|
| |
A
DI ĐÀ
KINH SỚ SAO
Liên Trì Đại Sư soạn
Việt dịch:
Hòa Thượng Hành Trụ
-o0o-5. THỈNH GIA
Chánh Văn: Kính lạy đức Giáo Chủ thuyết pháp cõi Ta Bà, đức Đại
Từ Tôn tiếp dẫn cõi Tây phương và kinh "Bất Khả Tư Nghì Phật Hộ", Xá
Lợi Phất, Văn Thù cùng các vị Thánh trong hai cõi, sáu phương khắp
cõi Phật số vi trần, quá khứ hiện tại và vị lai, các ngôi Tam Bảo vô
số tận đều chứng biết. Cúi xin rủ lòng từ bi nhiếp thọ lời cầu của
con. Con nay dối đem kiến thức cõi uế độ để so lường tâm thanh tịnh
của Phật Như Lai. Ngưỡng vâng sức đại oai thần của ngôi Tam Bảo gia
hộ cho kẻ phàm phu được thành thánh trí: khiến mỗi lời của con đều
hợp với thánh ý của Phật, đặng lưu thông xa gần, lợi ích cho loài
hàm linh, kẻ thấy, người nghe tùy hỷ, đều được vãng sanh, đồng chứng
lên quả "Tịnh Quang Vô Thượng Giác".
Chú Giải: Tiếng "Qui Mạng" lệ
thường như tiếng ba la mật, là cách nói đảo ngược. Chữ "Qui" có hai
nghĩa:
1. Nghĩa "qui đầu", ý nói người đời chỉ
có thân mạng là vật rất trọng hơn hết, nay đem cả thân mạng để kính
lạy, là một lòng thành kính không hai tâm vậy.
2. Nghĩa "qui nguyên": Ý rằng đem thân
và mạng về lạy cầu tức thâu nhiếp cả sáu căn (47) về nơi nhứt tâm.
Đức Thích Ca là giáo chủ cõi Ta Bà, đức
A Di Đà là giáo chủ cõi Tây phương, vì do thủ xướng pháp niệm Phật
nên lạy đức Thích Ca trước hết. Kẻ làm tôi con mà
được
phong chức hầu, còn không quên nơi gốc (48). Phàm phu muốn vào bực
Thánh há đặng phụ ơn Phật hay sao? Thuở xưa có người sắp qua đời đốt
nén hương, trước cúng dường đức Thích Ca chính là ý đây vậy.
"Giáo chủ thuyết pháp" là: Vì với việc
thuyết pháp độ sanh, trong một cõi không thể có hai đức Phật nên gọi
là giáo chủ. Nghĩa là: làm chủ một giáo pháp.
Tiếp dẫn là vì chúng sanh nhớ niệm
Phật, được Phật duỗi tay tiếp dẫn, dụ như người đi đường, gặp người
yếu đuối thì dìu đỡ, người quên đường thì chỉ dẫn. Lại có hai nghĩa:
Một là tiếp dẫn lúc sống thì giúp đỡ cho đạo tâm yên tịnh. Hai là
tiếp dẫn lúc chết thì dẫn dắt thần hồn vãng sanh.
Đại Từ Tôn: Như mẹ nhớ con gọi là "Từ".
Lòng từ không chi hơn gọi là "Đại". Chữ "Tôn" nghĩa như chữ chủ vậy.
Lẫn nhau để nói cũng có thể gọi đức Thích Ca là Từ Tôn cõi này, đức
Di Đà là giáo chủ cõi kia. Gồm hai đức Như Lai đó gọi là ngôi "Phật
Bảo". Kinh này nguyên tên là "Bất Khả Tư Nghì Phật Hộ Niệm" là ngôi
"Pháp bảo". Chúng nghe kinh này như Ngài Văn Thù, Ngài Xá Lợi Phất
v.v… gọi là ngôi "Tăng bảo".
Nói chữ "Bảo" là lược có sáu nghĩa. 1.-
Hiếm có; 2.- Lìa dơ; 3.- Sức quí; 4.- Rỡ đẹp; 5.- Rất tốt; 6.- Chẳng
đổi. Trong bộ "Yếu Tập" có nói đủ nghĩa này.
Suy xét cho cùng tột hai cõi: Ta Bà và
Cực Lạc, bốn góc trên dưới mười phương, nhẫn đến cõi Phật nhiều như
số vi trần khắp tất cả xứ; quá khứ, hiện tại, vị lai và khắp tất cả
thời. Trong đó có ngôi Tam Bảo ngang trùm mười phương dọc suốt ba
giới, cũng nhiều đến số vô cùng tận.
Lại Tam Bảo cũng chia có sự, có lý, có
khác, có đồng như văn sau giải rõ. Nay văn đây nói trong ngoài, mình
và người đều nương về ngôi ấy. Bực cổ đức nói: "Sau khi Phật diệt độ
phàm các hàng đệ tử có tác thuật kinh luận chi, sách vở gì, đều phải
trước kính lễ ngôi Tam Bảo".
Bởi vì cảnh thánh cao mầu, lời Phật kín
nhiệm, mà muốn dùng trí mọn của phàm phu để tự tiện so bàn, khác nào
lấy ngao lường biển, nương ống dòm trời (49), luống tự nhọc nhằn,
phần được không mấy. Thế nên cần phải kính ngôi Tam Bảo, thầm mong
gia hộ.
Oai thần đó, như kinh nói: "Phật lực
không thể nghĩ bàn, Pháp lực không thể nghĩ bàn, hiền thánh lực
không thể nghĩ bàn". Thế nên, nương thần lực của Tam Bảo có thể
khiến tâm ngu bỗng thành thánh trí. Miệng phàm thuật lại thầm hiệp
được tâm Phật vậy.
Xa gần là gồm cả "Xứ" và "Thời". Xứ là:
Từ một góc cho đến cùng khắp mười phương. Thời là: Từ một sát na cho
đến tột đời vị lai, đều gọi là từ gần đến xa. Hàm linh, gọi tất cả
loài hữu tình vì lựa không phải loài vô tình như cây đá.
"Thấy nghe tùy hỷ" là: Hễ đối kinh đây
mà
được
mắt thấy, hoặc tai nghe cho đến tạm thời tùy thuận, sanh tâm hoan hỷ
là
đã
trồng căn lành, sẽ đồng được vãng sanh về nước kia vậy.
Tịch Quang là cõi chơn Tịnh Độ của Như
Lai. Người mà
được
sanh về nước kia rồi, thấy Phật nghe pháp, giác ngộ được pháp "Vô
Sanh Nhẫn", nhận đặng bản tâm của mình; vì thể và dụng của bản tâm
ấy Tịch Chiếu không hai nên gọi là "Thường Tịch Quang".
Quả "Vô Thượng Giác" là Phật chứng quả
"viên mãn đại giác" vượt khỏi hàng nhị thừa và các vị Bồ Tát. Trên
quả đây lại không quả nào cao hơn nữa nên gọi là "Vô Thượng Quả",
tức là chứng "Nhứt Thế Chủng Trí" (50) của Phật. Nên trong kinh nói:
"Đều đặng bất thối chuyển nơi quả A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề".
Thế đủ biết rằng: Miễn đặng vãng sanh thời quyết định thành Phật.
Cho nên nói đồng chứng lên quả "Tịch Quang Vô Thượng", cầu xin chư
Phật gia bị ý gồm như thế.
Từ trước đến đây là lời "Thông tự đại
ý" của một bộ kinh đã xong.
|