|
| |
A
DI ĐÀ
KINH SỚ SAO
Liên Trì Đại Sư soạn
Việt dịch:
Hòa Thượng Hành Trụ
-o0o-4. THUẬT Ý (phân ra làm ba
phần)
1. Quí kỷ bất đức (thẹn mình chẳng có đức tài gì)
2. Minh kỷ sở thượng (tỏ chỗ mình quí chuộng)
3. Nguyên kỷ thích kinh (xét chỗ mình giải kinh này)
QUÍ KỶ BẤT ĐỨC
Chánh Văn: Chu Hoằng này đã là kẻ hạ phàm, lại nhằm đời mạt
pháp, chỗ xuất thân hẹp hòi hẻo lánh, bề học thức cạn cợt muộn màng,
chẳng thông lý nhiệm, vốn hổ lời xuông, bánh vẽ ích chi cho bụng kẻ
đói, đá yên thạch khó dối mắt người cổ hồ (người thạo nghề buôn).
Chú Giải: Văn trước nói niệm
Phật được lợi ích như thế, không niệm Phật mắc hại như thế, nên
thuật lại ý mình chỉ trọng pháp niệm Phật. Văn đây, trước lấy độn
căn để tự xét cũng như tự phê bình. "Mạt pháp" là pháp rốt, một thời
sau hai thời chánh pháp và tượng pháp (33) là than mình sanh nhằm
thời kỳ không có Phật. "Hạ phàm" là báo thân không tốt.
"Hẹp hòi" là chỗ thấy không rộng. "Học
muộn" là: Trí hiểu không được sâu. Với sự còn chưa hiểu, huống nữa
biết lý? Nghĩa là: Lời nói không đủ để làm cho người tin vậy.
"Vốn hổ" là: Vì tự biết mình thấp cạn,
hổ thẹn với lời nói suông, nghĩa là: hổ lời nói đi quá việc làm
(34).
"Bánh vẽ": Dễ hiểu, dụ như lời nói
suông.
"Đá yên": Là thứ đá giống như ngọc, mà
không phải ngọc.
"Cổ hồ" là: Người buôn bán bên nước Tây
Vức, khéo biết rành các thứ ngọc báu. Thưở xưa có người lượm được
viên yên thạch, tự cho là ngọc Du Cẩn, rồi làm bộ kiêu dóc để dối
loè mắt người, mong đặng giá cao. Hôm nọ đem tán tỉnh (khoe) với
người Cổ Hồ. Hồ nói: Đây chỉ là
đá
chớ không phải ngọc đâu anh ạ! Người kia lấy làm xẻn lẻn rút lui. Dụ
như đối với đạo chỗ thấy còn hẹp hòi, mơ hồ không thật, chỉ làm trò
cười trước mắt tinh đời của người thiện tri thức (35).
MINH KỶ SỞ THƯỢNG
Chánh Văn: Kính vưng theo lời tiên sắc của Phật, dốc lòng phụng
sự kinh này, trông về nước Cực Lạc là quê hương, ngửa mến đức Từ Tôn
như cha mẹ.
Chú Giải: Đã tự xét mình độn căn
thì với sự làm ắt noi theo bực cổ đức. Chữ "Chi" là Kỉnh. Tiếng ngọc
của vua trong đời, lời vàng của Phật ra khỏi đời đều gọi là chữ
"Sắc". Dốc lòng phụng sự là phụng sự triệt để. Nước Cực Lạc mà nói
là quê hương: Vì cõi Tịnh Độ vắng lặng, chính là chỗ của mỗi người
để an thân lập mạng. Mà lại bỏ lìa quê cũ, trôi dạt xứ người, như kẻ
du tử lạc loài, duy có một niệm lo trở về với quê cha đất tổ mà
thôi.
Đức Từ Tôn mà nói là hỗ thị (nhờ cậy)
hay cha mẹ: Vì cha là chỗ nhờ của ta, mẹ là chỗ cậy của ta (36),
Phật dùng lòng đại từ, đại bi tiếp dẫn chúng sanh, mang ta bằng thai
thánh, nuôi ta bằng sữa pháp. Ngay nơi trong tâm ngoài thân của
chúng ta nay đây, đâu chẳng nhờ ơn lực ấy mà
đặng
thành lập nên người. Đức cù lao trời cao chẳng tột (37), thế mà ta
lại nỡ bỏ gốc sanh thành, như con minh linh dưỡng tử đi theo họ khác
(38).
Vậy chỉ phải thật lòng cảm mộ trọn đời
(39), hầu hạ đôi bên (40), sớm thăm tối viếng, không nên trái lời
(41).
NGUYÊN KỶ THÍCH KINH
Chánh Văn: Vì ôm lòng kiêm lợi, đạo quí chỗ hoằng thông. Tiếc
thay các bộ sớ thích của Tổ xưa, ngày nay ít thấy bổn nào còn trọn
đủ! Duy có vài tập chú giải còn ấn hành nơi đời, lời tuy thiết mà
nghĩa quá hẹp, lý hơi bày nhưng không được rõ. Luận không tột đến
chỗ hoằng công, đâu có thể phát khởi tín tâm cho quần chúng?
Vì thế, tôi vội quên chỗ tri kiến hẹp
hòi, hết lòng suy nghĩ, gồm thâu bộ loại năm kinh; căn cứ ngay nơi
một hạnh Văn Thù hội về ý chỉ mầu nhiệm. Có phần thuộc về kinh Tạp
Hoa; sâu suốt các pháp môn, thời rộng gồm cả các bộ; không một bộ
nào mà chẳng tiêu dung về tự tánh. Nhưng có nguyện nào cũng hồi
hướng về quả Bồ Đề. Con nay tỏ chút lòng thành, cúi mong chư Phật
gia hộ.
Chú Giải: Chưa chi làm lợi cho
mình mà có thể lợi cho người trước hơn là Bồ Tát phát tâm, hành đạo,
nên chẳng nỡ chỉ lo được yên lành riêng cho một mình là vì lòng mẫn
ôm canh cánh lấy cái nghĩa vụ kiêm lợi; mà với cái bổn phận làm việc
kiêm lợi đó, tưởng không chi hơn là làm việc hoằng pháp trước nhứt.
Nhưng lời chú sớ của kinh này, nay phần nhiều đã lạc mất, xét về
trước không còn manh mối! Tuy chỉ còn một hai bổn lưu hành ở đời,
nhưng chỉ lược chỗ đại khái, chớ chưa lột hết được ý nghĩa nhiệm
mầu.
"Hoằng công" là công đức không thể nghĩ
bàn. Vì người mà không biết kinh đây có đủ công đức rộng lớn như thế
nên nghi mà không tin; dầu tin cũng không chơn thật. Thế nên bất đắc
dĩ, tôi mới làm lời sớ sao này. "Chỗ tri kiến hẹp hòi" là: Chỗ thấy
ngoài da Phật Pháp, nói da thứa ở ngoài là chỗ hiểu vào chẳng sâu,
dụ như chỗ thấy cạn cợt vậy. Chỗ thấy biết quá nông cạn; đâu dễ gì
so lường nghĩa lý sâu mầu của Phật; nhưng vì tâm cứu đời nó quá ư ân
cần, bắt hối thúc nên vội quên mình quê hèn dốt nát.
"Lòng suy nghĩ": Tâm là chủ của sự suy
nghĩ (42). Vua Nghiêu, vua Thuấn là bực Thánh còn hết lòng suy nghĩ
với việc làm, chúng ta là người bực nào khá dễ thường mà
đặng?
Bộ loại: Những bộ chuyên nói về Cực Lạc
như kinh "Đại Bổn" v.v… năm kinh. Văn Thù là kinh "Văn Thù Bát Nhã"
chuyên nói về pháp xưng danh hiệu "Nhứt hạnh tam muội".
Kinh Tạp Hoa (43) là do kinh Hoa Nghiêm
lấy tánh hải làm tông, rõ ràng không phải giáo pháp quyền thiển vậy.
Các bộ là dẫn các kinh, luận để chứng cứ, là
để
tỏ rằng không phải lời ức kiến (44), rõ như trong hai môn "Nghĩa Lý"
và "Bộ Loại" đến trong văn kinh sau có biện.
"Tiêu dung về tự tánh" là: Nói không
chuyên về "Sự tướng" vì xét tột chỗ về đến nơi đến chốn thì thảy đều
tiêu hóa, dung hội về nơi bản tánh của mình. Bởi vì cả thế gian và
xuất thế gian, không một pháp nào lọt ra ngoài tự tâm đặng; y báo,
chánh báo (45) nơi cõi Tịnh Độ mỗi mỗi cũng đều là bản giác diệu
minh.
Vì như các chiếc bình, xuyến, kiềng,
vòng, hình thức của mỗi món đồ tuy khác, nhưng cũng chỉ một chất
vàng làm ra. Nước nơi khe, ngòi, sông, suối tuy là mỗi chỗ dù riêng,
chứ dòng nào cũng chảy về một biển. Chính nghĩa là: không vật nào
chẳng từ pháp giới này lưu xuất, và không vật nào chẳng trở về nơi
pháp giới này.
"Hồi hướng Bồ Đề" là: Phàm chỗ tu niệm
hành đạo đều nguyện để vãng sanh, gọi là "hồi hướng". Nhưng hướng
không phải hướng về đâu khác hơn là chỉ hồi hướng về Tịnh Độ, hồi
hướng về Tịnh Độ tức là hồi hướng về tự tánh của mình.
Hai câu rốt sau là nối văn trước, khởi
văn sau: Trước khi muốn làm việc lành, ắt cầu chư Phật gia hộ. Bồ
Tát còn thế, huống là kẻ phàm phu?
Tinh nghĩa là không hai; Thành là không
dối. Cổ đức có nói: "Lòng tinh thành rất tột, sẽ được quỷ thần dẫn
giúp" (46) huống chi ngôi Tam Bảo đại từ thương xót chúng sanh cũng
như con đỏ, hễ việc làm có lợi ích cho chúng sanh, lòng tinh thành
cầu Phật, Phật đâu không gia bị!
THỈNH GIA
Chánh Văn: Kính lạy đức Giáo Chủ thuyết pháp cõi Ta Bà, đức Đại
Từ Tôn tiếp dẫn cõi Tây phương và kinh "Bất Khả Tư Nghì Phật Hộ", Xá
Lợi Phất, Văn Thù cùng các vị Thánh trong hai cõi, sáu phương khắp
cõi Phật số vi trần, quá khứ hiện tại và vị lai, các ngôi Tam Bảo vô
số tận đều chứng biết. Cúi xin rủ lòng từ bi nhiếp thọ lời cầu của
con. Con nay dối đem kiến thức cõi uế độ để so lường tâm thanh tịnh
của Phật Như Lai. Ngưỡng vâng sức đại oai thần của ngôi Tam Bảo gia
hộ cho kẻ phàm phu được thành thánh trí: khiến mỗi lời của con đều
hợp với thánh ý của Phật, đặng lưu thông xa gần, lợi ích cho loài
hàm linh, kẻ thấy, người nghe tùy hỷ, đều được vãng sanh, đồng chứng
lên quả "Tịnh Quang Vô Thượng Giác".
Chú Giải: Tiếng "Qui Mạng" lệ
thường như tiếng ba la mật, là cách nói đảo ngược. Chữ "Qui" có hai
nghĩa:
1. Nghĩa "qui đầu", ý nói người đời chỉ
có thân mạng là vật rất trọng hơn hết, nay đem cả thân mạng để kính
lạy, là một lòng thành kính không hai tâm vậy.
2. Nghĩa "qui nguyên": Ý rằng đem thân
và mạng về lạy cầu tức thâu nhiếp cả sáu căn (47) về nơi nhứt tâm.
Đức Thích Ca là giáo chủ cõi Ta Bà, đức
A Di Đà là giáo chủ cõi Tây phương, vì do thủ xướng pháp niệm Phật
nên lạy đức Thích Ca trước hết. Kẻ làm tôi con mà
được
phong chức hầu, còn không quên nơi gốc (48). Phàm phu muốn vào bực
Thánh há đặng phụ ơn Phật hay sao? Thuở xưa có người sắp qua đời đốt
nén hương, trước cúng dường đức Thích Ca chính là ý đây vậy.
"Giáo chủ thuyết pháp" là: Vì với việc
thuyết pháp độ sanh, trong một cõi không thể có hai đức Phật nên gọi
là giáo chủ. Nghĩa là: làm chủ một giáo pháp.
Tiếp dẫn là vì chúng sanh nhớ niệm
Phật, được Phật duỗi tay tiếp dẫn, dụ như người đi đường, gặp người
yếu đuối thì dìu đỡ, người quên đường thì chỉ dẫn. Lại có hai nghĩa:
Một là tiếp dẫn lúc sống thì giúp đỡ cho đạo tâm yên tịnh. Hai là
tiếp dẫn lúc chết thì dẫn dắt thần hồn vãng sanh.
Đại Từ Tôn: Như mẹ nhớ con gọi là "Từ".
Lòng từ không chi hơn gọi là "Đại". Chữ "Tôn" nghĩa như chữ chủ vậy.
Lẫn nhau để nói cũng có thể gọi đức Thích Ca là Từ Tôn cõi này, đức
Di Đà là giáo chủ cõi kia. Gồm hai đức Như Lai đó gọi là ngôi "Phật
Bảo". Kinh này nguyên tên là "Bất Khả Tư Nghì Phật Hộ Niệm" là ngôi
"Pháp bảo". Chúng nghe kinh này như Ngài Văn Thù, Ngài Xá Lợi Phất
v.v… gọi là ngôi "Tăng bảo".
Nói chữ "Bảo" là lược có sáu nghĩa. 1.-
Hiếm có; 2.- Lìa dơ; 3.- Sức quí; 4.- Rỡ đẹp; 5.- Rất tốt; 6.- Chẳng
đổi. Trong bộ "Yếu Tập" có nói đủ nghĩa này.
Suy xét cho cùng tột hai cõi: Ta Bà và
Cực Lạc, bốn góc trên dưới mười phương, nhẫn đến cõi Phật nhiều như
số vi trần khắp tất cả xứ; quá khứ, hiện tại, vị lai và khắp tất cả
thời. Trong đó có ngôi Tam Bảo ngang trùm mười phương dọc suốt ba
giới, cũng nhiều đến số vô cùng tận.
Lại Tam Bảo cũng chia có sự, có lý, có
khác, có đồng như văn sau giải rõ. Nay văn đây nói trong ngoài, mình
và người đều nương về ngôi ấy. Bực cổ đức nói: "Sau khi Phật diệt độ
phàm các hàng đệ tử có tác thuật kinh luận chi, sách vở gì, đều phải
trước kính lễ ngôi Tam Bảo".
Bởi vì cảnh thánh cao mầu, lời Phật kín
nhiệm, mà muốn dùng trí mọn của phàm phu để tự tiện so bàn, khác nào
lấy ngao lường biển, nương ống dòm trời (49), luống tự nhọc nhằn,
phần được không mấy. Thế nên cần phải kính ngôi Tam Bảo, thầm mong
gia hộ.
Oai thần đó, như kinh nói: "Phật lực
không thể nghĩ bàn, Pháp lực không thể nghĩ bàn, hiền thánh lực
không thể nghĩ bàn". Thế nên, nương thần lực của Tam Bảo có thể
khiến tâm ngu bỗng thành thánh trí. Miệng phàm thuật lại thầm hiệp
được tâm Phật vậy.
Xa gần là gồm cả "Xứ" và "Thời". Xứ là:
Từ một góc cho đến cùng khắp mười phương. Thời là: Từ một sát na cho
đến tột đời vị lai, đều gọi là từ gần đến xa. Hàm linh, gọi tất cả
loài hữu tình vì lựa không phải loài vô tình như cây đá.
"Thấy nghe tùy hỷ" là: Hễ đối kinh đây
mà
được
mắt thấy, hoặc tai nghe cho đến tạm thời tùy thuận, sanh tâm hoan hỷ
là
đã
trồng căn lành, sẽ đồng được vãng sanh về nước kia vậy.
Tịch Quang là cõi chơn Tịnh Độ của Như
Lai. Người mà
được
sanh về nước kia rồi, thấy Phật nghe pháp, giác ngộ được pháp "Vô
Sanh Nhẫn", nhận đặng bản tâm của mình; vì thể và dụng của bản tâm
ấy Tịch Chiếu không hai nên gọi là "Thường Tịch Quang".
Quả "Vô Thượng Giác" là Phật chứng quả
"viên mãn đại giác" vượt khỏi hàng nhị thừa và các vị Bồ Tát. Trên
quả đây lại không quả nào cao hơn nữa nên gọi là "Vô Thượng Quả",
tức là chứng "Nhứt Thế Chủng Trí" (50) của Phật. Nên trong kinh nói:
"Đều đặng bất thối chuyển nơi quả A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề".
Thế đủ biết rằng: Miễn đặng vãng sanh thời quyết định thành Phật.
Cho nên nói đồng chứng lên quả "Tịch Quang Vô Thượng", cầu xin chư
Phật gia bị ý gồm như thế.
Từ trước đến đây là lời "Thông tự đại
ý" của một bộ kinh đã xong.
|