cũng có thể
tu hành được. "Thẳng mau thì dễ đến" là dụ tu
pháp môn niệm Phật mau vượt khỏi đường sanh tử.
Như bà Vi Đề Hi xem khắp cả các cõi Phật trong
mười phương mà chỉ muốn nguyện sanh về thế giới
Cực Lạc Phật A Di Đà.
Thường được thấy
Phật là trong "Khởi Tín Luận" đã chỉ rõ pháp
"Chơn Như Tam Muội" (54) và hai môn Chỉ (55),
Quán rồi. Lại nói có người mới học pháp quán
nầy, tâm còn hèn nhát, cho rằng cõi Ta Bà không
được thường gặp Phật. Sợ tín tâm không vững; đức
Như Lai có phương tiện rất hay để nhiếp hộ tín
tâm kia, bảo họ chuyên lòng niệm Phật liền đặng
sanh về cõi Phật, thường được thấy Phật. Như
trong tạng Kinh nói: "Chuyên niệm đức Phật A Di
Đà ở thế giới Cực Lạc Tây Phương, sẽ được vãng
sanh không hề lui sụt", còn kinh A Di Đà
đây
nói: "Bảy ngày nhứt tâm chắc được Phật hiện
trước mặt".
Cho nên biết rằng
trên hội Linh Sơn, Phật Thích Ca đã nhập diệt,
còn hội Long Hoa thì đức Di Lặc (56) chưa ra
đời. Trong kỳ khoảng giữa không có Phật ra đời
mà vẫn được thấy Phật, đây là pháp phương tiện
tối thắng thứ nhất.
Được ra khỏi luân
hồi là: do nơi vọng hoặc sanh hành nghiệp (57),
có nghiệp cảm thụ quả báo, rồi phải trôi lăn qua
lại trong sáu đường để chịu khổ mãi không thôi.
Y theo pháp khác tu hành, đến chứng vọng hoặc
hết, mới được thoát ly luân hồi. Nhưng mà trong
thời kỳ tu tập đó, với những nỗi đầu thai chuyển
kiếp giữa thế gian cũng chưa chắc giữ cho được
khỏi cái khổ thăng trầm. Duy có pháp môn niệm
Phật đây, dầu còn mang nghiệp cũng được vãng
sanh. Vì: một là do sức niệm Phật của mình, hai
là nhờ thần lực cao cả của Phật bảo đảm, nhiếp
thọ. Một phen mà
được
sanh về nước kia liền vượt ra khỏi ngoài ba cõi,
không còn bị luân hồi trong sáu thú. Nên kinh
nói: Chúng sanh niệm Phật, được sanh về đó rồi
đều chứng lên bực Bất Thối Chuyển. Đây là pháp
phương tiện tối thắng thứ hai.
Đặng pháp Ba La Mật
là các vị phát tâm hành Bồ Tát đạo, có vị đã
trải qua trong hằng hà sa kiếp để tu pháp lục
độ, vạn hạnh mà cũng chưa hoàn toàn công hạnh
được! Thế mà nay đây chỉ có nhứt tâm niệm Phật:
muôn việc trần tự nhiên dứt bỏ, tức là pháp "Bố
Thí Ba La Mật". Nhứt tâm niệm Phật, các việc ác
tự dứt, tức là "Trì Giới Ba La Mật". Nhứt tâm
niệm Phật, lòng được nhu hòa mát dịu, tức là
"Nhẫn Nhục Ba La Mật". Nhứt tâm niệm Phật, vĩnh
viễn không bị thối lui, đọa lạc, tức là "Tinh
Tấn Ba La Mật". Nhứt tâm niệm Phật, không sanh
các vọng tưởng, tức là "Thiền Định Ba La Mật".
Nhứt tâm niệm Phật, chánh niệm rõ ràng, tức là
"Bát Nhã Ba La Mật". Suy xét cho cùng tột thì
không ra ngoài nhứt tâm niệm Phật mà muôn hạnh
được đầy đủ cả. Như trong kinh Đại Bổn, ngài
Pháp Tạng có phát nguyện rằng: "Khi ta thành
Phật, chúng hữu tình trong nước ta, nếu không
được thần thông tự tại ba la mật thì ta không
lãnh lấy ngôi chánh giác làm chi". Đây là phương
tiện tối thắng thứ ba.
"Chóng đặng giải
thoát" là: Trong bộ "Trí Độ Luận" nói: Có các vị
Bồ Tát tự nhớ mình thuở trước chê bai pháp Đại
Bát Nhã nên đọa trong ba đường dữ, rồi ra đi tu,
đã trải qua nhiều kiếp. Tuy hành các hạnh khác,
nhưng không diệt được tội, sau gặp bạn tri thức
dạy niệm danh hiệu Phật A Di Đà mới tiêu được
tội chướng siêu sanh Tịnh Độ. Lại trong kinh
"Thập Trụ", đoạn kết có nói: Khi ấy trong pháp
hội có bốn ức chúng Bồ Tát, tự biết mình lắm đời
về trước đã chết đây lại sanh kia, liên miên
không dứt, là bởi nguồn gốc do lòng tham muốn;
nghĩ thế chán ngán, rồi muốn sanh về cõi nước
nào không còn lòng ham muốn. Phật bảo: "Bên Tây
phương cách đây vô số quốc độ có đức Phật hiệu
là Vô Lượng Thọ, dân chúng trong cõi kia rất
thanh tịnh, không có lòng: dâm, giận, và ngu si,
vì hóa sanh bằng hoa sen, chớ không do cha mẹ
sanh đẻ như cõi này. Các ngươi hãy cầu sanh về
cõi kia". Thế nên trong kinh "Đại Bổn" nói: "Bồ
Tát muốn làm cho chúng sanh kíp mau an trụ trong
đạo quả Vô Thượng Bồ Đề đây thì cần phải phát
triển cái nghị lực tinh tấn, để nghe tu theo
pháp môn này".
Nên biết rằng: Tu
các pháp khác ví như con kiến bò lên núi; tu môn
niệm Phật này cũng như thuyền đi thuận nước,
xuôi gió (58); thế sự mau, chậm cách nhau như
trời với vực. Bực cổ đức có nói: "Muốn tu chỉ
một đời được chứng quả thì phải để tâm nơi pháp
này". Đây là phương tiện tối thắng thứ tư.
Chánh Văn:
Ba: Vì chê khổ khen vui để cho chúng phàm phu
trong đường sanh tử, sanh lòng ưa cõi vui nhàm
cõi khổ.
Bởi các chúng sanh
mê quên tự tánh, cam chịu luân hồi, đã từ nhiều
kiếp đến nay mà cũng chưa tỉnh ngộ nên đức Phật
mới chỉ bày hai cõi "Khổ", "Vui", mở lập hai môn
"Chiết" và "Nhiếp", chê khổ khen vui, khiến cho
ưa vui, nhàm khổ, tâm Bồ Đề đã phát, tịnh nghiệp
mới thành.
Chú Giải:
Nếu cứ theo pháp môn bình đẳng mà luận thì có
chi là sạch, có chi nhơ mà hòng ưa, nhàm. Thế
làm gì có lập ra hai môn "Chiết" và "Nhiếp"?
Nhưng, nay với chúng phàm phu còn ở trong sanh
tử, mê mất chơn tâm rượt theo cảnh trần, trải
lâu chịu đủ cách luân hồi, quay cuồng mãi không
biết bao lần lên xuống, đ
ành
lòng cam chịu, chưa từng có một niệm giác ngộ
tấn tu để cầu nguyện giải thoát. Nếu nay đã ngăn
không giúp họ sự ưa vui, nhàm khổ mà lại muốn
cho họ giác ngộ ngay nơi tự tâm thì có khác nào
ếch ruộng, cá giếng (59), đã không cho thêm nước
mà lại trách nó sao chẳng trồi lên… thì càng
thêm chìm đắm, đối với sự trách có ích gì? Vì
thế, nên chính trong cái lẽ không khổ, không vui
mà
đức
Phật chỉ rõ ra có cảnh khổ cõi vui, dùng pháp
"chiết phục" để diệt trừ mọi nỗi khổ, bày môn
"nhiếp thọ" làm cho được an vui. "Chiết phục" là
khuyến khích chúng si mê, làm cho họ sanh nhàm
lìa; "nhiếp thọ" thì nưng dỗ những chúng biếng
trễ khiến họ sanh lòng ưa muốn. Vậy sau những
chúng đã ở lâu trong cảnh khổ bùn sình (ngũ dục)
mới chê là cảnh nhơ nhớp, vừa nghe cõi Phật
thanh tịnh trang nghiêm mới phấn chấn cầu sanh.
Chừng đó mới biết rằng: Cõi nầy là
đống
lửa lớn, cõi kia là ao nước mát. Thì lẽ tất
nhiên là những chúng sanh đã bị lửa phiền não
thiêu đốt từ lâu, nay há chẳng nên tránh cõi này
mà về cõi kia ru. Phương tiện độ sanh lẽ phải
như thế, đã sanh về nước kia thấy Phật nghe
pháp, đặng Vô Sanh nhẫn mới ngộ bản tâm mình
đây, xưa nay vốn bình đẳng.
Chánh Văn:
Bốn: Vì để giáo hóa dẫn dắt hàng nhị thừa chấp
không chẳng tu Tịnh Độ là bởi do hàng nhị thừa
vừa chứng được lẽ "Ngã không" liền sanh lòng đắm
trước (ưa thích), nghe nói đến việc làm cho cõi
Phật thanh tịnh là phải giáo hóa chúng sanh thì
lòng họ không ham muốn, nên nay khiến họ hồi bỏ
tâm Tiểu Thừa, để hướng về Đại Thừa là phát ý
niệm Phật cầu nguyện vãng sanh.
Chú Giải:
Vừa chứng được lẽ "Ngã không" là hàng Tiểu Thừa
chỉ mới giác ngộ được trong thân ngũ uẩn không
có cái Ngã làm chủ, chớ chưa biết cả ngũ uẩn
cũng là không nữa nên mới chấp cảnh là có, rồi
chỉ muốn tránh cảnh khổ ồn ào, trốn về cảnh vui
vắng lặng. Nếu nghe nói đến cảnh Tịnh Độ để cho
chúng sanh niệm Phật sanh về bằng cách hóa sanh
thì lòng không ưa thích. Như các hàng Thinh Văn,
không thấy được thần lực Phật Lô Xá Na và không
được dự vào đại hội của các vị Bồ Tát, là vì bổn
ý họ không hoan nghinh về chỗ nói công đức thanh
tịnh các cõi Phật trong mười phương. Bực cổ đức
nói: "Hàng Tiểu Thừa không nhận cái lối nói có
cõi Phật khác" (Di Đà). Bên Đại Thừa thì nói có
vô số cõi Phật. Đức Thế Tôn gọi bậc Tiểu Thừa là
hàng "độc thiện kỳ thân", (60) cũng kêu là bọn
"độn căn A La Hán". Cho nên Phật dạy họ quày tâm
đoạn diệt (61), tu hạnh Tịnh Độ, mới biết lòng
bi trí, sức hạnh nguyện của Phật, Bồ Tát rộng
lớn như thế, vô cùng như thế. Tâm không ngại
cảnh, cảnh chẳng ngại tâm, tất cả các pháp bổn
tánh nó tự không, thành thử trọn ngày độ sanh,
nhưng trọn ngày không chấp độ. Thế mà những kẻ
chỉ riêng tu Thiền Định, không nguyện vãng sanh,
thật là lầm lắm vậy!
Chánh Văn:
Năm: Vì khuyên các người mới phát tâm hành Bồ
Tát đạo nên gắng tu niệm Phật, để được gặp Như
Lai là bởi bực mới phát tâm hành Bồ Tát đạo
(62), tâm Đại Thừa ấy mới kiến lập nhưng sức
thắng nhẫn chưa thành; cũng như chim con lông
cánh còn yếu, chỉ nên chuyền cành và
đứa
con bé thơ, cần phải gần bên mẹ; khi mà Bồ Tát
đã vào hội chánh định tụ gần gũi đức Thế Tôn,
mới đặng nhẫn lực, chứng pháp "Vô Sanh" trọn
thành quả Phật.
Bấy giờ ngồi thuyền
đại nguyện vào biển khổ độ sanh. Như trong Trí
Độ Luận đã nói: "Vả chăng tu Bồ Tát đã đến bực
lục trụ mà còn thối mất tâm Đại Thừa, nhiều kiếp
làm Thinh Văn". Xem như "trứng cá", "bông xoài"
đủ làm gương soi rõ.
Nên biết pháp niệm
Phật là cha của Bồ Tát vì sanh đẻ ra pháp thân;
cho đến cả Thập Địa Bồ Tát trước sau chẳng lìa
pháp niệm Phật thì bực sơ tâm Bồ Tát đâu nên tự
cho là
đủ,
mà không nguyện vãng sanh ư?
Chú Giải: Bộ
Trí Độ Luận nói: "Chúng cụ phược phàm phu (63)
dẫu có lòng đại bi muốn sanh trong đời ác trược
để cứu khổ cho chúng sanh, thật là vô lý. Vì
sao? Vì phiền não quá mạnh, mà chưa được sức
nhẫn, tâm duyên theo cảnh sắc, thinh ràng buộc,
phần mình đã đọa trong tam đồ, thì đâu có thể
cứu được người?"
Dầu cho được sanh
trong loài người, nhưng đối với quả Phật cũng
khó đặng. Vì nhờ có tu phước đức bố thí, trì
giới từ kiếp trước, nay hoặc đặng làm vua, làm
quan, bị cái phước giàu có bắt phải ham sướng mê
vui! Ví dầu có gặp thiện tri thức cũng không
chịu tin theo. Vì ngu mê phóng túng, tạo nhiều
tội ác, do đây phải đọa lạc nữa.
Lại dụ như hai
người đối với việc cứu kẻ bị đắm nước: một người
vội nhảy ngay xuống nước để cứu thì cả hai bị
chìm luôn. Một người biết dùng phương tiện: Đi
lấy thuyền bè bơi ra cứu vớt, cả hai đều khỏi
nạn. Người mới phát tâm Bồ Tát muốn độ sanh cũng
lại như thế. Cần phải gần gũi Như Lai, được
thuyền từ là pháp "Vô Sanh Nhẫn" rồi, mới có thể
vào biển khổ cứu độ chúng sanh, như người kia
được thuyền, cứu đặng nạn chết đắm.
Luận ấy nói: "Ví
như đứa bé nếu mà lìa mẹ thì nó sẽ té xuống hầm,
xuống giếng, hoặc khát sữa phải chết. Lại như
chim con lông cánh còn yếu, chỉ nên nương cây
chuyền cành, khi lông cánh đã cứng cáp rồi, mới
có thể bay liệng giữa hư không thung dung tự tại
được".
Cũng như phàm phu
chưa có sức nhẫn, chỉ nên chuyên niệm Phật A Di
Đà, cho được chánh định (tam muội). Lúc lâm
chung được chánh niệm, quyết định vãng sanh,
thấy Phật, đủ sức nhẫn rồi, trở lại trong cõi
này để cứu độ chúng sanh.
"Chánh định tụ" là
để
lựa riêng biệt với tà
định
và bất định. Vì phàm phu, tà ma, ngoại đạo nhứt
định không có phần đấy. Bực sơ phát tâm tu hạnh
Bồ Tát, hoặc tấn lên Đại Thừa hay lui xuống Tiểu
Thừa cũng chưa nhất định. Nay được An Dưỡng của
Phật A Di Đà rồi, không luận phẩm vị cao thấp,
đều đặng bực bất thối chuyển cả, mới gọi là
chánh định. "Chữ "Tụ" là nhóm, tức là một nhóm
người chánh định. Chính trong kinh nói: "Các
người bực thượng thiện nhóm hội". Vì rằng đã vào
trong hội này là
được
thấy Phật nghe pháp.
"Bồ Tát lục trụ còn
lui mất tâm Đại Thừa" là: ông Thân Tử phát tâm
tu hạnh Bồ Tát, đã chứng được bực trụ thứ 6
(trong Thập Trụ) của Biệt giáo; nhơn gặp lúc
người Bà La Môn xin tròng con mắt (64) nhẫn
không được, liền thối tâm Đại Thừa, luân hồi
trong năm đường (65).
"Nhiều kiếp làm
Thinh Văn" là có nhiều vị như ông Xá Lợi Phất
chẳng hạn, đã phát tâm từ đời Phật Đại Thông Trí
Thắng, do nhẫn không được nên phải lui sụt tâm
Đại Thừa, đọa xuống hàng Thinh Văn nhiều kiếp
bằng số vi trần điểm đến nay.
Nên trong kinh nói:
Bầy cá ròng ròng, bông xoài, Bồ Tát sơ phát tâm;
ba sự đây trong cái nhơn thì nhiều, đến chừng
kết quả chẳng còn bao nhiêu. Dẫn lời đây để chỉ
rõ bực sơ tâm Bồ Tát cần phải gần gũi đức Như
Lai đặng chỗ nương dựa vững vàng, để khỏi bị lui
sụt vậy.
"Pháp niệm Phật là
cha của Bồ Tát": Trong kinh Hoa Nghiêm quyển thứ
mười một nói: Ông Oai Quang đồng tử nhơn thấy
tướng của đức Như Lai mà
đặng
mười món mợi ích. Món đầu nói: Đặng pháp niệm
Phật tam muội (66) gọi là pháp môn "Vô Biên Hải
Tạng". Lời sớ kinh ấy nói: "Pháp niệm Phật tam
muội là cha của Bồ Tát nên trước nhất nói đó".
Bởi do Bồ Tát dùng pháp phương tiện làm cha (67)
mà pháp niệm Phật đây chính nhằm thật sự, vì đó
là phương tiện; lại niệm Phật được thành Phật,
vì đó là hột giống thân sanh (68).
"Thập Địa trước
sau" là: Trong văn Thập Địa từ trước đến sau,
địa nào cũng nói tất cả việc ra làm, không rời
pháp niệm Phật. Lại nói bực "Viễn Hành" địa (69)
Bồ Tát tuy biết tất cả cõi nước cũng như không
có mà hay dùng hạnh thanh tịnh nhiệm mầu, để
trang nghiêm cõi Phật (70). Trong kinh Như Lai
Bất Tư Nghì Cảnh Giới nói: Ông Bồ Tát đến lúc rõ
biết chư Phật và tất cả pháp đều duy một tâm
lượng thì đặng sức nhẫn tùy thuận (71), hoặc
được vào bực Sơ Địa; đến khi bỏ thân liền sanh
vào thế giới "Diệu Hỉ" (72), hoặc sanh trong cõi
Cực Lạc thanh tịnh của Phật, nên ngài Long Thọ
là do bực Sơ Địa (73) mới được vãng sanh. Ông Ma
Ta Kiệt là do đắc pháp nhẫn mới được vãng sanh.
Chí như đức Văn Thù, Phổ Hiền (74) v.v… cho đến
hết thảy các vị đại Bồ Tát đông lắm không thể kể
xiết mà cũng đều phát nguyện vãng sanh, huống
chi bực sơ tâm Bồ Tát mà không cầu vãng sanh ư?
Ngài Vĩnh Minh nói:
"Muốn gá thân nơi đ
ài
sen để lìa hẳn cái khổ bào thai nơi bụng mẹ,
sanh về nước Cực Lạc là quốc độ của chư Phật, đã
đắc pháp thần thông du hí (75) thì những người
ấy đều là
đã
hiểu rõ được tự tâm rồi, không vị nào mà không
dạy chúng vãng sanh".
Ngài Thiên Như nói:
"Các ngươi nếu giác ngộ được tự tâm rồi thì với
việc vãng sanh về Tịnh Độ dẫu sức mạnh bằng ngàn
trâu, không thể kéo lại được". Thế thời ông Sơ
phát tâm Bồ Tát tuy là hiểu rõ, nhưng còn cách
Phật rất xa, nên chính phải cầu nguyện vãng sanh
không nên trễ vậy.
Chánh Văn:
Sáu: Vì thâu nhiếp cả các căn, lợi, độn cũng đều
thoát là bởi các pháp môn khác, có môn quá cao
thời kẻ hạ cơ không phần nhờ, có môn quá thấp
thời không hợp với sức thượng căn, thế nên đức
Phật ban đầu nói kinh Hoa Nghiêm, các bậc tiểu
căn như đui như điếc. Ông Ưu Ba Ly đem trí như
lửa đom đóm để xét, kết thêm tội cho hai thầy bí
sô. Chỉ có một pháp môn niệm Phật này, thượng cơ
hay hạ căn cũng được gồm thâu, vì đều thích hợp;
khá gọi rằng: Như vị thuốc A Già chữa lành muôn
chứng bệnh; lò lớn đúc thành ngàn món đồ; đâu
không phải là cửa từ bi mở rộng, pháp phổ độ
không bỏ sót một căn cơ nào?
Chú Giải:
"Như đui" là: Đức Như Lai lúc ở trong rừng Thệ
Đa (76) diễn nói kinh Đại Hoa Nghiêm, lúc ấy các
bực thượng đức Thinh Văn như các ông Thân Tử,
Mục Kiền Liên v.v… lãnh hội không nổi, dụ như
đui như điếc, không thấy không nghe chi cả (77)
cho đến bực Tích Hạnh Bồ Tát còn nói là phơi
mang (78). Đấy rõ biết rằng vì pháp môn cao, đạo
lý đại mà căn cơ thì tiểu.
"Kết thêm tội" là:
Trong kinh Tịnh Danh nói: Có hai thầy bí sô phạm
giới căn bản bằng trường hợp vô tâm, đến phát lồ
sám hối; ông Ưu Ba Ly y luật Tiểu Thừa để định
tội làm cho hai ông chẳng giải đặng lòng nghi
(79). Ông Tịnh Danh quở rằng: "Ngài Ưu Ba Ly!
Ngài chớ đem pháp thường làm nhiễu loạn tâm kia,
chồng thêm tội cho hai thầy bí sô ấy". Đức Vĩnh
Gia (80) phê bình trí soi xét của ngài Ưu Ba Ly
như lửa đom đóm, rằng đã không khai ngộ chỗ mê
lầm của hai ông, mà trở lại làm tăng thêm nữa.
Đây rõ biết rằng vì pháp môn thấp mà căn cơ
thâm, giáo lý lại thiển.
Ngoài ra như đem
pháp Bất Tịnh Quán lầm trao cho anh thợ rèn,
pháp Sổ Tức đem dạy cho người giữ mồ (81) không
lợi ích chi cả. Chỗ lập môn kia, đây (Đại Thừa,
Tiểu Thừa) cũng lại đều khác; mà căn cơ có cao,
thấp, có lớn, nhỏ, thế nó không hợp hết được.
A Già Đà (83) là
tên vị thuốc bên Tây Vức; chỉ một vị thuốc ấy,
có thể trị lành các chứng bệnh. Dụ như chỉ một
pháp trì danh niệm Phật mà rồi các bịnh: ngũ
dục, tam độc, vô lượng phiền não, cho đến những
bệnh cố chấp chênh lệch của Tiểu Thừa, ngoại đạo
đều tiêu trừ tất cả.
"Lò lớn" là: Trong
một lò lớn, hầm đúc muôn món đều thành đồ cả. Dụ
như: Chỉ một pháp trì danh niệm Phật, tùy theo
căn cơ dầu lợi, dầu độn, là hạnh tu của mỗi
người, chớ cũng đều được vãng sanh về trong chín
phẩm, đều đặng bực bất thối cả.
"Rộng lớn" là:
Trong sách Châu Dịch, quẻ Kiền nói là Đại Sanh,
quẻ khôn nói là Quảng Sanh. Nay pháp môn trì
danh niệm Phật không một chúng sanh nào mà chẳng
độ. Dụ như trời khắp che, đất khắp chở, đều nuôi
gồm chứa cả muôn loài. Lòng chí từ không phân
biệt lựa chọn nên gọi là pháp "Phổ Môn".
Chánh Văn:
Bảy: Vì hộ trì người tu hành nhiều chướng nạn để
khỏi bị sa đọa là: Bởi đời mạt pháp rồi nên
người tu hành hay mắc nhiều chướng nạn; nếu một
phen thiếu chánh kiến liền sa ngã vào các đường
tà. Nhờ nguyện lực oai thần đức Phật kia gia hộ
cho người tu, ở trong hào quang cao cả che chở,
khỏi bị ma sự quấy rối và Phật Ngài hộ niệm cho
mãi đến lúc Đạo thành. Cho nên biết rằng hễ
chánh niệm phân minh, ma vương không quấy rối,
ví như đồ hình con Bạch Trạch trừ quái, gương
báu dẹp yêu (yêu không trốn đặng) (84).
Chú Giải:
"Đa chướng nạn" là gì? Người tu hành trong khi
ngồi thiền định, quán tưởng kích phát nên ngũ ấm
nó hay sanh ma chướng (85). Như trong kinh Lăng
Nghiêm có chỉ 50 thứ ma. Có câu: "Không sanh tâm
tưởng Thánh, gọi là Thiện cảnh giới; bằng móng
tâm tưởng Thánh liền mắc vào bọn tà". Nên biết
hễ tâm chánh kiến hơi kém thì tà ma lừng lên, đã
không ích mà lại còn tổn hại, muốn tấn lên trở
lại sa xuống. Do đây, những kẻ căn cơ thấp kém
không dám học đạo (tham thiền).
Thế mà nay đây
người niệm Phật sẽ nhờ đại nguyện, đại lực của
Phật nhiếp thọ, hộ trì cho. Oai thần của Phật
không thể so lường, không có thiên ma nào dám
can phạm đến, dầu có ma sự sắp đến rồi thì nó
cũng tự tiêu diệt.
Lại trong kinh nói:
"Người niệm Phật có hào quang của Phật soi vào
mình, ánh sáng chung quanh cách bốn mươi dặm,
nên ma không thể xâm phạm được do vì nhờ sức
Phật A Di Đà và mười phương Phật thường hộ niệm,
mãi từ ngày phát tâm, cho đến khi thành Đạo, từ
trước đến sau mỗi việc đều lành cả". Bởi do
chánh niệm phân minh, dầu ma có đến cũng dễ biết
dễ trừ; chẳng phải sánh như hạng người đắm ưa
ngồi tịnh, chấp lấy cảnh không, trong tâm không
tự chủ, gặp ma không biết, để đến nỗi nhập tâm
ấy vậy.
"Đồ hình Bạch
Trạch" và "gương báu" là dùng hai dụ đây để rõ ý
rằng: Chẳng những chỉ nhờ sức hộ trì của chư
Phật mà là cần nhờ sức niệm của mình nữa. Có con
thần thú (chúa yêu) tên Bạch Trạch biết nói
tiếng người rõ được tánh tình muôn vật, các tà
tinh hễ trông thấy bóng nó liền trốn mất. Nên
nói: Nhà nào có đồ hình Bạch Trạch, quyết không
có các loài yêu quái như vậy.
Lại con tinh trên
núi, con quỉ ngoài đồng, chúng nó có thể biến đủ
thứ hình (86) để dối gạt mọi người, nhưng nó
không thể biến hiện hay là tàng hình trước gương
báu được. Dụ như người niệm Phật: hễ chánh niệm
hiện tiền, trí huệ sáng suốt, tất cả thiên ma,
tâm ma (87) đều không dám khuấy phá được.
Chánh Văn:
Tám: Vì chính chỉ ngay nơi cái tâm hữu niệm,
đặng chứng vào lý vô niệm là: Tâm vốn vô niệm mà
có niệm thì sai. Nhưng vì chúng sanh từ vô thỉ
đến nay tập quán vọng tưởng quá ư lâu đời, chưa
dễ gì vội dứt liền đi được, nay dạy cho chúng
niệm Phật, chính như: Lấy thuốc độc nọ để giải
thuốc độc kia và dùng binh ta để đẩy lui binh
địch; bệnh lành, giặc yên, cũng như thân hết
bệnh, lại không có thân mạnh nào khác; tức là:
Nguyên kẻ giặc cướp chính là con ruột của nhà
ta.
Chú Giải:
Trong Khởi Tín Luận nói: "Tâm vốn ly niệm" mà
khởi niệm lên để niệm Phật, đâu khỏi tự làm
khuấy rối lại tâm mình ư? Trong Phật Tạng Kinh
nói: "Không cảm giác không quán niệm gọi là:
Niệm Phật. Không nghĩ tưởng, không nói năng gọi
là niệm Phật", mà khởi niệm để niệm Phật, đâu
không trở lại trái với tâm Phật? Nay đây bảo
rằng: Bặt các niệm giác quán (vọng niệm) là
thiệt tướng niệm Phật, lý ấy rất đúng. Song tâm
tuy ly niệm, nhưng mà
đã
bị vô minh nhiễm ô tâm thể, vọng niệm nối chuyền
như chứng bệnh bảy năm (88), dân loạn lâu ngày
nên gọi tập quán (thói quen). Nay muốn gắng
gượng dằn ép khiến cho nó lập tức yên tịnh thì
ra dứt động về tịnh, càng dứt càng động. Dầu thô
niệm tạm ngừng, nhưng tế niệm vẫn còn tích tắc.
Thế mà nhận cho là phải, đâu chẳng lầm lắm ư?
Đã còn địa vị phàm
phu, chưa có thể dứt vọng lự, quên duyên trần
(89), đâu không ngay nơi duyên lự ấy để tấn tu,
cho nên dùng tâm niệm Phật để tấn công vọng
niệm: Niệm một tiếng Phật đã cải đổi được trăm
ngàn muôn ức các tạp niệm kia vậy. Huống chi
vọng từ chơn khởi, như sóng do nước sanh; tức
niệm tức không, rõ ràng bày nguyên bản thể vô
niệm. Không phải ngoài vọng niệm mà riêng đặng
quả Bồ Đề. Nên nói muôn pháp luống dối, chỉ là
nhứt tâm, nếu ngộ được lý nhất tâm, thì mắt ngó
đâu cũng đều là Bồ Đề cả.
Dụ như thân bệnh,
khi lành rồi gọi đó là thân mạnh, dân loạn yên
rồi gọi đó là lương dân. Nếu bỏ vọng niệm để
riêng tìm chơn tâm thì khác nào thầy thuốc làm
chết thân người bệnh rồi mới trị lành bệnh, và
nhà chánh trị toan giết cả nước rồi mới an ninh
cho dân; đâu có lẽ vậy ru?
Chánh Văn:
Chín: Vì cách chỉ dạy rất khéo là nhơn cầu vãng
sanh mà thiệt ra là ngộ lý vô sanh, bực Thất Địa
Bồ Tát vừa gọi là
đắc
cái hiện tướng vô sanh nhẫn, bực Bát Địa mới
đặng lý vô sanh. Nếu muốn diệt gấp sự hữu sanh
để cầu lý vô sanh, càng cầu càng xa. Nay phải
dùng pháp cầu sanh Tịnh Độ mới ngộ được lý vô
sanh, vào chỗ có mà
được
chỗ không, tức nơi phàm thành bực thánh, khá gọi
rằng : "Lời hay thấu đạo lý, thuốc quý đổi xác
tiên".
Chú Giải:
"Vừa hiện tướng" là như trong kinh Hoa Nghiêm
nói: "Mười địa, địa nào cũng đều có nói rằng
đặng vô sanh; nhưng chánh thức là về bực Bát Địa
mới thiệt đặng, còn Thất Địa chỉ nói là tịnh vô
lượng, thân, khẩu, ý mới đặng Vô Sanh Pháp Nhẫn
quang minh".
Lời sớ giải thích
văn trên của kinh ấy lại nói: Bát Địa Bồ Tát mới
chính thức đặng vô sanh pháp nhẫn. Chứ đối với
"vô sanh pháp nhẫn" của kinh kia thì ở đây bực
Thất Địa Bồ Tát là mới được cái minh tướng của
"Pháp nhẫn" nó hiện tiền, chứ thực ra là chưa
thiệt đặng. Như lời sớ trong Quán Kinh nói: "Vô
sanh tức thuộc bực Sơ Trụ", ý lược đồng như đây.
Nhẫn đến Bát Địa, lìa tất cả những điều phân
biệt của tâm ý và ý thức, mới gọi là thiệt được
bực vô sanh pháp nhẫn. Vậy nên biết: Với quả vô
sanh nhẫn, bực Thánh như Thất Địa còn khó được,
huống chi là chúng phàm ư?
"Càng xa" là: Nhàm
chán sự sanh sống là khổ, vội muốn kíp diệt cái
có sanh sống đó để về nơi cái không sanh, nhưng
cái diệt đó nó không phải chơn diệt thì chỉ thêm
hoài công nhọc nhằn, rốt rồi thành ra trôi lăn
trở lại. Tỷ như cái định nghiệp làm trâu chưa
hết, dầu phá cho hư cái xe nọ… chủ lại sắm nữa,
lời xưa đã dụ rõ thế.
Kinh này nói:
Chuyên lòng niệm Phật, phát nguyện vãng sanh, đã
sanh về nước kia rồi, hoa nở thấy Phật, tự biết
được bổn tâm của mình vốn là không sanh thì dầu
có phương tiện cầu sanh cũng chả ngại gì? Nên có
câu: "Tưng bừng cầu sanh, mà không hề trái với
lý vô sanh; trọn ngày nguyện sanh mà tâm vẫn
chưa từng sanh", thế mới gọi là thiệt được quả
vô sanh.
Do nơi hữu sanh mà
tỏ được lý vô sanh nên nói vào chỗ có mà
đặng
chỗ không; có sanh là thuộc về phàm phu, nhưng
nhờ có sanh mới chứng đặng quả vô sanh, nên nói:
Tức nơi phàm thành được Thánh. Tới đường về nhà,
tiềm siêu mật độ (ai đi nấy đến bằng một cách
ngầm kín), khó nghĩ khó bàn, nên nói: "Lời hay
thấu lý đạo"; bỗng chốc đổi dời, như từ nơi đất
bằng, bay lên cảnh tiên, người thường dân trở
thành người sang cả, nên nói: "Thuốc quí đổi xác
tiên". Thế mà bỏ lời hay (lời Phật dạy niệm
Phật), chấp lấy lời huống, bỏ thuốc tiên mà uống
lấy thuốc độc, há chẳng đáng thương lắm ru?
Chánh Văn:
Mười: Vì chỉ rõ đường tắt tu hành, lại là
đường
tắt trong đường tắt. Đây có hai nghĩa: Nghĩa thứ
nhứt là các môn học đạo, muôn dặm xa xôi; còn
niệm Phật vãng sanh, xưa kêu là
đường
tắt. Song, một pháp niệm Phật lại có nhiều môn.
Nay pháp trì danh đây thiệt là trong đường tắt,
tắt mà càng tắt. Ví như: Chim hạc tung mình, đâu
kịp đại bàng cất cánh, ngựa Ký ruổi vó, đâu bằng
rồng chúa vươn bay; không gấp không đi mà mau,
mà
đến,
là tắt trong đường tắt vậy.
Chú Giải:
Hai nghĩa ấy: 1) So sánh với nhiều môn Tịnh
nghiệp. 2) Là lựa kinh Tiểu Bổn, để riêng biệt
với kinh Đại Bổn giữa Bổn Bộ, nên nói "đường tắt
trong đường tắt". Đường tắt là gì? Tức là con
đường ngắn đi băng ngang mau đến, gọi là "tắt".
Đường ngắn là ví dụ pháp môn niệm Phật, sức làm
rất dễ dàng; mau đến là ví dụ niệm Phật công
thành rất mau chóng.
Ngài Thiện Đạo đại
sư có làm bài kệ nói: "Duy có đường tắt tu hành
là chỉ niệm A Di Đà Phật, thế thôi". Nên nói: Tu
các môn khác, gọi là: "Dọc ra ba cõi", còn niệm
Phật cầu vãng sanh, kêu là "ngang ra ba cõi". Dụ
như con kiến hay con mọt chẳng hạn, ở trong cây
tre, đục bề dọc thì phải trải qua từng mắt, từng
lóng khó thông, đục bề ngang thì một lỗ thấu
phủng ra ngoài liền. Thế đem các môn tu khác so
với môn tu niệm Phật này thì pháp môn niệm Phật
rất là mau kết quả hơn cũng như thế.
Song pháp môn niệm
Phật lại còn chia ra làm nhiều môn như trong văn
sau sẽ giải: Từ thật tướng niệm Phật, có bốn
môn, cho đến muôn hạnh hồi hướng v.v…
Với tánh "Pháp Thật
Tướng", dầu rằng mỗi người sẵn có, nhưng vì
chúng sanh phần nhiều bị nghiệp chướng quá nặng,
số người tỏ ngộ được tánh Phật ấy thì chỉ phần
ít, nên sau đây kể ra vài môn như tu pháp niệm
Phật bằng cách "quán tượng Phật", đến lúc cất
tượng đi, hoặc khi chẳng có tượng trước mắt thì
lại không thấy cái nhơn tu ấy, thành ra gián
đoạn. Tu pháp niệm Phật bằng cách "quán tưởng"
thì tâm thô cảnh tế, diệu quán khó thành. Tu
pháp niệm Phật bằng cách làm muôn hạnh thì sự
làm quá ư bề bộn, chi cho khỏi nặng đâu sa đấy.
Duy có một pháp
niệm Phật bằng cách trì danh đây là tiện lợi
thẳng tắt. Hễ niệm Phật được nối luôn liền được
vãng sanh. Cổ đức đã nói: "Miễn được thấy Phật A
Di Đà, lo gì không tỏ ngộ Tánh Phật Thật Tướng".
Thế là không mong cầu ông "Phật Thật Tướng" mà
ông "Phật Thật Tướng" hiện bày rõ rệt nên pháp
môn niệm Phật là
đường
tắt của pháp tu hành, mà pháp trì danh lại là
đường
tắt trong pháp niệm Phật vậy.
Chim hạc liệng đã
hơn chim thường mà
đâu
bằng chim đại bàng một phen cất cánh; ngựa Ký
ruổi dong tuy hay hơn ngựa khác nhưng đâu kịp
rồng bay. Hai vật trên đều dụ pháp niệm Phật,
hai vật dưới đều dụ pháp trì danh niệm Phật vậy.
"Chẳng mau chẳng
đi" là trong kinh Dịch, lời Hệ Từ nói: "Lý của
kinh Dịch, không suy nghĩ, không tạo làm, là cái
lẽ vắng lặng, không lay động. Hễ có cảm là liền
thông suốt cả trong thiên hạ, nếu chẳng phải bực
chí thần trong thiên hạ thì ai mà dự biết việc
đây? Duy có bực chí thần mà thôi, vì bực Chí
Thần không gấp mà mau chóng và không đi mà
đến
liền". Ý nói gấp rồi mới mau, đi rồi mới đến là
cái vật tầm thường.
Thể xủ quẻ cỏ thi
là vẫn vắng lặng, không suy nghĩ, không tạo làm,
nhưng hễ có cảm liền thông, thế mới gọi "không
gấp mà mau, không đi mà
đến";
có cái hay mầu nhiệm hơn muôn vật nên gọi "chí
thần". Dẫn lời kinh Dịch đây để chỉ rõ: Các pháp
môn niệm Phật tuy đồng nói vãng sanh, nhưng vì
sức tu hơi khó hơn và thời gian cũng lâu hơn,
thế là tỷ phải đi gấp mới đến, mới mau được. Tu
pháp trì danh niệm Phật này thì không kể năm,
tháng, không luận nhiều công, miễn niệm làm sao
chỉ trong bảy ngày cho được nhứt tâm, liền sanh
về nước kia. Chả biết sao mà lẽ thần diệu hay
đến tột bực như thế này!
Nên lời Sao trong
Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện có nói: "Trong Đại
Tạng có trên cả mấy bổn, hoặc kinh, hoặc luận
cũng đều nói cái tu nhân niệm Phật". Song đều
dạy phải siêng tu, chứa công bồi đức cho nhiều,
mới được vãng sanh. Kinh này chỉ dạy trì danh
hiệu được nhứt tâm, liền lên bực bất thối, đâu
không phải tắt mà lại tắt sao?
Chánh Văn:
Nghĩa thứ nhì là trong Vô Lượng Thọ kể nhiều y
báo, chánh báo, chép đủ các phép tu trì. Nay
kinh Di Đà
đây
chọn chỗ giản tiện, bỏ chỗ phiền phức, lấy chỗ
tóm tắt, bao gồm chỗ sâu rộng, không nói chi
khác, chỉ dạy pháp trì danh, miễn sao niệm được
nhứt tâm là liền sanh nước Cực Lạc. Nên nói:
"Giản dị càng giản dị, nhiệm mầu càng nhiệm mầu,
đường tắt trong đường tắt vậy".
Chú Giải:
Với kinh Vô Lượng Thọ sẽ thấy rõ trong hai môn
Bộ Loại và Dịch Thích; bởi đối với kinh này nên
người đời kêu kinh kia là Đại Bổn, vì bộ tuy
đồng nhưng rộng hẹp có khác nhau. Kinh kia vì
người ưa rộng, Phật nói rộng; kinh này vì người
ưa hẹp, Phật nói hẹp. Nhưng lời tuy tóm tắt mà
lý rất rõ ràng, sự dầu đơn sơ mà công được bội
thắng. Như trong kinh Đại Bổn rộng luận việc làm
các điều phước thiện, còn kinh này chỉ nói hễ
chấp trì danh hiệu tức là
đa
phước đa thiện. Kinh Đại Bổn còn phân ba bực mà
kinh này nói, hễ được sanh về nước kia đều được
bực bất thối chuyển nơi quả Bồ Đề. Thế nên pháp
trì danh niệm Phật chẳng những là chỗ thiết yếu
trong các pháp môn niệm Phật, mà chính là chỗ
rất thiết yếu trong bộ kinh Di Đà nầy. Nên nói:
Pháp trong các pháp thậm thâm vi diệu, pháp
nhiệm mầu trong các pháp nhiệm mầu, đường tắt
trong những con đường tắt ấy vậy.
Chánh Văn:
Như trên trong khoa Biệt nói mười nghĩa, lại lấy
chín nghĩa trước là Thông (chung), một nghĩa sau
là Biệt (riêng). Gồm luôn cả nghĩa của phần Tổng
văn trước để làm sở nhơn lập giáo của kinh này.
Chú Giải:
Thông là: Những kinh chung cùng nói rõ về pháp
môn Tịnh Độ, đều vì đồng một nhơn đây. Biệt là:
Riêng chỉ nói rõ về kinh này, chú trọng pháp trì
danh, do vì dùng pháp trì danh làm nguyên nhân.
Tổng là: Tức như văn trước, tóm nói rõ tất cả
các kinh, đều vì một đại sự làm nguyên nhân.
Còn nói về cái ý mà
Phật Thích Ca. Ngài nói ra kinh này là cốt vì:
1) Để dạy chúng sanh niệm Phật; 2) Để dạy chúng
sanh trì danh niệm Phật; 3) Để dạy chúng sanh
niệm Phật bằng cách trì danh mà
được
vào tri kiến của Phật, cho rõ nhứt tâm bất loạn,
đây là một đại sự mà thôi; vậy nên đây hiệp lại
ba cốt yếu trên để làm chỗ sở nhơn lập giáo của
bộ kinh này.
TẠNG GIÁO ĐẲNG
NHIẾP (phân ra làm ba phần):
1. Tạng Nhiếp: Kinh
này thuộc về tạng nào?
2. Giáo Nhiếp: Kinh
này thuộc về giáo nào?
3. Phần Nhiếp: Kinh
này thuộc về phần nào?
1. TẠNG NHIẾP
Chánh Văn:
Đã biết Phật nói kinh nầy có nguyên nhân như
thế; nhưng chưa biết kinh đây đối trong Phần
Tạng Giáo nó thuộc về đâu?
Nói về Tạng có hai:
1. Tam Tạng; 2. Nhị Tạng.
Trước nói: 1. Tam
Tạng là:
A) Tạng Tu Đa La.
B) Tạng Tỳ Nại Da.
C) Tạng A Tỳ Đạt
Ma.
Nay kinh đây (Di
Đà) thuộc về Tạng Tu Đa La. Bởi các kinh cũng
đều có thân thuộc lẫn nhau, nhưng kinh Di Đà
đây
không phải như các kinh kia.
Chú Giải:
Tiếng Phạm nói: Tu Đa La. Tàu dịch: Khế Kinh,
tức là tạng Kinh, sẽ giải thấy trong đề mục văn
sau. Tỳ Nại Da, Tàu dịch là "Điều Phục", tức là
tạng Luật. A Tỳ Đạt Ma, Tàu dịch là: "Đối Pháp",
tức là tạng Luận.
Hai tạng trên đều
có nhiều nghĩa, ở đây không cần lắm nên không
dẫn giải. Thuộc về Tu Đa La là ở trong ba tạng:
Kinh, Luật, Luận, mà kinh Di Đà
đây
thuộc về tạng Kinh.
"Lẫn thuộc nhau" là
như kinh Hoa Nghiêm thuộc về tạng Kinh mà gồm cả
tạng Luật và Luận, vì trong các phẩm Thập Tạng
nói rõ về việc Giới Luật; còn các phẩm Vấn Minh
nói rõ về Luận Nghị. Kinh Phạm Võng thuộc về
tạng Luật mà gồm cả tạng Kinh, vì phần trên của
phẩm Tâm Địa rộng nói ngôi bực của các vị Bồ
Tát. Còn kinh khác so theo đây nên biết.
Kinh đây đã chẳng
gồm giới luật lại cũng không kiêm luận nghị, vì
từ đầu chí cuối, chuyên nói về pháp môn niệm
Phật, cầu sanh Tịnh Độ, nên nói kinh đây, không
phải như các kinh kia.
CHÁNH VĂN: Nhị
Tạng là:
A) Bồ Tát tạng.
B) Thinh văn tạng.
Nay kinh Di Đà
đây
thuộc về Bồ Tát tạng; các kinh cũng có lẫn thuộc
nhau, nhưng kinh đây không phải như các kinh
kia.
Chú Giải:
Tạng Bồ Tát và Tạng Thinh Văn sẽ thấy rõ trong
phần "Thích Văn" sau có giải. Tạng mà phân làm
hai là do vì tạng Kinh có Đại Thừa, Tiểu Thừa
nên phân ra làm hai hạng để thâu thuộc, đó là
pháp. Nếu ước về người thì có ba bực (tam thừa),
cũng phải phân ra ba tạng. Vì bực người Duyên
Giác phần nhiều chẳng nương nơi kinh giáo nên
gồm trong bực người Thinh Văn, cho nên chỉ có
hai tạng.
Nay thuộc về Bồ Tát
tạng là vì kinh đây diễn nói pháp Đại Thừa, như:
y báo, chánh báo đều trang nghiêm, tín, nguyện
vãng sanh v.v... tất cả đều là hạnh tự lợi, lợi
tha, là bổn phận của Bồ Tát, để giáo hóa chúng
sanh, làm cho cõi Phật được thanh tịnh.
"Lẫn thuộc" là như
kinh Hoa Nghiêm thuộc về tạng Bồ Tát, cũng gồm
cả Thinh Văn tạng, vì kinh kia bao hàm tất cả
các bực. Kinh Di Đà
đây
bực nhị thừa chẳng đặng vãng sanh (cõi Tịnh Độ)
nên nói "không phải như các kinh kia".
Có người hỏi: Thế
sao trong văn kinh nói: Đức Phật Di Đà kia có
chúng đệ tử Thinh Văn?
Đáp: Đây chỉ tạm
có, chớ rốt thì không, đến sau trong phần Thích
Văn sẽ biện rành.
Lại hỏi: Chán bỏ
cảnh khổ, tìm về cảnh vui, dường như riêng về
phần tự lợi, đâu phải hạnh Bồ Tát?
Đáp: Cầu sanh về
Tịnh Độ chính là
để
thấy Phật nghe pháp, đặng vô sanh nhẫn rồi, trở
lại cõi này cứu khổ chúng sanh; ấy là hành hạnh
Bồ Tát, chớ không phải cái đạo của Thinh Văn như
trong bộ Thập Nghi Luận ngài Thiên Thai đã nói.
2. GIÁO NHIẾP
Chánh Văn:
Giáo là y theo Ngài Hiền Thủ định phân giáo pháp
có năm phần là: Tiểu, Thỉ, Chung, Đốn và Viên.
Nay kinh Di Đà
đây
thuộc về Đốn Giáo, mà cũng gồm cả hai giáo trước
là Chung và Viên.
Chú Giải:
Năm giáo là:
1. Tiểu Thừa giáo:
Nói pháp chỉ chuyên nói "Nhơn Không", (91) dầu
có luận nói "Pháp Không" chút ít, nhưng cũng
chẳng mấy rõ ràng; vì y nơi lục thức, tam độc để
thành lập cái căn bổn Nhiễm, Tịnh, (92) nên chưa
tột thấu nguồn gốc của "Pháp Không" (93).
2. Đại Thừa Thỉ
Giáo: Do thời thứ hai chỉ nói "Pháp Không", thời
thứ ba nói cả ba thừa, nhưng không hứa "định
tánh Xiển Đề" (94) được thành Phật, là lời
thuyết pháp chưa tột chỗ cực điểm của bực Đại
thừa, nên gọi là Thỉ Giáo. Trong đó có người
thành Phật, có người không thành Phật, nên lại
gọi là: Phần giáo. Với chỗ nói thì phần nhiều
nói về Pháp tướng, ít luận đến pháp tánh. Dầu có
nói tánh, cũng còn là con số tướng. Bởi y nơi
tám thức sanh diệt để kiến lập ra các nghĩa loại
có nguyên nhơn: Sanh tử và Niết Bàn.
3. Đại Thừa Chung
giáo: Do chỉ ra lý diệu hữu của Trung Đạo nên
nói "định tánh xiển đề" đều sẽ thành Phật, mới
nói tột chỗ cực điểm của Đại Thừa, nên gọi là
Chung giáo. Vì đúng với thật lý nên lại gọi là
Thật giáo. Với chỗ nói thì phần nhiều luận về
pháp tánh, ít luận đến pháp tướng. Dầu có nói
đến "tướng" đi nữa, nhưng cũng hội về "tánh".
Bởi căn cứ nơi Như Lai Tạng tánh nó tùy theo
vọng duyên của tám thức để thành lập ra các
nghĩa.
4. Đốn giáo: Giáo
này hoàn toàn không nói đến pháp tướng chỉ nói
ròng về Chơn Tánh, hễ là nhứt niệm bất sanh tức
gọi là Phật chứ không trải qua thứ lớp từng bực
gì nữa.
5. Viên giáo: Giáo
này thống nhứt cả bốn giáo trước, Sự, Lý hoàn
toàn trọn vẹn. Bởi lập trường lý luận như thế
này: Pháp giới nhiều vô cùng tận, biển tánh trọn
vẹn hợp hòa, không ngăn ngại nhau; với nhơn
duyên sanh khởi vì một tức tất cả; tất cả tức
một, tướng tức tánh, tánh tức tướng, tánh tướng
nhiếp lẫn nhau. Như cái lưới ngọc (95) của trời
Phạm Vương mỗi ảnh chiếu trùng nhau, thay nhau
làm chủ quan, khách quan bằng cách nhiều đến vô
cùng vô tận.
Năm giáo nói trên
rõ như trong lời Huyền Đàm kinh Hoa Nghiêm; ở
đây sợ nhiều không dẫn.
Kinh này thuộc về
"Đốn Giáo". Trong môn nghĩa lý sau có giải.
Cũng gồm cả trước
sau hai giáo là trước thông Chung giáo bởi do
tất cả chúng sanh niệm Phật dù là
định
tánh Xiển Đề đều sẽ làm Phật.
Sau gồm "Viên giáo"
là cũng trong môn nghĩa lý có giải.
3. PHẦN NHIẾP
Chánh Văn:
Phần là mười hai phần giáo như phần Tu Đa La,
phần Kỳ Dạ v.v... Nay kinh này thuộc về hai phần
Tu Đa La và Ưu Đà Na.
Chú Giải:
Phần là từng phần, bởi vì nhất đại thời giáo của
Phật có chia ra từng phần, đều có chỗ sở thuộc.
"Kỳ dạ" Tàu dịch
"trùng tụng". Ưu Đà Na Tàu dịch "Vô vấn tự
thuyết" trong 12 bộ, đây sợ nhiều, không dẫn
(96). Nói thuộc hai phần: 1. Thuộc phần "Tu Đa
La" vì là Khế kinh. 2. Thuộc phần "Ưu Đà Na" vì
là không đợi ai thưa thỉnh mà
đức
Phật ngài tự kêu ông Thân Tử và chúng hội nói
cho nghe.
NGHĨA LÝ THÂM
QUẢNG (phân ra làm ba phần):
1. Nhiếp đốn (Gồm
cả Đốn giáo)
2. Phần viên (Gồm
một phần Viên giáo).
3. Bàng thông (Lan
rộng các giáo).
1. NHIẾP ĐỐN
Chánh Văn:
Đã biết rằng kinh này thuộc về Đốn giáo và có ít
phần thuộc về Viên giáo; chứ chưa biết nghĩa lý
hoàn toàn như thế nào.
Trước nói kinh này
thuộc về Đốn giáo đó, số là bảo: Pháp trì danh
liền được vãng sanh, mau siêu, chóng chứng, vì
không quanh co (lâu dài, chậm trễ) nên kinh Di
Đà chính thuộc Đốn giáo.
Chú Giải:
Chính thuộc nghĩa "Đốn" là: Vì tất cả kẻ phàm
muốn chứng lên bực thánh, sự đó rất khó lắm! Vì
đường đạo lý quá xa. Nay chỉ có một pháp trì
danh liền đặng vãng sanh, đã vãng sanh rồi, tức
thì đặng bực "Bất Thối". Khá gọi rằng: Đời chỉ
trọn thành, một đời đặng xong. Ví như đem ngôi
báu trao ngay cho kẻ thường dân, chẳng trải qua
gia cấp và cũng không phải như lối vòng vo của
Tiệm giáo thì đâu sánh kịp, nên gọi kinh này
thuộc về nghĩa "Đốn".
Chánh Văn:
Hoặc có người hỏi thắc mắc rằng: Kinh này Đốn
giáo là tâm không sanh một niệm gì hết, tức gọi
là Phật. Như năm pháp, ba tự tánh đều không tám
thức, hai món vô ngã đều trừ. Thế mà nay Pháp
trì danh niệm Phật đây thì lại có niệm; đã có
niệm, thế nào gọi là "đốn" được?
Đáp: Do nhứt tâm
bất loạn, chính gọi là vô niệm; nếu còn có niệm,
chẳng gọi là nhứt tâm, nhưng đã được nhứt tâm
rồi thì pháp nào là pháp chẳng vắng lặng?
Chú Giải:
Năm pháp là: 1. Danh; 2. Tướng; 3. Vọng tưởng;
4. Chánh trí; 5. Như như (97).
Ba tự tánh là: 1.
Danh tướng là tánh biến kế chấp, 2. Vọng tưởng
là tánh duyên tha khởi. 3. Chánh trí như như là
tánh viên thành thật (98).
Bát thức là: A Lại
Da, Mạt Na và sáu thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý) hiệp thành tám thức.
Hai vô ngã là nhơn
vô ngã và pháp vô ngã (99).
Sắp về trước, cũng
đều thuộc vào trong năm pháp cả. Rõ thấy trong
kinh Lăng Già và các kinh, đều không, đều trừ.
Cả năm pháp ấy có chỗ gọi rằng: Thân Phật là vô
vi (không hình tướng) không mắc vào các con số,
gọi là Phật Thân. Một niệm không sanh, tức gọi
là Tâm Phật; ấy là tôn chỉ của "Đốn Giáo". Nay
nói niệm Phật thời niệm hiệu Phật thuộc về Danh,
còn đối thân Phật thuộc về tướng, nhớ niệm Phật
kia thuộc về vọng tưởng. Dầu cho tịnh niệm nối
nhau, được vào pháp "Tam Ma Địa" (chánh định) đi
nữa, nhưng cũng còn thuộc về danh từ "Chánh Trí
Như Như".
Vả lại phân biệt là
Phật, thuộc về thức tình. Năng niệm là Tâm, sở
niệm là Cảnh, thuộc về Nhơn và Pháp; thế còn
chưa trừ được tướng hữu ngã, huống là với tướng
vô ngã, lẽ nào trừ được ư?
Chỗ không, chỗ trừ
của Đốn Giáo kinh này đều có cả. Do vì chỗ có
niệm cho nên họ thắc mắc là chưa phải "Đốn"; chớ
đây chính bảo là vô niệm kia mà! Bởi do nhứt tâm
bất loạn thời chẳng chấp có tâm để niệm, chẳng
chấp không tâm để niệm, chẳng chấp cái tâm bằng
cũng có cũng không để niệm, và chẳng chấp cái
tâm bằng chẳng phải có chẳng phải không để niệm.
Vậy thử hỏi: lìa bốn câu ấy ra, lại có gì là
niệm? Thế thì tuy gọi rằng niệm Phật, chớ vẫn
niệm mà vô niệm vậy. Niệm mà vô niệm, thế mới
gọi là nhứt tâm. Cái tâm như thế tâm nó cũng
không tâm nữa kia, chỉ cưỡng kêu là Nhứt, chứ
thật ra tướng Nhứt cũng còn không, đâu tìm được
những con số mà người bảo: 5, 3, 8, 2. Thế thời
lý nhứt tâm bất loạn đây, chẳng khác nào "nhứt
niệm bất sanh" đâu nên nói kinh này chẳng phải
là "Đốn"?
2. PHẦN VIÊN
Chánh Văn:
Một phần thuộc Viên giáo là lập trường của Viên
giáo, vì trong bốn món pháp giới, ba món trước
chung lẫn cả các giáo, một món sau riêng thuộc
về Viên giáo. Nay kinh này: Viên giáo toàn
nhiếp, nó có một phần nhiếp thuộc về Viên giáo.
Bởi vì nó chỉ có ít phần Viên giáo nên gọi thuộc
"Phần Viên".
Chú Giải:
Bốn pháp giới là: 1. Sự pháp giới; 2. Lý pháp
giới; 3. Sự lý vô ngại pháp giới. Với ba pháp
giới này các kinh đều có; 4. Sự sự vô ngại pháp
giới (100) đây, thì đặc biệt nhứt là riêng một
kinh Hoa Nghiêm có thôi, nên gọi là "Nhứt thừa
Biệt giáo". Sự và Lý vô ngại thì đồng với "Đốn"
và "Chung". Còn sự sự vô ngại thì chẳng đồng hai
giáo kia (Đốn và Chung) vì riêng ngoài nhứt thừa
trong "đồng giáo" kia nên gọi là "Biệt" (riêng)
chớ không phải là "Biệt giáo" trong bốn giáo:
Tạng, Thông, Biệt, Viên (101).
Nay kinh Di Đà
đây
có một phần thuộc Viên giáo là do kinh Hoa
Nghiêm thì hoàn toàn là Viên giáo; còn kinh Di
Đà
đây
chỉ có ít phần thuộc Viên giáo. Đối với phần ít
ấy, xin sơ lược kể nói ra có 10 nghĩa:
1. Kinh Hoa Nghiêm
nói: cả trong khí giới, từ mảy bụi, mảy lông đến
một vật hữu hình, vô hình đều diễn nói pháp âm
mầu diệu. Kinh Di Đà nói: Nước, chim, cây, rừng
đều rao pháp "Ngũ căn", "Ngũ lực", "Thất giác
chi", Bát thánh đạo" các pháp môn (sẽ rõ ở sau).
2. Kinh Hoa Nghiêm
nói: Trong mảy vi trần đủ cả mười phương pháp
giới huy hoàng vô tận. Đây thì như trong kinh Di
Đà Đại Bổn nói: Với trong một cây "Bảo Thọ",
thấy 10 phương cõi Phật như bóng trong gương.
3. Kinh Hoa Nghiêm
nói: Chẳng hề cử động ra khỏi chốn Tịch Diệt đạo
tràng mà
đã
đi khắp pháp giới, nên nói thể tướng vẫn yên
lặng như xưa, vốn không hành động chút gì sai
khác, thế mà các pháp giới nhiều như số vô đẳng
vô lượng, đều đã đi khắp tất cả. Đây thì như
trong kinh Di Đà Đại Bổn nói: Đức Phật Di Đà vẫn
thường ở tại cảnh Tây phương Tịnh Độ, mà cũng có
ở khắp cả cõi trong mười phương.
4. Kinh Hoa Nghiêm
nói lời ví dụ rằng: "Cây thuốc chúa" (102) nếu
ai thấy cây ấy, mắt được thanh tịnh, cho đến
nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, cả sáu căn không căn
nào mà chẳng thanh tịnh. Chúng sanh thấy Phật
cũng lại như thế, là do thấy đức Phật Viên Giác,
(103) nghe pháp Phổ Môn nhờ thần lực, sáu căn
mới được thanh tịnh vậy.
Kinh Di Đà nói: Đức
Phật A Di Đà ngồi nơi cây Bảo Thọ đạo tràng. Với
cây báu ấy kẻ thấy, người nghe, sáu căn đều được
thanh tịnh.
5. Kinh Hoa Nghiêm
nói: Chúng sanh trong tám nạn (104) đều siêu lên
bực Thập Địa, kinh Di Đà nói: Các chúng sanh
trong địa ngục, ngạ quỷ súc sanh, hễ có niệm
Phật đều được vãng sanh.
6. Kinh Hoa Nghiêm
nói: Một tức tất cả nên đức Như Lai có thể đối
với một thân, để hiện ra nhiều đầu bằng số vi
trần ở trong nhiều cõi Phật bằng số bất khả
thuyết. Trong mỗi một cái đầu, hiện ra vô số
lưỡi. Trong mỗi mỗi lưỡi thốt ra vô số tiếng
tăm, cho đến nào văn, tự, câu, nghĩa đầy cả pháp
giới. Kinh Di Đà thời như trong Đại Bổn nói:
Nước Cực Lạc kia có vô lượng hoa báu, trong mỗi
đóa hoa phóng ra ba mươi sáu ức na do tha trăm
ngàn ánh quang minh; trong mỗi quang minh hiện
ra 36 ức na do tha trăm ngàn thân Phật, khắp vì
mười phương chúng sanh để thuyết tất cả pháp.
7. Kinh Hoa Nghiêm
nói: Đức Lô Xá Na, Đức Thích Ca đều hiện ra hai
tướng: Thắng Ứng thân và Liệt Ứng thân (105).
Đây thì như trong Quán Kinh nói: Đức Phật A Di
Đà hiện thân cao lớn bằng số 60 muôn ức na do
tha hằng hà sa do tuần, mà lại thấy thân Liệt
Ứng bằng một trượng sáu thước trên ao bát công
đức thủy (sẽ giải rõ ở sau).
8. Kinh Hoa Nghiêm
nói: Đức Lô Xá Na Phật làm giáo chủ. Đây thời
như Ngài Thanh Lương nói: Đức Phật A Di Đà tức
là
đức
Bổn Sư Lô Xá Na.
9. Kinh Hoa Nghiêm
nói: Kinh Hoa Nghiêm là kinh "Đại Bất Tư Nghì"
còn kinh Tịnh Danh và các kinh là "Tiểu Bất Tư
Nghì", mà kinh Di Đà thì lại là kinh "Bất khả Tư
Nghì Công Đức" vậy thôi, chứ chả phân là Tiểu
hay Đại gì!
10. Lập trường của
kinh Hoa Nghiêm là nói: Chính nơi tâm phàm phu
để thành ngay trí bất động của chư Phật. Kinh Di
Đà
đây
nói: Không ngoài pháp niệm Phật bằng cách xưng
danh mà
được
Phật hiện tiền. Thế thời kinh Di Đà bằng bực với
kinh Tịnh Danh và các kinh... đồng một loại với
kinh Hoa Nghiêm.
Vì Viên giáo trọn
thâu kinh này (Di Đà). Kinh nầy một phần thuộc
Viên giáo, bởi do nghĩa có ít phần thuộc Viên
giáo, nên mới gọi là "Phần Viên".
3. BÀNG THÔNG
(phân ra làm hai phần):
1. Quán kinh.
2. Chư kinh.
QUÁN KINH
Chánh Văn:
Trước nói kinh này thông đồng với kinh Thập Lục
Quán đó là bởi có người chấp rằng 16 pháp quán
gọi là Định Thiện, với chấp trì danh hiệu gọi là
Tán Thiện. Nay vì lẽ thông đồng mà nói, thì
trong đây có hai nghĩa: 1. Tổng 2. Biệt.
Trước nói Tổng là
Kinh Thập Lục Quán cả 16 pháp diệu quán, đều chủ
về lý nhứt tâm. Kinh Di Đà
đây
trọng về lý nhứt tâm, chính hiệp với ý kinh kia.
Vì kinh kia nhứt tâm tác quán, kinh này nhứt tâm
xưng danh; thế đâu đặng với cả hai đồng qui về
LÝ NHỨT TÂM mà lại tán dương kinh kia, dằn ép
kinh này. Rõ như trong lời Sớ ngài Tịnh Giác đã
nói...
Chú Giải:
"Bàng thông" là không phân biệt Đốn giáo hay
Viên giáo, chỉ lấy nghĩa lý thông đồng nhau giữa
các kinh Đại Thừa mà thôi. Do vì kinh Thập Lục
Quán là kinh chuyên môn nói về Tịnh Độ nên dẫn
để nói trước.
"Định Thiện, Tán
Thiện" là: Ngài Cô Sơn phân phán ra cho 16 pháp
quán là Định Thiện. Đối với kinh đây, pháp trì
danh cho là Tán Thiện (106), chứ đây bảo rằng:
"Nhứt tâm bất loạn" có sự, có lý, chính nơi "Sự
nhứt tâm" đã chẳng phải hoàn toàn Tán Thiện
thay, huống chi là "Lý nhứt".
"Chính hợp với ý
kia" là kinh kia dạy tu 3 pháp quán như vầy: Tâm
quán không tức không, quán giả tức giả, quán
trung tức trung, vượt hẳn lớp lang thế là
đắc
"tam quán nhứt tâm". Kinh Di Đà này dạy tu niệm
Phật bằng cách "chấp trì danh hiệu" đến khi đặng
cái "Nhứt tâm bất loạn" thì cả năng trì, sở trì
đều không thể có, đó gọi là "Không quán". Chính
đương lúc không mà năng, sở rõ ràng, đó gọi là
"giả quán". Chẳng phải giả, chẳng phải không mà
thường không, thường giả, bất khả tư nghì, đó
gọi là Trung Đạo quán. Bởi vì riêng giữ một danh
hiệu Phật để niệm liền được nhứt tâm; đã nhứt
tâm thì có gì thứ lớp! Đây chính là nghĩa ba
quán viên tu. Thế thời kinh kia dùng nhứt tâm
quán tưởng làm tôn, kinh đây dùng nhứt tâm trì
niệm làm chủ, vì Quán tức là niệm, niệm tức là
quán. Vậy hai kinh chỗ nói đã đồng nhứt tâm, sao
riêng với kinh này chê là Tán Thiện!
Cho nên pháp môn
này tên là pháp "Niệm Phật tam muội", cũng tên
là "Nhứt Hạnh tam muội", cũng tên là "Chư Phật
Hiện Tiền tam muội", cũng tên là "Bát Nhã tam
muội", cũng tên là "Phổ Đẳng tam muội". Nói "Tam
Muội" nghĩa là Chánh Định. Kinh Di Đà này đã
thông đồng với nhiều pháp tam muội như thế sao
dám chê là Tán Thiện? Nói cho đúng lý: Tu quán
tưởng nếu chẳng đặng nhứt tâm thì pháp quán ấy
cũng thành là Tán; tu trì danh nếu được nhứt
tâm, pháp trì danh ấy tức thành là Định. Đừng
tính ở quán tưởng hay trì danh mà chỉ tính ở chỗ
đặng nhứt tâm cùng không nhứt tâm mà thôi.
Như lời sớ của ngài
Tịnh Giác nói: "Đối với Quán kinh, ngài Trí Giả
đại sư cho ba món tịnh nghiệp (107) thuộc về Tán
Thiện, 16 pháp diệu quán thuộc về Định Thiện";
chớ chưa nghe ngài chê pháp trì danh là Tán
Thiện bao giờ! Ông Cô Sơn phê phán kinh Di Đà là
Tán Thiện, theo ý tôi (Vân Thê) không nhận cái
thuyết kia. Và như lời Sớ trong phẩm Phổ Môn
giải rằng: "Nhứt tâm xưng danh có sự, có lý,
chuyên niệm đức Quan Âm, lòng niệm không gián
đoạn, gọi là Sự nhứt tâm. Nếu đạt được tâm này,
bốn tánh (108) không sanh, vì tương ưng với pháp
Không Huệ gọi là Lý nhứt tâm". Trong phẩm Phổ
Môn kia nói thiếu hai chữ "bất loạn", ngài Trí
Giả còn dùng hai chữ "Không Huệ" (huệ chơn
không) để giải; huống chi kinh Di Đà nói: "Nhứt
tâm bất loạn" thì đâu đặng chê là Tán Thiện?
Theo ý ngu tôi xét: Ngài Trí Giả khi nhập diệt,
còn xướng danh hiệu Tam Bảo, ngài Chương An khi
lâm chung cũng niệm Phật A Di Đà và niệm hai vị
đại sĩ Quan Âm, Thế Chí.
Hai thầy trò của
ngài Trí Giả đồng "xướng danh, niệm danh", như
thế thì hẳn không đặng đem hai chữ "Tán Thiện"
để gắn cho pháp trì danh của kinh này. Xét đó,
càng thêm tin chắc.
Chánh Văn:
Kế đây nói nghĩa riêng. Hoặc có người thắc mắc
cho rằng:
1. Kinh Di Đà
đây
chỉ nghe danh suông của Phật.
2. Kinh Di Đà
đây
nói thân Phật là Liệt Ứng.
3. Kinh Di Đà
đây
nói hoa sen chừng bằng bánh xe.
4. Kinh Di Đà
đây
nói tội ngũ nghịch không được vãng sanh.
5. Kinh Di Đà
đây
thuộc về hạ phẩm.
Họ nạn như thế vì
họ không biết hai kinh (Quán kinh với A Di Đà
kinh) thật đồng một nghĩa và họ không biết kinh
A Di Đà lại càng độc yếu hơn nữa.
Chú Giải:
"Chỉ nghe danh suông" là có người thắc mắc cho
rằng: Trong Quán kinh dạy tưởng tướng hảo của
Phật, còn kinh Di Đà
đây
chỉ chấp trì bốn chữ danh hiệu suông, chớ không
thấy thân tướng hảo của Phật nên họ cho là Tán
Thiện.
Song trong kinh này
đã nói: "Đức Phật A Di Đà cùng các Thánh chúng
hiện ở trước mặt người kia". Đã nói Phật hiện
thời đâu không tướng hảo? Huống cùng Thánh
chúng, chủ và bạn đều hiện bày? Số là kinh kia
do tác quán thấy Phật, kinh đây do trì danh thấy
Phật, dù chỗ tu nhơn không đồng, chớ chỗ thấy
Phật thì một.
"Thân Liệt Ứng" là
có người nói mắc mỏ rằng: Trong Quán kinh nói
thân Phật cao đến sáu mươi muôn ức na do tha,
hằng hà sa do tuần (109), còn kinh này không
nói, họ nghi là "Thân Liệt Ứng" cho nên gọi là
Tán Thiện.
Song trong kinh Đại
Bổn nói: Lúc bấy giờ đức Phật A Di Đà phóng hào
quang lớn chiếu khắp tất cả thế giới. Ông A Nan
thấy dung thể của Phật lớn cao vòi vọi như núi
vàng ròng, cao vót lên trên tất cả thế giới. Thế
thì trong Quán Kinh chỗ nói còn cuộc hạn trong
một thế giới; nay kinh này nói tất cả thế giới
là cao lớn hơn biết bao, đâu nên nói là thân
Liệt Ứng!
Kinh Đại Bổn lại
nói cây báu nơi đạo tràng (110) của Phật A Di Đà
toàn dùng các món báu tự nhiên hợp thành, cây
báu ấy, không phải thân trượng sáu ngồi dưới cội
cây Bồ đề, thời đâu nên nói là thân Liệt Ứng!
Lại trong Quán kinh
nói: Phật kia hoặc hiện thân một trượng sáu, hay
tám thước; hoặc hiện thân cao lớn đầy giữa hư
không. Thế là tùy cơ cảm của chúng sanh nên chỗ
thấy có lớn nhỏ không nhứt định; thành thử cổ
đức nói: "Dầu liệt ứng, dầu thắng ứng, dầu sanh
thân, dầu Pháp thân, nhưng cũng không phải hai
thân". Huống chi trong kinh đây không thấy nói
ra thân Phật lớn, nhỏ chi cả, sao dám quyết định
đặt điều cho là thân Liệt Ứng?
"Hoa sen chừng bằng
bánh xe" là có người bảo rằng: Trong Quán Kinh
nói: "Hoa sen lớn mười hai do tuần"; còn kinh
đây nói: "Hoa sen nhỏ hạng bằng bánh xe", cho
nên gọi là Tán Thiện.
Song họ đâu biết
cái nghĩa bánh xe lớn nhỏ không nhứt định. Như
trong kinh Đại Bổn nói bánh xe lớn đến trăm ngàn
do tuần (111), đâu những "mười hai do tuần" mà
thôi; rõ như trong văn sau có biện.
"Tội ngũ nghịch
không được vãng sanh" là có người đưa ra nạn đề
rằng: Trong Quán kinh nói tội ngũ nghịch được
vãng sanh; còn kinh Đại Bổn nói: "Chỉ trừ tội
ngũ nghịch không được vãng sanh". Họ chê kinh
này công tế độ hẹp hòi nên họ cho là Tán Thiện.
Nhưng họ đâu biết
dưới câu: "Chỉ trừ tội ngũ nghịch" có thêm bốn
chữ "phỉ báng chánh pháp", mới bị trừ ra. Tuy
người đủ tội ngũ nghịch (112) mà không "phỉ báng
chánh pháp", vị tất không được vãng sanh?
Bởi do "phỉ báng"
thời không tin, vì không tin nên không được vãng
sanh. Sở dĩ có câu: "Nghi thời hoa sen không
nở", thật thế.
Trong Quán Kinh
không nói: "Phỉ báng chánh pháp". Nếu như gồm có
phỉ báng ấy cũng không được vãng sanh vậy. Lại
trong Quán Kinh về phẩm "Hạ hạ", trong văn ngũ
nghịch nói: "Người phạm tội ngũ nghịch, khi lâm
chung niệm danh hiệu phật mười tiếng liền được
vãng sanh". Thế là pháp Quán tưởng chưa thành
chỉ nhờ mười niệm... Vậy tội ngũ nghịch cũng
được vãng sanh đó chính là nhờ có niệm danh hiệu
mới được vãng sanh mà thôi.
Huống nữa trong
kinh Đại Bổn nói: "Những tội đọa địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh, cũng sanh về trong cõi của ta".
Những người đọa trong địa ngục đó không phải là
người ngũ nghịch chớ gì?
"Chỉ thuộc về hạ
phẩm" là có người thắc mắc rằng: Trong Quán kinh
nói về ba phẩm hạ. Phẩm đầu nói đối với người
trí thức, dạy bảo chắp tay, hoặc vòng tay để
niệm "Nam Mô A Di Đà Phật". Về phẩm thứ ba nói,
thiện hữu dạy rằng: "Nếu người kém trí thức
không thể niệm Phật bằng cách chắp vòng tay thì
nên chỉ niệm danh hiệu". Thế thì pháp trì danh
được vãng sanh đó dường như chỉ ở phẩm hạ! Họ
đâu có biết pháp trì danh có Sự, có Lý. Lý lại
có thấp có cao. Nay nói người vãng sanh về hạ
phẩm đó chỉ là sự thiện, nếu thành lý quán thời
đồng với ba quán viên tu của kinh kia, khế hiệp
không hai, lo gì phẩm vị không cao. Huống chi
trong văn hạ phẩm, chính chỉ cho người ác, người
ngu có niệm Phật được về ở đó, chớ không phải
nói về người thiện và người trí trì danh mà cũng
ở phẩm hạ đâu. Nên biết hai kinh (Di Đà và Quán
kinh) vẫn đồng một nghĩa.
"Độc yếu" là lược
giải có ba ý:
1. Trong Quán Kinh
chép rõ về thân Phật tuy nói rằng thân ấy tức là
Báo thân, tức Pháp thân, nhưng mà với số na do
tha (113) hằng sa đó không phải là không có con
số để kể, với hóa thân (ứng hóa hay sanh thân)
cao lớn bao nhiêu (114) còn đợi 13 lời vấn đáp
để biện giải điều nghi sau. Kinh đây chỉ nói
quang minh vô lượng, thọ mạng vô lượng. Thế thì
không thuộc về các con số nào mà chỉ ngay về
Pháp thân thôi, đây là món độc yếu thứ nhứt vậy.
2. Với 16 pháp diệu
quán, tuy rằng: Tâm tức quán, quán tức tâm,
nhưng mà trước phải quán mặt trời, kế quán đến
nước, đến đất, đến hàng cây, đến bảo tọa, sau
mới quán vào thân Phật. Thế thì không phải không
thứ lớp, biết bao là bộn bề. Còn kinh này nói:
Không cần tu các hạnh nghiệp đó, chỉ chuyên về
một pháp trì danh, thoạt được nhất tâm, liền
thấy Phật hiện trước mắt. Đây là món độc yếu thứ
hai vậy.
3. Sanh về ba phẩm
Thượng có thể dạo khắp mười phương, thừa sự chư
Phật; còn hai phẩm Trung và Hạ không thấy dạy
như thế. Chớ kinh đây nói: Trì danh được vãng
sanh liền được mỗi sáng ra đi cúng dường chư
Phật khắp mười phương rồi liền trở về nước kịp
trong giờ ăn buổi mai. Đây là món độc yếu thứ ba
vậy.
Người đời nghe nói
hai kinh đồng một nghĩa còn sanh nghi thay,
huống lại nghe nói kinh này độc yếu hơn càng
thêm sợ hãi. Cho nên nói kinh này là pháp mà
người đời "Nan Tín" (khó tin) và cũng nói kinh
này là kinh "bất khả tư nghì công đức vậy".
CÁC KINH
Chánh Văn:
"Lại nói thông đồng trong các kinh" là ý nghĩa
của kinh này cùng thông đồng nhau với các kinh
Đại Thừa như kinh Tịnh Danh, kinh Pháp Hoa
v.v... Song người mà
đã
thấy được chỗ lan rộng thông đồng nhau như thế
thời mới biết nghĩa lý kinh này bao trùm, thâm
thúy, rộng xa, chứ không nên coi như các kinh
thiển cận (Tiểu thừa) mà tự mắc tội lỗi!
Chú Giải:
Kinh Tịnh Danh, kinh Pháp Hoa v.v... Kinh đây
nói: Nhứt tâm trì danh đặng sanh về nước kia
(Cực lạc) tức là
đồng
với "Tùy kỳ tâm tịnh tắc Phật độ tịnh". Đây là
nghĩa kinh Tịnh Danh.
Lại kinh này nói:
Nhứt tâm trì danh tức là
đồng
với "Dụng thân tâm niệm Phật"... nhẫn đến "một
mình vào nhà người nhứt tâm niệm Nam mô Phật, đi
khất thực không bạn cũng nhứt tâm niệm Phật, một
tiếng niệm Nam mô Phật, đều đã thành quả Phật".
Đây là nghĩa trong kinh Pháp Hoa.
Chữ "Đẳng"v.v... là
lược dẫn các kinh, như kinh Văn Thù nói tu pháp
nhứt hạnh tam muội, kinh Đại Phẩm nói: "Nếu
người tán tâm niệm Phật... Nhẫn đến hết khổ,
được phước kia không hết". Đây là nghĩa kinh Bát
Nhã.
Như kinh nói:
"Trong 21 ngày cúi đầu lễ niệm danh hiệu các đức
Phật trong mười phương". Đây là nghĩa kinh Viên
Giác.
Như nói: Năm trăm
(500) người con ông Trưởng giả xưng niệm danh
hiệu của bảy lớp (7 đời) Phật (115) bèn đặng
thấy thân Phật vàng chói, liền chứng quả A La
Hán. Đây là nghĩa trong kinh Quán Phật tam muội.
Như nói: "Ông Bồ
Tát tu sáu phép niệm (116) mà phép niệm Phật là
thứ nhứt". Lại nói: "Buộc lòng niệm nghĩ nhớ
Phật, vì nhờ sức nhơn duyên ấy mà
đoạn
được phiền não". Đây là nghĩa trong kinh Niết
Bàn.
Như Phật bảo phụ
vương rằng: "Ngày nay nên niệm Phật A Di Đà ở
thế giới Cực Lạc Tây Phương thường cần tinh tấn,
sẽ được quả Phật". Lại nói: "Tu mười tâm để hồi
hướng cầu vãng sanh, khi mạng chung ắt được sanh
về cõi nước Phật kia (Phật A Di Đà)". Đây đều là
nghĩa trong kinh Bảo Tích.
Chí như kinh này
cũng đồng nhau với nghĩa Viên của kinh Hoa
Nghiêm thì đã thấy ở văn trước rồi.
Với nghĩa niệm Phật
không thể kể xiết. Như trên là chỉ ngay đại ý
của một bổn kinh mà nói thế thôi. Nếu bàn rộng
về nghĩa kinh thời như kinh Tịnh Danh nói: Nơi
phương trượng (thất) của ông Duy Ma dung nạp cả
ba mươi hai ngàn (32.000) tòa sư tử. Nay kinh
này nói: Cõi Tịnh Độ đức Phật A Di Đà, mười
phương sanh về đó, nhiều như những hột mưa, đều
sanh trong ao thất bảo không hề chật hẹp; tức là
nghĩa kinh Tịnh Danh.
Trong phẩm Như Lai
Thần Lực nói: Đức Phật Thích Ca cùng các Hóa
Phật ở mười phương đồng hiện ra tướng lưỡi rộng
dài cho đến cõi trời Phạm Thiên vì để khen ngợi
kinh Pháp Hoa. Kinh này nói: Chư Phật ở sáu
phương đều hiện tướng lưỡi khen ngợi đức Phật A
Di Đà cũng lại như thế, tức là nghĩa kinh Pháp
Hoa. Lược dẫn một phần ít đồng với các kinh Đại
thừa, còn bao nhiêu nữa sợ nhiều không dẫn nói.
Lại luận Khởi Tín
trong phần nhân duyên, lời Sớ nói: "Bực Thập Tín
sơ tâm có bốn món cơ: Dùng sự lễ bái sám hối để
diệt tội giúp cho bực sơ cơ (Thiên nhơn cơ).
Dùng tu tập pháp chỉ quán để giúp cho bậc trung
cơ (Thinh Văn cơ và Duyên Giác cơ). Dùng pháp
cầu sanh Tịnh Độ để giúp cho bậc thượng cơ (Bồ
Tát cơ). Cơ đầu là những chúng sanh nhiều nghiệp
chướng. Cơ bậc trung là phàm phu, nhị thừa". Thế
thì biết pháp môn Tịnh Độ là pháp tu của bậc Đại
Thừa Bồ Tát. Nghĩa lý bao trùm tổng kết văn
trên. Chữ "Tội lỗi" là những người khinh chê
kinh này, tức là khinh chê các kinh Đại Thừa mắc
tội vô lượng.
SỞ BI GIAI PHẨM
(phân ra làm hai phần)
1. Liệu giản (So
chọn)
2. Tổng thâu (Tóm
thâu)
1. LIỆU GIẢN
Chánh Văn:
Đã biết kinh Di Đà
đây
văn dón, nghĩa đủ, lời gần, ý xa. Nhưng chưa rõ
nó sẽ giúp cho căn khí nào và có bao nhiêu từng
bậc?
Trước nói về cách
(Liệu Giản) là so chọn để phân biệt, thì ban đầu
(kế sau là giai cấp) là ba hạng người không phải
căn khí: 1. Người vô tín; 2. Người vô nguyện; 3.
Người vô hạnh; trái lại, đều là người có căn khí
(căn cơ).
Chú Giải:
Trước nói căn khí có phải, có quấy. Sau phân
biệt giai cấp, có thắng (hơn), có liệt (thua),
cốt yếu là muốn cho chúng sanh biết, đặng buông
quấy, theo phải, bỏ liệt, dùng thắng.
Tín là tin rằng
chúng sanh với Phật không hai; chúng sanh niệm
Phật chắc đặng vãng sanh, rốt ráo thành Phật.
Như trong kinh đã nói: "Các ngươi đều phải tin
theo lời ta". Phải vậy!
Nguyện là vì tin
đây không phải chỉ tin suông. Mà phải như con
nhớ mẹ, nhìn theo trìu mến, quyết muốn vãng sanh
như trong kinh đã nói: "Nên phải phát nguyện,
nguyện sanh về quốc độ kia". Thật thế!
Hạnh là vì nguyện
không phải chỉ nguyện suông, cần phải thường
hành tinh tấn, mỗi niệm nối nhau không gián
đoạn. Như trong kinh đã nói: "Phải chấp trì danh
hiệu để niệm cho được nhứt tâm bất loạn". Thật
vậy.
Ba việc nầy gọi là
"ba món tư lương"; tư lương chẳng đủ, không mong
gì đi tới trước. Lại nữa ba món này như cái đỉnh
có ba chơn. Hoặc đều không, hoặc có một thiếu
hai; hoặc có hai thiếu một, đều không thể đứng
vững được.
Lại dùng lời dụ để
rõ: Ví như với năm giống lúa, người không tin là
không tin ngay nơi hột giống lúa nầy, là bây giờ
trồng bón giống đây, chắc sau đặng thành lúa.
Người có tín mà
không nguyện: Tuy có biết giống tốt mà không có
tâm mong cầu gì đến lúa. Người có nguyện mà
không hạnh: Tuy có mong cho được lúa, mà không
cần mẫn cày cấy. Với ba món này, hoặc toàn
không, hay lẫn thiếu một hoặc hai; xét theo văn
nói trên, nên biết (là không được).
Ba hạng người này,
đều tỷ dụ như món đồ hư bể, không đựng được pháp
vị cam lồ nên gọi là Phi Khí.
Lại nữa, người đời
tuy làm các việc từ thiện, nhưng đối với cõi
Phật kia, họ không có Tín, Hạnh, Nguyện, cũng
gọi là hạng người Phi Khí. Mặc dầu người có tội
lỗi, nhưng đối với cõi Phật kia có đủ Tín, Hạnh,
Nguyện cũng gọi là người phải căn khí.
Với câu "Trái lại
đều là căn khí", như văn sau sẽ nói rõ.
Chánh Văn:
Trong những món đồ phải căn khí lại còn tùy mỗi
căn cơ mà có ra từ "Bối" từ "Phẩm" thành ba,
thành chín; chín lại nhơn chín; ba lại nhơn ba,
phân tích nhiều lần từ ngành ra nữa thì phải
nhiều đến vô lượng. Như trong hai bộ nói rõ.
Chú Giải:
Tiếp theo nói về giai cấp. "Bối" là trong kinh
Đại Bổn nói ba bối. Phẩm là trong Quán kinh nói
chín phẩm. Cho nên nói là ba, là chín.
Trong ba "bối", mỗi
"bối" có ba thì thành ra chín "bối".
Trong chín phẩm,
lại mỗi phẩm có chín thì thành tám mươi mốt (81)
phẩm. Bối đã không cùng. Phẩm cũng không tột thì
thành ra trăm nghìn vạn ức "Bối" và "Phẩm", cho
nên nói: "Cũng đến vô lượng".
Đối với cái lẽ: Đều
gọi tu niệm Phật, đồng được vãng sanh. Sở dĩ có
phân ra nhiều Bối, Phẩm như vậy là do giữa giới
tu niệm có sự, có lý, công hành trì hoặc trễ
hoặc siêng, thành thử tùy theo nhơn nào thì kết
quả nấy, nên với ngôi bực nó phải sai khác. Cho
nên kinh Niết Bàn nói: "Cũng một pháp thập nhị
nhơn duyên từng không hai pháp, nhưng mà người
bậc hạ trí quán tu thì được đạo quả Thinh Văn.
Người bậc trung trí quán tu thì được đạo quả
Duyên Giác; người bậc thượng trí quán tu thì
được đạo quả Bồ Tát. Người bậc thượng thượng trí
quán tu thì được đạo quả Phật".
Cũng như câu: "Đồng
một thức ăn trong một bát, chư thiên thọ dụng có
ngon dở khác nhau; cùng một dòng sông, 3 thú lội
qua có sâu cạn không đồng" (117) đâu có dối
được.
Vả lại ta tự phụ là
người lợi căn (sáng suốt), nghe nói pháp niệm
Phật, hoặc đem lòng khinh dễ, đâu biết Bối và
Phẩm có cao có thấp là cốt ở nơi người mà thôi.
Nếu quyết không niệm Phật thì phần ngu dốt để
lại cho người vậy. Còn kẻ hiếu kỳ ỷ giỏi, xin
bình tâm suy nghĩ lại!
2. TỔNG THÂU
Chánh Văn:
Tổng thâu là cứ niệm danh hiệu Phật ắt được vãng
sanh về nước kia: Thì ra hoặc cao, thấp, hoặc
thánh, phàm; cho đến hoặc tin, nghi, khen, chê,
miễn biết có đức Phật kia là thành được thiện
căn rồi, dù lâu đến nhiều kiếp, nhiều đời, đều
nhờ đó sẽ được giải thoát.
Chú Giải:
"Hoặc cao, hoặc thấp" là do sanh phẩm thượng
liền được quả Phật, còn sanh ở phẩm hạ, phước
cũng hơn cung trời (118).
Thế thì phẩm vị tuy
khác, nhưng cũng đều được bậc bất thối cả.
"Hoặc Thánh, hoặc
phàm" là dù hạng phàm phu đủ điều ràng buộc
(119) nhưng miễn được vãng sanh thời đồng ngôi
với các vị Bồ Tát cu hội một nơi rồi, thế nào
cũng sẽ thành quả Thánh. Đây là nói theo lối
thuận.
Dưới đây nói tin,
nghi, khen, chê gồm cả thuận và nghịch không một
hạng nào mà chẳng được lợi ích.
Hỏi: Người tin,
người khen được như thế là phải, còn người nghi,
người chê vì sao cũng nói có căn lành?
Đáp: Ông Thường Bất
Khinh Bồ Tát thọ ký cho mỗi người được làm Phật.
Người nghi không tin đến nỗi đánh mắng ông, nhơn
đó chúng bị đọa vào địa ngục. Từ trong địa ngục
ra rồi, rốt cuộc cũng được thành đạo. Đây đâu
chẳng phải đánh, mắng là từ nghi sanh ra? Nghi
từ biết sanh ra? Biết từ nghe sanh ra? Vì nghe
biết có Phật rồi mới sanh nghi. Nếu không nghe
biết thì nghi từ đâu mà có? Nhơn vì nghe biết
thì một chữ Phật, đã chứa trong tạng thức, như
gieo giống xuống đất bỗng gặp mưa, sương thấm
nhuần sẽ có ngày nứt mầm, mọc mộng. Người chê
Phật cũng nghĩa như thế. Nên nói hễ biết có Phật
đều thành thiện căn, rồi rốt cuộc cũng được giải
thoát; nếu không nghe, không biết thì không
thành hột giống lành.
NĂNG THUYÊN THỂ
TÁNH (Phân ra làm bốn phần)
1. Tùy tướng: Theo
tướng văn tự....
2. Duy thức: Chỉ có
thức biến...
3. Qui tánh: Đều về
tự tánh...
4. Vô ngại: Sự lý
vô ngại...
1. TÙY TƯỚNG
Chánh Văn:
Đã biết kinh Di Đà này trùm khắp các cơ, nhưng
chưa rõ lý năng thuyên lấy gì làm thể tánh? Y
theo xưa lần lượt chia ra làm mười môn. Xét tận
gốc, tóm lại thành bốn môn. Trước nói Tùy tướng,
trong ấy lại chia ra làm hai:
1. Thinh, Danh, Cú,
Văn.
2. Nghĩa sở thuyên.
Do vì văn với nghĩa
đều thuộc về tướng văn tự.
Chú Giải:
Lần lượt chia ra mười môn (121) rõ thấy trong
lời Huyền Đàm của kinh Hoa Nghiêm. Ngài Khuê
Phong đối trong ấy tóm ghép lại làm thành bốn
môn:
1. Thinh, Danh, Cú,
Văn, là cứ theo kinh giáo Đại thừa, Tiểu thừa,
hoặc có kinh dùng Thinh làm giáo thể; hoặc có
kinh dùng Danh, Cú và Văn thân để làm giáo thể.
Nay theo Ngài Thanh Lương đại sư dùng hết bốn
món. Lấy Thinh làm giáo thể; Danh là thứ lớp,
hàng ngũ để giải tự tánh của pháp; Cú là thứ lớp
sắp đặt để giải sự sai biệt của pháp; Văn là thứ
liên hợp, kết làm chỗ nương cho hai món trên.
Danh, Cú, Văn ba món đây tráo trở cho tiếng nói
hình dung tỏ rõ ra. Bởi chỉ có một Thinh thì
không thể giải rõ nghĩa được; còn riêng Danh,
Cú, Văn thì không có tự thể; cho nên gồm cả bốn
món nầy mới đủ làm giáo thể, do gồm cả giả,
thật, thể, dụng giúp nhau vậy.
2. Nghĩa sở thuyên
là: Thinh, Danh, Cú, Văn bốn món này nếu không
có nghĩa gì để làm chỗ sở thuyên (bị nói) thì
đồng như thiên vận (122) suông, chớ không có ý
vị chi cả. Còn nếu chỉ có nghĩa suông mà không
có văn tự thời lý mầu do đâu để được hiển bày.
Bởi thế cho nên văn tự tùy theo nghĩa, nghĩa tùy
theo văn tự. Văn nghĩa lẫn giúp mới thành giáo
thể.
Vì vậy cho nên kinh
này từ câu "Như thị ngã văn" đến câu "Tác lễ nhi
thối", đó là cái thể của Thinh, Danh, Cú, Văn mà
trong đây nói những y báo, chánh báo, tín,
nguyện, vãng sanh v.v... là những nghĩa sở
thuyên vậy. Dùng cả hai món này (văn nghĩa)
nương lẫn nhau để làm giáo thể.
Chánh Văn:
Lại nếu cứ mỗi pháp để hiển nghĩa thì không một
pháp nào không phải là Phật sự, như cơm thơm,
hào quang v.v... Nên biết mỗi pháp đều làm giáo
thể được cả.
Chú Giải:
Pháp hay hiển nghĩa thì mỗi pháp tự bày, chẳng
đợi văn tự. Như kinh Hoa Nghiêm nói đ
ài
mây, lưới báu, mao khổng (lỗ chơn lông) hào
quang đều có thể thuyết pháp cả. Kinh Tịnh Danh
nói có thế giới Phật dùng cơm thơm làm Phật sự
(123), có thế giới Phật dùng hào quang làm phật
sự, cho đến một sắc, một cử, một động, không có
một pháp nào mà không phải Phật sự v.v... Nay
kinh Di Đà này thì nước, chim, cây, rừng, đều
diễn tiếng pháp (pháp âm) vi diệu. Thế thì tùy
lấy một pháp mà dùng cũng đều thành giáo thể cả.
2. DUY THỨC
Chánh Văn:
Duy thức là văn đây, nghĩa đây đều do thức biến
hiện mà có bổn ảnh cả bốn câu.
Chú Giải:
Bốn câu là:
1. Duy có bổn chất,
không có ảnh tượng (124) tức là Tiểu Thừa giáo.
Vì hàng Tiểu Thừa không biết giáo pháp đều do
thức biến hiện nên nhận rằng đức Như Lai có
thuyết pháp.
2. Cũng bổn chất,
cũng ảnh tượng, tức là Thỉ giáo. Vì do đức Phật
tự diễn giảng nào văn, nào nghĩa đều từ nơi Diệu
Quán Sát trí (125) của tịnh thức thứ sáu hiện ra
gọi là "bổn chất giáo" (126). Người nghe thì từ
trên thức biến ra nghĩa, gọi là "ảnh tượng giáo"
(127). Vì chư Phật và chúng sanh lẫn nhau làm
tăng thượng duyên (128).
3. Chỉ có ảnh
tượng, không có bổn chất, tức là Chung giáo. Vì
lìa tâm chúng sanh, thì không có Phật, duy dùng
lòng đại bi, đại trí làm tăng thượng duyên,
khiến trong tâm chúng sanh căn cơ đã thuần thục
kia, hiện ra Phật thuyết pháp. Thế nên Phật giáo
toàn là ảnh tượng trong tâm chúng sanh.
4. Không phải bổn
chất, không phải ảnh tượng, tức là Đốn giáo.
Chẳng những ngoài tâm không Phật, mà ảnh tượng
trong tâm chúng sanh cũng không; do vì chơn tánh
vốn dứt hẳn văn tự, ngôn thuyết, tức là giáo mà
không có giáo. Như câu: "Tôn giả (Tu Bồ Đề),
không thuyết pháp; tôi (Đế Thích) cũng không
nghe" (129). Kẻ thuyết và người nghe đều không,
chỉ có duy thức mà thôi. Nên lấy thức làm giáo
thể vậy.
Nay kinh này căn cứ
theo hai giáo Chung và Đốn thì trong tâm chúng
sanh ưa xuất ly cõi khổ, tự trong tâm thấy có
Phật giảng thuyết nào y báo, chánh báo, tín,
nguyện, vãng sanh, Cực Lạc mà kỳ thuật không
thuyết, không nghe, nên dùng thức làm giáo thể.
3. QUI TÁNH
Chánh Văn:
Qui tánh là trước lấy môn cảnh nơi sở biến để
qui về tám thức nơi năng biến. Nay đem tám thức
sở hiện qui về nhứt tâm năng hiện. Thế là lấy
tánh làm giáo thể.
Chú Giải:
Nhứt tâm là gì? Tức là tự thể Chơn Như. Vậy từ
Chơn Như đây lưu xuất ra các giáo pháp nên hội
các tướng về một tánh (Chơn Như). Thời chỗ gọi
rằng: Phần Trùng Tụng vẫn Chơn Như, phần Thọ Ký
cũng Chơn Như, luôn 12 phần giáo tất cả đều Chơn
Như. Sắp về trên lần lựa xét tầm giáo lý chơn
thật, rốt ráo tột đến nơi đây. Ví như cảnh vật
không lìa chiêm bao, chiêm bao không lìa người
ngủ.
Lời Sớ kinh Viên
Giác nói: "Chúng sanh và giáo pháp vốn không.
Tất cả duy có thức biến; thức lại như huyễn
thuật, như mộng mị, chỉ là nhứt tâm". Thế là
dùng tự tâm làm giáo thể.
Nay kinh này, Y,
Chánh, Nguyện cả các pháp, nào văn, nào nghĩa
rốt ráo đều về lý "Nhứt Tâm Chơn Như". Cho nên
bực cổ đức nói: "Các kinh đại thừa đều dùng một
"Thật Tướng" để ấn chứng làm giáo thể của kinh".
Kinh này dùng "nhứt tâm bất loạn" tức là Thật
Tướng tức là Chơn Như. Thế thì hiệp lại hai môn
(Tùy Tướng, Duy Thức) trước lại hội qui về Nhứt
Tâm để làm giáo thể.
4. VÔ NGẠI
Chánh Văn:
Vô ngại là Tâm, Cảnh, Sự, Lý vốn tự thông suốt
lẫn nhau. Cảnh và Sự gọi là Tùy Tướng. Tâm là
Duy Thức. Lý là qui tánh, đều giao triệt với
nhau.
Chú Giải:
"Giao triệt" là do một tâm vẫn có; hai môn là
sanh diệt và Chơn Như, vì Chơn Như tức là sanh
diệt, cho nên Lý nó không ngại gì với Sự, cảnh
và tâm sanh diệt tức là Chơn Như, cho nên Sự,
Tâm và Cảnh không ngại gì với Lý.
Nay kinh nầy nói
Tâm tức là Độ, thời vẫn một niệm vô vi mà không
ngại gì với Ao, Lầu, Chim, Cây khắp bày, bủa
giăng, hễ chúng sanh tin ưa, tùy nguyện vãng
sanh. Độ tức là Tâm thì đủ cả thất bảo trang
nghiêm mà cũng không ngại với toàn thể không
tịch (vắng lặng), chẳng dính mắc một mảy trần,
thật không có chúng sanh, sanh về nước kia. Thế
là dùng cả tâm, cảnh, sự, lý dung nhiếp lẫn nhau
làm giáo thể.
TÔNG THÚ CHỈ QUI
(phân ra làm ba phần):
1. Tổng trần (Chung
bày tông thú)
2. Dị giải (Giải
riêng tông thú)
3. Chánh ý (Chính
tông thú kinh nầy)
1. TỔNG TRẦN
Chánh Văn:
Đã biết kinh đây về cái thể Năng Thuyên của nó
bao trùm như thế, nhưng chưa biết chỗ tông thú
của kinh như thế nào? Luận rằng: Chỗ trọng của
lời nói gọi là tông, chỗ qui về nơi tông gọi là
thú, nhưng có Thông (chung) và Biệt (riêng).
Luận về Thông thời Phật giáo lấy chữ nhơn duyên
làm Tông. Biệt, thời y theo xưa chia ra mười môn
(130): 1. Từ môn "Ngã pháp cu hữu" đến môn thứ
mười là "Viên dung cụ đức". Sau lại sau; trước;
thứ lớp có cao và thấp, cho nên kinh nào cũng
đều có Tông và Thú.
Chú Giải:
"Trọng" là chuộng. Vì thánh nhơn lập giáo lời lẽ
trong một bộ kinh, chuộng trọng về chỗ nào thì
chỗ chuộng trọng ấy là Tông. Qui là
đến,
đến chỗ lập ra Tông (lập trường) đây để cầu việc
gì? Xét chỗ về đến của Tông gọi là Thú.
Nhơn duyên là lựa
khác với không nhơn và tà nhơn. Giáo pháp của
đức Phật nói ra trong 49 năm không ngoài hai chữ
"nhơn duyên". Như nói: "Vì nhơn duyên nên sanh
diệt; vì nhơn duyên nên tức không, vì nhơn duyên
nên tức giả, vì nhơn duyên nên tức trung". Vậy
biết với tông chỉ của Phật giáo duy có hai chữ
"nhơn duyên" đã bao gồm hết cả nên gọi là Thông
(phần chung).
Mười môn là:
1. Tông "Ngã pháp
cu hữu". Trong chấp có ngã ngoài chấp có pháp
(131) gọi là tông của ngoại đạo nương theo Phật
Pháp (132).
2. Tông "pháp có,
ngã không" thời khác với ngoại đạo, tức là tông
của Tiểu Thừa.
Do đây từ trước đến
sau; từ thấp đến cao, nhẫn đến tôn thứ mười là
"viên dung cụ đức". Mười môn phân biệt rõ đủ
trong lời Huyền Đàm kinh Hoa Nghiêm. Nếu tóm lại
thời thành năm môn, song không ngoài những Tông:
Hữu, Vô, Pháp Tướng, Pháp Tánh và Viên Dung.
Nay kinh nầy tôn
trọng về Pháp. Do y báo, chánh báo, tín, nguyện,
vãng sanh về Tịnh Độ v.v... đều qui về Lý Nhứt
Tâm. Vì nhứt tâm bất loạn tức là pháp tánh.
DỊ GIẢI
Chánh Văn:
Kinh Di Đà
đây
xưa có nhiều nhà giải; có nhà nói dùng Tín,
Nguyện làm Tông; có nhà nói vượt khỏi ba cõi,
hai món đều thanh tịnh làm Tông, khiến cho chúng
sanh đặng quả vị "bất thối chuyển" là Thú.
Chú Giải:
Tín, Nguyện làm Tông là các nhà giải phần nhiều
đồng ý với nghĩa đây. Do vì trong kinh thường
nói: "Nếu có người tin, nên phải phát nguyện,
nguyện sanh về cõi nước kia".
Hai món thanh tịnh
là gì? Như trong luận nói: "Cực Lạc thế giới, y,
chánh hai báo (133) thanh tịnh trang nghiêm,
chẳng phải y, chánh hai báo trong ba cõi nầy bì
kịp" nên lấy hai món thanh tịnh đây làm Tông, mà
cốt yếu chỗ về của nó là vì khiến cho chúng sanh
sanh về cõi nước Cực Lạc thanh tịnh kia. Sanh về
nước kia rồi liền đặng quả vị Bất Thối Chuyển.
Lấy đây làm Thú.
CHÁNH Ý (phân ra
làm hai phần):
1. Tổng cử: Tông
thú chung của kinh nầy.
2. Biệt minh: Tông
thú riêng của kinh nầy.
TỔNG CỬ
Chánh Văn:
Kinh đây trọng về Pháp Tánh, với trong Pháp Tánh
lại chia có Tổng và Biệt, gồm hiệp chung lại thì
là "Y chánh thanh tịnh" và "Tín, Nguyện vãng
sanh" lấy đó làm Tông Thú.
Chú Giải:
Dùng cả hai thuyết trước, hiệp lại thuyết sau để
nói đó, chung làm Tông Thú vì thuyết trước không
gồm y báo, chánh báo, thuyết sau chưa rõ Tín,
Nguyện, nên phải hiệp chung lại mới khỏi thiếu
sót. Bởi vì do cả y, chánh, tín, nguyện, gồm
giúp lẫn nhau mới được vãng sanh mà cũng không
ngoài một cái tự tâm.
Chung làm Tông Thú
là gì?
So theo như kinh
Hoa Nghiêm vì kinh kia cũng gồm chung cả các
thuyết "nhơn quả, duyên khởi" và "Thật lý pháp
giới", lấy đó làm Tông và Thú. Nếu muốn phân ra
thì câu trên làm Tông, câu dưới làm Thú; nghĩa
cũng tự rõ. Bằng muốn thêm thì kinh Hoa Nghiêm
kia thêm câu "bất tư nghì", kinh Di Đà
đây
cũng thế.
BIỆT MINH
Chánh Văn:
Lại phân biệt mà nói, thì thành năm pháp đối:
1. Giáo nghĩa; 2.
Sự lý; 3. Cảnh hạnh; 4. Hạnh tịch; 5. Tịch dụng.
Dùng làm Tông và
Thú, (mỗi một đối là một tông thú, cả 5 đối là 5
tông thú).
Chú Giải:
Một: "Giáo nghĩa một pháp đối" là sao? Là dùng
Giáo làm Tông, để cho rõ Nghĩa làm Thú. Nói cái
giáo tôn trọng pháp niệm Phật vãng sanh đây, ý
đó ra sao? Chính là vì muốn cho chúng sanh hiểu
rõ lời nói trong kinh đây là, y báo, chánh báo
của Phật A Di Đà rất thanh tịnh trang nghiêm,
đặng sanh lòng tin niệm Phật và phát nguyện sẽ
được sanh về nước kia. Trong kinh giáo có nghĩa
như thế, đó là Thú; chớ không phải chỉ là ngôn
ngữ văn tự suông mà thôi.
Hai: "Sự lý một
pháp đối" là gì? Là dùng Sự làm Tông, khiến
người ngộ Lý làm Thú. Nương nơi văn trên lời nói
dạy trong một bộ kinh đều ước về nghĩa sở
thuyên, mà trong nghĩa ấy lại có sự và lý. Rằng
tôn trọng những sự y báo, chánh báo, tín, nguyện
v.v... ý đó ra sao? Chính là muốn rõ bày trong
sự có đủ lời chí lý, đó là Thú; chớ không phải
chỉ nói những tích sự duyên suông mà thôi.
Ba: "Cảnh và Hạnh
một pháp đối" là gì? Dùng Cảnh làm Tông, khiến
ra Hạnh làm Thú. Cảnh tức là Lý sở quán, đối với
trí năng quán nên gọi là cảnh. Nói "tôn trọng lý
đây", ý đó ra sao? Đã biết tự tánh sẵn có Phật
Di Đà, nơi tâm vốn có cõi Tịnh độ, chính muốn
tức nơi đó dùng làm chơn cảnh mà khởi ra quán
hạnh, chấp trì danh hiệu để niệm đến nhứt tâm
bất loạn, đó là Thú; chớ không phải chỉ thông
hiểu suông lý đấy mà thôi.
Bốn: "Hạnh Tịch một
pháp đối" là gì? Dùng hạnh làm Tông, khiến đến
chỗ không tịch làm Thú. Nay tôn trọng pháp niệm
Phật và quán hạnh đây ý nó ra sao? Bởi do tâm
thể ta tuy vắng lặng, nhưng huân tập thói nhiễm
ô nhiều đời, nên nay hễ chạm cảnh thì sanh tình,
nếu không tu quán hạnh thì dầu miễn cưỡng, dằn
ép vọng tâm, rốt cuộc không phải là
đắc
pháp định huệ bình đẳng (134). Nay y pháp chánh
quán và chấp trì danh hiệu, đến chỗ nhứt tâm
thời trở lại cái bản thể Không Tịch; đó là Thú;
chớ chẳng những làm cái vọng kế có tạo tác mà
thôi.
Năm: "Tịch Dụng một
pháp đối" là gì? Dùng bản thể Không Tịch làm
Tông, khiến sanh trí diệu dụng làm Thú. Nói tôn
trọng cái thể vắng lặng đây, ý nó ra sao? Bởi vì
vọng tưởng chấp trước không do đâu được giải
thoát, nay chuộng cái vắng thì vọng hết, tâm qui
nhứt, tịch tịnh đến cùng tột, tâm thể sáng suốt.
Dụ như bụi hết, gương sáng, hình ảnh nào mà
không chiếu hiện? Chỗ gọi rằng: Đã sanh về nước
kia, chứng đặng vô sanh nhẫn, rồi trở vào đường
sanh tử, dùng vô số phương tiện, làm Phật sự lớn
lao diệu dụng độ thoát chúng sanh rất nhiều đó
là Thú, chớ không phải chỉ đắm chấp nơi chỗ vắng
lặng suông mà thôi.
Như vậy mười môn
lần lựa sanh khởi làm Tông và Thú.
BỘ LOẠI SAI BIỆT
(phân ra làm ba phần)
1. Minh bộ (Đồng bộ
với kinh nầy)
2. Minh loại (Đồng
loại với kinh nầy)
3. Phi bộ phi loại
(chẳng phải bộ loại nhưng cũng niệm Phật)
1. MINH BỘ
Chánh Văn:
Đã biết kinh Di Đà
đây,
Tông Thú rộng sâu, nhưng chưa biết đồng với bộ
nào, loại nào và có mấy thứ? Trước nói rõ về bộ.
Bộ có hai thứ:
1. Đại bổn; 2. Kinh
Di Đà này.
Chú Giải: Bộ
là các bổn đồng qui về một bộ, mà văn nghĩa có
rộng và hẹp. Rộng là kinh Đại Bổn, hẹp là kinh
đây (Di Đà).
Đại bổn có sáu tên:
1. Vô Lượng Bình
Đẳng Thanh Tịnh Giác kinh; đời Hậu Hớn, ngài Chi
Lâu Ca Sấm dịch (135).
2. Vô Lượng Thọ
kinh; đời Tào Ngụy, ngài Khương Tăng Khải dịch.
3. A Di Đà kinh
đồng một tên với kinh đây; đời Ngô, ngài Chi
Khiêm dịch.
4. Vô Lượng Thọ
Trang nghiêm kinh; đời Tống, ngài Pháp Hiền
dịch.
5. Rút trong kinh
Bảo Tích, quyển thứ 18, tên là Vô Lượng Thọ Như
Lai Hội; đời Đường, ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch.
6. Tên Phật Thuyết
Đại A Di Đà kinh; đời Tống, huyện Long Thơ, cư
sĩ Vương Nhựt Hưu, tóm rút của bốn nhà dịch
trước, so sánh làm một bộ, duy trừ bộ Bảo Tích,
ông chưa kịp xem.
Song năm nhà dịch
trên, lẫn nhau có khác và
đồng,
như: đời Hán, đời Ngô hai nhà dịch ấy, với 48
lời nguyện, chỉ còn phân nửa là 24 thôi, còn bao
nhiêu lời văn đại đồng, tiểu dị (phần lớn đồng
nhau, chỉ khác là phần nhỏ).
Ông Vương Nhựt Hưu
chung lấy văn của năm nhà dịch, so sánh lấy chỗ
giản dị và rõ ràng, lưu thông đời nay, lợi ích
rất lớn. Nhưng ông không theo bản chữ Phạm, chỉ
châm chước theo văn Tàu nên chưa đúng phép dịch.
Phải chi ông dùng bản chữ Phạm để dịch lại thì
thành sáu nhà dịch, không ai phê bình được. Vì
thế, nên ông không nói dịch mà chỉ nói giảo
chánh thôi. Lại trong đó có chỗ bỏ chỗ dùng, ông
theo văn xưa, nhưng cũng có chỗ lấy chưa hết.
Như ba bực vãng
sanh, theo bản dịch đời nhà Ngụy, đều nói "Phát
Bồ Đề tâm" mà Ông Vương Nhựt Hưu chỉ nói bậc
trung mới phát Bồ Đề tâm, bực hạ không phát, bậc
thượng hoàn toàn không nói đến. Thế thì trên
dưới mất thứ lớp. Vả lại trong văn, nói: "Người
có nhiều thiện căn là hoàn toàn chỉ cho người
phát tâm Bồ Đề". Ba bực tuy không đồng, nhưng
vẫn đồng một điều là có phát tâm ấy, làm điểm
chính của sự vãng sanh, thế mà ông lại bỏ đi,
nên nói ông có chỗ lấy chưa hết.
Song nay giải lời
Sớ Sao kinh này, với chỗ viện dẫn, về nghĩa thì
gồm thâu cả năm nhà dịch, về lời lẽ thời phần
nhiều theo văn của ông Vương Nhựt Hưu, bởi vì
bản dịch của ông ấn hành được lưu thông, người
đời thường dùng, ai ai cũng quen thấy. Còn năm
bản kia chỉ rút chút ít, phần đại khái thì lấy
kinh Đại Bổn làm mục tiêu. Nên với cả sáu món
trên, đều gọi là ĐạI Bổn, kinh Di Đà
đây
kêu là Tiểu Bổn. Dù văn có nhiều và ít, chớ
nghĩa không hơn không kém, nên cho thuộc về đồng
bộ.
2. MINH LOẠI
Chánh Văn:
Minh loại là gì? Nó có ba thứ: 1. Quán kinh; 2.
Cổ Âm Vương kinh; 3. Hậu Xuất A Di Đà Kệ kinh.
Chú Giải: Loại là gì? Loại nghĩa là không
đồng bộ, nhưng đồng một loại. Thí dụ như anh em
chú bác, tuy không đồng một cha mẹ, mà
đồng
một ông nội, bà nội, cũng gọi là anh em ngang
vai, anh em ngang hàng, nên nói là
đồng
loại.
Quán Kinh là gì?
Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật nói đủ 16 pháp diệu
quán và nhứt tâm tam quán, rõ như lời Sớ Sao của
bổn kinh ấy nói.
Khi Phật ở tại
Chiêm Ba Đại Thành, nơi ao Dà Dà Linh, cùng với
100 thầy Bí Sô nói kinh Cổ Âm Vương. Trong kinh
ấy nói: "Nếu có bốn chúng thọ trì danh hiệu của
Phật A Di Đà, đến khi mạng chung, sẽ được Phật
và Thánh chúng tiếp dẫn vãng sanh" v.v...
Kinh Hậu xuất Kệ là
kinh gì? Kinh nầy từ đầu chí cuối, chỉ toàn là
nói bằng kệ (136) nên gọi là bộ Dà Đà. Trong bộ
ấy nói: "Người phát nguyện dụ như chư Phật"; mà
với 48 lời thệ nguyện, chỉ còn phân nửa là 24
lời nguyện, cũng đồng với hai nhà dịch đời Ngô,
đời Hớn. Nhưng 48 lời nguyện từ xưa đến nay
tuyên truyền đã lâu; 24 lời nguyện ấy hoặc là
bản chữ Phạm đứt, thiếu cũng chưa biết chừng?
Có người hỏi: "Kinh
cổ Âm Vương cũng nói trì danh, vì sao không đồng
bộ với kinh nầy?"
Đáp: Do vì lời chú
kinh kia tuy cũng có nói pháp trì danh, nhưng mà
trọng về pháp trì chú hơn.
3. PHI BỘ PHI
LOẠI
Chánh Văn:Xét,
rõ "phi bộ phi loại" là những bổn kinh không
phải đồng bộ và
đồng
loại, nhưng cũng nói kèm về pháp môn Tịnh Độ như
kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp Hoa và Luận Khởi Tín
v.v... Lại dầu không phải bộ loại, nhưng mà
trong ấy cũng nói về pháp chuyên trì danh hiệu
như kinh Văn Thù Bát Nhã.
Chú Giải:
"Cũng có nói kèm" là gì? Ngoài những kinh đồng
bộ đồng loại ra, còn có những kinh tuy không
chuyên nói về pháp môn Tịnh Độ, nhưng trong ấy
cũng có nói đến lời khuyến tán vãng sanh Tịnh
Độ, như kinh Hoa Nghiêm phẩm Hạnh Nguyện đã nói
mười lời đại nguyện lớn và rốt sau lại nói cũng
do mười nguyện chúa ấy, để dẫn dắt về nước Cực
Lạc ấy vậy.
Trong kinh Pháp Hoa
nói: "Người nào tụng kinh này (Pháp Hoa) khi
mạng chung (chết) sẽ được sanh về thế giới Cực
Lạc của Phật A Di Đà". Thật vậy, về Luận Khởi
Tín, như trong khoa Giáo Khởi trước đã nói, hai
chữ vân vân (v.v..) là: Như kinh Quán Phật tam
muội, kinh Thập Trụ về đoạn kết và các kinh đều
có nói đến pháp môn Tịnh Độ trùng trùng không
phải một như lời tạp dẫn trong văn sau sẽ rõ.
Với kinh Văn Thù Bát Nhã, cũng sẽ nói rõ trong
văn "chấp trì danh hiệu" sau.
Dịch Thích Tụng
Trì (phân ra làm 5 phần)
1. Minh dịch (nói
việc phiên dịch)
2. Minh thích (nói
việc giải thích)
3. Minh tụng (nói
việc tụng có ích)
4. Minh trì (nói
trì danh có linh nghiệm)
5. Kết khuyến (lời
kết để khuyên)
1. MINH DỊCH
Chánh Văn:
Đã biết kinh nầy, nào bộ, loại, rộng, nào hẹp,
đồng, khác với nhau như thế rồi, nhưng chưa biết
kinh này dịch về thời đại nào, có bao nhiêu nhà
dịch? Cho đến người chú thích mở rộng là ai?
Những người đọc tụng thọ trì có linh nghiệm gì?
Trước hết nói rõ có
hai nhà dịch: 1. Đời Dao Tần, ngài Tam Tạng Pháp
Sư Cưu Ma La Thập dịch bộ kinh "Phật Thuyết A Di
Đà" tức bộ kinh này.
Chú Giải:
Chữ Dao Tần, nghĩa là thuở đời Châu có nhà Dinh
Tần; Nam Bắc Triều có nhà Phù Tần và Dao Tần
(137). Nay nói Dao Tần là
để
phân biệt với Phù Tần và Dinh Tần kia.
Tam Tạng, tức là
người học thông ba tạng: tạng Kinh, tạng Luật và
tạng Luận, thêm giỏi cả tiếng Hoa (Tàu) tiếng
Phạm (Brahma) nữa.
Chữ "Pháp Sư" nghĩa
là người nhận lãnh được Phật pháp, diễn giảng
dạy bảo, làm mô phạm trong chúng.
Cưu Ma La Thập là
tiếng Phạm, đọc đủ là: Cưu-ma-la-kỳ-bà Thập; năm
chữ trên, dịch là "Đồng Thọ" (tuổi trẻ đức cao);
chữ Thập là người thông thạo các món văn tự của
phương đây (Tàu) hiệp cả Tàu và Phạm chung kêu
là "La Thập".
"Dịch" là
đổi.
Nghĩa là
đổi
tiếng Phạm thành tiếng Tàu, theo sách Châu Lễ
nói: ‘Chủ quản tiếng nói thuộc về bốn phương,
mỗi phương đều có ông quan thông thạo tiếng
phương ấy. Như ông quan phương Bắc nói là Dịch".
Do kinh nầy từ xứ Tây Thiên Trúc đem sang nước
Đông Độ mà nói rằng "dịch" là vì đời nhà Hớn ông
quan phía Bắc (nước Tàu) gồm thông cả tiếng Tây
Thiên Trúc nữa nên khi đức Ma Đằng bên Tây Trúc
mới đến Tàu, ông bèn gọi là "dịch". Nay cũng căn
cứ theo đây.
Xét bổn truyện của
ngài Pháp sư La Thập, chính là người nước Trung
Thiên Trúc. Cha Ngài tên là Cưu Ma La Viêm dòng
dõi làm chức Tướng Quốc (quan thừa tướng) lại bỏ
chức, đi du lịch qua nước Ku Che (Cưu Ty); Vua
nước ấy (138) đem gả em gái, sanh ra ngài. Khi
ngài vừa sanh sẵn có tinh thần sáng suốt; năm
lên bảy tuổi, một hôm theo mẹ vào chùa, thấy cái
bát bằng sắt ngài lấy đội thử lên đầu, thoạt
nghĩ: Bát này nặng quá làm sao ta đội nổi. Tức
thì bát ấy quá nặng bội phần, ngài không thể đội
được. Ngài liền tỏ ngộ được lý "vạn pháp duy
tâm", học rộng nhớ dai, không ai sánh kịp. Bởi
còn tuổi trẻ mà
đức
hạnh cao cả nên gọi là "Đồng Thọ".
Đã học thông ba
tạng từ phương Đông vua nước Ku Che (Cưu Ty).
Vua nầy mới lập pháp tòa sư tử bằng vàng mời
ngài ngồi lên thuyết pháp. Bấy giờ chúa Phù Kiên
chiếm lấy nước Tần, sắp đem binh qua đánh lấy
Tây Vức. Bỗng gặp quan Thái Sử vào tâu: "Bẩm
chúa thượng, tiểu thần xem thiên văn thấy hiện
một ngôi sao lạ bên Tây Vức, chắc có bậc đại đức
trí nhơn vào giúp Trung Quốc". Chúa Phù Kiên
nói: "Trẫm nghe bên nước Ku Che (Cưu Ty) có ngài
La Thập, phải chăng là ngôi sao ấy?" Rồi liền
sai tướng soái Lữ Quang (139) đi đánh nước Cưu
Ty. Khi sắp hành binh, chúa Phù Kiên bảo Lữ
Quang rằng: "Trẫm đây không phải ham muốn đất
đai mở rộng biên cương mà dùng binh đâu, chỉ vì
Trẫm nghe ngài La Thập là người hiểu sâu pháp
tướng của Phật, có thể làm giềng mối cho kẻ hậu
học. Nếu khanh đánh thắng được nước Cưu Ty rồi
phải lập tức chạy trạm để hộ tống đưa ngài La
Thập về đây cho Trẫm gấp".
Bấy giờ, Lữ Quang
chiến thắng nước Cưu Ty, bèn chở ngài La Thập
về. Nhưng đi mới nửa đường nghe tin chúa Phù
Kiên bị Dao Trành làm hại, nên Lữ Quang không về
nước mà ở lại Lương Châu. Ngài La Thập vì thế
nên không được đến nước Tần.
Sau Dao Trành cũng
nghe danh tiếng ngài qua thỉnh, nhưng Lữ Quang
không cho. Dao Trành chết, con Dao Trành là Dao
Hưng cố thỉnh, song Lữ Quang cũng không cho.
Nhơn đó Dao Hưng cử binh đi đánh, cháu Lữ Quang
thua, đầu hàng nước Tần. Bấy giờ mới rước được
ngài La Thập vào ải, tôn kỉnh ngài lên làm chức
Quốc Sư.
Ngài xem kinh cũ,
nghĩa phần nhiều sai lạc, không hiệp với bổn chữ
Phạm. Ngài bèn triệu tập các thầy sa môn như ông
Tăng Triệu, Tăng Duệ, tất cả hơn 800 người, mới
dịch ra kinh, luận trên 390 quyển đều thấu suốt
nguồn tâm, mở bày lý nhiệm.
Trước khi sắp tịch,
ngài nhóm chúng lại nói: "Tôi nguyện những kinh
của tôi dịch, lưu truyền đời sau được thông dụng
khắp cả, nay đối truớc chúng, tôi phát lời thệ
thành thật: Nếu kinh sách của tôi dịch không sai
lầm thì sau khi đốt thân, cuống lưỡi tôi không
cháy nát".
Ngài tịch ở đất
Trường An, nhằm niên hiệu Hoằng Thỉ, năm thứ 11
(140) tháng 8, ngày 20. Sau khi làm l trà tỳ,
củi cháy hết, xác ngài tiêu, mà cuống lưỡi vẫn
còn nguyên vẹn như lúc sống.
Nay kinh này ngài
La Thập dịch, cuống lưỡi không hư, cùng với chư
Phật tướng lưỡi rộng dài để khen ngợi kinh đây,
hiệp lại mà quán xét thì lời Phật nói thật không
sai; do nơi đây lại càng thêm tin.
Chánh Văn:
Hai: Kinh "Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ", đời
Đường, ngài Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang dịch.
Hai kinh hiệp lại
so sánh, phần lớn đồng nhau, chỉ khác chút ít,
người đời yêu chuộng phần nhiều đều theo bản nhà
Tần.
Chú Giải:
Ngài Huyền Tráng pháp sư nguyên là con nhà họ
Trần, người ở huyện Hầu Thị, xuất thân tại châu
Lạc Dương, đời nhà Đường (141). Thuở nhỏ gặp
nhiều hoạn nạn theo anh trưởng là ông Kiến pháp
sư xuất gia ở chùa Tịnh Trụ. Năm lên 11 tuổi
tụng kinh Duy Ma và Pháp Hoa bỗng nhiên giác ngộ
(phát huệ) người đời không ai sánh kịp. 21 tuổi
giảng bộ Tâm Luận, không cần xem văn tự mà nói
thông như nước chảy. Người đời tặng ngài là Thần
Nhơn (người hay nhứt).
Hoàng hiệu Trinh
Quán năm thứ ba (142) ngài qua Tây Vức (Ấn Độ)
thỉnh kinh, gặp đủ mọi sự nguy hiểm, đường gian
nan, trải qua một trăm năm mươi nước mới đến
nước Xá Vệ (143) thỉnh hơn 600 bộ kinh.
Đến năm hoàng hiệu
Trinh Quán thứ 19, (144) trở về kinh đô nước
Tàu, ở tại đền Ngọc Hoa, phiên dịch kinh, luận,
tổng cộng 1.330 quyển.
Khi ngài đã già
bệnh, nằm thấy có bông sen trắng lớn và tướng
hảo của Phật. Ngài nằm nghiêng bên hữu, chồng
chơn lại mà tịch; xác để hai tháng mà diện mạo
như lúc còn sống (145).
Nhắc lại ngày
trước, khi ngài qua Tây Vức thỉnh kinh, ngài vỗ
cây tòng ở chùa Linh Nham, ngài thệ và dặn rằng:
"Ta đi qua phương Tây, ngươi cũng ngả về phương
Tây, lúc ta trở về phương Đông, ngươi cũng ngả
về phương Đông nhé". Dặn thế rồi Ngài đi thì cây
tòng y lời dặn của ngài, ngả về phương Tây dài
đến hai trượng. Một hôm bỗng nhiên nó ngả trở
lại phương Đông (146) đệ tử mừng nói rằng: "Thầy
sắp về!" Quả nhiên ngài về thật. Người đời gọi
cây Tòng ấy là "ma đảnh tòng" (147).
Xét lời thệ nguyện
của ngài chơn thật nên muốn chi được nấy, không
sai. Như vậy cuống lưỡi của ngài La Thập không
hư, cùng với tướng lưỡi rộng dài của chư Phật
vẫn đồng một ý. Nên với kinh ngài dịch đây, đâu
chẳng tin ư?
"Hiệp lại so sánh":
Là nghĩa hiệp trước sánh sau mà dịch trùng lại
vậy. Đại đồng, tiểu dị là tiếng Phạn có hơi khác
và lời nói có nhiều ít, như chữ Hằng Hà, có bổn
dịch là Căng Già (148) và sáu phương, hoặc nói
là mười phương chẳng đồng nhau. Nhưng đại ý vẫn
một (không trái nhau).
Phần nhiều theo bản
nhà Tần là kinh Pháp Hoa có ba nhà dịch, mà bản
dịch của nhà Tần thạnh hành hơn. Kinh này hai
nhà dịch cũng lại như thế.
2. MINH THÍCH
Chánh Văn:
Kế đây nói người giải thích kinh này. Về Luận
thì có ngài Thiên Thân Bồ Tát làm ra bộ Vô Lượng
Thọ Kinh Luận. Giải thì có ngài Từ Ân làm lời
Thông Tán, ngài Hải Đông làm lời sớ, ngài Cô sơn
làm lời sớ, cho đến ngài Đại Hựu làm bộ Lược
Giải v.v...
Chú Giải:
Ngài Thiên Thân Bồ Tát thường nhập pháp định
"Nhựt Quang" (149) lên nội viện cung trời Đâu
Suất tham bọc với đức Từ Thị (Di Lặc), rồi viết
ra bộ "Vô Lượng Thọ kinh Ưu Bà Đề Xá". Ưu Bà Đề
Xá Tàu dịch: Phân Biệt Nghĩa. Ngài Từ Ân pháp sư
tên là Khuy Cơ, cháu ông Uất Trì Kỉnh Đức; ngài
Huyền Tráng độ cho đi xuất gia, học thông kinh
Đại Thừa, Tiểu Thừa, làm lời sớ giải các kinh,
tính hơn 100 quyển. Giải bộ kinh "Di Lặc Hạ
Sanh", trong ngòi bút đặng 27 hột ngọc Xá Lợi.
Ngài có viết một quyển kinh "Di Đà Thông Tán" để
chỉ bày nghĩa cốt yếu Tây phương Tịnh Độ.
Ngài Hải Đông pháp
sư tên Nguyên Hiểu, sớ giải kinh nầy đại khái
căn cứ theo luận làm chủ. Ngài Cô Sơn Viên Pháp
làm lời sớ cả mười bộ kinh để lưu thông (15) mà
lời sớ kinh đây là một phần trong ấy.
Các ngài: ngài
Nghĩa Uyên, ngài Tịnh Giác, ngài Việt Khê
v.v..., nhiều ngài giải thích lắm nhưng mà phần
nhiều lạc mất. Đến đời nhà Nguyên, ngài Đại Hựu
pháp sư mới có làm bộ Lược Giải. Nay đây duy còn
những lời Sớ của ngài Hải Đông, ngài Việt Khê và
ngài Đại Hựu mà thôi.
Lâu đời, người mất,
kinh lạc giáo lờ, thành thử làm cho pháp môn
rộng lớn sâu xa như thế mà mỗi người không nhận
hiểu được, đâu không buồn ư?
Chánh Văn:
Hoặc luận những kẻ xa vâng ý Phật, mở rộng tôn
mầu, như là làm Luận làm Văn, làm Tập, làm Lục,
làm Truyện, làm Kệ, làm Phú, làm Thi, lẫn nhau
khen ngợi, số ấy không những số ức (151), đâu
chẳng đinh ninh khẩn cáo, cảm khái, bi ca,
khuyến cả chúng mê lưu đồng về con đường giác
ngộ. Vậy chúng ta một phen xem đến, đâu chẳng
ghi lòng!
Chú Giải:
Văn trước chỉ những người chú giải kinh này, văn
đây nói đa số người có những lời khen ngợi cõi
Tịnh Độ không thể biên đủ.
Làm Luận như các bộ
"Thập Nghi Luận", "Bảo Vương Luận" (152) v.v...
làm Văn như "Văn của Ngài Long thơ", "Văn của
Ngài Vô Tận" (153) v.v... làm Tập như "Tập Quyết
Nghi", "Chỉ Qui" v.v... Làm Lục như bộ "Tịnh Độ
Tư Tín" v.v... Làm Truyện như bộ "Tịnh Độ Lược
Truyện" v.v... làm Kệ như "Kệ Kỉnh Lộ Tu Hành"
v.v... (154) Làm Phú như bài "Thần Thê An Dưỡng"
(155) v.v... Làm Thi như "Thi Chư Gia Hoài Tịnh
Độ" (156) v.v...
"Cáo" mà nói rằng
"Khẩn" là lời chơn thành, trông mong ai nấy tín
thọ vâng lời làm theo.
"Ca" mà nói rằng
"Bi" là lời buồn thảm, hoặc vì quá cảm khích mà
thốt ra.
Chữ "lệ" cũng như
số "chẳng những số ức" là nói số quá nhiều không
thể dùng số ức để tính kể cho hết. Đây là bực
Hiền, Thánh khen ngợi pháp môn Tịnh Độ, ngàn vạn
lời không nhàm, lặp đi lặp lại nhiều lần, mục
đích muốn đem hết chúng sanh trong biển sanh tử
để về cõi Phật mà thôi.
Vậy chúng ta nay
phải mang ơn báo đức, khắc cốt ghi lòng, lần lữa
lưu thông, thay nhau khuyến dẫn. Nếu cứ cất kỹ
không xem, xem mà không tin, những hạng ấy chẳng
nói là lời dạy trẻ thơ, thời cũng nói là lý luận
ký ngụ (nhảm nhí). Những hạng như thế, thôi đ
ành
cam phận, chớ biết làm sao?
3. MINH TỤNG
Chánh Văn:
Kế nói sự lợi ích của người tụng kinh này như
"cuống lưỡi không hư, nhạc trời rước về Tịnh
Độ", vừa giải oan, vừa vãng sanh. Tụng chưa hết
quyển mà ngồi tịch; về Cực Lạc như vào Thiền
Định; khi chết thấy hoa sen trắng, đ
ài
bạc đổi thành đ
ài
vàng, nhạc dở qua rồi, nhạc hay tiến đến.
Chú Giải:
"Cuống lưỡi không hư" là: Trong bộ Trí Độ Luận
nói: Có vị bí sô tụng kinh Di Đà, khi sắp lâm
chung nói với các đệ tử rằng: "Có Phật A Di Đà
và các vị Thánh chúng đến rước ta kia". Sau khi
hỏa thiêu thân cháy mà cuống lưỡi không nám, sắc
tướng tự nhiên.
"Nhạc trời rước về
Tịnh Độ" là: Đời Tống, ông Đường Thế Lương tụng
kinh Di Đà mười muôn biến. Một hôm bảo người nhà
rằng: "Phật đến rước ta". Nói rồi lạy Phật, ngồi
mà qua đời. Đêm ấy có người đi buôn, nghỉ trên
núi Đạo Vị, nằm mộng thấy phương Tây có hào
quang lạ và tràng phan, hương hoa lăng xăng,
tiếng nhạc véo von, trên không có tiếng kêu
rằng: "Ông Đường Thế Lương đã sanh về Tịnh Độ".
"Vừa giải oan, vừa
vãng sanh" là: Đời Tống đất Thượng Ngu có tên
Phùng Mân, lúc trẻ ưa đi săn bắn, thấy con rắn
lớn, cầm nác (dao) muốn tới đâm. Lúc ấy con rắn
ở dưới gộp đá muốn mổ (cắn) con bò ghé (con).
Ông Phùng Mân lăn đá trên gộp xuống đ
è
rắn đến chết. Rắn thường biến làm loài yêu quái
để hại Phùng Mân. Nhưng Phùng Mân nhờ tu pháp
sám hối, niệm Phật nhiều năm, rắn không làm hại
đuợc. Một hôm Mân mời các bạn đồng tu trong hội
"Tịnh Độ" tụng kinh Di Đà, rồi Mân chấp tay niệm
Phật mà qua đời.
"Tụng chưa hết
quyển ngồi tịch" là: Đời nhà Tần, có ngài Trí
Tiên pháp sư hiệu Chơn Giáo ở chùa Bạch Liên,
ngài xây mặt về hướng Tây, tu pháp Thập Niệm 13
năm, một ngày 12 thời, không tạm nghỉ.
Một hôm ngài hơi
bệnh, bảo tên quán đường hành nhơn tụng kinh Di
Đà, tụng chưa hết quyển, ngài ngồi an nhiên mà
qua đời.
"Về Cực Lạc như vào
Thiền định": Đời Tống ngài Thích Xử Khiêm tinh
tấn tu pháp Tịnh Độ, một hôm tụng kinh Di Đà
xong và khen ngợi pháp Tịnh Độ, ngài bảo trong
chúng rằng: "Ta dùng bản tánh vô sanh mà sanh về
Tịnh Độ". Nói rồi ngài ngồi ngay thẳng như vào
Thiền định, thoạt vậy mà tịch.
"Lúc chết thấy hoa
sen trắng": Đời Tống có bà Chung Ẩu người ở quận
Gia Hòa, mỗi ngày tụng mười biến kinh Di Đà,
niệm Phật không thôi. Một hôm bà bảo các con
rằng: "Ta thấy hoa sen trắng vô số, các vị thánh
đến rước ta". Bà nói vừa dứt lời liền ngồi ngay
thẳng mà tắt thở.
"Đài bạc đổi đ
ài
vàng": Ngài Hoài Ngọc Thiền sư, người ở đất Thai
Châu, thân mặc áo vải, mỗi ngày ăn một bữa,
thường ngồi, không nằm, tinh tấn niệm Phật. Ngài
tụng 30 muôn biến kinh Di Đà. Một hôm ngài thấy
thánh chúng bên Tây phương Tịnh Độ nhiều như số
cát sông Hằng, có một vị tay bưng đ
ài
bạc từ cửa sổ đi vào. Ngài Hoài Ngọc than rằng:
"Suốt đời tôi tinh tấn thề được đ
ài
vàng. Vì sao nay được cái nầy?" Nói thế đ
ài
bạc liền mất. Ngài Hoài Ngọc quá cảm khích lại
càng tinh tấn bội phần. 21 ngày sau, thấy Phật
đầy giữa hư không, ngài liền bảo đệ tử rằng:
"Đài vàng đến rước ta sanh về Tịnh Độ". Rồi ngài
nói bài kệ mỉm cười mà tịch. Quan thái thú ở
quận ấy tên Đoàn Công lấy làm lạ, mới làm bài
thi khen ngợi, có câu: "Chi đ
ê
chỉ vị, quải kim đ
ài"
(157).
"Nhạc dở đi rồi,
nhạc hay tiếp đến": Đời Nguyên có ông Tử Hoa
thiền sư, trong niên hiệu Đại Lịch năm thứ chín
(158) ở chùa Quan Âm, tại đất Nhuận Châu, tụng
kinh Di Đà ròng sáu tháng. Một hôm ngài cảm
bệnh, đ
êm
đó nghe mùi hương và tiếng nhạc trên hư không có
tiếng bảo rằng: "Nhạc dở qua rồi, nhạc hay tiếp
đến, người sẽ vãng sanh". Thế rồi ông niệm Phật
giây lâu mà tịch. Mùi hương lạ suốt ngày chưa
tan.
Chánh Văn:
Lại như biên chép kinh này thì cảm hóa được mọi
người; diễn giảng thì có điềm lành chim Bạch
Hạc.
Chú Giải:
"Biên tả": Đời Đường có ngài Thiện Đạo Đại sư hễ
được tiền của ai cúng, ông dùng để tả kinh Di Đà
được
mười vạn quyển, khuyên người thọ trì. Ngài cũng
có khi tụng đến mười vạn biến, hoặc có khi tụng
đến năm mươi vạn biến, kẻ tăng người tục (cư sĩ)
đều qui kỉnh. Có người cảm quá đến đỗi đốt thân
cúng duờng. Có những người đặng pháp niệm Phật
tam muội không thể kể xiết!
"Diễn giảng": Đời
Tống có ông Thẩm Tam Lang, tuổi già hồi tâm niệm
Phật. Nhơn lúc bệnh, ông thỉnh chư Tăng giảng
kinh Di Đà; ông thay áo mà qua đời; bỗng co chơn
muốn trỗi dậy. Hai người con chấp theo nhà danh
giáo (đạo Nho) cho sự đổi hòm là khó, mới kéo
chơn ông ra cho thẳng khi sắp sửa liệm. Ông bỗng
cất đầu ra khỏi áo, mền; vùng mình ngồi dậy. Cả
nhà kinh hãi. Hai người con lật đật tới trước
dìu đỡ, ông bèn lấy cánh tay hất ra, còn nói:
"Để cha ngồi mà
đi
chớ". Rồi ông ngồi ngay thẳng chết lại.
Lúc làm lễ trà tỳ
ông, có 29 con chim bạch hạc bay đảo liệng mãi
và kêu trên mây; giây lâu rồi bay thẳng về
phương Tây cõi Tịnh.
Chánh Văn:
Cảm ứng hiện tiền thời xa thấy đất báu; quyết
được vãng sanh thời kinh Niết Bàn chẳng sánh. Sự
cảm ứng như đây, xưa nay thường thấy.
Chú Giải: "Ở
xa thấy đất báu": Đời Đường ngài Đại Hạnh thiền
sư ban đầu tu pháp sám của đức Phổ Hiền, sau vào
trong Đại Tạng, tùy theo tay hễ rút lấy ra một
quyển nào sẽ tụng theo kinh ấy thì nhằm quyển
kinh Di Đà. Thế rồi ngày đ
êm
ngài tụng niệm, đến ngày thất thứ ba, ngài thấy
trên đất toàn là ngọc lưu ly. Phật Di Đà và
đức
Quan Âm, Thế Chí, hai vị Đại Sĩ hiện trước mặt.
Vua Hy Tông nghe việc này, mời ngài vào cung,
ban cho ngài hiệu là Thường Tinh Tiến Bồ Tát.
Sau lại thấy trên đất toàn là ngọc lưu ly một
lần nữa, liền ngày ấy ngài qua đời. Mùi hương lạ
nghe thơm cả tuần; nhục thân của ngài không hoại
(159).
"Kinh Niết Bàn
chẳng sánh": Đời Lương có ngài Đạo Trân pháp sư
giảng kinh Niết Bàn. Trong hoàng hiệu Thiên Giám
(160) dừng gậy tích (161) ở núi Lô sơn, Ngài rất
mộ pháp tu Tịnh Độ của ngài Viễn Công. Nhơn khi
thiền định, ngài bỗng thấy trong biển có vài
trăm người ngồi trên thuyền báu đi ngang trước
mặt, ngài bèn hỏi đi đâu đó vậy? Người trong
thuyền đáp: "Chúng tôi về nước Cực Lạc". Ngài
yêu cầu cho quá giang. Nhưng mấy người trong
thuyền kia nói: "Pháp sư tuy có giảng kinh Niết
Bàn rất hay, cũng thật là bất khả tư nghì, công
đức rất lớn. Nhưng mà ngài chưa tụng kinh Di Đà
thì đâu được cùng với chúng tôi về nơi Cực Lạc!"
Từ đó pháp sư nghỉ
giảng kinh Niết Bàn, bắt đầu niệm Phật và tụng
kinh Di Đà
đến
hai vạn biến. Khi sắp lâm chung, cuối ngày thất
thứ tư, ban đ
êm
vào canh tư, ngài thấy phương Tây có người bưng
đ
ài
bạc đến, giữa hư không sáng rực như ban ngày. Có
tiếng kêu rằng: "Pháp sư lên ngồi đ
ài
nầy để mà vãng sanh".
Lúc ấy cả đại chúng
đều nghe nhạc trời và mùi hương lạ. Những mùi
hương quí nầy mấy ngày vẫn còn thơm. Đêm đó
chúng tăng ở chùa Phong Đảnh xa xa thấy trong
miệng hang có vài mươi ngọn đuốc chói sáng suốt
đ
êm.
Ngày sau mới biết pháp sư đã qua đời.
Những sự tích nêu
trên đây đều do là người tu nhơn được chứng quả;
đây cảm thì kia ứng, thường thấy thường nghe, từ
xưa đến nay chưa dễ gì nêu ra cho hết.
4. MINH TRÌ
Chánh Văn:
Nói sự linh nghiệm của người trì danh hiệu Phật
hoặc một niệm trong miệng bay ra một đạo hào
quang, hoặc một tiếng trong miệng bay ra một vị
Phật, hoặc niệm vang động cả rừng, hang, hoặc
tiếng niệm thấu đến cung vua hoặc sáu thời kế
tiếp niệm mà y báo, chánh báo đầy hư không, hoặc
gạch chữ thập để nêu tâm mà
được
thánh hiền vào hội, cho đến đời nay có những
danh lưu tiếp tục.
Chú Giải:
Đây chính là nói rõ pháp tu chấp trì danh hiệu
Phật vậy. Đối với những bậc thánh hiền tu Tịnh
nghiệp thành tích rất nhiều, không thể thuật
hết. Ở đây chỉ kể lại một vài việc mà người đời
đã được nghe thấy rõ ràng, để làm bằng hay làm
gương đặng khuyến khích.
"Niệm Phật bay ra
hào quang" là
đời
Đường có người hỏi ngài Thiện Đạo đại sư rằng:
"Niệm Phật có được sanh về Tịnh Độ không?"
Ngài đáp: "Cứ như
ngươi sở niệm thế nào thì được toại sở nguyện
cũng thế". Khi đó ngài Thiện Đạo tự niệm một câu
"A Di Đà Phật" liền có một đạo hào quang từ
trong miệng bay ra. Ngài niệm luôn mười câu đến
trăm câu hào quang cũng vẫn cứ bay ra như vậy,
thành ra cả nhà
đầy
hào quang. Nghe được sự linh nghiệm ấy nhà vua
sắc tứ cho chỗ ngài ở là "Quang Minh Tự". Sau
ngài lên cây liễu ngồi ngay thẳng mà tịch.
"Niệm Phật bay ra
vị Phật" là ngài Thiếu Khương pháp sư ở núi Ô
Long, kiến thiết đạo tràng Tịnh Độ, khuyên người
niệm Phật. Trong chúng thấy ngài niệm Phật một
tiếng, trong miệng bay ra một vị Phật sáng, cho
đến mười tiếng niệm, đều có đủ mười vị Phật thứ
lớp bay ra như xâu chuỗi. Đến ngày lâm chung có
mấy đạo hào quang đoanh quanh nơi miệng, thoạt
vậy mà tịch (162).
"Tiếng niệm Phật
vang động cả rừng, hang" là
đời
Đường, ngài Đạo Xước Thiền sư, thường ngày vì
trong chúng giảng kinh Vô Lượng Thọ gần 200
biến. Mỗi người tay lần chuỗi, miệng niệm danh
hiệu Phật; khi tan hội, mà tiếng niệm còn vang
động cả khu rừng.
"Tiếng niệm Phật
thấu đến cung vua" là
đời
Đường ngài Pháp Chiếu ở đất Tinh Châu lập 5 hội
niệm Phật, cảm đến hoàng đế Đại Tông ở đất trong
cung nghe tiếng niệm Phật, vua liền sai sứ đi
tìm. Thấy sư khuyến hóa người niệm Phật rất
thạnh hành, vua liền mời vào cung. Những người ở
trong cung nhờ Sư dạy niệm Phật cũng đến năm
hội; vua phong hiệu Sư là "Ngũ Hội Pháp Sư".
"Sáu thời kế niệm"
là
đời
Tấn, ngài Huệ Viễn pháp sư ở Lô Sơn, chế tạo cái
đồng hồ bằng hoa sen để phân giờ tu niệm sáu
thời niệm Phật (163), lắng lòng nối tưởng; 19
năm sau, đến đ
êm
30 tháng 7, ở trong nhà Bát Nhã đang ngồi thiền
định vừa đứng dậy, thấy thân Phật A Di Đà
đầy
cả hư không. Trong hào quang bóng tròn có vô
lượng hóa Phật và các chúng Bồ Tát; nước chảy,
hào quang đều diễn nói pháp mầu.
Phật nói: "Ta do
sức bản nguyện đến an ủi ngươi, bảy ngày nữa
ngươi sẽ sanh về nước ta". Đúng ngày nói trên,
Sư ngồi ngay thẳng mà qua đời.
"Gạch chữ thập để
nêu tâm" là
đời
Tống, ngài Tông Trách Thiền sư ở chùa Trường Lô,
tỏ ngộ lý Thiền, Tông, Thuyết gồm thông (164) mà
vưng theo qui củ ngài Viễn Tổ ở non Khuôn Lư,
lập Liên Hoa thắng hội. Kỷ luật hội đó: mỗi ngày
niệm Phật A Di Đà, hoặc một ngàn tiếng, muôn
tiếng chẳng hạn, cứ đến mặt trời lặn thì gạch
tréo chữ Thập để ghi nhớ (165). Một hôm nằm
mộng, ngài thấy một cậu trai, đầu bịt khăn đen,
mặc áo trắng, dung mạo thanh bai, đến bảo ngài
Lô Trách rằng: "Tôi muốn vào hội Di Đà của ông,
xin ông ghi cho một tên". Ngài Lô Trách hỏI:
"Ông tên chi?" Người ấy đáp: "Tôi tên Phổ Huệ";
rồi lại nói: "Anh tôi tên Phổ Hiền cũng xin đăng
tên". Nói rồi liền ẩn mất. Ngài Lô Trách thức
dậy thuật lại điềm chiêm bao, các vị tôn túc đều
nói rằng: "Trong kinh Hoa Nghiêm về phẩm Ly Thế
Gian có hai tên vị Bồ Tát ấy"; mới biết thánh
hiền thầm giúp. Ngài liền ghi tên hai vị đại sĩ
ấy vào đầu sổ (tiêu biểu hai vị hội trưởng của
hội niệm Phật).
"Chiêu đại" là
đời
nay vậy, như ngài Tây Trai, ngài Không Cốc, ngài
Thiên Kỳ, ngài Độc Phong (166) v.v... Các ngài
đây đều là bậc cao tăng đời nay, dốc tín; tinh
tu, sánh với cái lành đời trước, nối nhau không
dứt, đều chép rõ trong tập Vãng Sanh.
Số là trong ngàn
muôn truyện, chỉ ghi chép lại một vài truyện
thôi.
Chánh Văn:
Đến như cảm được cứu hộ thời oan nghiệp đời
trước cũng độ được, quỉ dữ chẳng dám xâm; đặng
linh ứng thời như mắt mù sáng lại, kẻ tù
được
thoát nạn.
Chú Giải:
"Oan nghiệp đời trước cũng độ được" là: Đời
Đường có cậu Thiệu Bưu, người ở Trấn Giang; lúc
còn làm học trò, nằm mộng thấy đi đến chốn công
phủ. Người chủ ở đó hỏi: "Ngươi có tự biết vì
sao mà
đi
thi không đậu?"
Bưu nói: "Dạ không
biết". Nhơn đó sai người dẫn Bưu đi đến trước
vài bước, thấy trong chảo lớn có loài ốc sò biết
nói tiếng người, kêu tên Thiệu Bưu, Bưu hoảng sợ
liền niệm A Di Đà Phật, ốc sò biến thành chim
huỳnh tước bay đi. Thiệu Bưu sau thi đậu, làm
quan đến chức An Phủ Sứ.
"Quỉ dữ không dám
xâm" là: Thuở Phật còn tại thế, có một nước ở
gần gũi La Sát. Quỉ này ăn thịt người vô độ. Vua
trong nước ấy giao ước với nó: "Từ nay trong
nước ta, mỗi nhà dưng một người, thứ lớp đem đến
cho ngươi dùng, vậy ngươi đừng bắt ngang nữa".
Có nhà kia thờ
Phật, chỉ sanh được một con trai, đến phiên nạp
thịt cho quỉ, cha mẹ thương khóc, dặn con rằng:
"Con phải chí tâm niệm Phật". Người con vâng lời
thành tâm niệm Phật. Nhờ oai thần của Phật, quỉ
không dám lại gần. Sáng ngày đến xem, thấy con
còn sống, cha mẹ mừng rỡ đem về. Từ đây nạn La
Sát ăn thịt người đã dứt.
"Mắt mù sáng lại"
là: Đời Tống, con gái bà Sùng Thị mù hai con
mắt, niệm Phật ba năm, tinh cần không bỏ lãng,
cặp mắt sáng lại như xưa.
"Người tù
được
thoát nạn": Cuối đời Nguyên, có chúa Trương Sĩ
Thành (167) chiếm lấy Hồ Châu, đánh nhau với
quan thừa tướng miền Giang Tích, bắt đuợc 40 tù
binh nhốt trong xe chở đi giết. Đêm hôm đó, xe
tù ngủ nhờ nơi chùa Ô Khoa đất Tây Hồ. Bọn tù
thấy ngài Đại Du Mưu thiền sư đi dạo dưới hiên
Tây tụng niệm có vẻ nhàn nhã, nhơn đó xin ngài
cứu giúp. Sư dạy phải chí tâm niệm Nam mô cứu
khổ cứu nạn A Di Đà Phật. Trong đám có ba người
tin theo lời sư; miệng niệm không ngớt. Đến sáng
mở tù, đổi gông xiềng, tới ba người này, đồ gia
hình không đủ, chỉ buộc bằng dây. Tra xét ra là
lương dân bị bắt lầm, liền được tha bổng.
Chánh Văn:
Lại nữa, người ác siêu là như ông Trương Thiện
Hòa niệm mười tiếng Phật, tướng địa ngục hiện
trước mắt liền tiêu mà
được
hóa, Phật rước ở giữa hư không.
Loài súc sanh như
chim cù dục xưng danh hiệu Phật mà hình hài chôn
rồi, sau trên mộ mọc hoa sen. Huống chi là thân
người không tội ác mấy! Và
được
phước báu gọi là tối linh; thêm đủ Tín và Nguyện
đều tu; đâu thành luống bỏ.
Chú Giải:
"Người ác" là
đời
Đường có ông Trương Thiện Hòa làm nghề hàng
trâu, khi sắp chết, thấy bầy trâu đến đòi thường
mạng cho nó. Lúc ấy ông hoảng sợ, kêu vợ nói:
"Mau rước thầy niệm Phật cho tôi". Nhà sư đến
dạy rằng: "Trong kinh nói, khi lâm chung tướng
ác (168) hiện ra, nên chí tâm niệm Phật thì sẽ
được vãng sanh".
Ông Trương Thiện
Hoà nói: "Địa ngục đến gấp, mau đem lư hương
đây!" Rồi tay hữu bưng lửa, tay tả cầm hương
đốt, day mặt về hướng Tây, chuyên thiết niệm
Phật, chưa đầy 10 tiếng, ông tự nói: "Phật đến
rước ta"; dứt lời liền tắt thở.
"Loài súc sanh niệm
Phật" là
đời
Tống, tại non Huỳnh Nham, chùa Chánh Đẳng, sư cụ
Quán Công nuôi chim cù dục (sáo). Ngài thường
dạy nó niệm Phật không ngớt. Mới hôm đứng chết
trong lồng. Ngài Quán Công thương xót đem chôn.
Sau trên mộ nó mọc lên đóa sen hồng. Đào đất xem
thử thì hoa sen ấy từ trong chót lưỡi của chim
cù dục mọc ra (loài sáo trâu: Toàn sắc đen, khi
bay cánh nó điểm trắng).
Ngài Linh Chi Chiếu
luật sư làm bài thi khen ngợi, có câu:
[["Chim lồng giam
hãm không chi lạ;
Đứng chết, mọc sen
mới rất kỳ"! (169)]]
Như trên đây đã
thuật lại những sự tích trì danh niệm Phật. Từ
sự tích: Niệm Phật trong miệng bay ra hào quang
và trong miệng bay ra vị Phật, đến đây số là
cũng trong muôn ngàn sự tích mà nay chỉ biên có
một vài truyện thôi.
Chữ "Thắc" nghĩa là
cái ác còn giấu ở trong tâm khảm.
Chữ "tối linh" là
nói loài người khôn ngoan hơn muôn loài (170).
Sau rốt kết luận
rằng: Người ác niệm Phật còn được vãng sanh,
huống chi cái ác chưa ắt bằng như ông Trương
Thiện Hòa và súc sanh niệm Phật còn được vãng
sanh thay, huống chi hạng tối linh mà gọi là
nhân loại. Lấy đó so sánh, biết chắc là niệm
Phật được vãng sanh, vậy quyết chắc rằng người
niệm Phật, mà hẳn có cả Tín và Nguyện gồm tu thì
chỗ làm đâu có hư hỏng!
5. KẾT KHUYẾN
Chánh Văn:
Thế nên một lời vừa xướng, ngàn Phật đồng khen.
Bực tam học cao tăng, trang cửu lưu danh đức,
hoặc u hoặc hiển, hoặc Thánh, hoặc phàm, như
muôn sông đâu lại chẳng chảy về biển Đông; cũng
ví như các ngôi sao thảy đều về chầu sao Bắc Đẩu
(171). Sánh với đường tắt, gọi là Phổ Môn, lời
đâu có dối. Vậy phải quyết chí cầu sanh, không
nên nghĩ nghị gì nữa.
Chú Giải:
Văn đây tổng kết pháp môn Tịnh Độ, là chỗ nương
về của tất cả chúng sanh. Chữ "Xướng" là dạy.
Chữ "Canh" là nối. Chữ "thủy xướng" là: Đức
Thích Ca chỉ bày cõi Tây phương Tịnh Độ chúng
sanh mới biết tu Tịnh nghiệp (niệm Phật). Ấy là
dắt mà dẫn đường đi.
Chữ "đồng khen" là:
Sáu phương Phật đồng khen ngợi, rõ như trong
kinh văn nói, ấy là lời nối mà họa vần theo vậy.
"Tam học" là Thiền, Giáo, Luật ba tông. Thiền
như ngài Vĩnh Minh là bực thạch trụ (172) trong
Tông môn mà
được
sanh về bực thượng thượng phẩm (173); ngài Viên
Chiếu riêng giữ theo pháp đơn truyền "Giáo ngoại
biệt truyền" mà
được
danh nêu bên Liên Cảnh (174). Giáo như ông Tăng
Duệ rộng giúp ngài La Thập dịch kinh mà hoa sen
mọc trong giường (175); ngài Tứ Minh (176) trùng
hưng giáo pháp ngài Thiên Thai (tông Thiên Thai)
mà day mặt về Tây ngồi tịch.
"Luật" như ngài
Linh Chi (177) khi sống hoằng luật Tỳ Ni mà lúc
chết được vãng sanh về nước An Dưỡng; ngài Thanh
Chiếu (178) mở rộng môn học Luật, mà chết nói
bài kệ về Tây phương. Nếu nói rộng ra thì không
thể kể xiết.
"Cửu lưu": Nho lưu,
Đạo lưu, Nông lưu, Công lưu, Y lưu, Bốc lưu
(179) v.v... Nho lưu như ông Văn Lộ Công (180)
đức nghiệp đầy triều mà còn kết duyên với 10 vạn
người đồng sanh Tịnh Độ.
Ông Tô Trưởng Công
văn chương đức hạnh tuyệt vời mà cũng có làm
thuyết Tây Phương Công Cứ.
Đạo lưu: ông Cát Tế
Chi (181) bỏ học đạo tiên mà hồi tâm tu Tịnh
nghiệp; ông Đàm Loan pháp sư đốt kinh Tiên mà
chuyên tu kinh Thập Lục Quán (182). Cho đến ông
Tử Chương học nghề thuốc của ông Kỳ Bá, Huỳnh Đế
(183) mà cũng để tâm niệm Phật.
Ông Trương Thuyên
làm nghề cày bừa mà cũng xưng danh hiệu Phật.
Chốn U Minh như xưa
vua Minh Quân còn kỉnh lễ (184), quỉ La Sát
nguôi lòng (185).
Bực Thánh như đức
Văn Thù cầu "Sanh", đức Phổ Hiền nguyện "Vãng"
(186); huống chi cõi dương thế với người phàm
tục, không đợi luận nói vậy.
"Chảy về biển Đông"
nghĩa là: Nhóm về đến chỗ cùng tột. "Chầu sao
Bắc Đẩu" nghĩa là: Noi theo về gốc chủ. Dụ như
cõi Tịnh Độ là chỗ về chơn thật. Thế tất nhiên
phải hướng mặt về đó chớ không phải như miễn
cưỡng hay là bắt buộc phải làm vậy đâu?
"Đường tắt gọi là
pháp Phổ Môn": Đã giải ở đoạn văn trước; đây
nhắc lại để kết luận, rõ ràng không phải luống,
dư vậy.
"Quyết chí" là kinh
Đại Bổn nói: ‘Dầu có đống lửa to đầy cả tam
thiên đại thiên thế giới, người tu cũng cần phải
vượt qua khỏi lửa ấy". Muốn sanh về cõi nước
kia, thì phải lập chí quyết định, tiến mãi không
hề khiếp nhược và thối lui đối với thế giới lửa
kia!
"Không cần nghĩ
nghị" là kinh Dịch nói: "Nghĩ xét rồi sau mới
nói; bàn luận rồi sau mới làm". Nay bảo chẳng
cần nghĩ bàn là người xưa có nói: "Bói để giải
quyết tâm nghi, không nghi bói làm gì?" (187).
Niệm Phật vãng sanh, miễn tin chắc không nghi là
được,
đâu còn nghĩ bàn làm chi nữa?